Về tác động của chính sách miễn giảm TLP, bên cạnh những mặt tích cực còn nổi lên nhiều vấn đề quan trọng đó là ảnh hưởng đến ý thức sử dụng nước tiết kiệm của hộ dùng nước, hiệu quả quả
Trang 1ix
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước những biến động ngày càng bất lợi của thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra như suy giảm tài nguyên nước cả về số lượng lẫn chất lượng ảnh hưởng đến việc quản lý, khai thác tài nguyên nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngành thủy lợi đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu đến năm 2020 phải thực hiện được là: Bảo đảm nhu cầu nước tưới cho 7,6 triệu ha gieo trồng lúa, 1,2 triệu ha ngô, rau màu cây vụ đông; nhu cầu nước cho nuôi trồng thủy sản, chủ yếu là nuôi tôm 0,65 triệu ha; nước sinh hoạt cho 100% dân nông thôn theo tiêu chuẩn hợp vệ sinh; nâng cao mức an toàn phòng chống và thích ứng với biến đổi khí hậu để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng nông thôn mới
Về cơ chế chính sách quản lý tưới trong thủy lợi, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định mức thu TLP và miễn TLP đối với các công trình đầu
tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được quy định cho tưới trong nông nghiệp và biểu mức thu tiền nước với các tổ chức, cá nhân sử dụng nước làm dịch vụ từ công trình thuỷ lợi để phục vụ cho các mục đích không phải sản xuất nông nghiệp Nghị định cũng quy định phạm vi miễn TLP và mức miễn TLP Nghị định đã làm thay đổi lớn đối với cuộc sống của người nông dân, đồng thời cũng có nhiều hạn chế cần phải khắc phục như: (i) Mức thu TLP hiện còn nhiều bất hợp lý, cụ thể việc lấy mức quy định của Nghị định 143 làm cơ sở tính toán và trên cơ sở đó nhân với hệ số điều chỉnh trượt giá là 2.31 lần, do đó không phù hợp với thực tế vì quan điểm mức thu 143 và
115 là khác nhau; (ii) Theo mức thu quy định của Nghị định 115, kinh phí cấp bù cho các tỉnh ĐBSCL là rất lớn, mặc dù chỉ tính theo mức thu tạo nguồn Khi thực hiện việc cấp bù kinh phí miễn thủy lợi phí đối với các tỉnh không thể thực hiện theo quy định của Nghị định 115, vì nếu cấp đủ, các địa phương sẽ chuyển việc sử dụng nguồn kinh phí này theo hình thức xây dựng cơ bản… Mặc dù mức thu đối với nuôi cá lồng bè theo quy định của Nghị định 115 không điều chỉnh Tuy nhiên theo phản ánh của
Trang 2x
người nuôi trồng thuỷ sản, mức thu 8-10% giá trị sản lượng là quá cao, không tạo điều kiện phát triển thủy sản cũng như không khuyến khích khai thác tổng hợp các công trình thủy lợi; (iii) Trong thực tế việc tạo nguồn tưới rất đa dạng, có công trình tạo nguồn đến kênh cấp 2, cấp 3 của tổ chức hợp tác dùng nước, có công trình chỉ tạo nguồn đến bể hút trạm bơm tưới của tổ chức hợp tác dùng nước, do vậy dễ nảy sinh tranh chấp Các quy định hiện hành chưa đề cập đến khu vực phải bơm tưới nhiều bậc, chỉ một diện tích nhưng phải tưới nhiều bậc cũng chỉ được hưởng mức thủy lợi phí như các vùng bơm một cấp Từ đó dẫn tới mức miễn không đủ bù đắp cho các chi phí bơm tưới tiêu đối với các vùng diện tích được tưới từ 2 bậc trở lên
Từ những bất cập trên của Nghị định 115/2008/NĐ-CP, Chính phủ đã ban hành nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ và thay thế Nghị định 115/2008/NĐ-CP Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị định 67/2012/NĐ-CP vẫn còn tồn tại một số vấn đề cả về nội dung chính sách miễn giảm TLP và tác động tiêu cực của chính sách này đối với hiệu quả khai thác CTTL
Về tác động của chính sách miễn giảm TLP, bên cạnh những mặt tích cực còn nổi lên nhiều vấn đề quan trọng đó là ảnh hưởng đến ý thức sử dụng nước tiết kiệm của hộ dùng nước, hiệu quả quản lý của các công ty thủy nông, ảnh hưởng đến nguồn ngân sách cấp bù của nhà nước, mối liên hệ giữa công ty thủy nông với hộ dùng nước Khi thực thi chính sách miễn giảm TLP, hiểu theo nghĩa giản đơn đó là công ty thủy nông không phải thu TLP của hộ dùng nước mà được chính phủ trả thay thông qua việc ngân sách cấp bù Theo đánh giá của các nhà khoa học, nhà quản lý nhà nước
về thủy lợi cũng như trong quá trình điều tra của NCS thì có nhiều quan điểm đánh giá rằng CLDV tưới chưa được đảm bảo Theo chiều ngược lại các chuyên gia và các công
ty thủy nông thì lại cho rằng hộ dùng nước sử dụng dịch vụ tưới không phải trả phí ảnh hưởng không tốt đến ý thức sử dụng nước tiết kiệm, ý thức tham gia quản lý và bảo vệ CTTL
Trang 3xi
Những yếu tố về CLDV và Ý thức của hộ dùng nước đã và đang ảnh hưởng đến hiệu quả tưới của CTTL Đã có nhiều nghiên cứu liên quan về vấn đề hiệu quả tưới đến các yếu tố trên nhưng mới chỉ dừng lại ở mức đánh giá định tính trong điều kiện miễn giảm TLP Vì vậy cần thiết phải có những nghiên cứu đánh giá đầy đủ (định tính, định lượng và đa chiều) về CLDV tưới của các công ty thủy nông và ý thức của hộ dùng nước khi thực thi chính sách miễn giảm TLP Đó là cơ sở để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả tưới trong điều kiện miễn giảm TLP theo hướng tiếp cận mới
về CLDV và ý thức của hộ dùng nước Nghiên cứu này phù hợp với cách tiếp cận theo quản lý định hướng dịch vụ mà ngành thủy lợi Việt Nam đang hướng tới đã đề cập trong mục tiêu tổng quát của Đề án nâng cao hiệu quả khai thác CTTL hiện có ban hành theo QĐ 784/QĐ-BNN-TCTL ngày 21/04/2014 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT
Do đó, đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới trong điều kiện miễn giảm thủy lợi phí vùng Đồng bằng sông Hồng” là hết sức cần thiết,
mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
2 Mục tiêu nghiên cứu
(i) Nghiên cứu tác động của chính sách TLP đến các đối tượng hưởng lợi, hiệu quả sử dụng nước, năng suất cây trồng, kinh phí nhà nước;
(ii) Đánh giá CLDV tưới nông nghiệp;
(iii) Đánh giá SHL của nhà quản lý thuỷ lợi về ý thức sử dụng nước và bảo vệ CTTL của hộ dùng nước khi không phải trả phí;
(iv) Đề xuất, kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp một cách phù hợp trong điều kiện thực tế quản lý khai thác CTTL của vùng ĐBSH
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Chính sách thuỷ lợi phí của Việt Nam (với các đối tượng, phạm vi miễn TLP theo Nghị định 67/2012/ NĐ-CP cho sản xuất nông nghiệp);
Trang 4xii
+ Sản phẩm dịch vụ tưới nông nghiệp của các đơn vị cung cấp dịch vụ tưới; + Các bên liên quan đến hoạt động quản lý khai thác và bảo vệ CTTL
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu khảo sát tiến hành tại vùng ĐBSH cụ thể như sau:
+ CLDV tưới và SHL của nhà quản lý thuỷ lợi thực hiện tại 11 tỉnh, thành phố vùng ĐBSH: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh;
+ Nghiên cứu hiệu quả sử dụng nước trước và sau khi miễn giảm TLP trong thời gian 5 năm được thực hiện tại các tỉnh Bắc Ninh, Nam Định và thành phố Hà Nội;
+ Các số liệu phân tích, so sánh về năng suất, tài chính tại vùng ĐBSH trong 10 năm gần đây;
+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý TLP và đánh giá CLDV tưới trực tuyến áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu được thể hiện ở hình 1
Trang 5xiii
NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TƯỚI TRONG ĐIỀU KIỆN MIỄN GIẢM THUỶ LỢI PHÍ VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG HỒNG
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ÁP DỤNG
- Phương pháp mô hình toán
- Phương pháp chuyên gia và tham vấn cộng đồng
Kết quả phân tích định tính về tác động của chính sách miễn giảm TLP
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TƯỚI
Mô hình nghiên cứu định lượng Phương pháp nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Hiệu quả sử dụng nước
Đề xuất biện pháp nâng cao CLDV tưới nông nghiệp
Đề xuất biện pháp nâng cao ý thức của người dân về
sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý khai thác
Mô hình 1 Chất lượng dịch vụ tưới nông nghiệp (CLDV)
Mô hình 2
Sự hài lòng của nhà quản lý thủy lợi (SHL)
Tác động đến năng suất
cây trồng
Giải pháp phát triển ứng dụng hệ thống thông tin nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới
Kết quả phân tích định lượng
Hình 1 Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu
Trang 6xiv
Để thực hiện quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp kế thừa: Kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học, lý
thuyết, thực tiễn trong và ngoài nước;
+ Phương pháp định tính: Phương pháp này được ứng dụng phân tích các tác
động có tính chất định tính của chính sách miễn giảm TLP được thực hiện bằng việc phỏng vấn các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác quản lý KTCTTL và được hưởng lợi hoặc bị ảnh hưởng bởi các tác động trên;
