1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên

129 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,29 MB
File đính kèm thị trấn văn giang.rar (165 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.1 Mục tiêu chung Xác định nhu cầu tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân ở Thị trấn Văn Giang Huyện Văn Giang Tỉnh Hưng Yên. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng thực hiện BHYT đối với các hộ nông dân. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về BHYT và BHYT tự nguyện. Tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT TN của người nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang. Nghiên cứu nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân khi tham gia BHYT. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thực hiện BHYT tự nguyện của các hộ nông dân.

Trang 1

Do đó việc đảm bảo khả năng tài chính cho việc chi trả các khoản chi phí khámchữa bệnh là rất quan trọng đối với tất cả mọi người trong xã hội

Thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) cho nông dân là một nộidung quan trọng thuộc chính sách xã hội, nằm trong chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển BHYT tiến tới BHYT toàn

- Cơ sở lý luận

về nhu cầu

- Các trang web

- sách báo, tạp chí

- ấn phẩm định kỳ

- Quá trình xây dựng và phát triển BHYT TN của Việt nam và thế giới.

- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.

- Tình hình tham gia BHYT TN của người nông dân trong vùng.

- UBND huyện, xin số liệu tại phòng thống kê, phòng địa chính, tài chính, phòng BHYT.

- Diện tích, năng suất, sản lượng.

- Tuổi, giới tính, sức khỏe, thu nhập, thu chi BHYT.

- Thái độ, mong muốn của các hộ nông dân khi tham gia BHYT TN.

- Xem xét mức bằng lòng trả của người nông dân.

- Hộ nông dân trên địa bàn, lập phiếu điều tra bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp.

- Tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình

độ, thu nhập.

- Mức WTP, ý kiến của người

Trang 2

dân, thực hiện công bằng xã hội trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏenhân dân Đối với đối tượng là nông dân, thu nhập thấp, đời sống kinh tế cònnhiều khó khăn, thiếu thốn, thật khó có cơ hội được chăm sóc sức khỏe một cáchchu đáo, chưa nói gì đến quyền được hưởng những thành tựu của nền y học hiệnđại Một thực tế đang diễn ra là người nông dân không có chế độ BHYT nếukhông tham gia loại hình BHYT tự nguyện Khi chưa có BHYT, tự bản thânngười nông dân hoặc gia đình mình phải lo trang trải chi phí khi đi khám chữabệnh, việc trợ giúp của cộng đồng là không có hoặc không đáng kể Với những

lý do trên, chúng tôi xin nghiên cứu đề tài: “Xác định nhu cầu tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYT TN) của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên”.

Mục tiêu nghiên cứu nhằm: 1, Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn

về BHYT và BHYT tự nguyện; 2, Tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT TN của người nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang; 3, Nghiên cứu nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện của hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang; 4, Phân tích

các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân khi tham gia

BHYT; 5, Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thực hiện BHYT tự nguyện của

các hộ nông dân

2 Giải quyết vấn đề

Số liệu về nhu cầu tham gia BHYT TN của người nông dân trên địa bàn thịtrấn Văn giang được thu thập bằng phiếu điều tra xác định từ trước với 90 hộ nôngdân và 2 cán bộ (1 người ở BHXH huyện và 1 người thu BHYT TN ở UBND thịtrấn Văn giang) được phỏng vấn trực tiếp

Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên - Contingent Valuation Method(CVM) là tìm hiểu khả năng bằng lòng chi trả của khách hàng (WTP) về sự thayđổi của chất lượng hàng hóa dịch vụ nào đó Các hộ nông dân trên địa bàn thị

Trang 3

trấn được coi là đối tượng nghiên cứu của đề tài Đường cầu về việc tham giaBHYT TN của các hộ nông dân được mô tả là đường “sẵn lòng chi trả”.

*Thực trạng tham gia BHYT TN trên địa bàn thị trấn

Người nông dân ở thị trấn ngày càng quan tâm đến sức khỏe của bản thânhơn Điều đó được thể hiện qua việc số lượng người nông dân tham gia BHYT

TN tăng dần lên qua 3 năm gần đây Thôn Công luận 1 có số lượng người thamgia BHYT TN nhiều nhất trong 3 thôn Theo giới tính thì trên địa bàn thị trấn có

số lượng nữ giới tham gia BHYT TN nhiều hơn nam giới, chứng tỏ nữ giới quantâm đến bảo vệ sức khỏe nhiều hơn nam giới Trên địa bàn thị trấn thì ngườinông dân ở độ tuổi từ 46 – 60 tham gia BHYT TN nhiều nhất

*Nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân

Nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấnVăn giang là rất cao, có 90 hộ nông dân được hỏi đều có nhu cầu và có 100người tham gia Mức sẵn lòng trả khi tham gia BHYT TN của mỗi lứa tuổi làkhác nhau Mức sẵn lòng chi trả bình quân của 100 người nông dân được điềutra là 315.480 đồng/năm/người Sử dụng công thức nhân rộng cho tổng thể thìtổng số tiền thu được mỗi năm từ phía người nông dân chi trả ước tính sẽ là724.202.000 đồng/năm

*Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả khi tham gia BHYT TN của các hộ nông dân

Qua kết quả điều tra cho thấy các yếu tố được xác định là có ảnh hưởngtới mức WTP của các hộ nông dân gồm: Thu nhập (Inc), độ tuổi (Age), sựkhông hiểu biết về chính sách BHYT (D2) Trong đó, yếu tố thu nhập có ảnhhưởng lớn nhất đến mức WTP Người có thu nhập càng cao thì mức sẵn lòng chitrả càng lớn

*Một số giải pháp để các hộ nông dân tham gia BHYT nhiều hơn

Bên cạnh việc nâng cao mức sống của người nông dân cơ sở khám chữabệnh cần thay đổi thái độ làm việc của cán bộ y tế đối với người có thẻ BHYT

Trang 4

khi đi KCB và đầu tư phát triển hợp lý một số dịch vụ y tế kỹ thuật cao Cầntriển khai tuyên truyền phổ biến chính sách BHYT dưới nhiều hình thức phùhợp như loa phát thanh xóm, báo đài, ti vi…Nhà nước cần giảm bớt các thủ tục

đi khám chữa bệnh và chuyển tuyến điều trị đối với những người có thẻ BHYT

3 Kết luận

Thứ nhất, BHYT TN là để toàn dân được chăm sóc sức khoẻ một cách tốt

nhất BHYT TN cũng có nhiều người tham gia hơn trước, nhưng cho đến nay sovới yêu cầu thì BHYT TN cũng chưa thu hút được nhiều người tham gia nhưnhững người làm chính sách mong đợi

Thứ hai, Người dân trên địa bàn đã và đang tích cực tham gia BHYT TN.

Số lượng người tham gia BHYT TN qua các năm 2007, 2008, 2009 cho thấynhận thức về vai trò, lợi ích từ việc tham gia BHYT của người nông dân đangđược nâng lên

Thứ ba, Mức đóng 351.000 đồng/năm/người như hiện nay đối với người

nông dân ở thị trấn Văn giang là vẫn còn cao Bằng phương pháp bình quân sốhọc gia quyền tính được mức sẵn lòng chi trả bình quân là 315.480đồng/năm/người

Thứ tư, Yếu tố độ tuổi, thu nhập và sự không hiểu biết về chính sách

BHYT của người nông dân có ảnh hưởng lớn đến mức sẵn lòng chi trả củangười nông dân trong khu vực Nhưng yếu tố ảnh hưởng lớn nhất là yếu tố thunhập

Thứ năm, Một số giải pháp đề tài đưa ra về cơ sở khám chữa bệnh, triển

khai tuyên truyền, thủ tục đi khám chữa bệnh và chuyển tuyến điều trị đối vớinhững người có thẻ BHYT

Trang 5

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo như qui luật hình thành và phát triển của con người đó là “sinh lãobệnh tử” Một con người từ khi sinh ra, lớn lên và mất đi thì ốm đau bệnh tật làvấn đề không thể tránh khỏi, từ đó phát sinh các khoản chi phí khám chữa bệnh

Do đó việc đảm bảo khả năng tài chính cho việc chi trả các khoản chi phí khámchữa bệnh là rất quan trọng đối với tất cả mọi người trong xã hội

Trong sự nghiệp đổi mới, đất nước ta ngày một đi lên, đời sống của ngườidân ngày càng được nâng cao Vấn đề sức khỏe được quan tâm nhiều hơn Trong

đó quan tâm đến sức khỏe của nông dân, lực lượng chiếm trên 70% dân số là mụctiêu trong chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta [1]

Chính sách xã hội là một vấn đề quan trọng, luôn được sự quan tâm củaĐảng và Nhà nước ta Trong hệ thống chính sách xã hội, chính sách xã hội đốivới nông dân và nông thôn có vị trí đặc biệt quan trọng vì nó tác động trực tiếpđến phần đông dân cư nước ta hiện đang sinh sống ở nông thôn Việc đề rachính sách xã hội nông thôn phù hợp với từng thời kỳ và tổ chức thực hiện tốtcác chính sách sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tácđộng mạnh mẽ đến bước tiến của nông thôn, nông nghiệp nước ta trên conđường công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) cho nông dân là một nộidung quan trọng thuộc chính sách xã hội, nằm trong chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển BHYT tiến tới BHYT toàndân, thực hiện công bằng xã hội trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏenhân dân Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong xây dựng thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; phát triển kinh tế đi đôi

Trang 6

với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợpphát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh , giải quyết tốtcác vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người

Trong tiến trình phát triển của đất nước, chúng ta đã buộc phải chống baocấp trên nhiều lĩnh vực, trong đó có y tế Nhưng lĩnh vực y tế lại nảy sinh nhiềuvấn đề phức tạp Riêng đối với đối tượng là nông dân, thu nhập thấp, đời sốngkinh tế còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, thật khó có cơ hội được chăm sóc sứckhỏe một cách chu đáo, chưa nói gì đến quyền được hưởng những thành tựu củanền y học hiện đại Một thực tế đang diễn ra là người nông dân không có chế độBHYT nếu không tham gia loại hình BHYT tự nguyện Khi chưa có BHYT, tựbản thân người nông dân hoặc gia đình mình phải lo trang trải chi phí khi đikhám chữa bệnh, việc trợ giúp của cộng đồng là không có hoặc không đáng kể.Người nông dân rơi vào tình trạng bị động, bán nhà bán cửa và các tài sản khác

để đối phó với đau ốm, bệnh tật Không ít trường hợp người nông dân đã phảitrốn viện, bỏ mặc tính mạng do không có tiền chữa trị bệnh tật Việc thực hiệnBHYT cho người nông dân trong thời gian qua là một giải pháp đúng đắn trongcông tác khám chữa bệnh, giúp cho người nông dân chủ động nguồn tài chínhkhi đi khám chữa bệnh, từng bước nâng cao nhận thức của họ về văn hóa bảohiểm trong xã hội

Với những lý do trên, chúng tôi xin nghiên cứu đề tài: “Xác định nhu cầu tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYT TN) của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên”.

Câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết:

- BHYT tự nguyện là gì? Xác định nhu cầu tham gia BHYT tự nguyệngồm những nội dung gì?

- Thực trạng tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn nhưthế nào?

Trang 7

- Hiện nay nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện của các hộ nông dân ở thịtrấn Văn Giang như thế nào?

- Những giải pháp gì để thúc đẩy các hộ nông dân tham gia BHYT TN?

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về BHYT và BHYT tự nguyện

- Tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT TN của người nông dân trên địabàn thị trấn Văn Giang

- Nghiên cứu nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện của các hộ nông dântrên địa bàn thị trấn Văn Giang

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộnông dân khi tham gia BHYT

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thực hiện BHYT tự nguyện của các

hộ nông dân

1.3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến việc thực hiệnBHYT tự nguyện của các hộ nông dân

- Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là người nông dân trên địa bàn thị trấnVăn Giang

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Nội dung

Nghiên cứu nhu cầu và khả năng tham gia BHYT tự nguyện của các hộnông dân

Trang 8

1.3.2.2 Địa điểm

Nghiên cứu được tiến hành tại địa bàn thị trấn Văn Giang huyện VănGiang tỉnh Hưng Yên

1.3.2.3 Tthời gian

- Đề tài thu thập các số liệu trong 3 năm từ 2007- 2009

- Đề tài được triển khai nghiên cứu từ 23/01/2010 đến 23/05/ 2010

Trang 9

PHẦN II: TÔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Tổng quan về nhu cầu

2.1.1.1 Khái niệm về nhu cầu

Theo Kinh tế học: Nhu cầu được hiểu là nhu cầu về tiêu dùng, là sự cầnthiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó Khi nhu cầu của toànthể các cá thể đối với một mặt hàng trong một nền kinh tế gộp lại, ta có nhu cầuthị trường Khi nhu cầu của tất cả các cá thể đối với tất cả các mặt hàng gộp lại

ta có tổng cầu

Theo Philip Kotler chuyên gia marketing hàng đầu thế giới: “ Nhu cầu làcảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu của conngười là một tập hợp đa dạng và phức tạp, từ những nhu cầu có tính chất bảnnăng sinh tồn như ăn, uống, mặc, ở, an toàn… đến những nhu cầu về tình cảmtri thức, tôn trọng, tự thể hiện mình Những nhu cầu đó gắn liền với tình cảmcon người, gắn liền với sự phát triển của xã hội mà mỗi con người sống trongđó” ( Nguyễn Nguyên Cự, 2005)

Về bản chất, nhu cầu là một khái niệm tâm – sinh lý Tìm cách thỏa mãnnhu cầu luôn là ý chí của con người thuộc các thời đại khác nhau, đặc biệt trongnền sản xuất hàng hóa

D.N Uznetze người đầu tiên trong tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu

cầu Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi Tương ứng theomỗi kiểu hành vi là một nhu cầu Ông cho rằng: không có gì đặc trưng cho một

cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu Nhu cầu, đó là cội nguồn của tínhtích cực, với ý nghĩa này thì khái niệm nhu cầu rất rộng Nhu cầu là một thuộctính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi, ôngquan niệm rằng: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, nó xác định xu

Trang 10

hướng, tính chất hành vi Và ông cũng cho rằng: dựa vào nhu cầu của con người

để phân loại hành vi của con người.[2]

A.N.Leonchiep cho rằng: cũng như những đặc điểm tâm lý khác của con

người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn Theo ông, nhu cầuthực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về mộtcái gì đó Trong mối quan hệ giữa đối tượng thoả mãn nhu cầu và nhu cầu, ôngcho rằng: đối tượng tồn tại một khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mớichỉ có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đốitượng thoả mãn nhu cầu mới xuất hiện và lộ diện ra Nhờ có sự lộ diện ấy mànhu cầu mới có tính đối tượng của nó Nhu cầu, với tính chất là sức mạnh nội tạithì chỉ có thể được thực thi trong hoạt động Lúc đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như

là một điều kiện, một tiền đề cho hoạt động, chỉ đến khi chủ thể thực sự bắt đầuhành động với đối tượng thì lập tức xảy ra sự biến hoá của nhu cầu, nó khôngcòn tồn tại một cách tiềm tàng Sự phát triển của hoạt động càng đi bao xa baonhiêu thì nhu cầu càng chuyển hoá bấy nhiêu thành kết quả của hoạt động Khixem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng: khi mà đối tượngcủa nhu cầu xuất hiện, cái mà được nhận biết (được cảm nhân, được hình dung,hoặc được tư duy) thì có được chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động, tức làtrở thành động cơ Hay, nội dung đối tượng của nhu cầu chính là động cơ củahoạt động Một hoạt động diễn ra bao giờ cũng hướng vào việc đạt mục đích đạtkết quả nhất định nào đó Động cơ của hoạt động chính là cái nhu cầu đã đượcđối tượng hoá và được hình dung trước dưới dạng các biểu tượng của kết quảhoạt động.[2]

Tiêu biểu cho lý thuyết về nhu cầu của trường phái tâm lý học nhân văn là

“Thuyết thứ bậc nhu cầu” của A.Maslow (1908-1970) Theo lý thuyết của ôngthì nhu cầu của con người hình thành tạo nên một hệ thống và có thứ bậc từ cấpthiết đến ít cấp thiết hơn Hệ thống đó được trình bày như sau:

Trang 11

1 Physiological: các nhu cầu cơ thể như đói, khát, mệt,……

2 Safety/security: nhu cầu được an toàn, không bị nguy hiểm

3 Belonginess and love: nhu cầu sở hữu và yêu thương, liên hệ với ngườikhác và được chấp nhận

4 Esteem: nhu cầu được tôn trọng, được tán thành, được biết đến

5 Cognitive: nhu cầu nhạn thức, khám phá

6 Asethetic: nhu cầu thẩm mỹ, vươn tới cái đẹp

7 Self-actualization: nhu cầu tự hoàn thiện, tự khẳng định mình

8 Self-transcendence: nhu cầu tham gia vào những mối liên hệ liên cánhân, vượt ra khỏi cái tôi của mình, giúp người khác tự khẳng định họ và tựnhận ra những giá trị của họ

Theo ông, tầm quan trọng của các nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự từdưới lên trên theo thang nhu cầu: từ mức thứ nhất đến mức thứ năm Bốn mứcnhu cầu đầu tiên ông gọi đó là nhóm nhu cầu thiếu hụt Còn ở mức thứ năm, ôngchia nhỏ hơn: nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết…ông gọi lànhóm các nhu cầu phát triển Sự phân chia này tuy theo thang bậc nhưng nókhông phải là cố định mà chúng linh hoạt, thay đổi tuỳ theo điều kiện cụ thể.[2]

2.1.1.2 Khái niệm cầu

Có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa cầu, ở đây, tôi xin đưa raquan điểm của các chuyên gia trường đại học Nông nghiệp Hà Nội: “Cầu là sốlượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng (với tư cách là người mua) cókhả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau (mức giá chấp nhận được)trong phạm vi không gian và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thayđổi.” (TS.Trần Văn Đức và ThS Lương Xuân Chính, 2006)

Vậy khi nói đến cầu ta cần chú ý 2 điểm sau, thứ nhất là người mua cókhả năng mua và thứ hai là họ sẵn sàng mua

Luật cầu là luật của người tiêu dùng (người mua), bởi vì họ bao giờ cũng

thích mua rẻ Luật cầu chỉ ra rằng: có một mối quan hệ nghịch biến giữa giá cả

Trang 12

và lượng cầu hàng hóa dịch vụ Điều đó có nghĩa là: khi giá cả hàng hóa dịch vụgiảm xuống thì lượng cầu thị trường sẽ tăng lên và ngược lại (với điều kiện cácyếu tố khác không thay đổi).

