Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục tiêu đề ra, tác giả đã thu thập các số liệu, tài liệu cần thiết, tiến hành nghiên cứu tổng quan những biến động về mưa lũ mưa sin
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giao thông được coi là huyết mạch của mỗi quốc gia, muốn phát triển đất nước cần phải hoàn thiện và hiện đại hệ thống giao thông Hàng năm nhà nước đã đầu tư rất nhiều kinh phí cho phát triển giao thông trên toàn quốc Các tuyến đường được đầu tư xây mới, nâng cấp và mở rộng để đảm bảo giao thương kinh tế văn hóa các vùng trên
cả nước và quốc tế
Với trên 2/3 diện tích của đất nước là địa hình đồi núi, theo thống kê của Bộ GTVT đường miền núi chiếm hơn 70% km trong tổng km chiều dài đường bộ cả nước Đường miền núi chủ yếu cấp V, chỉ một số km là cấp III và IV cho nên các công trình thoát nước như cầu, cống và rãnh thoát nước chưa được chú trọng trong thiết kế và xây dựng, việc tính toán thủy văn thủy lực còn hạn chế
Trong những năm gần đây, việc thiết kế đường ô tô đã chuyển từ tiêu chuẩn 22 - TCN
- 4054 - 85 sang 22 - TCN - 4054 - 98, 22TCN - 4054 - 2005 và các tiêu chuẩn tính toán lũ thoát nước cũng chuyển từ 22TCN - 1995, 22TCN 273 - 01; 22TCN 273 - 05 sang TCVN 9845:2013 với các yêu cầu kỹ thuật cao hơn, các tuyến đường cần cải tạo theo tiêu chuẩn mới để tăng mức độ an toàn chạy xe nhằm đáp ứng chiến lược an toàn giao thông quốc gia và nâng cao hiệu quả vận tải
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với chế độ mưa lũ rất khắc nghiệt và dường như mức độ đó ngày càng tăng lên do biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho các công trình giao thông thường bị hư hỏng nặng nề Các hư hỏng của hệ thống đường bộ có nhiều nguyên nhân như: chế độ khí hậu có sự thay đổi đáng kể và
xu thế ngày càng ác liệt; do các nguyên nhân địa chất, nền móng và có thể do công tác xây dựng, vận hành và bảo dưỡng Tuy nhiên trong các nhóm nguyên nhân kể trên thì vấn đề ảnh hưởng của mưa, lũ là nguyên nhân chính gây tác động đáng kể tới các hư hỏng của công trình Các hư hỏng thường kể đến như hiện tượng sạt lở ta luy dương,
âm, trôi cầu cống, hỏng mố trụ đều do nguyên nhân tính lũ thiết kế chưa đúng hoặc chưa phù hợp
Trang 22
Trong TCVN 9845:2013,''Tiêu chuẩn tính toán đặc trưng dòng chảy lũ'' (được biên soạn dựa theo QP.TL C - 6 - 77) đã giới thiệu một số phương pháp tính lũ thiết kế từ mưa rào như Cường độ giới hạn, Xokolopsky, phương pháp của trường Đại học Xây dựng Các phương pháp trên do các tác giả Liên Xô (cũ) xây dựng và đã được đưa vào
sử dụng ở nước ta Tuy nhiên, các công thức này có nhiều thông số được xác định trong điều kiện của nước Nga, khi đưa vào quy phạm tính toán của Việt Nam dù đã được hiệu chỉnh nhưng trong điều kiện rất thiếu số liệu nên chưa được chuẩn hóa; có những thông số rất khó xác định, với phạm vi thay đổi quá lớn, dẫn tới kết quả tính toán có độ chính xác không cao, tùy thuộc vào quan điểm lựa chọn thông số của mỗi người sử dụng và hậu quả là rủi ro hư hỏng công trình cũng tăng lên
Khó khăn chính trong tính toán lũ thiết kế cho công trình giao thông ở Việt Nam là thiếu các tài liệu từ các đặc trưng lưu vực, đất đai, lớp phủ, đặc biệt là mưa và dòng chảy thực đo thời đoạn ngắn thường chỉ có tài liệu mưa ngày, tuy nhiên khối lượng
cũng rất hạn chế Vì vậy, luận án“Nghiên cứu sự biến động của mưa lũ và đề xuất cơ
sở khoa học tính lũ cho công trình giao thông vùng núi Đông Bắc - Việt Nam” mà NCS lựa chọn là rất cấp thiết và có ý nghĩa khoa học
Kết quả của luận án là cơ sở khoa học đề xuất các phương pháp tính lũ thiết kế đơn giản với độ tin cậy và mức độ ổn định cao hơn, phục vụ xây dựng các công trình thoát nước trên đường, góp phần cập nhật và xây dựng qui trình tính hợp lý cho công tác duy tu, bảo dưỡng và nâng cấp các công trình hiện có, cũng như xây dựng các công trình mới an toàn, giảm thiểu các thiệt hại cho các công trình giao thông
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu những biến động của mưa lũ, chi tiết hóa mưa và mặt đệm, xác lập cơ sở khoa học tính lũ thiết kế cho công trình giao thông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của luận án gồm hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn nằm trong vùng núi Đông Bắc - Việt Nam;
- Đối tượng nghiên cứu là mưa và lũ thiết kế phục vụ xây dựng các công trình thoát nước nằm trên các quốc lộ QL3, 3B, 279, 3, 4A, 4B, 1A thuộc khu vực nghiên cứu
Trang 33
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, tác giả đã thu thập các số liệu, tài liệu cần thiết, tiến hành nghiên cứu tổng quan những biến động về mưa lũ (mưa sinh lũ), các phương pháp tính
lũ thiết kế cho công trình giao thông ở trong nước và trên thế giới từ đó lựa chọn hướng tiếp cận phù hợp, vừa mang tính kế thừa vừa đảm bảo tính sáng tạo trong nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong luận án bao gồm: i) phương pháp phân tích, thống kê, kế thừa có chọn lọc các tài liệu đã có nhằm tập hợp, đánh giá những biến động về mưa lũ trong khu vực nghiên cứu; ii) phương pháp phân tích ảnh viễn thám, GIS phục vụ mô phỏng lưu vực trong các mô hình toán và xây dựng các bản đồ chyên
đề làm cơ sở khoa học cho các phương pháp tính lũ kiến nghị; iii) phương pháp mô hình toán, tính toán thử nghiệm làm cơ sở cho việc kiến nghị các phương pháp tính lũ thiết kế phù hợp cho các công trình giao thông khu vực Đông Bắc - Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Quá trình phát triển dân sinh kinh tế ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải nâng cấp và xây mới hàng loạt các tuyến đường giao thông huyết mạch, đặc biệt là các tuyến đường giao thông miền núi vì vậy kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa thực tiễn cao vì
đã giải quyết những khó khăn hiện nay trong tính toán thủy văn, thủy lực hiện nay Việc nghiên cứu biến động của mưa lũ cho khu vực Đông Bắc và xác lập cơ sở khoa học tính lũ thiết kế cho các công trình giao thông ở khu vực này có ý nghĩa khoa học trong việc tiếp cận với những phương pháp tính toán hiện đại và tiện lợi làm tiền đề cho việc xây dựng một quy trình tính toán phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong tương lai gần
6 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã hoàn thiện phương pháp tính lũ thiết kế cho công trình giao thông có xét đến biến động của mưa lũ và chi tiết hóa đặc điểm tự nhiên của khu vực Đông Bắc, trên cơ sở ứng dụng thành tựu công nghệ hiện đại là hệ thống thông tin địa lý (GIS);
- Đã bước đầu xây dựng được phần mềm hỗ trợ tính lũ cho công trình thoát nước trên đường giao thông
Trang 44
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu tính lũ thiết kế cho công trình giao thông
Chương 2: Xây dựng cơ sở khoa học tính lũ cho công trình giao thông vùng núi Đông
Bắc - Việt Nam
Chương 3: Tính thử nghiệm và đề xuất phương pháp tính lũ cho công trình giao thông
vùng núi Đông Bắc - Việt Nam
Trang 55
CHO CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
về lũ thiết kế điển hình có thể kể đến như:
Chow (1964), Shaw [1] là cuốn sổ tay tính toán thủy văn có đề cập đến phương pháp
tính toán lũ thiết kế phụ thuộc vào diện tích lưu vực và tình trạng số liệu: đối với lưu vực lớn, đủ số liệu thì dùng phương pháp ngẫu nhiên (thống kê xác suất), đối với lưu
vực nhỏ dùng phương pháp mô hình quan hệ, đường lũ đơn vị và quan hệ lưu lượng với diện tích và thời gian
Chow, Maidment (1988) [2] là tài liệu cơ bản nhất có đề cập đến tính toán thủy văn
