CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 20141.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA LUẬT
ĐỀ ÁN MÔN HỌC LUẬT THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI
“NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP
TƯ NHÂN TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2014”
SVNC : TÔN NỮ THANH THANH HẰNG
LỚP : 40K24
GVHD: Th.S PHẠM MINH THY VÂN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 4
1.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản: 4
1.2 Quy định pháp lý về doanh nghiệp tư nhân: 5
1.2.1 Đặc điểm doanh nghiệp tư nhân: 5
1.2.2 Vốn đầu tư doanh nghiệp tư nhân: 8
1.2.3 Quản lý doanh nghiệp tư nhân: 9
1.2.4 Vận hành doanh nghiệp tư nhân: 10
1.2.5 So sánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ với doanh nghiệp tư nhân 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 16 2.1 Điều kiện kinh doanh 16
2.2 Tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân về hoạt động của doanh nghiệp 17
2.3 Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân 19
2.4 Cho thuê doanh nghiệp tư nhân 20
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 23
3.1 Kết luận: 23
3.2 Ý kiến 24
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi tiến hành thực hiện mục tiêu, nhiêm vụ phát triển đất nước 5 năm (2011-2015)
mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) đề ra là ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới môhình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững; huyđộng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại;tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tếViệt Nam đã không ngừng lớn mạnh và dần khẳng định vị thế của mình trên chính trườngquốc tế Thành quả ấy được xây dựng và củng cố bởi các thành phần kinh tế mà không thểkhông kể đến sự đóng góp của khôi doanh nghiệp nói chung và khối doanh nghiệp tư nhânnói riêng Doanh nghiệp tư nhân là hình thức kinh tế năng động và linh hoạt nhất trong bứctranh tổng thể về nền kinh tế của nước ta hiện nay Dưới sự hướng dẫn, quy định, điều chỉnhđược thể hiện trong Luật doanh nghiệp qua các thời kỳ:
- Luật doanh nghiệp tư nhân (1990)
- Luật doanh nghiệp (1999)
- Luật doanh nghiệp (2005)
- Luật doanh nghiệp (2014)thì doanh nghiệp tư nhân đã dần phát huy được thế mạnh của mình, góp phần giải quyết vấn
đề thất nghiệp và có tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của đất nước
Việc thành lập, hoạt động của doanh nghiệp tư nhân là một nội dung quan trọng trongLuật doanh nghiệp 2014 Doanh nghiệp tư nhân sau khi được thành lập phải hoạt động cóhiệu quả và mang lại lợi ích kinh tế, do đó quy định về thành lập và hoạt động doanh nghiệp
tư nhân phải thật sự cẩn trọng và chuẩn xác Sau nhiều lần bổ sung, chỉnh sửa thì khung pháp
lý quy định về doanh nghiệp tư nhân đã từng bước được hoàn thiện, giúp phát huy tính linhhoạt, năng động, nhạy bén và các ưu thế khác mà loại hình doanh nghiệp này sở hữu Chính
vì những lẽ ấy mà tôi chọn đề tài: “Những quy định pháp lý của doanh nghiệp tư nhân
trong luật doanh nghiệp 2014”.
Trang 5CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
1.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt độngkinh doanh
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằmmục đích sinh lợi
Hồ sơ hợp lệ là hồ sơ có đầy đủ giấy tờ theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 và nội
dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ theo quy định của pháp luật
Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư
nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thànhviên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thànhviên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lýkhác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tạiĐiều lệ công ty
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập
doanh nghiệp
Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà Cơ quan đăng kí
kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký kinh doanh
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp
Trang 61.2 Quy định pháp lý về doanh nghiệp tư nhân:
1.2.1 Đặc điểm doanh nghiệp tư nhân:
1.2.1.1 Loại hình: Đây là một doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân có đầy đủ các dấu hiệu của một doanh nghiệp như nêu tạikhoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 và tham gia kinh doanh bình đẳng như mọi doanhnghiệp khác trong nền kinh tế thị trường
Với tư cách là một doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân được thừa nhận là một đơn vịkinh doanh độc lập, có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanhtrong khuôn khổ pháp luật Doanh nghiệp tư nhân được hưởng những quy chế pháp lý chungcho các doanh nghiệp tại Việt Nam, mà trong nhiều trường hợp là khác biệt so với các chủthể kinh doanh không phải là doanh nghiệp
1.2.1.2 Chủ sở hữu: Doanh nghiệp tư nhân là do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và
làm chủ.
