1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ

53 722 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiêu chảy có thể do nhiều nguyên nhân gây ra: do khí hậu thời tiết thay đổi đột ngột, do thức ăn kém phẩm chất, do điều kiện vệ sinh chuồng trại kém, do các bệnh nội khoa, do bệnh truyền

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -    -

LÊ THỊ THANH NHÀN

Tên đề tài:

"MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA

NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY

BÊ, NGHÉ DƯỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ

BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ"

Chuyên ngành: Thú y

Mã số: 60.62.50

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên, 2008

Lời cảm ơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể khoa sau Đại học - Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn Thạc sỹ nông nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị em, các bạn bè đồng nghiệp Chi cục Thú y tỉnh Tuyên Quang đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng xin được dành lời cảm ơn tới gia đình, những người thân đã động viên, chia sẻ với tôi trong suốt khoá học và thực hiện luận văn này

Thái Nguyên, ngày 14 tháng 6 năm 2008

Tác giả luận văn

Lê Thị Thanh Nhàn

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn và các

thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái nguyên, ngày 14 tháng 6 năm 2008

Tác giả luận văn

Lê Thị Thanh Nhàn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những năm gần đây, ngành chăn nuôi đã được Nhà nước và nhân dân đầu tư phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về sản lượng và chất lượng thực phẩm cao Một số địa phương đã tập trung phát triển đàn bò sữa, đặc biệt

là đàn trâu bò thịt để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm, góp phần nâng cao đời sống xã hội

Trong ngành chăn nuôi, chăn nuôi trâu bò nói riêng và chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung có một ưu thế đáng chú ý là thức ăn chăn nuôi chủ yếu

là cỏ và phế phụ phẩm nông nghiệp, song lại có khả năng cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị cho người tiêu dùng Ngoài ra, chăn nuôi trâu bò đã góp phần cơ bản giải quyết sức cày kéo cũng như bổ sung một lượng phân bón hữu cơ đáng kể cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc còn rất khó khăn về điều kiện kinh tế, điều kiện địa hình phức tạp không thể áp dụng cơ giới hoá ở nhiều địa

phương, vì vậy, con trâu vẫn được coi là “đầu cơ nghiệp”

Tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh, trong đó có hội chứng tiêu chảy vẫn xẩy

ra phổ biến, gây trở ngại lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu

bò nói riêng Tiêu chảy thấy ở mọi lứa tuổi, nhưng ra nhiều nhất vẫn là ở bê nghé từ sơ sinh đến ba tháng tuổi Theo Lê Minh Trí (1995), ở bê nghé có đến 70-80% tổn thất nằm trong thời kỳ bú sữa mẹ và 80-90% trong số đó là hậu quả của bệnh tiêu chảy gây ra

Tiêu chảy có thể do nhiều nguyên nhân gây ra: do khí hậu thời tiết thay đổi đột ngột, do thức ăn kém phẩm chất, do điều kiện vệ sinh chuồng trại kém, do các bệnh nội khoa, do bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng vv Nhiều kết quả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy cho thấy: dù bất kỳ nguyên nhân nào gây ra viêm nhiễm, tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá cũng dẫn đến rối loạn tiêu hoá và tiêu chảy (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [25])

Trang 3

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây tiêu chảy cho

bê nghé, phần lớn các tác giả tập trung vào tìm hiểu nguyên nhân gây tiêu

chảy ở giai đoạn bú sữa mẹ Trong các nguyên nhân trên, ký sinh trùng đường

tiêu hoá, đặc biệt là giun đũa Neoascaris vitulorum có vai trò quan trọng đối

với bê nghé dưới 3 tháng tuổi, bởi vì ngoài việc gây tiêu chảy, ký sinh trùng

này còn là nguyên nhân mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập

Bệnh ký sinh trùng không gây thành dịch ổ dịch lớn như các bệnh do vi

khuẩn và vi rút khác, nhưng thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng xuất chăn

nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của gia súc

Theo Trịnh Văn Thịnh (1982) [38], tiêu chảy xảy ra quanh năm, trong

đó tiêu chảy do giun đũa Neoascaris vitulorum chiếm tỷ lệ cao trong tổng số

bê nghé sinh ra và tỷ lệ chết tới 38,97% trong tổng số bê nghé bị bệnh

Là một cán bộ của Chi cục Thú y tỉnh Tuyên Quang, trực tiếp theo dõi

tình hình dịch bệnh trên đàn bê nghé, chúng tôi thấy hội chứng tiêu chảy khá

phổ biến, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi, đặc biệt đối với bê nghé

giai đoạn dưới 3 tháng tuổi

Xuất phát từ thực tiễn chăn nuôi trâu bò sinh sản ở tỉnh Tuyên Quang,

chúng tôi đã nghiên cứu đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của giun

đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của bê nghé dưới 3

tháng tuổi ở tỉnh Tuyên Quang và biện pháp điều trị”

Với mục đích:

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở bê nghé dưới

3 tháng tuổi tại Tuyên Quang

- Xác định vai trò của giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng

tiêu chảy ở bê nghé

- Đề xuất biện pháp điều trị tiêu chảy ở bê nghé có hiệu quả cao

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Hội chứng tiêu chảy ở bê nghé 1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy ở bê nghé là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi sự tác động của nhiều yếu tố như: sự tác động bất lợi của điều kiện ngoại cảnh gây ra các stress cho cơ thể, chăm sóc, quản lý và vệ sinh kém, thức ăn nước uống không đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh xâm nhập vào

cơ thể, đặc biệt là các loại vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh đường tiêu hoá, dẫn tới nhiễm khuẩn và làm rối loạn quá trình tiêu hoá, gây ra hiện tượng tiêu chảy ở bê nghé non Đây cũng là những nguyên nhân đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở bê nghé Bệnh lý xuất hiện thường là ở thể cấp tính hoặc mãn tính, tuỳ thuộc tính chất và nguyên nhân gây bệnh tác động Đặc điểm của sự rối loạn tiêu hóa là tiêu chảy nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước so với bình thường do tăng tiết dịch ruột (Blackwell T.E,

1989 [42]; Fairbrother, 1992 [44])

1.1.2 Nguyên nhân gây tiêu chảy ở bê nghé

Hội chứng tiêu chảy thường gặp ở gia súc, đặc biệt là gia súc non, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Sự tổn thất ở bê nghé sơ sinh chiếm tỷ lệ rất cao, mà chủ yếu là do bệnh tiêu chảy (Lê Minh Chí, 1995 [5])

Nguyên nhân gây tiêu chảy rất đa dạng Nhiều tác giả đã dày công tìm hiểu nguyên nhân gây tiêu chảy Tuy nhiên, tiêu chảy là hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố

là nguyên nhân thứ phát Vì vậy, để phân biệt rõ ràng nguyên nhân gây tiêu chảy là vấn đề không đơn giản Sự phân loại chỉ có tính chất tương đối, chỉ nêu được yếu tố nào chính xuất hiện đầu tiên, yếu tố nào phụ xuất hiện sau, để

Trang 4

từ đó đưa ra phác đồ điều trị bệnh có hiệu quả Tiêu chảy được coi là một hội

chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể điểm qua các nguyên nhân sau đây:

1.1.2.1 Nguyên nhân do điều kiện ngoại cảnh

Điều kiện ngoại cảnh, một trong những yếu tố thường xuyên tác động

lên cơ thể gia súc chính là điều kiện thời tiết, khí hậu Với sự tác động liên tục

của bức xạ mặt trời cũng như những biến đổi bất thường về nhiệt độ, ẩm độ,

gây ra các stress cho cơ thể Chính sự tác động này, làm cho cơ thể động vật

luôn có các đáp ứng điều chỉnh với điều kiện ngoại cảnh thay đổi, làm sức đề

kháng giảm sút, khả năng mắc bệnh tăng (Rosenberg N.J, 1974 [56])

Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân chia làm 4 mùa rõ rệt, trong

mỗi mùa lại có đặc điểm riêng biệt đặc trưng, khác nhau rõ rệt Nhiều đợt thời

tiết thay đổi đột ngột từ nắng sang mưa, từ nóng sang lạnh, tác động xấu đến

vật nuôi và cây trồng Vụ đông xuân nhiệt độ tăng cao dần, các đợt mưa đầu

mùa làm độ ẩm không khí tăng cường, đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn

có hại phát triển và gây bệnh Các bệnh truyền nhiễm xảy ra mạnh, gây chết

nhiều gia súc, trong đó bệnh phổ biến thường gặp ở gia súc non là các bệnh về

đường tiêu hoá (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974 [28]; Sử An Ninh, 1993 [26]; Đào

Trọng Đạt và cs, 1996 [8]; Hồ Văn Nam và cs, 1997 [25]) Theo Trịnh Văn

Thịnh (1962,1982) [36], [38], thời tiết ấm và ẩm là điều kiện thuận lợi cho

trứng và ấu trùng giun sán tồn tại và phát triển ở ngoại cảnh, từ đó gây bệnh

cho gia súc, gia cầm

1.1.2.2 Nguyên nhân tiêu chảy do thức ăn dinh dưỡng

Thức ăn là một trong những nguyên nhân gây ra tiêu chảy cho bê nghé

Như ta đã biết, mầm bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể gia súc bằng nhiều

đường khác nhau như: qua da, niêm mạc, các vết thương, qua đường hô hấp,

qua đường tiêu hoá Song trong hội chứng tiêu chảy, sự xâm nhập của các yếu

tố gây bệnh qua đường tiêu hoá có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự

hình thành bệnh Mầm bệnh nhiễm vào thức ăn, nước uống và trực tiếp vào cơ thể gia súc, khi gặp điều kiện thuận lợi dễ tăng sinh số lượng và gây bệnh Purvis G.M và cs 1985 [52]) Trứng hoặc ấu trùng giun sán, noãn nang cầu trùng có sức gây bệnh cũng xâm nhập vào cơ thể ký chủ qua đường tiêu hoá,

do nhiễm vào thức ăn, nước uống (Phạm Văn Khuê, 1996 [12]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [13])

Trong một số trường hợp bê nghé bị tiêu chảy do dinh dưỡng không hợp lý, có thể do bê nghé bú quá nhiều sữa, thức ăn nhiễm nấm mốc, giàu protein, nhiều nước, thức ăn non tươi, khẩu phần ăn thay đổi đột ngột, thành phần dinh dưỡng không cân đối Bệnh biểu hiện ở mức độ bình thường, nhanh hồi phục khi thay đổi khẩu phần ăn hợp lý

Trong thức ăn thiếu một số nguyên tố đa, vi lượng như sắt, đồng hoặc thừa molipden cũng gây ra những rối loạn tiêu hoá, gây tiêu chảy ở thể cấp tính hoặc mãn tính, kèm theo sự thay đổi màu sắc lông da và thiếu máu (Daniels G và cs, 1990 [43])

1.1.2.3 Nguyên nhân do vi khuẩn và virus

Ở những điều kiện nhất định, vi khuẩn được xem như là tác nhân thứ phát sau những nguyên nhân về thức ăn, chăm sóc quản lý Trong đường tiêu hoá của động vật, ngoài các vi khuẩn có lợi có tác dụng lên men, phân giải các chất trong đường tiêu hoá, giúp cho sinh lý tiêu hoá của gia súc diễn ra bình thường, còn có một số loài vi khuẩn có hại như E coli, Salmonella, họ vi khuẩn yếm khí Clostridium, họ cầu khuẩn Streptococcus là những vi khuẩn quan trọng gây ra rối loạn tiêu hoá, viêm ruột hoại tử và tiêu chảy ở người và nhiều loài động vật khi có điều kiện thuận lợi (Vũ Văn Ngũ và cs, 1997 [27]) Rối loạn tiêu hoá dẫn tới tiêu chảy ở động vật do các vi sinh vật gây ra thường có những đặc điểm đặc trưng về biểu hiện bệnh lý riêng của từng loài E.coli thường là nguyên nhân gây bệnh nguyên phát ở bê nghé 1-2 ngày tuổi,

Trang 5

gây tiêu chảy, phân sống ở bê nghé lớn hơn và từ đó tạo ra những phản ứng

stress hoặc nhiễm trùng kế phát các bệnh khác Triệu chứng chủ yếu của bệnh

tiêu chảy bê nghé do E.coli cũng như triệu chứng tiêu chảy do các nguyên

nhân khác, đó là hiện tượng tiêu chảy cấp tính, mất nước và rối loạn điện giải;

phân thường từ nhão đến toàn nước, màu của phân chuyển từ vàng nhạt sang

màu trắng, phân có lẫn vết máu, có mùi hôi thối Đặc điểm gây bệnh của

E.coli là vi khuẩn chỉ tác động chủ yếu ở đường tiêu hoá cho nên khi bê nghé

chết thường xác gầy, bẩn, lông xù, bê bết phân, hông lõm, xương cánh hông

nhô cao, niêm mạc ruột non bị xuất huyết, có chỗ tụ máu (Phạm Sỹ Lăng và

Lê Văn Tạo, 2002 [18]) Vi khuẩn Salmonella xâm nhập vào cơ thể qua

đường tiêu hoá, chúng bám vào các tế bào nhung mao ruột, xâm nhập vào lớp

tế bào biểu mô, sản sinh độc tố đường ruột, phá huỷ niêm mạc ruột gây tiêu

chảy

Có rất nhiều virus gây bệnh ở hệ tiêu hoá Coronavirus 1 và

Coronavirus 2, Rotavirus vv làm tổn thương các niêm mạc ruột, phá huỷ

quá trình hấp thu và điều tiết dịch, dẫn đến tiêu chảy nặng ở gia súc Bệnh lý

xuất hiện chủ yếu là viêm ruột, viêm kết tràng, manh tràng, tiêu chảy cấp hoặc

mãn tính, phân lỏng màu vàng, đôi khi có lẫn máu, tỷ lệ mắc bệnh và chết

trong đàn cao Nguyên nhân rối loạn tiêu hoá và tiêu chảy do Coronavirus 2

gây ra bệnh TGE (Transmissble Gastroenteritis), với triệu trứng nôn mửa kèm

theo tiêu chảy có nhiều nước, phân màu vàng hoặc hơi xanh, mùi hôi thối

(Radostits O.M và cs, 1994 [53])

