1.2.1 Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả của mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh dưới sự hỗ trợ của Dự án Môi trường và Cộng đồng tại huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam từ đó nhằm tìm ra những giải pháp nhân rộng mô hình này tới các vùng lân cận để nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội đồng thời bảo vệ môi trường nông thôn. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh. Đánh giá thực trạng và hiệu quả mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh tại huyên Thanh Liêm và các hộ nông dân được sự hỗ trợ của Dự án Môi trường và Cộng đồng tỉnh Hà Nam. Đề xuất một số giải pháp nhằm nhân rộng mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh trong sản xuất nông nghiệp.
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đang là nước nông nghiệp và hàng năm vẫn phải nhập khẩu mộtlượng lớn phân hóa học Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng11/2009, cả nước đã nhập 546.764 tấn phân bón các loại, trị giá 175.835 USD, tăng98,7% về lượng và tăng 2,1 lần về trị giá so với tháng 10/2009 và tăng 7,7 lần vềlượng và 5,6 lần về trị giá so với tháng 11/2008 Tính chung 11 tháng đầu năm 2009,
cả nước đã nhập 4,1 triệu tấn với kim ngạch 1,3 tỷ USD, tăng 45,1% về lượng
Ngoài lượng phân bón nhập khẩu thì ở trong nước cũng có một số nhà máy sản xuất
phân bón tuy nhiên lượng phân bón đó không đủ cung ứng cho thị trường và đảmbảo tốt chất lượng Sử dụng phân bón hóa học tuy giúp cây trồng phát triển nhanhnhưng đã gây ra nhiều tác hại cho con người và môi trường Mặt khác, chi phí để sửdụng phân bón là lớn nên hiệu quả sản xuất của người nông dân là không cao
Hà Nam là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, phần lớn ngườidân chủ yếu sản xuất nông nghiệp Thanh Liêm là một huyện phía Nam của HàNam, nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn (86,1%) và chủ yếu vẫn sử dụngphân hóa học để tăng năng suất cây trồng Hàng năm, huyện vẫn phải dùng mộtlượng phân hóa học lớn hơn 5.844 tấn [1] Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng phânbón hóa học ngày càng nhiều đã làm cho đất đai bị thoái hóa và môi trường bị ônhiễm đồng thời ảnh hưởng gián tiếp tới sức khỏe của bà con nông dân Bêncạnh đó, phân bón hóa học chủ yếu là do nhập khẩu mà có nên giá thành lại cao,chi phí người dân bỏ ra lớn Một trong những yêu cầu hiện nay là làm sao cải tạođược đất đai, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môitrường Năm 2008, Dự án Môi trường và Cộng đồng (CEDO) thuộc Trung tâmPhát triển Cộng đồng bền vững (S-CODE) đã hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất
và sử dụng phân vi sinh ở một số xã trên địa bàn huyện Thanh Liêm đã góp
Trang 2phần giải quyết được các yêu cầu trên Mô hình này được đánh giá là thành côngnhất trong các mô hình phát triển kinh tế mà Dự án đưa ra Sử dụng phân vi sinh
đã giúp người nông dân giảm được chi phí mua phân bón hóa học, bảo vệ môitường và sức khỏe con người Chính vì vậy, mô hình sử dụng phân vi sinh đượcngười dân hưởng ứng nhiều khi mà nguồn nguyên liệu để làm phân lại chính làphế phẩm nông nghiệp, rác thải hữu cơ,… Vậy hiệu quả của mô hình đó như thếnào trên các phương diện kinh tế, xã hội, môi trường ? Để giải đáp câu hỏi đó
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất
và sử dụng phân vi sinh dưới sự hỗ trợ của “Dự án Môi trường và Cộng đồng” tại huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam”.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả của mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh dưới sự
hỗ trợ của Dự án Môi trường và Cộng đồng tại huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam
từ đó nhằm tìm ra những giải pháp nhân rộng mô hình này tới các vùng lân cận
để nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội đồng thời bảo vệ môi trường nông thôn
Trang 3- Đề tài nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất và sử dụng phân visinh của các hộ nông dân trong huyện Thanh Liêm bao gồm:
+ Những hộ có áp dụng mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh dưới sự
hỗ trợ của Dự án Môi trường và Cộng đồng trên địa bàn 3 xã Thanh Tuyền,Thanh Hà, Liêm Tuyền
+ So sánh với những hộ không áp dụng mô hình sản xuất và sử dụng phân
vi sinh của Dự án Môi trường và Cộng đồng trên địa bàn 3 xã Thanh Tuyền,Thanh Hà, Liêm Tuyền
- Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận một số cán bộ huyện, xã có liên quan đến triểnkhai mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh trên địa bàn 3 xã Thanh Tuyền,Thanh Hà, Liêm Tuyền
- Các cán bộ chuyên môn phụ trách của Dự án Môi trường và Cộng đồng tạihuyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề sản xuất và sử dụng phân vi sinh tại 3
xã Thanh Tuyền, Liêm Tuyền, Thanh Hà
1.4.3 Phạm vi về thời gian
- Thời gian của số liệu đã công bố: 2007 - 2009
- Thời gian thực hiện đề tài: 23/1/2010 – 30/05/2010
Trang 4PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về phân bón
Phân bón là chất hữu cơ hay vô cơ có nguồn gốc tự nhiên hay nhântạo khi dùng để bón vào đất có thể cung cấp thức ăn cho cây trồng và cảithiện độ phì nhiêu của đất [9]
2.1.1.2 Khái niệm về phân vi sinh
- Phân vi sinh là các sản phẩm có chứa một hay nhiều chủng vi sinhvật (VSV) sống có ích đã được tuyển chọn, có hoạt lực cao, có mật độ đạttheo tiêu chuẩn quy định và không có khả năng gây hại, nhằm cải tạo đất
và cung cấp các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng sử dụng, góp phầnnâng cao năng suất hoặc chất lượng nông sản
- Phân vi sinh là các chế phẩm chứa các vi sinh vật sống có hoạt lựccao đã được tuyển chọn Thông qua các hoạt động, các vi sinh vật tạo racác chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng làm cho cây trồng phát triển tốthơn [9]
Như vậy, phân vi sinh là sản phẩm có chứa nhiều VSV có ích được
sử dụng cho cây trồng làm tăng năng suất, chất lượng nông sản đồng thờigóp phần cải tạo đất đai, bảo vệ môi trường
2.1.1.3 Khái niệm về phân hữu cơ
- Phân hữu cơ là tất cả các loại chất hữu cơ vùi vào đất sau khi phângiải có khả năng cung cấp thức ăn cho cây trồng và cải tạo đất bao gồm:phân bắc, nước giải, phân gia súc, gia cầm,…
- Phân vi sinh khác phân hữu cơ, hóa học
Trang 5Bảng 2.1 So sánh sự khác nhau giữa phân hữu cơ và phân vi sinh [9]
Tiêu chí Phân hóa học Phân hữu cơ Phân vi sinh
Khái niệm
là những hóa chất có chứa các nguyên tố dinh dưỡng, được bón cho cây trồng
Là chất hữu cơ được vùi vào đất
Chứa hệ vi sinh vật
có ích Môi
trường
Gây chai cứng đất và ô nhiễm môi trường
Gây ô nhiễm môi trường
Cải tạo và bảo vệ môi trường Cây trồng Giúp cây trồng sinh trưởng
phát triển nhanh
Giúp cây trồng sinh trưởng phát triển tốt
Tác dụng tới cây trồng chậm hơn Hiệu quả
sử dụng Không cao và ngắn Thấp hơn phân vi sinh Cao hơn và lâu dài
(Nguồn: Bài giảng Phân bón của Đặng Thanh Phong, 2008) 2.1.1.4 Khái niệm đánh giá
- Đánh giá là công việc định kỳ, phân tích sâu các công việc Nó dựavào dữ liệu được tạo ra thông qua các hoạt động giám sát cũng như cácnguồn thông tin khác (các bài học, nghiên cứu, phỏng vấn sâu, thảo luận tậptrung theo nhóm, điều tra bảng hỏi,…) Các đánh giá thường được tiến hànhvới sự trợ giúp từ người đánh giá bên ngoài
- Đánh giá là quá trình đánh giá một cách có hệ thống và khách quanmột dự án, chương trình hoặc một chính sách đang được thực hiện hoặc đãhoàn thành từ giai đoạn thiết kế đến triển khai và các kết quả đạt được Mụcđích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thànhcác mục tiêu, tính hiệu quả, tác động và tính bền vững Quá trình đánh giácần cung cấp thông tin đáng tin cậy và hữu ích, cho phép lồng ghép nhữngbài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của các nhà tài trợ và củađối tượng tiếp nhận tài trợ [1]
2.1.1.5 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Trang 6* Khái niệm: Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù kinh tế phảnánh trình độ khai thác các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, kĩ thuật,nguồn lực tự nhiên và những phương pháp quản lý hữu hiệu, nó được thểhiện bằng hệ thống chỉ tiêu phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sảnxuất phù hợp với các yêu cầu của xã hội.