Đây là điểm khác cơ bản, đầu tiên của doanh nghiệp tư nhân so với các loại hìnhcông ty khác Doanh nghiệp tư nhân không có sự hùn vốn, không có sự liên kết của nhiềuthành viên mà tất cả tài sản của doanh nghiệp thuộc về một chủ duy nhất; người chủ duy nhấtnày là một cá nhân, một người cụ thể Chủ doanh nghiệp không thể là một tổ chức hoặc domột tổ chức thành lập ra Dù một chủ, nhưng doanh nghiệp tư nhân vẫn có thể là một đơn vị
có tổ chức, có giám đốc điều hành, có người làm công… Tính tổ chức của doanh nghiệp tưnhân là tổ chức hoạt động kinh doanh chứ không phải là tổ chức liên kết hợp tác dưới góc độpháp lý
Thêm điểm khác nữa đó là toàn bộ lợi nhuận tạo ra trong quá trình kinh doanh sẽthuộc về chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ không phải nộp thuế thu nhập cánhân đối với phần thu nhập còn lại sau khi doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Vì do môt cá nhân làm chủ sở hữu nên cá nhân đó sẽ là người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp tư nhân, toàn bộ hoạt động kinh doanh sẽ do cá nhân toàn quyền quản lý.Mọi hoạt động từ việc điều hành, quản lý nhân sự, kí kết hợp đồng kinh doanh đến phân phối
Trang 7lợi nhuận sẽ do cá nhân làm chủ hoặc có thể thuê người khác làm giám đốc điều hành thaynhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trước phápluật.
1.2.1.3 Chế độ trách nhiệm: Doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm vô hạn về mọi
hoạt động của doanh nghiệp.
Do không có tính chất độc lập về tài sản của doanh nghiệp với chủ doanh nghiệp haynói cách khác là doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân nên chủ doanh nghiệp tưnhân – người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro của doanh nghiệp sẽ phải chịu chế
độ trách nhiệm vô hạn Chủ doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp trong phạm vi phần đầu tư đã đăng kí với cơ quan đăng kí kinhdoanh mà còn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình trong trường hợp vốn đầu
tư đã đăng kí không đủ để trang trải các khoản nợ của doanh nghiệp tư nhân
Ví dụ: Ông Nguyễn Văn An thành lập một doanh nghiệp tư nhân An Bình có số vốn
đăng kí kinh doanh là 10 tỷ Ngoài ra ông An có một căn nhà mặt tiền trị giá 4 tỷ đồng, mộtchiếc xe ô tô Camry giá 500 triệu, tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng Vietinbank của riêngông Nam là 200 triệu đồng Khi doanh nghiệp tư nhân của ông An làm ăn thua lỗ, không cókhả năng thanh toán các khoản nợ bằng số vốn đã đăng kí kinh doanh là 10 tỷ thì ông Antiếp tục phải lấy 200 triệu tiền tiết kiệm cùng với đem bán ngôi nhà, chiếc xe để thực hiệnnghĩa vụ trả nợ
* Đây vừa là nhược điểm mà cũng chính là ưu điểm mà doanh nghiệp tư nhân có:
Nhược điểm:
- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào.
- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập 1 doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh
nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công tyhợp danh
- Tất cả những tài sản thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp đều nằm trong diện tài
sản trả nợ của doanh nghiệp
Trang 8Ưu điểm:
- Hưởng mọi phần lãi từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tạo lòng tin với nhà đầu tư bởi phần vốn họ bỏ ra ít thất thoát, khả năng thu
hồi cao
- Dễ vay vốn tín dụng từ các ngân hàng bởi các ngân hàng không chỉ xem xét tới
tài sản của doanh nghiệp mà còn là tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân
- Khiến cho chủ đầu tư không dám mạo hiểm đầu tư vào những lĩnh vực có độ
rủi ro cao Điều đó có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế và cónhững nhu cầu xã hội không được đáp ứng thỏa đáng
1.2.1.4 Tư cách pháp lý: Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.
Trong Luật doanh nghiệp 2014 thì các doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp Giấy chứngnhận đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thế nhưng doanh nghiệp tưnhân lại không được đề cập đến vấn đề này Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu rằng doanh nghiệp
tư nhân có tư cách pháp nhân hay không khi nó được thành lập hợp pháp theo quy định củapháp luật, cũng có con dấu, trụ sở kinh doanh, có cơ cấu quản lý chặt chẽ, được cấp Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh như bao doanh nghiệp khác?