+ Phương pháp định lượng: Nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm
khẳng định các yếu tố cũng như các giá trị, độ tin cậy và mức độ phù hợp của các thang đo các yếu tố liên quan đến CLDV tưới và SHL của nhà quản lý thuỷ lợi về ý thức, sự tham gia của đơn vị sử dụng nước; kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu;
+ Phương pháp phân tích đa chiều: Sử dụng phân tích đa chiều khi đánh giá tác
động của chính sách, đánh giá CLDV và sử dụng nước của các bên liên quan trong quản lý tưới;
+ Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp này được sử
dụng để đánh giá hiện trạng hệ thống thủy lợi Đánh giá CLDV tưới đối với hộ dùng nước trên địa bàn nghiên cứu đưa ra các chỉ tiêu cơ bản sau: (i) Đánh giá CLDV tưới
và SHL của nhà quản lý thuỷ lợi về ý thức của hộ dùng nước; (ii) Các mặt tồn tại, hạn chế do tác động của chính sách miễn giảm TLP đến các bên liên quan;
+ Phương pháp mô hình toán: Áp dụng đo lường định lượng CLDV, SHL của
nhà quản lý thuỷ lợi, phân tích, kiểm định tính phù hợp của các mô hình;
+ Phương pháp chuyên gia và tham vấn cộng đồng: Kiểm tra tính phù hợp của
thang đo, câu hỏi điều tra trong quá trình xây dựng bảng hỏi Nhận xét đánh giá về tác động của chính sách
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học:
+ Xây dựng thành công các mô hình phân tích định lượng: (i) Đo lường CLDV tưới nông nghiệp; (ii) Đo lường SHL của nhà quản lý thuỷ lợi về ý thức sử dụng nước tiết kiệm, bảo vệ CTTL của đơn vị sử dụng nước trong điều kiện miễn giảm TLP
Trang 7+ Đã áp dụng thành công các mô hình được nghiên cứu xây dựng trong luận án
để đánh giá CLDV, SHL nhà quản lý thuỷ lợi vùng ĐBSH;
+ Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp các đơn vị quản lý nhà nước, công ty QLKT CTTL nâng cao hiệu quả QLKT, CLDV và ý thức của người dân khi thực thi chính sách miễn giảm TLP;
+ Biên soạn cuốn tài liệu giới thiệu về những mô hình quản lý, chính sách TLP
ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam phục vụ cho các đối tượng nghiên cứu trong lĩnh vực quy hoạch, thể chế, chính sách thuỷ lợi;
+ Xây dựng phần mềm quản lý TLP và khảo sát đánh giá CLDV tưới nông nghiệp trực tuyến
6 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã xây dựng thành công phương pháp và mô hình định lượng về CLDV tưới nông nghiệp tại vùng ĐBSH;
- Luận án đã xây dựng thành công phương pháp và mô hình định lượng về SHL của nhà quản lý thuỷ lợi về ý thức sử dụng nước và bảo vệ công trình thuỷ lợi của hộ dùng nước trong điều kiện miễn giảm TLP các tỉnh thuộc ĐBSH
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và mô hình áp dụng
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới
Kết luận và kiến nghị
Trang 81
1.1 Tổng quan vùng nghiên cứu
Vùng ĐBSH bao gồm 11 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Toàn vùng có 12 thành phố trực thuộc tỉnh, 19 quận, 6 thị xã, 93 huyện, 433 phường,
119 thị trấn và 1.906 xã (Tổng cục Thống kê đến 31/12/2014)
Vùng ĐBSH có diện tích 21.060 km2, chiếm 6,4% diện tích cả nước Dân số là 20,7 triệu người chiếm 22,8% dân số toàn quốc Đây là vùng có mật độ dân số cao nhất nước 983 người/km2 cao gấp 3,6 lần mật độ bình quân cả nước
Nguồn: vi.wikipedia.org
Hình 1.1 Bản đồ vùng ĐBSH Theo số liệu điều tra đến năm 2014, toàn vùng ĐBSH có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa, 448 hồ chứa có dung tích từ 50 nghìn m3 trở lên, 5.415 trạm bơm (có công suất từ 1000 m3/h trở lên), 140 đập dâng kiên cố được xây dựng và đưa vào khai thác
Trang 92
Hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới cho 765.000ha (tưới lúa mùa khoảng 580.000
ha, màu và cây công nghiệp dài ngày 7.000 ha), diện tích được tiêu khoảng 510.000
ha Hệ thống CTTL thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả to lớn trong phục vụ tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tạo nguồn cung cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, tiêu nước dân cư, đô thị và cải tạo môi trường Tuy nhiên sau nhiều năm khai thác một số hệ thống đã xuống cấp cụ thể như sau: kênh mương bị bồi lắng, xuống cấp, khả năng chuyển nước bị hạn chế Máy móc thiết bị của các trạm bơm hiệu suất thấp, tiêu thụ nhiều điện năng, chi phí sửa chữa bảo dưỡng lớn, gây lãng phí nước, tốn diện tích đất
Vùng ĐBSH được lựa chọn là vùng nghiên cứu vì một số lý do sau:
- Thứ nhất, đây là vùng đồng bằng châu thổ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của cả nước Mặc dù diện tích chỉ chiếm có 6,4% nhưng dân số chiếm tới 22,8% Giá trị GDP của vùng chiếm 27% tổng giá trị GDP cả nước
- Thứ hai, hệ thống CTTL được đầu tư xây dựng tương đối hoàn thiện từ công trình đầu mối đến mặt ruộng Mặc dù chủ yếu phục vụ tưới tiêu bằng động lực nhưng các CTTL trong vùng cũng đa dạng và tiêu biểu, bao gồm cả công trình trọng lực (hồ chứa, đập dâng) và công trình động lực (trạm bơm) Ngoài nhiệm vụ chính là tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhiều hệ thống công trình trong vùng đã được khai thác tổng hợp, đa mục tiêu kết hợp với cấp nước sinh hoạt, giao thông thuỷ, phát điện, phòng chống lũ
- Thứ ba, hệ thống tổ chức QLKT CTTL cũng cơ bản đồng bộ và hoạt động có hiệu quả Đây là vùng có 100% các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có doanh nghiệp QLKT các hệ thống CTTL vừa và lớn Các CTTL nhỏ, thuỷ lợi nội đồng chủ yếu do các tổ chức là HTX dịch vụ nông nghiệp QLKT (chiếm gần 90% số Tổ chức hợp tác dùng nước)
Đây là những đặc trưng tiêu biểu cho công tác thuỷ lợi (cơ sở hạ tầng, hệ thống
tổ chức QLKT và tầm quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội), đồng thời cũng là các yếu tố có mối liên hệ trực tiếp đến chính sách thuỷ lợi Do vậy, vùng ĐBSH được tác giả lựa chọn để thực hiện nghiên cứu này
Trang 103
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tổng quan về chính sách thủy lợi phí
Nói đến chính sách TLP hay còn được hiểu là các chính sách, quy định liên quan đến xác định giá TLP, phí sử dụng nước của các hộ dùng nước Đây thực sự là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào ngành nông nghiệp Việc thiết lập mức thu hay miễn, giảm TLP đối với sản xuất nông nghiệp phải dựa vào điều kiện thực tiễn của từng quốc gia, đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội và mức sống của người dân để quyết định Theo các công trình nghiên cứu của Easter, K W (1993); Svendsen, M., Trava,
J and S.H Johnson III; Ahmad, B 2002 [1] [2] [3] [4] cho thấy hầu hết các nước, việc
thu TLP chỉ để trang trải chi phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống tưới tiêu, chỉ bù đắp được khoảng 20-70% cho phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống, kể cả các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ thu hồi chi phí đầu tư cũng rất thấp như Canada và Italy và một
số nước thì gần như là miễn hoàn toàn phí sử dụng nước Ngay cả trong cùng một quốc gia thì đặc thù xác định mức thu TLP như thế nào cũng là một vấn đề phức tạp
do sự khác nhau về điều kiện địa lý, xã hội, kinh tế và vai trò của sản xuất nông nghiệp
trong nền kinh tế Theo K William Easter and Yang Liu [5] thì TLP có vai trò quan
trọng: (i) Đó là nguồn thu để trang trải cho chi phí vận hành, để đảm bảo các dự án, các công ty thủy nông có được nguồn tài chính bền vững, đồng thời còn là nguồn thu hồi vốn đầu tư xây dựng ban đầu, từ đó có thể đầu tư cho các HTTL mới trong tương lai; (ii) Phí thủy lợi sẽ khuyến khích các hộ sử dụng nước có ý thức sử dụng nước tiết kiệm hơn trong việc giảm tỷ lệ sử dụng nước trên một đơn vị sản phẩm đầu ra, khuyến khích sự gia tăng giá trị kinh tế cho một đơn vị nước sử dụng hoặc đạt được đồng thời
cả hai mục tiêu trên Do đó nghiên cứu về vấn đề TLP luôn là một đề tài hấp dẫn đối với các chuyên gia cũng như những nhà hoạch định chính sách trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn gắn liền với lĩnh vực thủy lợi đang là mối quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, vì tầm quan trọng trong phát triển nông thôn, tạo công
ăn việc làm cho hơn 70% dân số của Việt Nam, hoạt động sản xuất trong lĩnh vực
Trang 114
nông nghiệp, hay sự phát triển bền vững và giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nước, một trong những điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng như các loại hình sản xuất, đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về Kinh tế và Văn hoá - Xã hội
Việt Nam là một nước đi lên từ nông nghiệp, do đó ngành thủy lợi có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước, công tác thủy lợi là biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, tăng