1.1.2.4 Nguyên nhân tiêu chảy do rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột:

Trong đường tiêu hoá của cơ thể gia súc, khu hệ vi sinh vật bình

thường đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hấp thu dinh dưỡng của cơ thể, đó

là sự hấp thu các axit amin, gluxít, các axit béo Sự có mặt của các vi khuẩn

đường tiêu hoá như vi khuẩn lactobacillus, Bacillus subitilis, vi khuẩn thuộc

giống Bacteroides là những vi khuẩn có lợi cho gia súc Khi có tác động của

yếu tố khí hậu thời tiết, một số bệnh truyền nhiễm, trạng thái stress, thức ăn chất lượng kém làm rối loạn quá trình trao đổi chất, một số vi khuẩn có khả năng cạnh tranh cao sẽ ức chế các vi khuẩn khác tạo ra hiện tượng loạn khuẩn Đặc biệt, một số vi khuẩn đường ruột như Salmonella, E.coli tăng sinh quá nhiều, lan tràn lên phía trên của ống tiêu hoá, chúng sản sinh một lượng

độc tố đường ruột (Enterotoxin) rất lớn gây tiêu chảy ở gia súc

1.1.2.5 Nguyên nhân do ký sinh trùng

Các ký sinh trùng trong đường tiêu hoá, ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn có một tác hại lớn khác là gây tổn thương niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn xâm nhập gây bệnh, làm rối loạn quá trình phân tiết, gây viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính Độc tố của nhiều loài ký sinh trùng gây ngộ độc cho vật chủ, thể hiện bằng những biến loạn thần kinh

Gia súc thường nhiễm ký sinh trùng và bị bệnh ở thể mãn tính Vì vậy, triệu chứng tiêu chảy cũng ở thể mãn tính, hầu hết bị tiêu chảy song không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da và niêm mạc nhợt nhạt, kém ăn, thể trạng sa sút

Các loại ký sinh trùng đường ruột hay gây tiêu chảy cho bê nghé thường gặp là: Cầu trùng; Giun đũa; Sán dây và các loại giun sán khác

Ký sinh trùng là những sinh vật sống nhờ vào vật chủ khác đang sống, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của sinh vật đó để sống và phát triển Ký sinh trùng đường tiêu hoá ở bê nghé cũng không nằm ngoài cách sống này, chúng

ký sinh ở đường tiêu hoá của bê nghé và gây bệnh Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá gây ra cho bê nghé không thành ổ dịch nguy hiểm, không làm cho bê nghé chết nhiều (trừ những trường hợp bị bệnh nặng), song chúng gây tác hại

Trang 6

nghiêm trọng, làm giảm sinh trưởng và phát triển của bê nghé, làm bê nghé

gầy còm, thiếu máu, khả năng sinh trưởng chậm

Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [19], bệnh cầu trùng gây

ra ở bê nghé mắc với tỷ lệ từ 20 - 50%, có 7 loài cầu trùng phổ biến gây hại

cho bê nghé Trong quá trình ký sinh và phát triển ở ruột bê nghé, cầu trùng

gây tổn thương lớp nhung mao ruột và lớp cơ vòng tiếp với nhung mao, làm

tróc niêm mạc ruột và xuất huyết Cầu trùng tiết ra enzym và độc tố, phá hoại

mô ruột, những tổn thương ở ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh có sẵn

trong ruột xâm nhập và gây viêm ruột kế phát

Tiêu chảy ở bê, nghé do giun đũa Neoascaris vitulorum gây ra là nguyên

nhân đáng lưu ý Theo các tác giả bê, nghé mắc sớm nhất là 14 ngày (tỷ lệ

23%), phổ biến ở 23 - 35 ngày tuổi (64%) Khi ký sinh trong đường tiêu hoá,

giun đũa còn tiết chất độc làm bê nghé trúng độc, gây ỉa chảy và gầy sút nhanh

Sán dây Moniezia expensa và Moniezia benedeni ký sinh ở ruột non

của bê nghé cũng thường gây viêm ruột thứ phát, có thể làm chết đến 80% gia

súc non bị bệnh Mổ khám bê, nghé chết thấy nhiều sán cuộn lại thành từng

búi ở ruột non, có những ca bệnh nặng có thể tới 200 - 300 gam sán dây ở

ruột non

1.1.3 Bệnh lý và lâm sàng hội chứng tiêu chảy ở bê nghé

1.1.3.1 Bệnh lý

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường

tiêu hoá Như đã đề cập ở trên, nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất đa

dạng, do đó quá trình bệnh lý do chúng gây ra cũng rất phức tạp Mỗi nguyên

nhân khi tác động lên đường tiêu hoá đều theo một cơ chế nhất định, đồng

thời vị trí tác động không giống nhau, vì vậy mà cơ quan tiêu hoá tổn thương

khác nhau và mức độ nặng nhẹ cũng khác nhau

Theo Phạm Sỹ lăng và Lê Văn Tạo (2002) [20], vi sinh vật và ký sinh trùng xâm nhập vào đường tiêu hoá của súc vật non do ăn uống, chúng gây tác hại khi số lượng nhiều, sức đề kháng của con vật giảm thấp hoặc khi ruột

Vi khuẩn còn làm vỡ các mao mạch trong lớp cơ tiếp với nhung mao của ruột gây xuất huyết ruột

Các loài nấm độc, đặc biệt là nấm Candida albicans có trong thức ăn

thối mốc, xâm nhập vào ruột cũng gây tác hại tương tự như các vi khuẩn gây bệnh Ngoài tác hại phá hoại tổ chức dạ dày, ruột gây ỉa chảy, nấm còn tiết độc tố gây nhiễm độc toàn thân cho gia súc

Sokol A và cs (1991) [57] cho biết; E.coli xâm nhập vào cơ thể động

vật từ rất sớm, thậm chí khi vừa được sinh ra Sau khi phát triển và tăng nhanh ở tế bào thành ruột, vi khuẩn xâm nhập vào hệ lâm ba, hệ tuần hoàn gây nhiễm trùng và dung huyết Vi khuẩn theo máu đi đến các cơ quan tổ chức, phá huỷ các tổ chức tế bào, gây viêm ruột, tiêu chảy và ngộ độc cấp, làm cho gia súc chết nhanh

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, sau khi được sinh ra một thời gian ngắn, trong đường tiêu hoá, hô hấp của gia súc non đã xuất hiện một số loài vi sinh vật, trong đó có các vi sinh vật gây bệnh Những trường hợp tiêu chảy nặng hoặc chết do bội nhiễm, vi khuẩn còn được tìm thấy ở nhiều cơ quan, bộ phận khác trong cơ thể như: gan, lách, thận, phổi, dạ dày, ruột non

Trang 7

Radostits O.M (1994) [53], nghiên cứu cho thấy, 20 - 30% động vật

chết ở giai đoạn sơ sinh là do nguyên nhân tiêu chảy Tiêu chảy ở động vật do

E.coli có sự liên quan chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh thay đổi đột ngột,

cùng với sự chăm sóc nuôi dưỡng kém, làm giảm sức đề kháng, đó là nguyên

nhân cơ bản dẫn tới rối loạn tiêu hoá, gây hiện tượng loạn khuẩn và tiêu chảy

ở gia súc (Đào Trọng Đạt và cs, 1996 [8])

Đối với những vi khuẩn gây bệnh đường ruột, độc tố do chúng tiết ra

hoặc các sản phẩm độc sinh ra trong quá trình huỷ hoại tế bào sẽ tác động lên

cơ chế hấp thu ở ruột và gây ra tiêu chảy

Đã có nhiều tài liệu đề cập những biến đổi bệnh lý ở đường tiêu hoá

của bê nghé do ký sinh trùng gây ra

Trong thời kỳ ấu trùng, giun đũa di hành và làm tổn thương một số khí

quan như phổi, gan Giun trưởng thành ở ruột non nhiều, cuộn thành búi gây

tắc ruột, có khi làm thủng ruột Giun còn tiết chất độc làm cho bê nghé trúng

độc Tác động cơ học và tác động do độc tố dẫn đến ruột non viêm cata, ruột

tăng nhu động, gây cho bê, nghé ỉa chảy, gầy sút nhanh Bệnh tích chủ yếu ở

đường tiêu hoá, có trường hợp có từ 200 - 300 giun xếp thành 5-6 hàng ở tá

tràng, vít chặt ruột, có trường hợp còn thấy giun đũa ở các bộ phận khác như

dạ cỏ, dạ múi khế, ống dẫn mật (Phạm Sỹ lăng và cs, 2005 [21])

Ngoài ra, các tác giả còn cho biết; sán dây Moniezia expensa ký sinh ở

ruột non bê nghé cũng gây tổn thương thành ruột non, làm cho gia súc bị viêm

ruột cata và tiêu chảy

Trong các loại ký sinh trùng đường tiêu hoá bê nghé, cầu trùng là một

loại ký sinh trùng đơn bào cũng gây tiêu chảy Trong quá trình ký sinh và

phát triển ở ruột bê nghé, cầu trùng đã gây tổn thương lớp nhung mao ruột

và lớp cơ vòng tiếp với nhung mao, làm tróc niêm mạc ruột và xuất huyết

ruột Ở thể cấp tính, bê nghé bị nhiễm cầu trùng nếu không được điều trị kịp

thời sẽ chết sau 7 - 10 ngày; mỗi ngày bê nghé ỉa 5-10 lần, mỗi lần ỉa phải cong lưng rặn, nhưng phân rất ít và lẫn máu, vì vậy người ta gọi là bệnh lỵ đỏ

ở gia súc non

Như vậy, bệnh lý của hội chứng tiêu chảy ở bê nghé tập trung chủ yếu

ở đường tiêu hoá, từ tổn thương dẫn đến viêm ở ruột non hoặc ruột già Nhìn chung khi bê nghé bị tiêu chảy nặng đều dẫn đến mất nước, mất chất điện giải, rối loạn hoạt động của enzim, từ đó làm rối loạn chức năng tiêu hoá hấp thu, rối loạn cân bằng dịch thể ở ruột Mất nước có thể làm giảm lưu lượng tuần hoàn, dẫn đến truỵ tim mạch, gây tử vong

1.1.3.2 Lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở bê nghé

Biểu hiện lâm sàng của hội chứng tiêu chảy nói chung, dễ thấy và điển hình nhất là hiện tượng ỉa chảy Phân lúc đầu có thể táo hoặc không, sau đó ỉa chảy, có thể sền sệt hoặc lỏng do các bệnh ký sinh trùng, trong khi các bệnh phó thương hàn, dịch tả ở giai đoạn cuối phân lỏng hoặc vọt cần câu Đồng thời màu sắc phân cũng có sự khác nhau: bê nghé bị phó thương hàn phân có

màu vàng xám, bệnh do vi khuẩn E coli phân chuyển từ vàng nhạt sang màu

trắng Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [18], bê nghé bị tiêu chảy phân có lẫn máu tươi hoặc màu nâu do tổ chức niêm mạc và mao mạch ở ruột bị phá hoại

có thể là biểu hiện lâm sàng của bệnh cầu trùng

Bê nghé bị tiêu chảy thường có các biểu hiện như: thân nhiệt thường tăng nhẹ, con vật uống nhiều nước, ăn ít hoặc bỏ ăn, đầu tiên phân sền sệt, vài ngày sau ỉa chảy nặng, phân chỉ là dịch màu xám xanh, xám vàng và có mùi tanh, phân dính ở hậu môn và đuôi Bê nghé ỉa chảy nặng có thể 10-15 lần/ngày, mất nước nhanh làm cho con vật trũng mắt, da nhăn nheo và chết trong tình trạng mất nước, mất chất điện giải

Bê nghé non bị tiêu chảy nặng thường chết sau 3-4 ngày, tỷ lệ chết cao (30-40%), trong số số bê nghé bệnh nếu không điều trị kịp thời Tuy nhiên, tỷ lệ chết rất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ trầm trọng của bệnh Theo Đỗ Dương

Trang 8

Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32], tỷ lệ nghé ốm do giun đũa chiếm tới

38-44% so với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25-50% số nghé ốm