Theo điều 84 Bộ luật dân sự 2005 quy định về một tổ chức được gọi là pháp nhân khiđáp ứng đủ 4 điều kiện:
1 Ðược thành lập hợp pháp;
2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
4 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Dựa vào các điều kiện trên thì doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân bởi
nó không đáp ứng được điều kiện thứ 3 và 4 Việc không được công nhận tư cách pháp nhânnày chủ yếu xuất phát từ nguồn vốn mà doanh nghiệp tư nhân có Tài sản của chủ doanhnghiệp và tài sản của doanh nghiệp không được tách bạch rõ ràng Chủ doanh nghiệp tư nhân
Trang 9phải chịu trách nhiệm vô hạn, nghĩa là tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đốivới mọi hoạt động của doanh nghiệp Mặc dù khi đăng ký doanh nghiệp, người chủ phải kêkhai vốn đầu tư vào doanh nghiệp, nhưng không phải chuyển quyền sở hữu cho doanhnghiệp Mặt khác, tài sản tạo lập được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thuộcquyền sở hữu của chủ doanh nghiệp Do đó, bản thân doanh nghiệp tư nhân không phải làchủ thể của pháp luật sở hữu, nghĩa là không có tư cách pháp nhân Chính vì không có tài sảnriêng nên doanh nghiệp tư nhân sẽ không thể tự mình nhân danh chính mình tham gia vàocác quan hệ pháp luật một cách độc lập mà phải phụ thuộc vào chủ sở hữu.
1.2.1.5 Khả năng huy động vốn: Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất cứ
loại chứng khoán nào
Có thể nói, các kênh huy động vốn rộng rãi trong công chúng đã bị ngăn lại, cản trởviệc sử dung của các doanh nghiệp tư nhân Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp tưnhân vì thế rất hạn hẹp Tài sản trong doanh nghiệp tư nhân là một bộ phận trong khối tài sảncủa chủ doanh nghiệp Các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tưnhân cũng chính là nợ của chủ doanh nghiệp Do đó, khi hoạt động kinh doanh phát sinh nhucầu tăng vốn, chỉ có phương thức duy nhất là chủ doanh nghiệp đầu tư thêm Chủ doanhnghiệp tư nhân có thể lấy những tài sản khác của mình để đầu tư hoặc nhân danh cá nhânmình huy động vốn cho doanh nghiệp
1.2.2 Vốn đầu tư doanh nghiệp tư nhân:
Tùy theo từng ngành nghề doanh nghiệp đăng kí kinh doanh mà pháp luật có các yêucầu khác nhau về vốn, ví dụ như:
- Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì vốn pháp định phải có ít nhất 6 tỷ đồngViệt Nam (Điều 3 NĐ 153/2007/NĐ-CP ngày 14/06/2007)
- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ thì vốn pháp định phải có ít nhất 2 tỷđồng Việt Nam (Nghị định 52/2008/NĐ-CP về dịch vụ đòi nợ)
- Doanh nghiệp kinh doanh quán cà phê không bắt phải có vốn pháp định
Trang 10Nguồn vốn ban đầu của doanh nghiệp tư nhân bắt nguồn từ tài sản cá nhân của chủdoanh nghiệp, nó vừa thuộc sở hữu của cá nhân, vừa thuộc sở hữu của doanh nghiệp Vốn cóthể bằng tiền Việt, ngoại tệ chuyển đổi, tài sản hiện vật (có thể là nhà cửa, đất đai),… Phầnvốn này sẽ do chủ doanh nghiệp tự khai báo với cơ quan đăng kí kinh doanh (gọi là vốn đầu
tư của chủ doanh nghiệp tư nhân) và được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán của doanh nghiệp.Nhưng trên thực tế, hầu như không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinhdoanh của doanh nghiệp tư nhân và phần tài sản còn lại thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp.Ranh giới giữa phần tài sản, vốn đưa vào kinh doanh và phần tài sản còn lại của chủ doanhnghiệp chỉ tồn tại một cách tạm thời
Trong quá trình hoạt động chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tăng hoặc giảm vốn đầu
tư theo ý mình mà không phải khai báo với cơ quan đăng kí kinh doanh trừ khi giảm vốnxuống dưới mức đã đăng kí ban đầu
1.2.3 Quản lý doanh nghiệp tư nhân:
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất vì vậy cá nhân duy nhất này cóquyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Chủdoanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân, không phảichia sẻ quyền lợi quản lý với bất kì người nào khác, có quyền định đoạt đối với tài sản doanhnghiệp cũng như toàn quyền quyết định đối với việc tổ chức quản lý doanh nghiệp Chính domột cá nhân quản lý đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định kinh doanh một cáchnhanh chóng mà không cần phải họp để thống nhất ý kiến như các loại hình công ty tráchnhiệm hữu hạn hai thành viên, công ty cổ phần… Ngoài ra, hoạt động quản lý luôn đượcthông suốt, thống nhất do không có sự chia sẻ quyền lực hoặc không nhiều người cùng có 1chức năng, nhiệm vụ khiến các quyết định quản lý bị chồng chéo, vướng mắc khi khôngthống nhất được ý kiến hoặc cùng một sự việc mà có nhiều quyết định quản lý khác nhau
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền trực tiếp quản lí, điều hành hoặc thuê người quản
lí, điều hành doanh nghiệp Trong trường hợp thuê người quản lí, chủ doanh nghiệp vẫn làngười phải chịu trách nhiệm chính trước pháp luật về mọi hoạt động kinh doanh của doanh
Trang 11nghiệp Giới hạn trách nhiệm được phân giữa chủ doanh nghiệp và người được thuê quản líthông qua một hợp đồng.