- HQKT là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả kinh tế đạtđược và chi phí nguồn lực bỏ ra
HQKT của một hoạt động SXKD chủ yếu đề cập đến lợi ích kinh tế
sẽ thu được trong hoạt động đó
- HQKT là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt độngkinh tế, là cơ sở để đạt mục đích cuối cùng là lợi nhuận cực đại Đây là mộtđòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất củacuộc sống con người ngày càng tăng Hay nói cách khác là do yêu cầu củacông tác quản lý kinh tế cần thiết phải đánh giá nhằm nâng cao chất lượngcủa các hoạt động kinh tế đã làm xuất hiện phạm trù HQKT
- Hiệu quả kinh tế: là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạtđược và lượng chi phí bỏ ra Khi đánh hiệu quả kinh tế cần phải xem xétđầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượngtuyết đối Hiệu quả kinh tế đạt được khi trong điều kiện nguồn lực có hạn
mà vẫn cho ra được kết quả đầu ra lớn nhất ở mức chi phí thấp nhất
* Có rất nhiều khái niệm hiệu quả kinh tế nhưng khái niệm hiệu quảkinh tế là: “Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù kinh tế phản ánhtrình độ khai thác các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, kĩ thuật, nguồnlực tự nhiên và những phương pháp quản lí hữu hiệu, nó được thể hiệnbằng hệ thống chỉ tiêu phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất
Trang 7này Đây là khái niệm cho thấy khi đánh giá mô hình cần xem xét tớinhững yêu cầu của xã hội Mà cộng đồng luôn có mong muốn được pháttriển bền vững Mặt khác khái niệm về hiệu quả xã hội và hiệu quả môitrường đã làm rõ hơn các mục tiêu mà một mô hình tốt cần đạt được.
* Hiệu quả xã hội: là kết quả các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnhcông ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hôi Cùng với hiệu quả kinh tế,hoạt động sản xuất còn tạo ra nhiều kết quả liên quan tới đời sống xã hộinhư: công ăn việc làm cho người lao động, tăng mức hưởng thụ cuộc sống,sức khỏe, y tế được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần được nângcao,
* Hiệu quả môi trường: là một hiệu quả mà đang được các nhà quản lýquan tâm Một hoạt động được cho là có hiệu quả thì hoạt động đó phảikhông gây ra ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái Hiệu quả môi trườngđược đánh giá bằng các chỉ tiêu như: bảo vệ đa dạng sinh học, tạo cảnhquan môi trường sạch, tạo bầu không khí trong lành, tăng cường cải tạomôi trường đất,
Như vậy qua các khái niệm trên ta thấy để đánh giá được hiệu quảcủa một mô hình thì cần phải xem xét nó trên các khía cạnh kinh tế, xã hội
và môi trường Hiệu quả kinh tế luôn được những người thực hiện mô hìnhquan tâm nhiều nhất nhưng hiện nay hiệu quả xã hội và hiệu quả môitrường cũng có vai trò quan trọng Đảm bảo được hiệu quả trên các mặtkinh tế, xã hội, môi trường thì mới phát triển bền vững
Trang 82.1.2 Một số đặc điểm của phân vi sinh
- Thành phần của phân vi sinh gồm có: vi sinh vật (VSV) có ích đượctuyển chọn, chất mang, các VSV tạp
- Đặc trưng:
+ Phân vi sinh là chế phẩm của các sinh vật sống hữu ích, có hoạt lực cao
và có khả năng cạnh tranh cao
+ Thời gian sống của các VSV trong chế phẩm có vai trò rất quan trọng,
nó phụ thuộc vào đặc tính của mỗi chủng giống VSV, thành phần và điều kiệnnơi chúng cư trú
+ Giữa VSV và cây trồng có mối quan hệ nhất định Do vậy, mỗi chủngloại VSV chỉ thích hợp đối với một số đối tượng cụ thể
+ Giữa các chủng VSV cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật (VSV) sống trong đất, nước và vùng rễcây có ý nghĩa quan trọng trong các mối quan hệ giữa cây trồng, đất và phânbón Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặcgián tiếp của VSV (mùn hoá, khoáng hoá chất hữu cơ, phân giải, giải phóng chấtdinh dưỡng vô cơ từ hợp chất khó tan hoặc tổng hợp chất dinh dưỡng từ môitrường, ) Vì vậy, từ lâu vi sinh vật đã được coi là một bộ phận của hệ thốngdinh dưỡng cây trồng tổng hợp
Phân bón vi sinh vật là sản phẩm chứa VSV sống, đã được tuyển chọn cómật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống củachúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N, P, K,
S, Fe, ) hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượngnông sản Phân vi sinh (PVS) phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đếnngười, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản (TCVN
Trang 96168-2002) Tuỳ theo công nghệ sản xuất người ta có thể chia phân vi sinh thànhhai loại:
+ PVS trên nền chất mang khử trùng (chế phẩm VSV) là sản phẩm đượctạo thành từ sinh khối VSV tuyển chọn và cơ chất (chất mang) đã tiệt trùng, cómật độ vi sinh hữu ích > 109 VSV/g(ml) và mật độ VSV tạp nhiễm thấp hơn1/1000 so với VSV hữu ích Phân bón dạng này được sử dụng dưới dạng nhiễmhạt, hồ rễ hoặc tưới phủ với liều lượng 1-1,5 kg (lít/ha) canh tác
+ PVS trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩmnhiễm trực tiếp sinh khối VSV hữu ích vào cơ chất không cần thông qua côngđoạn khử trùng Phân bón dạng này có mật độ VSV hữu ích >106VSV/g (ml) vàđược sử dụng với số lượng từ vài trăm đến hàng ngàn kg (lít)/ha Trên cơ sở tínhnăng tác dụng của các chủng loại VSV sử dụng, phân bón VSV còn được gọidưới các tên:
PVS cố định nitơ (phân đạm vi sinh) chứa các VSV sống cộng sinh vớicây bộ đậu, hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khảnăng sử dụng nitơ từ không khí tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và câytrồng
PVS phân giải hợp chất photpho khó tan (phân lân vi sinh) sản xuất từ cácVSV có khả năng chuyển hoá các hợp chất photpho khó tan thành dễ tiêu chocây trồng sử dụng
PVS kích thích, điều hoà sinh trưởng thực vật chứa các VSV có khả năngsản sinh các hoạt chất sinh học có tác dụng điều hoà, kích thích quá trình trao đổichất của cây
PVS chức năng là sản phẩm có chứa không chỉ các VSV làm phân bónnhư cố định nitơ, phân giải lân, kích thích sinh trưởng thực vật mà còn có cácloại VSV có khả năng ức chế, tiêu diệt VSV gây bệnh cây trồng
Trang 10Ngoài phân vi khuẩn nốt sần đã trở thành hàng hoá và được sử dụngtại nhiều quốc gia, các loại phân vi sinh vật khác như cố định nitơ tự do từ
Azotobacter, Clostridium, tảo lam, cố định nitơ hội sinh từ Azospirillum,
phân giải photphat khó tan từ Bacillus, Pseudomonas, tăng sức đề kháng cho cây trồng, phòng trừ vi sinh vật gây bệnh vùng rễ từ Steptomyces,
Bacillus, cũng đã được nghiên cứu, sản xuất và sử dụng trên diện rộng
2.1.3 Các biện pháp xử lý rác thải bằng công nghệ vi sinh vật
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp xử lý rác thải có nguồngốc từ khác nhau Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà những phương pháp đó đượcthực hiện ở mỗi quốc gia là khác nhau, thậm chí tùy từng giai đoạn cụ thể màngười ta áp dụng từng phương pháp thích hợp Trong đó có 6 phương pháp điểnhình xử lý rác thải bằng công nghệ vi sinh
Phương pháp sản xuất khí sinh học (Biogas) - ủ yếm khí
Cơ sở của phương pháp này là nhờ hoạt động của vi sinh vật mà các chấtkhó phân hủy (xenluloza, hemixenluloza, lignin,…) chuyển thành dễ phân hủy.Sau đó lại được chuyển hóa tiếp thành các chất khí trong đó chủ yếu là metan [6]
- Ưu điểm: thu lại được một loạt các chất khí có thể cháy được và chonhiệt lượng cao, sử dụng làm chất đốt, không ô nhiễm môi trường Phế thải saukhi lên men được chuyển hóa thành phân hữu cơ có chất dinh dưỡng cao có thểbón cho cây trồng
- Nhược điểm: khó lấy chất thải sau khi lên men Là quá trình kỵ khí nênbắt buộc việc thiết kế bể ủ phức tạp, vốn đầu tư khá lớn
Phương pháp ủ phế thải thành đống, lên men tự nhiên có đảo trộn
Phế thải sau khi phân loại được chất đống có chiều cao từ 1,5-2,0m đảotrộn mỗi tuần 1 lần Nhiệt độ đống ủ là 55-60oC, độ ẩm 50-70% Sau 3-4 tuầntiếp theo ủ thành đống không đảo trộn [7]
Trang 11- Ưu điểm: đơn giản, dễ làm.