Như vậy, mỗi năm số nghé chết do giun đũa chiếm 20% số nghé đẻ ra

Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [18] cho biết, những bê nghé mắc

bệnh tiêu chảy do E.coli ở thể nhẹ có thể qua khỏi sau một vài ngày mà không

cần điều trị, nhưng khoảng 15 - 20% số bê nghé bị bệnh ngày một nặng hơn,

suy sụp hoàn toàn, nhiễm độc huyết dẫn đến chết nếu không điều trị tích cực

Ngoài những triệu chứng chung của bê nghé mắc hội chứng tiêu chảy,

các triệu chứng điển hình cho từng loại bệnh cũng biểu hiện rất rõ Những

triệu chứng đặc trưng cho mỗi bệnh cho phép chẩn đoán phân lập hội chứng

tiêu chảy với các bệnh truyền nhiễm:

- Bệnh thương hàn ở bê nghé: là bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra,

vi khuẩn xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô, sản sinh độc tố đường ruột, phá

huỷ niêm mạc ruột gây tiêu chảy Ở thể viêm ruột cấp thân nhiệt tăng

40-41oC, ỉa chảy hoặc có trường hợp kiết lỵ, phân hôi thối chứa màng nhầy

- Bệnh tiêu chảy bê nghé do vi khuẩn E.coli gây ra: phân thường từ

nhão đến hoàn toàn là nước, màu của phân chuyển từ vàng nhạt sang màu

trắng, trong phân có lẫn những vết máu, có mùi hôi thối Thân nhiệt bình

thường hoặc tăng hơn một chút, vào giai đoạn cuối thân nhiệt thường hạ

xuống dưới mức bình thường

- Bệnh do giun đũa Neoascaris vitulorum thường gây ỉa chảy, phân

chuyển từ xanh đen sang vàng dần, rồi chuyển thành trắng Bệnh thường thấy

ở bê nghé non từ 1-3 tháng tuổi, phân mùi thối khắm, con vật ỉa vọt cần câu,

phân dính ở khuỷu chân, xung quanh hậu môn, thân nhiệt có thể tăng tới

40-41oC, khi sắp chết thân nhiệt hạ xuống dưới mức bình thường Bê nghé từ 3

tháng tuổi trở lên thường không mắc bệnh giun đũa

- Các bệnh do vi rút như: Coronavirut, Rotavirut thường gây viêm

ruột, viêm kết tràng, manh tràng, tiêu chảy cấp hoặc mãn tính, phân lỏng màu vàng, đôi khi có lẫn máu, tỷ lệ bệnh và chết trong đàn cao, điều trị bằng kháng sinh không có hiệu quả

1.1.4 Chẩn đoán hội chứng tiêu chảy ở bê nghé

Để việc điều trị đạt hiệu quả cao thì việc chẩn đoán tìm ra nguyên nhân gây tiêu chảy rất quan trọng Chẩn đoán một bệnh chính xác là rất khó khăn, song để chẩn đoán chính xác được nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy càng khó khăn hơn Do vậy, khi chẩn đoán hội chứng tiêu chảy cần phải chú ý xem xét rất nhiều yếu tố: đặc điểm dịch tễ, biểu hiện lâm sàng và phi lâm sàng, kết quả mổ khám, các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Đối với những bệnh nghi do ký sinh trùng, người ta thường dùng phương pháp chẩn đoán xét nghiệm phân để tìm trứng giun sán; đối với bệnh do vi khuẩn phải nuôi cấy trên các môi trường để phân lập và giám định vi khuẩn

Ở thể cấp tính, con vật chết rất nhanh, chẩn đoán bệnh cần căn cứ các yếu tố liên quan như: thức ăn, nước uống, phương thức chăn nuôi, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, tuổi bê nghé Ví dụ bệnh ký sinh trùng thường phát triển trong những tháng nóng ẩm, mưa nhiều Bệnh cầu trùng bê nghé, khi thời tiết nóng ẩm, cho noãn nang cầu trùng dễ phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ngay trên nền chuồng và bãi chăn thả Người ta cũng quan sát thấy bê nghé thường phát bệnh khi thời tiết thay đổi từ ấm áp sang lạnh ẩm Thiếu thức ăn cũng làm cho bê nghé giảm sức đề kháng Đối với bệnh giun đũa, thường mắc ở bê nghé sơ sinh đến 3 tháng tuổi (23 - 64%), đến 4 tháng tuổi thì không bị nhiễm (Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo, 2002 [20])

Nhiều tác giả lưu ý rằng, khi chẩn đoán bê nghé mắc tiêu chảy dựa vào đặc điểm dịch tễ thì tuỳ từng điều kiện cụ thể mà loại trừ bớt khả năng gây bệnh, để có kết luận ban đầu về nguyên nhân gây bệnh

Trang 9

Biện pháp thường dùng nữa là căn cứ vào biểu hiện lâm sàng để chẩn

đoán, nhưng cần phải chẩn đoán phân biệt giữa các bệnh có triệu chứng tiêu

chảy để loại trừ nguyên nhân nghi ngờ và tìm ra nguyên nhân chính Dù là

nguyên nhân gì dẫn đến tiêu chảy thì bê nghé đều biểu hiện bằng triệu chứng

ỉa chảy, phân lỏng hoặc toàn nước Do tiêu chảy mất nước nên bê nghé gầy

còm, ốm yếu, da nhăn, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt Nếu ỉa chảy kéo dài, con

vật suy nhược hoàn toàn, run rẩy, đứng không vững Tiêu chảy nặng có thể

dẫn đến truỵ tim mạch và chết Nếu nguyên phát là do vi khuẩn, độc chất hoặc

vi rút, rồi kế phát nhiễm khuẩn sẽ làm thân nhiệt tăng từ 0,5 - 1,5oC tuỳ theo

mức độ nhiễm khuẩn Tiêu chảy do độc tố, chất độc, thời tiết, thay đổi thức ăn

thì nhiệt độ cơ thể không tăng Màu phân có thể thay đổi tuỳ thuộc nguyên

nhân gây bệnh Ví dụ, bê nghé sơ sinh bị nhiễm giun đũa thường phân có màu

trắng, nếu bị nhiễm Salmonella thì phân có màu vàng, bê nghé nhiễm cầu

trùng có thể triệu chứng lâm sàng điển hình là ỉa lỏng, phân nhày, có máu tươi

(lỵ đỏ) Bê nghé sơ sinh bị tiêu chảy nếu không điều trị kịp thời có thể bị chết

trong vòng 12 - 96 giờ, tỷ lệ chết có thể chiếm tới 90% trong số mắc bệnh

Biện pháp mổ khám xác chết để tìm bệnh tích điển hình là phương

pháp chẩn đoán có hiệu quả, nhất là trong bệnh giun sán Mổ khám tìm thấy

giun sán ký sinh với số lượng nhiều và gây bệnh tích nặng ở đường tiêu hoá

thì có thể kết luận là bê nghé chết do bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá

Tuy nhiên, một biện pháp hữu hiệu cần thực hiện là chẩn đoán trong

phòng thí nghiệm Thu thập mẫu phân bê nghé mới thải ra về phòng thí

nghiệm để xét nghiệm trứng giun sán hoặc cầu trùng bằng phương pháp lắng

cặn Benedek (1943), các phương pháp phù nổi (Fulleborn, Darling )

Từ các bệnh phẩm của bê nghé tiêu chảy (phân, ruột non, ruột già ) có

thể nuôi cấy, phân lập vi khuẩn, giám định các đặc tính sinh hoá, tiêm truyền

động vật thí nghiệm là phương pháp vi sinh vật vẫn thường được áp dụng trong chẩn đoán bệnh, trong đó có hội chứng tiêu chảy

1.1.5 Biện pháp điều trị tiêu chảy cho bê nghé

Nguyên lý chung của điều trị tiêu chảy ở bê nghé cũng giống như các gia súc khác là loại bỏ nguyên nhân gây bệnh Nếu nguyên nhân do thức ăn thì phải thay đổi thức ăn, nếu nguyên nhân là vi khuẩn phải sử dụng các loại kháng sinh, hoá dược để tiêu diệt mầm bệnh Nếu nguyên nhân là do ký sinh trùng thì dùng các thuốc trị ký sinh trùng Đồng thời với điều trị nguyên nhân phải kết hợp với điều trị triệu chứng Trước hết, kịp thời bổ sung nước và chất điện giải, các yếu tố vi lượng bị mất bằng cách cho uống hoặc truyền tĩnh mạch các dung dịch nước muối sinh lý 0,9%, dung dịch đường ưu trương 20%, uống orezol Ngoài ra, phải dùng các chất chống viêm như Dexamethazon kết hợp với các loại vitamin C, B1, K để chống xuất huyết đường tiêu hoá và nâng cao sức đề kháng của cơ thể cho bê nghé Bê nghé tiêu chảy nếu được điều trị kịp thời, tích cực, đúng nguyên nhân thì tỷ lệ chết thấp, bê nghé chóng hồi phục, ít ảnh hưởng đến sự phát triển sau này Đào Trọng Đạt và cs (1995) [7] đã đưa ra phương pháp điều trị chung đối với hội chứng tiêu chảy như sau:

Trang 10

là rất cần thiết và có hiệu quả Các dung dịch truyền được Đào Trọng Đạt và cs

khuyến cáo dùng là: dung dịch Dextrose 5% hoặc Dextrose 20-50%, dung dịch

Sodium clorit sinh lý (NaCl 0,9%), dung dịch ưu trương (NaCl 7,5%)

Đề cập đến vấn đề này, Phạm Khắc Hiếu và cs (1997) [9], Phạm Khuê

(1998) [10] cho biết: bổ sung chất điện giải cho cơ thể tuỳ thuộc mức độ mất

nước và chất điện giải Nếu mất nước ở độ I hoặc độ II là sự mất nước ở thể

nhẹ và trung bình, có thể cho uống dung dịch Oresol hoặc nước muối sinh lý

đẳng trương Khi mất nước cấp tính (mất nước cấp tính là tình trạng mất nước

ở độ III hoặc độ IV, là sự mất nước phức tạp và nguy hiểm), thì ngoài các

biện pháp trên, cần phải truyền tĩnh mạch bằng dung dịch Ringer lactat

Trong hội chứng viêm ruột tiêu chảy, sự mất nước cùng với các chất

điện giải là nguyên nhân chính gây ra những rối loạn hoạt động chức năng của

các cơ quan trong cơ thể, gây tỷ lệ tử vong cao Do vậy, cần phải thực hiện 3

vấn đề cơ bản, đó là: thực hiện tốt chế độ ăn uống, chống nhiễm khuẩn và

điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải (Vũ Triệu An, 1978 [1])

- Điều trị bằng các chế phẩm sinh học:

Trong đường ruột của động vật, hệ vi sinh vật luôn ổn định, đảm bảo

trạng thái thăng bằng cho hoạt động của đường ruột Khi hệ vi sinh vật đường

ruột cân bằng thì những vi sinh vật có lợi (90% là vi khuẩn lactic) sẽ có hoạt

động hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vi

khuẩn có hại cạnh tranh phát triển, làm rối loạn tiêu hoá, gây tiêu chảy

Xuất phát từ cơ sở trên, các nhà nghiên cứu đã chế nhiều chế phẩm khác

nhau từ vi khuẩn hữu ích, chủ yếu là vi khuẩn Lacto bacillus để đưa vào đường

ruột, tạo sự cân bằng cho hệ vi sinh vật đường ruột Những chế phẩm này được

gọi là chế phẩm trợ sinh học Ở nước ta có chế phẩm B subtilis, Yoaurt, Menth,

Biolactin các chế phẩm này đều là dạng thuốc nước cho gia súc uống

Năm 1981, Vũ Văn Ngữ và Lê Kim Thao đã sử dụng chế phẩm vi sinh vật Subcolac đưa vào đường ruột, là một hỗn hợp của loại vi khuẩn sống

Bacillus subtilis, Coli bacterium và Lacto bacillus Chế phẩm này một mặt cung

cấp một số men cần thiết, một mặt lặp lại sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột, góp phần khắc phục rối loạn tiêu hoá ở ruột (Chu Đức Thắng, 1997 [33]) Đào Trọng Đạt và cs (1995) [7] đã khẳng định kết quả phòng trị bệnh đường ruột và tác dụng điều tiết kích thích sinh trưởng của chế phẩm Biolactyl là rất tốt

Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [20] đề xuất một số phác đồ điều trị tiêu chảy cho bê nghé như sau:

Cách 1: Điều trị tiêu chảy do nhiễm khuẩn:

- Điều trị nguyên nhân: phối hợp kháng sinh và sulfamid

Kanamycin: 20-30mg/kg thể trọng/ngày

Tetracyclin: 20-30mg/kg thể trọng/ngày

Bisepton hoặc Sulfaguanidin: 30-50mg/kg thể trọng/ngày

Thuốc kháng sinh có thể cho uống hoặc tiêm Sulfamid cho uống Ba loại thuốc phối hợp dùng liên tục 3-5 ngày Mỗi liều thuốc chia làm 2 liều nhỏ cho gia súc uống ngày 2 lần

- Điều trị triệu chứng:

Chống mất nước: truyền huyết thanh mặn ngọt vào tĩnh mạch, cứ 1000ml/100kg thể trọng/ngày Nếu không có huyết thanh mặn ngọt thì cho uống dung dịch Oresol

Chống chảy máu ruột: tiêm vitamin K, C

Thuốc trợ tim mạch: Tiêm vitamin B1, long não nước hoặc cafein

Cách 2: Điều trị tiêu chảy do giun tròn, cầu trùng và nhiễm khuẩn:

- Thuốc điều trị: phối hợp thuốc tẩy giun và kháng sinh

+ Tẩy giun dùng một trong hai loại thuốc sau:

Mebendazol: 10 - 15mg/kg thể trọng/ngày

Trang 11

Tetramisol: 7-10mg/kg thể trọng/ngày

Thuốc tẩy giun chỉ dùng một lần Chỉ dùng thuốc tẩy khi phát hiện

trong phân gia súc có các loại trứng giun và có dấu hiệu lâm sàng nhiễm giun

+ Thuốc điều trị cầu trùng: Sulfamerazin hoặc Sulfadimerazin, liều

0,10 - 0,12g/kg thể trọng, dùng liên tục 5-6 ngày liền

Dùng thuốc trợ sức, chống chảy máu và bổ sung nước: vitamin C, B1,

K, cafein, long não nước, truyền huyết thanh mặn ngọt 1000ml/100kg thể

trọng/ngày

+ Chống nhiễm khuẩn: phối hợp kháng sinh và sulfamid:

Oxytetracyclin: 20-30mg/kg thể trọng/ngày

Bisepton: 40-50mg/kg thể trọng/ngày

Phối hợp hai loại thuốc dùng liên tục trong 3-4 ngày

Theo Fairbrother J.M (1992) [44], một trong những nguyên nhân gây

hội chứng tiêu chảy của gia súc là do một số loài vi khuẩn gây bệnh đường

ruột bao gồm cả những vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn yếm khí tuỳ tiện và những

vi khuẩn yếm khí bắt buộc Những loài thường gặp là: E.coli, Salmonella spp,

Proteus, Streptococcus

Gia súc bị tiêu chảy do E.coli, khi điều trị, ngoài việc dùng kháng sinh

sớm từ đầu nên dùng kết hợp một số thuốc hay hoá dược có tác dụng ức chế

sự sản sinh và ảnh hưởng của độc tố đường ruột Entrotoxin do vi khuẩn

phóng thích ra Một số hoá dược thường dùng như: Chlopromazin hoặc

Berberin sulphate, kết hợp sử dụng dung dịch các chất điện giải như dung

dịch đường glucose, dung dịch muối natri, kali Các dung dịch này có vai trò

quan trọng trong việc cung cấp, bổ sung lượng nước và chất điện giải bị mất

trong khi tiêu chảy (Nagy và cs, 1985 [49])

Trong điều trị tiêu chảy cho bê nghé do vi khuẩn Salmonella gây ra

Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [31] cho biết: ở các cơ sở chăn nuôi không có

điều kiện làm kháng sinh đồ, có thể tiến hành điều trị qua việc dùng các kháng sinh và sulfamid như: Neomycin và Sulfamethyphenazol, kết hợp với một số loại hoá dược có tác dụng cung cấp nước, chất điện giải và thuốc làm

se, dịu niêm mạc ruột

Trong điều trị tiêu chảy, các nhà chuyên môn đã sử dụng thuốc có tác dụng làm se niêm mạc ruột Các cây thảo dược trong tự nhiên có chứa hoạt chất, có tác dụng hữu hiệu trong việc phòng và trị nhiều bệnh khác nhau, trong đó, có bệnh đường tiêu hoá ở người và động vật

Cây, quả dược liệu có vị chát hoặc đắng như: cây sim, búp ổi, quả hồng xiêm, chuối, ổi, lựu và nhiều loại cây quả khác có tác dụng làm se niêm mạc ruột rất tốt, nhất là các quả này còn ở trạng thái xanh non (lượng axit tanic cao hơn nhiều khi quả chín)

Để đề phòng tiêu chảy, trước hết khi mới đẻ ra bê nghé phải được uống đầy đủ sữa đầu, chuồng nuôi bê nghé phải được dọn sạch sẽ hàng ngày, không

để bê nghé uống nước bẩn, nước uống cho bê nghé phải đảm bảo vệ sinh, bổ sung các loại vitamin A, D để nâng cao sức đề kháng Một số nước áp dụng phương pháp sau: 1-3 ngày đầu sau khi sinh cho bê nghé uống hỗn hợp gồm 250mg Oxytetracyclin + 62.000 UI vitamin A + 6.250 UI vitamin D (2 lần/ngày), có tác dụng phòng bệnh tiêu chảy tốt Cũng có thể dùng các loại  - globulin miễn dịch cho bê nghé uống để chống tiêu chảy do vi khuẩn, vi rút gây ra (Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo, (2002) [20])

1.2 Giun đũa Neoascaris vitulorum và bệnh giun đũa ở bê nghé

Theo nhiều tác giả, một trong những nguyên nhân quan trọng gây tiêu

chảy ở bê nghé từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là giun tròn Neoascaris vitulorum

1.2.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn Neoascaris vitulorum

1.2.1.1 Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum

Trang 12

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs,

1999 [13], thì giun tròn Neoascaris vitulorum có ba môi, rìa của những môi

này có răng cưa

Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15cm, rộng nhất 0,35cm

Giun cái dài 19 - 23cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm Trứng có vỏ với nhiều

chỗ lõm nhỏ, dài 0,080-0,090 mm, rộng 0,070-0,075mm

Prokopic,-J; Sterba,-J (1989) [51] đã quan sát giun đũa Neoascaris vitulorum

trên kính hiển vi điện tử thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi, răng, gai nhỏ và

phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng cao lên khi tuổi tăng lên

Theo Taira-N; Fujita-J (1991) [60] Từ năm 1982-1988 giun tròn đã

được tìm thấy và nghiên cứu ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản Có 7

giun đực và 21 giun cái được nghiên cứu về hình thái học, cho thấy độ dài

trung bình của giun đực 15,64 cm (14,0-18,0 cm), giun cái 25,75 cm

(16,5-34,0) Thân trắng đục và mềm Trứng giun 81,6ỡm và 71,8ỡm đường kính

rộng nhất và nhỏ nhất, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo

Ở Việt Nam, Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32],

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [21], giun đũa Neoascaris vitulorum (Goeze

1782), ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13-15cm, đường

kính 0,3; ở bê dài 14-16 cm Giun cái ở nghé dài 19-23 cm, đường kính 0,5

cm, trứng 70-75 x 80-90 ỡm, ở bê dài 20-26 cm, trứng (75-85 x 90-100 ỡm)

Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân, phù hợp với tài liệu mô tả

của Orlov (1970), Euzeby (1981), Khổng Phôn Giao (1957), khác với tài liệu

mô tả của Skrjabin (1950), Neveu-Lemaire (1952), Soulsby (1965), Drozdz

(1967) âm hộ ở 1/6 trước thân

1.2.1.2 Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32], trứng giun thải

ra môi trường ở thời kỳ tiền phân là trứng không cảm nhiễm Skjabin &

Schulz (1973) cho biết, sự phát triển của trứng đến giai đoạn cảm nhiễm (theo

tài liệu của Davtian) kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt độ 28-30oC và 17-19 ngày ở nhiệt độ 25oC

Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris

vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân

Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [36], trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15-

17oC thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19-22oC thì phải sau 20 ngày Nếu để phân khô đi hoặc ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát dục Dưới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12-15 ngày phôi chết, mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt

Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai Chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng; trứng theo phân ra ngoài, phát triển thành phôi thai trong trứng, sau đó lại vào cơ thể con vật

Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm

có khác nhau

Theo Soulsby (1965), ở nhiệt độ tối ưu 28-30oC, thời gian là 7 ngày; ở

25oC cần 10-11 ngày, ở 15-18oC cần trên 28 ngày Trứng giai đoạn cảm nhiễm

có chứa ấu trùng giai đoạn II, có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh Irfan M và Sarwar M.M (1954) nghiên cứu ở Pakistan, trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm sau 11 ngày ở 26oC; trứng sẽ bị thoái hoá nếu để ở nhiệt độ 30oC; ở 10oC trứng ngừng phát triển

Euzeby (1981) theo dõi ở Malaixia cho biết, với nhiệt độ 15-17oC, cần

38 ngày Theo Orlov (1970) ở nhiệt độ 30oC, cần hai tuần; ở nhiệt độ 25oC, cần

ba tuần Refuerzo P.G & Jemenez A (1954), quan sát sự phát triển của trứng

Trang 13

giun ở Philippin cho biết, ở nhiệt độ 17oC phôi bắt đầu hình thành ngày thứ

sáu, hoàn thành vào ngày thứ chín và có khả năng gây bệnh ở ngày thứ 13-15

Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng

như yếu tố vật lý Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối

với một số chất sát trùng

Refuerzo P.G & Jemenez A (1954) đã làm thí nghiệm về sức đề kháng

của trứng giun đũa ở Philippin, thấy trứng có sức đề kháng kém dưới ảnh

hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời; Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và

còn phụ thuộc vào khối lượng cục phân Nước nóng có tác dụng diệt phôi thai

rất nhanh, nếu ở trong phân thì tác dụng hạn chế; Với nước nóng 90-100oC

trứng đã phân lập ra bị hỏng sau 2 giây, phôi bị huỷ, nhưng nếu ở trong phân

thì chỉ ở lượt ngoài trứng bị hỏng

Đối với một số chất sát trùng thông thường như Lysol 2%, Zyphen

4-5%, sau 17-20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không

bị diệt Phạm Chức (1986) [4] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa

trong một giờ; Axit phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32], trứng giun đũa

phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19-22oC, nhưng

phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15-17oC

Dương Công Thuận đã lấy phân của bê nghé bị nhiễm giun đũa có

trứng nhiều, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri, để ở nhiệt độ trong

phòng khoảng 15-22oC (tháng 10-11), thì trứng phát triển thành phôi thai sau

20 ngày, ở nhiệt độ 15-17oC phôi hình thành sau 38 ngày

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [19] cho biết, con cái đẻ trứng

ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành

trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15-17oC cần 38 ngày, 19-22oC cần 20

ngày, 25oC cần 10-12 ngày, 28-30oC cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến

34-35oC thì trứng không phát triển) Khi bê nuốt trứng giun đũa có khả năng gây

bệnh thì sau 43 ngày thấy giun đũa trưởng thành trong cơ thể bê, nếu cho mẹ nuốt trứng trước khi đẻ 124-192 ngày thì bê đẻ ra 20-31 ngày trong phân có trứng giun đũa Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất

cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai

Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và dịch ruột non, ấu trùng nở ra và từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim trái và từ đó vào đại tuần hoàn Phần lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén và

có thể sống từ năm đến sáu tháng hay hơn Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong thời gian chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau đến bào thai, hoặc có thể trâu bò cái nhiễm trong thời gian không chửa, ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa ấu trùng có thể thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và bào thai

Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng như: Bắp cơ, thận, não, gan, phổi Ấu trùng có thể sống ở đó sáu tháng; ở con vật không chửa quá thời gian ấu trùng chết Ở con vật chửa trong vòng sáu tháng ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai

Ở bào thai nó sống trong gan, theo Augustine (1972) và Noda R (1954)

ấu trùng sống không biến đổi trong suốt thời kỳ ở tử cung Theo Spent (1958) thời kỳ cuối trước khi đẻ ấu trùng có thể từ gan vào bào thai và lên phổi biến thái một lần Nhưng nói chung ở mọi trường hợp chỉ sau khi đẻ ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một đợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống như di hành của giun đũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng

Trong điều kiện tự nhiên ở bê, nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã có thể tìm thấy trứng giun đũa trong phân Thường tuổi bê, nghé mắc bệnh là 15-42 ngày (Boulerger, 1922; Spent, 1946; Vaidyanathan, 1949; Keith, 1951; Irfan

và Sarwar, 1954; Spirestava và Mehre, 1955 ) đối với một số giun đũa khác

Trang 14

như Ascaris của lợn, người, Parascaris của ngựa thời gian từ khi vật bắt đầu

cảm nhiễm trứng giun đũa đến khi trưởng thành có khả năng đẻ trứng phải tối

thiểu trên một tháng Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm người ta nghĩ

đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai Mặt khác, nhiều thí

nghiệm gây bệnh cho bê, nghé một ngày tuổi trở lên nuốt trứng giun đũa có

phôi đều không thành công (Brampt 1922, Schmidt 1933) Năm 1935,

Davtyan đã gây bệnh được bằng cách cho một bê nuốt trứng giun 2 giờ sau

khi đẻ, sau đó 30 ngày xuất hiện trứng trong phân Mổ khám sau khi chết,

ngày thứ 43 thấy một giun trưởng thành và 8 giun con

1.2.2 Đặc điểm của bệnh do giun đũa Neoascaris vitulorum gây ra ở bê

nghé

1.2.2.1 Cơ chế sinh bệnh

Khi bê nghé nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh, sau 43 ngày có

thể thấy giun đũa trưởng thành ở ruột non bê nghé Trong thời kỳ ấu trùng

giun đũa di hành đến một số khí quan như phổi, gan Khi giun trưởng thành ở

ruột non số lượng nhiều, vít chặt làm tắc ruột non, có khi làm thủng ruột hoặc

chui vào ống dẫn mật, gan

Giun còn tiết chất độc làm cho bê nghé bị trúng độc, gây ỉa chảy, gầy

sút nhanh Giun lấy chất dinh dưỡng làm bê nghé gầy yếu (Phạm Văn Khuê,

Phan Lục, 1996 [12])