Nghiên cứu luật cầu rất có ý nghĩa trong thực tiễn: muốn bán được nhiềuhàng hóa thì người sản xuất phải giảm giá bán

Hàm cầu có dạng tổng quát: QD (x,t) = f (Px ; I; Py; T; N; E…)

về thị hiếu sở thích của người tiêu dùng ; N là quy mô dân số ; E là kỳ vọng củangười tiêu dùng về sự thay đổi các yếu tố trên

D Q 0

Trang 13

* Các yếu tố ảnh hưởng đến Cầu

a, Giá cả hàng hóa dịch vụ đang xét (P X ): Nếu các yếu tố khác không đổi,

khi giá hàng hóa X tăng thì lượng cầu của nó giảm và ngược lại Nói cách khácgiữa PX và QD tồn tại mối quan hệ nghịch biến như trong luật cầu đã chỉ ra

b, Thu nhập của người tiêu dùng (I): Thu nhập thể hiện khả năng thanh

toán của người tiêu dùng khi mua hàng hóa dịch vụ Do đó, sự thay đổi thu nhập

sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cầu hàng hóa trên thị trường Khi thu nhập tăng cầuhàng hóa thông thường tăng còn cầu hàng hóa thứ cấp giảm và ngược lại

c, Giá cả hàng hóa liên quan (P Y ): Cầu của hàng hóa không những chỉ

phụ thuộc vào giá của hàng hóa đó mà còn phụ thuộc vào giá của các hàng hóa

có liên quan Các hàng hóa liên quan được chia làm hai loại: hàng hóa thay thế

và hàng hóa bổ sung

+ Hàng hóa thay thế: Hai hàng hóa được gọi là thay thế khi người ta cóthể sử dụng hàng hóa này thay thế cho hàng hóa kia và ngược lại mà không làmthay đổi giá trị sử dụng của chúng Ví dụ: cơm và phở, thịt lợn và thịt gà, bia vàrượu….Khi đó, nếu giá thịt gà tăng thì người tiêu dùng chuyển sang mua thịt lợnthay thế Như vậy, khi X và Y là hai hàng hóa thay thế thì quan hệ giữa giá hànghóa Y (PY) và cầu hàng hóa X (QDX) là quan hệ đồng biến

+ Hàng hóa bổ sung: Hai hàng hóa được gọi là bổ sung khi sử dụng hànghóa này thì phải kèm theo hàng hóa kia Ví dụ: xe máy, ô tô và xăng, dầu, nhớt;bếp ga và ga… Khi đó, nếu giá xăng tăng lên thì cầu xe máy, ô tô sẽ giảm xuống

và ngược lại (với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi) Như vậy, khi X và

Y là hai hàng hóa bổ sung thì quan hệ giữa giá hàng hóa Y(PY) và cầu hàng hóaX(QDX) là quan hệ nghịch biến

d, Thị hiếu, sở thích người tiêu dùng (T): Nó là ý thích, ý muốn chủ quan

của người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa dịch vụ Vì vậy, thị hiếu phụ thuộcvào rất nhiều yếu tố như giới tính, dân tộc, tuổi tác, môi trường sống, “mốt” tiêudùng….Nhìn chung, yếu tố này ít thay đổi vì thị hiếu người tiêu dùng rất đa

Trang 14

dạng và phức tạp, nó thuộc yếu tố tâm lý, xã hội nên khi nghiên cứu phải chọnmẫu đại diện, từ đó có thể lượng hóa và suy rộng cho tổng thể.

e, Quy mô dân sô hay số lượng người tiêu dùng (N): Cầu thị trường được

tập hợp từ cầu của các cá nhân có tham gia thị trường Do đó, khi số lượngngười tiêu dùng tăng thì cầu hàng hóa sẽ tăng và ngược lại

f, Kỳ vọng của người tiêu dùng (E): Cầu hàng hóa sẽ thay đổi vì nó phụ

thuộc các kỳ vọng của người tiêu dùng Kỳ vọng được xem là sự mong đợi, dựđoán của người tiêu dùng về sự thay đổi các yếu tố xác định cầu trong tương lainhưng lại ảnh hưởng tới cầu hàng hóa hiện tại sẽ giảm và ngược lại Các kỳvọng về thu nhập, thị hiếu hoặc số lượng người tiêu dùng, đều tác động đến cầuhàng hóa đang xét

Ngoài ra, điều kiện tự nhiên, chính sách kinh tế vĩ mô (như chính sách trợcấp, thuế thu nhập) của Nhà nước …cũng ảnh hưởng đến cầu hàng hóa dịch vụ.Chẳng hạn về mùa hè cầu về nước giải khát, quạt điện, máy điều hòa sẽ tăng;còn về mùa đông cầu về quần áo ấm, chè, thức ăn nóng sẽ tăng…

2.1.1.3 Thặng dư của người tiêu dùng và mức sẵn lòng chi trả (willingness to pay)

a, Thặng dư của người tiêu dùng

Đối với các loại hàng hóa thặng dư của người tiêu dùng là sự chênh lệchgiữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêu dùng một loại hàng hóa, dịch vụ vànhững chi phí thực tế để trả cho đơn vị hàng hóa đó

Hình 2.2 Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư người tiêu dùng

Trang 15

Trong đó : P là giá hàng hóa.

Q là khối lượng hàng hóa

P*, Q* là giá và khối lượng hàng hóa cân bằng trên thị trường

PA là mức giá mà cá nhân sẵn lòng chi trả

Diện tích dưới đường cầu là mức WTP

Diện tích hình OABQ* biểu hiện tổng giá trị lợi ích

Diện tích hình AP*B biểu hiện thặng dư tiêu dùng (CS)

Diện tích hình OP*BQ* là tổng chi phí thực tế theo giá thị trường.Trên hình 2.1.1.3, thặng dư người tiêu dùng đối với hàng hóa X ở mức giá

P*, sản lượng cân bằng Q* Đây chính là thặng dư phát sinh khi người tiêu dùngnhận được nhiều hơn cái mà họ trả theo quy luật độ thỏa dụng cận biên giảm dần

b, Mức sẵn lòng chi trả (WTP) – Thước đo giá trị kinh tế

Thực chất WTP chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng của khách hàng.Thông thường, khách hàng thông qua giá thị trường để thanh toán các hàng hóa,dịch vụ mà họ tiêu dùng Nhưng có nhiều trường hợp tự nguyện chấp nhận chicao hơn giá thị trường để được tiêu dùng và mức này cũng khác nhau

Mức WTP chính là thước đo của sự thỏa mãn và mức WTP cho mỗi đơn

vị hàng hóa, dịch vụ tăng thêm sẽ giảm xuống khi khối lượng tiêu dùng hànghóa, dịch vụ đó tăng thêm Nó tuân theo quy luật độ thỏa dụng cận biên giảmdần Do vậy, đường sẵn lòng chi trả được mô tả giống như đường cầu Đườngcầu là cơ sở xác định lợi ích cho xã hội từ việc tiêu dùng một loại hàng hóa nhấtđịnh Miền nằm dưới đường cầu đo lường tổng giá trị của mức WTP

WTP = MP + CSTrong đó: WTP là mức sẵn lòng chi trả

MP là chi phí theo giá thị trường

CS là thặng dư người tiêu dùngBHYT là hàng hóa nửa công cộng nên khi xác định mức giá liên quan đếnmức WTP cao nhất sẽ khó xác định vì vậy để đánh giá mức WTP của các cá

Trang 16

nhân cần sử dụng các phương pháp khác như phương pháp đánh giá ngẫu nhiên(CVM), phương pháp du lịch chi phí (TCM)….

2.1.2 Một số khái niệm cơ bản

2.1.2.1 Bảo hiểm xã hội (BHXH)

Bảo hiểm xã hội theo tổ chức lao động thế giới ILO: là sự bảo vệ của cộngđồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồnđóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thươngtật, già yếu, thất nghiệp Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đôngcon để ổn định đời sống của thành viên và đảm bảo an toàn xã hội”

Theo luật BHXH ở Việt Nam: “ BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bùđắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi laođộng hoặc chết, trên cơ sở đóng vào bảo hiểm xã hội.”

Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN): “là loại hình BHXH mà ngườilao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng góp và phương thứcđóng góp phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH”

Bảo hiểm xã hội bắt buộc: “là loại hình BHXH mà người lao động vàngười sử dụng lao động phải tham gia”

2.1.2.2 Bảo hiểm y tế (BHYT)

Theo luật BHYT số 25/2008/QH12 tại Việt Nam: “BHYT là hình thứcbảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đíchlợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm thamgia theo quy định của Luật này”

Theo quy định tại Điều 1 Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định63/2005/NĐ-CP thì: "Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội do Nhà nước tổchức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, ngườilao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí KCB theo quy định củaĐiều lệ này cho người có thẻ BHYT khi ốm đau".[3]

Trang 17

Tổ chức, quản lý BHYT [3]

Hệ thống tổ chức:

1 Thủ tướng Chính phủ quy định hệ thống tổ chức thực hiện chính sáchbảo hiểm y tế theo Điều lệ BHYT thống nhất, đồng bộ từ trung ương đến địaphương

2 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan tổ chức thực hiện chính sách bảohiểm y tế theo quy định tại Điều lệ này

Quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế:

1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế trên phạm vi

c) Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, giải quyết các vướng mắc trong việcthực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế nhằm bảo đảm quyền vàtrách nhiệm của người tham gia bảo hiểm y tế, của các cơ sở khám, chữa bệnhbảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

3 Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ trongphạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện chức năngquản lý nhà nước về bảo hiểm y tế

4 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cótrách nhiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh, thành phố vớicác nội dung:

Trang 18

a) Chỉ đạo, tổ chức triển khai chính sách về bảo hiểm y tế, bao gồm cảbảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện trên địa bàn tỉnh, thành phố

b) Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảohiểm y tế và giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc khám, chữa bệnh chongười có thẻ bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh, thành phố

Đặc điểm của bảo hiểm y tế

Trên cơ sở khái niệm BHYT nói trên, có thể thấy bên cạnh những tínhchất chung của một chế độ an sinh xã hội, BHYT còn có một số đặc điểm sau:

- BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi, bao gồm mọi thành viên trong

xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác, khu vực làm việc, hình thức quan

hệ lao động…

- BHYT không nhằm bù đắp cho thu nhập cho người hưởng bảo hiểm(như chế độ BHXH ốm đau, tai nạn lao động…) mà nhằm chăm sóc sức khỏecho họ khi bị bệnh tật, ốm đau… trên cơ sở quan hệ BHYT mà họ tham gia

BHYT được nhiều nước trên thế giới triển khai độc lập Loại hình này cóđối tượng tham gia rất rộng, đó là mọi người dân có nhu cầu bảo hiểm cho sứckhỏe của mình Trong thời kỳ đầu triển khai, các nước thường chia ra 2 nhómđối tượng tham gia là: đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc và đối tượng thamgia bảo hiểm tự nguyện Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí khám chữa bệnhcho người có thẻ BHYT người ta phân ra: BHYT trọn gói và BHYT thôngthường (PGS.TS Nguyễn Viết Vương, 2006)