- Nhược điểm: mất vệ sinh gây ô nhiễm nguồn nước và không khí
Phương pháp ủ phế thải thành đống không đảo trộn và có thổi khí
Phế thải được chất thành đống cao từ 1,5-2,0m Phía dưới được lắp đặtmột hệ thống phân phối khí Nhờ có quá trình thổi khí cưỡng bức mà quá trìnhchuyển hóa nhanh hơn, nhiệt độ ổn định hơn, ít ô nhiễm hơn
Phương pháp này khá tốn kém
Phương pháp lên men trong các thiết bị chứa
Phế thải được cho vào các thiết bị chứa có dung tích khác nhau để lên men.Lượng khí và nước sinh ra trong quá trình lên men được kiểm soát chặt chẽ Các
vi sinh vật đã được tuyển chọn bổ sung cho hệ vi sinh vật tự nhiên trong đống ủ,nhờ đó mà quá trình xảy ra nhanh và dễ kiểm soát, ít gây ô nhiễm [5]
Phương pháp lên men trong lò quay
Phế thải được thu gom, phân loại, cắt nhỏ và đưa vào lò quay nghiêng với
độ ẩm 50-60% Trong khi quay phế thải được đảo trộn do vậy không phải thổikhí Phế thải sau khi lên men lại được ủ chín thành đống trong vòng 20-30 ngày
Phương pháp ủ rác thải thành phân ủ
Rác thải không bị bỏ đi mà được tái chế thành sản phẩm cung cấp chonông nghiệp
- Ưu điểm: tạo phân ủ tại chỗ, giảm được chi phí vận chuyển
- Nhược điểm: vốn chi phí vận hành lớn, phân loại, tuyển chọn mất công.Nhìn về tổng thể, quá trình ủ là quá trình phân giải một lợi các chất hữu cơ
có trong chất thải hữu cơ nông nghiệp, chất thải sinh hoạt, phân gia súc, gia cầm.Quá trình ủ phân thải hữu cơ được thực hiện cả trong điều kiện hiếu khí và điềukiện kỵ khí Ủ hiếu khí là quá trình chuyển hoá các chất hữu cơ nhờ vi sinh vậtkhi có mặt ôxi Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân giải kỵ khí là CH4, CO2,
Trang 12Theo thời gian, phương pháp và kỹ thuật ủ ngày càng hoàn thiện, đáp lạinhu cầu chế biến các chất thải nông nghiệp và đô thị đồng thời kiểm soát ônhiễm môi trường do chúng gây ra.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học càng ngày người
ta càng nhận thấy tính ưu việt của phân vi sinh được chế biến từ các loại phếthải, rác thải Những quy trình ủ này không những làm sạch môi trường, các phếthải không còn được coi là phế thải độc hại nữa, mà được coi là nguồn nguyênliệu có thể tái chế làm phân ủ vi sinh và có tác dụng cải tạo đất tốt Sản phẩm củacây trồng được làm an toàn hơn, giá thành cho người sử dụng rẻ hơn, phù hợpvới khả năng tài chính của nhiều quốc gia hiện nay
Các phương pháp xử lý đó được thống kê thành sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1 Các phương pháp xử lý chất thải hữu cơ
Như vậy, mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm khác nhau, nhưng xét
về mặt cộng đồng cũng như cá nhân thì phương pháp ủ phân vi sinh là phươngpháp tốt nhất Làm tốt phương pháp này có thể giải quyết các vấn đề kinh tế: tiết
Phương pháp đổ thành đống rác tự nhiên
Phương pháp Xử lýcông nghiệp
Phương pháp chôn lấpPhương pháp thiêu
đốt
Trang 13kiệm chi phí sản xuất, ít độc hại cho con người từ việc sử dụng hạn chế thuốcbảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu đồng thời góp phần bảo vệ môi trường.
2.1.4 Một số quy trình sản xuất phân vi sinh
Năm 1992, tại Hà Nội đã xây dựng Xí nghiệp chế biến rác thải làm phân bóntại Cầu Diễn do UNDP tài trợ, theo nguyên lý thổi khí cưỡng bức với quy trình:
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất phân vi sinh ở Cầu Diễn, Hà Nội
Quy trình này mất thời gian 2,0-2,5 tháng để cho ra sản phẩm cuối cùng
Năm 1993, tại thành phố Hồ Chí Minh cũng đã xây dựng thành công quy trình ủ kỵ khí nhờ vi sinh vật tự nhiên với quy trình:
Sơ đồ 2.3 Quy trình sản xuất phân vi sinh ở Tp Hồ Chí Minh
Thu
gom rác thải
Vun đống, trộn với phân
xí máy
Phân loại, giữ phần hữu cơ
Ủ thổi khí
Ủ chínĐóng gói Trộn thêmN, P, K Sàng
Phế thải
Vun đống ủ tiếp 2 tuần
Vò viên thêm vi lượng
Trang 14Với quy trình này cần mất 2,5-3,5 tháng để sản xuất ra phân vi sinh bón chocây trồng
Cả hai quy trình trên đều dùng VSV tự nhiên, ở Hà Nội thì dùng VSV hiếukhí, còn ở thành phố Hồ Chí Minh thì dùng vi sinh vật kỵ khí Hai phương pháp này
đã góp phần xử lý đáng kể lượng chất thải trong thành phố, làm giảm thiểu ô nhiễmmôi trường và tạo ra được một lượng phân vi sinh khá lớn để bón cho cây trồng trảlại dinh dưỡng cho đất Tuy nhiên, việc phân hủy các hợp chất hữu cơ trong hai quátrình này diễn ra chậm và không triệt để do đó phân vi sinh chưa có chất lượng cao,chưa cho được năng suất và chất lượng tốt
2.1.5 Vai trò của sản xuất và sử dụng phân vi sinh
Hiệu quả của VSV trong việc làm tăng khả năng sinh trưởng phát triển câytrồng, tiết kiệm phân bón hoá học cũng như tăng năng suất, chất lượng nông sản, đãđược khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới Cácsản phẩm vi sinh như phân bón vi sinh vật cố định nitơ, phân giải photphat khó tan,chế phẩm VSV kích thích sinh trưởng thực vật, chế phẩm VSV phòng trừ bệnh câytrồng đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệmôi trường và xây dựng nền nông nghiệp bền vững Việc sản xuất và sử dụng phân
vi sinh có nhiều đóng góp như sau:
- Giảm chi phí sản xuất nông nghiệp: hàng năm nông dân vẫn phải sử dụngmột lượng lớn phân hóa học nhập khẩu từ nước ngoài với giá cao Làm cho hiệu quảsản xuất sau một vụ bị giảm nhưng khi sản xuất và sử dụng phân vi sinh sẽ giảmđược một phần chi phí để mua phân bón hóa học bón cho cây trồng
- Tăng năng suất cây trồng: với hệ VSV có lợi sẽ cung cấp cho cây trồng nhiềudinh dưỡng giúp cây trồng sinh trưởng tốt làm tăng năng suất cây trồng VSV tácđộng đến cây trồng trực tiếp hoặc gián tiếp Sự tác động trực tiếp của VSV, đến cây
Trang 15xảy ra trong quá trình chuyển hoá vật chất của VSV như quá trình cố định nitơ, phângiải lân, sinh tổng hợp auxin, giberellin, etylen, Những vi khuẩn này có khả nănggiúp cây trồng tăng khả năng huy động và dễ dàng sử dụng các nguồn dinh dưỡng từmôi trường Tác động gián tiếp đến sinh trưởng của cây trồng xảy ra khi các chủngVSV có khả năng làm giảm bớt hoặc ngăn chặn các ảnh hưởng có hại từ môi trườnghoặc từ các VSV bất lợi đối với thực vật.