vụ, thâm canh tăng năng suất cây trồng Công tác thủy lợi nước ta căn bản đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai ở các vùng, miền trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, trước yêu cầu đòi hỏi ngày một cao của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và những bất lợi về thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra, nhiệm vụ của công tác thủy lợi đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Yêu cầu đặt ra là nhà nước cần phải đề ra những chính sách phù hợp để giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác thủy lợi, liên quan đến đại bộ phận người lao động sản xuất nông nghiệp Chính sách TLP là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước với mục tiêu giúp công tác thủy lợi đạt hiệu quả cao
Trải qua 66 năm (1949 - 2015) chính sách TLP ở nước ta đã qua 7 lần thay đổi, gần đây nhất, chính phủ đã ban hành Nghị định 115 nhằm sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP Nghị định này đã có sự thay đổi cơ bản về việc miễn, giảm TLP Chính sách miễn TLP là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta đối với người nông dân, nhằm giảm gánh nặng, cải thiện đời sống của người dân, tuy nhiên khi thực thi chính sách miễn giảm TLP còn nhiều bất cập xảy ra và còn là vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà khoa học ở nước ta hiện nay Nghị định 115 thực thi được 4 năm có những bất cập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP và thay
Trang 125
thế Nghị định 115/2008/NĐ-CP Tuy nhiên nghị định 67/2012/NĐ-CP vẫn còn nhiều bất cập đối với đặc thù khác nhau của từng địa phương và loại hình dịch vụ tưới trong nông nghiệp, có thể trong tương lai gần sẽ tiếp tục phải điều chỉnh Nghiên cứu về chính sách miễn giảm TLP, đây là một vấn đề lớn, khó khăn và phức tạp Hiện nay cũng chưa có nhiều các nghiên cứu đầy đủ nào về đánh giá và đo lường tác động của chính sách miễn giảm TLP
1.2.2 Tổng quan về chất lượng dịch vụ tưới và ý thức hộ dùng nước trong quản lý khai thác công trình thủy lợi
Để một chính sách thực sự có hiệu quả ta phải đánh giá được các tác động của chính sách đó đối với các thành phần, đối tượng có liên quan trong nền kinh tế Chúng
ta phải có một cái nhìn tổng thể và khách quan nhất đối với chính sách đó Với mỗi một chính sách khi được ban hành đều có những mặt tích cực và hạn chế, chính sách miễn giảm TLP đó là một chính sách của Đảng và Nhà nước với mục đích là “Khoan sức dân”, trợ giúp người nông dân, đặc biệt đối với tầng lớp lao động có thu nhập thấp hiện nay trong xã hội Đó là một chủ trương đúng đắn, nhưng cũng có nhiều đánh giá trái chiều từ các nhà khoa học, nhà quản lý và người dân về tác động của chính sách thủy lợi, đó là các câu hỏi được các nhà khoa học, quản lý đặt ra là: liệu khi miễn giảm TLP thì hiệu quả quản lý, hiệu quả tưới có được nâng cao, hay nói đúng hơn là CLDV tưới nông nghiệp tốt hơn không? Trước đây, khi chưa có chính sách miễn giảm TLP, các công ty khai thác thủy nông coi đối tượng khách hàng chính của mình là các hộ dùng nước và cung cấp dịch vụ tưới đến các hộ dùng nước để thu TLP Nay chuyển sang thực hiện theo cơ chế đặt hàng của nhà nước, cung cấp nước theo kế hoạch diện tích và được nhà nước trả chi phí Vì vậy, sự liên hệ cũng như ràng buộc giữa công ty thủy nông với các hộ dùng nước sẽ giảm mạnh Do đó để trả lời được liệu CLDV sau khi thực thi miễn giảm TLP có được tăng lên hay thay đổi như thế nào? CLDV tưới được đo lường như thế nào trong nông nghiệp
Đo lường CLDV có nhiều giải pháp thực hiện như sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả cung cấp nước tưới, bằng các chỉ số đo đạc và tính toán kỹ thuật, hiệu quả kinh tế… Nhưng trong luận án này, một hướng tiếp cận được đề xuất là đánh giá CLDV của các công ty thủy nông thông qua đánh giá SHL của các hộ dùng nước
Trang 136
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đánh giá CLDV cung cấp nước, từ đánh giá CLDV cung cấp nước sinh hoạt, xử lý nước thải, đến đánh giá chất lượng cấp nước tưới Theo nghiên cứu của Hayretin và nhóm nghiên cứu, đánh giá tính bền vững của hệ thống quản lý tưới tại hệ thống tưới Bursa–Karacabey
phía tây Thổ Nhĩ Kỳ [6] Nghiên cứu này đã kết hợp cả về phương pháp đánh giá chỉ
tiêu kỹ thuật (chỉ số kỹ thuật gồm hiệu suất tưới, và tỷ lệ cấp nước), chỉ tiêu về tài chính (hiệu quả thu TLP, mức tự chủ về tài chính và tỷ suất công nhân trên một đơn vị diện tích ha) Đánh giá mức độ hài lòng của người dân mới dừng lại ở mức nghiên cứu định tính về xác suất cũng như tỷ lệ phần trăm mức độ hài lòng CLDV khi được hỏi
Vì vậy, việc đánh giá chưa mang tính khái quát và chưa định lượng được mức độ hài
lòng sẽ dựa trên các thành phần nhân tố nào W.A.S Lakmali và nnk [7] đã tiến hành
nghiên cứu trên ba hệ thống Batalagoda, Hakwatuna Oya và Kimbulwana Oya ở thượng nguồn lưu vực sông Deduru Oya và so sánh giữa các hệ thống dựa trên một số chỉ số đánh giá CLDV Số liệu thu thập từ các hệ thống này gồm có lượng mưa, năng suất, hiệu quả canh tác, cấp và phân phối nước trong giai đoạn các vụ canh tác (Maha
và Yala) năm 2012-2013 Nghiên cứu đã chỉ ra được mối liên hệ giữa CLDV cung cấp nước tưới với năng suất cây trồng, các nghiên cứu này được tiến hành đồng thời trên
ba hệ thống mạng có quy mô và tính chất tương tự và có sự tương đồng Một số nghiên cứu áp dụng công nghệ vào đánh giá CLDV như nghiên cứu đánh giá CLDV tưới dựa
vào số liệu viễn thám của Mali Sander J Zwart và Lucie M C Leclert [8]: Một nghiên
cứu điển hình ở hệ thống ở Mali Hiệu quả (hay chất lượng) dịch vụ tưới của hệ thống này là một hệ thống tưới lúa quy mô lớn, được phân tích trên cơ sở sử dụng công nghệ viễn thám Ưu điểm lớn nhất của việc sử dụng số liệu lấy từ hệ thống viễn thám so với
số liệu đo thực tế là nó cung cấp các thông tin theo yêu cầu về mặt không gian cho toàn bộ hệ thống, tính toán sản lượng lúa, lượng nước tiêu thụ theo không gian căn cứ theo ảnh Landsat có độ phân giải cao Sử dụng các bản đồ này để phân tích hiệu suất
sử dụng nước, tính đồng bộ trong sử dụng nước và những vấn đề sử dụng nước phát sinh tại đầu và cuối ở cấp hệ thống Kết quả này được cung cấp cho các nhà phân tích
số liệu, đây là một tiếp cận đánh giá mới về hiệu quả dịch vụ tưới như cơ cấu sử dụng nước ở đầu - cuối hệ thống dựa trên tiếp cận sử dụng công nghệ viễn thám GIS
Trang 147
Các nghiên cứu trên thế giới hầu hết mới tập trung vào các tiêu chí kỹ thuật để đánh giá hiệu quả của cung cấp nước tưới, chưa thực sự phản ánh được hết ý nghĩa của việc cải thiện CLDV Ngoài yếu tố về hiệu quả kinh tế, thuận tiện, còn có những yếu
tố khác liên quan đến mức độ cảm nhận, SHL của các hộ dùng nước đối với người thực hiện các sản phẩm dịch vụ đó… Cụm từ “chất lượng dịch vụ tưới” được Tổ chức nông nghiệp và lương thực liên hợp quốc (FAO) đề cập đến trong việc tăng cường hiện đại hoá các hệ thống tưới ở Châu Á, tập trung vào vấn đề quản lý FAO xác định
vấn đề hiện đại hoá hệ thống tưới (FAO 1997) [9] như là “quá trình nâng cấp về kỹ
thuật và quản lý các hệ thống tưới với mục tiêu cải thiện việc sử dụng các nguồn tài nguyên (lao động, nước, kinh tế, môi trường) và dịch vụ tưới cho nông nghiệp” Khái niệm tập trung vào việc cung cấp dịch vụ tưới cho nông dân đã trở thành nguyên tắc hướng dẫn cho các hoạt động của FAO trong khu vực Việc lựa chọn, phát triển các công cụ và phương pháp luận đánh giá hiệu quả tưới như phương pháp đánh giá nhanh
(RAP, 1999) [10] và MASCOTE (FAO, 2007) [11] và coi dịch vụ cung cấp tưới như
một hoạt động dịch vụ theo quy luật kinh tế thị trường Như vậy, để đánh giá được sự hiệu quả của một hệ thống tưới thì cần thiết phải đánh giá đồng bộ: (i) Các chỉ tiêu liên quan đến kinh tế, kỹ thuật sử dụng hiệu quả nước tưới thông qua các chỉ tiêu tính toán
đo đạc và phân tích số liệu; (ii) Chất lượng dịch vụ cung cấp nước tưới thông qua đánh giá SHL của đối tượng sử dụng dịch vụ hay là các hộ dùng nước
Các chỉ tiêu liên quan đến kinh tế, kỹ thuật thường được chuẩn hóa và được đo đạc, nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể với thời gian và tốn kém Đối với hiện trạng thủy lợi Việt Nam hiện nay thì các thông số kỹ thuật, công cụ đo đạc kỹ thuật này chưa có và chưa thực hiện được Do đó luận án này đề cập, tiếp cận và đo lường đánh giá hiệu quả của một hệ thống tưới thông qua đánh giá CLDV cung cấp nước tưới của các công ty thủy nông bằng những đánh giá, nhận xét và mức độ hài lòng của các hộ dùng nước Như vậy, trong phạm vi ảnh hưởng của chính sách miễn giảm TLP, luận án mong muốn tìm được câu trả lời từ các hộ dùng nước đánh giá về CLDV tưới nước vùng ĐBSH như thế nào? Và CLDV này có tốt hơn so với trước khi miễn giảm TLP từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện nâng cao hiệu quả tưới, nâng cao CLDV tưới