Ở nước ta, BHYT được triển khai độc lập từ năm 1992 theo Nghị định299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) Bộ Y

tế chịu trách nhiệm quản lý nhà nước, còn cơ quan BHYT phối hợp với các cơ

sở khám chữa bệnh quản lý nghiệp vụ Đối tượng tham gia BHYT cũng đượcphân làm 2 loại: bắt buộc và tự nguyện Trong những năm đầu thực hiện, BHYT

đã bộc lộ rõ khá nhiều bất cập cần bổ sung hoàn thiện, vì thế ngày 13/8/1998Chính Phủ ban hành Nghị định 58/1998/NĐ-CP về việc bổ sung sửa đổi một số

Trang 19

điều trong điều lệ BHYT ban hành năm 1992 Năm 2002 Thủ tướng Chính Phủ

ra quyết định số 20/TTg/2002 về việc sát nhập BHYT vào BHXH Việt Nam.Việc sát nhập này là phù hợp vì đã tránh được những hiện tượng chồng chéotrong khâu tổ chức thực hiện, giảm được chi phí quản lý Khi triển khai kết hợpBHYT chỉ là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH Do vai trò và lợi íchcủa BHYT đem lại cho nên Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đặt ra mục tiêu phấnđấu đến năm 2010 nước ta sẽ thực hiện BHYT toàn dân (PGS.TS Nguyễn ViếtVương, 2006)

2.1.2.3 Bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYT TN)

Theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP: “ BHYT TN là hình thức BHYTđược thực hiện trên cở sở tự nguyện của người tham gia”

Cần phân biệt với BHYT bắt buộc: “là hình thức BHYT được thực hiệntrên cơ sở bắt buộc của người tham gia”

2.1.3 Nội dung của Bảo hiểm y tế tự nguyện

2.1.3.1 Đối tượng của BHYT TN

1 Đối tượng tự nguyện tham gia BHYT theo quy định tại Điều 51 LuậtBHYT và khoản 2 Điều 2 Nghị định số 62/2009/NĐ-CP bao gồm: [4]

a) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quyđịnh của pháp luật về cán bộ, công chức;

b) Người lao động nghỉ việc đang hưởng chế độ ốm đau theo quy địnhcủa pháp luật về bảo hiểm xã hội do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trịdài ngày do Bộ Y tế ban hành;

c) Học sinh, sinh viên đang theo học tại các nhà trường trừ những ngườitham gia BHYT theo đối tượng khác;

d) Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp vàdiêm nghiệp;

đ) Thân nhân người lao động làm công hưởng lương theo quy định củapháp luật về tiền lương, tiền công; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể

Trang 20

2 Đối tượng quy định tại các điểm a, d và đ khoản 1 Điều này thực hiệntheo địa giới hành chính; các đối tượng quy định tại các điểm b và c khoản 1Điều này thực hiện theo đơn vị cơ quan, trường học.

3 Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn cụ thể việc cấp thẻ BHYT chocác đối tượng, bảo đảm tính liên tục khi chuyển từ hình thức tự nguyện sangthực hiện theo quy định của Luật BHYT.[4]

2.1.3.2 Đặc điểm của BHYT TN

Mục tiêu của BHYT TN là nhằm thực hiện chính sách xã hội trong khám,chữa bệnh, không vì mục đích kinh doanh, không áp dụng các quy định củapháp luật về kinh doanh bảo hiểm

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, mức đóng hàng tháng đối với đốitượng tự nguyện tham gia BHYT bằng 4,5% mức lương tối thiểu và do đốitượng đóng

Căn cứ mức đóng BHYT, người tự nguyện tham gia BHYT đóng 6 thángmột lần hoặc đóng một lần cho cả năm vào quỹ BHYT

Khi đi khám bệnh, ngoài thẻ BHYT tự nguyện, người dân phải mang theochứng minh thư hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh hoặc sổ hổ khẩu Người dân xã nàothì đăng ký mua thẻ BHYT ở tại xã đó hoặc các đại lý do xã chứng nhận Chỉtrong trường hợp cấp cứu thẻ BHYT mới có giá trị ở bất kỳ cơ sở y tế nào, hoặcbệnh viện đó tự chuyển lên bệnh viện tuyến trên (phải có chứng minh thư vàgiấy chuyển viện) và trước khi ra viện phải xuất trình thẻ BHYT cùng với giấy

tờ có ảnh Trường hợp người dân mua thẻ BHYT rồi mới thay đổi địa điểm làmviệc thì có thế làm thủ tục chuyển đổi thẻ tại BHXH tỉnh nơi đã cấp thẻ và vàođầu mỗi quý

Khi tham gia BHYT tự nguyện tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập vàngoài công lập có hợp đồng khám chữa bệnh với BHYT, người có thẻ khi khámchữa bệnh ngoại trú được thanh toán 100% chi phí với mức dưới 100.000đồng/lần khám, được thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh trên 100.000

Trang 21

đồng nhưng không vượt quá 40 tháng lương tối thiểu cho một lần sử dụng dịch

vụ kỹ thuật đó

Chính phủ khuyến khích việc mở rộng và đa dạng hóa các loại hìnhBHYT tự nguyện, đồng thời khuyến khích Hội chữ thập đỏ, các Hội từ thiện, tổchức quần chúng, tổ chức kinh tế của Nhà nước và tư nhân đóng góp để mua thẻBHYT cho người nghèo Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quan tâm, tạođiều kiện thuận lợi để nhân dân địa phương được tham gia BHYT tự nguyện

Bộ Y tế và Bộ Tài chính quy định phạm vi quyền lợi được hưởng vàkhung đóng phí BHYT TN trên cơ sở giá dịch vụ y tế, quyền lợi được hưởng,điều kiện kinh tế - xã hội và số người tham gia của các nhóm đối tượng Trên cơ

sở quy định của Bộ Y tế và Bộ Tài chính, BHXH Việt Nam xác định mức đóng

cụ thể cho phù hợp với mỗi nhóm đối tượng và điều kiện kinh tế - xã hội củatừng địa phương

2.1.3.2 Quản lý Quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện[3]

1 Số thu bảo hiểm y tế tự nguyện được hạch toán, phân bổ và sử dụngphù hợp với yêu cầu bảo đảm chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia vàphục vụ sự nghiệp phát triển bảo hiểm y tế tự nguyện

2 Tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện được trích một phầnkinh phí trên tổng thu bảo hiểm y tế tự nguyện để chi cho công tác thu phí,phát hành thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện và chi bổ sung cho công tác tuyêntruyền, vận động, khen thưởng Tỷ lệ kinh phí được trích do liên Bộ Y tế -Tài chính quy định cụ thể

3 Sau mỗi năm hoạt động, nếu Quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện có kết dư thìchuyển toàn bộ số kết dư sang năm sau để sử dụng cho công tác khám, chữa bệnhcủa đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện Nếu tổng số thu của Quỹ Bảohiểm y tế tự nguyện nhỏ hơn tổng số chi thì được phép dùng nguồn kết dư của

Trang 22

Quỹ Bảo hiểm y tế bắt buộc hoặc nguồn hỗ trợ khác theo quy định để bảo đảmchi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ cho đối tượng được hưởng theo quy định.

4 Liên Bộ Tài chính - Y tế hướng dẫn chi tiết việc thực hiện, quản lý và

sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện theo quy định trên và phù hợp với Quychế quản lý tài chính của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam

2.1.4 Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT TN[3]

2.1.4.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm y tế

1 Tổ chức bảo hiểm y tế có quyền:

a) Yêu cầu người sử dụng lao động đóng và thực hiện chế độ bảo hiểm

y tế; cung cấp các tài liệu liên quan đến việc đóng và thực hiện chế độ bảohiểm y tế

b) Tổ chức các đại lý phát hành thẻ bảo hiểm y tế

c) Ký hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh đủ tiêu chuẩn theo quyđịnh để khám, chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế

d) Yêu cầu cơ sở khám, chữa bệnh cung cấp hồ sơ, bệnh án, tài liệu liênquan đến thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

đ) Từ chối thanh toán chi phí khám, chữa bệnh không đúng quy định củaĐiều lệ bảo hiểm y tế hoặc không đúng với các điều khoản ghi trong hợp đồng

đã được ký giữa tổ chức bảo hiểm xã hội với cơ sở khám, chữa bệnh

e) Thu giữ các chứng từ và thẻ bảo hiểm y tế giả mạo để chuyển cho các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật

g) Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người sửdụng lao động, người lao động vi phạm Điều lệ Bảo hiểm y tế

2 Tổ chức bảo hiểm y tế có trách nhiệm:

a) Tổ chức triển khai, thực hiện các chương trình bảo hiểm y tế, mở rộngđối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện theo quy định tại Điều

lệ này

Trang 23

b) Thu tiền đóng phí bảo hiểm y tế, cấp thẻ và hướng dẫn việc quản lý, sửdụng thẻ bảo hiểm y tế.

c) Cung cấp thông tin về các cơ sở khám, chữa bệnh và hướng dẫn ngườitham gia bảo hiểm y tế lựa chọn để đăng ký

d) Quản lý quỹ, thanh toán chi phí bảo hiểm y tế đúng quy định và kịpthời

đ) Kiểm tra, giám định việc thực hiện chế độ khám, chữa bệnh, thanh toánchi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

e) Tổ chức thông tin, tuyên truyền về bảo hiểm y tế

g) Giải quyết các khiếu nại về thực hiện chế độ bảo hiểm y tế thuộc thẩmquyền

h) Thực hiện các quy định của pháp luật và yêu cầu của cơ quan có thẩmquyền về chế độ thống kê, báo cáo hoạt động chuyên môn, báo cáo tài chính,thanh tra và kiểm tra

i) Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và trình cơ quan có thẩm quyền banhành các giải pháp mở rộng, phát triển bảo hiểm y tế nhằm thực hiện mục tiêubảo hiểm y tế toàn dân

k) Nghiên cứu, đề xuất và trình cơ quan có thẩm quyền các biện phápnhằm nâng cao quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế, cải tiến hình thứcthanh toán, bảo đảm cân đối quỹ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế và các vấn đề

có liên quan đến bảo hiểm y tế

2.1.4.2 Quyền và trách nhiệm của cơ sở khám, chữa bệnh

1 Cơ sở khám, chữa bệnh có quyền:

Trang 24

a) Yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội tạm ứng kinh phí và thanh toán chiphí khám, chữa bệnh theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm y tế và theo hợp đồngkhám, chữa bệnh đã ký.