- Sử dụng phân vi sinh có lợi cho sức khỏe người dân: người dân khi sử dụngphân vi sinh sẽ tránh được sự độc hại do khi sử dụng phân hóa học gây ra vì thế sứckhỏe của người dân được đảm bảo, tăng chất lượng cuộc sống
- Cải tạo tăng độ phì nhiêu của đất với hệ VSV có ích có trong phân vi sinhkhi được bón vào đất sẽ làm tăng dinh dưỡng trong đất giúp cây trồng sinh trưởng vàphát triển tốt
- Giảm lượng rác thải và bảo vệ môi trường: Trong quá trình sản xuất phân visinh một lượng rác thải sẽ được thu gom và phân loại, xử lý để đem đi ủ phân nên sẽgóp phần giảm lượng rác thải bảo vệ môi trường
Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là tạo ra các sản phẩm phân vi sinhgiàu dinh dưỡng có bổ sung VSV hữu ích Để góp phần phát triển nông nghiệp bềnvững, nhiều quốc gia trên thế giới đã khuyến khích người dân sử dụng phân bón sinhhọc bằng cách trợ giúp giá bán cho nông dân, đồng thời phát triển mạng lưới khuyếnnông, trong đó đặc biệt chú trọng công tác xây dựng các mô hình trình diễn trên đồngruộng về việc sử dụng hiệu quả của phân vi sinh Mặt khác, việc sử dụng phân hoáhọc, thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, tạo cho đấtkhông còn độ xốp, khả năng hấp thụ và giữ nước kém Các nhà khoa học đã kết luận:
sử dụng phân hữu cơ vi sinh làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng sản phẩm tốthơn, giảm ô nhiễm của NO3 Điều này cũng có nghĩa phân vi sinh đã góp phần quan
Trang 16trọng trong việc cải tạo đất, đáp ứng cho một nền nông nghiệp hữu cơ bền vững,xanh sạch và an toàn.
2.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất và
sử dụng phân vi sinh
2.1.6.1 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất phân vi sinh
Trong quá trình sản xuất phân vi sinh sẽ có nhiều nhân tố ảnh hưởng tớichất lượng của phân vi sinh Những nhân tố đó có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp tới chất lượng phân được sản xuất ra Sau đây là một số nhân tố ảnhhưởng tới hiệu quả sản xuất phân vi sinh:
- Hiểu biết của người dân về phân vi sinh: để sản xuất phân vi sinh, trướchết phải hiểu được nó như thế nào, có tác dụng gì Hiểu biết cảu người dân ảnhhưởng rất lớn đến khả năng sản xuất vi sinh Khi hiểu được những lợi ích màphân vi sinh mang lại, người dân sẽ chủ động và nhu cầu sản xuất cũng lớn hơn
- Hiểu biết của người dân về quy trình làm phân vi sinh Để sản xuất đượcphân vi sinh thì người dân phải biết quy trình của nó Nếu người dân càng hiểu
rõ thì khi sản xuất phân vi sinh sẽ có chất lượng tốt hơn
- Men vi sinh để trộn với nguyên liệu là một yếu quan trọng Chất lượngcủa men có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng phân vi sinh làm ra Vì vậy để nângcao chất lượng phân sản xuất ra thì cần lựa chọn loại men có chất lượng tốt
- Kỹ thuật của người sản xuất vi sinh: trong quá trình làm phân thì đòi hỏi
có những kỹ thuật như đảo phân, giữ nhiệt độ và độ ẩm của đống ủ Người dâncàng làm tốt các kĩ thuật này thì khi sản xuất phân vi sinh sẽ mang lại hiệu quảcao hơn
- Nguyên liệu làm phân vi sinh chủ yếu là rác hữu cơ, rơm rạ và bèo tây
Trang 17liên tục là khó Vì vậy để đảm bảo được lượng phân vi sinh sản xuất ra đáp ứngđầy đủ nhu cầu cần phải chuẩn bị nguyên liệu thật tốt hơn, điều này phụ thuộcnhiều vào công tác phân loại rác thải tại nguồn để có đủ nguồn nguyên liệu.
- Thời gian sản xuất phân vi sinh: theo các quy trình khác nhau thì cóthời gian khác nhau Tuy nhiên, thời gian sản xuất phân vi sinh còn ảnh hưởngtới khả năng phân giải các chất hữu cơ Vì thế, cần lựa chọn quy trình có thờigian sản xuất phân vi sinh phù hợp với lịch mùa vụ của cây trồng
2.1.6.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng phân vi sinh
- Điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết của nơi sử dụng Mỗi vùng miền
sẽ có điều kiện thời tiết khác nhau, sử dụng phân vi sinh vào thời điểm thíchhợp, có điều kiện thời tiết thuận lợi sẽ giúp cho hiệu quả sử dụng PVS tănglên Đối với phân vi sinh khi bón cần tránh mưa lớn vì phân vi sinh rất dễ bịtrôi do tràn nước
- Chất lượng của phân vi sinh ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng phân visinh vì chất lượng tốt thì cây trồng sẽ dễ hấp thụ, sinh trưởng phát triển tốt sẽcho năng suất cao
- Đối tượng, thời điểm sử dụng phân vi sinh: lựa chọn đối tượng và thờiđiểm sử dụng phân vi sinh sẽ tăng hiệu quả sử dụng PVS lên rất nhiều Phân
vi sinh thường thích hợp với các loại cây có củ, và nên bón lót là tốt nhất
- Hiểu biết và nhận thức về kỹ thuật của người sử dụng phân vi sinh:phân vi sinh có chất lượng tốt nhưng đòi hỏi người sử dụng phải có hiểu biết
về kỹ thuật bón phân (đúng lúc, đúng thời vụ, liều lượng) thì mới phát huy hếthiệu quả của phân vi sinh
Tóm lại, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, trong đó cónhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng; có nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp Tuy nhiên, xác định được những nhân tố ảnh hưởng này để chúng ta
Trang 18có thể đưa ra biện pháp sản xuất và sử dụng phân vi sinh phù hợp đồng thờinâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân vi sinh trên thế giới
- Vào năm 1921, Hutchisnon và Richards (Mỹ) là những người đầu tiênnghiên cứu quá trình ủ phân Sau đó, Horward đã đưa ra “phương pháp hữu cơ”tức là trộn xác hữu cơ với phân gia súc theo tỷ lệ 3:1 có đảo trộn thường xuyên.Ông đã phát triển phương pháp ủ trên những lợi nguyên liệu khác nhau theo từnglớp và có đảo trộn để tạo điều kiện hiếu khí Đây là phương pháp Indore, phươngpháp mang tên nơi mà Horward đang làm việc Từ năm 1926 đến năm 1941,Warksman và các cộng tác viên nghiên cứu sự phân huỷ hiếu khí bã thực vật,động vật Ông đã kết luận nhiệt độ và các nhóm vi sinh vật có ảnh hưởng đến sựphân huỷ chất thải hữu cơ [6]
- Ở Mỹ vào những năm 1942, Rodale J.I đã kết hợp các nghiên cứu củaHorward với thực nghiệm của mình và đã đưa ra phương pháp hữu cơ trongtrồng trọt, làm vườn Phương pháp này cũng đã được rất nhiều nước trên thế giới
áp dụng và thu được kết quả khá khả quan Khi áp dụng phương pháp này ở
trang trại của mình người dân Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ đều nhận thấy rằng ban đầu năng suất có giảm đi nhưng đã ổn định qua vài năm thì lợi nhuận tăng lên rỗ rệt vì đã giảm được chi phí đáng kể khi không phải sử dụng hoá chất trong nông nghiệp.
- Ở Canada, Golass và cộng sự (1950-1952) đã nghiên cứu các nguyên tắc
cơ bản của phân ủ hỗn hợp rác thải và bùn cống Kết quả cho thấy, các tác nhânmôi trường như: nhiệt độ, độ thoáng khí, kích thước cơ chất, tần số đảo trộn đặc
Trang 19ủ phân Đến năm 1980, Haug đã đưa ra kết luận về việc làm phân ủ như sau: ủchất thải là quá trình phân giải sinh học các chất hữu cơ dẫn tới sự ổn định khối ủtrong tồn trữ và sử dụng như một dạng phân hữu cơ[6].
