Kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây trải qua những bất ổn vĩ mô kéo dài bởi những khiếm khuyết cơ bản của nền kinh tế khi duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Mặc dù nền kinh tế đã có giai đoạn tăng trưởng cao vào những năm đầu của thế kỷ 21 và đã gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình trên thế giới, nhưng những diễn biến tiêu cực gần đây của tăng trưởng, lạm phát, tỉ giá, thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách cao và nợ công tăng nhanh đang làm xấu thêm các chỉ số kinh tế vĩ mô. Những thách thức về nợ công hiện nay cho thấy đã đến lúc cần có một cuộc cải cách tài khóa triệt để và toàn diện nhằm đưa ngân sách dần trở về trạng thái cân bằng nhằm bảo đảm tính bền vững của nợ công và duy trì sự ổn định lâu dài cho nền kinh tế.
Trang 1ĐỀ ÁN MÔN HỌC TÀI CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI
NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Sinh viên thực hiện : Tôn Nữ Thanh Thanh Hằng Lớp : 40K24
Đà Nẵng, 04/2016 –
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 3
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề án 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
1.1 Khái niệm 6
1.1.1 Thâm hụt ngân sách 6
1.1.2 Nợ công 6
1.2 Đặc trưng của nợ công 8
1.3 Bản chất kinh tế của nợ công: 9
1.4 Phân loại nợ công: 11
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá nợ công: 12
1.6 Những tác động của nợ công: 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 17
2.2 Thực trạng nợ công ở Việt Nam 17
1.1.1 Quy mô nợ công 19
1.1.2 Cơ cấu nợ công 20
1.1.3 Tác động của thâm hụt ngân sách và nợ công đến các biến số vĩ mô 22
2.3 Một số giải pháp giải quyết nợ công 26
2.2.1 Thành lập ban giám sát Nợ công thuộc ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội 26
2.2.2 Thiết lập một hệ thống các chỉ tiêu về an toàn nợ 27
2.2.3 Thực hiện hạch toán nợ công theo chuẩn mực quốc tế 27
2.2.4 Phát triển thị trường nợ trong nước 28
2.2.5 Định hướng cắt giảm chi tiêu công 28
2.2.6 Giảm tỉ trọng và số lượng, tăng cường quản trị và tính minh bạch của DNNN 28
2.2.7 Cải cách hệ thống thuế 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây trải qua những bất ổn vĩ mô kéo dài bởinhững khiếm khuyết cơ bản của nền kinh tế khi duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theochiều rộng Mặc dù nền kinh tế đã có giai đoạn tăng trưởng cao vào những năm đầu của thế
kỷ 21 và đã gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình trên thế giới, nhưng những diễnbiến tiêu cực gần đây của tăng trưởng, lạm phát, tỉ giá, thâm hụt thương mại, thâm hụt ngânsách cao và nợ công tăng nhanh đang làm xấu thêm các chỉ số kinh tế vĩ mô Những tháchthức về nợ công hiện nay cho thấy đã đến lúc cần có một cuộc cải cách tài khóa triệt để vàtoàn diện nhằm đưa ngân sách dần trở về trạng thái cân bằng nhằm bảo đảm tính bền vữngcủa nợ công và duy trì sự ổn định lâu dài cho nền kinh tế
Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia Từnhững nước nghèo nhất ở châu Phi đến những quốc gia đang phát triển như Việt Nam,Campuchia hay những cường quốc giàu có với trình độ phát triển cao như Mỹ, Nhật, EU thìđều phải đi vay để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của chính phủ nhằm các mụcđích khác nhau Tuy nhiên, nợ công cần phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả và quản lý tốt,nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất cứ thờiđiểm nào và để lại những hậu quả nghiêm trọng
Trong bối cảnh đó, việc đánh giá toàn diện thực trạng nợ công nhằm nhận diện các rủi
ro và thách thức trong việc giám sát và quản lý nợ công trong tương lai là một việc làm hết
sức cần thiết Nhận thức được điều đó, em đã lựa chọn đề tài “NỢ CÔNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”.