Trang 158
Khi đánh giá một chính sách thì cần có cách tiếp cận đa chiều, nhiều đối tượng
có liên quan và ảnh hưởng của chính sách Ở trên ta đã xem xét CLDV của các công ty thủy nông đối với các hộ dùng nước, trong chiều ngược lại thì liệu chính sách miễn giảm TLP có tác động đến ý thức sử dụng tiết kiệm nước, tham gia quản lý và bảo vệ CTTL hay không? Ảnh hưởng đến CLDV tưới của các công ty thủy nông? Theo FAO, việc đánh giá hiệu quả tưới hiện nay cho thấy rằng những cải cách trước đây và đầu tư trong lĩnh vực tưới, tập trung cả vào vấn đề thể chế và công trình, đã không thể đạt được những kết quả mong muốn trong việc cải thiện dịch vụ tưới cho nông dân Đánh giá hiệu quả tưới của nhiều dự án hiện đại hoá tưới (FAO, 1999) đã chỉ ra rằng thiếu hiểu biết về các giải pháp thích hợp là lý do chính ảnh hưởng tới sự thành công của các
dự án hiện đại hoá tưới và hiệu quả cung cấp dịch vụ tưới sau khi thực hiện dự án
Đánh giá sự phát triển tưới ở Nam Á và Đông Nam Á (Barker và Molle, 2005) [12]
cho rằng hạn chế trong việc cải cách thể chế chuyển giao quản lý tưới có sự tham gia (IMT) và Quản lý tưới có sự tham gia (PIM) đã dẫn tới những thất bại trong việc cải thiện dịch vụ tưới cho nông dân Điều này cho thấy rằng ý thức sử dụng tiết kiệm, sự tham gia quản lý và bảo vệ CTTL sẽ là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả tưới của các hệ thống thủy nông, cần phải được đánh giá và xem xét dưới góc độ khách quan và toàn diện Để đánh giá được ý thức sử dụng tiết kiệm, sự tham gia quản
lý và bảo vệ công trình một cách đầy đủ thì có nhiều cách tiếp cận, điều tra phỏng vấn trực tiếp, đo đạc các thông số kỹ thuật, so sánh với các thời điểm khác nhau về thời gian, khác nhau về không gian… Vấn đề này cần phải có đầy đủ số liệu, khảo sát, đo đạc về lượng tưới trong nhiều năm liên tục (đặc biệt trong điều kiện quản lý vận hành
ở Việt Nam) rất tốn kém nhiều khi không khả thi Vì vậy, trong luận án này đánh giá ý thức tiết kiệm nước, sự tham gia quản lý và bảo vệ CTTL của các hộ dùng nước sẽ được thực hiện thông qua đánh giá về mức độ hài lòng của nhà quản lý thủy lợi, bao gồm nhà quản lý trực tiếp là các cán bộ công ty khai thác thủy nông và gián tiếp là các cán bộ thủy lợi thuộc các Phòng NN&PTNT (Phòng Kinh tế), cán bộ các Cục vụ, Viện
có liên quan đến lĩnh vực thủy lợi
Trang 169
1.3 Kết luận chương 1
Về chính sách TLP tại các nước trên thế giới và Việt Nam, việc thực hiện mức thu hay miễn, giảm TLP phải dựa vào điều kiện thực tiễn của từng quốc gia, của từng vùng, từng loại hệ thống thủy lợi, còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và mức thu nhập của người dân để quyết định Nhiều nước trên thế giới đã rút ra nhiều bài học
và có chung quan điểm là Nhà nước và nhân dân cùng làm, được thực hiện theo cách khác nhau: trực tiếp thu TLP, hay gián tiếp thu Trên thực tế TLP chỉ bù đắp được khoảng 20-70% cho phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống, kể cả các nước công nghiệp phát triển Ở Việt Nam từ 2008 đến nay TLP được miễn giảm cho một số đối tượng sản xuất nông nghiệp đã có nhiều mặt tác động tích cực, tiêu cực được đánh giá một cách định tính, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá một cách định lượng và đa chiều tác động của chính sách miễn giảm TLP đến hiệu quả tưới trong nông nghiệp
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đánh giá CLDV cung cấp nước, từ đánh giá CLDV cung cấp nước sinh hoạt, xử lý nước thải, đến đánh giá chất lượng cấp nước tưới Nhưng trong cùng một nghiên cứu chưa có nghiên cứu nào xét cả hai chiều về CLDV và Ý thức của hộ dùng nước Còn ở Việt Nam về đánh giá CLDV thì mới chỉ đánh giá CLDV của một số ngành như hành chính công, y tế, bảo hiểm, điện, ngân hàng… Chưa có một nghiên cứu nào về CLDV tưới trong nông nghiệp khi thực hiện miễn giảm TLP
Qua kết quả nghiên cứu tổng quan trong và ngoài nước liên quan về chính sách TLP và CLDV, luận án định hướng nghiên cứu nâng cao hiệu quả tưới nông nghiệp trong điều kiện miễn giảm TLP vùng ĐBSH bằng cách tập trung phân tích (định tính, định lượng và đa chiều) các vấn đề cốt lõi về tác động của chính sách miễn giảm TLP đến:
(i) Các đối tượng hưởng lợi từ chính sách; (ii) Hiệu quả sử dụng nước; (iii) Ngân sách nhà nước cấp bù; (iv) Năng suất cây trồng; (v) CLDV tưới nông nghiệp; (vi) Ý thức của hộ dùng nước về sử dụng nước tiết kiệm, tham gia và bảo vệ CTTL thông qua SHL của người quản lý thủy lợi
Trang 1811
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ÁP DỤNG
2.1 Khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1.1 Chính sách miễn giảm TLP
Theo quy định của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL năm 2001, “Thuỷ lợi phí là phí dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thuỷ lợi cho mục đích sản xuất nông nghiệp để góp phần chi phí cho việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng và bảo vệ công trình thuỷ lợi” Do vậy, miễn gảm TLP là việc miễn giảm thu phí dịch vụ về nước của các tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ CTTL cho mục đích sản xuất nông nghiệp
Từ năm 2008 trở về trước, Việt Nam áp dụng chính sách thu TLP, theo đó các
hộ sử dụng nước từ CTTL hoặc làm dịch vụ từ CTTL đều phải nộp TLP theo mức thu quy định tại Nghị định của Chính phủ (Nghị định 112 năm 1984 hoặc Nghị định 143 năm 2003)
Từ năm 2008 đến nay, Việt Nam thực hiện chính sách miễn giảm TLP theo các quy định ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn từ Nghị định số 154/2007/NĐ-CP, Nghị định 115/2008/NĐ-CP và hiện nay là Nghị định số 67/2012/NĐ-CP của Chính phủ Mức TLP được miễn giảm cho các đối tượng sử dụng nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp căn cứ vào mức thu TLP quy định tại các Nghị định của Chính phủ
2.1.1.1 Đối tượng miễn thủy lợi phí
Đối tượng được miễn giảm TLP là các tổ chức, cá nhân, hộ nông dân sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất được quy định cụ thể như sau:
1) Thực hiện miễn TLP đối với diện tích đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất nông nghiệp cho các đối tượng sau:
- Hộ gia đình, cá nhân nông dân được Nhà nước giao hoặc công nhận đất để sản xuất nông nghiệp, bao gồm cả đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất
Trang 1912
- Hộ gia đình, cá nhân là xã viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, nông trường quốc doanh (hoặc các công ty nông nghiệp chuyển đổi từ nông trường quốc doanh) để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật
- Hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định của nông trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật
- Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có quyền sử dụng đất nông nghiệp góp đất của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật HTX
2) Miễn TLP đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận cho hộ nghèo
3) Miễn TLP đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm; diện tích đất làm muối Diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm
2.1.1.2 Phạm vi miễn thủy lợi phí
Phạm vi thực hiện miễn thu TLP được tính ở từ vị trí cống đầu kênh của tổ chức hợp tác dùng nước đến công trình đầu mối của CTTL
Trong luận án tập trung nghiên cứu tác động của chính sách TLP đến những đối tượng, phạm vi được miễn giảm TLP và gọi tắt là chính sách miễn giảm TLP
2.1.1.3 Những điểm mới về chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí hiện hành
Chính sách miễn giảm TLP hiện hành quy định tại Nghị định số 67 của Chính phủ đã khắc phục được một số tồn tại cơ bản so với các quy định trước đây Điểm mới của chính sách này cụ thể như sau:
a) Mở rộng đối tượng miễn giảm TLP thêm cho một số loại diện tích đất nông nghiệp:
Trang 20b) Tăng mức miễn giảm thuỷ lợi phí
- Mức miễn giảm TLP tăng so với Nghị định 115 Vùng miền núi phía bắc được
ưu tiên cao nhất Mức tăng cao nhất là vùng Miền núi phía Bắc tăng từ 2,2 đến 2,7 lần, tức là tăng thêm từ 124%-170%, Đồng bằng sông Hồng và Trung du Bắc Bộ tăng thêm
từ 13%-50% Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long, mức TLP giữ nguyên không thay đổi
- Đối với diện tích tưới tiêu phải tạo nguồn từ bậc 2 trở lên, mức TLP tăng thêm 20% và do đó mức miễn giảm tương ứng tăng thêm 20%
- Trường hợp nếu tách riêng được dịch vụ tưới với dịch vụ tiêu trong cùng một
hệ thống thì mức thu cho tưới và thu cho tiêu được tách riêng với mức cho tưới bằng 70% và tiêu bằng 30% mức thu quy định