Sử dụng các VSV để sản xuất chế phẩm sinh học xử lý rác thải, phế thải,tàn dư thực vật người ta nhận thấy khi phối trộn vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn với tỷ
lệ 1:1:1, thì cho hiệu quả xử lý cao nhất Sử dụng chế phẩm sinh học có tác dụngrất tốt trong sản xuất nông nghiệp và cải tạo đất bạc màu làm tăng độ phì nhiêu
cho đất Ở những nước có năng suất cây trồng cao bón nhiều phân vô cơ, thì hiệu quả 1 kg NPK chỉ thu được 7,5 kg thóc (Nhật) hay 11,4 kg thóc (Nam Triều Tiên) Ngược lại, ở những nước bón ít phân hóa học hơn, năng suất cây trồng thấp nhưng hiệu quả 1 kg NPK lại cao hơn nhiều, có thể đạt tới 45,4 kg thóc (Việt Nam) hay 43,8 kg thóc (Thái Lan) Thực tế cho thấy năng suất cây trồng không thể tăng lên mãi bằng phân hóa học, khi năng suất đã đạt cực đại thì hiệu quả 1 kg NPK sẽ giảm Nếu cứ bón phân hóa học lên cao sẽ gây ô nhiễm môi trường làm cho đất chai cứng và chua hoá [6].
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân vi sinh tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, việc sử dụng phân vi sinh ở Việt Nam ngàycàng tăng Là một nước nhiệt đới, khu hệ vi sinh vật đất ở Việt Nam rất đa dạng
và phong phú Việc phân lập, tuyển chọn các chủng giống vi sinh vật hữu hiệu từ
tự nhiên, nhân lên rồi trả lại cho tự nhiên sẽ luôn an toàn và đạt hiệu quả cao Dovậy, việc nghiên cứu vi sinh vật có hoạt tính cao được phân lập từ đất Việt Nam
để sản xuất phân bón từ nguồn phế thải hữu cơ là rất cần thiết
Nhận thức được vai trò của phân bón vi sinh vật từ những năm đầu củathập kỷ 80 nhà nước ta đã triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu thuộcchương trình công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986-1990 và
Trang 20chương trình công nghệ sinh học giai đoạn 1991-1995, 1996-2000, 2001-2005 và
áp dụng vào sản xuất nhiều sản phẩm phân bón VSV
Từ các mẫu đất, nước, rễ cây các chủng giống VSV được phân lập, tuyểnchọn, đánh giá và lưu giữ bảo quản tại các phòng thí nghiệm dưới dạng bộ sưutập quỹ gen Các VSV sử dụng trong nghiên cứu và sản xuất phân bón bao gồm
các sinh vật cố định nitơ sống cộng sinh với cây bộ đậu (Rhizobium,
Bzadyrhizobium), sống tự do trong đất, nước (Azotobacter, Clostridium, Arthrobacter, Klebsiella, Serratia, Pseudomonas, Bacillus, vi khuẩn lam hay
sống hội sinh trong vùng rễ cây trồng (Azospirillum), VSV phân giải lân
(Bacillus, Pseudomonas, Penicillium, Aspergillus, Fussarium, Candida), VSV phân giải xelluloza (Trichoderma, Chetomium, Aspergillus, Gliogladium ), VSV sinh tổng hợp hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật (Agrobacterium, Flavobacterium, Bacillus, Enterobacter, Azotobacter, Gibberella ) và các VSV
đối kháng VSV gây bệnh vùng rễ cây trồng
Trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình công nghệ sinhhọc giai đoạn 1991-2000, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã phốikết hợp cùng gần 20 cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng và triển khai thànhcông các quy trình sản xuất phân vi sinh cố định nitơ, phân vi sinh phân giải lân,phân vi sinh hỗn hợp cố định nitơ và phân giải lân Sản phẩm phân vi sinh được cáchội đồng khoa học nghiệm thu, đánh giá và công nhận là tiến bộ kỹ thuật Sản xuấtphân vi sinh từ rác thải và bèo tây thì phân vi sinh là các chế phẩm chứa các VSVsống có hoạt lực cao đã được tuyển chọn Thông qua các hoạt động, các VSV tạo racác chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng làm cho cây trồng phát triển tốt hơn Sửdụng phân vi sinh có thể thay thế được lượng phân đạm và phân lân hóa học từ 50đến 100% tùy theo từng loại cây trồng Hơn thế khi sử dụng phân vi sinh nông sản
Trang 21với phân hóa học, đặc biệt là phân urê thì giá phân vi sinh rẻ hơn do đó hiệu quả thuđược cũng cao hơn Phân vi sinh có thể dùng để bón cho tất cả các loại cây trồng từcây ăn quả, chè, lúa, ngô, rau xanh đến cây cảnh, đều rất tốt Do tác dụng chậmhơn so với phân hóa học nên đối với các loại cây trồng ngắn ngày, phân vi sinh chủyếu được dùng để bón lót nhiều hơn là bón thúc Các loại cây thu hoạch theo mùa
vụ thì sau mỗi đợt thu hoạch cần bón bổ sung
Bảng 2.2 Lượng phân vi sinh bón cho một số cây trồng
Loại cây trồng Thời gian
3-1-2kg/gốc cây(10-15kg/sào Bắc
bộ)
50-100% lượng urê
và lân50% lượng phân urê70% lượng phân urê100% lượng phân urêCây lúa
- Giai đoạn gieo hạt
- Giai đoạn 3-4 lá
10kg/sào Bắc bộ
50% - 100% lượngphân urê và phân kali
10kg/sào Bắc bộ10kg/sào Bắc bộ
urê và phân lân
(Nguồn: Viện báo cáo khoa học kĩ thuật Việt Nam)
Báo cáo Đề tài cấp Bộ B2004-32-66: “Xây dựng quy trình sản xuất chếphẩm VSV xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành phân hữu cơ tại chỗ bóncho cây trồng” Chế phẩm được tạo ra từ các chủng giống vi sinh vật do đề tàiphân lập và tuyển chọn đạt TCVN của Nguyễn Xuân Thành và các cộng sự
Trang 22Kết quả của nghiên cứu trên cho thấy hiệu quả phân giải cao, hạn chếđược mùi hôi thối của đống ủ đồng thời rút ngắn được thời gian ủ xuống còn 45-
60 ngày Phân vi sinh được tái chế từ phế thải sau ủ bón cho cây trồng có tácdụng làm tăng năng suất và giảm tác hại của sâu bệnh
Sơ đồ 2.4 Quy trình xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng
Những nghiên cứu về chế phẩm vi sinh vật ở Việt Nam đã được bắt đầu từnhững năm 60 của thế kỉ XX Nhưng mãi đến những năm 80 mới được đưa vàochương trình đề tài cấp Nhà nước với tiêu đề “Công nghệ sinh học phục vụ nôngnghiệp” giai đoạn 1985-1990
Phạm Văn Ty và các cộng sự đã phân lập được hàng trăm chủng vi sinh vật
có khả năng phân giải Xenluloza, lignin, hemixenluloza Tác giả đã xây dựng
Đống ủ sau
30 ngày
Tái chế làm phân hữu cơ
Sử dụng
Bổ sung phụ gia NPK
Bổ sung nước đảm bảo độ ẩm 50-70%
Kiểm tra chất lượng phân giải
Bổ sung thêm NPK( nếu cần)
Trang 23được quy trình sản xuất chế phẩm phân giải chất hữu cơ đạt huy chương vàng tạihội chợ triển lãm kinh tế kỹ thuật toàn quốc năm 1987 Kết quả thử nghiệm xử lýbằng chế phẩm đẫ rút ngắn thời gian ủ xuống còn 45-60 ngày thay vì 6 tháng đến
1 năm thậm chí 2 năm ủ với điều kiện tự nhiên [7]
Đề tài cấp nhà nước KHCN 02-06A, giai đoạn 1996-1998 “Nghiên cứu và