2 Mục đích nghiên cứu đề tài.
Trang 4Phân tích thực trạng nợ công ở Việt Nam trong năm những năm gần đây, từ đó đề xuấtmột số giải pháp giúp làm ổn định mà giảm thiểu tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng nợcông của Việt Nam trong thời gian tới.
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Đề tài nghiên cứu thực trạng và những tác động của thâm hụt ngân sách và nợ côngtăng nhanh ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2015
4 Phương pháp nghiên cứu.
Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, tổng hợp, nghiêncứu tài liệu trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, quy nạp tìm ra một số phương án tối ưu chomục đích nghiên cứu
5 Kết cấu đề án.
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề ánbao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Thực trạng nợ công Việt Nam và một số giải pháp
Em xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đã hướng dẫn tận tình em trong suốt quá trình thực hiện đề án môn học này.
Sinh viên thực hiện
Trang 5ODA Viện trợ phát triển chính thức
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR Chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Trang 6Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách Trong lịch sử, pháthành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêmtrọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không đượcchính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa Do chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngânsách bằng cách đi vay, nên lũy kế các khoản thâm hụt ngân sách chính phủ đến một thờiđiểm nào đó chính là nợ chính phủ.
Phân theo cấp chính quyền, ở một số quốc gia, thâm hụt ngân sách có thể chỉ là chênhlệch giữa tổng thu và tổng chi của chính quyền trung ương Ở một số quốc gia khác thì thâmhụt ngân sách lại bao gồm cả thâm hụt của chính quyền trung ương lẫn địa phương Tuynhiên, theo cách tính chung của các tổ chức quốc tế như IMF hay WB thì thâm hụt ngân sách
sẽ là chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi, không bao gồm chi trả nợ gốc, của cả chính quyềntrung ương lẫn địa phương Ở Việt Nam, thâm hụt ngân sách hàng năm được xác định bằngchênh lệch giữa tổng thu và tổng chi ngân sách trung ương và địa phương trong năm đó củaChính phủ
1.1.2 Nợ công
Trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh tế, trong từng giai đoạn nhất định, Nhà nước
có lúc cần huy động nguồn lực nhiều hơn từ trong và ngoài nước Nói cách khác, khi cáckhoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, Nhà
Trang 7nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu tráchnhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó, thường được gọi là nợ công
Nợ công không phải là một khái niệm hoàn toàn mới nhưng vẫn chưa được nghiên cứumột cách đầy đủ, có hệ thống Thêm vào đó, vấn đề nợ công được tiếp cận theo nhiều cáchkhác nhau, cho nên để đưa ra một định nghĩa chung chính xác là một vấn đề cần được nghiêncứu cụ thể
Tuy nhiên, tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công đều xác định nợcông gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh Một số nước, nợ công còn baogồm nợ của chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệpnhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia…)
Tại Việt Nam, theo Luật quản lý nợ công được ban hành ngày 29/06/2009 và có hiệulực từ ngày 01/01/2010: “Nợ công bao gồm: Nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và
nợ chính quyền địa phương”
Cũng theo luật này:
Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác
do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thựchiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Như vậy, các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trongcũng như ngoài nước), vay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnhđều được xem là nợ công Trước nay mọi người thương chỉ nghĩ đến nợ Chính phỉ khi nóiđến tổng nợ công Khi chính phủ phát hành 1 tỷ đô-la trái phiếu ở nước ngoài, ai cũng biết
Trang 8nó được tính vào tổng nợ công nhưng khi đọc tin một doanh nghiệp thu xếp ký kết mộtkhoản vay 10 tỷ đô-la với một ngân hàng nước ngoài nào đó, có dự bảo lãnh của Chính phủ,
có thể có người vẫn nghĩ đó là nợ doanh nghiệp, không phải nợ công
Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”, là tổng các khoản
nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chứckhác vay theo phương thức tự vay, tự trả (Luật quản lý nợ công, 2009) Vốn vay từ ADBhay WB đương nhiên là nợ nước ngoài rồi nhưng một doanh nghiệp vay từ đối tác nướcngoài vài trăm triệu tỷ đô-la, chẳng hạn, dù có hay không có bảo lãnh của Chính phủ, thìkhoản tiền đó vẫn phải tính vào tổng nợ nước ngoài của quốc gia
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ; khi chi tiêu của Chính phủ lớnhơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc ngoài nước) để trang trảithâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽphải thu thuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gianđánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất là cách đánhthuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước thể hiện sự chuyển gia của cải từ thế hệ sau(thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế)
1.2 Đặc trưng của nợ công
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công
có những đặc trưng sau đây:
Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước Khác với cáckhoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ củaNhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếp được hiểu là cơquan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu tráchnhiệm trả nợ khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương) Giántiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thểtrong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ
Trang 9thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triển ViệtNam vay vốn nước ngoài).
Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhànước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mụcđích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảmbảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt được những mụctiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có
ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và xã hội Theo quy định của pháp luật Việt Nam,nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huyđộng, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản như đã nêutrên
Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế– xã hội vì lợi ích chung Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn nhữnglợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước Xuất phát từbản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân,
do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi íchcủa nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phải coi đó là điềukiện quan trọng nhất
1.3 Bản chất kinh tế của nợ công:
Nghiên cứu làm rõ bản chất kinh tế của nợ công và quan điểm của kinh tế học về nợcông sẽ giúp các nhà làm luật xây dựng các quy định pháp luật phù hợp với tình hình kinh tế– xã hội nhằm đạt được hiệu quả trong sử dụng nợ công ở Việt Nam Xét về bản chất kinh tế,khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượt quá khả năng thu của mình(khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vay vốn và điều đó làm phát sinh nợcông Như vậy, nợ công là hệ quả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn và Nhà nước phải cótrách nhiệm hoàn trả Do đó, nghiên cứu về nợ công phải bắt nguồn từ quan niệm về việcNhà nước đi vay là như thế nào
Trang 10Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của ngân sách nhà nướcđược các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫn được ghi nhận trong phápluật ở hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân sách thăng bằng Theo nghĩa cổ điển, ngânsách thăng bằng được hiểu là một ngân sách mà ở đó, số chi bằng với số thu Về ý nghĩa kinh
tế, điều này giúp Nhà nước tiết kiệm chi tiêu hoang phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắcnày sẽ giúp hạn chế tình trạng Chính phủ lạm thu thông qua việc quyết định các khoản thuế
Các nhà kinh tế học cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B.Say là những người khởixướng và ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chính công Và chính vì thế, cácnhà kinh tế học cổ điển không đồng tình với việc Nhà nước có thể vay nợ để chi tiêu
Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học được đánh giá là cóảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là John M.Keynes (1883-1946) và nhữngngười ủng hộ mình (gọi là trường phái Keynes) lại cho rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt
là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp, thì Nhà nước cần ổnđịnh đầu tư bằng cách vay tiền (tức là cố ý tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự
án đầu tư công cộng như đường xá, cầu cống và trường học, cho đến khi nền kinh tế có mứcđầu tư tốt trở lại Học thuyết của Keynes (cùng với sự chỉnh sửa nhất định từ những đónggóp cũng như phản đối của một số nhà kinh tế học sau này là Milton Friedman và PaulSamuelson) được hầu hết các Chính phủ áp dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trìtrệ của nền kinh tế
Ngược lại với Keynes, Milton Friedman cho rằng, việc sử dụng chính sách tài khóanhằm tăng chi tiêu và việc làm sẽ không có hiệu quả và dễ dẫn đến lạm phát trong thời suythoái vì người dân thường chi tiêu dựa trên kỳ vọng về thu nhập thường xuyên chứ khôngphải thu nhập hiện tại và mọi chính sách đều có độ trễ nhất định Thay vì thực hiện chínhsách tài khóa thiếu hụt, Nhà nước nên thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả Còn PaulSamuelson, một nhà kinh tế học theo trường phái Keynes, đã có những bổ sung quan trọngtrong quan niệm về chính sách tài khóa của Keynes Ông cho rằng, để kích thích nền kinh tếvượt qua sự trì trệ, cần thiết phải thực hiện cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền
tệ linh hoạt Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc ngân sách
Trang 11thăng bằng, nhưng khái niệm thăng bằng không còn được hiểu một cách cứng nhắc như quanniệm của các nhà kinh tế học cổ điển, mà đã có sự uyển chuyển hơn Ví dụ, theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam, các khoản chi thường xuyên không được vượt quá các khoản thu từthuế, phí và lệ phí; nguồn thu từ vay nợ chỉ để dành cho các mục tiêu phát triển