2.1.1.4 Khái niệm hộ dùng nước
Theo pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL hộ dùng nước là cá nhân, tổ chức được hưởng lợi hoặc làm dịch vụ từ CTTL do doanh nghiệp khai thác CTTL trực tiếp phục vụ trong việc tưới nước, tiêu nước, cải tạo đất, phát điện, nuôi trồng thuỷ sản, giao thông vận tải, du lịch, nghiên cứu khoa học, cấp nước cho công nghiệp và dân sinh
2.1.2 Quản lý tưới, hiệu quả tưới, nội dung và phương pháp đánh giá
2.1.2.1 Quản lý tưới
Theo Tiêu chuẩn về hoạt động bảo tồn, Cục bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, năm 2006 thì Quản lý tưới là quá trình xác định và kiểm soát lượng nước tưới, chu kỳ tưới, mức tưới nhằm đảm bảo kế hoạch và hiệu quả
Trang 2114
Nội dung Quản lý tưới: Bao gồm quản lý nước, quản lý công trình, quản lý kinh
tế và tổ chức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả khai thác các công trình thủy lợi [13]
2.1.2.2 Hiệu quả tưới
Hệ thống CTTL bao gồm các CTTL có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định Hệ thống thủy lợi tưới nước được gọi theo
tên truyền thống là Hệ thống thủy nông hay hệ thống tưới (HTT) [14]
Hiệu quả tưới: Theo định nghĩa của Viện quản lý nước quốc tế IWMI
(Interna-tional Water Management Institute) thì: “Hiệu quả tưới (HQT) của hệ thống tưới là
mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống tưới đó” [15]
Đánh giá hiệu quả tưới là những hoạt động nhằm kiểm tra xem xét sau những giai đoạn nhất định của dự án, hoặc chu kì quản lý, để xác định được mức độ đạt được mục tiêu, nhiệm vụ ban đầu, tìm ra nguyên nhân làm giảm hiệu quả, để có giải pháp nâng cao hiệu quả tưới, hoặc đề xuất ra mục tiêu, nhiệm vụ mới và việc đánh giá hiệu quả phải dựa trên các chỉ tiêu, tiêu chuẩn, đánh giá phù hợp Để đạt được hiệu quả tưới thì cần phải đạt được các giải pháp đồng bộ từ cơ chế vận hành quản lý, CLDV cung cấp, đến sự tham gia của hộ dùng nước, các yếu tố tài chính và giải pháp kỹ thuật
Những mục tiêu để đạt được hiệu quả tưới trong luận án này chỉ tập trung vào hai thành phần quan trọng đó là CLDV tưới và ý thức của hộ dùng nước về sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ CTTL
2.1.2.3 Nội dung đánh giá hiệu quả tưới của hệ thống thủy lợi
Bước 1: Quyết định các mục tiêu
Các mục tiêu cụ thể của luận án được xác định cụ thể trong trong giai đoạn này
đó là đánh giá tác động của chính sách miễn giảm TLP đến: (i) Các đối tượng hưởng lợi từ chính sách; (ii) Hiệu quả sử dụng nước; (iii) Ngân sách nhà nước cấp bù; (iv) Năng suất cây trồng; (v) CLDV tưới nông nghiệp; (vi) Ý thức của hộ dùng nước về sử dụng nước tiết kiệm, tham gia và bảo vệ CTTL thông qua SHL của người quản lý thủy lợi
Bước 2: Lựa chọn các chỉ tiêu để đánh giá đạt được các mục tiêu trên
Trang 2215
+ Các đối tượng hưởng lợi từ chính sách: xem xét các tiêu chí nào để thể hiện các đối tượng hưởng lợi từ chính sách và tập trung vào các đối tượng như Công ty khai thác CTTL, các hộ dùng nước (hợp tác xã, tổ dùng nước, gia đình dùng nước…)
+ Hiệu quả sử dụng nước: sẽ được lựa chọn tiêu chí đánh giá, so sánh hiệu quả
sử dụng nước tại thời điểm trước và sau khi có chính sách miễn giảm TLP, lấy mốc năm 2008 làm thời điểm để so sánh và đánh giá
+ Ngân sách nhà nước cấp bù: So sánh ảnh hưởng của chính sách miễn giảm TLP ảnh hưởng đến nguồn ngân sách cấp bù hàng năm từ khi có chính sách miễn giảm TLP
+ Năng suất cây trồng: So sánh năng suất cây trồng và điển hình là cây lúa trước và sau khi miễn giảm TLP, để xem xét khả năng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng như thế nào, cụ thể đó là ảnh hưởng của lượng nước và chế độ cung cấp nước đến năng suất lúa
+ CLDV tưới nông nghiệp: Sử dụng thang đo đánh giá Liket 5 để điều tra khảo sát đánh giá của các hộ dùng nước về CLDV, chất lượng cũng như số lượng nước tưới nông nghiệp
+ Ý thức của hộ dùng nước về sử dụng nước tiết kiệm, tham gia và bảo vệ CTTL thông qua SHL của người quản lý thủy lợi
Bước 3: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá
+ Tiêu chuẩn đánh giá đối với các ảnh hưởng của chính sách miễn giảm TLP là phải so sánh các kết quả phân tích sau khi có chính sách miễn giảm TLP (sau năm 2008) và kéo dài theo thời gian 5 năm
+ Xây dựng các đánh giá CLDV của công ty thủy nông và SHL của nhà quản lý thủy lợi về ý thức sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ công trình thủy lợi theo thang đo likert với 5 cấp độ
+ Xây dựng tiêu chuẩn xếp hạng CLDV của các công ty thủy nông, theo hệ thống và theo từng khu vực hành chính
Trang 2316
Bước 4: Kiểm định
+ Sử dụng các tiêu chuẩn kiểm định tính phù hợp của các thang đo
+ Sử dụng các kiểm định để xác định tính phù hợp, tính tin cậy của mô hình định lượng
+ Sử dụng các kiểm định khác nhau để kiểm tra ý nghĩa thống kê của các hệ số
và phương trình hồi quy
Bước 5: Đánh giá
Dựa trên các số liệu phân tích và kết quả của mô hình đưa ra những nhận xét đánh giá về hiệu quả tưới, ảnh hưởng của chính sách miễn giảm TLP đến các đối tượng liên quan, đánh giá chung về CLDV tưới của vùng ĐBSH và ý thức sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ CTTL thông qua SHL của nhà quản lý Bước 6: Giải pháp
Các giải pháp được đề xuất nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của chính sách miễn giảm TLP đến các đối tượng liên quan, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao CLDV tưới của các công ty thủy nông và nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ các CTTL của các hộ dùng nước
Hình 2.1 Chu trình đánh giá hiệu quả tưới [16]
Trang 2417
2.1.2.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả tưới trên thế giới
Đã có nhiều kết quả nghiên cứu về phương pháp đánh giá hiệu quả tưới của HTT, trong đó đáng chú ý hơn cả là các công trình của:
- Chương trình đánh giá nước thế giới (WWAP);
- Các nghiên cứu điển hình của Viện quản lý nước quốc tế (IWMI), Tổ chức nông nghiệp và lương thực liên hợp quốc (FAO), Ủy ban Tưới tiêu quốc tế (ICID), Ủy ban tưới tiêu quốc gia và Cục thủy lợi Hoàng gia Thái Lan và nhiều kết quả nghiên cứu tại các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Philippin, Mexico, Nam Phi, Austral-
ia và Việt Nam về đánh giá hiệu quả hoạt động của các HTT Dưới đây là tổng hợp các
đề xuất của các công trình nghiên cứu khoa học có giá trị [15]
1 Phương pháp đánh giá nhanh (Rapid Appraisal Process - RAP) [10]
Phương pháp này đã được FAO, ngân hàng thế giới (WB – World Bank) giới thiệu và ứng dụng để đánh giá hệ thống thủy lợi ở nhiều nước trên thế giới RAP cũng
đã được giới thiệu tại Việt Nam RAP với trợ giúp của Benchmarking cho phép tính toán, đánh giá nhanh trong thời gian ngắn Nhưng thực hiện RAP phải xem xét đến rất nhiều yếu tố và tổng hợp thành các chỉ tiêu Yêu cầu phải có nhiều số liệu quan trắc và các tài liệu liên quan khác phải có sẵn Việc áp dụng phương pháp này yêu cầu trước hết hệ thống thủy lợi phải được nâng cấp hiện đại hóa từ phần cứng (công trình) cho đến phần mềm (quản lý vận hành hệ thống), có đủ điều kiện, có các thiết bị hiện đại giám sát, đo đạc kết quả hoạt động của HTT để có được các tài liệu cần thiết cho tính toán
2 Đánh giá tiêu chuẩn hoạt động của hệ thống tưới (Benchmarking process) [17]
Các tổ chức ICID, FAO phối hợp với IWMI đã đề xuất đánh giá hoạt động của
hệ thống thuỷ nông bằng qui trình Benchmarking Mục tiêu tổng quát của ing là cải tiến việc tổ chức quản lý các HTT Nhưng Benchmarking hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý thuỷ nông, được đề xuất áp dụng cho chương trình quản lý tưới tiêu dài hạn hơn là cho những mục tiêu trước mắt Và việc thu thập các số liệu cần thiết rất nhiều thời gian và đòi hỏi phải được thực hiện bởi những chuyên gia
Trang 25Nam [18]
Theo báo cáo đánh giá của Tổng cục Thuỷ lợi năm 2015 về việc thực hiện thu thập, tính toán bộ chỉ số đánh giá công tác QLKT CTTL được xây dựng dựa trên phương pháp RAP/MASSCOTE (gồm 22 chỉ số và 29 thông số) tại các địa phương trên toàn quốc là tương đối khó khăn Trên địa bàn cả nước có 63% địa phương triển khai áp dụng được một phần các chỉ số đánh giá này Cụ thể là chỉ có 44% thông số có thể thu thập được và tính toán được 42% chỉ số
3 Đánh giá có sự tham gia của cộng đồng
Phương pháp này có ưu điểm là dễ đạt được sự đồng thuận giữa các bên về tồn tại của hệ thống cũng như giải pháp cải tiến dịch vụ, nhưng kết quả của phương pháp phụ thuộc nhiều vào trình độ, quan điểm và kỹ năng của những người đánh giá nên các kết quả chỉ có tính chất tương đối để đánh giá sơ bộ
4 Sử dụng công nghệ viễn thám (GIS)