và các đặc trưng thủy văn thiết kế như quá trình thu phóng, lựa chọn mưa thiết kế và xây dựng đường cong IDF, biểu đồ mưa thiết kế dạng đường cong tích lũy 24h, ước tính thời gian mưa giới hạn, tính toán lượng mưa lớn nhất khả năng (PMF), các bản đồ đẳng trị mưa với các thời gian mưa, D = 5 - 60 phút hay 30 phút - 24h cho các thời kỳ lặp lại T = 1 - 100 năm Các phương pháp chuyển đổi mưa hiệu quả và xác định dòng chảy thiết kế gồm đỉnh lũ, tổng lượng và quá trình lũ thiết kế dùng để thiết kế công trình thoát nước, mô phỏng vùng ngập lụt, thiết kế hồ chứa, sử dụng và quản lý tài
nguyên nước Đối với thoát nước, Chow cũng giới thiệu phương pháp tính lũ cho lưu vực vừa và nhỏ theo mô hình quan hệ với A là diện tích lưu vực, I là cường độ mưa, C
Trang 66
là hệ số dòng chảy Ngoài ra, các đường lũ đơn vị cũng được đề cập sử dụng cho các lưu vực vừa và nhỏ
Vijay (2002) [3] trình bày các mô hình toán ứng dụng để tính lũ cho lưu vực lớn và
các lưu vực nhỏ Đối với các lưu vực nhỏ các mô hình ứng dụng trình bày 15 mô hình đại diện trên toàn thế giới Về lý thuyết cơ bản để xây dựng các mô hình đều là những kiến thức ứng dụng từ các tài liệu của Chow hay Maidment
Raghunath (2006) [4] là tài liệu về nguyên lý thủy văn, trình bày các vấn đề về tính
thủy văn vùng Tapti, Ấn độ (miền trung Ấn độ) Phần tính lũ thiết kế gồm tổng lượng
lũ, đỉnh lũ, tần suất lũ, xác suất rủi ro với các phương pháp đề xuất như: Đường lũ đơn
vị tức thời, mô hình Nash, mô hình Clark, đường lũ đơn vị SCS, hồi quy tuyến tính, phân tích thống kê xác suất, mô hình toán, tính lũ tại vị trí không có số liệu quan trắc
theo phương pháp hồi quy đa biến
Ngoài các tài liệu cơ bản đã nêu, còn có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu liên quan đề cập đến các phương pháp tính lũ thiết kế trên thế giới Về cơ bản, lý thuyết tập trung dòng chảy hay phương thức chuyển đổi mưa hiệu quả vẫn như những tài liệu trên, tuy nhiên từ hai thập kỷ trở lại đây với sự phát triển vượt bậc của công nghệ máy tính, kỹ thuật viễn thám và GIS cho phép các nhà khoa học phân tích và thử nghiệm, cập nhật những công nghệ hiện đại nhằm chính xác hóa các tham số mà các phương pháp trước đây chưa xây dựng được
Các nghiên cứu về tính lũ thiết kế ở Việt Nam
1.1.2
Một số các tài liệu điển hình đề cập đến tính lũ thiết kế ở Việt Nam như:
Quy phạm QP.TL C-6-77 (1977) [5] trình bày phương pháp tính toán các đặc trưng
thủy văn cần thiết cho việc thiết kế các công trình thủy lợi trên các sông không bị ảnh hưởng của thủy triều ở Việt Nam Các đặc trưng thủy văn được hướng dẫn tính trong quy phạm này bao gồm: lưu lượng bình quân năm, lưu lượng lớn nhất, lưu lượng nhỏ nhất, sự phân phối dòng chảy năm, các loại mực nước thiết kế và các thông số khác Khi tính lũ phục vụ thiết kế các công trình trên sông trong trường hợp đủ số liệu thì tiến hành phân tích tần suất, trong trường hợp không có số liệu thì sử dụng các công thức kinh nghiệm như: công thức cường độ giới hạn cho lưu vực có diện tích nhỏ hơn
Trang 77
100 km2, công thức Triết giảm và Xokolopxky cho lưu vực có diện tích trên 100 km2
Cho đến nay quy định về phương pháp tính lũ thiết kế vẫn chủ yếu dựa trên quy phạm này nên có một số bất cập như các bảng tra không được cập nhập; việc xác định một
số thông số vẫn phụ thuộc vào kinh nghiệm và chủ quan của người tính toán
Đỗ Cao Đàm và nnk (1990) [6] đã xuất bản cuốn Thủy văn công trình, trong tài liệu
có trình bày cách tính lũ thiết kế, các phương pháp này chủ yếu cũng là các phương pháp đã được đề cập trong QP.TL C - 6 - 77
Lê Đình Thành (1997) [7] đã nghiên cứu tìm ra khả năng và điều kiện ứng dụng
phương pháp tính mưa lớn nhất khả năng (PMP) và lũ lớn nhất khả năng (PMF), từ đó kiến nghị một tiêu chuẩn tính lũ thiết kế hợp lý hơn cho điều kiện Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã đề cập một cách chi tiết đến các phương pháp cũng như tính lũ liên quan đến lũ lớn nhất khả năng, tuy nhiên đối với công trình giao thông mức độ và tiêu chuẩn cũng như tính chất của công trình nếu xét theo bài toán này cần phải có những nghiên cứu cụ thể hơn nữa trong tương lai
Lê Văn Nghinh (2000) [8] đã biên soạn cuốn Nguyên lý Thủy văn, đây cũng là một
tài liệu quan trọng đề cập đến tính toán các đặc trưng thiết kế như dòng chảy năm, tháng, lũ, kiệt và mực nước thiết kế Các phương pháp tính lũ thiết kế cũng bao gồm các phương pháp nằm trong QP.TL C - 6 - 77 Tuy nhiên, tài liệu chủ yếu đề cập đến dòng chảy tháng và năm thiết kế phục vụ cho xây dựng và vận hành hồ chứa
Bộ môn TV&TNN (2003) [9] đã biên soạn cuốn Thủy văn thiết kế, đây cũng là tài
liệu quan trọng dùng để tính toán các đặc trưng thiết kế công trình Tuy nhiên các phương pháp và cách tiếp cận cũng dựa trên nền của QP.TL C - 6 - 77
Phạm Ngọc Quý và nnk (2005) [10], đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên
cứu cảnh báo dự báo lũ vượt thiết kế - Giải pháp tràn sự cố” đã tiến hành xây dựng phần mềm tính lũ thiết kế Phần mềm này cho phép tính lũ theo tần suất thiết kế dựa vào các công thức kinh nghiệm trong QP.TL C - 6 - 77 nêu trên, phương pháp tính lũ đơn vị SCS, tính lũ lớn nhất khả năng PMF theo phương pháp thống kê của Hasfield Tuy nhiên phần mềm này cũng chưa có sự cập nhập mới nào về bảng tra
Trang 88
Hà Văn Khối và nnk (2012) [11] đã cập nhật và cho tái bản cuốn giáo trình Thủy văn
công trình (ấn phẩm đầu tiên được xuất bản năm 1993) gồm 2 tập trong đó Tập 1 trình bày các phương pháp tính toán lũ thiết kế Về cơ bản các phương pháp tính toán đều theo QP.TL C - 6 - 77, tuy nhiên cuốn giáo trình có cập nhập và giới thiệu thêm các kỹ thuật mới sử dụng trong tính toán lũ thiết kế như mô hình toán thủy văn bao gồm các
mô hình thủy văn tất định tính toán dòng chảy từ mưa, các mô hình lũ đơn vị
Ngô Lê Long và nnk (2015) [12] trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước
“Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất các tiêu chuẩn thiết kế lũ, đê biển trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Việt Nam và giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại” đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất phương pháp tính lũ thiết kế cho các công trình hồ chứa có xét tới tác động của biến đổi khí hậu Nghiên cứu cũng đã xác lập được cơ sở khoa học và thực tiễn của các tiêu chuẩn thiết kế lũ được đề xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở nước ta đảm bảo an toàn, an sinh xã hội
1.2 Tổng quan tính lũ thiết kế cho công trình giao thông
Việc tính lũ phục vụ thiết kế các công trình giao thông trên thế giới được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Qua tìm hiểu và phân tích các tài liệu liên quan, có thể phân các phương pháp tính lũ thiết kế cho các công trình thoát nước trong giao thông
nói chung thành hai nhóm chính: i) nhóm các phương pháp sử dụng ở các nước Nhật, phương Tây và Mỹ và ii) nhóm các phương pháp sử dụng ở các nước Đông Âu, Nga
và Việt Nam (hình 1.1)
Hình 1.1 Các phương pháp tính lũ cho giao thông trên thế giới
Trang 9hệ cho những lưu vực có diện tích A < 20km2 (dùng đường cong IDF cho các vùng có
số liệu mưa, trường hợp không có số liệu mưa thì có thể sử dụng từ vùng có diện tích
A > 100km2) Đối với các lưu vực A > 20km2 ngoài phương pháp mô hình quan hệ còn
sử dụng đường lũ đơn vị và phương trình lượng trữ Tại các công trình có số liệu lũ thực đo sử dụng phương pháp thống kê xác suất theo lý thuyết của Bulletin (1982) với yêu cầu tối thiểu n ≥ 10 năm đo đạc
+) Các phương pháp tính lũ thiết kế ở Anh
Tính lũ thiết kế được trình bày trong Hướng dẫn thiết kế cầu đường Tiêu chuẩn kỹ thuật của Cơ quan đường bộ quốc gia [15], [16] hoặc nhiều tài liệu khác, ở đây các phương pháp cũng phân theo diện tích: đối với diện tích lưu vực nhỏ (A < 20km2) và không đủ số liệu đo đạc lũ thì sử dụng các công thức đơn giản từ mưa (mưa năm), diện tích lưu vực và các chỉ số về đất; còn đối với trường hợp nhiều số liệu lũ thực đo thì tính theo phương pháp thống kê xác suất