Hầu hết các quốc gia thực hiện nền kinh tế thị trường đều có hoạt động vay nợ Việcvay nợ của Nhà nước thường được thực hiện dựa trên quan điểm của Keynes, nhưng có haiđiều chỉnh quan trọng: một là, việc cố ý thâm hụt ngân sách và bù đắp bằng các khoản vaykhông được thực hiện vĩnh viễn, bởi lẽ xét về lý thuyết thì những tác động từ các khoản vaychỉ có ích trong ngắn hạn còn về dài hạn lại có ảnh hưởng tiêu cực và do đó Nhà nước cầnphải có giới hạn về mặt thời gian trong việc sử dụng các khoản vay; và hai là, các khoản nợcông phải được kiểm soát kỹ lưỡng nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng, đồng thời hạn chếnhững tác động không mong muốn từ việc sử dụng các khoản vay Việc quản lý nợ cônghiệu quả sẽ giúp mục đích vay vốn đạt được với chi phí thấp nhất, đồng thời đảm bảo khảnăng trả nợ đúng hạn
1.4 Phân loại nợ công:
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trongviệc quản lý và sử dụng nợ công
Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay, nợ công gồm có hai loại: nợ trong nước
và nợ nước ngoài Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam
Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chứctài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợnước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản
nợ công không phải là nợ trong nước Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ýnghĩa quan trọng trong quản lý nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác địnhchính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợnước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vaynước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tếkhác
Trang 12Theo phương thức huy động vốn, nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trựctiếp và nợ công từ công cụ nợ Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từnhững thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chứccho vay Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốcgia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài Nợ công từcông cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hànhcác công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vôdanh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính Theo tính chất ưu đãi của khoảnvay làm phát sinh nợ công thì nợ công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốnvay ưu đãi và nợ thương mại thông thường
Theo trách nhiệm đối với chủ nợ, nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và
nợ công bảo lãnh Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương
có nghĩa vụ trả nợ Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh chongười vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ
Theo cấp quản lý nợ, nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương và nợcông của chính quyền địa phương Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ,
nợ do Chính phủ bảo lãnh Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địaphương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy định của Luật Ngân sách nhànước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thungân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủđảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá nợ công:
Để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỷ lệ nợ công/GDP được coi là chỉ sốđánh giá phổ biến nhất cho cái nhìn tổng quát về tình hình nợ công của một quốc gia, đánhgiá mức an toàn của nợ công Mức độ an toàn được thể hiện qua việc nợ công có vượtngưỡng an toàn tại một thời điểm hay giai đoạn nào đó Để bảo đảm an toàn của nợ công,các nước thường sử dụng các tiêu chí sau làm giới hạn vay và trả nợ:
Trang 13 Thứ nhất, giới hạn nợ công không vượt quá 50% - 60% GDP hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu
Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch
vụ trả nợ của chính phủ không vượt quá 10% chi ngân sách
Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra mức quy định ngưỡng an toàn nợ công là 50% GDP.Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp các nước đang pháttriển nên ở mức dưới 50% GDP
Tuy nhiên, trên thực tế không có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế; khôngphải tỷ lệ nợ công trên GDP thấp là trong ngưỡng an toàn và ngược lại Mức độ an toàn của