Giun đũa Neoascaris vitulorum cũng như các loài giun sán khác, ngoài

tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn gây tổn thương niêm

mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá (E.coli,

Salmonella, Proteus ) xâm nhập gây rối loạn quá trình phân tiết, viêm ruột và

tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính

Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại

tử ở gan Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thương

ở phổi cũng được phát hiện

Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát có thể chết đến 80% (Dẫn theo Drozdz 1967; Kaufmann, 1996)

Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê nghé

có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút Nếu không phát hiện sớm

và điều trị kịp thời bê nghé chết rất nhanh

1.2.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê nghé

Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum thường hay sảy ra hầu

khắp các nơi trên thế giới

Ở Braxin, Travassos Lvà Lacombe D (1959) điều tra cho biết,

Neoascaris vitulorum là loại phổ biến ở nghé, ít thấy hơn ở bê

Ranatunga P (1960) điều tra ở Srilanca, tại nông trại Ridiyagana, thấy nhiều nghé có trứng giun trong phân ở lứa tuổi 10-26 ngày sau khi đẻ Theo tác giả, tỷ lệ nghé chết về bệnh này còn cao hơn do Coccidiosis

Srivastava S.C (1963) cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở Ấn Độ thấy 4

con có Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột Tripathi J.C

(1967) cũng cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thường bị giun đũa ký sinh

Theo Vichitr-Sukhapesna (1990) [61], bê nghé nhiễm giun đũa

Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa

Muangyai M (1989) [48] thông báo rằng, giun đũa bê nghé Neoascaris

vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh cho bê nghé,

bệnh đã được nghiên cứu biện pháp phòng trị

Theo Pandey, VS; Hill, -FWG; Hensman, DG; Baragwanath, LC (1990) [50], có 20 bê độ tuổi 13±5 ngày được kiểm tra phân trong giai đoạn 15-20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabuwe, trứng giun có từ ngày 24, số trứng đếm được từ 257-19.821 trứng/gam phân

Trang 15

Akyol-CV (1993) [40] thấy, bê bị nhiễm Neoascaris vitulorum phổ

biến ở quanh Barsa (Thổ nhĩ kỳ) qua việc kiểm tra trứng trong phân Ấu trùng

cũng được tìm thấy trong một mẫu sữa Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên

làm nhiễm bệnh nhanh Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau

Một thông báo khác cho biết, ở Braxin nghé bị nhiễm với tỷ lệ 58% ở

tuần tuổi thứ nhất; 87,5% tuần thứ 2; 96% tuần thứ 3 và 100% tuần thứ 4 Hầu

hết bị nhiễm qua bào thai và một số ít trường hợp nhiễm qua sữa Chúng phát

bệnh trong độ tuổi 3-17 tuần tuổi (Barbosa,-MA; Correa,-FMA, 1989 [41])

Starke-WA; Machado-RZ; Becchara-GH; Zocoller-MC (1996) [58] đã

kiểm tra 75 mẫu phân bê nghé từ 9-115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bị mắc giun

đũa Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi

Wen-YL, Zhuang; Lin; BM; Pan;-YD; Gao;-Wang,-TJ (1986) [63] đã

phát hiện 99 con nghé trong số 245 nghé ở 7 làng của tỉnh Phúc Kiến, Trung

Quốc Sự nhiễm giun đũa của nghé đực (43,02%), cao hơn nghé cái (38,03%)

Theo Horchner, F; Srikitijikarn, L (1987) [46], tỷ lệ chết của nghé trong

6 tháng đầu sau khi sinh ở vùng Đông Nam Á Thái Lan tới 30% do giun

Neoascaris vitulorum và S.papillosus

Gupta;-RP; Yadav;-CL; Ghosh; JD (1985) [45] cho biết, trong 1626 bê

ở bang Haryana (Ấn Độ) có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: Giun

móc 44,2%; Neoascaris vitulorum 15,2%; Giun đầu gai 6,2% Tỷ lệ nhiễm

trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và

mùa đông (52,2%) Trong 2411 nghé ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký

sinh trùng, trong đó Neoascaris vitulorum 29,1%; giun móc 20,7%; giun đầu

gai 9,2% và Coccidia 5,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (69,8%) và mùa hè

(67,8%), cao hơn mùa xuân (51,9%) và mùa đông (56,3%)

Iskander, AR, Tawjeek, AFarid; AF (1987) [47] đã điều tra 87 nghé

ở 60 ngày tuổi bị ỉa chảy từ các tỉnh Sharkia, Dakahlia, Kaliobia và Assiut (Ai

Cập) có 18 con (21%) đã bị nhiễm giun đũa và cầu trùng, có 4 con đã bị chết Noãn nang Eimeria và trứng giun đũa theo tỷ lệ 5:1

Swain, GD; Misra, SC; Panda, DN (1987) [59] cho biết, ở Ấn Độ trứng giun đũa đã được tìm thấy trong mẫu phân của 170 nghé dưới 6 tháng tuổi giữa thời gian kiểm tra tháng 3-8/1985 Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở nghé 1 - 2 tháng tuổi, giảm dần sau 3 tháng tuổi

Kết quả điều tra cho thấy, có trường hợp bê mắc bệnh sớm nhất là 15 ngày (Lee-Nigeria 1959), nghé là 10 ngày (Ranatuga 1960) Theo Orlov (1970), sau 3 tháng tuổi bê có hiện tượng tự thải giun đũa

Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê nghé là một bệnh rất phổ biến Nghé có triệu chứng đặc trưng là phân có màu trắng nên nhân dân thường gọi là bệnh

"Nghé ỉa cứt trắng" Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một ca bệnh trên nghé Nhưng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự được chú ý vì nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32] cho biết, do ảnh hưởng của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lưu truyền từ mùa này sang mùa khác, trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này qua mùa đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo thành vùng "nghé ỉa cứt trắng"

Do tập tính sinh sản của trâu bò miền núi phía bắc nước ta là đẻ vào mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nước nên bệnh giun đũa bê nghé gây tác hại nhiều đối với nghé sơ sinh

Bệnh giun đũa bê nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đồng bằng và ở các

cơ sở chăn nuôi trâu bò sữa (Phan Địch Lân và Phạm Sỹ Lăng, 1999 [21]) Qua điều tra liên tục sáu vụ đông xuân (từ 1954-1960) trên hàng nghìn nghé tại xã Hoà Phú, Phúc Thịnh (Chiêm Hoá - Tuyên Quang), xã Minh Sơn

Trang 16

(Ngọc Lặc - Thanh Hoá), xã Phượng Tiến (Định Hoá - Thái Nguyên), Đỗ

Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32] thấy, tỷ lệ nghé ốm do giun đũa

chiếm tới 38-44% so với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25-50%

số nghé ốm Như vậy, mỗi năm số nghé chết về giun đũa chiếm 20% số nghé đẻ

Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [36], qua điều tra trên 32 xã thuộc nhiều

tỉnh miền núi và trung du miền bắc nước ta, nghé ốm do bệnh giun đũa chiếm

39,1%, nghé chết chiếm 38,7% so với số nghé ốm Đặc biệt bệnh chỉ phổ biến

trên đàn trâu sinh sản ở miền núi và trung du còn ở vùng đồng bằng bệnh

giảm rõ rệt

Tô Ngọc Đại (1953) [6] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé gây ra tình

trạng bê nghé ỉa cứt trắng là khá phổ biến và trầm trọng ở miền núi, nơi có

chăn nuôi trâu bò sinh sản với số lượng lớn

Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [37], ở Sơn Tây, Phia Đén (Cao Bằng)

Ngọc Thanh (Vĩnh Phú), đàn bê mắc bệnh giun đũa chiếm 20% so với số bê

đẻ ra và bê chết do giun đũa chiếm 5% so với số bê ốm

Dương Công Thuận (1972) đã điều tra trên đàn bê của nông trường

Tam Đảo (Vĩnh Phú), nông trường Hà Trung (Thanh Hoá), thấy có 30-40%

mắc giun đũa, nhưng triệu chứng lâm sàng không rõ như ở nghé, số chết rất ít

Phạm Văn Khuê và cs (1981) [11] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé khá

phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc Theo Nguyễn Bá Phụ (1992) [29], cho

ở Việt Bắc bê nghé thường mắc bệnh giun đũa từ 30-50%

Trịnh Văn Thịnh (1959) [35] cho biết, nghé nhiễm bệnh từ trong bào

thai và đến tuổi ngoài hai tháng rưỡi không phát bệnh nữa, có trường hợp khi

đến tuổi ấy nghé tự tống giun ra ngoài

Theo Thanh Cưu (1970), đàn bê của nông trường Ba Vì (Hà Tây)

nhiễm giun đũa 14,6%, thường từ lứa tuổi sơ sinh đến sáu tháng

Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [39] đã điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở nghé Murah ở nước ta: 3 tuần tuổi nhiễm 58,1%, 4 tuần tuổi nhiễm 67,2%, 6 tuần tuổi nhiễm 25,2%, 7 tuần tuổi nhiễm 28%, 9 tuần tuổi nhiễm 25%, 10 tuần tuổi nhiễm 23%

Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [34], bê nghé từ 15-60 ngày tuổi hay mắc bệnh ỉa cứt trắng, bệnh thường hay gặp nhất ở miền núi

Phan Địch Lân (1986) [16] đã kiểm tra 30 bê Hà Lan nhập nội ở nông trường Sao Đỏ, cho kết quả tỷ lệ nhiễm giun đũa 25% Ở Mộc Châu, kiểm tra

50 bê Hà Lan dưới sáu tháng cho kết quả tỷ lệ nhiễm 30%

Nghé Murah dưới 3 tháng tuổi nuôi ở HTX Trực Chính - Khánh Phù - Phù Thượng - Hà Nam Ninh nhiễm tới 71% , nghé 1 tháng tuổi nhiễm 67% Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [22] cho biết, bệnh giun đũa

bê nghé có tỷ lệ nhiễm từ 23%-64% ở nghé trong độ tuổi 1-3 tháng, bê trong

độ tuổi 17 ngày đến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh

Phan Lục (1993) [24] đã điều tra bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá vùng đồng bằng sông Hồng cho kết quả, trâu bò bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, trong đó nghé nhiễm 15,1%, bê 5,4%

Vương Đức Chất (1995) [3] cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê

ở Hà Nội qua mổ khám là 15,6%

Theo Cao Tuyết Lan (1996) [14], Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 35,3%, cao nhất lúc 31-45 ngày tuổi (71,4%)

1.2.2.3 Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích

Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [34], bê nghé ốm dáng đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm một chỗ không theo mẹ

Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40-41oC Con vật mệt mỏi, đứng lên nằm xuống

Trang 17

ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần biến thành màu trắng,

lỏng

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32], con vật không

bình thường khi ăn, ỉa chảy, đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên,

đau bụng, ho, co giật Trường hợp tự thải giun hay được điều trị thì các triệu

chứng sẽ mất đi, ở thể mãn tính kéo dài 2-3 tháng

Phạm Xuân Dụ (1971) cho biết, bệnh ỉa chảy ở bê một phần do giun

đũa và bệnh viêm phổi, một phần do giun phổi

Phan Địch Lân (1986) đã thông báo bê Zê bu mắc bệnh giun đũa ở

Nông trường Phú Mẫn (Hà Sơn Bình) có triệu chứng ỉa chảy, ủ rũ, nằm liệt tại

chỗ và có con chết

Phạm Sỹ Lăng (1973), Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc

(1986) cho biết, bê nghé Murah mắc bệnh thường lù đù, chậm chập, đầu cúi,

lưng cong, bụng to, lông xù lên, khoeo và đuôi dính phân bẩn, phân có mùi

tanh khắm, màu trắng ngà

Theo Usanakorkul S (1987), khoảng 10-30% nghé ở Thái Lan bị chết

trước khi chúng được cai sữa Hầu hết chúng bị chết bởi nguyên nhân là ký

sinh trùng Nghé nhiễm bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum và giun lươn qua

đường sữa Trứng của giun đũa có từ 21-131 ngày tuổi Cường độ nhiễm cao

nhất trong khoảng 21-35 ngày, khi có số lượng giun lớn bê nghé bệnh có triệu

chứng kém ăn, ỉa chảy và thiếu máu

Hossain, MI; Baki, MA; Hossain, MM (1988) thông báo, Neoascaris

vitulorum đã được tìm thấy ở 296/350 nghé (84,57%) với triệu chứng chậm

phát triển, còi cọc, thiếu máu, ỉa chảy và mất nước

Theo Lau, HD,-HD, Sigh;-NP (1985), nghé mắc bệnh giun đũa có số

lượng hồng cầu giảm thấp, giảm Hb và tăng bạch cầu, bạch cầu Eosin tăng cao

Aumont-G; Gauthier; Coulau-G; Gruner-L (1991) cho biết, giun đũa

Neoascaris vitulorum là ký sinh trùng chính của bê trong 2 tháng tuổi và làm

giảm khối lượng lượng 10,5kg từ sơ sinh đến giai đoạn cai sữa

Theo Srivastava,-AK; Sharma,-DN (1981), ở Muthura - Ấn Độ, 16 trong 90 nghé 1 tháng tuổi đã có 500-700 trứng giun đũa trong 1 gam phân,

có những triệu chứng biếng ăn, gày còm, xù lông, táo bón, ỉa chảy, phân hôi thối, lưng cong, đau bụng và dáng đi cứng nhắc Mổ khám thấy viêm ruột cata, biến đổi hoại tử ở gan, thấy giun ở trong ống dẫn mật, viêm có mủ ở vỏ thận và viêm do tổn thương ở phổi