+) Các phương pháp tính lũ thiết kế ở Mỹ
Các phương pháp dùng tính lũ thiết kế trong giao thông ở Mỹ thường được đề cập trong các tài liệu như: [17] Hướng dẫn tính thoát nước trên đường (AASHTO) [18]; Tài liệu giới thiệu mô hình toán thủy văn HEC; Thủy văn đường bộ (FHWA) [19], [20]; Hướng dẫn kỹ thuật (TR55) hay các tiêu chuẩn thiết kế [21], [22], [23], [24]; Nhìn chung, các phương pháp này được chia thành hai nhóm: i) Đối vùng rộng lớn, có
số liệu thực đo sử dụng phương pháp thống kê xác suất với các phân bố như Log Normal, PIII, Gumbell; ii) Đối với vùng không có số liệu thì dựa vào đặc tính của vùng để tính theo các phương pháp như: mô hình quan hệ; đường lũ đơn vị tổng hợp
Trang 1010
SCS; các phương trình hồi quy vùng và hồi quy theo USGS (dùng trong quy hoạch) Ngoài ra, phương pháp TR55 (mô hình WinTR55) thường dùng để tính lũ cho lưu vực nhỏ A(F) < 65km2 cho kết quả khá tốt Do điều kiện số liệu đầy đủ chi tiết về mưa và mặt đệm nên ở Mỹ xây dựng rất nhiều bảng tra, bản đồ cường độ mưa thiết kế trên toàn quốc, lượng mưa thời đoạn dài (d > 1h) được chuyển đổi thành lượng mưa thời đoạn ngắn hơn (d < 1h) Các phương pháp được tóm tắt trong bảng sau:
+) Các phương pháp tính lũ thiết kế ở Úc Phương pháp tính lũ thiết kế được đề cập
Bảng 1.1 Tóm tắt các phương pháp tính lũ thiết kế cho giao thông ở Mỹ
1)Mô hình quan hệ * Lưu vực nhỏ (A < 1,3 km 2
)
* Thời gian tập trung dòng chảy Tc < 1h
* Mưa phân bố đều theo không gian và thời gian
* Dòng chảy tràn trên bề mặt là chủ yếu
* Lượng trữ trong kênh không đáng kể
* Tc thời gian tập trung dòng chảy (h);
* Diện tích lưu vực giới hạn từng vùng
* Giá trị đỉnh lũ do điều kiện tự nhiên chứ không chịu tác động của các yếu tố khác Thường dùng trong quy hoạch
SCS
* A = 0,4–2500 km2
* Thời gian mưa và cường độ mưa đều
* Quan hệ mưa và dòng chảy là tuyến tính
* Bản đồ đẳng trị, phân bố mưa
* Diện tích A (km2)
* Chiều dài lưu vực L (km; m)
* Chiều dài lưu vực Lc (km; m)
* Biểu đồ lũ đơn vị tổng hợp 6) Phương pháp
thống kê: Log PIII;
Trang 11+) Ở Columbia, theo tài liệu đại biểu như ''Hướng dẫn và tiêu chuẩn thiết kế cầu'', (2007) đã trình bày tính lũ theo cỡ lưu vực, đối với lưu vực có diện tích thoát nước A >
20 km2 dùng các phương pháp: phân tích tần suất trạm - thống kê xác suất (Các phân phối xác suất được sử dụng gồm EVT1, Log Normal, Log Pearson III); phân tích tần suất vùng (hồi quy vùng); mô hình quan hệ Đối với diện tích lưu vực nhỏ và đô thị (A
< 10 km2) dùng mô hình quan hệ
Một số nghiên cứu tiêu biểu về các phương pháp tính lũ thiết kế cho công trình giao thông ở Mỹ, Anh, Úc, Nhật như sau:
Richard H.Mc Cuen (2002) [25] biên soạn tài liệu hướng dẫn tính lũ thiết kế cho
công trình giao thông ở Mỹ Tài liệu đề cập đến cách tiếp cận, phương pháp và điều kiện áp dụng trong thiết kế các công trình thoát nước qua đường bộ Trong đó đề cập đến phương pháp tính mưa thiết kế tính riêng cho vùng có và không có trạm; Các
phương pháp xác định đỉnh lũ thiết kế bao gồm thống kê xác suất theo Gumbel và log Pearson III, phương trình hồi quy, phương pháp SCS - CN, mô hình quan hệ Các
công thức kinh nghiệm để xác định lưu lượng đỉnh lũ và các đường lũ đơn vị dạng phân tích và tổng hợp để xác định quá trình lũ thiết kế; các công thức xác định thời
gian tập trung dòng chảy Tc
DPWH(2002) [26] đã biên soạn ''Hướng dẫn và tiêu chuẩn kỹ thuật ở Nhật bản, 2002,
phần phân tích thủy văn thiết kế Nội dung tính toán thủy văn gồm: quá trình khảo sát, điều tra, phân tích mưa và dòng chảy (trạm đại biểu) Số liệu yêu cầu để tính lũ bao gồm mưa ngày, mưa giờ, biểu đồ mưa thiết kế theo hình hình thế thời tiết, mực nước
Trang 1212
lớn nhất ngày, lưu lượng lũ tự ghi, quan hệ H~Q Trong đó, phương pháp tất định dùng
để xác định lũ thiết kế trong trường hợp không có số liệu đo đạc Phần tính mưa thiết
kế, tài liệu đã trình bày cách xây dựng và ứng dụng đường cong IDF dùng tính lũ theo công thức mô hình quan hệ trong trường hợp A < 20km2, trong trường hợp không đủ
số liệu mưa có thể lấy đường cong IDF của lưu vực tương tự có số liệu Đối với diện tích lưu vực A > 20km2
thì tính theo các bước: Ứng dụng GIS xây dựng lưu vực với bản đồ địa hình 1:50.000; tính mưa thiết kế trung bình bao gồm lượng mưa trung bình năm lớn nhất, lượng mưa trung bình theo thời kỳ lặp lại theo phương pháp số học, đa giác Thessien; lựa chọn phân bố mưa điển hình và thiết lập đường cong lũy tích điển
hình cho mỗi thời khoảng; Tính lũ thiết kế theo các phương pháp mô hình quan hệ, đường lũ đơn vị và phương trình lượng trữ
USACE - AED [27] có trình bày hai phương pháp tính lũ thiết kế gồm đường lũ đơn
vị (SCS) và mô hình quan hệ, trong đó đề cập đến các yếu tố chính cần xác định gồm:
bộ đường cong IDF của mưa 24h (thời kỳ lặp lại T = 10, 20 và 50 năm), hệ số dòng chảy C, thời gian tập trung dòng chảy Tc và các đặc trưng lưu vực (diện tích, chiều
dài, độ dốc)
Engineers Australia (2006), (2013) [28], [29] trong tài liệu Hướng dẫn tính mưa
-dòng chảy phần tổn thất ở Úc, đề cập chi tiết trong AR&R các phương pháp tính lũ thiết kế: mô hình quan hệ với hệ số dòng chảy được thiết lập theo thời kỳ lặp lại C2,
C5, C20, C50 các giá trị này đều tính theo C10; Phương pháp mô hình quan hệ, mô hình toán (RORB) Trong đó phương pháp mô hình quan hệ và chỉ số lũ dùng cho lưu vực
nhỏ (A < 50 km2), còn phương pháp RORB thì ứng dụng cho A ≥ 50 km2 Đường quá trình lũ thiết kế được xây dựng bằng phương pháp RORB cho lưu vực lớn, còn đối với lưu vực nhỏ phải sử dụng đường quá trình lũ điển hình
Bruce (2007) [30] đã tổng quan các phương pháp tính lũ thiết kế và xác định khẩu độ
thoát nước qua công trình cống và cầu nhỏ trên đường ô tô ở Mỹ, từ năm 1911 các nhân viên bảo trì và kỹ sư đường sắt của Mỹ - Hiệp hội đường (AREMWA) dùng 6 công thức tính diện tích thoát nước và 21 công thức cho lưu lượng đỉnh lũ thiết kế Đến năm 1962, Chow đã xây dựng 12 công thức tính diện tích thoát nước và 62 công thức tính lưu lượng lũ thiết kế Tuy nhiên chỉ một vài công thức được ứng dụng rộng
Trang 1313
rãi dành cho ngành cầu đường Mỹ như: Bảng Dun (Dun’s table), công thức Myers và Talbot để tính diện tích cần thiết thoát nước và công thức của Burkli - Ziegler để tính lưu lượng đỉnh lũ Bảng Dun được phát triển bởi James Dun, một kỹ sư trưởng của đường sắt Atchison, Topeka và Santa Fe, phiên bản đầu tiên năm 1890 và bản cuối cùng năm 1906 Công thức Myers được kỹ sư đường sắt, E.T.C Myers phát triển đầu tiên vào năm 1879 có dạng √ với A diện tích thoát nước và D là diện tích lưu vực, C là hệ số phụ thuộc vào điều kiện mặt đệm Công thức Talbot được xây dựng năm 1887 do giáo sư A.N.Talbot của đại học Illinois với diện tích thoát nước cần thiết bao gồm: Công thức tính lưu lượng lũ do Burkli - Ziegler, một kỹ sư người Thụy Sĩ xây dựng năm 1880; Công thức dạng √ với q lưu lượng lũ đơn vị (cfs/arce); C là hệ số dòng chảy có giá trị từ 0,31 đến 0,75; I là cường độ mưa (in/h); S là độ dốc lưu vực; A là diện tích lưu vực(arcres) Phương pháp mô hình quan
hệ theo Dooge (1957) (thực tế được xây dựng bởi Thomas Mulvany, 1851) để tính toán lũ thiết kế với công thức Q = C.I.A Đến nay phương pháp đã cải tiến vì thêm thời khoảng lặp lại và tần suất mưa (TR40) Ngoài ra, Các phương pháp như phân tích tần suất lũ theo Bullentin 17, phương pháp mô hình quan hệ và SCS theo TR55 cũng được giới thiệu và ứng dụng trong các thời đoạn tiếp theo Phương pháp BPR của Cục giao thông công chính năm 1950 xác định lũ thiết kế theo thời khoảng 5, 10, 25 và 50 cho lưu vực nông thôn và nhỏ hơn 1000 arces ở Đông và trung Mỹ Phương trình hồi quy vùng ứng với tần suất lũ, xây dựng năm 1960 do USGS thay vì sử dụng đồ thị để tra như trước đây Những phương trình hồi quy này được ứng dụng rộng rãi tính lũ cho vùng nông thôn ở Mỹ