nợ công phụ thuộc vào tình trạng mạnh hay yếu của nền kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêukinh tế vĩ mô Chẳng hạn, Hoa Kỳ có tỉ lệ nợ bằng 96% GDP, nhưng vẫn được xem là ởngưỡng an toàn bởi năng suất lao động cao nhất thế giới là cơ sở đảm bảo bền vững cho việctrả nợ Nhật Bản có số nợ tương đương với 200 % GDP vẫn được coi là ở ngưỡng an toàn.Trong khi đó, nhiều nước có tỷ lệ nợ trên GDP thấp hơn rất nhiều nhưng đã rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng nợ như: Venezuela năm 1981 tỷ lệ đó là 15% GDP, tương tự với TháiLan năm 1996; trường hợp Argentina năm 2001 là 45% GDP; Ukraina năm 2007 chỉ với 13
% GDP và Rumani là 20% GDP Mới đây là trường hợp của Hy Lạp với tỷ lệ nợ lên đến113,5 % GDP, Ireland ước khoảng 98,5 % GDP Chính vì vậy, để xác định, đánh giá đúngđắn mức độ an toàn của nợ công, không thể chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ trên GDP, mà cần phảixem xét nợ công một cách toàn diện trong mối liên hệ với hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ môcủa nền kinh tế quốc dân, nhất là: tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất laođộng tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỉ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiếtkiệm nội địa và mức đầu tư toàn xã hội Bên cạnh đó, những tiêu chí như: cơ cấu nợ công,
tỷ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được phân tích kỹ lưỡng khiđánh giá tính bền vững nợ công
1.6 Những tác động của nợ công:
Như trên đã phân tích, nợ công vừa có nhiều tác động tích cực nhưng cũng có một sốtác động tiêu cực Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực,
Trang 14hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản
lý nợ công Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn đểphát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước Việt Nam đangtrong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanhchóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Với chính sách huy động nợ công hợp lý,nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lựcsản xuất cho nền kinh tế
Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân
cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay
nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cảkhu vực công lẫn khu vực tư
Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chínhquốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng củacác nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp táckinh tế song phương Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiềunguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn,đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Bêncạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực nhấtđịnh Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoàinước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tìnhtrạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng vàquản lý nợ công
Trang 15Bên cạnh những tác động tiêu cực trên, nợ công còn có không ít tác động tiêu cực đếnthị trường cũng như nền kinh tế:
Ảnh hưởng ngược từ các chính sách khi nợ công quá lớn: Khi nợ công quá lớn,việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảm thâm hụt ngânsách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từcác tổ chức tín dụng quốc
tế Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủnghoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà chính phủcác nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làmgiảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làmchậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí cóthể đẩy nền kinh tế vào “khủng hoảng kép”
Bị hạ bậc tín nhiệmKhi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tínnhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc giakhác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mụctiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế Khi đó, các quỹ đầu tư lớn lập tức bán ra loạitrái phiếu này, đồng thời từ chối mua vào trong các đợt phát hành tiếp theo Nếu chính phủmuốn huy động tiền từ thị trường tài chính sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó,rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụt bậc tín nhiệm
Tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tếTrong những năm gần đây,hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó
so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý dosau:
- Tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảmsút.- Gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân
- Tăng thuế để trả lãi nợ vay chính công dân nước mình Thuế làm méo mó nềnkinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội Ngoài ra, còn có một số quanđiểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽkhông có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu củachính phủ tăng lên)