Ngoài những mặt lợi về quản lý như ở trên thì việc quản trị doanh nghiệp tư nhân hiệnnay ở Việt Nam cũng có nhiều bất cập như:
Phần nhiều doanh nghiệp tư nhân chưa hiện đại hóa về mặt quản trị, chưa nâng caohiệu quả, hiệu suất quản trị, chưa phát huy hết thế mạnh về sự linh hoạt, mềm dẻo, chủ độngvốn có của doanh nghiệp tư nhân
Tính minh bạch trong quản lý và điều hành rất yếu Chỉ có chủ doanh nghiệp hoặcmột vài nhân sự chủ chốt nhất nắm được thông tin “thật” của doanh nghiệp Điều này đemlại sự bất an cho các nhà đầu tư, các ngân hàng trong hoạt động đầu tư hay cho vay
1.2.4 Vận hành doanh nghiệp tư nhân:
Quy chế pháp lý về việc vận hành doanh nghiệp tư nhân không chỉ được quy địnhtrong Luật doanh nghiệp 2014 mà còn trong các văn bản khác như:
Văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định 102/2010/NĐ-CP, nghị định43/2010/NĐ-CP, nghị định 05/2013/NĐ-CP…
Văn bản pháp luật khác: Bộ luật dân sự 2005, Luật thương mại 2005…Nhưng trong đề án này tôi chỉ giới hạn đề cập đến việc vận hành doanh nghiệp tưnhân được quy định trong Luật doanh nghiệp 2014
1.2.4.1 Thủ tục đăng ký và thành lập doanh nghiệp tư nhân:
Điều đầu tiên mà mọi doanh nghiệp đều phải làm đó là chuẩn bị bộ hồ sơ hợp lệ đểthực hiện việc đăng ký kinh doanh
“Điều 27 Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh
1 Người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền gửi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Luật này cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.”
Tiếp đến, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ tiến hành các nghĩa vụ khác có liên quan nhưnộp các khoản phí, lệ phí…theo quy định của pháp luật về việc thành lập doanh nghiệp
Trang 12Luật doanh nghiệp 2014 yêu cầu chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ vốn đầu tư ban đầuvào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp
“Điều 184 Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp
2 Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.”
Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân
và cũng là người có toàn quyền quyết định đối với việc kinh doanh, quản trị của doanhnghiệp cũng như đối với lợi nhuận mà doanh nghiệp có được trong hoạt động kinh doanh củamình
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của pháp luật,không được kinh doanh trái phép, các mặt hàng cấm kinh doanh và thực hiện đầy đủ cácnghĩa vụ về thuế cũng như các nghĩa vụ khác mà pháp luật quy định Chủ doanh nghiệp làngười chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.4.2 Cho thuê doanh nghiệp tư nhân:
Trong quá trình vận hành, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể cho thuê doanh nghiệpcủa mình.Có hai nguyên tắc về việc cho thuê được xác lập trong Luật Doanh nghiệp 201(Điều 186) là:
“Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp”
“Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định, trong hợp đồng cho thuê”.
Việc xác lập quy định về cho thuê doanh nghiệp tư nhân là hoàn toàn hợp lý bởi vìdoanh nghiệp tư nhân chính là một phần tài sản của chủ doanh nghiệp, việc cho thuê tài sản
là một trong những quyền cơ bản thể hiện quyền định đoạt của chủ sở hữu
Cho thuê doanh nghiệp đã giúp cho cá nhân tránh được việc phải mất doanh nghiệpkhi mà cá nhân ấy tạm thời không thể điều hành hay cần vốn để đầu tư việc khác (phát triển
Trang 13công ty trách nhiệm hữu hạn khác, bị đau ốm…) Trong lúc cho thuê, chủ doanh nghiệp vẫnphải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu.