Và còn rất nhiều các nghiên cứu khác nữa cũng đề cập đến các vấn đề này, tuy nhiên nội dung cũng tương tự như các phương pháp đã nêu ở phần trên
Kết luận, từ tổng quan các phương pháp nghiên cứu cho thấy, phương pháp mô hình
quan hệ và đường lũ đơn vị SCS được sử dụng hầu hết ở các nước Nhật, phương Tây
và Mỹ dùng để thiết kế công trình giao thông Điều này chứng tỏ, mức độ tin cậy và tính hiệu quả của các phương pháp
Trang 14Quy trình BCH 63-67,''Quy trình khảo sát và thiết kế công trình vượt sông trên đường
sắt và đường ô tô'' (quy trình BCH 63-67) trình bày các phương pháp tính đặc trưng lũ thiết kế trong điều kiện thiếu số liệu thực đo là các phương pháp Cường độ giới hạn, Xokolopsky Phương pháp cường độ giới hạn được xây dựng dựa theo lý thuyết tập trung dòng chảy dạng tổng quát là: Qp = K.aτ.ατ.F với K là hệ số chuyển đổi đơn vị; aτ
là cường độ mưa ứng với thời đoạn lớn nhất; ατ là hệ số dòng chảy; F là diện tích lưu vực Còn phương pháp Xokolopsky là dạng công thức thể tích
Tiêu chuẩn thiết kế CH 435-72 (1972) ''Những chỉ dẫn về xác định các đặc trưng
thủy văn tính toán'' đã trình bày một số phương pháp tính toán lưu lượng thiết kế từ mưa và mặt đệm trong trường hợp thiếu số liệu thực đo lũ, các phương pháp tính toán dòng chảy lũ đề cập đến như: phương pháp Cường độ giới hạn, phương pháp Xokolopsky cho trường hợp thiếu số liệu thực đo Các phương pháp này chính là các phương pháp giới thiệu trong QP.TL C - 6 - 77 và TCVN 9845:2013 ở Việt Nam
Bapkov V.F., Andreev O.V (1972) xuất bản cuốn Thiết kế đường ô tô, nội dung của
cuốn sách phần tính toán thủy văn thiết kế trình bày các phương pháp tính lũ thiết kế đối với trường hợp không có số liệu thực đo bao gồm các phương pháp Cường độ giới hạn, Xokolopsky tương tự như trong TC CH 435-72
Pêrêvôđonhekov B.F (1975) ''Tính toán dòng chảy cực đại trong thiết kế các công
trình đường ô tô'' Trình bày phương pháp tính lũ thiết kế cũng bằng phương pháp Cường độ giới hạn, Xokolopsky trong trường hợp thiếu số liệu Ngoài ra, còn rất nhiều nhà khoa học uy tín của Nga nghiên cứu xây dựng theo các dạng khác nhau, điển hình như Kocherin; Protodiakonov; Bephan; Alekceev Có thể tóm tắt các phương pháp sử dụng ở các nước này như bảng sau:
Trang 1515
Tính lũ thiết kế ở Việt Nam
1.2.3
1.2.3.1 Quy định về cấp đường và tần suất lũ thiết kế
Công trình giao thông ở Việt Nam được quy hoạch và xây dựng theo các tuyến phục
vụ giao thương giữa các tỉnh thành và các nước trong khu vực Quy định cấp đường
Bảng 1.2 Bảng thống kê các phương pháp tính lũ thiết kế ở Đông Âu và Nga
1) Thống kê xác
suất
* Có trạm đo đạc mực nước và lưu lượng lũ
* Dòng chảy do mưa rào
* Mưa đồng đều trên lưu vực
* Cường độ mưa không đổi
* Dòng chảy được sinh hoàn toàn từ các diện tích cấp nước
* Tần suất mưa bằng tần suất dòng chảy
* Diện tích lưu vực A (km 2
)
* Hệ số dòng chảy, α, υ
* Mô đun đỉnh lũ lớn nhất, Ap%
* Lượng mưa ngày thiết kế, Hnp%
* Hệ số ao hồ đầm lầy, δ
4) Xokolopsky * Diện tích lưu vực A > 100 km 2
* Đường cong triết giảm mưa
Trang 1616
dựa vào mật độ phương tiện giao thông (lưu lượng phương tiện đi lại trên đường), những nơi tuyến đường đi qua như đô thị hoặc vùng trọng yếu xây dựng theo cấp cao (I, II, III) còn như vùng nông thôn, vùng đồi núi hay trung du là đường cấp thấp (IV,
V, VI) Các tuyến đường đều có yêu cầu tính lũ thiết kế và có báo cáo thủy văn, thủy lực (sau năm 1995), đặc trưng thủy văn thiết kế quan trọng là mực nước đỉnh lũ và lưu lượng đỉnh lũ, giá trị này dùng để xây dựng cầu, cống, rãnh thoát nước Những nơi không có đủ số liệu thì tính lũ thiết kế từ lượng mưa 1ngày max và đặc trưng mặt đệm Đường miền núi chiếm 70% tổng số km đường trên toàn quốc được thiết kế với cấp
IV, V và VI với tần suất lũ 2 - 4% các hạng mục thoát nước không đầy đủ hoặc không
đủ năng lực thoát nước Các phương pháp tính phụ thuộc vào diện tích, tình trạng số liệu thủy văn và mức độ quan trọng của công trình Đối với cầu lớn và cầu trung (chiều dài cầu L > 25m) và có nhiều số liệu thủy văn thì tính lưu lượng thiết kế theo phương pháp thống kê xác suất; ngược lại nếu không có số liệu thủy văn thì tính theo phương pháp Xokolopsky Đối với lưu vực nhỏ, các công trình thoát nước trên đường như cầu nhỏ, cống và đường tràn thường dùng các công thức kinh nghiệm hoặc bán kinh nghiệm như: công thức Cường độ giới hạn, Triết giảm Tần suất thiết kế công trình thoát nước trên đường giao thông theo tiêu chuẩn thiết kế cầu 22 TCN 272 - 01
và tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô 22 TCN 273 - 01 [21] [31]
Ghi chú:1 Đối với các cầu có khẩu độ Lc ≥10m và các kết cấu vĩnh cửu thì tần suất lũ
Bảng 1.3 Quy định về tần suất lũ
Loại công trình
Cấp đường
Trang 1717
tính toán lấy bằng 1:100 và không phụ thuộc vào cấp đường II Đối với đường nâng cấp cải tạo nếu có khó khăn lớn về kỹ thuật hoặc phát sinh khối lượng lớn thì cho phép
hạ tiêu chuẩn về tần suất lũ tính toán nếu được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền
1.2.3.2 Các nghiên cứu về tính lũ thiết kế
Tính lũ thiết kế cho công trình giao thông ở Việt Nam phụ thuộc vào diện tích lưu vực, tình trạng số liệu thủy văn và mức độ quan trọng của công trình (cấp công trình) Có thể phân thành hai nhóm: i) nhóm phương pháp phân tích thống kê và ii) nhóm phân tích nguyên nhân hình thành (hình 1.2):
i) Nhóm phương pháp thống kê xác suất khi có nhiều số liệu đo đạc lũ (các phân phối gồm Log Pearson III, Pearson III, Kritsky - Mennkel) Hiện nay, có nhiều phần mềm
vẽ đường tần suất được xây dựng để tính các tham số thống kê nhằm tăng độ chính xác
và tiện dụng Tuy vậy, các công trình giao thông phần lớn đều có vị trí tại các sông, suối không có số liệu lũ thực đo để ứng dụng phương pháp thống kê xác suất
ii) Nhóm phương pháp phân tích nguyên nhân hình thành, gồm các công thức kinh nghiệm theo Liên xô cũ (1-1); (1-2); (1-4) và các công thức kinh nghiệm xây dựng cho
từng vùng:
+ Công thức Cường độ giới hạn cho lưu vực F 100 km2
(1-1) Hình 1.2 Các phương pháp tính lũ cho giao thông ở Việt Nam
Trang 1818
+ Công thức Cường độ giới hạn cho lưu vực nhỏ F 30 km2
(1-2) Trong đó a ,p tính từ Hn,p và T: (1-3) + Công thức Xokolopsky cho lưu vực F > 100 km2
( )
(1-4) Thực tế, công thức Cường độ giới hạn (A < 100 km2
) là công thức tính đỉnh lũ theo cường độ mưa lớn nhất giới hạn trong khoảng thời gian tập trung dòng chảy Các công thức đều cần các bảng tra như: Bảng tra hệ số dòng chảy; bảng tra thời gian tập trung dòng chảy; bảng tra mô đun đỉnh lũ ứng với tần suất thiết kế, bảng tra hệ số triết giảm
ao hồ, đầm lầy, bảng tra hệ số nhám sườn dốc và lòng sông Công thức Xokolopsky thuộc nhóm công thức thể tích phụ thuộc vào lượng mưa thời đoạn, lớp nước tổn thất ban đầu (H0), hệ số hình dạng biểu đồ lũ và các thông số mặt đệm khác Các phương pháp khi áp dụng ở Việt Nam cho đến nay bộc lộ rất nhiều hạn chế
Một số nghiên cứu điển hình có đề cập đến tính lũ thiết kế cho công trình giao thông ở Việt Nam bao gồm:
Mai Anh Tuấn (2003) [32] là luận án tiến sỹ nghiên cứu về các hạn chế trong tính
thủy lực thủy văn, lũ thiết kế trong ngành giao thông, tác giả đã thống kê các hư hỏng trên đường giao thông và đánh giá nguyên nhân xảy ra sự cố Có nhiều nhóm nguyên nhân được đề cập như: do địa chất, kết cấu và thi công và do thủy lực thủy văn Với những nguyên nhân này, tác giả đã kết luận một số vấn đề còn hạn chế trong tính thủy lực thủy văn như: việc quy định tần suất lũ, các hệ số, các bảng tra và các vấn đề liên quan đến tích nước trước cống và khẩu độ Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu mới dừng ở việc tổng kết những nhược điểm của phương pháp tính toán thủy văn, thủy lực chưa đưa ra lời giải thích hay cách khắc phục một cách triệt để
