1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng

112 271 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,13 MB
File đính kèm quận Hải An.rar (136 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.1 Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài là tìm hiểu ứng của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin quy hoạch đất. Từ đó đề xuất một số khuyến nghị giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm đầu tư trong quá trình nuôi trồng thủy sản. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng xử của hộ nông dân với quy hoạch đất. Tìm hiểu các dự án quy hoạch tại địa phương trong giai đoạn từ năm 2005 – 2010 và thông tin quy hoạch đất tại đại phương giai đoạn 2010 – 2020 và sự mất diện tích của hộ dân. Tìm hiểu các kênh tiếp nhận thông tin quy hoạch đất của hộ dân nuôi trồng thủy sản Phân tích ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản trước thông tin quy hoạch đất và các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của hộ trên địa bàn phường Tràng Cát quận Hải An – thành phố Hải Phòng. Đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp cho hộ nuôi trồng thủy sản yên tâm sản xuất trong thời điểm có nhiều nguồn thông tin quy hoạch đất nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn quận Hải An thành phố Hải Phòng.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nộidung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trungthực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào Tôi xincam đoan những mục trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25/5/2010

Tác giả luận văn

Đinh Thị Nga

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗlực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các đoàn thể và

cá nhân trong và ngoài trường

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trường Đạihọc Nông nghiệp Hà Nội nói chung và các thầy cô giáo trong Khoa KT &PTNT nói riêng đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới giảngviên ThS Nguyễn Minh Đức, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôitrong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn ủy ban nhân dân phường Tràng Cát – QuậnHải An – Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nộidung đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình,bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đềtài khóa luận tốt nghiệp của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng, ngày 25 tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Đinh Thị Nga

Trang 3

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN

1 Đặt vấn đề : Xu thế chung của đất nước là phát triển theo hướng đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó đất nông nghiệp bi thu hồi để phục vụ chocác dự án với số lượng ngày càng nhiều Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đấtluôn nằm trong các dự án quy hoạch nhưng quy hoạch tới đâu, quy hoạch nhưthế nào thì người dân lại không hiểu hết được đặc biệt người nông dân mất đấtkhông nắm rõ được điều đó Chính sự thiếu hụt thông tin về quy hoạch đất đãdẫn tới các ứng xử khác nhau

Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu “Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin quy hoạch đất trên địa bàn Phường Tràng Cát – Quận Hải

An – Thành phố Hải Phòng” Mục tiêu của đề tài là là tìm hiểu ứng của hộ nuôi

trồng thủy sản đối với thông tin quy hoạch đất Từ đó đề xuất các giải pháp giúpngười nuôi trồng thủy sản yên tâm đầu tư trong quá trình nuôi trồng thủy sản Đểthực hiện đề tài tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp thuthập thông tin, phương pháp xử lý và phân tích số liệu, phương pháp phỏng vấnsâu, và sử dụng hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2 Kết quả nghiên cứu: Hiện tại trên địa bàn Phường có 2 dự án quy hoạch đất

trong đó tập trung chủ yếu là đất NTTS để xây dựng cơ sở hạ tầng đó là dự án

Dự án Dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng và dự án Dự án đường bao Đông Nam Điều tra 30 hộ thấy trung bình mỗi hộ bị thu hồi 11,70% tổng diện

tích đất NTTS Trong đó hộ bị thu hồi nhiều diện tích nhất nên tới 7,255ha

Sự xuất hiện hai dự án phát triển cơ sở hạ tầng đóng vai trò rất quan trọngtrong trong việc lưu thông hàng hóa đặc biệt là tuyến đường ôtô cao tốc Hà Nội– Hải Phòng đóng vai trò là tuyến đường huyết mạch quốc gia đã dẫn đến rấtnhiều thông tin liên quan đến quy hoạch đất Những thông tin ấy tồn tại dướinhiều kênh khác nhau Trong đó hộ NTTS tiếp nhận chủ yếu các kênh thông tin

đó là: kênh thông tin quy hoạch đất từ phía chính quyền địa phương, từ internet,

Trang 4

truyền hình, sách báo, truyền miệng và do hộ tự phán đóan Các kênh thông tinnày được các hộ tiếp nhận với tỷ lệ lần lượt là 50%; 13,33%; 70%; 33,33%;100%; 100% Trong đó kênh thông tin từ phía chính quyền địa phương và sáchbáo được người tiếp nhận tin tưởng hơn cả Tuy nhiên có một kênh thông tin từbản đồ quy hoạch đất lại không được bà con quan tâm tìm hiểu.

Từ việc tiếp cận các nguồn thông tin liên quan đến quy hoạch đất hộ đưa

ra nhiều cách ứng xử khác nhau tập trung vào các vấn đề như ứng xử trong sảnxuất, trong sinh kế mới và trong vấn đề bồi thường khi thu hồi đất Thấy 83,33%

hộ ứng xử bằng cách thay đổi mức đầu tư trong sản xuất, 60% hộ tìm kiếm cáchsinh kế mới và 73,33% hộ yêu cầu cần tăng thêm mức hỗ trợ khi thu hồi đất,trong đó hộ đặc biệt chú ý đến đầu tư trong sản xuất Trong vấn đề sinh kế mớichủ hộ chuyển dịch với tỷ lệ không cao, cách ứng xử phổ biến của hộ là đầu tưcho con cái học hành với mong muốn con cái tìm được một công việc tốt và ổnđịnh trong tương lai điều này khác với kết luận mà TS Đặng Kim Sơn (2008)tâm lý chung của nông dân là không muốn đầu tư lâu dài trên đồng ruộng và chocon cái học hành

Những hộ tiếp cận nhiều thông tin quy hoạch đất (nhóm 1) có tỷ lệ thayđổi mức đầu tư trong sản xuất là 75% thấp hơn nhóm tiếp cận ít thông tin quyhoạch đất (nhóm 2) 15% Yêu cầu nâng cao mức bồi thường cùa hai nhóm hộkhông có sự khác biệt lớn Tuy nhiên, hộ có nhiều hộ thuộc nhóm 1 có tỷ lệchuyển dịch lao động trong việc tìm kiếm nguồn sinh kế mới cao hơn nhóm 2với tỷ lệ chuyển dịch của nhóm 1 là 70% và nhóm 2 là 40% Kết quả của nhữngứng xử trong hộ không chỉ phụ thuộc vào nguồn thông tin mà còn phụ thuộc vàocác yếu tố khác:

- Chủ trương của địa phương là đầu tư thâm canh tăng năng suất trên mộtđơn vị diên tích mặt nước Song trước thông tin quy hoạch 100% hộ lựa chọnhình thức NTTS theo hướng quảng canh hoặc quảng canh cải tiến

- Tìm hiểu ảnh hưởng của trình độ văn hóa và thông tin quy hoạch tớiứng xử của hộ NTTS trong quá trình sản xuất, sinh kế thấy hộ thuộc nhóm 1 và

Trang 5

hộ thuộc nhóm 2 ở trình độ tiểu học và trung học cơ sở có ứng xử tương tự nhautrong sản xuất Hộ ở trình độ trung học phổ thông thuộc nhóm 1 có 16,67% tăngcường đầu tư trong sản xuất Trong khi nhóm 2 các hộ chỉ giảm hoặc giữ nguyênmức đầu tư trong sản xuất.

- Trong vấn đề sinh kế mới, lao động trong nhóm 1 đồng thời có có trình

độ văn hóa ở bậc cao hơn thì chuyển dịch sang lĩnh vực phi nông nghiệp càngnhiều hơn

- Mức sống của hộ khác nhau khi tiếp nhận thông tin quy hoạch đất cũngkhác nhau Thể hiện nhóm hộ khá khi tiếp nhận thông tin quy hoạch đất vẫn tăngcường đầu tư trong sản xuất với tỷ lệ 5,88% với nhóm hộ tiếp cận nhiều thôngtin và 12,5% với nhóm hộ tiếp cận ít thông tin 100% hộ thuộc nhóm hộ khá đềutìm cách thay đổi sinh kế mới cao hơn nhóm hộ có mức sống trung bình

- Những hộ có trên 10ha đất NTTS không bị thu hồi trong 2 dự án chủ hộlại có nhiều thông tin quy hoạch có tăng cường đầu tư trong NTTS với tỷ lệ là40% đồng thời tích cực tìm kiếm cách sinh kế mới Nhóm hộ trên 10ha đấtNTTS và tiếp cận ít thông tin quy hoạch đất chủ hộ không có ý định tìm phươngthức sinh kế mới

- Đối với hộ thuê đầm của ủy ban thời gian sử dụng đầm ngắn do vậy100% hộ đều thuộc nhóm 1 Trong đó có 20 % hộ tăng cường đầu tư trong sảnxuất song 100% hộ thuộc nhóm này luôn chủ động tìm cách ứng xử mới

- Tìm hiểu điển hình 2 hộ NTTS trên địa bàn thấy hộ ứng xử bằng cách hạn chếđầu tư sản xuất Trong vấn đề sinh kế mới của chủ hộ tham gia trực tiếp vàoNTTS thấy họ rất lúng túng trong việc chuyển cách sinh kế mới Chủ yếu hộ ứng

xử bằng cách đầu tư học hành cho con cái trong gia đình Đối với diện tích đất bịquy hoạch để tăng thêm mức hỗ trợ và bồi thường hộ tiến hành trồng các loạicây không đem lại hiệu quả về mặt kinh tế nhằm thu thêm mức bồi thường khithu hồi đất