áp dụng công nghệ sinh học trong sản xuất phân bón vi sinh từ nguồn phế thảihữu cơ rắn” đã phân lập từ mẫu đất và mẫu rác ở một số tỉnh phía Bắc Nghiên
cứu đã tuyển chọn được 2 chủng xạ khuẩn X50 thuộc loài Streptomyces gougero
và chủng X20 Streptomyces macrosporrus, 2 chủng vi khuẩn là V40 thuộc loài
Cellulomna.sp và V31 thuộc loài Corynebacoerium.sp và 2 chủng nấm là N11
thuộc loài A.japonicus và N3 thuộc loài A.unilateralis Những chủng giống này
là các chủng giống có khả năng phân hủy chuyển hóa các hợp chất hữu cơ khóphân giải như xenluloza, hemixenluloza cao, có khả năng sinh tổng hợp cácenzim ngoại bào như amylaza, proteinaza, pectilaza… Khi nghiên cứu tác độngcủa vi sinh vật vào quá trình phân hủy rác, tác giả nhận thấy khi chúng tác độngđồng thời theo tỷ lệ phối trộn giữa xạ khuẩn, vi khuẩn và nấm sợi là 1:1:1 sẽ chohiệu quả cao hơn khi chúng có tác động riêng rẽ (dẫn theo Nguyễn Xuân Thành)[5]
Phế thải sau ủ được tái chế làm phân hữu cơ vi sinh bón cho cây lạc và rau cảitrắng trên diện tích rộng, hiệu quả như sau:
+ Đối với cây lạc: năng suất thực thu ở vụ Xuân tăng 16,7%, vụ Hè tăng12,6%, vụ Đông tăng 11,5% so với đối chứng
+ Đối với rau cải trắng: năng suất tăng 12% so với đối chứng, hàm lượngđường tổng số tăng 11,5%, vitamin tăng 11,9%, NO3 giảm 5%
Năm 1999, đề tài cấp Bộ B99-32-46 Nguyễn Xuân Thành và các cộng sự đãnghiên cứu thành công đề tài: “Xử lý rác thải sinh hoạt và phế thải bùn mía bằng
Trang 24vi sinh vật bón cho cây trồng” Kết quả cho thấy hàm lượng chất dinh dưỡng dễtiêu và độ xốp tăng so với đống ủ không được xử lý, phân hữu cơ được tái chế từphế thải đạt TCVN 132B-1996, chất lượng phân sau 4 tháng vẫn đạt TCVN.Năm 1999, khi nghiên cứu đề tài: “Sử dụng vi sinh vật có hoạt tính phân giảixenluloza cao, để nâng cao chất lượng phân hủy rác thải sinh hoạt và nôngnghiệp” Tác giả chi thấy khi xử lý các vi sinh vật có hoạt tính phân giảixenluloza cao và đống ủ rác thải có tác dụng rút ngắn thời gian ủ xuống còn77,6% so với đối chứng Hàm lượng mùn tạo thành của bể ủ có bổ sung chếphẩm vi sinh vật cao hơn 28,8%, các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cao hơn 10%
so với bể đối chứng
Bảng 2.3 Kết quả phân tích thành phần mùn rác của bể ủ
rác thải sinh hoạt
Axit Humic (%)
Tỷ lệ % so với ĐC 128,57 112,5 120 128,85 110,53 110,64
(Nguồn: Báo cáo đề tài cấp nhà nước KC 04-04 (1998-2000))
Xử lý vỏ cà phê không bổ sung chế phẩm vi sinh vật ở ngoài trời thì sau
Trang 25Như vậy, đống ủ có xử lý vi sinh cho hiệu suất phân hủy cao hơn, thờigian ủ cũng được rút ngắn hơn so với đống ủ không xử lý vi sinh vật, ủ trong bể
có mái che nhanh hơn là ủ ngoài trời không có mái che
Phân bón được tái chế từ đống ủ phế thải được đem bón cho cây mía, càphê, ngô và cao su thì thấy:
+ Đối với cây mía: số nhánh hữu hiệu tăng lên, tăng năng suất thực thu từ4-16% so với công thức đối chứng
+Đối với ngô: tăng số hạt/hàng, tăng số cây 2 bắp, tăng năng suất thực thu
từ 12-25% so với công thức đối chứng
+ Đối với cà phê: giảm tỷ lệ quả rụng đáng kể, tăng năng suất từ 11-19%
so với đối chứng
+ Đối với cây cao su: tăng tỷ lệ mủ sau một lần cạo mủ
Qua đó người ta cũng tính được lãi suất tăng khi sử dụng phân hữu cơ visinh là 5,35% đối với mía; 5,63% đối với cây ngô; 4,3% đôi với cây bông;5,97% đối với cây cà phê và 1,59% đối với cây cao su
Năm 2000, Lê Văn Nhượng và các cộng sự đã nghiên cứu thành công đềtài: “Công nghệ xử lý một số phế thải nông sản chủ yếu (lá mía, vỏ thải cà phê,rác thải nông nghiệp) thành phân bón hữu cơ sinh học” Kết quả nghiên cứu đãphân lập và tuyển chọn được 7 chủng vi khuẩn, 6 chủng xạ khuẩn và 11 chủngnấm sợi có hiệu lực xenlulaza cao và xác định được rằng khi các loại vi sinh vậtnày phối trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp sẽ cho hiệu suất phân giải là caonhất Đồng thời khi ứng dụng các loại chế phẩm có hiệu lực phân giải cao nàyvào đống ủ lá mía, vỏ cà phê, rác thải sinh hoạt người ta thấy thời gian phân hủyđược rút ngắn xuống, thành phẩm sau ủ có hàm lượng chất dinh dưỡng dễ tiêuđối với cây trồng cao hơn so với đống ủ đối chứng không qua xử lý Phân hữu cơ
Trang 26được tái chế từ các loại nông sản trên, khi mang thử nghiệm trên lúa đều thấy cótác dụng làm tăng năng suất lá đến 17,1% so với đối chứng [6].
Năm 2007, trong đề tài nghiên cứu của Phan Bá Học “Ứng dụng chế phẩm visinh vật xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành phân hữucơ tại chỗ cho câytrồng trên đất phù sa sông Hồng” đã có kết luận: cứ 1 tấn rơm rạ ủ thì cho ra 0,2-0,25 tấn phân hữu cơ; 1 tấn thân và lá ngô sau khi ủ cho ra 0,3-0,33 tấn phân hữu
cơ, 1 tấn thân và lá khoai tây thu được 0,2 tấn phân ủ và 1 tấn các loại rau màukhác cho 0,15-0,3 tấn phân ủ [2]
Gần đây nguồn phế thải sau thu hoạch đã được các nhà quản lý và các nhàkhoa học quan tâm: kỹ sư Hoàng Đại Tuấn và cộng sự đã nghiên cứu đề tài:
“Công nghệ sản xuất phân bón Huđavil từ bã bùn mía và phế thải các nhà máyđường” Phân bón Huđavil sử dụng bón cho chè, lúa, cà phê, hồ tiêu,… ở một sốđịa phương đạt kết quả rất khả quan, có tác dụng tăng năng suất lúa lên 5-13% ởTam Điệp (Ninh Bình), tăng năng suất chè lên 7% ở Văn Chấn (Yên Bái), tăng
năng suất hồ tiêu gần 10% ở Tân Lâm (Quảng Trị) [16]
Trang 27Sơ đồ 2.5 Công nghệ sản xuất phân bón Huđavil từ phế thải mía đường
Bài học kinh nghiệm từ các nghiên cứu trên
- Các công trình nghiên cứu và báo cáo trên đều cho thấy quá trình ủ phân visinh đòi hỏi nhiều thời gian từ 2 – 2, 5 tháng Vì vậy bà con chỉ làm phân vi sinhđược một vụ Muốn đạt hiệu quả cao khi sử dụng thì trong quá trình bón phân visinh nên hạn chế bón phân hóa học Phân vi sinh gồm các vi sinh vật sống hoạtđộng nên không thể để lâu được, bảo quản nơi thoáng mát: mùa hè 1 tháng, mùađông 1,5 tháng Khi bón cần luôn giữ đủ độ ẩm đất cần thiết để các vi sinh vậttrong phân vi sinh hoạt động tốt Với các loại đất chua cần phải bón vôi bột trước
ủ ngoài trời (30 ngày) Đảo trộn định kỳ 5 ngày/lần
ủ trong bể có mái che (15-20 ngày) Phun thêm VSVNghiền
Sàng phân loạiĐóng bao Trộn phụ gia N, P, KBảo quản
Sử dụng
Trang 282-3 ngày rồi mới được bón phân vi sinh Không trộn phân vi sinh với phân hóahọc và tro bếp khi sử dụng sẽ làm chết vi sinh vật.