Trần Đình Nghiên (2003) [33] trình bày những thông tin cơ bản và cập nhật nhằm
đáp ứng nhu cầu của sinh viên, các kỹ sư, học viên cao học trong lĩnh vực xây dựng công trình cầu, đường nói riêng và cơ sở hạ tầng nói chung khi giải quyết vấn đề tác động tương hỗ giữa công trình và dòng sông, đây một tài liệu cập nhật các kiến thức
Trang 1919
thuỷ lực, động lực học dòng sông và thuỷ lực công trình cầu cống Tác giả đã đưa ra một số công thức mới của các nước Các phương pháp mới dừng ở việc giới thiệu các phương pháp cho người đọc
Nguyễn Quang Chiêu & Trần Tuấn Hiệp (2004) [34] đề cập đến việc điều tra khảo
sát thủy văn, tính toán lưu lượng nước, chọn loại cống, cầu nhỏ, xác định khẩu độ cầu nhỏ, cống đường tràn, tính toán các thiết bị tiêu năng, tính xói hạ lưu các cầu cống Trong tài liệu này có trình bày đến phương pháp tính lũ theo công thức đơn giản của Bônđakôp (Nga), phương pháp được cho là tiện dụng đối với công trình thoát nước nhỏ Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay cũng còn nhiều vấn đề chưa được cập nhật
Bộ GTVT, Sổ tay tính toán thủy văn - thủy lực cầu đường (2006) [35], [36], [31]
Do nhóm kỹ sư thuộc Vụ khoa học công nghệ, Bộ Giao thông Vận tải viết về cách tính thủy văn, thủy lực cho các công trình giao thông trong các điều kiện về địa hình và tài liệu khác nhau Các công thức vẫn chủ yếu dựa theo QP.TL C - 6 - 77 với các bảng tra
đã được xây dựng từ những năm 80 trở về trước, được áp dụng theo QP của Nga hoặc xây dựng trong điều kiện chuỗi số liệu còn ngắn, đến nay vẫn chưa được cập nhập Các phương pháp mới chỉ mang tính giới thiệu chứ chưa có quy trình tính và cập nhật theo các kỹ thuật hiện đại
Nguyễn Xuân Trục (2009 [37] đề cập theo hai vấn đề lớn: Đối với công trình vượt
qua sông suối lớn (cầu lớn và cống), đề xuất công thức tính toán lưu lượng và mực nước thiết kế, xói lở lòng cầu và thượng hạ lưu cầu, ảnh hưởng nước dâng khu vực cầu, đề xuất cao trình cầu, đường dẫn theo các công thức của Liên xô và công thức thực nghiệm Đối với công trình vượt qua sông suối nhỏ (cầu nhỏ và cống) tác giả đề xuất công thức tính lưu lượng từ lượng mưa thiết kế Các công thức chính là các công thức thực nghiệm của Liên xô cũ có điều chỉnh các tham số Thực tế, cho đến nay các công trình đều tính theo các phương pháp nêu trong tài liệu này
Đoàn Như Thái Dương (2012) [38] (Luận văn thạc sỹ), cũng chỉ ra các sự cố trên
đường miền núi sau mưa lũ và đưa ra các giải pháp thiết kế thiết kế nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng của mưa lũ đến công trình giao thông Giải pháp chỉ mang tính cải tiến về mặt xây dựng
Nguyễn Tiến Cương (2012) [39] (Luận văn thạc sỹ), đã đề cập về thực trạng công
trình giao thông thuộc tỉnh Hòa bình về những sự cố sau mưa lũ: sụt trượt, xói lở công
Trang 2020
trình cầu cống, công trình thoát nước và xác định nguyên nhân tác động là do nước mưa, nước ngầm, từ đó đề xuất các biện pháp công trình nâng cao hiệu quả khai thác Trong tính thử nghiệm, vẫn sử dụng các phương pháp tính lũ thiết kế theo TCVN
9845 Đề tài mới chỉ là đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực của công trình chứ chưa nghiên cứu chi tiết về phần tính lũ và đề xuất phương pháp tính lũ thiết kế cho công trình giao thông
Nguyễn Anh Tuấn (2014) [40] (Luận án tiến sỹ kỹ thuật), đã tính lại Hn,p (lượng
mưa ngày lớn nhất ứng với tần suất) tại 14 trạm khí tượng điển hình trên toàn quốc và tọa độ đường cong mưa cho 1 - 1440 phút tại một số trạm trên phục vụ cho công tác tính lưu lượng bằng công thức cường độ giới hạn Trong luận án có nghiên cứu cụ thể việc tính đặc trưng mưa ngày cho các trạm điển hình, tuy nhiên mới dừng lại ở phần tính toán đặc trưng mưa mà chưa cụ thể được phương pháp tính lũ cho công trình giao thông cho vùng nghiên cứu
1.3 Những hạn chế trong tính lũ thiết kế cho giao thông ở Việt Nam
Qua nghiên cứu, phân tích và đánh giá tổng quan cho thấy tính toán lũ thiết kế cho công trình giao thông ở Việt Nam có một số hạn chế như:
i) Hiện nay, việc chọn tần suất mới dựa vào cấp đường mà chưa xét đến các điều kiện bất lợi khác như điều kiện tự nhiên và khí tượng thủy văn của vùng xây dựng công trình dẫn đến tình trạng công trình không đủ năng lực và gặp nhiều sự cố Điển hình như lũ 2014 trên toàn tỉnh Lạng Sơn (lũ lịch sử năm 1986, 2008, 2014) rất nhiều tuyến đường bị hư hỏng phải sửa, các taluy bị sạt lở, đường bị ngập nhiều giờ gây ách tắc giao thông, công trình cầu cống bị hư hỏng nặng nề
ii) Việc tính lũ thiết kế mới chú trọng xác định đỉnh lũ mà chưa xét đến tổng lượng lũ (W) dẫn đến tổng lượng nước đổ dồn vào công trình, không kịp thoát (khẩu độ nhỏ), tạo hiện tượng tích nước ở thượng lưu đối với các công trình, tạo áp lực khí gây hỏng
mố cầu cống hay đuôi cống, mặt đường bị phá hai bên thân cống [32]
iii) Tiêu chuẩn 22TCN-220-95 [31] được xây dựng trong điều kiện tài liệu quan trắc lúc bấy giờ còn ít, không có điều kiện kiểm nghiệm, nên hướng tiếp cận là sử dụng các
Trang 21- Việc tra thời gian chảy truyền trên sườn dốc (phụ thuộc vào hệ số địa mạo sườn dốc và vùng mưa) với hệ số địa mạo sườn dốc phụ thuộc vào cấp đất, vùng mưa
và các đặc trưng lưu vực; Các thông số này đều khó xác định chi tiết với cách tính truyền thống
- Việc tra mô đun dòng chảy theo tần suất (mô đun dòng chảy lớn nhất) phụ thuộc vào (thời gian chảy trên sườn dốc; hệ số địa mạo lòng sông; vùng mưa); bảng tra
đã được xây dựng từ lâu với điều kiện số liệu rất hạn chế, chuỗi số ngắn Vùng mưa rộng lớn quy định không rõ, rất khó xác định chính xác vùng mưa của lưu vực thoát nước
- Việc tra tọa độ đường cong triết giảm mưa phụ thuộc vào vùng mưa, thời đoạn mưa, thời gian tập trung dòng chảy, trong đó thời tập trung dòng chảy phụ thuộc vào điều kiện của lưu vực; bảng tra này cũng được xây dựng từ lâu trong điều kiện hạn chế
về số liệu, chuỗi số liệu để xây dựng ngắn dẫn tính chính xác không đảm bảo Vùng mưa quá lớn, các kết quả tính mưa thiết kế sẽ bị thiên lớn hoặc thiên nhỏ
- Việc tra hệ số nhám sườn dốc (n) (phụ thuộc vào hiện trạng sử dụng đất, tỷ lệ cây cỏ); Tra hệ số nhám lòng sông (phụ thuộc vào đặc điểm của lòng sông); Tra hệ số triết giảm do ảnh hưởng của ao hồ (diện tích ao hồ đầm lầy) Các hệ số này cũng rất khó xác định
Kết luận, các bảng tra là cơ sở khoa học của các phương pháp tính lũ thiết kế cho công trình giao thông hiện tại đã cũ, chủ yếu sử dụng từ các nghiên cứu ở Liên Xô cũ và được xây dựng từ số liệu rất hạn chế ở Việt Nam (bản đồ tỉ lệ nhỏ, chuỗi số liệu quan trắc ngắn), khả năng hỗ trợ trong tính toán còn theo cách truyền thống, chưa cập nhập
Trang 2222
các công cụ hiện đại nên kết quả không tránh khỏi những sai số không mong muốn và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm người tính
1.4 Đề xuất hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Từ những hạn chế trong các phương pháp tính lũ cho ngành giao thông ở Việt Nam, và
ưu điểm trong một số phương pháp tính lũ thiết kế đang được sử dụng ở các nước phương Tây, Nhật và Mỹ (Tính ưu việt bởi khả năng cập nhật thông tin liên tục về bề mặt và việc sử dụng các mô hình toán, các kỹ thuật viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) hỗ trợ tính toán), luận án đã lựa chọn hướng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu tính lũ thiết kế (Mô hình quan hê, SCS-CN và hồi quy vùng) cho các công trình thoát nước cho khu vực vùng núi Đông Bắc như minh họa trong hình 1.3:
i) Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, điều kiện ứng dụng và yêu cầu số liệu (các thông số cần xác định) của các phương pháp lựa chọn (chi tiết ở mục 1.5);