Ứng dụng công nghệ viễn thám để đánh giá hoạt động của hệ thống thủy lợi chỉ phù hợp với các hệ thống lớn được hiện đại hóa Hơn nữa chi phí để có được ảnh vệ tinh (có đủ độ chính xác) thường rất cao Do vậy, công nghệ này chưa phổ biến đối với các nước đang phát triển như Việt Nam và nhiều nước đang phát triển khác
5 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Trang 2619
Hạn chế là khối lượng công tác lớn, chi phí lớn, dễ xảy ra sai lệch số liệu do bị ảnh hưởng của môi trường bên ngoài
6 Điều tra theo các phiếu điều tra
Phương pháp này dễ làm, dễ thực hiện được áp dụng nhiều trong lĩnh vực đánh giá tác động của chính sách, đánh giá các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với các ngành như NN&PTNT, xã hội học, kinh tế, chính trị, văn hóa Phương pháp này có thể thực hiện thường xuyên hàng năm do không tốn quá nhiều thời gian và kinh phí đặc biệt ở các nước chưa được hiện đại hóa trong quản lý như ở Việt Nam và các nước đang phát triển Kết quả của phương pháp này phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế phiếu điều tra, kỹ thuật điều tra và đối tượng điều tra Đối với đánh giá CLDV tưới nông nghiệp, SHL của nhà quản lý thủy lợi trong điều kiện HTT chưa được hiện đại hóa như ở Việt Nam và một số nước có điều kiện tương tự thì đây là phương pháp phù hợp
và hiệu quả
Nhận xét: Do sự phức tạp trong việc đánh giá toàn diện và đầy đủ HTT nên vận
dụng vào các nước là phải rất linh hoạt tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và mục tiêu của từng nước, từng vùng, từng HTT Hơn nữa phương pháp đánh giá RAP, Benchmarking và MASSCOTE được xây dựng từ các nước phát triển có các HTT đã hoàn chỉnh, được hiện đại hóa, có đầy đủ tài liệu để đánh giá toàn diện, đầy đủ các hiệu quả của HTT, nên ít phù hợp, khó áp dụng cho các nước đang phát triển vùng Đông Nam Á như Việt Nam các HTT còn chưa hoàn chỉnh, chưa được hiện đại hóa và rất khác về điều kiện quản lý Trong luận án áp dụng phương pháp dễ làm, dễ thực hiện và phù hợp với hiện trạng quản lý khai thác của Việt Nam là dùng phương pháp phiếu điều tra
2.1.3 Hiệu quả tưới và đánh giá hiệu quả tưới ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiệu quả khai thác các HTT còn ở mức thấp (chỉ đạt 60% - 70% năng lực thiết kế) Do vậy, đánh giá hiệu quả tưới để có biện pháp nâng cao hiệu quả các HTT là quan trọng
1 Nhận xét chung về đánh giá hiệu quả các HTT ở Việt Nam
Trang 2720
- Cho đến nay, các công ty khai thác CTTL mới đánh giá hiệu quả phục vụ của HTT chỉ ở mức đơn giản là tổng kết tình hình thực hiện tưới, cấp nước và tiêu thoát nước hàng vụ, năm so với nhiệm vụ thiết kế, kế hoạch một số chỉ tiêu như: Diện tích phục vụ, hệ số sử dụng nước, năng suất, sản lượng cây trồng và hệ số quay vòng sử dụng đất Nhưng các chỉ tiêu đó không đảm bảo độ tin cậy do số liệu đầu vào chưa đầy đủ
- Chưa có được một hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn hợp lý để đánh giá hiệu quả tưới do còn ít được quan tâm, quan điểm lại khác nhau về đánh giá
2 Một số kết quả nghiên cứu đáng chú ý
(i) Kết quả nghiên cứu của Hà Lương Thuần và các cộng sự [19] đã đưa ra
những kiến nghị bước đầu về 4 nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tưới bao gồm: hiệu quả công trình, hiệu quả tưới mặt ruộng, hiệu quả môi trường, hiệu quả kinh tế tưới nước
(ii) Nghiên cứu của Nguyễn Thế Quảng và Đoàn Doãn Tuấn [20] đã đưa ra
phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của HTTL dựa trên các chỉ số đánh giá có liên quan đến năng suất cây trồng, năng suất lao động, hiệu quả nguồn nước cấp, một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế, môi trường, nhưng chưa thiết lập được các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả phục vụ của các HTTL
(iii) Kết quả đề tài NCKH cấp bộ Nâng cao hiệu quả các CTTL miền núi trung
du phía Bắc, do Đại học Thủy Lợi thực hiện (2008-2010) [13] đề xuất phương pháp,
nội dung đánh giá hiệu quả HTT tại Việt Nam theo 8 nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả HTT bao gồm: Nhóm chỉ tiêu, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cấp nước cho phát triển thủy sản, hiệu quả cấp nước cho sinh hoạt dân cư, hiệu quả của CTTL đến môi trường, hiệu quả cấp nước chăn nuôi, hiệu quả về xã hội, hiệu quả tưới cho cây trồng, hiệu quả tiêu nước cho cây trồng, hiệu quả kinh tế phân phối nước tổng hợp
Nhận xét: Tổng hợp kết quả của các Đề tài NCKH cấp bộ và các công trình
NCKH quốc tế, trong nước nêu trên đã cho các kết quả để đánh giá khá đầy đủ nhưng vẫn còn những bất cập như: chưa thiết lập được các tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại hiệu quả của các HTT, cũng chưa đề cập đến đánh giá CLDV tưới, đến đánh giá ý thức sử
Trang 2821
dụng nước và tham gia quản lý, bảo vệ công trình của cộng đồng dân cư sử dụng nước
từ HTT và chưa đánh giá SHL của các tổ chức quản lý CTTL Do các HTT ở Việt Nam còn chưa được hoàn chỉnh và đồng bộ, lại còn thiếu nhiều tài liệu nên phải thực hiện đánh giá từng bước theo tiến trình nâng cấp, hiện đại hóa HTT và cải tiến quản lý HTT
Với các điều kiện thực tiễn như ở Việt Nam, đánh giá HTT ở vùng ĐBSH sẽ được tác giả lựa chọn kết hợp các phương pháp sau để đánh giá hiệu quả tưới của HTT: (i) Phương pháp chuyên gia và tham vấn cộng đồng; (ii) Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra; (iii) Phương pháp công nghệ viễn thám
các nhà nghiên cứu marketing hiện đại Philip Kotler và Armstrong
- “Dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người
cung cấp” theo TCVN ISO 8402:1999 [21]
2 Khái niệm chất lượng dịch vụ
Theo TCVN ISO 9000:2000 [22], dựa vào khái niệm về chất lượng sản phẩm,
có thể coi CLDV là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của khách hàng và các bên có liên quan
Hay như một vài chuyên gia định nghĩa chất lượng dịch vụ:
- “Sự đáp ứng các yêu cầu” (Philip Crosby);
Trang 29Hiện nay, có nhiều cách để đánh giá CLDV thông qua cảm nhận của khách
hàng Theo Tiêu chuẩn RATER:
• Tính hữu hình (Tangibles): các tiện nghi vật chất bên ngoài, thiết bị, con người, tài liệu dùng trong thông tin liên lạc
• Sự tin cậy (Reliability): Khả năng thực hiện dịch vụ một cách chính xác, đúng như đã hứa, cũng như cam kết thực hiện đúng ngay lần đầu: hoàn thành đúng thời gian, đúng cách và không có sai sót
• Độ phản hồi (Reponsiveness): Sự sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch
vụ một cách nhanh chóng, không để khách hàng chờ đợi vì bất cứ lý do gì Nếu có sai sót nào trong quá trình thực hiện dịch vụ thì phải có khả năng phục hồi nhanh chóng, chuyên nghiệp
• Độ bảo đảm - năng lực phục vụ (Assurance): Các phẩm chất, kỹ năng, kiến thức, năng lực cần thiết của nhân viên để thực hiện dịch vụ, tạo lòng tin cho khách hàng: lịch sự, tôn trọng khách hàng, chuyên nghiệp, khả năng giao tiếp tốt …
• Sự cảm thông (Empathy): Luôn quan tâm và chăm sóc đến khách hàng, tạo sự gần gũi với khách hàng Ngoài ra, cũng cần phải cố gắng tiếp cận hiểu được nhu cầu của khách hàng
Mô hình SERVQUAL được phát triển bởi Parasuraman và các tác giả khác (1985, 1986, 1988, 1991, 1993, 1994), SERVQUAL là cách tiếp cận được sử dụng nhiều nhất để đo lường CLDV, so sánh sự mong đợi của khách hàng trước một dịch vụ
và nhận thức của khách hàng về dịch vụ thực sự được chuyển giao (Parasuraman et al, 1985) SERVQUAL là mô hình được xây dựng để đánh giá sự nhận thức của khách hàng về CLDV trong ngành dịch vụ và bán lẻ Thang đo phân tích khái niệm CLDV thành 05 yếu tố sau:
Trang 3023
- Tính hữu hình (Tangibility): Cơ sở vật chất, trang thiết bị…;
- Độ tin cậy (Reliability): Khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn;
- Độ đáp ứng (Responsiveness): Sự sẵn sàng giúp đỡ và đáp ứng lại nhu cầu;
- Sự đảm bảo (Assurance): Khả năng của tạo được lòng tin…;
- Sự đồng cảm (Empathy): Thể hiện sự quan tâm chăm sóc
Ứng dụng mô hình SERVQUAL, thang đo đánh giá sự hài lòng của người dân
về CLDV tưới tiêu nông nghiệp
Lấy ý tưởng lý thuyết trong mô hình Gronroos (1984), Parasuraman (1985) [23]
đã xây dựng một bộ công cụ đo lường hỗn hợp, gọi tắt là SERVQUAL dùng để đo lường CLDV cảm nhận, bộ thang đo SERVQUAL chứa 22 câu hỏi của với các thang
đo Likert để đo lường riêng biệt những kỳ vọng và cảm nhận thực tế của khách hàng
về CLDV Theo lý thuyết này thì Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận - Giá trị kỳ vọng Đây là một trong những mô hình được sử dụng khá phổ biến để đánh giá CLDV trong nhiều lĩnh vực khác nhau Mô hình SERVQUAL gồm 10 thành phần: (1) Phương tiện hữu hình; (2) Sự tin cậy; (3) Đáp ứng; (5) Năng lực phục vụ; (6) Ân cần; (7) Thông tin; (8) Tín nhiệm; (9) An toàn; (10) Thấu hiểu Đến năm 1988 Parasuraman