2.2.3 Một số chính sách và biện pháp khuyến khích sản xuất và sử dụng phân vi sinh
* Chính sách của Chính phủ vế SXRAT
- Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 107/2008/QÐ-TTG ngày
30-7-2008 xác định mục tiêu đến năm 2010 có 20% số diện tích các vùng sản xuất tậptrung rau - quả - chè đáp ứng yêu cầu sản xuất rau an toàn (SXRAT) theoVietgap và 30% số sản phẩm rau quả an toàn (RQAT) phải được chứng nhậnVietgap Ðến năm 2015 các chỉ tiêu nêu trên đạt 100% Ngay sau đó, các bộ:Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Y tế, Tài nguyên và Môitrường, Khoa học và Công nghệ và các địa phương cũng có những văn bản phápquy, những chương trình, dự án để phát triển SXRAT ở nước ta trong đó đángchú ý nhất là các quy định của Bộ NN và PTNT về quản lý sản xuất, kinh doanhrau quả an toàn, về chứng nhận SXRAT và ban hành quy trình sản xuất nôngnghiệp tốt Vietgap đối với RAT, cũng như các đề án phát triển của Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh Quốc hội cũng chuẩn bị thông qua và ban hành Luật VSATTP Ðó
là những cơ sở pháp lý, chương trình, kỹ thuật quan trọng góp phần thúc đẩySXRAT trong cả nước thời gian qua cũng như sắp tới Một trong những biệnpháp đó là sử dụng phân vi sinh bón cho cây trồng vừa tăng năng suất, bảo vệmôi trường đồng thời sản phẩm sau thu hoạch đảm bảo an toàn cho người sửdụng
* Một số biện pháp khuyến khích của CEDO
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng những lợi ích mà phân vi sinh mang lại làphương pháp khuyến khích người dân hiệu quả Phương pháp tuyên truyền phù
Trang 29hợp với trình độ tiếp nhận của người dân Các buổi tổ chức tuyên truyền củaCEDO như:
- Hướng dẫn kĩ thuật làm phân vi sinh tới hộ nông dân khi muốn làm phân
vi sinh thì phải nắm được kĩ thuật làm Những hộ tham gia hoạt động của dự án
sẽ được cán bộ kĩ thuật hướng dẫn kĩ thuật làm phân vi sinh trong các buổi tậphuấn
- Hỗ trợ một phần chi phí mua men làm đống ủ Đây là chính sách mà Dự
án Môi trường và Cộng đồng đưa ra Các hộ nông dân tích cực, những hộ tiênphong cho phong trào làm phân vi sinh sẽ được hỗ trợ chi phí mua men làmphân
PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Thanh Liêm nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Nam;
Phía Bắc giáp huyện Kim Bảng, thành phố Phủ Lý;
Phía Đông giáp huyện Bình Lục;
Trang 30Phía Nam giáp huyện Gia Viễn, Ninh Bình, huyện Ý Yên, Nam Định;Phía Tây giáp Lạc Thuỷ, Hoà Bình.
Toàn huyện có thị trấn Kiện Khê và 19 xã: Thanh Tuyền, Thanh Hà, ThanhBình, Thanh Phong, Thanh Thủy, Thanh Tân, Thanh Hương, Thanh Nghị, Thanh Hải,Thanh Nguyên, Thanh Tâm, Liêm Sơn, Liêm Túc, Liêm Thuận, Liêm Cần, LiêmPhong, Liêm Tiết, Liêm Tuyền, Thanh Lưu
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình huyện chia thành hai vùng rõ rệt, phía Tây và vùng núi đá vôi có nhiềuđiểm cao và hang động đẹp, phía Đông là dãy đồi núi đất xen kẽ vùng đồng bằng
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện năm 2007 là 117360,45 ha, trong đó đấtnông nghiệp 9200,95 ha chiếm 53%, đất lâm nghiệp chiếm 26%, đất chuyên dùngchiếm 12,2%, đất khu dân cư chiếm 4,2%, còn lại là đất chưa sử dụng
Thanh Liêm là huyện đồng bằng thấp trong lưu vực sông Đáy, thuộc đồng bằngBắc Bộ Con sông Đáy, thuộc hệ thống sông Hồng, chảy cắt ngang qua địa bàn huyện,gần như theo hướng Bắc Nam, từ thành phố Phủ Lý đến ngã ba ranh giới của huyện(đồng thời là của tỉnh Hà Nam) với hai tỉnh Ninh Bình, Nam Định Vì vậy, ThanhLiêm có nhiều thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp như nguồn nước tưới cho câytrồng, hệ thống thủy lợi,… Tuy nhiên, huyện cũng gặp nhiều khó khăn khi mùa mưa lũ
về ở đây thường xuyên xẩy ra lũ lụt
Huyện có nguồn đá vôi với trữ lượng hàng tỷ m3, tập trung chủ yếu ở 5 xã TâyĐáy, trong đó có Thanh Nghị và thị trấn Kiện Khê Ngoài ra, huyện còn có mỏ sét ở xãLiêm Sơn: Thanh Tâm, Thanh Lưu trữ lượng hàng triệu m3 dùng làm chất liệu phụ giacho sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh và khu vực lân cận cùng với mỏ đá trắng cungcấp cho ngành công nghiệp hóa chất
Trang 313.1.3.1 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu của huyện Thanh Liêm mang đặc điểm của vùng đồng bằng châu thổsông Hồng, khí hậu của khu vực mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa và đượcchia ra hai mùa rõ rệt: mùa nóng ẩm từ tháng V đến tháng X và mùa khô lạnh từ tháng
XI năm trước đến tháng IV năm sau
Nhiệt độ trung bình tháng khoảng 22,5oC; nhiệt độ rung bình nhỏ nhất là20,7oC Lượng mưa tương đối cao, trung bình hàng năm từ 1.600 đến 1.900mm, songphân bổ không đều, tập trung chủ yếu vào từ tháng VI đến tháng IX
Độ ẩm tương ứng trong không khí thấp nhất vào mùa khô, cụ thể là vào mùađông có thể giảm xuống đến 60%, độ ẩm trung bình 85% Lượng bốc hơi cao nhất vàomùa hè (lên đến 150 mm/tháng) và thấp nhất vào mùa đông (xuống đến 40mm/tháng)
3.1.3.2 Tài nguyên thiên nhiên
Với địa hình tương đối đa dạng, huyện Thanh Liêm có dãy núi đá vôi với trữlượng lớn hàng tỷ m3, tập trung tại 05 xã ven sông đáy (Kiện Khê, Thanh Thuỷ, ThanhTân, Thanh Nghị, Thanh Hải) đã hình thành nên khu khai thác chế biến đá và sản xuất
xi măng với trữ lượng lớn trên địa bàn huyện Ngoài ra còn có nguồn đất sét sản xuất
xi măng, gốm mỹ nghệ tập trung ở 02 xã Liêm Sơn, Thanh Tâm, thuận lợi cho việcphát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; sông Đáy và sông Châu Giang phục vụnước tưới tiêu và tạo nên một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ Tổng diện tích đất nông,lâm nghiệp 1.351,45ha chiếm 78,57% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp
là 9200,95 ha
3.1.4 Điều kiện kinh tế
Với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ Đảng viên và nhân dân trong huyện, được sựquan tâm, giúp đỡ của Tỉnh uỷ - UBND tỉnh và các sở, ngành trong tỉnh, những nămqua huyện Thanh Liêm liên tiếp giành được thắng lợi khá toàn diện trên các lĩnh vựcphát triển kinh tế, xã hội Qua bảng 3.1 và biểu đồ 3.1; 3.2 ta thấy: nhìn chung, các chỉ
Trang 32tiêu kinh tế qua ba năm đều tăng tưởng khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các nămkhông ngừng tăng, năm 2007 tăng 12,5%, năm 2008 tăng 14,61%, năm 2009 tăng14,92% Giá trị sản xuất tăng ở giai đoạn 2007-2008 nhưng đến năm 2009 tăng chậmhơn cụ thể là nông nghiệp 2008 tăng 13,37% so với năm 2007 nhưng đến năm 2009thì chỉ tăng 2,40% so với năm 2008 Cơ cấu nông – lâm – thủy sản ngày càng giảm25.5 (2007) còn 20% ( 2009) Giá trị của ngành công nghiệp và xây dựng chiếm phầnquan trọng trong nền kinh tế của huyện (từ 526,453 tỷ đồng năm 2008 tăng lên617,951 tỷ đồng năm 2009) Cơ cấu ngành công nghiệp – xây dựng tăng lên hàng năm44,9% (2007), 45.84% (2008), 47% (2009) Ngành dịch vụ cũng đang trong đà pháttriển, 3 năm qua ngành dịch vụ có cơ cấu ngày càng tăng 29,5% (2007),33% (2009).Như vậy, công nghiệp – xây dựng bình quân 3 năm qua đạt 521,80 tỷ đồng cùng vớidịch vụ (292,41 tỷ đồng) đang chiếm cơ cấu tương đối lớn trong nền kinh tế củahuyện Bên cạnh đó huyện không quên nhiệm cụ phải đảm bảo an ninh lương thực,hàng năm sản lượng lương thực tăng bình quân 3 năm qua đạt 82557,64 tấn Tình hìnhphát triển kinh tế của huyện phù hợ với chính sách phát triển của cả đất nước là giảm