ii) Nghiên cứu đặc trưng mưa (mục 2.2.1): gồm biến động của mưa lũ thông qua thống
kê và đánh giá các hình thế thời tiết gây mưa lũ trong khu vực; sự biến động của mưa
lũ theo không gian và thời gian Trong đó, phương pháp Mann - Kendall và Sen được
sử dụng để đánh giá sự biến động của mưa theo thời gian, phương pháp phân tích tần suất, xây dựng các bộ đường cong IDF (Cường độ mưa - Thời gian mưa - Tần suất) cho các tiểu vùng khác nhau trong khu vực cũng như chuyển đổi (chi tiết hóa) mưa ngày thành mưa thời đoạn ngắn Kỹ thuật Viễn thám và GIS được sử dụng để cập nhập các số liệu mới từ ảnh vệ tinh và phân tích không gian để đánh giá sự biến động của mưa theo không gian và xây dựng các bản đồ đẳng trị về biến đổi lượng mưa, hệ số biến đổi lượng mưa Cv theo không gian trong khu vực nghiên cứu;
iii) Nghiên cứu phân tích điều kiện mặt đệm của khu vực Đông Bắc (mục 2.2.2) bao gồm nghiên cứu phân tích các đặc trưng hình thái của tiểu lưu vực thoát nước qua cầu, nghiên cứu xây dựng bản đồ chỉ số CN, bản đồ hệ số dòng chảy C, bản đồ hệ số nhám Manning và các bảng tra phụ trợ, kỹ thuật Viễn thám và mô hình phân tích không gian trong GIS được sử dụng để tận dụng ưu điểm của dữ liệu không gian và khả năng cập nhật nhanh những dữ liệu này khi áp dụng thực tế;
Trang 2323
iv) Tính toán thử nghiệm, đánh giá kết quả: phân tích cơ sở và các điều kiện áp dụng từng phương pháp lựa chọn đề xuất các phương pháp phù hợp cho từng loại công trình
và phù hợp với đặc điểm của vùng nghiên cứu (chương III)
Hình 1.3 Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu
Tổng quan tài liệu, các bài báo và các nghiên cứu
Xây dựng bản
đồ chỉ số
CN
Xây dựng bản
đồ hệ số dòng chảy C
Xây dựng bản đồ hệ
số nhám Manning n
+ Cường độ mưa (IDF)
+ Lượng mưa thiết
kế + Đường lũy tích mưa 24h
Tính toán thử nghiệm cho công trình cầu
- Nhóm cầu có A < 5 km2
- Nhóm cầu có A = 5-30 km2
- Nhóm cầu có A = 30-100 km2
- Nhóm cầu có A > 100 km2
Xây dựng phần mềm hỗ trợ và đề xuất áp dụng phương pháp phù
hợp cho khu vực nghiên cứu Lựa chọn phương pháp
Xây dựng cơ sở khoa học tính mưa và mặt đệm
Trang 2424
v) Xây dựng chương trình tính nhằm tích hợp tất cả các kết quả đạt được cùng với quy trình hướng dẫn tính toán lũ thiết kế cho các công trình giao thông thuộc khu vực vùng núi Đông Bắc với mong muốn chương trình này giải quyết được một số hạn chế trong tính toán hiện nay, đồng thời để mở cho phép người dùng tiếp tục cập nhật và hoàn thiện các phương pháp tính (mục 3.4)
1.5 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Hình 1.4 Bản đồ khu vực nghiên cứu (vùng Đông Bắc)
Trang 2525
1.5.1.2 Đặc điểm địa hình
Vùng Đông Bắc là khu vực có địa hình đồi núi dốc cao, vực thẳm, chia cắt mạnh, lại nằm trong những tâm mưa lớn, trong mùa mưa lũ tình trạng sạt trượt núi, cắt đứt đường, làm trôi cầu giao thông xảy ra khá nghiêm trọng Hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Kạn thuộc vùng núi Đông Bắc với 80% diện tích đồi núi có địa hình thay đổi lớn như: Địa hình vùng núi cao, địa hình vùng đồi núi thấp, địa hình núi đá vôi, địa hình thung lũng kiến tạo - xâm thực Ở đây là vùng đầu nguồn của các con sông lớn với độ dốc phức tạp tạo điều kiện hình thành các trận lũ quét, lũ ống hay lũ cực hạn nếu diễn biến
về thảm phủ bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Chiếm phần lớn là diện tích núi, đồi,
có nhiều dãy núi cao ở phía Tây, đặc biệt dãy Hoàng Liên Sơn, chạy dọc theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, ở phía Đông lại có những dãy núi cao chạy theo hình cánh cung, đồng thời có nhiều con sông, suối bắt đầu nguồn từ núi cao đổ xuống phía đồng bằng làm cho địa hình của Đông Bắc chia cắt phức tạp Dưới đây là bản đồ chi tiết về địa hình thuộc hai tỉnh nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án (Hình 1.5)
Hình 1.5 Bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu (Tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn)
Dãy núi Mẫu Sơn Dãy núi Ngân Sơn
Trang 2626
1.5.1.3 Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng
Sự hình thành cũng như quá trình phát sinh của lớp vỏ thổ nhưỡng có mối liên quan chặt chẽ với đá và khoáng chất hình thành thổ nhưỡng Có khoảng 20 phân vị địa tầng,
có tuổi từ Cambri đến Đệ Tứ Đất đá chủ yếu trong các phân vị này như sau: Đá granit (thuộc nhóm đất macma a xít có hàm lượng SiO2 rất cao), đất được hình thành từ loại
đá này thường có thành phần cơ giới nhẹ, tầng mỏng, độ phì nhiêu thấp:
o Đá Anđêzit (là loại đá thuộc nhóm macma trung tính chưa nhiều loại khoáng chất, đây là loại đá dễ bị phong hóa cho lớp phủ thổ nhưỡng dày, thành phần cơ giới nặng, cấu trúc tơi xốp
hạ lưu sông, đất có tầng sâu dày, nhưng bạc màu
Đặc điểm khí tượng thủy văn
1.5.2
a) Đặc điểm khí tượng
Vùng Đông Bắc là nơi tập trung tâm mưa lớn của cả nước như tâm mưa Bắc Quang, Móng Cái, Đình Lập Mùa mưa ở khu vực Đông Bắc từ tháng V đến tháng IX, lượng mưa chiếm từ 75 - 80% tổng lượng mưa năm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng
Trang 2727
VII và tháng VIII với lượng mưa phân bố trên 300mm/ tháng Các tâm mưa lớn xuất hiện ở những vùng núi cao đón gió mùa ẩm, như ở dãy núi Tam Đảo ở hữu ngạn sông Công (trên 2600mm), dãy núi Yên Tử (trên 2000mm), vùng Bắc Quang, Đình Lập, Móng Cái Mùa mưa vào các tháng V - IX, có năm sớm hơn từ tháng IV Lượng mưa ngày lớn nhất đã quan trắc được ở một số trạm như sau: Tại Đình Lập: 306,4mm ngày 14/7/1971 Tại Bắc Kạn: 456,1mm ngày 17/10/1984
Tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, mưa ít; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 20-22 0C, cao nhất là 32,50C, thấp nhất là 1,60
C [41] Gió mùa đã gây ra hiện tượng mưa mùa và phân hoá theo không gian Lượng mưa trung bình năm bình quân khoảng 1.084 mm, phân bố không đều theo vùng và theo mùa Mùa mưa từ tháng IV đến tháng IX có mưa nhiều, lượng mưa chiếm khoảng 80 - 85% lượng mưa
cả năm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm vào khoảng 82,0% Có 2 hướng gió chính là gió Đông Bắc thổi từ tháng XII đến tháng IV năm sau và gió Đông Nam thổi
từ tháng V đến tháng XI Nơi đây cũng có các tháng mùa hạ mưa lớn, mưa tập trung
dễ gây ra lũ ống, lũ quét, xói mòn đất đai [41] Các đặc trưng trung bình nhiều năm có thể nêu tóm tắt trong bảng sau:
b) Đặc điểm thuỷ văn
Kết quả của các nghiên cứu [7], [9], [11] cho thấy: nguyên nhân gây lũ lớn ở các sông khu vực miền Bắc rất phức tạp do tổ hợp của nhiều loại hình thời tiết Mùa lũ thường kéo dài 4-5 tháng từ VI - IX hoặc X, chiếm 75-80% lượng nước cả năm, trong đó
Bảng 1.4 Các đặc trưng khí tượng trung bình nhiều năm
5 Hướng gió thịnh hành Đông Bắc, Đông Nam
Nguồn: Trung tâm Tư liệu Khí tượng thuỷ văn, Bộ TN&MT( 2015) và [55]
Trang 2828
tháng có lũ lớn nhất thường là tháng VII, VIII Mùa lũ trên tất cả các sông là khá ổn định Mùa lũ ở các sông vùng Đông và Đông Bắc kết thúc sớm hơn ở các sông vùng phía Tây phù hợp với quy luật mưa trên khu vực.Với đặc điểm mưa gây lũ và điều kiện địa hình lưu vực, sông suối mà lũ ở các sông Miền Bắc có những đặc điểm nổi bật: - Lũ xảy ra khá đồng bộ trên các lưu vực sông vì nguyên nhân gây mưa trên diện rộng, nên có sự tương quan đỉnh lũ lớn nhất hàng năm giữa các sông là khá chặt chẽ với hệ số tương quan 0,40-0,50 trên lưu vực sông Đà và 0,70-0,90 trên lưu vực sông Thao, sông Lô; - Lũ thường kéo dài nhiều ngày do nhiều hình thái thời tiết gây mưa lũ kết hợp hoặc nối tiếp nhau (có những trận mưa gồm 4-5 đợt mưa kế tiếp nhau) Do vậy
đa phần lũ có dạng kép nhiều đỉnh và thời gian lũ lên dài [7]
Trong khu vực nghiên cứu, đặc điểm của các hệ thống sông suối chính ở Bắc Kạn như sau: các sông suối có đặc điểm chung là lòng nhỏ và dốc, nên tốc độ dòng chảy rất lớn, nhất là trong mùa mưa lũ Sông Cầu chảy qua địa bàn tỉnh dài 103 km, diện tích lưu vực là 510 km2