Hợp đồng cho thuê doanh nghiệp tư nhân phải lập thành văn bản có công chứng.Trong trường hợp cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân phải thông báobằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng kýkinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng cho thuê cóhiệu lực thi hành
1.2.4.3 Bán doanh nghiệp tư nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển giao doanh nghiệp bằng cách bán tài sảnkinh doanh
“Điều 187 Bán doanh nghiệp
1 Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác.”
Việc bán, chuyển giao doanh nghiệp tư nhân không giúp cho chủ doanh nghiệp tưnhân trốn tránh khỏi nghĩa vụ trả nợ mà các khoản nợ ấy vẫn theo chủ doanh nghiệp trừ khicác bên mua, bán và chủ nợ có thỏa thuận khác
“Điều 187 Bán doanh nghiệp
2 Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuận khác.”
Các qui định này có lẽ xuất phát từ việc xem các khoản nợ của doanh nghiệp tư nhânnằm trong khối tài sản của chủ doanh nghiệp, bởi như trên đã phân tích thì tài sản củadoanh nghiệp cũng chính là tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân Việc quy định như thếnày nhằm:
Tránh việc chủ doanh nghiệp muốn “phủi tay” khỏi các khoản nợ mà mìnhgây ra trong quá trình kinh doanh và đẩy nó cho người mua
Tăng tính chịu trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanhcủa mình
Trang 14 Giúp bên mua không bị “lừa”, “vướng” vào những khoản nợ ấy do thiếu thôngtin khi mua doanh nghiệp tư nhân.
Đảm bảo cho các chủ nợ sẽ đòi được khoản tiền mà mình đã bỏ ra
Những quy định ấy còn cho thấy việc bán doanh nghiệp tư nhân có thể kèm theo cảchuyển giao nghĩa vụ Về nguyên lý việc chuyển giao nghĩa vụ cần phải được sự đồng ý củachủ nợ, làm tăng tính chủ động của chủ nợ trong bị mua bán này
Các bên mua bán còn bị ràng buộc vào việc thực hiện các qui định pháp luật về laođộng
“Điều 187 Bán doanh nghiệp
3 Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động.”
Chủ doanh nghiệp tư nhân bán doanh nghiệp của mình thì doanh nghiệp đó chấm dứthoạt động, người mua phải làm thủ tục đăng ký lại việc thành lập doanh nghiệp tư nhân vìviệc thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân làm thay đổi khối tài sản bảo vệ lợi ích cho chủ nợ
Từ những phân tích trên cho thấy, hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân là hợpđồng hỗn hợp hay hợp đồng phức hợp mà ở đó bao gồm nhiều yếu tố của các loại hợp đồngchuyên biệt hợp lại như hợp đồng mua bán tài sản thông thường (cả động sản hữu hình vàbất động sản hữu hình), hợp đồng mua bán trái quyền…
1.2.5 So sánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ
với doanh nghiệp tư nhân
Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rấtquan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Mỗiloại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của DN mỗiloại hình DN sẽ đem lại cho chủ đầu tư những lợi thế khác nhau Ngoài loại hình doanhnghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ thì ta còn có loại hình thứ hai là công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ, vậy câu hỏi đặt ra ở đây là làm sao đểphân biệt điểm giống và khác nhau giữa hai loại hình này?
Trang 15Ta có bảng sau:
Khác
Loại hình
Tiêu chí
Doanh nghiệp tư nhân
Công ty trách nhiệm hữu hạnmột thành viên do một cánhân làm chủ
Tư cách pháp nhân Không Có
Chế độ trách nhiệm
Vô hạn (bằng tất cả tàisản của chủ doanhnghiệp)
Hữu hạn (trong vốn điều lệ
của công ty)
Điều khoản ràng buộc
Mỗi cá nhân chỉ đượcquyền thành lập mộtdoanh nghiệp tư nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhânkhông được đồng thời làchủ hộ kinh doanh, thànhviên công ty hợp danh
Không có
Quyền phát hành
chứng khoán Không Không
Thay đổi vốn điều lệ Được Được tăng nhưng không được
giảmNgười đại diện theo
pháp luật Chủ sở hữu
Chủ tịch công ty (chủ sở hữu)hoặc tổng giám đốc hoặc giám
đốc công tyTài sản của doanh
nghiệp
Cũng chính là tài sản củachủ doanh nghiệp
Tách bạch với tài sản của chủ
công ty