b) Khám, chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ y tế cho người bệnh bảohiểm y tế theo đúng quy định chuyên môn

c) Yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp số liệu về số người đăng kýtại cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

d) Từ chối thực hiện các yêu cầu ngoài quy định của Điều lệ Bảo hiểm y

tế và hợp đồng đã ký với tổ chức bảo hiểm xã hội hoặc những yêu cầu khôngphù hợp với quy chế chuyên môn bệnh viện do Bộ Y tế ban hành

đ) Sử dụng nguồn kinh phí do tổ chức bảo hiểm xã hội thanh toán theoquy định

e) Khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi viphạm Điều lệ Bảo hiểm y tế hoặc khởi kiện ra toà khi phát hiện tổ chức bảohiểm xã hội vi phạm hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

2 Cơ sở khám, chữa bệnh có trách nhiệm:

a) Thực hiện đúng hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

b) Thực hiện việc ghi chép, lập chứng từ và cung cấp các tài liệu liên quanđến khám, chữa bệnh của người bệnh bảo hiểm y tế, làm cơ sở thanh toán vàgiải quyết các tranh chấp về bảo hiểm y tế

c) Chỉ định sử dụng thuốc, vật phẩm sinh học, thủ thuật, phẫu thuật, xétnghiệm, chuyển viện và các dịch vụ y tế khác một cách an toàn, hợp lý chongười bệnh bảo hiểm y tế theo quy định về chuyên môn kỹ thuật của Bộ Y tế

d) Tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tổ chức bảo hiểm xã hội thường trựctại cơ sở thực hiện công tác tuyên truyền, giải thích về bảo hiểm y tế, hướng dẫnngười tham gia bảo hiểm y tế về quyền lợi, trách nhiệm và giải quyết nhữngkhiếu nại liên quan đến việc khám, chữa bệnh của người có thẻ bảo hiểm y tế

Trang 25

đ) Kiểm tra thẻ bảo hiểm y tế, phát hiện và thông báo cho tổ chức bảohiểm xã hội những trường hợp vi phạm quy định về sử dụng thẻ bảo hiểm y tế

2.1.4.3 Quyền và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm y tế

1 Người có thẻ bảo hiểm y tế có quyền:

a) Được khám, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế

b) Chọn một trong các cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu thuận lợi tại nơi cưtrú hoặc nơi công tác theo hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm xã hội để được quản

lý, chăm sóc sức khỏe và khám, chữa bệnh

c) Được thay đổi nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu vào cuối mỗi quý.d) Yêu cầu cơ quan bảo hiểm xã hội và cơ sở khám, chữa bệnh bảo đảmquyền lợi theo quy định của Điều lệ BHYT

đ) Khiếu nại, tố cáo khi phát hiện hành vi vi phạm Điều lệ Bảo hiểm y tế

2 Người có thẻ bảo hiểm y tế có trách nhiệm:

a) Đóng phí bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn

b) Xuất trình thẻ bảo hiểm y tế khi đến khám, chữa bệnh

c) Bảo quản và không cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế

d) Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm xã hội,của cơ sở y tế khi đi khám, chữa bệnh

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 BHYT của các nước trên thế giới

Trang 26

2.2.1.1 BHYT ở Cộng Hòa Liên Bang Đức[5]

Trước khi có hệ thống BHYT theo luật định (còn gọi là BHYT công), ởĐức tồn tại nhiều nhóm tương trợ lẫn nhau mang tính chất tự nguyện, họ đónggóp một khoản tiền nào đó để hỗ trợ nhau khi gặp rủi ro, ốm đau Năm 1883,nước Đức dưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành đạo luật BHYT Theo đạoluật này, hệ thống BHYT ra đời với sự tham gia bắt buộc của cả người làm công

ăn lương và giới chủ, nhằm bảo vệ người lao động, đồng thời giảm thiểu chi phíbồi thường của giới chủ Nhà nước giữ vai trò quản lý, giám sát, định hướnghoạt động BHYT theo luật định Do có hệ thống luật pháp khá hoàn thiện,BHYT ở Đức phát triển nhanh chóng Theo quy định của luật pháp, hai loại hìnhBHYT công và BHYT tư nhân đang tồn tại và phát triển BHYT công, là hìnhthức bảo hiểm mang tính chất nghĩa vụ bắt buộc, hoạt động theo nguyên tắctương trợ cộng đồng: người giàu hỗ trợ tài chính cho người nghèo, người không

có con hoặc ít con hỗ trợ tài chính cho người có con, nhiều con BHYT tư nhân

là bảo hiểm thương mại, bảo hiểm căn cứ vào rủi ro của cá nhân BHYT ở Đứckhông tổ chức thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương, màcác Quỹ BHYT được phân loại theo các tiêu chí nghề nghiệp – xã hội Các quỹBHYT đựơc tổ chức theo hình thức các cơ quan tự quản theo luật công Đây làmột đặc thù trong luật tổ chức Nhà nước Đức và cũng là một đặc thù của châu

Âu Vai trò của Nhà nước chỉ giới hạn trong việc lập pháp, giám sát và pháp lý.Trực thuộc Bộ Y tế và Xã hội có Cục BHYT Liên bang tham mưu cho Bộ thựchiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động BHYT Hội đồng Quản lý quỹBHYT là tổ chức tự quản, 6 năm 1 lần tổ chức này bầu cử lại để chọn ra cácthành viên của mình Hội đồng Quản lý có các thành viên đại diện cho người laođộng, chủ sử dụng lao động, cơ quan BHYT Hội đồng quản trị BHYT quyếtđịnh đường lối hoạt động của quỹ, bầu ra ban giám đốc điều hành quỹ, quyếtđịnh mức đóng BHYT và tất cả các dịch vụ ngoài quy định của Luật BHYT

Trang 27

Tuy nhiên, Luật BHYT quy định các quỹ BHYT lớn phải có trách nhiệm đónggóp để lập quỹ điều tiết rủi ro cho các quỹ nhỏ

Luật BHYT Đức quy định, nếu quỹ BHYT có kết dư, năm sau quỹ đóphải giảm mức đóng, ngược lại, nếu trong năm bị bội chi, các quỹ có quyền tăngmức phí BHYT cho phù hợp đảm bảo cân đối thu chi

Đối tượng chủ yếu của BHYT công là người làm công ăn lương và thânnhân của họ Người về hưu là đối tượng thực hiện BHYT công theo luật định.Những đối tượng khác tham gia BHYT TN Luật BHYT quy định tỷ lệ đóng gópgiữa chủ sử dụng lao động và người lao động, không quy định cụ thể mức đóngBHYT Tùy thuộc vào đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù, Hội đồng quảntrị các quỹ BHYT tự quy định mức phí BHYT phù hợp, đảm bảo cân đối thu chi

và được các thành viên tham gia chấp nhận

Người tham gia BHYT công được hưởng các chế độ dưỡng sức, phòngbệnh và chẩn đoán bệnh sớm

Mặc dù có bề dày trên 120 năm, nhưng hoạt động BHYT công ở Đứccũng thường xuyên gặp phải những khó khăn, đang đối mặt với những tháchthức, đòi hỏi phải luôn có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp Các nhà chínhkhách không muốn tăng mức phí lên quá cao, ảnh hưởng đến thu nhập củangười làm công ăn lương Tình trạng thâm hụt quỹ BHYT công xảy ra liên tụctrong những năm gần đây Một trong những ngyên nhân là do nhiều người trẻ,khoẻ chuyển từ BHYT công sang BHYT tư nhân do lương của họ cao, vượt quangưỡng quy định Trong khi đó, số lượng người già trong BHYT công khá lớn,chi phí y tế tăng 4 -5 lần so với người trẻ Xu hướng càng về những năm sau nàymất cân đối thu chi BHYT càng gia tăng

Nhận xét và những kinh nghiệm rút ra

1 Hệ thống BHYT ở Đức có lịch sử trên 120 năm, thực hiện trên cơ sởluật định, trong thời gian đầu chủ yếu là bảo hiểm cho công nhân và người làm

Trang 28

công ăn lương, về sau mở rộng tới thân nhân của họ và các tượng khác, đến nay

đã gần như thực hiện BHYT toàn dân

2 Cộng hòa Liên bang Đức là nước sớm có Luật BHYT ngay từ khi thựchiện, với những quy định khung pháp lý cơ bản, giao quyền tự chủ, tự quản chocác quỹ BHYT Sự đa dạng hóa các quỹ BHYT tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ

3 Với một hệ thống pháp luật chặt chẽ, đồng bộ, chế tài xử phạt nghiêmminh, cơ chế chính sách y tế rõ ràng, các cơ sở y tế hợp tác tích cực với quỹBHYT để phục vụ người bệnh, là những điều kiện thuận lợi để BHYT ngàycàng phát triển

4 Tuy nhiên, những khó khăn, thách thức trong cân đối thu chi luôn là bàitoán đặt ra đối với những nhà hoạch định chính sách cũng như quản lý quỹBHYT ở Đức Điều đó đòi hỏi một mặt chính sách pháp luật luôn phải nghiêncứu, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, mặt khác các quỹBHYT luôn phải cải cách, hoàn thiện, năng động để hoạt động có hiệu quả hơnmới tồn tại được

2.2.1.2 BHYT ở Canada[6]

Canada là một nước lớn ở Bắc Mỹ, với diện tích 9,98 triệu km2 (lớn thứhai thế giới sau Nga) và dân số hơn 32 triệu người Canada là nước rất giàu tàinguyên thiên nhiên, 90% dân số sống tập trung ở ven biển Thái Bình Dương,Đại Tây Dương và trong phạm vi 200 km dọc biên giới với Mỹ