, Qtb năm là 73 m3/s, mùa lũ Qtb là 123 m3/s, độ dốc dòng chảy trung bình là 1,75 %0, tổng lượng nước khoảng 798 triệu m3 Sông Bắc Giang chảy qua trên địa bàn tỉnh dài 28,6 km, chiều rộng lòng sông từ 40 - 60 m, độ chênh cao giữa dòng
và mặt ruộng khoảng 4 - 5 m, lưu lượng bình quân vào mùa lũ lên tới 2.100 m3/s (năm 1979), tổng lượng nước trên lưu vực khoảng 794 triệu m3 Sông Yến Lạc trên địa bàn tỉnh dài 55,5 km uốn khúc theo chân các dãy núi cao, lưu lượng thay đổi đột ngột, lòng sông hẹp Sông Năng trên địa bàn tỉnh dài 87 km, tổng lượng nước khoảng 1,33 tỷ m3
là nguồn cung cấp nước chính cho hồ Ba Bể Sông Gâm chảy qua địa bàn tỉnh Bắc Kạn dài 16 km với diện tích lưu vực khoảng 154 km2 Sông Phó Đáy chảy qua trên địa bàn tỉnh dài 36 km với diện tích lưu vực khoảng 250 km2
[41] Còn ở Lạng Sơn, mật
độ trung bình sông suối chính có từ 0,6 - 12 km/km2, có 3 hệ thống gồm: Sông Kỳ Cùng thuộc hệ thống sông Tây Giang (Trung Quốc), bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa (Đình Lập) chảy từ Đông Nam lên Tây Bắc qua Lộc Bình, thành phố Lạng Sơn, Văn Lãng và Tràng Định Sông Kỳ Cùng có 77 phụ lưu, mật độ lưới sông trung bình là 0,88 km/km2, bao gồm 26 sông nhánh cấp I; 34 sông nhánh cấp II; 16 sông nhánh cấp III và 1 sông nhánh cấp IV với tổng chiều dài là 1.836 km Sông Thương, sông Lục
Trang 2929
Nam thuộc hệ thống sông Thái Bình: Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước chảy qua Chi Lăng, Hữu Lũng đổ về Bố Hạ Sông Thương có 2 sông nhánh là sông Hóa và sông Trung nằm trên tỉnh Lạng Sơn; Sông Lục Nam ở phía Đông nam của tỉnh, bắt nguồn từ vùng núi Kham Sâu Chòm ở độ cao 700 m thuộc huyện Đình Lập, diện tích lưu vực ở Lạng Sơn là 612 km2 [41] Sông Phố Cũ, sông Đông Quy thuộc hệ thống sông ngắn Quảng Ninh: Sông Phố Cũ bắt nguồn từ xã Kiên Mộc huyện Đình Lập, dài 53 km, diện tích lưu vực ở Lạng Sơn là 166 km2, hướng chảy chính là Tây Bắc - Đông Nam; Sông Đông Quy là nhánh của sông Ba Chẽ, bắt nguồn từ xã Cường Lợi, Đình lập, sông có chiều dài 25 km, diện tích lưu vực ở Lạng Sơn là 104 km2 [41]
Do ảnh hưởng của địa hình và cấu tạo địa chất đã chi phối mạng lưới sông suối trong tỉnh Phần lớn đồi núi bò sát thềm sông, thềm suối đã khống chế quá trình bồi tụ phù
sa Chính vì vậy trong tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn không có những cánh đồng phù sa rộng lớn, mà chỉ có những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ hẹp và rải rác theo triền sông, triền suối Mặt khác, do ảnh hưởng của tốc độ dòng chảy xiết cho nên trong đất phù sa bồi
tụ có nhiều hạt thô hơn so với vùng hạ lưu [41] Trong mùa mưa, nước chảy dồn từ các sườn núi xuống các thung lũng hẹp, nước sông suối lên rất nhanh gây lũ, ngập lụt ở những vùng đất thấp, cộng với các tuyến đường lại men theo đồi núi, một bên là núi
Bảng 1.5 Dòng chảy trung bình nhiều năm khu vực nghiên cứu
Q (m3/s)
M (l/s.km2)
Q (m3/s)
M (l/s.km2)
Y (mm)
Nguồn: Trung tâm Tư liệu Khí tượng thuỷ văn, Bộ TN&MT (2015) và [55]
Trang 3030
cao, một bên là vực sâu Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Bắc Kạn và Lạng Sơn theo mùa rõ rệt Hầu hết các sông, suối ở tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mưa lũ Còn ở khu vực khác thuộc vùng núi Đông Bắc nơi có các tuyến quốc lộ đi qua cũng có điều kiện tương tự [41]
Tình trạng giao thông và các sự cố công trình trong mùa mưa lũ
1.5.3
1.5.3.1 Giao thông vùng Đông Bắc
Các quốc lộ chạy qua vùng Đông Bắc bao gồm: QL1A, QL4A, QL4B, QL31, QL3, QL3B, QL4, QL70, QL18, QL12, QL32 Đường miền núi chiếm 70% tổng số km
đường trên toàn quốc có đặc thù là đường cấp thấp (III - VI) với quy định tần suất thiết
kế lũ p = 2 - 4% Theo thống kê của Bộ GTVT, tổng số km đường và số lượng công trình thoát nước rất lớn gồm: 4079,99 km quốc lộ; 3216,96 km đường tỉnh; 7789,14
km đường huyện và hơn 1164 cây cầu chưa kể các rãnh, cống (cứ 1km phải bố trí một cống địa hình), bậc nước, dốc nước, để nghiên cứu được chi tiết và cụ thể các nội dung yêu cầu khối lượng tính toán rất nhiều
1.5.3.2 Giao thông ở hai tỉnh Bắc Kạn - Lạng Sơn
Do những hạn chế thu thập tài liệu, trong phạm vi luận án chỉ mới tập trung nghiên cứu tính lũ thiết kế cho một số tuyến bao gồm: QL3, QL3B, QL279,QL1A, QL4A, QL4B, QL31 (Hình 1.6) trong địa phận của hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn.Trên cơ sở nghiên cứu này, những nghiên cứu tiếp theo sẽ mở rộng áp dụng cho các công trình của vùng núi Đông Bắc Việt Nam
Hệ thống giao thông ở Lạng Sơn chủ yếu là đường bộ và đường sắt, đường thủy không đáng kể Đường bộ phân bố khá hợp lý trên toàn tỉnh bao gồm hệ thống đường quốc
lộ, tỉnh lộ, đường huyện và các đường liên xã, với tổng chiều dài 3,657 km Tính đến hết năm 2010 đã có 204/226 xã phường thị trấn có đường ô tô đi lại được cả 4 mùa đạt
tỷ lệ 90,3% Đường quốc lộ ở tỉnh có 7 tuyến với tổng chiều dài trên địa phận Lạng Sơn là 555,1 km gồm: QL1A dài 94,7 km; QL1B dài 101 km; QL4A dài 66 km; QL4B dài 80 km; QL31 dài 61 km; QL279 dài 90 km và QL3B dài 62,4 km Nhìn chung chất lượng mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế, đặc biệt là giao thông
Trang 317 tuyến với tổng chiều dài 256,27 km, hầu hết các tuyến đường tỉnh của Bắc Kạn đều đạt cấp VI miền núi, chất lượng đường ở mức trung bình, nhiều đoạn đường chất lượng còn xấu Hệ thống giao thông của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế địa hình đồi núi phức tạp, chia cắt, độ dốc dọc theo các tuyến đường thường lớn, vào mùa mưa bão thường bị sạt lở, lún, kết cấu mặt đường dễ bị phá hủy Hiện vẫn còn trên 1,8 ngàn km đường đất và đường cấp phối chưa có điều kiện đầu tư, nâng cấp nên trong mùa mưa việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí bị ách tắc, lầy lội Quy mô các tuyến đường còn thấp, đường tỉnh chủ yếu là cấp V, cấp VI; đường huyện chủ yếu từ cấp VI trở xuống; đồng thời với việc hệ thống cầu, cống còn yếu kém cũng gây cản trở trong việc đi lại của nhân dân và giao thương hàng hóa [41] Với số liệu thống kê này cho thấy, còn nhiều tuyến phải nâng cấp mở rộng (hơn 1.800 km đường cấp phối và đất; chiều rộng đường 3,5 - 6 m, các công trình thoát nước được đầu tư cải tạo, nâng cấp
Hình 1.6 Bản đồ các tuyến đường chính khu vực nghiên cứu
Trang 3232
đáp ứng để công trình an toàn trong mùa mưa lũ trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay
1.5.3.3 Các loại công trình thoát nước
Các công trình thoát nước trên đường gồm: Cầu lớn và trung (Lc > 25m); cầu nhỏ và cống (Lc < 25m); rãnh thoát nước; dốc nước; bậc nước; đường tràn; cầu tràn Trên các tuyến thuộc hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn, đa phần các công trình thoát nước là cầu
bê tông hoặc bê tông cốt thép Có 72/147 cầu lớn và cầu trung chiếm 48% (cầu lớn và trung), có 75 chiếc cầu nhỏ (chiếm 52%) Có 07 cây cầu có chiều dài L > 50m có các cầu như: Cầu Thác Giềng, Kỳ Lừa, Sáu Hai, Hát Deng, Pác Cáp, Nà làng, Nà Thi (Bảng 1.6)
Hình 1.7 là bản đồ phân bố các công trình thoát nước trong khu vực nghiên cứu với diện tích lưu vực có độ lớn từ vài km2 đến hàng nghìn km2 và rất nhiều cống thoát nước qua đường Các cầu nhỏ và cầu trung về mùa kiệt lòng cầu không có nước, hoặc
có nhưng rất ít, nhưng vào mùa lũ với lượng mưa lớn và tập trung, độ dốc lưu vực lớn, các rừng cây bị chặt phá và diện tích bị thu hẹp dẫn đến dòng chảy tập trung với thời gian ngắn cho nên các cầu thường không đủ năng lực thoát nước Các cống với khẩu
độ xây dựng từ trước (trước năm 1995) đã không còn đủ để thoát nước trong điều kiện
Hình 1.7 Bản đồ bố trí các công trình thoát nước khu vực nghiên cứu
Trang 3333
mưa lũ lớn xảy ra bất thường như hiện nay (lũ 2008, 2013, 2014) Để tăng mức độ chính xác cho việc đánh giá, phân loại cũng như kiến nghị phương pháp tính lũ cho từng vùng, luận án tiến hành nghiên cứu tính lũ cho hàng loạt cáccông trình thoát nước trên khu vực nghiên cứu, số lượng công trình thoát nước dùng để tính toán thử nghiệm
là 40 cây cầu thuộc hai tỉnh với chiều dài vài mét đến vài nghìn m Các công trình thoát nước được liệt kê trong phụ lục của luận án (bảng 3)
1.5.3.4 Các sự cố công trình giao thông trong mùa mưa lũ
Đường miền núi đi qua vùng Đông Bắc thường chịu các trận mưa lớn do tổ hợp nhiều hình thế thời tiết bất lợi nhất khu vực Đặc điểm của đường miền núi là chênh lệch độ cao giữa taluy âm và dương rất lớn thậm chí một bên là núi cao một bên là vực sâu, đường nhiều khúc quanh co, với các hạng mục thoát nước còn thiếu hoặc chưa đủ năng lực, vào mùa mưa lũ thường gặp các sự cố như: ngập cục bộ ở một số các vị trí trên các tuyến, hư hỏng rãnh thoát nước, hư hỏng cống thoát nước, sạt lở taluy dương, taluy âm, gây hư hỏng mặt đường và các công trình khác; Các cầu cống bị hỏng mố trụ, xói mang cống, cầu bị cuốn trôi (cầu treo) thiệt hại rất nhiều về kinh tế và ảnh
hưởng rất lớn đến an sinh xã hội
Các nguyên nhân có thể kể đến: chế độ khí hậu có sự thay đổi đáng kể và xu thế ngày càng ác liệt; do các nguyên nhân địa chất, nền móng và có thể do công tác xây dựng,
Bảng 1.6 Bảng phân loại cầu theo chiều dài khu vực nghiên cứu
Trang 3434
vận hành và bảo dưỡng Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu [38], [32] chứng tỏ đường miền núi hư hỏng là do mưa lũ, lũ vượt thiết kế Sau đây là một số hình ảnh mô tả các
sự cố công trình thường gặp trong mùa mưa lũ và một vài con số thống kê chi tiết mô
tả những thiệt hại công trình giao thông do mưa lũ ở Bắc Kạn và Lạng Sơn:
a) Hình ảnh sự số công trình trong mùa mưa lũ:
Hình 1.8 Nước chảy gây xói mái ta luy dương vì không có rãnh dọc tuyến [39]
Hình 1.9 Tuyến đường nội tỉnh ở Lạng Sơn bị ngập năm 2013 và xói ta luy âm
Hình 1.10 Nước lũ tràn mặt đường
Trang 3535
b) Những thiệt hại trong ngành giao thông một số năm gần đây như sau:
Từ những mùa mưa lũ cho thấy: một phần do tính chất phức tạp của địa hình địa mạo, một phần do ảnh hưởng của những hình thế thời tiết bất lợi, nhưng chủ yếu vẫn là do các công trình chưa được đánh giá đúng mức để có thể được đầu tư tính toán các đặc trưng dòng chảy lũ trong điều kiện thời tiết bất thường như hiện nay một cách đầy đủ
Hình 1.11 Cầu Sam Lang lúc khánh thành và bị lũ cuốn trôi (sau hai tháng sử dụng)
Bảng 1.7 Các sự cố công trình giao thông khu vực nghiên cứu
Trang 3636
hiệu quả Điều này chứng tỏ, vấn đề nghiên cứu liên quan đến tính lũ và công trình giao thông mang tính thời sự và rất cần được nghiên cứu chi tiết; Việc thiếu rãnh thoát nước, kích thước không đủ, tính toán và thiết kế công trình thoát nước chưa hợp lý dẫn đến hư hỏng ngày càng nặng nề hơn ảnh hưởng đến dân sinh kinh tế và xã hội Từ đó cần xây dựng cơ sở khoa học nhằm chính xác hóa trong tính lũ thiết kế ở khu vực này
Tình hình tài liệu nghiên cứu
1.5.4
Tài liệu đã thu thập phục vụ tính lũ thiết kế trên khu vực nghiên cứu bao gồm:
i) Tài liệu mưa
- Mưa ngày: vùng Đông Bắc có 154 trạm mưa ngày, trong đó chỉ có 32 trạm đo với
thời gian đo dài từ 1975 đến nay (Bảng 1.8) còn một số trạm số liệu ngắn không sử dụng được, số liệu này dùng để đánh giá xu thế biến đổi lượng mưa trong khu vực Hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn có 42 trạm mưa ngày, trong đó chỉ có 23 (thời đoạn đo đạc dài) dùng để tính mưa thiết kế bằng cách chuyển mưa thời đoạn dài (ngày) thành mưa thời đoạn ngắn (giờ)
- Mưa giờ: Có 08 trạm mưa giờ thuộc hai tỉnh dùng để tính mưa thiết kế Các trạm có
số năm quan trắc tương đối dài, chất lượng số liệu tốt (Bảng 1.8)
Hình 1.12 Bản đồ các trạm khí tượng khu vực nc (Tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn)
Trang 37
Tỉnh Lạng Sơn
TT Trạm Chuỗi năm giờ Đo ngày Đo TT Trạm Chuỗi năm giờ Đo ngày Đo
12 Dương Phong 1966-1981 × 12 Khuổi Tang 1966-1988 ×
Trang 38iv) Tài liệu về công trình: Các tài liệu về công trình như số lượng, loại, vị trí công trình thoát nước, các tuyến, chiều dài, khẩu độ của các tỉnh vùng Đông Bắc từ số liệu của
Bộ Giao thông Vận tải
v) Tài liệu về lưu vực: Sử dụng bản đồ địa hình (DEM 30×30; 90×90) và các đặc trưng chung về lưu vực như độ dốc, hướng dòng chảy, chiều dài, chiều rộng được xây dựng
5 Chi Lăng Thương 106032 21037 247 62-76 x x
6 Cầu Sơn Thương 106019 21026 2330 62-73 x x
Trang 39để xây dựng các phương trình tương quan (X1ngày max và X1h max, X3h max, X6h max, X12h
max, X24h max) được trình bày trong mục 2.2.1.2 Số liệu mưa, mực nước và lưu lượng được chỉnh biên chỉnh lý theo quy phạm của ngành khí tượng thủy văn Số liệu về loại đất chi tiết với tỷ lệ lớn rất khó thu thập Số liệu công trình vẫn còn thiếu những thông tin cơ bản Số liệu về hiện trạng sử dụng đất cũng mới chỉ thu thập được tỷ lệ 1:50.000
vì vậy cần phải sử dụng thêm tư liệu không gian như ảnh viễn thám để bổ sung và cập nhật mới
1.6 Kết luận chương I
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều chia phương pháp tính toán lũ thành hai nhóm chính: i) Nhóm phương pháp phân tích thống kê xác suất (khi đủ số liệu đo đạc lũ (H,Q)); ii) Nhóm phương pháp phân tích nguyên nhân hình thành (khi không có số liệu dòng chảy (H, Q) mà tính từ mưa và điều kiện của lưu vực)
Tùy theo điều kiện về tình hình tài liệu, cũng như lựa chọn cách tiếp cận và ứng dụng
có khác nhau tùy từng trường hợp như sau:
a) Đối với các nước phương Tây (điển hình như: Mỹ, Nhật, Úc, Anh…) tính lũ theo hai phương pháp: i) Trường hợp có tài liệu, tính lũ theo thống kê xác suất với các phân phối xác suất Log Pearson III hoặc Gumbell; ii) Trường hợp không có số liệu tính theo phương trình hồi quy vùng (thực chất là tổng hợp địa lý), đường lũ đơn vị (dạng lưu vực tương tự), căn nguyên dòng chảy (dạng cường độ giới hạn hay phương pháp mô
Trang 4040
hình quan hệ) Các phương pháp được đánh giá là chính xác và tiện dụng đối với ngành giao thông ở các nước phát triển Tuy nhiên, các phương pháp này đòi hỏi yêu cầu hiện đại về công cụ tính, chi tiết cơ sở dữ liệu cho từng vùng cụ thể (bản đồ đẳng trị mưa, đường cong IDF, bản đồ chỉ số CN, bản đồ hệ số dòng chảy C)
b) Đối với Việt Nam, Đông Âu và Liên Xô cũ, tính mưa lũ cũng theo hai hướng trên bao gồm: i) phương pháp thống kê xác suất theo phân phối xác xuất Pearson - III, Gumbell hay Kritsky - Mennken; ii) dạng mô hình hóa dòng chảy và các công thức kinh nghiệm như Cường độ giới hạn, Xokolopxky (QP C - 6 - 77, TCVN 9845:2013) Xét về mức độ chính xác và yêu cầu số liệu, cả hai phương pháp đều phụ thuộc vào từng công trình và mục đích tính toán cụ thể Có phương pháp đối với lưu vực này là chính xác nhưng đối với lưu vực khác còn hạn chế Các nghiên cứu trước đây cho khu vực và cho từng công trình cụ thể cũng đã xét đến bài toán mưa, tổn thất và diễn toán dòng chảy Tuy nhiên, theo điều kiện về kinh tế, kỹ thuật và số liệu thì cách tiếp cận và
áp dụng của các phương pháp hiện đại rất nhiều ưu điểm trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay Để có thể cập nhật và ứng dụng các phương pháp hiện đại cần phải xây dựng bộ thông số đầu vào (Cơ sở khoa học, quy trình tính, quy trình cập nhật, cơ sở dữ liệu) cho các phương pháp tính lũ từ mưa đối với các lưu vực vừa và nhỏ trong điều kiện thiếu số liệu đo đạc mưa, lũ ở vùng Đông Bắc như hiện nay Qua nghiên cứu tổng quan, luận án kiến nghị áp dụng các phương pháp ưu việt mà các nước phát triển đang
áp dụng (Phương pháp mô hình quan hệ, phương pháp SCS - CN phương pháp phương trình hồi quy) và xây dựng cơ sở khoa học cho việc áp dụng các phương pháp này cho khu vực Đông Bắc của Việt Nam (chương II)