và nnk [24] đã hiệu chỉnh lại còn 5 thành phần đây là mô hình nghiên cứu định lượng CLDV phổ biến và được áp dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về makerting Theo Parasuraman, CLDV không thể xác định chung chung mà phụ thuộc vào cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ đó và sự cảm nhận này được xem xét trên nhiều yếu tố Theo mô hình SERVQUAL của Parasuraman thì Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào 5 yếu tố chính đó là: Sự tin cậy; Sự đáp; Sự đồng cảm; Phương tiện hữu hình; Năng lực phục vụ hay là khả năng đáp ứng
Mô hình SERVQUAL (1988) được xây dựng trên quan điểm CLDV cảm nhận
là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng/mong đợi (expectations) và các giá trị khách hàng cảm nhận được (Perception) được nghiên cứu thông qua thang đo gồm 22 biến quan sát của năm tiêu chí
Trang 3124
Sự tin cậy (reliability)
Sự tin cậy nói lên khả năng cung ứng dịch vụ chính xác, đúng giờ và uy tín Điều này thể hiện sự nhất quán trong việc thực hiện dịch vụ và tôn trọng các cam kết cũng như lời hứa với khách hàng
Độ đáp ứng (responsivenes)
Đây là tiêu chí đo lường khả năng giải quyết vấn đề nhanh chóng, xử lý hiệu quả các khiếu nại, sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng Nói cách khác hiệu quả phục vụ là sự phản hồi từ phía nhà cung cấp dịch vụ đối với những gì mà khách hàng mong muốn
Sự hữu hình (tangibles)
Sự hữu hình chính là hình ảnh bên ngoài của các cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, phong thái của đội ngũ nhân viên, tài liệu, sách hướng dẫn, hệ thống thông tin liên lạc Nói một cách tổng quát tất cả những gì mà khách hàng nhìn thấy trực tiếp bằng mắt và các giác quan thì đều có thể tác động đến yếu tố này
Ứng dụng mô hình SERVQUAL được sử dụng rất nhiều trong đánh giá CLDV các ngành lĩnh vực khác nhau như trong các ngành bán lẻ, dịch vụ bưu chính viễn thông, bảo hiểm, y tế và giáo dục, và các ngành hành chính công Chính vì vậy, mô hình SERQUAL được luận án ứng dụng để đánh giá sự hài lòng của người dân về CLDV tưới tiêu nông nghiệp
Trang 3225
2.1.4.2 Chất lượng dịch vụ tưới nông nghiệp
Quản lý theo hướng dịch vụ giữa nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ tưới
được mô tả trong hình 2.2 [25] Nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ trước tiên
đồng thuận về những chi tiết cụ thể về dịch vụ phân phối nước (thời gian, địa điểm, khối lượng, cách thức cung cấp…) Nhà cung cấp sẽ nhận được thù lao cho dịch vụ được cung cấp từ người sử dụng Thông thường mức thù lao này được xem như hiệu quả của hệ thống trong việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và việc vận hành linh hoạt của hệ thống
Trong lựa chọn dịch vụ, người sử dụng có thể lựa chọn và thay đổi mức độ của dịch vụ phù hợp với nhu cầu và nhà cung cấp sẽ phải kiểm soát các dịch vụ tới các người dùng khác nhau Như vậy thông tin giữa nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ
là một yếu tố quan trọng trong khái niệm dịch vụ Thông tin đầy đủ và kịp thời sẽ giúp nhà cung cấp và người sử dụng xác định và thỏa thuận được mức độ dịch vụ tốt nhất
Thù lao
theo yêu cầu
Trang 33- Sự linh hoạt: Sự linh hoạt của một hệ thống thể hiện qua 3 yếu tố: 1) Tần suất:
số lần tưới theo lịch tưới có thể điều chỉnh linh hoạt; 2) Lưu lượng: hệ thống có thể cung cấp lưu lượng một cách linh hoạt theo yêu cầu cho các khu tưới; và 3) Thời lượng: là linh hoạt trong các thời đoạn cấp nước Sự linh hoạt sẽ tránh cho cây trồng bị thiếu nước hoặc thừa nước gây lãng phí và gây xói mòn đất, đồng thời tránh gây ảnh hưởng đến các hoạt động khác
2) Về thông tin, thông tin hai chiều từ người cung cấp dịch vụ tới người hưởng dịch vụ
và ngược lại luôn đòi hỏi phải được đảm bảo chính xác và kịp thời
3) Về quyền sử dụng nước: đây là điểm then chốt giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nước và giải quyết một cách hài hòa những mâu thuẫn giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý địa phương và những người hưởng dịch vụ Hệ thống chỉ có thể tồn tại một cách bền vững và hiệu quả khi quyền sử dụng nước được hiểu và sử dụng đúng mục đích Người sử dụng nước có quyền yêu cầu người cung cấp nước thực hiện đầy đủ các cam kết về dịch vụ đã thỏa thuận (dựa theo Hợp đồng dịch vụ); người cung cấp dịch vụ tưới có quyền yêu cầu người sử dụng nước tuân thủ cam kết đã ký, sử dụng nước đúng mục đích đã thỏa thuận và trong trường hợp nguồn nước thiếu thì phải chấp nhận mức độ dịch vụ có thể của người cung cấp dịch vụ và tuân thủ theo kế hoạch phân phối nước được điều chỉnh của người cung cấp nước
Những nội dung trên cho thấy CLDV trong quản lý nước được thể hiện thông qua mối quan hệ hai chiều giữa bên cung cấp và bên hưởng dịch vụ Dịch vụ chỉ có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững khi có những giải pháp cải tiến về công trình
và vận hành - bảo dưỡng (O&M), áp dụng từng bước công nghệ hỗ trợ ra quyết định
và vận hành tiên tiến như SCADA, thực hiện những cải cách trong quản lý như PIM, IMT
Trang 3427
4) Các yêu cầu quan trọng về dịch vụ thuỷ lợi trong bối cảnh hiện đại hoá
- Cán bộ/công nhân vận hành trực tiếp và cán bộ làm công tác quản lý ở các cấp đều phải nhận thức được “cung cấp dịch vụ tốt” là một trong những mục tiêu của hiện đại hoá dịch vụ thuỷ lợi Do vậy trước hết phải hiểu được khái niệm dịch vụ là gì, đồng thời cũng luôn nhớ rằng, người sử dụng dịch vụ luôn luôn mong muốn được cung cấp dịch vụ với chất lượng càng cao càng tốt
- Cần cải thiện phần cứng (công trình) của hệ thống nhằm cung cấp dịch vụ tốt hơn Tuy nhiên, những thay đổi về phần cứng phải là kết quả của việc phân tích kỹ dựa trên các yêu cầu về dịch vụ Trong một số trường hợp, có thể bổ sung các hệ thống thu thập số liệu, giám sát và kiểm soát từ xa hiện đại (SCADA) và tự động hóa Mức độ mong muốn về dịch vụ phân phối nước, khả năng ngân sách hiện tại và những hạn chế khác sẽ xác định quy mô các hạng mục nâng cấp, sửa chữa phần cứng hệ thống chứ không phải là ngược lại
- Đồng thời cần phải có những thay đổi trong phần mềm (công tác quản lý và vận hành) của hệ thống Xây dựng kế hoạch của công ty quản lý thủy nông (IMC) bao gồm kế hoạch phân phối nước, vận hành và bảo trì, quản lý nhân sự, tài sản, tài chính vv… cũng như hệ thống thông tin liên lạc (giữa người vận hành và công ty, giữa người dân với cán bộ quản lý vận hành…) và lập quy trình vận hành, bảo trì…để kiểm soát
và điều tiết nước để đáp ứng các mục tiêu dịch vụ yêu cầu
Dựa trên khái niệm CLDV và liên hệ với ngành thủy lợi và hoạt động tưới của các công ty thủy nông có thể nhận thấy rằng dịch vụ tưới phục vụ nông nghiệp cũng là một loại hình dịch vụ, nó mang các đặc điểm chung của CLDV theo khái niệm chung
như đã trình bày ở trên Theo ý kiến của các chuyên gia thủy lợi cũng như tổng hợp các vấn đề liên quan đến CLDV tưới, CLDV tưới sẽ đo lường khả năng các yêu cầu về
sự đáp ứng nhu cầu tưới của các hộ dùng nước theo phạm trù không gian, thời gian,
số lượng và chất lượng Một CLDV tưới tốt sẽ được hiểu là sự thỏa mãn của các hộ dùng nước đối với các kế hoạch cung cấp nước hợp lý, thuận tiện, kịp thời và đáp ứng đầy đủ nước cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo cả số lượng và chất lượng
Trang 3528
Hiện nay, các nghiên cứu trong nước chưa có một nghiên cứu nào đề cập đánh giá CLDV tưới, trong khi đánh giá CLDV được áp dụng rất nhiều và phổ biến đối với các ngành kinh tế, ngân hàng, viễn thông… Theo nghiên cứu tổng hợp đánh giá so sánh các mô hình đo lường CLDV ngân hàng, Nguyễn Thành Công (2015) đã chỉ ra những hạn chế của các mô hình và những vấn đề liên quan đến CLDV để có thể giúp các nhà nghiên cứu và nhà quản lý có cơ sở lựa chọn các tiêu chí đánh giá hoặc mô hình đo lường phù hợp khi triển khai những công trình nghiên cứu đánh giá CLDV
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Công, mô hình đánh giá CLDV của asuraman được nhiều sự ủng hộ của các nhà nghiên cứu Avkiran (1994); Ba-hia&Nantel (2000); Sureshchandar & ctg (2001); Guo& ctg (2008) Kumar & ctg (2009); Tsoukatos & Mastrojianni (2010)… Nhìn chung các mô hình đo lường CLDV của các tác giả trên thế giới đều được xây dựng trên cơ sở các thành phần chất lượng của mô hình SERVQUAL Khi so sánh 10 mô hình đo lường CLDV thì mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1991) thể hiện là bộ công cụ đo lường hoàn chỉnh về
Par-CLDV [26] Trong luận án, mô hình Parasuraman sẽ được nghiên cứu và áp dụng cho
đánh giá CLDV tưới của các công ty thủy nông thông qua sự đánh giá SHL của các hộ dùng nước và sẽ được nghiên cứu điển hình cho vùng ĐBSH gồm 11 tỉnh và thành phố
Để đánh giá CLDV tưới nông nghiệp, theo mô hình SERVQUAL của asunaman thì có các thước đo đánh giá của hộ dùng nước về CLDV tưới nông nghiệp thông qua các nhân tố: Sự tin cậy; Tính hữu hình; Độ đáp ứng; Sự bảo đảm và Sự đồng cảm Các nhân tố này sẽ được thể hiện qua các câu hỏi điều tra đánh giá theo 5 mức độ của thước đo Likert
Par-2.1.5 Sự hài lòng của nhà quản lý thủy lợi
2.1.5.1 Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng
Theo Philip Kotler (2003), sự thỏa mãn - hài lòng của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của khách hàng đó
Mức độ hài lòng phụ thuộc nhiều vào sự khác biệt giữa kết quả nhận được và
kỳ vọng Nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết
Trang 36Tuy giữa CLDV và SHL có mối liên hệ với nhau (Cronin, J., J., và Taylor, S.A, 1992), nhưng có rất ít nghiên cứu tập trung vào việc kiểm tra mức độ giải thích của các thành phần chất lượng dịch vụ đối với sự hài lòng, đặc biệt cho ngành dịch vụ cụ thể (Lassar và cộng sự, 2000)
2.1.5.2 Sự hài lòng của hộ dùng nước và nhà quản lý thủy lợi
Để nâng cao CLDV tưới của các công ty thủy nông cần phải quan tâm đến sự thỏa mãn và hài lòng của các hộ dùng nước Sự hài lòng của hộ dùng nước phụ thuộc vào hiệu quả hay lợi ích của dịch vụ cung cấp nước tưới mà công ty thủy nông cung cấp cho họ đó là sự hiệu quả, thuận tiện và có giá trị về niềm tin cũng như mức độ thân thiện của các nhân viên phục vụ trong công ty
Đối với các nhà quản lý thủy lợi, thì họ là người đại diện cho nhà nước để giám sát và cung cấp các khoản kinh phí cấp bù cho TLP, họ sẽ đánh giá được hiệu quả hay những tác động của chính sách miễn giảm TLP đến các ý thức sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ các CTTL Do đó sự hài lòng của nhà quản lý cũng dựa trên các kỳ vọng về hiệu quả của chính sách miễn giảm TLP đối với ý thức sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ CTTL
Sự hài lòng của nhà quản lý thuỷ lợi là mức độ trạng thái, cảm giác của nhà quản lý thuỷ lợi bắt nguồn từ việc so sánh về hiệu quả sử dụng và mức độ đóng góp vào dịch vụ thuỷ lợi của các hộ dùng nước đối với kỳ vọng của người quản lý
Trang 3730
Sự hài lòng của nhà quản lý thủy lợi được đánh giá thông qua các tiêu chí về Ý thức của hộ dùng nước về sử dụng nước tiết kiệm, sự tham gia QLKT và bảo vệ CTTL Trong khi ý thức sử dụng nước tiết kiệm được đánh giá dựa trên định mức và khối lượng nước sử dụng thực tế thì sự tham gia của người sử dụng nước đến công tác QLKT, bảo vệ CTTL được đo lường từ những đóng góp về công lao động, vật liệu, và kinh phí (bao gồm cả TLP)
2.2 Nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách TLP
2.2.1 Đánh giá tác động của chính sách TLP đến các bên liên quan
Các bên liên quan đến chính sách TLP bao gồm: (1) Hộ dùng nước; (2) Đơn vị QLKTCTTL (gọi là công ty thủy nông); (3) Đơn vị quản lý nhà nước về thủy lợi Để đánh giá tác động của chính sách TLP đến các bên liên quan nêu trên những phương pháp sau đây được sử dụng:
2.2.1.1 Các phương pháp điều tra thu thập số liệu
1 Loại số liệu
- Số liệu thứ cấp là những số liệu thu thập từ những tài liệu nghiên cứu có liên
quan đã được công bố từ dự án, nghiên cứu, bài báo khoa học, các tài liệu thống kê và các văn bản về chính sách TLP Số liệu thứ cấp được dùng để phân tích những tác động của chính sách miễn giảm TLP đến các bên liên quan, ngoài ra số liệu thứ cấp là nguồn quan trọng để dùng trong việc phân tích, tổng hợp nhiều vấn đề khác trong luận
án này
- Số liệu sơ cấp là số liệu được thu thập thông qua việc điều tra bảng hỏi hoặc
phỏng vấn trực tiếp hoặc điều tra trực tuyến Đây là các số liệu hoàn toàn mới chưa được sử dụng trong bất kỳ nghiên cứu nào
2 Phạm vi điều tra tại 11 tỉnh thuộc vùng ĐBSH, thu thập số liệu tại các đơn vị quản
lý nhà nước về thủy lợi như Tổng cục Thủy lợi, Chi cục Thủy lợi, Phòng kinh tế (Phòng NN&PTNT), các công ty thủy nông ở vùng ĐBSH
3 Đối tượng điều tra: Các hộ dùng nước, đơn vị quản lý khai thác, đơn vị quản lý nhà nước về thủy lợi, chuyên gia
Trang 3831
4 Phương pháp điều tra: Phương pháp chuyên gia và tham vấn cộng đồng
2.2.1.2 Phương pháp đánh giá
- Phương pháp phân tích đa chiều: Phân tích đánh giá các mặt tác động giữa
các bên liên quan do chính sách miễn giảm TLP từ đó vừa có cái nhìn khách quan, tổng hợp về chính sách vừa có những phân tích chuyên sâu về một vấn đề cụ thể
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng để chỉnh sửa và
hoàn thiện bảng điều tra cho cả hai mô hình đánh giá CLDV của hộ dùng nước và đánh giá ý thức của hộ dùng nước về sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo
vệ CTTL qua SHL của người quản lý
- Phương pháp định tính: Phân tích, nhận định về sự tác động của chính sách
miễn giảm TLP đến các bên liên quan
2.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng nước
2.2.2.1 Các phương pháp điều tra thu thập số liệu
1 Số liệu cần thu thập: Số liệu điện năng tiêu thụ, thời gian vận hành trong sổ nhật ký vận hành tại các trạm bơm đầu mối Số liệu khí tượng thủy văn, số liệu diện tích cây trồng được tưới, lịch thời vụ, mô hình quản lý trong giai đoạn từ 2004 đến 2014
2 Đối tượng điều tra: Các trạm, cụm, xí nghiệp thủy nông
3 Địa điểm: Công ty TNHH MTV KTCTTL Nghĩa Hưng, Công ty TNHH MTVKTCTTL Nam Đuống và Xí nghiệp Phú Xuyên thuộc Công ty TNHH MTV ĐTPT thủy lợi Sông Nhuệ Lý do lựa chọn 3 hệ thống trên là qua điều tra thực tế rất nhiều hệ thống của vùng ĐBSH không có đầy đủ số liệu nhật ký vận hành máy bơm tưới đầu mối và các số liệu liên quan liên tục trong 10 năm Ba hệ thống đã được lựa chọn để tính toán vì có đủ số liệu vận hành trong 10 năm và đại diện cho vùng đồng bằng tưới lúa như Nam Đuống, vùng ngoại thành như Sông Nhuệ và vùng triều như Nghĩa Hưng
Trang 39có cốt đất từ + 0,4 + 0,5, cục bộ có nơi cốt đất chỉ ở mức + 0,2 + 0,3 m, diện tích chiếm khoảng 2.000 ha Vùng này nằm chủ yếu nằm ở cụm 3 và cụm 4, công tác tưới tiêu cơ bản bằng trọng lực có sự hỗ trợ của động lực Vì thế rất khó để đo được lượng nước thực tế khi chảy bằng trọng lực nên trong luận án tác giả chỉ tính lưu lượng thực
tế do máy bơm bơm tưới
4 Phương pháp điều tra: Phương pháp tổng kết thực tế
2.2.2.2 Phương pháp đánh giá
Phương pháp định tính: Đánh giá định tính về tổng lượng nước sử dụng trung bình giữa 2 giai đoạn trước khi miễn giảm TLP (2004-2008) và sau khi miễn giảm TLP (2009-2013) Hiệu quả sử dụng nước được xem xét bởi các yếu tố sau:
Hiệu quả sử dụng nước = f (ý thức sử dụng nước, mô hình quản lý, nhu cầu tưới của cây trồng, hiệu suất công trình tưới)
Mô hình quản lý khai thác công trình thủy lợi ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như công ty quản lý hay HTX quản lý… Hiệu suất công trình tưới theo báo cáo đánh giá và các nghiên cứu thực tế liên quan
Nhu cầu tưới của cây trồng phụ thuộc vào các yếu tố như yếu tố thời tiết, thời
vụ gieo trồng, loại cây trồng, đất đai, thổ nhưỡng Phương pháp xác định nhu cầu tưới trình bày ở mục 2
Trang 4033
1 Xác định mức tưới bình quân thực tế
Dựa trên ý kiến các chuyên gia, công thức tính tổng lượng nước tưới thực tế một vụ cho 1 ha trong điều kiện quản lý vận hành của Việt Nam được đề xuất như sau: Mức tưới bình quân thực tế cho 1 ha/vụ (m3/ha/vụ) của từng hệ thống được tính (W tưới 1 vụ hệ thống):
W tưới 1 vụ hệ thống = ∑ / ∑ (2.1)
S tưới thực tế i là diện tích tưới thực tế trạm bơm thứ i;
W tưới thực tế i là tổng lượng nước tưới thực tế/vụ của trạm bơm thứ i trong vụ (m3/vụ);
W tưới thực tế i = Q tưới thực tế i x T vận hành thực tế i (2.2)
T vận hành thực tế i là số giờ vận hành thực tế của trạm bơm thứ i theo
sổ nhật ký vận hành trạm bơm thứ i trong vụ;
Q tưới thực thế i là lưu lượng tưới thực tế của trạm bơm thứ i;
Trong đó: Q tưới thực thế i = Q thiết kế i x (60-70)% (2.3)
Q thiết kế i là lưu lượng tưới thiết kế của trạm bơm thứ i;
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy lợi và luận án nghiên cứu của Lê Văn Chính
hiệu suất khai thác thực tế của trạm bơm tại vùng ĐBSH đạt (60-70)% [27] [28]
2 Phương pháp tính toán nhu cầu tưới cho cây trồng
Phương pháp xác định nhu cầu tưới cho cây trồng áp dụng phương pháp tính
toán lý thuyết trên cơ sở sử dụng các số liệu điều tra trên đồng ruộng [29] Số liệu tính
toán bao gồm: Tài liệu về cây trồng; tài liệu đất đai; tài liệu khí tượng
Phần mềm CROPWAT được sử dụng để tính toán nhu cầu nước của các loại cây trồng Kết quả tính toán nhu cầu nước sau đó được sử dụng để phân tích nguyên nhân tăng giảm của lượng nước tưới thực tế
2.2.3 Đánh giá tác động đến kinh phí nhà nước cấp bù cho TLP