Về mặt an ninh xã hội, Canada thực hiện đầy đủ các chế độ về bảo hiểm

xã hội (BHXH), bảo trợ xã hội và phúc lợi xã hội mà Tổ chức Lao động quốc tế(ILO) khuyến nghị Các chế độ BHXH thực hiện theo nguyên tắc có đóng cóhưởng Tuy nhiên, các chế độ BHXH rất rộng rãi và hào phóng Pháp luậtCanada nói chung và pháp luật về BHXH - BHYT nói riêng rất phức tạp Vìcùng một vấn đề, ở Trung ương có Luật liên bang còn ở dưới có luật tỉnh.Thường thì Luật liên bang chỉ là luật khung, trong đó quy định các tiêu chí vàcác vấn đề mà luật tỉnh phải đề cập Luật để thi hành thực chất là luật tỉnh Về

Trang 29

cơ bản, cũng giống như ở các nước phát triển khác, luật Canada ban hành rất cụthể, chi tiết và có hiệu lực thi hành ngay mà không cần Nghị định hoặc Thông tưhướng dẫn kèm theo Chỉ riêng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, Canada có rấtnhiều luật khác nhau Mặt khác, riêng một vấn đề về BHYT lại phải thực hiệntheo nhiều luật khác nhau, ví dụ như về các vấn đề chế độ được hưởng, về khiếukiện, về thủ tục chi trả, về thành lập tổ chức… Nói chung, hoạt động BHYT cóquan hệ và chịu sự điều chỉnh của rất nhiều luật

Về cơ cấu tổ chức, Canada dường như không có tổ chức cứng chuyên vềBHYT Người có chức vụ cao nhất trực tiếp thực hiện chương trình được gọi làTổng quản lý (General Manager) Bên dưới là các chi nhánh và giúp việc choTổng quản lý là các Uỷ ban Tổng quản lý và người đứng đầu Uỷ ban do Thốngđốc bổ nhiệm theo nhiệm kỳ Các thành viên của Uỷ ban do Bộ trưởng Y tế tỉnh

bổ nhiệm hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, được trả thù lao tính theo giờ hoặcngày làm việc Các nhân viên làm việc theo hợp đồng lao động Cơ cấu tổ chức

cụ thể của từng tỉnh có khác nhau, nhưng theo một mô hình chung

Các Uỷ ban thường có là: Uỷ ban về tư cách thầy thuốc, Uỷ ban thẩmđịnh người hành nghề khám chữa bệnh, Uỷ ban thẩm định Y tế, Uỷ ban cố vấn,

Uỷ ban phúc thẩm, Uỷ ban chính sách, Uỷ ban chi trả, Uỷ ban điều tra… Mộttỉnh có thể có không đầy đủ các Uỷ ban kể trên Thành phần, đối tượng cũngnhư chuyên môn nghiệp vụ cần thiết của các thành viên Uỷ ban được quy địnhrất cụ thể trong luật Do đặc thù là chi phí khám chữa bệnh hoàn toàn do ngânsách Nhà nước cấp hàng năm nên không có Quỹ BHYT, do đó cũng không có

bộ phận làm nhiệm vụ quản lỹ quỹ Chính quyền địa phương có vai trò khá quantrọng đối với chương trình Ngoài các cơ sở khám chữa bệnh được cấp phépkhám chữa bệnh, các thầy thuốc tư nếu đủ điều kiện cũng được cấp phép khámchữa bệnh BHYT Đặc biệt là những người hành nghề khám chữa bệnh, dùkhông có bằng bác sĩ, thậm chí không có bất cứ bằng cấp gì nhưng nếu đủ điềukiện (tư cách, trình độ, kinh nghiệm…) thì cũng được cấp phép khám chữa bệnh

Trang 30

BHYT trong một số lĩnh vực nhất định (ví dụ như vật lý trị liệu, xoa bóp, một sốphương pháp điều trị không dùng thuốc, một số thuật nắn xương theo phươngpháp cổ truyền…) Tuy nhiên các hoạt động này được kiểm soát rất chặt chẽ Vềđiều kiện tham gia Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, người dân cóquốc tịch Canada đều là đối tượng được BHYT Các tỉnh ở Canada đều có luậtBHYT khác nhau, nhưng đối tượng đi khám chữa bệnh ở tỉnh khác trong nhữngtrường hợp theo pháp luật quy định thì cũng được thanh toán, thậm chí khámchữa bệnh ở nước ngoài nếu đủ điều kiện cũng được thanh toán Người dânCanada được hưởng nhiều chế độ BHYT mà ít nơi có, như chữa bệnh tâm thần,chữa răng, vật lý trị liệu… Mọi người dân được hưởng miễn phí các dịch vụkhám chữa bệnh và các chi phí về thuốc Thậm chí có người dân có quyền kýhợp đồng với các thầy thuốc tư đủ tư cách làm bác sĩ riêng của cá nhân hoặc củagia đình Các dịch vụ y tế và chi phí về thuốc do bác sĩ riêng thực hiện cũngđược BHYT thanh toán Tuy nhiên, khi điều trị nội trú, người bệnh không đượcthanh toán tiền ăn và tiền giường bệnh Trong một số trường hợp đặc biệt đượcthanh toán tiền giường bệnh, thì cũng chỉ được thanh toán đến 23 giờ ngày thựchiện phẫu thuật, còn từ ngày hôm sau người bệnh phải tự chi trả Tuy đượchưởng chế độ khám chữa bệnh miễn phí, nhưng không phải dịch vụ khám chữabệnh nào người dân cũng được thanh toán, mà chỉ được thanh toán những dịch

vụ có tên trong bảng danh sách các dịch vụ BHYT

Nhìn toàn cảnh bức tranh về BHYT của Canada, ta thấy rằng chế độBHYT ở Canada là rất hoàn hảo Hệ thống BHYT của Canada được thế giớiđánh giá rất cao và được nhiều người ngưỡng mộ Người dân Canada cũng rất tựhào về chế độ khám chữa bệnh miễn phí của đất nước mình Tuy nhiên, người tacũng chỉ ra một số điểm mà người dân chưa hài lòng, đó là:

- Do mật độ dân cư chênh lệch nhau nhiều nên việc cung cấp các dịch vụcũng gặp khó khăn

Trang 31

- Thời gian chờ đợi để phẫu thuật vẫn còn lâu, có khi kéo dài hàng tháng.

- Việc tìm một bác sĩ tư vấn ở Canada còn khó khăn

- Chế độ chăm sóc sức khỏe tốt như vậy nhưng tuổi thọ bình quân củangười dân Canada vẫn đứng dưới Nhật

2.2.2 Bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam[7]

Ngày 15/8/1992, chính sách BHYT đã chính thức được ra đời ở Việt Nambằng Nghị định số 299/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).Trong bản Điều lệ BHYT đầu tiên do Hội đồng Bộ trưởng ban hành đã đề cậpđến 2 loại hình BHYT là: BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện Mỗi loại hìnhquy định việc thực hiện đối với một số nhóm đối tượng BHYT bắt buộc dànhcho những người làm công hưởng lương, diện chính sách xã hội và ưu đãi xãhội, còn BHYT tự nguyện dành cho những người không thuộc diện tham giaBHYT bắt buộc Tạm chia việc thực hiện BHYT tự nguyện thành 3 giai đoạnnhư sau:

Giai đoạn I: Từ khi thực hiện thí điểm BHYT năm 1989 đến tháng 8/1998

- Từ năm 1989 đến 8/1992, thí điểm triển khai BHYT tự nguyện tại một

số huyện của các tỉnh: Hải Phòng, Phú Thọ, Quảng Trị, Bến tre và ngànhĐường sắt, việc thí điểm mang nặng tính khảo sát để xem xét sự "hưởng ứng"của người dân bởi mức đóng và mức hưởng BHYT khi đó rất thấp

- Từ 8/1992 đến 8/1998, BHYT tự nguyện được quy định duy nhất tại 1Điều trong Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định 299/HĐBT Tháng7/1994, liên Bộ Y tế - Giáo dục & Đào tạo ban hành Thông tư hướng dẫn thựchiện BHYT tự nguyện học sinh, còn BHYT tự nguyện nhân dân vẫn chưa cóhướng dẫn của liên Bộ Thời gian này, BHYT tự nguyện nhân dân vẫn hoàn toàn

là các mô hình thí điểm, cơ quan BHYT xin phép UBND cho triển khai trên một

số địa bàn

Giai đoạn II, từ tháng 8/1998 đến tháng 5/2005

Trang 32

Ngày 13/8/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 58/QĐ-CP kèm theoĐiều lệ BHYT mới thay thế Điều lệ BHYT đã ban hành năm 1992 Điều lệBHYT mới dành một Chương để quy định về BHYT tự nguyện Tuy nhiên, vìnhiều lý do khác nhau, đến tận năm 2003, liên Bộ Y tế - Tài chính mới có Thông

tư hướng dẫn thực hiện Giai đoạn chưa có Thông tư hướng dẫn thực hiệnBHYT tự nguyện, các địa phương vẫn tiếp tục triển khai các mô hình thí điểmthực hiện BHYT tự nguyện, nổi bật là TP Hà Nội, khi năm trước triển khai tạiGia Lâm, năm sau tại Sóc Sơn, với mong muốn thực hiện BHYT toàn dân trênđịa bàn một huyện Tuy nhiên, dù đầu tư nhiều tiền của và công sức, hầu hết các

mô hình thí điểm đều thất bại, mà nguyên nhân chính là không cân đối được thuchi quỹ BHYT tự nguyện Sau khi có Thông tư của liên Bộ Y tế - Tài chínhhướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện (năm 2003), tình hình triển khai BHYT

tự nguyện được thống nhất trên địa bàn cả nước, có bài bản hơn và xác lập đượcđịnh hướng phát triển Điều thành công cơ bản nhất của BHYT tự nguyện là quỹBHYT tự nguyện cân đối được thu chi Nguyên nhân cân đối được quỹ là do ápdụng phương thức cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh, cũng như chi trả có địnhmức đối với một số dịch vụ y tế có chi phí cao và thời điểm này việc lạm dụngquỹ cũng chưa phổ biến