1.2.3 Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé

Để chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé dựa vào

triệu chứng lâm sàng, các dẫn liệu về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa Kết hợp với kiểm tra bệnh tích ở ruột non cho phép chúng ta chẩn đoán bệnh chính xác hơn

* Đối với bê nghé sống:

Theo nhiều tác giả nghiên cứu cho biết, việc chẩn đoán bệnh giun đũa

Neoascaris vitulorum ở bê nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ

học: vùng và mùa phát bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2 Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì không bị nhiễm Trâu bò không mắc bệnh này Đây chính là những điều tra cơ bản để

sơ bộ chẩn đoán bệnh Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu trắng rất thối, nếu bệnh nặng bê nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quang hậu môn và khuỷu chân là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đoán bệnh giun đũa bê nghé

Trang 18

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học

của bệnh thì chưa chẩn đoán chính xác được bệnh gì, vì có rất nhiều bệnh ký

sinh trùng có biểu hiện giống nhau Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng

trứng giun đũa Neoascaris vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán

bệnh Các phương pháp thường dùng là phương pháp Fullerborn, Darling, có

thể dùng phương pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm

Mc Master để xác định mức độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ

* Đối với bê nghé chết: Mổ khám quan sát những biến đổi về bệnh tích

trên hệ thống tiêu hoá của bê, nghé, tìm giun đũa trưởng thành ở ruột non

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [12], áp dụng phương pháp

mổ khám toàn diện của Viện sỹ Skriabin K.I (1982) Đây là phương pháp mổ

khám kinh điển nhưng cho phép phát hiện tấy cả các loài giun sán ký sinh

trong cơ thể bê nghé và được sử dụng rộng dãi trong điều tra hiện nay

Phương pháp này không những cho biết tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, mà đặc

biệt còn cho phép quan sát những tổn thương ở đường tiêu hoá do ký sinh

trùng gây ra

1.2.4 Biện pháp phòng trị bệnh

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [32] cho biết, trong bệnh

giun đũa Neoascaris vitulorum của bê, người ta dùng Santonin với liều 0,02g

cho 1kg thể trọng và cho uống thuốc tẩy kèm theo

Balabakian X.P (1956) đã ứng dụng có kết quả dung dịch Natri sunfat

10% với liều 4,0g cho 1kg thể trọng để tẩy giun đũa cho Cho bê uống qua

ống cao su và phễu

Theo Robert,-JA (1989) [54], hiệu quả tẩy giun đũa bê nghé của

Pyrantel là 100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5mg/kgTT cho uống) là

83%, Levamisol tiêm (0,1ml/kgTT) là 73%, Piperazine là 57%

Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [34] đã dùng: 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với 20 gram bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gram) giã nhỏ, trộn với 2 gam muối, hoà với 1/3 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền Có thể cho uống 3ml tinh dầu giun trộn với 60ml dầu đu đủ, cho uống một lần vào buổi sáng Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5-2,0gam/ngày trong ba ngày hoặc Piperazin 0,2-0,3 gam/kgTT

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [38]: Piperazin 0,3-0,5 gam/kgTT, Silicofluorat natri liều 0,035g/kgTT chia hai lần trong ngày, tinh dầu giun 30-60ml, cho uống Kết hợp giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, bồi dưỡng cho trâu

bò mẹ Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [12] cũng sử dụng những hoá dược như trên tẩy giun đũa bê nghé cho kết quả tốt

Vương Đức Chất (1995) [3] tẩy giun đũa cho bê nghé bằng thuốc Piperazin 0,25g/kgTT lúc 15-20 ngày tuổi, Mebendazole 10mg/kgTT đạt kết quả tốt

Phan Lục (1996) [23] đã thử nghiệm ở Mê Linh, Phong Châu (Vĩnh Phú), Kim Bảng (Nam Hà), Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn (Hà Nội) dùng Benzimidazole liều 7,6 - 9mg/kgTT, tẩy cho 73 bê nhiễm

Neoascaris vitulorum, kết quả đạt 100%

Theo Cao Tuyết Lan (1996) [14], dùng Mebenvet liều 120mg/kgTT tẩy cho nghé nhiễm giun đũa thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [22] cho biết, dùng các loại hoá dược như Piperazin 0,3-0,5 g/kgTT, Tetramizole 10mg/kgTT, Mebenvet

0,5g/kgTT và một số hoá dược khác để tẩy trừ Neoascaris vitulorum cho kết

quả rất tốt, bê nghé khỏi tiêu chảy phân trắng

Trang 19

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Bê nghé dưới 3 tháng tuổi nuôi tại các hộ gia đình và trại chăn nuôi của

3 huyện, thị của tỉnh Tuyên Quang (thị xã Tuyên Quang, huyện Yên Sơn và

huyện Hàm Yên)

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: thị xã Tuyên Quang, huyện Yên Sơn, huyện

Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang

Chúng tôi lựa chọn 3 huyện, thị của tỉnh Tuyên Quang để thực hiện đề

tài nghiên cứu dựa trên các cơ sở sau:

+ Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía bắc có tổng đàn trâu bò

tương đối lớn (gần 500 nghìn con), 3 huyện, thị trên mang đặc điểm đặc trưng

cho sự phân bố địa hình khác nhau của tỉnh Tuyên Quang

+ Ba huyện, thị trên có phương thức chăn nuôi đa dạng, vừa chăn nuôi

theo quy mô tập trung, vừa có hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ ở các hộ gia đình

+ Bê nghé ở các huyện, thị của tỉnh Tuyên Quang, trong đó có 3 huyện,

thị trên mắc tiêu chảy tương đối nhiều, ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn

trâu bò trong tỉnh

- Địa điểm xét nghiệm: Phòng thí nghiệm - Chi cục Thú y tỉnh Tuyên

Quang

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: tháng 3/2007 đến 3/2008

2.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Mẫu phân bê nghé dưới 3 tháng tuổi

- Mẫu đất bề mặt nền chuồng, khu vực xung quanh chuồng, bãi chăn thả trâu bò, bê nghé

- Dung dịch nước muối NaCl bão hoà, dung dịch Glyxerin 5%

- Kính hiển vi quang học, dụng cụ xét nghiệm trứng giun sán, các dụng cụ thí nghiệm khác

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi tại 3 huyện, thị của tỉnh Tuyên Quang

- Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy ở các địa phương

- Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo tuổi

- Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo tính biệt

- Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo mùa vụ trong năm

- Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo địa hình

- Tỷ lệ tiêu chảy theo loại gia súc (bê, nghé)

- Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo phương thức chăn nuôi trâu bò mẹ

2.3.2 Vai trò của giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của

bê, nghé dưới 3 tháng tuổi

3.2.2.1 Xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê nghé tiêu chảy và bê nghé bình thường

3.2.2.2 Xác định cường độ nhiễm giun đũa ở bê nghé tiêu chảy và bê nghé bình thường

2.3.3 Nghiên cứu sự tồn tại và phát triển của trứng giun Neoascaris vitulorum ở

ngoại cảnh

2.3.3.1 Xác định sự phát tán trứng giun Neoascaris vitulorum ở chuồng

trại, khu vực xung quanh chuồng và bãi chăn thả trâu bò, bê nghé

2.3.3.2 Xác định thời gian trứng giun Neoascaris vitulorum phát triển

thành trứng có sức gây bệnh trong các điều kiện khác nhau ở ngoại cảnh

Trang 20

2.3.3.3 Xác định khả năng tồn tại của trứng giun Neoascaris vitulorum

trong các điều kiện khác nhau ở ngoại cảnh

2.3.3.4 Xác định khả năng bê nghé nuốt trứng giun đũa có sức gây

bệnh khi bú mẹ

2.3.4 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị tiêu chảy cho bê nghé

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Theo dõi các chỉ tiêu về dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở bê nghé

* Trực tiếp điều tra qua quan sát thực nghiệm và chẩn đoán lâm sàng:

Phương pháp điều tra là ngẫu nhiên trên bê nghé nuôi tại các cơ sở chăn nuôi

và các hộ nông dân tại 3 huyện, thị của tỉnh Tuyên Quang Trong quá trình

điều tra, những bê nghé phân lỏng được coi là tiêu chảy

* Xác định tỷ lệ bê nghé mắc tiêu chảy theo lứa tuổi: Từ sơ sinh - 15

ngày; 16 - 30 ngày; 31- 45 ngày; 46 - 60 ngày; 61- 75 ngày; 76 - 90 ngày tuổi

* Xác định tỷ lệ tiêu chảy theo loại gia súc: bê, nghé

* Xác định tỷ lệ tiêu chảy theo mùa vụ trong năm (Xuân, Hè, Thu,

Đông)

* Xác định tỷ lệ tiêu chảy theo 2 loại địa hình: Bằng phẳng và đồi núi

xen kẽ ruộng nước

* Xác định tỷ lệ tiêu chảy của bê, nghé đực và bê, nghé cái

* Xác định tỷ lệ tiêu chảy theo 2 phương thức chăn nuôi trâu bò mẹ:

chăn thả hoàn toàn dựa vào tự nhiên và nuôi bán chăn thả có bổ sung thức ăn

2.4.2 Phương pháp xét nghiệm trứng giun đũa Neoascaris vitulorum

* Phương pháp lấy mẫu: lấy mẫu phân của bê nghé dưới 3 tháng tuổi

vừa thải ra hoặc lấy trực tiếp từ trực tràng Để riêng mỗi mẫu vào một túi ni

lon nhỏ sạch, mỗi túi đều có nhãn ghi rõ: tuổi, tính biệt, địa điểm, phương

thức chăn nuôi và thời gian lấy mẫu Mẫu phân được bảo quản và xét nghiệm

theo quy trình thường quy trong nghiên cứu ký sinh trùng

* Phương pháp xét nghiệm mẫu:

Sử dụng phương pháp Fulleborn: lấy khoảng 5 - 10g phân cho vào cốc nhỏ, dùng đũa thuỷ tinh nghiền nát, cho 80 - 100ml dung dịch nước muối bão hoà vào khuấy đều và lọc qua lưới thép bỏ cặn Nước lọc được để yên trong

20 - 30 phút, trứng giun đũa sẽ nổi lên bề mặt Dùng vòng thép có đường kính 2mm vớt lớp màng nổi trên bề mặt, cho lên phiến kính, đậy lá kính, soi dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại 100 lần để tìm trứng giun đũa

Neoascaris vitulorum

* Cường độ nhiễm giun đũa Neoascaris vitulorum được đánh giá bằng

số lượng trứng/gam phân theo quy định của Roberts, J.A (1990) [55]:

< 700 trứng/gam phân: nhiễm nhẹ (+)

700 - 1000 trứng/gam phân: nhiễm trung bình (++)

> 1.000 trứng/gam phân: nhiễm nặng (+++)

- Số trứng/gam phân được đếm bằng phương pháp Mc Master: phương pháp này dùng để xác định số lượng trứng giun tròn, trứng sán dây và Oocyst cầu trùng trong một gam phân bằng buồng đếm Mc Master Cân 4 gam phân cho vào cốc thuỷ tinh, thêm 56 ml dung dịch nước muối bão hoà, khuấy đều cho tan phân Lọc qua lưới thép vào một cốc khác và khuấy đều Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút dung dịch phân nhỏ đầy cả hai buồng đếm Mc Master (mỗi buồng đếm có dung tích 0,5 ml) để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại 10 x 10) Đếm toàn bộ số trứng trong

những ô của 2 buồng đếm

Số trứng/1 gam phân =  số trứng ở hai buồng đếm x 60

4

(Tổng số trứng ở hai buồng đếm là số trứng có trong 1,0 ml dung dịch phân)

2.4.3 Phương pháp theo dõi trứng giun Neoascaris vitulorum phát triển thành

trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh

Trang 21

Sử dụng những mẫu phân bê nghé nhiễm giun đũa nặng (có trên 1000

trứng/gam phân) để bố trí thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí thành 3 đợt, vào

3 thời điểm nhiệt độ và ẩm độ không khí khác nhau Các mẫu phân của mỗi lô

thí nghiệm được cho vào đĩa Petri, để ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ không

khí bình thường Hàng ngày lấy từ mỗi đĩa Petri 2 -3 gam phân, xét nghiệm

bằng phương pháp Fulleborn để kiểm tra sự phát triển của trứng Neoascaris

vitulorum Theo dõi đến khi trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Ghi

thời gian phát triển và mô tả sự thay đổi cấu tạo của trứng giun

2.3.4 Phương pháp xác định khả năng tồn tại của trứng giun

Neoascaris vitulorum ở ngoại cảnh

Sau khi theo dõi sự phát triển của trứng giun đũa Neoascaris vitulorum

đến giai đoạn cảm nhiễm, chúng tôi tiếp tục theo dõi thời gian tồn tại của

trứng ở các lô thí nghiệm, trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ không khí bình

thường ở ngoại cảnh Cứ 5 ngày lấy từ mỗi đĩa Petri 2-3 gam phân xét

nghiệm bằng phương pháp Fulleborn để kiểm tra, xác định thời gian tồn tại

của trứng giun Neoascaris vitulorum có sức gây bệnh Ghi lại thời gian và

theo dõi biến đổi về hình thái, cấu tạo trứng Làm như vậy cho đến khi trứng

bị chết hoàn toàn (biến dạng, nứt vỡ, ấu trùng trong trứng bị dung giải)