cơ cấu trong ngành nông- lâm – thủy sản và tăng cơ cấu công nghiệp - xây dựng, dịch
vụ nhưng phải đảm bảo an toàn lương thực Thu nhập bình quân trong 3 năm qua đạt9,51 triệu đồng/ người/ năm
Trang 33Diễn giải ĐVT
SL CC(%) SL (%)CC SL (%)CC 08/07(%) 09/08(%) (%)BQ
Tổng Tỷ đồng 884,77 100,00 1148,46 100,00 1314,79 100,00 129,80 114,48 121,90Nông- lâm-
Thủy sản Tỷ đồng 226,50 25,60 256,79 22,36 262,96 20,00 113,37 102,40 107,75Công nghiệp-
xây dựng Tỷ đồng 397,26 44,90 526,45 45,84 617,95 47,00 132,52 117,38 124,72Dịch vụ Tỷ đồng 261,00 29,50 365,21 31,80 433,62 33,00 139,92 118,73 128,89Sản lượng
Bảng 3.1 Tình hình kinh tế của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam các năm 2007 – 2009
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam)
Trang 34Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sản xuất- kinh
doanh huyện Thanh Liêm năm 2008
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu sản xuất- kinh doanh huyện Thanh Liêm năm 2009
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Liêm, 2010)
3.1.5 Điều kiện xã hội
3.1.5.1 Đất đai và thổ nhưỡng
Qua bảng 3.2 ta thấy: nhìn chung diện tích của huyện là khá lớn 17360,45hanhưng trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn gần như hơn ½ diện tíchđất tự nhiên của huyện (53% năm 2007) tương ứng với 9200,95ha, trong đó diệntích trồng lúa chiếm tỷ lệ lớn (70,50% năm 2007 và tăng lên 71% năm 2009) trongdiện tích nông nghiệp Tiếp đó là diện tích đất lâm nghiệp chiếm 26% năm 2007tương ứng với 4513,67ha và chiếm 23,60% năm 2009 mà toàn bộ diện tích này chủyếu là những vùng đất đồi núi đá Diện tích đất chưa sử dụng của huyện chiếm một
Nông-lâm-thủy sảnCông nghiệp-xây dựngDịch vụ
Trang 35chiếm một diện tích đất khá nhỏ trong tổng diện tích đất của huyện nhưng lại tăngnhanh qua các năm (4,2% năm 2007 tương ứng với 729,13ha và tăng lên 10,8%tương ứng với 1874,90ha) tăng lên là do tăng lên của diện tích đất ở Như vậy tathấy huyện Thanh Liêm có lợi thế trong phát triển nông nghiệp nhưng lại ít có tiềmnăng cho phát triển lâm nghiệp.
Như vậy, trên địa bàn huyện Thanh Liêm diện tích đất nông nghiêp chiếm tỷ
lệ lớn Sản xuất nông nghiệp đang là ngành chính của người dân ở đây Vì vậy, vấn
đề phân bón rất cần được quan tâm Nếu huyện vẫn tiếp tục sử dụng lượng phânbón hóa học cho cây trồng thì vấn đề thoái hóa đất và ô nhiễm môi trường sẽnghiêm trọng hơn Tuy nhiên, nếu người nông dân nhận thức được cần phải thaythế phân hóa học thì sẽ giảm được nguy cơ trên Một biện pháp tốt nhất đó là sửdụng phân vi sinh bón cho đồng ruộng Đó là cách tăng năng suất cây trồng và bảo
vệ môi trường hiệu quả
3.1.6 Đặc điểm, tình hình dân số và lao động
Huyện Thanh Liêm có diện tích đất tự nhiên tương đối lớn 17360,45ha dân
số của huyện có 138745 người, trong đó chủ yếu là người Kinh Do đó, đây là mộtlợi thế cho huyện trong việc quản lý xã hội bởi dân số trong huyện có tính đồngnhất cao tránh được hiện tượng mâu thuẫn giữa các dân tộc
Dân số của huyện tăng dần trong ba năm (năm 2008 tăng 2,24% so với năm
2007, năm 2009 tăng 2,13% so với năm 2008) Tổng số hộ cũng tăng qua giai đoạn2007- 2009 toàn huyện tăng 619 hộ làm cho mật độ dân số ngày càng đông Dân sốtăng thì mua bán trao đổi ngày càng phát triển nhưng điều này đồng nghĩa với việclượng rác thải ra môi trường ngày càng nhiều
Trang 36Bảng 3.2 Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện năm 2007- 2009
Trang 37(Nguồn: phòng thống kê huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam)
Trang 38Nhìn vào bảng 3.3 tình hình dân số và lao động của huyện ta thấy tỷ lệ nam
nữ không chênh lệch nhau nhiều, tỷ lệ nam giới chiếm hơn 50% dân số của toànhuyện (50,15% năm 2009) và biến động qua từng năm (chiếm 51,10 năm 2007 vàgiảm xuống 50,15 năm 2009) Nữ giới cũng biến động qua các năm (năm 2008tăng 6,09% so với năm 2007, năm 2009 tăng chỉ có 0,32% so với năm 2008)
Về lao động, toàn huyện có 87236 lao động trong đó lao động trong nông nghiệp lớn chiếm 86,10% với 73110,20 người còn lại lao động CN- XD và TM-
DV chỉ chiếm 13,90% Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện có hơn 8000 ha chiếm 40 % tổng diện tích tự nhiên, đây là lợi thế để phát triển nông nghiệp
13.9%
86.1%
Nông nghiệp Phi nông nghiệp
Biểu đồ 3.3 Cơ cấu lao động trong các ngành của huyện Thanh Liêm
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Liêm năm 2009)
Trang 393.1.7 Điều kiện cơ sở hạ tầng
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của huyện Thanh Liêm Năm 2009
I Hệ thống điện
II Hệ thống giao thông
3 Đường cấp phối và đương đất km 306,75
III Công trình thuỷ lợi
2 Mương tưới tiêu
IV Công trình phúc lợi
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Thanh Liêm năm 2009)
Trang 40Qua thống kê cơ sở hạ tầng của huyện ta thấy: Nhìn chung cơ sở hạ tầngcủa huyện khá tốt, khá khang trang thể hiện như: Có 20/20 xã, thị trấn trong huyện
đã có điện lưới quốc gia với tồng công suất 12.420 KVA và 69 trạm biến áp, có 2trạm trung gian là Thanh Lưu và E32 Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 100%, 80% số hộtrong huyện đã có nước sạch để sử dụng, hệ thống đường giao thông thuận lợi vàphần lớn được cứng hóa, bêtông hóa và có quốc lộ 1A chạy qua Có bệnh việncủa huyện, các xã đã có trạm y tế có đầy đủ bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, đủ khảnăng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong huyện, hệ thốngthủy lợi đã được bê tông hóa cao đủ khả năng tưới tiêu cho toàn bộ diện tích gieotrồng trong huyện, Trường học đã có trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia,trường Mầm non và THCS cũng đang được quan tâm xây dựng để trở thànhtrường chuẩn trong nay mai Có hệ thống chợ phát triển thuận lợi cho việc buônbán trao đổi hàng hóa Như vậy, cơ sở hạ tầng của huyện Thanh Liêm đã đảm bảođược yêu cầu thực thế Tuy nhiên, ở một số chợ vẫn còn tình trạng rác thải chưađược thu gom và xử lý làm mất cảnh quan môi trường và an toàn thực phẩm
3.1.8 Giới thiệu về Dự án Môi trường và Cộng đồng ( CEDO)
Dự án “Môi trường và Cộng đồng” (CEDO) ở Hà Nam được tài trợ bởi tổchức năng lượng bền vững Đan Mạch (OVE) từ nguồn viện trợ của DANIDA
Dự án được thực hiện tại 3 xã Thanh Tuyền, Liêm Tuyền và Thanh Hà, huyệnThanh Liêm, tỉnh Hà Nam từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 6 năm 2012 Sau đónhững mô hình thành công của dự án ở Hà Nam sẽ được nhân rộng tại TháiNguyên trong 2 năm 2010 – 1012 Trung tâm Phát triển Cộng đồng bền vững (S-CODE) là trung tâm trực tiếp quản lý dự án S-CODE trực thuộc Hội nghiên cứuKhoa học Đông Nam Á, hoạt động trong lĩnh vực phát triển cộng đồng và xóa đóigiảm nghèo S-CODE làm việc tạo ra các giải pháp bền vững nhằm giảm nghèo
và cải thiện sức khỏe và điều kiện sống ở Việt Nam thông qua các dự án phát triểncộng đồng và bảo vệ môi trường S-CODE là đối tác chính trong dự án này, chịu