Giai đoạn từ 2005 đến nay

Tháng 5/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/NĐ-CP kèm theo Điều

lệ BHYT mới, liên Bộ Y tế - Tài chính có các Thông tư số 21, 22 hướng dẫn thựchiện BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện Sự thay đổi cơ bản của chính sáchBHYT lần này là việc mở rộng quyền lợi hưởng thụ cho người tham gia BHYT,không thực hiện việc cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh và dỡ bỏ phương thứcthanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT do bệnh viện tự kiểm soát, để thựchiện phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo phí dịch vụ, mà thựcchất là thực thanh, thực chi các dịch vụ do bệnh viện đã cung cấp cho người bệnhBHYT Vấn đề cơ bản nhất, ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện BHYT tựnguyện của giai đoạn này là việc mất cân đối quỹ BHYT tự nguyện (Xem bảngthu chi quỹ BHYT TN dưới đây)

Trang 33

Bảng 2.1: Thu - chi quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện

(Nguồn: Vụ Bảo hiểm y tế Bộ y tế )

Qua bảng 2.1 có thể thấy rằng số tiền chi cho BHYT tự nguyện lớn hơnnhiều so với khoản tiền thu được Tình trạng đó có thể được lý giải là: nhữngngười mua BHYT TN chủ yếu là những người già, người mắc bệnh mãn tính,bệnh hiểm nghèo Theo quy định để có thẻ BHYT TN, người dân sống ở thànhphố, thị xã, thị trấn phải bỏ ra 320.000 đồng/năm, nông thôn bỏ ra 240.000đồng/năm Những người mắc bệnh mãn tính chỉ cần đi khám bệnh một lần đãvượt quá số tiền mua thẻ BHYT

BHYT tự nguyện được mở rộng đến các đối tượng: nông dân, hội viêncác hội đoàn thể quần chúng (phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh ), người ăntheo Tổng số người tham gia BHYT tự nguyện năm 2008 ước tính tăng hơn 2lần so với năm 2003 Cùng với việc mở rộng đối tượng, mở rộng quyền lợi, tăngtần suất khám chữa bệnh, chi trả chi phí khám chữa bệnh từ Quỹ BHYT chongười bệnh tăng dần hàng năm.[8]

Trang 34

Bảng 2.2: Đ ối tượng đã và chưa tham gia bảo hiểm y tế

Năm Tổng số người

(1000ng)

Đã tham gia BHYT bắt buộc

Đã tham gia BHYT tự nguyện

Chưa tham gia BHYT (1000ng)

(Nguồn: Vụ Bảo hiểm y tế Bộ y tế )

Năm 2007 đối tượng tham gia BHYT TN có giảm đi đáng kể so với năm

2006 là do thực hiện theo thông tư 06/2007/TTLT-BYT-BTC yêu cầu 10% số

hộ gia đình trên địa bàn và 100% thành viên hộ gia đình tham gia nên nhiềungười dân không có đủ điều kiện tham gia

Từ khi có thông tư 14 do Bộ Y tế và Bộ Tài chính ban hành cuối năm

2007 thì tình hình tham gia BHYT TN năm 2008 đã tăng lên nhưng vẫn cònthấp hơn năm 2006

2.2.3 Những bất cập trong việc thực hiện BHYT TN cho nông dân[9]

Số người tham gia thấp, phá vỡ nguyên tắc chia sẻ rủi ro lấy số đông bù

số ít: Số lượng nông dân tham gia BHYT rất thấp và không ổn định qua từng

năm, khi thấp nhất chỉ có vài chục ngàn người, khi cao nhất cũng chỉ được trên6,4 triệu người tham gia trên tổng số khoảng 40 - 50 triệu người dân sống ởnông thôn (trừ người nghèo đã có BHYT) Ở xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình,Yên Bái năm 2006, trong số 272 hộ gia đình nông dân, với tổng số nhân khẩu là

1034 người, trung bình mỗi hộ có 3,8 người, 36,4 hộ có 4 người, 24,3 hộ có 3người và hộ có 5 người là 18,8% Kết quả là có 165 hộ chỉ có 1 người tham giaBHYT, chiếm tỷ lệ 60,7%; hộ có 2 người tham gia chiếm tỷ lệ 33% Theo thống

kê của Ban BHXH tự nguyện, BHXH Việt Nam: Ở nhiều địa phương, bình quân

số nhân khẩu của hộ gia đình khi tham gia BHYT chỉ đạt 1,8 nhân khẩu/hộ, cá

Trang 35

biệt có tỉnh chỉ đạt 1,4 nhân khẩu/hộ, trong khi đó mức nhân khẩu bình quân của

hộ gia đình Việt Nam là 4,5

Không cân đối được thu chi, phá vỡ nguyên tắc độ tin cậy về tài chính: Số

liệu thống kê từ 13 địa phương về số chi khám chữa bệnh BHYT tự nguyện năm

2005, cả 13 tỉnh, thành phố đều chi vượt quỹ, có tỉnh vượt gấp 3 lần số quỹ được

chi Trong 6 tháng đầu năm 2006, BHXH các tỉnh đã thanh toán chi phí khám

chữa bệnh cho đối tượng BHYT tự nguyện trên 521 tỷ đồng, bằng 100% so với

số dự kiến thu cả năm 2006 Dự kiến tổng chi phí khám chữa bệnh của đốitượng tự nguyện cả năm 2006 là 1.400 tỷ, quỹ bội chi trên 900 tỷ đồng Nhưvậy, nguyên tắc về độ an toàn của quỹ đã không được đảm bảo Quỹ BHYT phải

có nguồn dự phòng lớn, muốn bảo hiểm cho mọi người thì quỹ phải an toàn,phải có dự phòng để phòng ngừa rủi ro Nguồn quỹ BHYT phải được đảm bảo

và luôn trong tình trạng sẵn có để trợ cấp, vì rủi ro về sức khỏe có thể đến bất kểkhi nào Quỹ BHYT bị mất cân đối sẽ không có đủ điều kiện chi trả chi phíkhám chữa bệnh cho người tham gia, dẫn đến phá sản, khi đó sẽ làm mất niềmtin đối với đối tượng tham gia vào chính sách BHYT

Tình trạng lựa chọn ngược diễn ra phổ biến: Thực trạng số lượt khám

chữa bệnh của người tham gia BHYT tự nguyện nhân dân thời gian qua cho thấycao vượt trội so với các nhóm đối tượng khác, nhiều người vừa mua thẻ BHYT

đã sử dụng ngay để đi khám chữa bệnh, các trường hợp bệnh nặng có chi phíkhám chữa bệnh lớn khá phổ biến Nhìn trên tổng thể, số người tham gia BHYTnông dân hiện nay rất thấp so với số đông thuộc diện vận động tham gia Nhữngngười sẵn sàng tham gia BHYT tự nguyện phần lớn có nhu cầu khám chữa bệnh

và mong muốn được tham gia, hiện tượng này còn được gọi là sự "lựa chọnngược" trong triển khai BHYT tự nguyện Thực tế đã cho thấy thực chất, chỉ cóngười đau ốm mới tham gia BHYT tự nguyện

Mục đích, ý nghĩa của BHYT nông dân bị hiểu sai lệch: Mục đích của

BHYT nói chung và BHYT nông dân nói riêng là góp phần trợ giúp tài chính, để

Trang 36

người tham gia vượt qua khó khăn khi không may gặp rủi ro ốm đau bệnh tật.

Do đó, ý nghĩa sâu xa của BHYT là hoạt động nhân đạo, bảo đảm an sinh xãhội Thực chất của hoạt động BHYT là quá trình phân phối lại tài chính giữanhững người tham gia khi không may rủi ro ốm đau, bệnh tật Phân phối trongBHYT không mang tính bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹBHYT nhưng không ốm đau thì cũng không được phân phối Hoạt động BHYTgắn kết các thành viên trong cộng đồng vì lợi ích của mỗi thành viên và cả cộngđồng Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, mục đích của BHYT nông dân đã bịhiểu sai lệch Người tham gia BHYT tự nguyện nói chung và nông dân nói riêng

đã nhầm tưởng BHYT cũng là hoạt động kinh doanh như các loại hình bảo hiểmthương mại, cứ ốm đau là tìm mọi cách mua thẻ BHYT mà không nghĩ đến sựtồn tại của quỹ

2.2.4 Một số yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT TN của nông dân[9]

Cơ chế chính sách chưa đồng bộ, chưa xác định đúng vị trí của chính sách BHYT cho nông dân trong lộ trình thực hiện BHYT toàn dân:

Việc đề ra chính sách BHYT toàn dân là chủ trương hoàn toàn đúng đắncủa Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy để thực hiện tốt chủtrương này cần thực hiện đồng bộ giữa chính sách BHYT với các chính sách xãhội khác, như chính sách tài chính y tế, chính sách thu viện phí, chính sách xóađói giảm nghèo Việc thực hiện BHYT cho nông dân có những đóng góp rấtlớn cho việc ra đời và phát triển chính sách BHYT ở nước ta, song vai trò tráchnhiệm của Nhà nước đối với việc tổ chức thực hiện BHYT nông dân còn chưa

rõ Chưa xác định đúng vị trí của chính sách BHYT nông dân trong chính sách

xã hội nông thôn, giải pháp thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏenông dân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; còn để BHYT nôngdân phát triển mang nặng tính tự phát, chưa kịp thời chỉ đạo tổng kết đánh giá,rút kinh nghiệm để có giải pháp phát triển Thực tế là, BHYT nông dân đượcchọn để thí điểm thực hiện chính sách BHYT, khi chính sách BHYT được ban

Trang 37

hành rộng rãi thì chính BHYT cho nông dân đã không được coi trọng, ngườinông dân được coi là đối tượng tự nguyện tham gia, họ phải đóng 100% tiềnBHYT, trong khi các đối tượng khác trở thành đối tượng bắt buộc thực hiện với

sự trợ giúp của Nhà nước bằng 2/3 mức đóng Nông dân là lực lượng đông đảotrong xã hội, việc thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân phụ thuộc vào tiến độ baophủ BHYT cho người nông dân, nhưng thực tế chưa được sự quan tâm thỏađáng, chưa có giải pháp đúng để thực hiện tốt BHYT cho đối tượng này