2.4.5 Phương pháp xác định sự phát tán trứng Neoascaris vitulorum ở ngoại

cảnh

* Phương pháp xác định sự phát tán trứng Neoascaris vitulorum ở

chuồng trại:

Thu thập mẫu cặn nền chuồng nuôi bê nghé ở các vị trí khác nhau (ở 4

góc chuồng và giữa chuồng) mỗi vị trí khoảng 4-5 gam, trộn đều được một

mẫu khoảng 20-25 gam Đưa mẫu về phòng thí nghiệm, xét nghiệm bằng

phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa Neoascaris vitulorum Từ đó có

thể đánh giá sự phát tán trứng giun ở trong chuồng nuôi

* Phương pháp xác định sự phát tán trứng Neoascaris vitulorum ở khu vực xung quanh chuồng nuôi:

Thu thập mẫu đất bề mặt ở 10 vị trí khác nhau xung quanh chuồng nuôi

bê nghé (trong vòng bán kính 10 mét), mỗi vị trí lấy khoảng 2-3 gam, trộn đều được một mẫu khoảng 20-30 gam Đưa mẫu về phòng thí nghiệm, xét nghiệm

bằng phương pháp Fulleborn tìm trứng giun đũa Neoascaris vitulorum Từ đó

đánh giá được sự phát tán trứng giun ở khu vực xung quanh chuồng nuôi

* Phương pháp xác định sự phát tán trứng Neoascaris vitulorum ở bãi chăn thả bê nghé và trâu bò mẹ:

Thu thập mẫu đất bề mặt ở bãi chăn bê, nghé và trâu bò mẹ Cứ khoảng 10-20m2 bãi chăn lấy ở 10 vị trí khác nhau, mỗi vị trí lấy khoảng 2-3 gam đất

bề mặt, trộn đều được 1 mẫu khoảng 20-30 gam Đưa mẫu về phòng thí nghiệm, xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa

Neoascaris vitulorum Từ đó đánh giá được sự phát tán trứng giun đũa trên

phiến kính, đậy lá kính, soi dưới kính hiển vi quang học để tìm trứng giun đũa

Neoascaris vitulorum

2.4.7 Phương pháp điều trị tiêu chảy cho bê, nghé

2.4.7.1 Điều trị tiêu chảy cho những bê nghé nhiễm giun đũa Neoascaris vitulorum

Chúng tôi sử dụng 3 phác đồ điều trị cho những bê nghé bị tiêu chảy và

nhiễm giun đũa Neoascaris vitulorum

Trang 22

* Phác đồ 1: Levasol 7,5% (do Công ty Hanvet sản xuất): thuốc có phổ

tác dụng rộng, tẩy được nhiều loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá gia súc

Thành phần của thuốc: Levamisol hydrochlorid: 75 mg

Dung môi và chất ổn định vừa đủ: 1ml

Liều lượng: 1ml/10kg thể trọng (7,5mg/kg thể trọng), tiêm bắp

Liệu trình: dùng một liều duy nhất

* Phác đồ 2: sử dụng Mebendazol 10% (do Công ty cổ phần Sóng

Hồng sản xuất) Thuốc có tác dụng tẩy các loại giun tròn ký sinh ở đường tiêu

hoá gia súc, gia cầm

Liều lượng: 200mg/kg thể trọng, cho uống lúc đói

Liệu trình: dùng một liều duy nhất, chia làm hai lần sáng và chiều

* Phác đồ 3: sử dụng thuốc Hanmectin-0,25% (do Công Hanvet sản

xuất) Thuốc có tác dụng với các loại nội, ngoại ký sinh trùng, có tác dụng cả

ở giai đoạn trưởng thành cũng như giai đoạn ấu trùng đang di hành trong cơ

thể Đây là loại thuốc hiện nay đang được dùng rất phổ biến

Thành phần của thuốc: trong mỗi ml dung dịch chứa 2,5mg Ivermectin

Liều lượng: 1ml/10kg thể trọng (0,25mg/kg thể trọng), tiêm bắp

Liệu trình: dùng một liều duy nhất

* Thuốc phối hợp điều trị:

+ Thuốc điện giải: cung cấp nước và các chất điện giải trong trường

hợp ỉa chảy, nôn mửa, tăng cường sức đề kháng, chống stress

Cách sử dụng: pha thuốc với nước cho uống, 100g pha với 3-5 lít nước,

dùng cho 25-30 kg thể trọng, cho uống 2-4 lần/ngày, trong 5 ngày liên tục

+ Vitamin C 5%: tác dụng làm tăng sức đề kháng cho con vật; sử dụng

thuốc dưới dạng dung dịch tiêm bắp hoặc tiêm dưới da với liều 10ml/25kg thể

trọng/ngày (20mg/kg thể trọng/ngày), sử dụng thuốc trong 5 ngày

Sau khi sử dụng 3 phác đồ để điều trị, kiểm tra trạng thái phân để đánh

giá bê nghé đã hết tiêu chảy chưa Đối với những bê nghé chưa khỏi tiêu

chảy, chúng tôi tiếp tục sử dụng thuốc kháng sinh kết hợp với thuốc điện giải

và vitamin C để điều trị

Đồng thời, xét nghiệm lại phân bê, nghé để đánh giá tác dụng của thuốc

tẩy giun đũa Neoascaris vitulorum

2.4.7.2 Điều trị tiêu chảy cho những bê nghé sau đợt điều trị 1 vẫn còn tiêu chảy

* Phác đồ 1: sử dụng Hupha-Colistin 3%, thuốc có tác dụng điều trị

tiêu chảy ở gia súc rất tốt

Thành phần của thuốc: Colistin sulfate 60.000.000 UI

Dung môi vừa đủ: 100 ml

Liều lượng: 0,5ml/20kg thể trọng (15mg/kg thể trọng/ngày), tiêm bắp Liệu trình: điều trị 3-5 ngày liên tục

* Phác đồ 2: sử dụng Norfacoli, thuốc có tác dụng đặc trị tiêu chảy rất

tốt đối với gia súc, gia cầm

Thành phần của thuốc: Norfloxacin HCl 1000 mg

Dung môi vừa đủ 10 ml

Liều lượng: 1ml/20kg thể trọng (5mg/kg thể trọng/ngày), tiêm bắp Liệu trình: điều trị 3-5 ngày liên tục

2.4.8 Phương pháp xử lý số liệu

* Các số liệu về tỷ lệ tiêu chảy, tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, hiệu lực tẩy của thuốc được tính bằng công thức sau:

- Tỷ lệ tiêu chảy (%) = Số bê nghé tiêu chảy x 100

Số bê nghé kiểm tra

- Tỷ lệ nhiễm (%) = Số bê nghé nhiễm x 100

Số bê nghé kiểm tra

- Cường độ nhiễm (%) = Số bê nghé nhiễm (+), (++), (+++) x 100

Trang 23

* Số liệu về thời gian phát triển, tồn tại của trứng giun đũa Neoascaris

vitulorum và số trứng giun tìm thấy trên bầu vú và núm vú trâu bò mẹ, được xử

lý theo phương pháp thống kê sinh học của Nguyễn Văn Thiện (2000)

- Số trung bình cộng:

X

= xi (với i = 1n)

n

Trong đó: xi là tổng các giá trị của x

n là dung lượng mẫu

- Độ lệch tiêu chuẩn: với n

1 :

30

2 2

S x

Trong đó: S x : độ lệch tiêu chuẩn

xi: giá trị của mẫu

n: dung lượng mẫu

- Sai số của số trung bình: với n

1 :

 ( mẫu nhỏ và n1= n2)

S S là độ lệnh tiêu chuẩn của nhóm 1 và nhóm 2

n là dung lượng mẫu

Tra bảng phân bố t, so sánh tTN với t để xác định mức độ sai khác giữa hai số trung bình

+ Nếu ứng với mức xác suất P > 0,05: hai số trung bình khác nhau không rõ rệt

+ Nếu ứng với mức xác suất P < 0,05: hai số trung bình khác nhau rõ rệt, với độ tin cậy 95%

+ Nếu ứng với mức xác suất P < 0,01: hai số trung bình khác nhau rõ rệt, với độ tin cậy 99%

+ Nếu ứng với mức xác suất P < 0,001: hai số trung bình khác nhau rõ rệt, với độ tin cậy 99,9%

Trang 24

Chương 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG TIÊU

CHẢY Ở BÊ NGHÉ DƯỚI 3 THÁNG TUỔI TẠI TUYÊN QUANG

3.1.1 Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy ở 3 huyện, thị của tỉnh Tuyên Quang

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía bắc, mang những đặc trưng của

khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sự biến động lớn về nhiệt độ và độ ẩm, trong đó

có 2 mùa rõ rệt là mùa đông lạnh - khô hanh, mùa hè - nóng ẩm, mưa nhiều

Sự biến động về thời tiết, đặc biệt có những đợt gió mùa đông bắc tràn về

kèm theo mưa phùn và rét đậm kéo dài đã làm ảnh hưởng không tốt tới sản

xuất nông nghiệp nói chung, trong đó có ngành chăn nuôi và tình hình dịch

bệnh của đàn gia súc nói riêng Để đánh giá cụ thể tình hình bê nghé dưới 3

tháng tuổi mắc tiêu chảy ở 3 huyện, thị của tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi đã

kiểm tra 906 bê nghé ở 9 xã, phường Kết quả về tỷ lệ bê nghé tiêu chảy ở các

địa phương được trình bày ở bảng 3.1

Bảng 3.1 cho thấy: trong 906 bê nghé kiểm tra tại 9 xã, phường của 3

huyện, thị, số bê nghé tiêu chảy là 192 con, chiếm tỷ lệ 21,19% Trong đó, tỷ

lệ bê nghé tiêu chảy cụ thể như sau:

- Ở thị xã Tuyên Quang, kiểm tra 297 bê nghé, có 57 bê nghé tiêu chảy,

Như vậy, tỷ lệ bê nghé tiêu chảy giữa các địa phương có khác nhau Tỷ

lệ bê, nghé tiêu chảy cao nhất ở huyện Hàm Yên (23,89%), thấp nhất ở thị xã

Tuyên Quang (19,19%)

Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ bê nghé tiêu chảy ở các địa phương có sự khác

nhau như vậy, theo kết quả điều tra thực tế của chúng tôi là do: nhiều nông hộ

chăn nuôi trâu bò ở huyện Hàm Yên còn khó khăn về kinh tế, vì vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh cho trâu bò, bê nghé chưa tốt Điều kiện chăn nuôi kém làm cho trâu bò, bê nghé gầy yếu, chất lượng và số lượng sữa không đảm bảo Từ đó ảnh hưởng tới sức khoẻ và sự chống đỡ bệnh tật của bê nghé, làm cho bê nghé dễ mắc bệnh, trong đó có hội chứng tiêu chảy

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Sửu (2005) [30] từ năm 1999 đến năm 2004, ở Tuyên Quang, tỷ lệ bê tiêu chảy là 20,67% và nghé là 19,22%, trong đó tỷ lệ chết do tiêu chảy là 7,32% ở bê và 5,79% ở nghé Như vậy, người chăn nuôi trâu bò hàng năm đã phải chịu thiệt hại lớn về kinh tế do hội chứng tiêu chảy ở bê nghé gây ra

Bảng 3.1 Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy ở một số địa phương

STT Địa phương (huyện, thị xã)

Số bê nghé kiểm tra (con)

Số bê nghé tiêu chảy (con)

Trang 25

Qua kết quả điều tra về tỷ lệ tiêu chảy của bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở

Tuyên Quang, chúng tôi thấy bê nghé bị tiêu chảy khá nhiều Từ đó chúng tôi

thấy rằng: các cơ sở chăn nuôi và các hộ chăn nuôi trâu bò sinh sản cần làm

tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y để hạn chế tỷ lệ bê nghé tiêu

chảy Đồng thời, khi bê nghé đã bị tiêu chảy cần phải được điều trị kịp thời và

triệt để, để bệnh có thể khỏi và không ảnh hưởng đến sự phát triển sau này

của bê nghé

Cũng từ thực trạng trên, chúng tôi đã nghiên cứu một số đặc điểm dịch

tễ của hội chứng tiêu chảy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi, làm cơ sở để đề xuất

biện pháp phòng trị có hiệu quả nhất, hạn chế thiệt hại do tiêu chảy gây ra

3.1.2 Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo lứa tuổi

Để xác định tuổi bê nghé có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc tiêu chảy hay

không, chúng tôi đã kiểm tra lâm sàng 906 bê nghé ở 6 lứa tuổi Kết quả được

Số bê nghé tiêu chảy (con) Tỷ lệ (%)

Trong đó, ở giai đoạn từ sơ sinh đến 15 ngày tuổi bê nghé mắc tiêu chảy với tỷ lệ 18,47% Ở 16-30 ngày tuổi, tỷ lệ tiêu chảy ở bê nghé là 29,71% Từ 31-

45 ngày tuổi bê nghé mắc tiêu chảy 20,91% Ở 46-60 ngày tuổi, tỷ lệ mắc là 20,15% Ở 61-75 ngày tuổi, bê nghé mắc tiêu chảy là 18,51% Từ 76-90 ngày tuổi, tỷ lệ tiêu chảy là 15,67%