3 Kết luận và khuyến nghị: Hiện tại trên địa bàn phường Tràng Cát đang có rất

nhiều kênh thông tin liên quan đến quy hoạch đất Trước những thông tin ấy đa

Trang 6

số hộ NTTS ứng xử bằng cách hạn chế sản xuất, chỉ có 5hộ chiếm 16,67%không thay đổi trong sản xuất Các hộ đều có yêu cầu tăng mức hỗ trợ khi thuhồi đất Tuy nhiên, những yêu cầu đó hiện vẫn chỉ tồn tại dưới dạng đề xuất,mong muốn của hộ Bên cạnh đó những hộ nằm trong diện quy hoạch còn ứng

xử bằng cách trồng mới nhiều loại cây không có giá trị nhằm tăng thêm mức bồithường Trong vấn đề sinh kế mới, hộ ứng xử chủ yếu bằng cách đầu tư cho concái học hành nhiều hơn còn về phía bản thân chủ hộ vẫn rất lúng túng trong việclựa chọn cho bản thân cách sinh kế mới

Trong quá trình nghiên cứu tôi đưa ra một số khuyến nghị:

Về phía chính quyền: Đề Nghị thành phố chỉ rõ các vùng quy hoạch, dự án thu

hồi đất để người dân có kế hoạch đầu tư đúng, phù hợp

Đề nghị ủy ban nhân dân phường Tràng Cát tìm hiểu và nắm rõ thông tinliên quan đến quy hoạch đất, truyền đạt tới tất cả các hộ tham gia NTTS kịp thời

và chính xác

Về phía hộ nông dân NTTS: Thông tin luôn có rất nhiều tuy nhiên hộ dân khi

tiếp nhận thông tin phải luôn đặt ra câu hỏi thông tin đó lấy từ đâu? Quy mô của

dự án? Phạm vi của dự án như thế nào? Và quan trọng hơn là khi nào dự án sẽ triển khai? Việc đặt ra những câu hỏi như vậy sẽ giúp hộ tiếp nhận thông tin một cách chủ động đồng thời đưa ra cách ứng xử phù hợp đặc biệt ứng xử trong sản xuất nhằm hạn chế sự lãng phí nguồn lợi có thể thu từ NTTS

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN iii

MỤC LỤC vii

DANH MỤC BẢNG x

DANH MỤC HỘP Ý KIẾN xii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xiii

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Phạm vi nội dung 3

1.4.2 Phạm vi không gian 4

1.4.3 Phạm vi thời gian 4

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG XỬ CỦA CỦA HỘ NTTS ĐỐI VỚI THÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT 5

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG XỬ CỦA HỘ NTTS ĐỐI VỚI THÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT 5

2.1.1 Một số khái niệm 5

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ỨNG XỬ CỦA HỘ NÔNG DÂN ĐỐI VỚI THÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT 13

Trang 8

2.2.1 Ứng xử của hộ nông dân đối với quy hoạch đất ở một số nước trên

thế giới 13

2.2.2 Ứng xử của hộ nông dân đối với quy hoạch đất ở Việt Nam 15

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .20 3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 20

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 20

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 21

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 31

3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 32

3.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 33

3.3 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 33

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 CÁC DỰ ÁN QUY HOẠCH ĐẤT TẠI PHƯỜNG TRÀNG CÁT 36

4.1.1 Các dự án quy hoạch đất trên địa bàn phường Tràng Cát giai đoạn 2005 - 2010 36

4.1.2 Thông tin về các dự án quy hoạch đất trên địa bàn phường giai đoạn 2010 đến 2020 44

4.1.3 Thực trạng thu hồi đất tại các hộ điều tra 45

4.2 CÁC KÊNH TIẾP NHẬN THÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT CỦA HỘ DÂN NTTS 49

4.2.1 Kênh thông tin trực tiếp từ chính quyền địa phương 49

4.2.2 Kênh thông tin do hộ tự tìm hiểu 50

4.2.3 Mức độ hiểu biết của hộ đối với các thông tin quy hoạch 53

4.2.4 Mức độ tiếp cận thông tin quy hoạch đất của các hộ NTTS 54

Trang 9

4.3 ỨNG XỬ CỦA HỘ NTTS TRƯỚC THÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT

VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ỨNG XỬ CỦA HỘ 56

4.3.1 Ứng xử của hộ NTTS trước thông tin quy hoạch đất 56

4.3.2 Tác động của thông tin quy hoạch và các yếu tố khác tới ứng xử của hộ NTTS 60

4.4 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM GIÚP HỘ NTTS YÊN TÂM SẢN XUẤT TRONG GIAI ĐOẠN CÓ NHIỀU THÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRÀNG CÁT 84

4.4.1 Khuyến nghị đối với chính quyền: 84

4.4.2 Về phía hộ nông dân NTTS 84

PHẦN V: KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 91

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Diện tích đất nông nghiệp của phường từ năm 2007- 2009 22

Bảng 3.2: Tình hình phân dân số và lao động phường Tràng Cát năm 2007 -2009 .25 Bảng 3.3: Giá trị sản xuất của phường năm 2007- 2009 28

Bảng 3.4: Tóm tắt nội dung, chỉ tiêu, nguồn thông tin và phương pháp thu thập thông tin 35

Bảng 4.1: bồi thường chi phí đào đắp bờ đầm 39

Bảng 4.2: Bồi thường công cụ sản xuất theo khẩu độ cống 40

Bảng 4.3: Bồi thường công cụ, dụng cụ theo diện tích đầm 41

Bảng 4.4: Bồi thường rào róc 41

Bảng 4.5: Bồi thường thủy sản 42

Bảng 4.6: Bồi thường thủy sản theo kỳ thu hoạch 42

Bảng 4.7: Hỗ trợ lao động khi thu hồi đất 43

Bảng 4.8: Thực trạng diện tích nuôi trồng và thu hồi đất NTTS của các hộ điều tra 46

Bảng 4.9: Thực trạng thu hồi đất cho hai dự án xây dựng cơ sờ hạ tầng tại Tràng Cát 47

Bảng 4.10 Các kênh tiếp nhận thông tin quy hoạch đất của hộ nông dân 50

Bảng 4.11 Mức độ hiểu biết của hộ đối với thông tin về các dự án quy hoạch đất trên địa bàn phường Tràng Cát 53

Bảng 4.12 Mức độ tiếp cận thông tin quy hoạch đất của các hộ NTTS 54

Bảng 4.13 Các dạng thông tin quy hoạch đất và tỉ lệ tiếp cận của hai nhóm hộ 54

Bảng 4.14 Ứng xử của hộ NTTS trước thông tin quy hoạch 57

Bảng 4.15 Mức độ đầu tư trong NTTS của 2 nhóm hộ NTTS 58

Bảng 4.16 Hình thức NTTS của các hộ dân trên địa bàn Phường Tràng Cát 61

Trang 11

Bảng 4.17 Tình hình cơ bản của hộ điều tra 62Bảng 4.18 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa và thông tin quy hoạch tới ứng xử

của hộ NTTS trong sản xuất 63Bảng 4.20 Đặc trưng của hộ điều tra theo thu nhập, diện tích, số nhân khẩu,

lao động 67Bảng 4.21: Ứng xử của hộ khi tiếp nhận nhiều thông tin quy họach 69Bảng 4.22 Diện tích đất NTTS, tỉ lệ thu hồi, thông tin quy hoạch đất và ứng

xử của hộ 74Bảng 4.23 Nhân khẩu trong hô, thông tin quy hoạch đất và ứng xử của hộ 76Bảng 4.24 Hiệu quả kinh tế trong NTTS của các hộ điều tra 78Bảng 4.25: Tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra 81Bảng 4.26: Quyền sử dụng đất của hộ, thông tin quy hoạch đất và ứng xử của hộ 82

Trang 12

DANH MỤC HỘP Ý KIẾN

Hộp 1: Triển khai thông tin quy hoạch 50

Hộp 2: Tiếp cận thông tin từ bản đồ quy hoạch đất 52

Hộp 3: Vấn đề ứng xử của hộ 56

Hộp 4: Cơ sở ứng xử của hộ 56

Hộp 5: Ứng xử của hộ ông Phạm Văn Sáu – một trường hợp điển hình 70

Hộp 6: Ứng xử của hộ NTTS kém hiệu quả 77

Hộp 7: Ứng xử của một trường hợp điển hình khi bị tác động đồng thời của yếu tố hiệu quả kinh tế trong NTTS và thông tin quy hoạch đất 79

Trang 13

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GCN- QSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 14

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Từ đại hội toàn quốc lần thứ VI đến nay cơ cấu nền kinh tế nước tađược điều chỉnh theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa Diệntích đất nông nghiệp được chuyển từ mục đích trồng trọt, chăn nuôi và nuôitrồng thủy sản sang mục đích sản xuất phi nông nghiệp Theo thống kê sơ bộcủa Bộ Tài nguyên - Môi trường, trong 7 năm qua (năm 2001-2007), tổngdiện tích đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp trên500.000 ha (chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử dụng) Đặc biệt, việc đấtnông nghiệp bị thu hồi và chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệphóa năm sau luôn tăng hơn năm trước Chỉ tính riêng trong năm 2007, diệntích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000 ha Trong đó riêng ngành nuôitrồng thủy sản trong năm 2009 cả nước giảm 35000ha diện tích nuôi trồngthủy sản xuống còn trên 1 triệu ha với sản lượng ước tính 2,3 triệu

Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đều nằm trong các quy hoạch,nhưng người dân lại thiếu những thông tin này Chính sự thiếu hụt thông tintrong quá trình quy hoạch và quản lý đất đai dẫn đến những cách ứng xử khácnhau của người dân trong vùng quy hoạch Thông thường khi tiếp cận mộtvấn đề luôn nảy sinh hàng loạt các thông tin khác nhau Đòi hỏi người tiếpnhận phải có một quá trình chon lọc và đưa ra cách ứng xử cho phù hợp Tuynhiên, sự hiểu biết của người nông dân có hạn Nên đứng trước những thôngtin khác nhau thì người nông dân có những cách ứng xử khác nhau trướcnhững thông tin đó Từ đó nghiên cứu ứng xử của người nông dân đối vớithông tin trong quá trình quy hoạch và quản lý đất nông nghiệp là một đòi hỏiquan trọng không chỉ riêng đối với các nhà quản lý mà còn là vấn đề mà nhànước đặc biệt quan tâm nhằm quy hoạch đất đạt hiệu quả cao

Trang 15

Phường Tràng Cát với lợi thế về nguồn nước lợ - là địa phương có 5km

bờ biển Trong nhiều năm liền nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản giảiquyết công ăn việc làm và làm giàu cho hàng trăm hộ ngay tại địa phương.Đồng thời tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động thường xuyên vàhàng nghìn lao động mang tính thời vụ

Theo quy hoạch phát triển chung của thành phố Hải Phòng và quận Hải

An phường Tràng Cát đã chuyển phần lớn diện tích đất nông nghiệp trong đó

có 102 ha diện tích đất phục vụ cho nuôi trồng thủy sản cho các dự án xâydựng cơ sở hạ tầng và phát triển công nghiệp của quận và thành phố Tuynhiên, quá trình quy hoạch diện tích đất nuôi trồng thủy sản trên địa bànphường diễn ra chưa đồng bộ, quá trình quy hoạch đất, và đưa đất vào mụcđích sử dụng cho dự án chưa có thông tin cụ thể dẫn đến hiện tượng có các

dự án treo hoặc tin đồn về việc thu hồi đất cho các dự án Song phần lớn đốitượng tiếp nhận thông tin liên quan đến việc thu hồi đất canh tác của gia đìnhlại chưa được chủ động tìm hiểu dẫn đến những thiếu hụt hoặc có hiểu biếtkhông rõ ràng trước những thông tin liên quan đến quy hoạch đất từ đó sẽhình thành nên những cách ứng xử khác nhau trước những thông tin đó?

Đến nay vấn đề thu hồi đất và sinh kế của người nông dân khi đất nôngnghiệp quy hoạch đã có nhiều đề tài đi sâu tìm hiểu Nhưng tìm hiểu ứng xửcủa người dân đối với thông tin quy hoạch đất lại có rất ít nghiên cứu đề cập

tới Từ đó tôi đi đến đề tài: “Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với

thông tin quy hoạch đất trên địa bàn Phường Tràng Cát – Quận Hải An – Thành phố Hải Phòng”.

Trang 16

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là tìm hiểu ứng của hộ nuôi trồng thủy sảnđối với thông tin quy hoạch đất Từ đó đề xuất một số khuyến nghị giúpngười nuôi trồng thủy sản yên tâm đầu tư trong quá trình nuôi trồng thủy sản

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng xử của hộ nông dânvới quy hoạch đất

- Tìm hiểu các dự án quy hoạch tại địa phương trong giai đoạn từ năm

2005 – 2010 và thông tin quy hoạch đất tại đại phương giai đoạn 2010 – 2020

và sự mất diện tích của hộ dân

- Tìm hiểu các kênh tiếp nhận thông tin quy hoạch đất của hộ dân nuôi trồng thủy sản

- Phân tích ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản trước thông tin quyhoạch đất và các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của hộ trên địa bàn phườngTràng Cát- quận Hải An – thành phố Hải Phòng

- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp cho hộ nuôi trồng thủy sảnyên tâm sản xuất trong thời điểm có nhiều nguồn thông tin quy hoạch đất nuôitrồng thủy sản nước lợ trên địa bàn quận Hải An- thành phố Hải Phòng

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Ứng xử của các hộ tham gia NTTS nước lợ trên địa bàn phường TràngCát và các dự án liên quan đến quy hoạch đất trên địa bàn phường Tràng Cát.1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Phạm vi nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản trongquá trình hoạch đất nông nghiệp Trong quá trình quy hoạch đất nông nghiệpngười nông dân có nhiều ứng xử khác nhau tuy nhiên trong đề tài tôi tập trungtìm hiểu một số nọi dung sau:

Trang 17

- Ứng xử của người dân trong sản xuất, trong bồi thường thu hồi đất vàsinh kế mới đối với thông tin quy hoạch đất ở cấp hộ.

- Một số yếu tố ảnh hưởng tới ứng xử của hộ

Trang 18

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG XỬ CỦA CỦA HỘ NTTS ĐỐI VỚI THÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG XỬ CỦA HỘ NTTS ĐỐI VỚI THÔNG TINQUY HOẠCH ĐẤT

b Ứng xử của hộ nông dân

* Đặc điểm tâm lý của hộ nông dân

Trình độ học vấn, trình độ văn hóa, truyền thống gia đình sẽ hình thànhnên tâm lý riêng của từng cá nhân kết hợp với phong tục làng xã, tập quáncanh tác chung của một vùng sẽ hình thành nên tâm lý chung của cộng đồng

Và chính tâm lý vốn được hình thành trong con người sẽ quyết định ứng xửcủa họ trước những tình thình huống hay thông tin mà họ tiếp nhận được

* Ứng xử của hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp

Trong bài giảng kinh tế hộ trang trại GS Đỗ Văn Viện chỉ ra: trong quátrình tồn tại và phát triển các nông hộ đều có mong muốn “ làm sao để đủ ăn,

đủ mặc; Mức thu nhập luôn ổn định và tăng trưởng; Hoàn thành các nghĩa vụvới gia đình và xã hội; Thời gian nghỉ ngơi, giải trí tăng lên; Lao động ít vất

Trang 19

vả hơn.” Những mong ước đó chi phối đến các ứng xử của hộ Trong đó tácgiả đề cập chủ yếu tới ứng xử của hộ nông dân với vấn đề hiệu quả kinh tế vàứng xử với rủi ro Đối với hiệu quả kinh tế trong điều kiện tự cung, tự cấp thìmục tiêu của hộ là tối đa hóa lợi ích còn trong điều kiện nông hộ bắt đầuquan tâm đến thị trường việc sử dụng kết hợp các yếu tố vốn có của hộ và chiphí bằng tiền mà hộ phải bỏ vào trong quá trình sản xuất chưa có sự bóc tách

rõ ràng nhưng trong những lúc khó khăn hộ tận dụng tối đa những thứ củanhà thậm chí bớt cả tiêu dùng, giảm chi bằng tiền tối thiểu để vượt qua áp lực,vượt qua khó khăn Hộ quan tâm đến hiệu quả kỹ thuật (đầu ra / đầu vào).Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa nông hộ cũng phải quantâm đến hiệu quả kinh tế, đồng thời cũng trong bài giảng kinh tế hộ trang trạitác giả Đỗ Văn Viện cũng chỉ ra đối với doanh nghiệp khi gặp rủi ro và điềukiện cụ thể họ có thể điều chỉnh, chuyển hướng hoặc phá sản còn hộ nông dântrong hoàn cảnh nào họ vẫn tồn tại họ ứng xử bằng cách: thu hẹp quy mô sảnxuất, sản xuất ở quy mô hợp lý hơn hoặc tối thiểu hóa rủi ro bằng con đườnghuy động cao hơn những chi phí không mất tiền

Trong một nghiên cứu của PGS TS Nguyễn Văn Song với đề tài “Cơ

sở kinh tế vi mô, hành vi ứng xử của người sản xuất và sự khác biệt trong ứng

xử của người nông dân đạt điểm tối đa hoá lợi nhuận” ông chỉ ra mục tiêuquan trọng nhất của người sản xuất là tối đa hoá lợi nhuận, người sản xuấtluôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, đồng thời đối mặtvới sự giới hạn về nguồn lực trong sản xuất (vốn và lao động)

Để tối đa hoá lợi nhuận, người sản xuất tuân theo hai nguyên tắc cơ bản: Thứ nhất, đầu tư lượng đầu vào tại điểm giá trị sản phẩm biên bằng với giá đầu vào (VMP = Pđầu vào); Thứ hai, sản xuất lượng đầu ra tại điểm chi phí biên

bằng với doanh thu biên (MC = MR)

Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đối tượng sản xuất là sinh vậtsống (cây trồng, vật nuôi), phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như khí

Trang 20

hậu, thời tiết Chính vì vậy, sản xuất nông nghiệp có một số đầu vào đó là cácđiều kiện tự nhiên như: độ phì của đất đai, đặc điểm sinh học của giống, ánhsáng mặt trời, nước mưa, đặc điểm khí hậu thời tiết Các đầu vào này có giábằng không (0) nên người sản xuất trong ngành nông nghiệp thường sản xuấttại điểm sản lượng tối đa, tại đó sản phẩm biên (MP) bằng không Bởi vì, họ

muốn tận dụng tối đa các loại đầu vào với giá bằng không (0) Như vậy, quy

luật giá trị sản phẩm biên bằng giá đầu vào (VMP = Pđầu vào) vẫn đúng đốivới sản xuất nông nghiệp Nhưng sản xuất nông nghiệp có nhiều loại đầu vàogiá bằng không (0) vì vậy người sản xuất luôn kỳ vọng mức năng suất, sảnlượng tối đa Ngược lại, khi giá đầu vào khác không (≠ 0), người sản xuất trongcác ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ sẽ không tối đa tại điểm tối đa hoásản lượng (tối đa hoá doanh thu) mà luôn đầu tư tại điểm tối đa hoá lợi nhuận

Như vậy người nông dân trong bất kỳ tình huống nào họ cũng có thểứng xử nhưng cách ứng xử của họ chủ yếu là tránh lé rủi ro, họ chưa mạnhdạn trong việc sử dụng các đầu vào có chi phí cao nhằm tối đa hóa lợi nhuận

mà cách ứng xử của họ trong sản xuất nông nghiệp là tối thiểu hóa chi phíbằng cách tận dụng những đầu vào sẵn có nhằm tối đa hóa sản lượng

* Ứng xử của hộ nông dân trong tiêu dùng.

Trong sản xuất hay tiêu dùng người nông dân đều có tâm lý chung làtối thiểu hóa chi phí do đó sản phẩm tiêu dùng của họ chủ yếu là các sảnphẩm nông nghiệp mà họ tự sản xuất ra được

Mô hình nông hộ của Barnum – Squyre (1979) khi nghiên cứu ứng xửcủa của nông hộ đối với sự thay đổi đã chỉ ra: Hộ là một mô hình khép kíngiữa sản xuất và tiêu dùng Hộ sản xuất ra để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùngcủa hộ Phần dư để bán cho thị trường, số tiền này tính bằng giá trị sản phẩmnông nghiệp mà hộ không thể có được Đồng thời hộ có thể tự điều chỉnh vềsản xuất và tiêu dùng

Trang 21

c Quy hoạch đất

Đất đai là 1 vùng lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnhđất….) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạothành ( đặc tính, thổ nhữơng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước,nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính…) tạo ra điều kiệnnhất định cho việc sử dụng cho các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụngđất cần phải làm quy hoạch – đây là quá trình nghiên cứu lao động sáng tạonhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự

sử dụng đất nhất định ( Lê Đình Thắng, Trần Tú Cường, 2007)

Về bản chất:

Đất đai là đối tượng của mối quan hệ hệ sản xuất trong lĩnh vực sửdụng đất ( gọi là mối quan hệ đất đai ) và tổ chức sử dụng đất như “ tư liệusản xuất đặc biệt “ gắn chặt với phát triển kinh tế xã hội, ( Viện điều tra quyhoạch, tổng cụa địa chính, 1998)

Như vậy quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội,thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế, trong đó cần hiểu

- Tính kinh tế: thể hiện ở hiệu quả sử dụng đất đai

- Tính kỹ thuật: bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra,khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu…

- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đấttheo hoạch nhằm đảm bảo sử dụng đất đai đúng pháp luật

Từ đó có thể đưa ra khái niệm: Quy hoạch sử dụng đất đai là các biệnpháp củ nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, hiệu quả,khoa học, thông qua việc phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng đất vàđịnh hướng tổ chức sử dụng đất cho các cấp lãnh đạo, các ngành, các tổ chức

và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thực hiệnđường lối kinh tế của nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh tháibền vững ( Võ Tử Can, 2010),

Trang 22

Theo Fao: “Quy hoạch và sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năngđất & nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hộinhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch đất

và sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra phương án lựa chọn vào thực tiễn để đápứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồntài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết của làm quy hoạch là do nhu cầucủa con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng caokhả năng sử dụng đất ” (FAO, 1993)

Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhànước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất,giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đặc biệt làchuyển diện tích đất trồng lúa có hiệu quả cao sang các mục đích phi nôngnghiệp, nuôi trồng thủy sản hoặc trồng cây lâu năm Như vậy, mục đích củaquy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra những điều kiện về tổ chức lãnh thổ, thúcđẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch nhà nước giao

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng, là cơ sở đểnhà nước thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Nó đượcxây dựng trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội quy hoạch phát triển đôthị, yêu cầu bảo vệ môi trường, tôn tạo di tích lịch xử văn hóa, danh lamthắng cảnh; hiện trạng quỹ đất và nhu cầu sử dụng đất Định mức sử dụng đất,tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.Những năm gần đây, quy hoạch đã góp phần không nhỏ tạo ra kết quả đángkhích lệ, giúp khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả,phát huy tiềm năng và nguồn lực về đất, mở rộng diện tích đất canh tác, nângcao chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực (Nguyễn Thị Tố Uyên 2007)

Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thànhcác quyết định nhằm đưa đất vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích caonhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai

Trang 23

& tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng caohiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp với bảo vệ đất và môi trường (ĐoànCông Quỳ, 2001).

Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng nhiệm vụ vàmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, lãnh thổ, quy hoạch sử dụngđất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập

kế hoạch và sử dụng đất đai chi tiết của mình, xác lập sự ổn định định về mặtpháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở tiến hành cấp đất

và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực phục vụ các nhucầu dân sinh văn hóa – xã hội Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biệnpháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mụcđích, hạn chế sự chồng chéo gây lãnh phí đất đất đai, tránh tình trạng chuyểnmục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâmnghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và diện tích đất lâm nghiệp có rừng).Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá

vỡ cân bằng sinh học, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặckìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và hậu quả khó lường về tìnhhình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt làtrong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường (Võ Tử Cản, 2001)

* Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch xử - xã hội,tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phậnhợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốcdân Các đặc điểm của quy hoạch và sử dụng đất (Võ Tử Cản, 2001),

- Tính lịch xử - xã hội :

Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạchđất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất xã hội thểhiện theo hai mặt: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch

Trang 24

và sử dụng đất luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai – là sức tựnhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế….) cũng như quan hệ giữangười với người (xác định văn bản về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất-GCN QSDD) Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩyphát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy mối quan hệ sản xuất, vìvậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội Tuy nhiên, trong

xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính tự phát, hướngtới mục tiêu lợi nhuận tối đa và nặng về pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng

cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phátcanh, thu tô…) Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầu sử dụng đất

và quyền lợi của xã hội, góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nôngthôn, nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt,trong nền kinh tế thị trường quy hoạch sử dụng đất đã góp phần giải quyết cácmâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nảy sinh trongquá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn các lợi ích trên với nhau

- Tính tổng hợp:

Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất chủ yếu thể hiện ở điểm, quyhoạch sử dụng đất nhận trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất,điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, các lĩnh vực Xác định vàđiều phối các phương hướng, phương thức phân bổ sử dụng đất phù hợp vớimục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát triển ổnđịnh, bền vững và đạt tốc độ tăng trưởng cao

- Tính dài hạn :

Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đất để phát tiển kinh tế, xãhội lâu dài như: sự thay đổi về dân số, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điềuchỉnh từng bước cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch

sử dụng đất được quy định tại điều 24 luật đất đai 2003 là 10 năm

Trang 25

- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô:

Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất chỉ dự báo trướcđược các xu thế thay đổi, phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bổ và sửdụng đất một cách đại thể chứ không thể dự kiến được các hình thức và nộidung chi tiết, cụ thể của những thay đổi đó

- Tính chính sách:

Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính sách

xã hội Khi xây dựng phương án quy hoạch phải quán triệt các chính sách vàcác quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và nhà nước, đảm bảo thựchiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân,phát triển ổn định quy hoạch kinh tế, xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉtiêu khống chế về dân số, đất đai và môi truờng

- Tính khả biến

Do sự tác động của nhiều yếu tố khó dự đoán trước theo nhiều phươngdiện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải phápnhằm biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn choviệc phát triển kinh tế trong một giai đoạn nhất định Khi xã hội phát triển,khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi,các dự kiến của quy hoạch đất sẽ trở lên không còn phù hợp nữa Việc chỉnhsửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là điềucần thiết Điều đó thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụngđất luôn là quy hoạch động, một quy trình lặp đi, lặp lại theo chu kỳ " Quyhoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chấtlựợng, mức độ thực hiện và tính thích hợp ngày càng cao

* Quy hoạch nuôi trồng thủy sản

Công tác quy hoạch ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và quy hoạchlĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói riêng được lập theo căn cứ theo nghị định củachính phủ số 12/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 05 năm 2000 Nội dung, trình tự

Trang 26

lập, thẩm định và quản lý các dự án quy hoạch phát triển ngành phải tuân theoquy định bảo vệ môi trường Nghị định số 140/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11năm 2006 của chinh phủ quy định: Định kỳ hàng năm các ngành Ủy bannhân dân các tỉnh, thành phố trực thuôc trung ương có trách nhiệm lập báocáo về tình hình kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện các quty định bảo vệmôi trường đối với chiến lược, quy hoạch, kế họach phát triển, và gửi Bộ TàiNguyên và Môi trường Bộ này có trách nhiệm tổng hợp báo cáo Thủ tướngChính phủ (Vũ Hải Long, 2007)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ỨNG XỬ CỦA HỘ NÔNG DÂN ĐỐI VỚITHÔNG TIN QUY HOẠCH ĐẤT

2.2.1 Ứng xử của hộ nông dân đối với quy hoạch đất ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới, công tác quy hoạch thường gắn liền với quản lý hànhchính & quản lý đất đai Quy hoạch thực sự trở thành một công cụ không thểthiếu và rất đắc lực cho việc quản lý hành chính cũng như quản lý đất đai.Tùy theo chế độ kinh tế - chính trị - xã hội và tùy theo điều kiện kinh tế xã hộicủa mỗi nước mà quy hoạch có những hình thức, đặc điểm, mức độ rất khácnhau Mỗi loại quy hoạch có những mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng tất cảcác quy hoạch đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội, bảo vệ môitrường trên quan điểm phát triển bền vững

Bản chất quy hoạch sẽ phá vỡ mối quan hệ về quan hệ sản xuất và kiếntrúc hạ tầng của vùng quy hoạch vốn đã hình thành từ rất lâu Do đó sự phảnứng của người dân trong vùng là không thể tránh khỏi Đó là phản ứng ủng hộhay kìm hãm tiến độ của dự án còn tùy thuộc vào sự hiểu biết của người dânđối với dự án quy hoạch đất đó như tầm quan trọng của dự án đối với sự pháttriển của quốc gia, hay cơ quan chủ trì dự án, cũng như mức độ hưởng lợi củangười dân vùng quy hoạch đối với dự án đó

Trang 27

Như vậy để giải quyết tốt công tác quy hoạch thì thông tin về quyhoạch phải đi trước một bước tới từng người dân, việc đảm bảo thông thôngtin rõ ràng, đầy đủ và chính xác là rất cần thiết Tùy thuộc vào trình độ cũngnhư hiểu biết của người dân vùng quy hoạch mà hành vi ứng xử của mỗingười trên mỗi vùng mỗi quốc gia là khác nhau Do đó hầu hết các nước trênthế giới đều rất coi trọng thông tin quy hoạch đất và ứng xử của người dânvùng quy hoạch từ đó đưa ra các thông tin triển khai và chính sách hợp lý đểcông tác quy hoạch thành công và nhanh chóng nhằm mục tiêu cuối cùng lànâng cao mức sống của người dân để họ sống tốt hơn.

Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của mối nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới cách ứng xử của người dân

2.2.1.1 Ứng xử của người nông dân đối với quy hoạch đất ở Trung Quốc

Mười mấy năm qua, ruộng đất Trung Quốc đã giảm gần 150 triệu mẫuTrung Quốc (TQ) Mỗi mẫu TQ bằng 1/15 héc ta, tức khoảng 660 métvuông Bộ Nông nghiệp Trung Quốc dự tính, cứ mất đi 2 mẫu TQ sẽ có nghĩa

là 1 nông dân TQ không có ruộng đất, vì ruộng đất canh tác tính trung bìnhtheo đầu người của TQ chỉ có khoảng 1,4 mẫu TQ Do vậy, mất gần 150 triệumẫu TQ ruộng đất có nghĩa là khoảng 80 triệu nông dân Trung Quốc khôngcòn ruộng đất ( Dương Danh Di, 2009) Nông dân Trung Quốc một khi khôngcòn ruộng đất thì họ sẽ là loại người “ba không”: không đất để cày, khôngnghề để sống, không nơi để đi Do vậy, những nông dân này đã chống đối.Điển hình năm 2005 tại Hán Nguyên, Tứ Xuyên đã xảy ra vụ 10 vạn nôngdân chống đối Nguyên do là vì khi trưng dụng ruộng đất để làm hồ chứanước, người ta đã lấy hết ruộng đất của nông dân ở đó Mỗi gia đình được bồithường hơn 10.000 nhân dân tệ (NDT, 1 NDT bằng khoảng 2.250 đồng ViệtNam) Sau khi tiêu dùng hết số tiền đền bù này, không còn gì để ăn, họ lấy cớkhông chuyển đi nơi khác để phản đối ( Dương Danh Di, 2009)

Trang 28

Sách xanh “Phân tích và dự báo tình hình xã hội Trung Quốc” do ViệnKhoa học Xã hội Trung Quốc công bố năm 2005 cho thấy, số lượng “sự kiện cótính đám đông” phát sinh ở Trung Quốc từ chỗ 8.700 vụ năm 1993 đã tăng lênđến 60.000 vụ năm 2003 Năm 2008, số lượng vụ phản đối có tính đám đôngkhông những nhiều, qui mô lớn, mà hành vi càng thêm dữ dội Bên cạnh nhữngứng xử theo kiểu phản đối người dân Trung Quốc cũng có những cách ứng xửmềm mỏng hơn trước vấn đề quy hoạch đất nếu họ được hưởng những chínhsách quan tâm hợp lý đến việc chuyển đổi địa điểm sinh cũng như sinh kế củangười dân trong vùng quy hoạch đặc biệt là sinh kế của người nông dân

Như vậy, quy hoạch đất kết hợp với chính sách an sinh xã hội cũng nhưcông tác bồi thường chưa hợp lý là một trong những nguy cơ gây ra những bất

ổn rất lớn đối với tình hình chính trị diễn ra ở Trung Quốc

2.2.2 Ứng xử của hộ nông dân đối với quy hoạch đất ở Việt Nam

Trong bài nghiên cứu quy hoạch đất gắn với hiệu quả sử dụng, giải

pháp thực hiện chính sách Tam nông (15/12/2008 ) chỉ ra đối với lĩnh vực đấtđai, công tác quy hoạch đặc biệt quan trọng bởi đó là cơ sở pháp lý cho việcthu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụngđất nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước Song vấn đề này ởnước ta đã và đang bị trùng lắp, lãng phí, thiếu khoa học và không đồng bộ,ảnh hưởng tới quá trình thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ VII Ban chấp

hành Trung ương khoá X về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" (gọi tắt là

Tam nông)

*Thực trạng quy hoạch sử dụng đất

Sau hơn 4 năm thực hiện Luật đất đai (luật đất đai năm 2003), nhất là

từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ VII Ban chấp hànhTrung ương khoá X về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn", công tác quyhoạch đất đai sớm xuất hiện những "rào cản" mà Bộ Tài nguyên và Môi

Trang 29

trường đã thừa nhận: Tính đồng bộ giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội,quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng không hợp lý Giữa 3 loại quy

hoạch này còn vùng "chồng lấn", vùng "trắng" và chưa trở thành hệ thống quy

hoạch phát triển thống nhất của cả nước Chất lượng quy hoạch nói chung vàquy hoạch sử dụng đất nói riêng không hợp lý, thiếu đồng bộ và mang tínhbền vững Ở nhiều nơi, không ít trường hợp vì muốn có nhiều công trình, dự

án cho địa phương, muốn chỉnh trang, mở rộng đô thị cho "xứng tầm" hoặc muốn để lại "dấu ấn" của nhiệm kỳ lãnh đạo nên đã vội vàng chỉ đạo lập và xét

duyệt quy hoạch, mà không cân nhắc đầy đủ khả năng thực hiện trước mắtcũng như tương lai Đây là nguyên nhân chủ yếu đẫn đến tình trạng quyhoạch "treo" và không ai khác nông dân là người chịu chấp nhận thiệt thòi

Do vậy, chỉ tính riêng đến năm 2007 cả nước có tới 1.649 khu vực quy hoạch

với diện tích 344.665ha được xếp vào diện quy hoạch "treo" Trong số này,

Đồng Nai có 368 khu, Hoà Bình 124 khu, Hà Tĩnh 94 khu, An Giang 84 khu,Cao Bằng 75 khu và các địa phương có diện tích quy hoạch "treo" lớn gồm:

Hà Tĩnh 222.858ha, Sơn La 13.915ha, Điện Biên 6.730ha, Cần Thơ 5.753ha Cũng không ít địa phương chưa xây dựng xong phương án điều chỉnh quyhoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 -2010) như Bắc Kạn, Hoà Bình, Sóc Trăng nên có tới 123/670 huyện (18,4%)mới triển khai công tác này, thậm chí có 106/670 huyện (chiếm 15,8% ) đếnnay chưa triển khai được Đặc biệt, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấttại các đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) hầu như chưa được thựchiện Đối với các xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã), con số này còn lớnhơn nhiều với 3.077/10.777 xã chưa thực hiện và mới tổ chức thẩm định trìnhThủ tướng Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất của 7 vùng địa lý kinh

tế Theo các chuyên gia về đất đai, phương án quy hoạch không dự báo sáttình hình và mang nặng tính chủ quan duy ý chí, áp đặt, nhiều trường hợp quyhoạch theo phong trào Thậm chí, nhiều trường hợp quy hoạch đúng và cần

Trang 30

thiết, nhưng không có lộ trình thực hiện hoặc phân kỳ quy hoạch khiến chongười sử dụng đất bị mất các quyền hợp pháp của mình Ngân sách khôngđảm bảo hoặc bị động về nguồn thu dẫn tới quy hoạch phải dừng lại, nhất làcác dự án quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật

*> Ứng xử của hộ nông dân đối với quy hoạch đất

TS Đặng Kim Sơn (2008) cho biết: “Hiện nay, người nông dân đang phải

tự vệ bị động Chính sản xuất nhỏ lẻ, manh mún là một hình thức tự vệ của nôngdân Đối với họ, mảnh đất không còn là tư liệu sản xuất nữa mà đã trở thànhphương tiện bảo hiểm - dù chỉ đóng góp 20-30% thu nhập, nhưng hễ xảy ra rủi

ro gì thì người ta có chỗ để quay trở về” Thực tế, tâm lý chung của nông dân làkhông muốn đầu tư lâu dài trên đồng ruộng và cho con cái học hành

Như vậy, với người nông dân mảnh đất chính là phương thức sinh kếchính của họ do đó khi nhà nước thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụngđất từ sản xuất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp kéo theo hàngloạt cách ứng xử khác nhau một trong những cách ứng xử mà tác giả NguyễnHữu Tiến (2007) khi bàn về vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nôngnghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tác giả chỉ ra một thựctrạng về cách ứng xử của nguời nông dân đối với vấn đề quy hoạch đất nôngnghiệp là đối phó với việc Nhà nước thu hồi đất và đền bù với giá thấp, nhiều

hộ nông dân đã tự xây dựng nhà trên đất ruộng để bán với giá cao hơn, hoặc

để có cơ sở đòi giá đền bù đất ở chứ không phải đất nông nghiệp Bởi vì,người dân có sự so sánh rất đơn giản khi trả đất cho Nhà nước để làm khucông nghiệp thì họ chỉ được đền bù 24 triệu đồng/sào (360m2) Trong khi đó,xây một căn nhà tuyềnh toàng trên đất ruộng rồi bán đi cũng được 400 - 500triệu đồng Vì vậy, người dân không muốn trả đất cho Nhà nước làm khucông nghiệp là điều dễ hiểu

Có nơi quy hoạch được phê duyệt rồi, nhưng công tác quản lý bị buônglỏng và từ đây xuất hiện tình trạng dân lấn chiếm, tự chuyển mục đích sử

Trang 31

dụng đất Tại một số địa phương, sự thiếu phù hợp và nhất quán giữa quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và thời hạn giao đất cho người sửdụng, là tác nhân phát sinh những mâu thuẫn và làm khó cho doanh nghiệp.

Ngoài ra đối với nhiều địa phương khi nhà nước có thông báo quyhoạch đất người nông đân còn ứng xử bằng cách hạn chế sản xuất nôngnghiệp từ đó hình thành nên những vùng đất hoang hóa, điều vô lý ở chỗnhiều khu đất chỉ là giáp ranh với vùng quy hoạch như đường cao tốc, khuvực có dự án xây dựng người nông dân cũng ứng xử bằng cách bán đi hoặc

để đất trong tình trạng hoang hóa Đơn cử như câu chuyện diễn ra tại Xã BìnhHưng, huyện Bình Chánh là một xã nông nghiệp chủ yếu sản xuất lúa theo vụmùa Theo UBND xã, diện tích toàn xã có 1.374ha đất thì hết 980ha nằmtrong qui hoạch dự án Bắc Nhà Bè - Nam Bình Chánh với 31/39 dự án khudân cư mới và phần diện tích còn lại đều đã được TP phân bố địa điểm xâydựng bảy dự án Trong đó có dự án nhà máy xử lý nước thải, dự án đườngChánh Hưng nối dài và năm dự án phê duyệt xây dựng khu dân cư Chủtrương của xã là vận động nông dân có đất nông nghiệp nằm trong các dự ánnhưng chưa nhận đền bù giải tỏa cứ tiếp tục ổn định sản xuất, nhưng mộtphần do tình hình thời tiết khó khăn, triều cường dâng cao, phần khác do tâm

lý không ổn định nên việc sản xuất vụ mùa rất bấp bênh Một số hộ xinchuyển đổi cơ cấu cây trồng như đầu tư lập vườn trồng các loại cây ăn trái kếthợp chăn nuôi cá, nhưng do nằm trong qui hoạch nên không được cho phép

đã dẫn đến tình trạng để hoang hóa khá phổ biến, đất nông nghiệp bị hoanghóa vì quy hoạch treo (Đoan Trang – Huy Giang, 2004) Trong quá trình quyhoạch đó không ít những dự án vấp phải sự kháng cự của người dân, cũng cókhông ít những dự án thông tin tới người dân không rõ dành từ đó dẫn đếnnhiều cách ứng xử khác nhau như tại Hà Nội: Điển hình như vụ tiêu cực trongđền bù kè Hồ Tây, một số đối tượng ở phường Phú Thượng nắm bắt thông tin

Trang 32

vành đai lấy đất làm dự án, đã lập hồ sơ thuê ao hưởng chênh lệch đền bù,chiếm đoạt 2,1 tỷ đồng của Nhà nước (Thanh Phong, 2009).

Bên cạnh những cách ứng xử đã nêu ra ở trên như tình trạng để đấthoang hóa, tình trạng nhiều hộ bán đất trước khi Nhà nước thu hồi đất với

“giá non” , hay để đất hoang hóa chờ quy hoạch hoặc tìm cách lấn chiếm,chiếm dụng, tích tụ đất trong vùng dự án nhằm thu tiền bồi thường cao cònmột thực tế nữa đang diến ra làm đau đầu các nhà quản lý mà theo nhiềuchuyên gia đó thật sự là vấn đề đáng ngại như hiện tượng khiếu kiện về đất

Trong bài Khiếu kiện về đất đai - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của

tác giả Nguyễn Uyên Minh - Vụ Pháp luật và cải cách tư pháp - Văn phòng

Trung ương Đảng (2010) chỉ ra các loại khiếu nại tố cáo hiện nay liên quanrất nhiều đến tranh chấp về đất đai dưới nhiều dạng khác nhau tác giả cũngchỉ ra rằng sở dĩ đất đai tranh chấp nhiều như hiện nay một phần là do quátrình quy hoạch đất phục vụ cho đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra mạnh

mẽ, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng cao dẫn đến hiện tượng đẩy giá đấttăng cao Hay một thực tế khác nữa là người dân vùng quy hoạch đất bêncạnh những hộ nhận tiền hỗ trợ bồi thường để chủ dự án tiến hành giả tỏa mặtbằng phục vụ cho dự án thì vẫn có nhiều hộ nông dân ứng xử bằng khôngchịu nhận tiền bồi thường đất khi dự án thu hồi đất vì họ cho rằng trong cùngmột vùng mà mỗi dự án lấy đất ra khác nhau người dân lại được nhận mứcbồi thường, hỗ trợ khác nhau do đó họ không chịu giao đất

Trang 33

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Về vị trí địa lý kinh tế

Tràng Cát là Phường giáp biển cách Trung tâm thành phố khoảng 10km

về phía bắc, phía Bắc giáp phường Nam Hải, phía nam giáp sông Lạch Tray,phía đông giáp Đảo Đình Vũ, phía tây giáp phường Thành Tô

Tràng Cát là Phường mới được chuyển từ xã thành phường theo quyếtđịnh HĐND trong điều kiện mới từ ngày 10/5/2003 theo quyết định106/2002/cp ngày 20/12/2002 của chính phủ

b Về đia hình

Phường Tràng Cát có địa hình đồng bằng phẳng, lại được sự ưu đãi củađiều kiện tự nhiên nên rất thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy sản nước lợ,đồng bằng phẳng là điều kiện rất thuận lợi cho địa phương thực hiện san lấpphục vụ cho các dự án xây dựng cơ bản, đầu tư liên doanh liên kết phát triểnkinh tế và các hoạt động giao thông trên địa bàn Phường

c Khí hậu, thời tiết

Tràng Cát nằm trong khu vực phía Đông Bắc chịu ảnh hưởng chungcủa khí hậu trong vùng Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều thất thường và chiềucường, mùa đông thường lạnh và khô Nhiệt độ trung bình trong năm là24,6◦C, ngày nóng nhất có thể lên tới 37,5◦C còn ngày lạnh nhất cũng chỉ đạtđến 16◦C Khí hậu được chia làm 4 mùa rõ rệt Xuân – Hạ - Thu – Đông, nênđịa phưong rất thuận lợi trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ.Tuy nhiên vào mùa mưa nhiều và có chiều cường nên công tác nuôi trồngthủy sản gặp một số khó khăn song công tác phòng chống và nâng cấp đê điều

Trang 34

trong nhiều năm gần đây được thực hiện nghiêm túc nên thiệt hại trong nuôitrồng thủy sản của người nông dân được hạn chế rất nhiều

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Nhìn bảng 3.1 thấy diện tích đất tự nhiên không có sự thay đổi qua cácnăm Diện tích đất tự nhiên trên đầu người từ năm 2007 đến năm 2009 giảm

từ 3241m2/người xuống 3199m2/ người So với mật độ dân số trong toàn quậnhải An là:1352m2/người, thì Tràng Cát là địa phương có mật dân số thưa Quátrình công nghiệp hóa, đô thị hóa cùng với việc phát triển cơ sở hạ tầng cáccông trình công cộng đã dẫn đến biến động diện tích đất nông nghiệp Thểdiện tích đất nông nghiệp của phường giảm dần với tốc độ trung bình 2.9%/năm Năm 2007 tổng diện tích đất nông nghiệp là 1853ha giảm xuống còn1745ha vào năm 2009 Trong đó diện tích đất NTTS giảm chủ yếu với tốc độgiảm trung bình là 8,84%/năm Riêng thời điểm năm 2007 đến 2008 diện tích

Trang 35

Bảng 3.1: Diện tích đất nông nghiệp của phường từ năm 2007- 2009

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

II Một số chỉ tiêu BQ ha/người

1 Diện tích đất TN/người ha/người 0,32 100,00 0,32 100 0,32 100 99,01 99,70 99,36

2 Diện tích đất NN/ khẩu ha/người 0,21 63,33 0,20 61,21 0,19 59,64 95,70 97,14 96,42

3 Diện tích đất NN/lao động ha/người 0,26 80,30 0,25 11,03 0,24 11,03 95,10 95,67 95,39

Nguồn: ban địa chính phường

Trang 36

đất NTTS giảm 10,5% từ 560,8 ha năm 2007 xuống còn 501,9ha năm 2008giảm 58,9 ha Từ năm 2008 đến năm 2009 diện tích đất NTTS giảm 46ha từ501,9 ha xuống còn 455,9 ha Đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng giảmkhông đáng kể diện tích đất lâm nghiệp sau khi bị chặt phá phục vụ nuôitrồng thủy sản từ năm 2003 đã được trồng mới lại để làm rừng phòng hộ đầunguồn nhưng tính đến thời điểm từ năm 2007 đến năm 2009 không có sự thayđổi về diện tích Nguyên nhân đất nông nghiệp giảm là do tốc độ đô thị hóa

và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế xã hội

Diện tích đất tự nhiên không tăng, diện tích đất nông nghiệp giảm dân

số tăng diện tích đất chưa sử dụng không được khai thác nhưng quy mô dân

số lại tăng lên kéo theo lực lượng lao động tăng lên làm cho diện tích đất dẫnđến đất tự nhiên / người, diện tích đất nông nghiệp/ người giảm với tốc độgiảm bình quân lần lượt là 0,64%; 3,58%; 4,61%

Như vậy trên địa bàn phường Tràng Cát mức độ chuyển đổi từ đất nôngnghiệp sang đất phi nông nghiệp trong 3 năm từ 2007- 2009 diễn ra rất mạnh mẽ

và đó là xu thế tất yếu của quá trình CNH, HĐH (đặc biệt phường Tràng Cát làđịa phương chuyển đổi từ 1 xã phát triển mạnh về sản xuất nông nghiệp trong đóNTTS là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương đồng thời cũng là ngành cần sửdụng nhiều lao động) Và diện tích đất này còn tiếp tục giảm khi hệ thống đườnggiao thông là huyết mạch quốc gia Hà Nội – Hải Phòng với tổng chiều dài 6kmhoàn thành Hệ thống các khu công nghiệp, khu đô thị mới có điều kiện hìnhthành trên hai bên tuyến đường Việc chuyển đổi từ khu vực thuần nông sangkhu đô thị mới sẽ làm thay đổi rất lớn tới đời sống, kinh tế, xã hội của vùng Từchỗ người dân trong vùng chủ yếu sinh nhai và làm giàu dựa vào trồng trọt, chănnuôi, đánh bắt và NTTS nay chuyển mạnh sang khu đô thị mới Quỹ đất sinh kế

bị quy hoạch phục vụ mục đích phát triển quốc gia Từ đó người dân trên địa bànphường mà đặc biệt là các hộ tham gia NTTS sẽ nảy sinh nhiều cách ứng xửkhác nhau trước xu thế quy hoạch của địa phương

Trang 37

b Quy mô dân số và lao động

Dân số phường Tràng Cát có sự biến động qua các năm Nhưng sự biếnđộng không lớn Trong toàn Phường năm 2007 có 9028 người với 49,4 %nam và 50,6 % nữ Đến năm 2009 toàn Phường có 9145 người với 48,29% lànam và 51,71% là nữ Riêng năm 2008 tỉ lệ nam nữ lần lượt là 49,99 và50,01 gần tương đương nhau Tốc độ tăng dân số trung bình trong 3 năm là0,65% Tốc độ tăng dân số của nam giới trong thời điểm từ năm 2007 đếnnăm 2008 cao hơn nữ giới nhưng tốc độ tăng trung bình của nữ giới cao hơnnam giới, thể hiện tốc độ tăng trung bình của nữ giới trong 3 năm là 1,75%còn nam giới là 0,49% Tuy chưa có dấu hiệu lớn trong việc phường TràngCát sẽ tiền tới sự cân bằng về giới nhưng điều đáng mừng là tư tưởng sinh contrai hay con gái của nhiều cặp vợ chồng không phải là vấn đề quá coi trọng

Tổng số người lao động trong toàn phường tính từ độ Tuổi 14 đến 60trên toàn Phường chiếm tỉ lệ rất lớn từ 78,97% đến 80,57% Lao động trongnông nghiệp giảm dần qua các năm từ năm 2007 là 4625 người chiếm64,96% lực lượng lao động tới năm 2009 còn 4130 người chiếm 56,05%.Trong đó lao động tham gia vào NTTS giảm mạnh qua các năm với tốc độgiảm trung bình là 5,48% còn lao động tham gia vào lĩnh vực phi nôngnghiệp tăng lên với tốc độ tăng trung bình là 13,94% Có thể khẳng địnhđây là địa phương có dân số trẻ Quá trình phát triển kinh tế, quá trìnhchuyển đổi từ đất sản xuất nông nghiệp và đất NTTS sang mục đích đô thịhóa, kéo theo một số lượng lớn lao động không có việc làm Kết hợp vớithị trường bất động sản trên địa bàn quận Hải An tăng mạnh từ năm 2008

mà đặc biệt là thời điểm năm 2009, các tháng đầu năm 2010 và còn tiếp tụctăng (thời sự Hải Phòng) dẫn đến hộ thực hiện việc chuyển nhượng quyền

sử dụng đất cho nhiều đối tượng khác nhau Theo báo cáo của ủy ban nhândân Phường Tràng Cát thì năm 2009 phường đã cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho 367 trường hợp Trong đó có 37 trường hợp cấp lần đầu và

Trang 38

Bảng 3.2: Tình hình phân dân số và lao động phường Tràng Cát năm 2007 -2009

Chỉ tiêu

Số người

Cơ cấu (%)

Số người

Cơ cấu (%)

Số người

- Lao động phi nông nghiệp 2495 35,04 2894 39,99 3239 43,95 115,99 111,92 113,94

Nguồn: Ban kinh tế phường Tràng Cát

Trang 39

chuyển nhượng quyền sử dụng 330 trường hợp Tràng Cát là địa phươngcách trung tâm thành phố không xa khoảng 10km vế phía tây Trung tâmthành phố là nơi có nhiều các điểm ăn chơi do đó một số đối tượng thất nghiệplại có điều kiện tiếp xúc nhiều điểm ăn chơi đồng thời nhận thức không cao vềpháp luật nên từ năm 2005 đến 2009 trên địa bàn phường đã xảy ra 125 vụ việchiện đã giải quyết 108 vụ việc Trong đó có 3 vụ trọng án xảy ra trên địa bànphường: 1 vụ giết người, 2 vụ cướp đã kịp thời điều tra điều tra, xác minh, bắtgiữ và xử lý các đối tượng Đây thực sự là mối lo không chỉ riêng các cơ quanban ngành, tổ dân phố và bà con trên địa bàn phường Tràng Cát quan tâm, lolắng mà nó cũng chính là mối lo cho toàn xã hội

Số người trong độ tuổi lao động trên địa bàn phường Tràng Cát là rấtlớn Tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động cao là một thuận lợi rất lớn cho việccung cấp nguồn lao động không chỉ ngay trên địa bàn phường mà còn cung cấpnguồn lao động cho các địa phương lân cận Tuy nhiên, trong điều kiệ kinh tếphát triển chưa đồng bộ, tốc độ đô thị hóa nhanh hơn rất nhiều so với tốc độtăng dân trí của người dân trên địa bàn Phường Đặc biệt, người nông dân quenbám đất, bám làng đô thị hóa sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho việc đáp ứngnhu cầu về chất lượng cuộc sống của người dân và các vấn đề xã hộ khác

c Tình hình phát triển kinh tế của phường Tràng Cát

Những năm qua, phường Tràng Cát đang từng bước phát triển cả về kinh

tế, xã hội Tổng giá trị sản xuất có tốc độ tăng trưởng và ổn định qua nhiềunăm với tốc độ tăng trưởng bình quân là 10,11 % Trong năm 2009 tốc độ tăngtrưởng cao nhất đạt 11,05% Đây là một dấu hiệu đáng mừng cho phát triểnkinh tế của phường Trong đó tăng trưởng cao nhất thuộc về ngành côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp với mức tăng trưởng trung bình 20,52%, tiếpđến là ngành thương mại và dịch vụ có mức tăng trưởng bình quân qua các

Trang 40

chững lại với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,69%/ năm Trong ngành nôngnghiệp tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt và chăn nuôi cao nhất đạt13,19%/năm Trong 3 năm 2007 – 2009 diện tích đất NTTS giảm mạnh nhưng tổng giá trị mang lại từ khai thác và NTTS vẫn tăng đều qua các năm Tuy mứctăng không đáng kể, với tốc độ tăng trung bình chỉ đạt 5,98%/năm nhưng vẫnchiếm tỉ lệ lớn nhất trên 50% Chỉ tính riêng năm 2007 tổng giá trị sản xuất củatoàn ngành đạt 50,352 triệu đồng riêng đóng góp từ khai thác và NTTS lên tới

29000 triệu đồng chiếm 57,59%, năm 2009 giảm xuống còn 53,35% tổng giátrị sản xuất của toàn ngành

Như vậy trong ngắn hạn, quy hoạch đất phục vụ phát triển khu đô thị khu côngnghiệp làm giảm giá trị cho ngang nông nghiệp song lại làm tăng giá trị sảnxuất của ngành phi nông nghiệp nhưng nhìn chung tốc độ tăng trưởng vẫn tiếptục tăng Do đó, trong dài hạn khi tuyến đường huyết mạch quốc gia Hà Nội-Hải Phòng được hoàn thành tất yếu sẽ phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ

và tương lai một khu đô thi mới sẽ được hoàn thành sẽ nâng cao đời sống chongười dân đồng thời làm tăng tổng giá trị sản xuất của phường Tuy nhiên, đôthị hóa còn là một quá trình lập kế hoạch, tính toán, mà không thể diễn ra mộtcách ồ ạt, kém hiệu quả nên thông tin về quy hoạch diễn ra rất đa dạng

Mật độ dân số ngày càng tăng, diện tích đất tự nhiên/ người, diện tích đấtsản xuất nông nghiệp/ người giảm (bảng 3.1) nhưng mức đóng góp từ NTTSrất cao đạt trên 50% (bảng 3.3) với lực lượng lao động trong đánh bắt và NTTSchiếm từ 14,55% đến 16,85% trong lực lượng lao động của phường (bảng 3.2).Nhưng thông tin về quy hoạch diễn biến phức tạp gây trở ngại rất lớn chongười NTTS trong quá trình sản xuất và chuyển đổi mục đích sử dụng diện tíchmặt nước Từ đó gây ra rất nhiều cách ứng xử khác nhau của hộ nông dânNTTS trước những thông tin quy hoạch đó

Ngày đăng: 07/08/2016, 12:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Võ Tử Can (2001), “Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai” chương trình hợp tác Việt Nam – Thụy Điển về đổi mới hệ thống địa chính, Viện điều tra quy hoạch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đấtđai
Tác giả: Võ Tử Can
Năm: 2001
11. Nguyễn Uyên Minh (2010). ‘Khiếu kiện về đất đai - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp’ - Vụ Pháp luật và cải cách tư pháp- Văn phòng Trung ương Đảng ,ngày 27/03/2010. Nguồn: htttp://www.thanhtra.gov.vn. Ngày truy cập 26/4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: www.thanhtra.gov.vn
Tác giả: Nguyễn Uyên Minh
Năm: 2010
13. Trần Lưu – Văn Phúc (2008). ‘Đất nông nghiệp và nông dân trong “cơn lốc” đô thị hóa nông thôn’, Thứ Ba, 22/04/2008) Nguồn:http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/phongsukysu/2008/4/10290.htmlThứ Ba, ngày truy cập 23/3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cơnlốc
Tác giả: Trần Lưu – Văn Phúc
Năm: 2008
14. Thanh Phong (2009).‘Vai trò quan trọng của phản biện xã hội’, bản tin thời sự cơ quan ngôn luận của Bộ Công an ngày 22/02/2009. Nguồn (http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisu/2009/2/109299.cand). Ngày truy cập 23/2/2010 Link
25. Luật Đất đai năm 2003. Nguồn http://giadinh.net.vn/19697p0c1005/luat-dat-dai-nam-2003.htm Link
26. Theo diễn đàn doanh nghiệp (2008). ‘ Quy hoạch khu công nghệ cao và đô thị Tràng Cát’, 4/4/2008, nguồn http://tknd.vn/noidung/1581-Quy-hoach-khu-cong-nghe-cao-va-do-thi-Trang-Cat.aspx. Ngày truy cập 4/3/2010 Link
1. Từ điển tiếng Việt (1999), nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 953 2. Từ điển Tiếng Việt (1999), nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 1091 Khác
3. Lê Đình Thắng, Trần Tú Cường (2007), ‘Quy hoạch sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường’,Tài Nguyên và môi trường, số 10 (48), tháng 10 Khác
4. Viện điều tra quy hoạch, tổng cụa địa chính (1998), ‘Cơ sở lý luận khoa học, sử dụng đất đai’, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Thị Tố Uyên (2007), ‘Thực trạng & giải pháp từng bước thực hiện phương án quy hoạch và sử dụng đất đai giai đoạn 2000- 2010 trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam’, ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khác
8. Đoàn Công Quỳ (2001), ‘Đánh giá phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông – lâm nghiệp huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên’, luận án tiến sĩ nông nghiệp, trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khác
9.Vũ Hải Long (2007), ‘Đánh giá hợp phần quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ thành phố Hải Phòng giai đoạn 2001 – 2005’, luận văn thạc sĩ nông nghiệp, bộ giáo dục và đào tạo trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khác
10. Mô hình nông hộ của Barnum – Squyre (1979), Đỗ Văn Viện, bài giảng kinh tế hộ trang trại, Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Khác
12. PGS. TS. Nguyễn Văn Song. ‘Cơ sở kinh tế vi mô, hành vi ứng xử của người sản xuất và sự khác biệt trong ứng xử của người nông dân đạt điểm tối đa hoá lợi nhuận’, Đại học Nông Nghiệp Hà Nội. Có thể truy cập tại Khác
17. Đoan Trang, Huy Giang (2004) bản tin xã hội của Việt Báo 3/1/2004. Nguồn<http://vietbao.vn/Xa-hoi/Dat-nong-nghiep-bi-bo-hoang-vi-qui-hoach-reo/40014867/157/>. Ngày truy cập 5/3/2010 Khác
19. Báo cáo tổng kết và phương hướng phát triển ngành NTTS phường Tràng Cát đến năm 2010 Khác
22. QĐ UBNDQHA Số: 2160/QĐ- UBND ngày 28 – 11 -2008 về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đường ôtô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng Khác
23. Thông báo số 39/TB-UBND do ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ký từ ngày 8/2/2010 về thu hồi đất phục vụ dự án đường bao phía Đông Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Diện tích đất nông nghiệp của phường từ năm 2007- 2009 - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 3.1 Diện tích đất nông nghiệp của phường từ năm 2007- 2009 (Trang 33)
Bảng 3.2: Tình hình phân dân số và lao động phường Tràng Cát năm 2007 -2009 - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 3.2 Tình hình phân dân số và lao động phường Tràng Cát năm 2007 -2009 (Trang 36)
Bảng 3.3: Giá trị sản xuất của phường năm 2007- 2009 - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất của phường năm 2007- 2009 (Trang 39)
Bảng 3.4 : Tóm tắt nội dung, chỉ tiêu, nguồn thông tin và phương pháp thu thập thông tin - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 3.4 Tóm tắt nội dung, chỉ tiêu, nguồn thông tin và phương pháp thu thập thông tin (Trang 46)
Bảng 4.9 Thực trạng thu hồi đất cho hai dự án xây dựng cơ sờ hạ tầng tại - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.9 Thực trạng thu hồi đất cho hai dự án xây dựng cơ sờ hạ tầng tại (Trang 58)
Bảng 4.11 Mức độ hiểu biết của hộ đối với thông tin về các dự án quy - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.11 Mức độ hiểu biết của hộ đối với thông tin về các dự án quy (Trang 64)
Bảng 4.13 Các dạng thông tin quy hoạch đất và tỉ lệ tiếp cận của hai - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.13 Các dạng thông tin quy hoạch đất và tỉ lệ tiếp cận của hai (Trang 65)
Bảng 4.14 Ứng xử của hộ NTTS trước thông tin quy hoạch - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.14 Ứng xử của hộ NTTS trước thông tin quy hoạch (Trang 68)
Bảng 4.15 Mức độ đầu tư trong NTTS của 2 nhóm hộ NTTS - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.15 Mức độ đầu tư trong NTTS của 2 nhóm hộ NTTS (Trang 69)
Bảng 4.16 Hình thức NTTS của các hộ dân trên địa bàn Phường Tràng Cát - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.16 Hình thức NTTS của các hộ dân trên địa bàn Phường Tràng Cát (Trang 72)
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa và thông tin quy hoạch tới - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa và thông tin quy hoạch tới (Trang 74)
Bảng 4.19 Chuyển đổi nghề của các hộ điều tra - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.19 Chuyển đổi nghề của các hộ điều tra (Trang 76)
Bảng 4.22 Diện tích đất NTTS, tỉ lệ thu hồi, thông tin quy hoạch đất và - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.22 Diện tích đất NTTS, tỉ lệ thu hồi, thông tin quy hoạch đất và (Trang 85)
Bảng 4.23 Nhân khẩu trong hô, thông tin quy hoạch đất và ứng xử của hộ - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.23 Nhân khẩu trong hô, thông tin quy hoạch đất và ứng xử của hộ (Trang 87)
Bảng 4.24  Hiệu quả kinh tế trong NTTS của các hộ điều tra - Ứng xử của hộ nuôi trồng thủy sản đối với thông tin  quy hoạch đất trên địa bàn phường tràng cát – quận hải an – thành phố hải phòng
Bảng 4.24 Hiệu quả kinh tế trong NTTS của các hộ điều tra (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w