Nhận thức của xã hội về BHYT còn hạn chế

Thực tế cho thấy, hiện nay quá nhiều người chưa hiểu đầy đủ về nguyên

lý hoạt động của BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nói riêng Quỹ BHYT là

sự tập trung nguồn tài chính do những người tham gia đóng góp và để thanhtoán chi phí khám chữa bệnh cho chính họ nếu rủi ro ốm đau Cần phải làm cho

xã hội hiểu quỹ BHYT là nguồn tài chính có hạn, phụ thuộc vào sự đóng gópcủa cộng đồng những người tham gia BHYT Việc thực hiện BHYT nói chung

và BHYT tự nguyện nói riêng phải có điều kiện quy định Nếu không chỉ cóngười ốm mới tham gia, họ chỉ đóng vài trăm nghìn đồng nhưng khi vào viện,quỹ BHYT sẽ phải thanh toán hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng cho cácdịch vụ y tế mà họ đã sử dụng Do không có đầy đủ thông tin về BHYT, ngườinông dân không hiểu biết đầy đủ mục đích, ý nghĩa, quyền lợi và trách nhiệmtham gia BHYT Công tác tuyên truyền trong hoạt động BHYT hết sức quantrọng, đặc biệt là BHYT tự nguyện để người dân nhận thức đúng mục đích, ýnghĩa, quyền lợi và trách nhiệm tham gia BHYT Tuy nhiên, công tác này trongnhững năm qua chưa làm tốt, chưa có chiến lược và giải pháp cụ thể

Thu nhập của người nông dân còn thấp

Thực tế cho thấy, nông dân tham gia BHYT với tỷ lệ thấp chủ yếu là dothu nhập của người nông dân còn thấp, không có mô hình nào huy động được100% số hộ nông dân trong xã tham gia BHYT Thực tế với mức đóng hiện nay320.000đ/người/năm, đối với BHYT tự nguyện nhân dân ở nông thôn, nếu

Trang 38

không có sự hỗ trợ của nhà nước hoặc chính quyền địa phương, người nông dânrất khó có khả năng mua BHYT cho cả gia đình Cùng một lúc mua thẻ chonhiều người thì số tiền đó cũng không phải là nhỏ Người nông dân nếu có thamgia cũng chỉ có thể mua được một hai năm rồi bỏ, họ không thể có điều kiệntham gia liên tục, lâu dài

Nông dân là lực lượng lao động quan trọng tạo ra sản phẩm cho xã hội, đa

số nông dân có trình độ văn hóa thấp, quanh năm lao động vất vả trên đồngruộng, thu nhập chính từ lúa gạo và những cây lương thực khác Tuy sản xuấtnông nghiệp ngày càng phát triển, nhưng thực tế cho thấy thu nhập của ngườinông dân còn rất thấp so với người dân thành thị Người nông dân chỉ đủ cungcấp một phần chi phí cho cuộc sống bình thường, không thể có điều kiện để chiphí khi không may bị đau ốm bệnh tật

* Những vấn đề đặt ra

Việc thực hiện chính sách BHYT nông dân là hết sức cần thiết, kết quảđạt được trong thời gian qua có đóng góp to lớn trong xây dựng, hình thànhchính sách BHYT ở nước ta Mặc dù với tiềm năng rộng lớn, là lực lượng đôngđảo trong xã hội, kết quả thực hiện như thời gian qua thực sự chưa đạt yêu cầu

Từ thực tiễn đó, những vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách BHYT cho nôngdân là:

Thứ nhất, Nhà nước cần xác định rõ hơn vai trò trách nhiệm trước sức

khỏe người nông dân, sớm có giải pháp đúng đắn, kịp thời, đồng bộ và nhấtquán trong chính sách xã hội nông thôn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu tăngtrưởng kinh tế gắn liền với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngaytrong từng bước đi

Thứ hai, BHYT cho nông dân qua những bước thăng trầm, đóng góp đáng

kể đối với việc ra đời và phát triển của chính sách BHYT Tuy nhiên, BHYTnông dân đang đứng trước nguy cơ không tồn tại được, cần có tổng kết thực tiễn

Trang 39

về cái được và chưa được của BHYT nông dân; hoàn thiện cơ sở lý luận, khắcphục ngay những sơ hở trong thiết kế, xây dựng chính sách BHYT cho nôngdân, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của chính sách BHYT, củng cố niềmtin của nhân dân vào chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, qua thực tiễn đã cho thấy việc tổ chức BHYT nông dân theo hình

thức tự nguyện, không có sự hỗ trợ của Nhà nước là không khả thi Cơ chế tựnguyện tạo ra tình trạng chỉ người ốm mới tham gia, người khỏe không thamgia Bài học lớn nhất rút ra từ quá trình triển khai BHYT tự nguyện là tínhkhông bền vững của nó Kinh nghiệm của các nước đã thực hiện BHYT toàndân là phải ban hành luật tham gia bắt buộc Đối với nước ta, điều kiện kinh tế -

xã hội có những nét riêng, việc thực hiện bắt buộc là cần thiết và cần quy địnhngay trong Luật BHYT Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện cần có lộ trình phùhợp, đảm bảo tính khả thi cao Trong giai đoạn chưa thể thực hiện BHYT bắtbuộc cho toàn dân thì bên cạnh hình thức BHYT bắt buộc đối với các đối tượng

đủ điều kiện Nhà nước cần hỗ trợ đối tượng cận nghèo kinh phí mua BHYT tựnguyện Đồng thời, tiếp tục triển khai các mô hình BHYT tự nguyện dựa trêncộng đồng cho khu vực nông thôn, cho nông dân với những điều kiện cần thiếtđảm bảo những nguyên tắc của BHYT

Trang 40

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

Thị trấn Văn Giang nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hưng Yên, phía Bắcgiáp xã Phụng Công, phía Nam giáp xã Liên Nghĩa, phía Tây giáp với đê sôngHồng, phía Đông giáp với xã Long Hưng

Với vị trí địa lý trên thị trấn rất thuận tiên cho giao thông đi lại để giaolưu buôn bán và phát triển kinh tế cho vùng

3.1.2 Địa hình, khí hậu thời tiết

Thị trấn Văn Giang nằm ở trung tâm của huyện Văn Giang do đó địa hìnhtương đối bằng phẳng Do nằm ở ven sông Hồng, chịu ảnh hưởng của 18 nămliền vỡ đê từ thời vua Tự Đức nên độ cao đất đai trong thị trấn không đồng đều

và hình thành các dải cao thấp khác nhau theo hình dạng sóng Với địa hình trênthị trấn có lợi thế phát triển các sản phẩm nông nghiệp như cây ăn quả và pháttriển ngành chăn nuôi rất tốt

Theo dự báo của thủy nông huyện thì thị trấn Văn Giang có khí hậu nhiệtđới gió mùa với 4 mùa rõ rệt Tuy nhiên nền nhiệt giữa các mùa không chênhlệch nhiều, trung bình hàng tháng là 230C Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đếntháng 10, nhiệt độ hàng tháng dao động từ 250 – 280 Mùa khô từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau, t0 dao động từ 150 – 210, số giờ nắng trung bình hàng nămkhoảng 1450 giờ, lượng mưa trung bình 1575mm, độ bốc hơi bình quân là886mm, độ ẩm không khí 80 – 90% Có thể nói với khí hậu thời tiết trên thị trấnVăn Giang rất thuận tiện cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp thâm canh gối

vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi

Ngày đăng: 07/08/2016, 13:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thu - chi quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 2.1 Thu - chi quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện (Trang 33)
Sơ đồ 3.1. Khung phân tích - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
Sơ đồ 3.1. Khung phân tích (Trang 52)
Bảng  4.2: Tỷ lệ tham gia Bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện năm 2009 - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
ng 4.2: Tỷ lệ tham gia Bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện năm 2009 (Trang 63)
Bảng  4.5: Nhận thức của người nông dân về thực trạng hoạt động quản lý - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
ng 4.5: Nhận thức của người nông dân về thực trạng hoạt động quản lý (Trang 68)
Bảng 4.9: Một số đặc điểm cơ bản của người được phỏng vấn - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 Một số đặc điểm cơ bản của người được phỏng vấn (Trang 75)
Bảng 4.12 : Mức sẵn lòng chi trả của người nông dân <30 tuổi - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.12 Mức sẵn lòng chi trả của người nông dân <30 tuổi (Trang 77)
Đồ thị  4.1. Mức sẵn lòng chi trả ở độ tuổi từ < 30 - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.1. Mức sẵn lòng chi trả ở độ tuổi từ < 30 (Trang 78)
Đồ thị 4.2. Mức sẵn lòng chi trả của độ tuổi từ 30 - 45 - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.2. Mức sẵn lòng chi trả của độ tuổi từ 30 - 45 (Trang 79)
Đồ thị 4.3. Mức sẵn lòng chi trả của độ tuổi từ 46 - 60 - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.3. Mức sẵn lòng chi trả của độ tuổi từ 46 - 60 (Trang 80)
Đồ thị 4.4. Mức sẵn lòng chi trả của độ tuổi từ > 60 - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.4. Mức sẵn lòng chi trả của độ tuổi từ > 60 (Trang 81)
Bảng 4.16: Mức phí sẵn lòng chi trả của người nông dân ở các độ tuổi khác - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.16 Mức phí sẵn lòng chi trả của người nông dân ở các độ tuổi khác (Trang 82)
Đồ thị 4.5: Đường cầu thể hiện mức WTP của người nông dân - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.5: Đường cầu thể hiện mức WTP của người nông dân (Trang 83)
Đồ thị 4.6: Mục đích tham gia BHYT của người nông dân - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.6: Mục đích tham gia BHYT của người nông dân (Trang 85)
Đồ thị 4.7: Một số ý kiến của người nông dân về BHYT - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.7: Một số ý kiến của người nông dân về BHYT (Trang 86)
Đồ thị 4.8: Mối quan hệ giữa mức thu nhập với mức WTP - Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên
th ị 4.8: Mối quan hệ giữa mức thu nhập với mức WTP (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w