Như vậy, bê nghé mắc tiêu chảy cao nhất là giai đoạn từ 16 - 30 ngày tuổi 29,71%, tỷ lệ tiêu chảy có chiều hướng giảm dần ở các giai đoạn tuổi tiếp theo, thấp nhất ở 76 - 90 ngày tuổi, chiếm tỷ lệ 15,67%

Từ kết quả bảng 3.2, chúng tôi nhận thấy, bê nghé dưới 3 tháng tuổi mắc tiêu chảy giảm dần theo tuổi, tuổi càng cao tỷ lệ tiêu chảy càng giảm và thấp nhất ở 76-90 ngày tuổi Theo chúng tôi, do tuổi càng cao các cơ quan, hệ thống trong cơ thể, đặc biệt hệ thống tiêu hoá được hoàn thiện về mặt cấu tạo, cũng như chức năng hoạt động, nên thích nghi hơn với điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và các tác động bất lợi của ngoại cảnh

Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy cao nhất ở lứa tuổi 16-30 ngày tuổi Đây cũng

là lứa tuổi bê nghé mắc bệnh do giun đũa Neoascaris vitulorum nhiều Nhiều

tác giả cho biết, bê nghé nhiễm giun đũa phần lớn qua bào thai, do trâu bò mẹ có thai nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh Vì vậy, khi bê nghé sinh ra đã có giun đũa ký sinh và bị phát bệnh rất sớm (sớm nhất là 14 ngày tuổi), tỷ lệ nhiễm cao nhất và cường độ nhiễm nặng nhất ở 16-30 ngày tuổi (Trịnh Văn Thịnh,

1962 [36], Phạm Văn Khuê và cs, 1996 [12], Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [13], Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Đoàn Văn Phúc 2005 [18])

Trang 26

Kết quả về tỷ lệ tiêu chảy cao nhất ở giai đoạn bê nghé 16-30 ngày tuổi

phải chăng có liên quan đến vai trò gây bệnh của giun đũa Neoascaris

vitulorum

Theo nhận xét của Lê Minh Chí (1995) [5], sự tổn thất ở bê nghé non

chiếm tỷ lệ rất cao (70-80%), trong đó 80-90% là do hậu quả của tiêu chảy

gây ra

Kết quả nghiên cứu trên cho phép chúng tôi có nhận xét chung rằng:

phải đặc biệt quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng trâu bò mẹ và bê nghé ở giai

đoạn 16-30 ngày tuổi, ở giai đoạn này khả năng đáp ứng miễn dịch của bê

nghé với yếu tố bất lợi môi trường, các yếu tố gây bệnh là rất kém, bê nghé rất

dễ bị nhiễm bệnh đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá và

gây tiêu chảy

3.1.3 Tỷ lệ tiêu chảy ở bê nghé theo tính biệt

Kết quả xác định tỷ lệ bê nghé mắc tiêu chảy theo tính biệt được chúng

Số bê nghé tiêu chảy (con)

Tỷ lệ (%)

bệnh đường tiêu hoá, trong đó giun đũa Neoascaris vitulorum có vai trò rất

quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi (Phan Địch Lân và cs, 2005) [18]

3.1.4 Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo mùa vụ

Chúng tôi đã kiểm tra 906 bê nghé ở 4 mùa: xuân, hè, thu, đông để xác định tỷ lệ bê nghé tiêu chảy ở mỗi mùa trong năm 2007 Kết quả được trình bày ở bảng 3.4

Bảng 3.4: Tỷ lệ bê nghé mắc tiêu chảy theo mùa vụ

tra (con)

Số bê nghé tiêu chảy (con) Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 07/08/2016, 20:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Phạm Văn Khuê, Phan Trịnh Chức (1981), “Khái quát về tình hình và kết quả điều tra giun sán trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1976 - 1980”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp IV, (số 4), tr.195-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về tình hình và kết quả điều tra giun sán trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1976 - 1980”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Trịnh Chức
Năm: 1981
29. Nguyễn Bá Phụ (1992), Khoa học kỹ thuật thế giới, Tuần báo Nông nghiệp, số 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học kỹ thuật thế giới
Tác giả: Nguyễn Bá Phụ
Nhà XB: Tuần báo Nông nghiệp
Năm: 1992
30. Nguyễn Văn Sửu (2005), Nghiên cứu tình hình tiêu chảy của bê, nghé dưới 6 tháng tuổi tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc và xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfrigens.Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tiêu chảy của bê, nghé dưới 6 tháng tuổi tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc và xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfrigens
Tác giả: Nguyễn Văn Sửu
Nhà XB: Luận án tiến sĩ Nông nghiệp
Năm: 2005
31. Đoàn Thị Băng Tâm (1987), Bệnh động vật nuôi, Tập 1, Nxb KHKT, tr.119-134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh động vật nuôi
Tác giả: Đoàn Thị Băng Tâm
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1987
32. Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978), Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Tập 2: Giun sán ở động vật nuôi, Nxb khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr. 91, 259-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật
Năm: 1978
33. Chu Đức Thắng (1997), Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá, lâm sàng trong bệnh viêm ruột lợn con sau cai sữa, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội, tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá, lâm sàng trong bệnh viêm ruột lợn con sau cai sữa
Tác giả: Chu Đức Thắng
Năm: 1997
34. Nguyễn Văn Thiện, Vũ Ngọc Tý, Phan Văn Lan, Nguyễn Danh Kỹ (1977), Sổ tay chăn nuôi trâu bò - Tập 1, Nxb Nông nghiệp, tr. 94-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chăn nuôi trâu bò - Tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Vũ Ngọc Tý, Phan Văn Lan, Nguyễn Danh Kỹ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1977
35. Trịnh Văn Thịnh (1959), “Nắm vững quy luật, tích cực phòng trị bệnh giun đũa nghé”, Tạp chí Nông lâm, (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắm vững quy luật, tích cực phòng trị bệnh giun đũa nghé”," Tạp chí Nông lâm
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Năm: 1959
36. Trịnh Văn Thịnh (1962), “Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Hà Nội, (số 2), tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Năm: 1962
37. Trịnh Văn Thịnh (1966), Ký sinh trùng của gia súc nuôi Việt Nam, Nxb khoa học, Hà Nội, tr. 66-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng của gia súc nuôi Việt Nam
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb khoa học
Năm: 1966
38. Trịnh Văn Thịnh, Phan Trọng Cung, Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1982), Giáo trình ký sinh trùng Thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 137-141, 279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh, Phan Trọng Cung, Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1982
39. Dương Công Thuận, Nguyễn Văn Lốc (1986), "Tình hình nhiễm giun đũa ở nghé Murrah và kết quả thí nghiệm phòng trị", Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật nông nghiệp 1979-1984, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 123- 125.2. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun đũa ở nghé Murrah và kết quả thí nghiệm phòng trị
Tác giả: Dương Công Thuận, Nguyễn Văn Lốc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
40. Akyol C.V. (1993), Epidemiological of Neoascaris vitulorum in around Barsa, Turkey, J-Helminthol, pp. 73-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiological of Neoascaris vitulorum in around Barsa
Tác giả: Akyol C.V
Năm: 1993
41. Barbosa M.A; Correa F.M.A. (1989), Natural parasitism of buffaloes in Botucatu, Sao Paulo, Brazil. I. Observations on Toxocara vitulorum (Goeze 1782), Arquivo-Brasileiro-de-Medicina-Veterinaria-e-Zootecnia, pp.511-525 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Natural parasitism of buffaloes in Botucatu, Sao Paulo, Brazil. I. Observations on Toxocara vitulorum (Goeze 1782)
Tác giả: Barbosa M.A, Correa F.M.A
Nhà XB: Arquivo-Brasileiro-de-Medicina-Veterinaria-e-Zootecnia
Năm: 1989
42. Blackwell T.E. (1989), Enteritidis and diarrhoea, Veterinary climate North American large animal pract, pp. 547-575 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enteritidis and diarrhoea
Tác giả: Blackwell T.E
Nhà XB: Veterinary climate North American large animal pract
Năm: 1989
43. Daniels G. (1990), Nutritional factors in the Pathogenesis of proliferative enteritis and swine dysentery, 11 th IPVS congress, pp. 119-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutritional factors in the Pathogenesis of proliferative enteritis and swine dysentery
Tác giả: Daniels G
Nhà XB: 11 th IPVS congress
Năm: 1990
44. Fairbrother J.M., Betschinger H.U., Nielsen O.N., Pohlenz J.F. (1992), "Escherichia coli infections Diseases of Swine", Seventh edition - Wolfe Publishing Ltd - Austrailian, pp. 489-497 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Escherichia coli infections Diseases of Swine
Tác giả: Fairbrother J.M., Betschinger H.U., Nielsen O.N., Pohlenz J.F
Nhà XB: Wolfe Publishing Ltd
Năm: 1992
45. Gupta R.P., Yadav C.l., Ghosh J.D. (1985), Epidemiology of helminth infection in calves of Haryana State, Agricultural-Science-Digest,-India, pp.53-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology of helminth infection in calves of Haryana State
Tác giả: Gupta R.P., Yadav C.l., Ghosh J.D
Năm: 1985
46. Horchner F., Srikitijikarn L. (1987), Efficacy of a metaphylactic worming program of buffalo calves in Thailand, Mitteilungen-der-Osterreichischen-Gesellschaft-fur-Tropenmedizin-und-Parasitilogie, pp.173-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Efficacy of a metaphylactic worming program of buffalo calves in Thailand
Tác giả: Horchner F., Srikitijikarn L
Nhà XB: Mitteilungen-der-Osterreichischen-Gesellschaft-fur-Tropenmedizin-und-Parasitilogie
Năm: 1987
47. Iskander A.R., Tawjeek AFarid A.F. (1987), Cryptosporidial infection among buffalo calves in Egyp, Indian-Journal-of-Animal-Science, pp. 1057-1059 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cryptosporidial infection among buffalo calves in Egyp
Tác giả: Iskander A.R., Tawjeek AFarid A.F
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 cho thấy: trong 906 bê nghé kiểm tra  tại 9 xã, phường của 3 - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.1 cho thấy: trong 906 bê nghé kiểm tra tại 9 xã, phường của 3 (Trang 24)
Bảng 3.2: Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo lứa tuổi - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.2 Tỷ lệ bê nghé tiêu chảy theo lứa tuổi (Trang 25)
Bảng 3.3 cho thấy: kết quả theo dõi được lặp lại 3 lần ở 3 huyện, thị đều  không theo một quy luật nhất định nào: ở Thị xã Tuyên Quang, bê nghé cái tiêu  chảy nhiều hơn bê nghé đực (19,44% và 18,95%), huyện Yên Sơn tỷ lệ bê nghé  cái tiêu chảy là 21,60%,  - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.3 cho thấy: kết quả theo dõi được lặp lại 3 lần ở 3 huyện, thị đều không theo một quy luật nhất định nào: ở Thị xã Tuyên Quang, bê nghé cái tiêu chảy nhiều hơn bê nghé đực (19,44% và 18,95%), huyện Yên Sơn tỷ lệ bê nghé cái tiêu chảy là 21,60%, (Trang 26)
Bảng 3.3: Tỷ lệ tiêu chảy ở bê nghé theo tính biệt - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.3 Tỷ lệ tiêu chảy ở bê nghé theo tính biệt (Trang 26)
Bảng 3.5: Tỷ lệ bê nghé mắc tiêu chảy theo địa hình - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.5 Tỷ lệ bê nghé mắc tiêu chảy theo địa hình (Trang 27)
Bảng 3.4 cho thấy: - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.4 cho thấy: (Trang 27)
Bảng 3.7 cho thấy: - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.7 cho thấy: (Trang 29)
Bảng 3.8 cho thấy: trong tổng số bê nghé kiểm tra là 906 con, có 298 - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.8 cho thấy: trong tổng số bê nghé kiểm tra là 906 con, có 298 (Trang 30)
Bảng 3.10: Sự  lưu hành trứng giun Neoascaris vitulorum ở nền  chuồng,  khu  vực xung quanh chuồng và bãi chăn thả - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.10 Sự lưu hành trứng giun Neoascaris vitulorum ở nền chuồng, khu vực xung quanh chuồng và bãi chăn thả (Trang 33)
Bảng 3.10 cho thấy: - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.10 cho thấy: (Trang 33)
Bảng 3.12. Thời gian tồn tại của trứng Neoascaris vitulorum - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.12. Thời gian tồn tại của trứng Neoascaris vitulorum (Trang 37)
Bảng  3.13:  Tỷ  lệ  trâu,  bò  mẹ  mang  trứng  Neoascaris  vitulorum  có  sức - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
ng 3.13: Tỷ lệ trâu, bò mẹ mang trứng Neoascaris vitulorum có sức (Trang 39)
Bảng 3.14 cho thấy: - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.14 cho thấy: (Trang 40)
Bảng 3.14: Kết quả sử dụng 3 phác đồ điều trị tiêu chảy cho bê nghé - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.14 Kết quả sử dụng 3 phác đồ điều trị tiêu chảy cho bê nghé (Trang 40)
Bảng 3.15 cho thấy: - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, VAI TRÒ CỦA GIUN ĐŨA NEOASCARIS VITULORUM TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY BÊ, NGHÉ DƢỚI 3 THÁNG TUỔI Ở TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Bảng 3.15 cho thấy: (Trang 41)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm