1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp

45 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học kinh tế quốc dân do Bộ Kế hoạch đầu tư chỉ định triển khai xây dựng đề tài „Khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hoá ngành du lịch’, trong đó tập trung nghiên cứu về

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA SAU ĐẠI HỌC

*****

Họ và tên: Nguyễn Tiến Lực

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số: 6 2 3 1 0 7 0 1

“NĂNG LỰC CẠNH TRANH LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC

TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP QUỐC TẾ:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”

Giáo viên hướng dẫn : PGS, TS: Vũ Sĩ Tuấn Học viên: Nguyễn Tiến Lực

Hà Nội, tháng 12 năm 2009

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng & Phạm vi nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Kết cấu của Luận văn .6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về lữ hành du lịch quốc tế 7

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.2 Vai trò của lữ hành du lịch quốc tế

1.1.3 Một số loại hình du lịch phục vụ cho phát triển lữ hành du lịch quốc tế 1.1.4 Tình hình phát triển Lữ hành du lịch quốc tế trên thế giới và khu vực 1.1.5 Những cơ hội và thách thức của lữ hành du lịch quốc tế khi hội nhập 1.2 Cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế 20

1.2.1 Khái niệm về Cạnh tranh

1.2.2 Khái niệm Năng lực cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành du lịch Quốc tế

1.3 Kinh nghiệm nâng cao cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế của một số quốc gia trên thế giới 24

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia

1.3.3 Kinh nghiệm của Campuchia

1.3.4 Kinh nghiệm của Singapore

1.3.5 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra 26

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 2.1 Hoạt động lữ hành du lịch quốc tế ở Việt Nam 28

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của lữ hành du lịch quốc tế

2.1.2 Hoat động lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam gần đây

Trang 2

2.2.1 Môi trường kinh doanh của lữ hành du lịch quốc tế 31

2.2.2 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch và lữ hành du lịch quốc tế 35

2.2.3 Sản phẩm và dịch vụ lữ hành du lịch quốc tế 38

2.2.4 Vấn đề tuyên truyền, quảng bá và Marketing trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam 41

2.2.5 Nguồn nhân lực lữ hành du lịch quốc tế 45

2.2.6 Vốn, công nghệ trong lữ hành du lịch quốc tế 48

2.2.7 Trình độ tổ chức, quản lý trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế 49

2.2.8 Giá cả đối với lữ hành du lịch quốc tế 50

2.2.9 Sự sẵn sàng phối hợp của các thành phần chủ đạo trong Tour du lịch

2.2.10 Nguồn lực tự nhiên và văn hoá 53

2.2.11 Vấn đề nhận thức và ưu tiên phát triển lữ hành du lịch quốc tế 56

2.3 Đánh giá Năng lực cạnh tranh Lữ hành du lịch Quốc tế của Việt Nam 58 2.3.1 Ưu điểm 65

2.3.2 Hạn chế 66

2.3.3 Cơ hội 67

2.3.4 Thách thức 68

CHƯƠNG III:GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 3.1 Định hướng và mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế 70

3.1.1 Định hướng nâng cao NLCT trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế 3.1.2 Mục tiêu nâng cao NLCT trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế 3.2 Giải pháp nâng cao Năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế 72

3.2.1 Giải pháp vĩ mô 72

3.2.2 Giải pháp vi mô 80

Kết Luận 85

Tài liệu Tham khảo

Danh mục các bảng hình vẽ, đồ thị

Bảng 1.2 Triển vọng Du lịch 2020: Dự báo du lịch thế giới theo khu vực 17 Bảng 2.1 Số lượng khách quốc tế đến Việt nam 1999- 2008 29

Bảng 2.5 Một vài chỉ số TTCI 2009 của các quốc gia trong khu vực 45 Bảng 2.6 Biểu giá so sánh một số chương trình tham quan ngắn ngày 50 Bảng 2.7 Một vài chỉ số TTCI 2009 có liên quan tới giá cả 51 Bảng 2.8 So sánh một vài chỉ tiêu về Nguồn lực tự nhiên & văn hoá của VN 54 Bảng 2.9 So sánh một vài chỉ tiêu liên quan tới nhận thức và ưu tiên du lịch 56

Bảng 2.11 Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực 59 Bảng 2.12 Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực –

Bảng 2.13 Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực –

Chỉ số Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng 63 Bảng 2.14 Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực –

Chỉ số Nguồn lực tự nhiên, văn hoá và nhân lực 64

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế

xã hội và ngày càng phát triển với nhịp độ cao Du lịch không còn được coi là nhu cầu

cao cấp, thậm chí ở nhiều nước phát triển nó là nhu cầu không thể thiếu được của mỗi

người dân Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu và những xu hướng du lịch mới

xuất hiện trong thời gian gần đây đã và đang thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ giữa các

quốc gia trên thế giới trong việc thu hút khách quốc tế Hoạt động lữ hành quốc tế diễn

ra trong môi trường cạnh tranh quyết liệt Các quốc gia dùng mọi biện pháp để giành

lấy lợi thế và vị thế cạnh tranh trên thị trường nhằm thu hút khách du lịch

Việt Nam mới bước đầu tham gia vào lĩnh vực này, đã góp phần quan trọng vào

việc thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh thu

hút khách du lịch quốc tế của Việt Nam nói chung còn yếu so với nhiều đối thủ cạnh

tranh trong khu vực Các doanh nghiệp LHDLQT về cơ bản còn thiếu chiến lược cạnh

tranh, thiếu kinh nghiệm tiếp cận thị trường du lịch nước ngoài, thiếu đội ngũ cán bộ có

kinh nghiệm trong công tác thị trường, marketing Nguồn tài chính dành cho hoạt động

marketing, quảng bá, tiếp thị ở thị trường nước ngoài của nhiều doanh nghiệp

LHDLQT của Việt Nam còn hạn chế

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng chủ đạo hiện nay,

đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức

Thương mại thế giới WTO từ tháng 1/2007, việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong

lĩnh vực LHDLQT để thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam là một đòi hỏi cấp

thiết Việt Nam nếu không có đủ năng lực tiếp cận thị trường quốc tế và khu vực, thiếu

một chiến lược cạnh tranh linh họat phù hợp sẽ khó có khả năng cạnh tranh được với

các đối thủ cạnh tranh và sẽ bị loại khỏi sân chơi trong việc tiếp cận thị trường và thu

hút khách quốc tế

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đặc điểm, hiện trạng cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế ở Việt Nam để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế là điều cần thiết giúp cho ngành du lịch của Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới Chính do vậy, tôi đã chọn đề tài: “Năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu:

2.1 Trên thế giới:

Thời gian gần đây, khá nhiều học giả nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong du lịch, kể cả năng lực cạnh tranh điểm đến và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Những công trình nghiên cứu nổi bật có thể kể tới như: “ Tourism, competitive and societal prosperity” (1999), “The competitive destination: a sustainable tourism perspective” (2003) của G.I Crouch &J.R.Brent Ritchie; “Tourism, Technology and Competitive Strategies” (1993) của Auliana Poon; “ Destination Competitive: Determinants and Indicators” (2003) của Dwyer Larry & Chulwon Kim Tuy nhiên, cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực LHQT là vấn đề phức tạp, nên có nhiều quan điểm khác nhau Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (World Travel & Tourism Council – WTTC) cũng đã có những công trình nghiên cứu, đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch của các nước trên thế giới Bắt đầu từ năm

2007, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã nghiên cứu và đưa ra bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành TTCI (Travel& Tourism Competitiveness Index) của

hơn 100 nước trên thế giới Chúng tôi sẽ dựa trên kết quả TTCI 2009 này để phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam nói chung và lĩnh vực lữ hành quốc

tế nói riêng

2.2 Trong nước:

Những công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong du lịch và lữ hành tại Việt Nam chưa xuất hiện nhiều Năm 2006, UNDP đã tài trợ cho nhóm nghiên cứu của

Trang 4

Trường Đại học kinh tế quốc dân do Bộ Kế hoạch đầu tư chỉ định triển khai xây dựng

đề tài „Khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hoá ngành du lịch’, trong đó tập

trung nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của ngành du lịch nói chung và tác động của

quá trình tự do hoá ngành du lịch đối với nền kinh tế của đất nước Năm 2007, Vụ Lữ

hành du lịch - Tổng cục du lịch Việt nam cũng cho ra mắt đề tài: “Nghiên cứu giải

pháp nâng cao năng lực cạnh tranh lữ hành quốc tế của Việt nam trong điều kiện hội

nhập quốc tế” Như vậy, cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu nào chuyên về

năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch cũng như LHDLQT tại Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế của Việt

Nam để thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc lĩnh vực lữ hành du lịch,

cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế; Phân tích,

đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế; Đưa ra

các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành, tăng cường vị thế

của lữ hành du lịch quốc tế trên thị trường để thu hút khách quốc tế trong điều kiện hội

nhập quốc tế

5 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu năng lực cạnh

tranh trong lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam so với các nước là đối thủ

cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc trong việc thu hút khách quốc

tế Inbound, không nghiên cứu năng lực cạnh tranh đưa khách Việt Nam đi du lịch

nước ngoài (Outbound Tourism) và du lịch của người trong nước (Internal Tourism)

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ trương, chính sách về du lịch nói chung và lữ hành nói

riêng từ năm 1990, với nhấn mạnh chủ yếu từ năm 2000 đến nay và khảo sát, điều tra

thực trạng hoạt động lữ hành du lịch quốc tế và năng lực cạnh tranh thu hút khách quốc

tế của các doanh nghiệp lữ hành du lịch quốc tế được cấp phép trước 01/07/2009

6 Phương pháp nghiên cứu:

Trong nội dung nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra, phỏng vấn và thu thập thông tin; Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống; Phương pháp thống kê; Phương pháp dự báo

và chuyên gia

7 Kết cấu của Luận văn

Chương 1: Tổng quan về Lữ hành du lịch quốc tế và Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Lữ hành du lịch Quốc tế

Chương 2: Thực trạng Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Lữ hành du lịch quốc

tế của Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Lữ hành du lịch Quốc tế của Việt Nam

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ VÀ

NĂNG LỰC CẠNH TRANH LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan về Lữ hành du lịch Quốc Tế

1.1.1 Một số khái niệm

Du lịch xuất phát từ việc đi lại, di chuyển của con người từ nơi này sang nơi

khác ( travel) Những người đi lại, di chuyển với nhiều mục đích khác nhau được gọi là

khách lữ hành hay lữ khách ( traveller) Do phạm vi và góc độ nghiên cứu đa dạng,

khái niệm du lịch được đề cập đến một cách khác nhau:

Trên góc độ Người đi du lịch thì du lịch là hoạt động của con người thoát

khỏi nơi cư trú tới những vùng khác với những nguyên cớ khác nhau, ngoài mục đích

cư trú và để tiêu tiền chứ không phải để kiếm tiền ( Nhà kinh tế Áo jozep Stander) Họ

coi du lịch là một sinh hoạt bao gồm mọi việc từ dự trù chuyến đi, di chuyển đến nơi,

lưu trú, trở về và hồi tưởng lại sau đó

mối quan hệ và những hiện tượng phát sinh trong những cuộc hành trình và lưu trú của

con người ngoài nơi cư trú thường xuyên, nếu việc lưu trú đó không trở thành nơi cư

trú (định nghĩa của Husicker và Kraff) Các nhà kinh doanh xem ngành du lịch là một

cơ hội để kiếm lợi nhuận bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho du

khách

Đối với Chính phủ tại địa bàn du lịch: các giới chức chính phủ xem du lịch

chủ yếu như một hoạt động kinh tế có thể đem lại thu nhập cho dân chúng, ngoại tệ cho

quốc gia và tiền thuế cho ngân sách

giao lưu văn hoá Một điều cần lưu tâm đó là hậu quả của sự giao tiếp giữa một số

lượng lớn khách du lịch quốc tế với người dân địa phương Hậu quả này có thể có lợi, nhưng cũng có thể gây nguy hại cho cả hai

Trên cơ sở tổng quát, Tổ chức du lịch quốc tế (WTO – World Tourism Organization) cũng đưa ra khái niệm cụ thể và chi tiết về du lịch nhằm làm cơ sở cho việc thống kê đánh giá về du lịch quốc tế Những khái niệm này được Liên hợp quốc công nhận như sau:

một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú; du khách có thể đến vì nhiều

lý do khác nhau nhưng không có lĩnh lương ở nơi đến

quốc tịch nào, đi đến một nơi khác trong quốc gia đó, khác nơi thường trú, trong một thời gian ít nhất 24 giờ và không vượt quá một năm với mục đích khác hơn là làm việc

để lĩnh lương ở nơi đến

Ngoài ra các thuật ngữ sau cũng được Hội đồng Thống kê Liên hợp Quốc công nhận ngày 14/03/1993 theo đề nghị của WTO để thống nhất việc soạn thống kê du lịch:

- “Inbound Tourism”: gồm những người từ nước ngoài đến thăm một quốc gia

khác nơi họ cư trú Đây là đối tượng du khách chính mà chúng ta muốn thu hút họ tới với đất nước chúng ta để thu thêm được nhiều ngoại tệ cho quốc gia, nâng cao thu nhập của người dân, cũng như góp phần quan trọng trong việc phát triển ngành du lịch

- “Outbound Tourism”: gồm những người đang sống trong một quốc gia đi

viếng thăm nước ngoài

sống trong một quốc gia đi viếng thăm trong nước

Trang 6

Lữ hành xuất phát từ những nội dung cơ bản của hoạt động du lịch, thì việc định

nghĩa hoạt động lữ hành, cũng như việc phân biệt lữ hành với du lịch là việc cần thiết

Tuy nhiên ở đây có hai cách tiếp cận về lữ hành và du lịch

Cách tiếp cận thứ nhất: hiểu theo nghĩa rộng thì lữ hành (Travel) bao gồm tất cả

những hoạt động di chuyển của con người, cũng như những hoạt động liên quan đến sự

di chuyển đó Với một phạm vi đề cập như vậy thì trong hoạt động du lịch có bao gồm

yếu tố lữ hành Nhưng không phải tất cả hoạt động lữ hành là du lịch Tại các nước

phát triển, đặc biệt ở các nước Bắc Mỹ thì thuật ngữ “ lữ hành” và “ du lịch” (Travel

and Tourism) được hiểu một cách tương tự như “ Du lịch” Vì vậy, người ta có thể sử

dụng thuật ngữ “ lữ hành du lịch” để ám chỉ các hoạt động đi lại và các hoạt động khác

có liên quan tới các chuyến đi với mục đích du lịch Với cách tiếp cận lữ hành này cho

phép nghiên cứu hoạt động lữ hành ở một phạm vi rộng lớn

Cách tiếp cận thứ hai, tiếp cận lữ hành ở phạm vi hẹp Để phân biệt hoạt động

kinh doanh lữ hành với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như khách sạn, nhà

hàng, vui chơi giải trí người ta giới hạn hoạt động kinh doanh lữ hành chỉ bao gồm

những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là

định nghĩa về lữ hành trong Luật du lịch Việt Nam có hiệu lực từ năm 2006: “ lữ hành

là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch

cho khách du lịch”

Trong vấn đề nghiên cứu chúng ta phải hiểu lữ hành theo nghĩa rộng, chứ

không hẳn chỉ bó hẹp trong phạm vi thuần tuý lữ hành là việc kinh doanh chương trình

du lịch được, hơn nữa chúng ta cũng giới hạn việc nghiên cứu khách du lịch quốc tế

vào Việt Nam ( Inbound Tourism) Như vậy, lữ hành quốc tế bao gồm các hoạt động đi

lại và các hoạt động khác có liên quan tới chuyến đi của khách du lịch quốc tế vào Việt

Nam

1.1.2 Vai trò của lữ hành du lịch quốc tế

Ngày càng có nhiều quốc gia đưa ra những chính sách hấp dẫn cũng như các khoản đầu tư lớn nhằm thu hút và phát triển Du lịch theo hướng lâu dài bởi họ nhận thấy những lợi thế mà nó đem lại Vị trí của du lịch trong nền kinh tế quốc dân càng được khẳng định Xét về ý nghĩa kinh tế, đầu tư cho du lịch thu lại lợi nhuận nhiều và thu hồi vốn nhanh Du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói” hay “ngòi nổ

để phát triển kinh tế” trong vấn đề thu hút ngoại tệ, doanh thu từ du lịch cao, tạo nhiều công ăn việc làm v.v Du lịch là một ngành kinh tế mang lại lợi nhuận cao, có khả năng thu hồi vốn nhanh và bảo toàn được vốn Theo nghiên cứu của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thì cứ 1 USD đầu tư vào công nghiệp đem lại 1,1 USD, nhưng 1 USD đầu tư vào du lịch sẽ mang lại 1,4 USD Khi lợi nhuận tăng, tất nhiên nó sẽ đóng góp được nhiều hơn vào Ngân sách nhà nước cùng với nguồn ngoại tệ lớn góp phần cải thiện cán cân thanh toán và phát triển nền kinh tế quốc dân Và trong đó, đóng góp của

du lịch quốc tế thường chiếm khoảng ½

Đổi mới và đẩy mạnh phát triển du lịch sẽ tạo ra động lực thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế của đất nước, kéo theo phát triển nhiều ngành kinh tế như xây dựng, giao thông vận tải, bưu điên, ngân hàng… Thực ra, khi du lịch phát triển hoặc khi chúng ta có chính sách phát triển du lịch thì tất yếu dòi hỏi về xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, các điểm du lịch, khách sạn, nhà hàng sẽ tăng lên Một quốc gia có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp hay có bề dày văn hoá với những di tích lịch sử nổi tiếng, những kỳ quan nổi tiếng chắc chắn sẽ hấp dẫn khách du lịch nhưng quốc gia

đó sẽ thu hút được lượng khách nhiều hơn nếu biết đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, biết tôn tạo và phát triển đúng hướng

Hơn nữa, du lịch phát triển kéo theo sự phát triển của các ngành công nông nghiệp và chế biến thực phẩm Khi khách du lịch lưu trú ở một nước hoảng năm ngày,

họ sẽ phải tiêu thụ một khối lượng lớn lương thực Không phải xây dựng nhà máy, không phải đầu tư nhiều vào đóng gói, bảo quản và vận chuyển, nước này có thể tiêu thu tại chỗ một khối lượng lớn thực phẩm, tạo ra nhiều việc làm và thu hút được số

Trang 7

luợng lớn ngoại tệ Theo tính toán của Tổ chức Du lịch Thế giới, thì trong cơ cấu chi

tiêu của du khách, có tới 40% số tiền khách đi du lịch dùng chi vào việc mua sắm Đây

là nhu cầu cần thiết của khách mà du lịch phải tìm cách đáp ứng, và việc đáp ứng nhu

cầu này có thể tạo ra nhiều lao động cũng như thu được nguồn ngoại tệ cho đất nước

Du lịch quốc tế cũng đem lại những điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các

quan hệ kinh tế của các thương gia, các nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua việc

khách du lịch kết hợp tham quan du lịch với việc tìm hiểu thị trường, môi trường đầu

tư kinh doanh Du lịch làm thay đổi sắc thái, cơ cấu kinh tế của mỗi vùng, mỗi địa

phương và mỗi quốc gia Thông qua việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành

du lịch và các cung cấp dịch vụ khác, du lịch tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế

huy động nguồn lực vật chất, lao động để phát triển kinh tế địa phương Du lịch tạo

điều kiện phát triển tới cả các vùng sâu, vùng xa, từ đó nâng cao trí thức, tạo việc làm

và thu nhập cho người bản địa và từ đó tạo nên chính khoản đầu tư cho cuộc sống họ

Du lịch quốc tế là chiếc cầu nối của tình hữu nghị, tạo sự hiểu biết giao lưu giữa

các dân tộc, tạo nên một thế giới hoà bình, thịnh vượng và tôn trọng lẫn nhau

Với vị trí kinh tế, chính trị, xã hội như vậy, du lịch quốc tế đã và đang ngày

càng khẳng định vị trí của mình trong tổng thể nền kinh tế xã hội của mỗi nước, là mục

tiêu phát triển của nhiều quốc gia Như vậy, rõ ràng phát triển du lịch là một hướng đi

đúng đắn và hết sức cần thiết

1.1.3 Một số loại hình du lịch phục vụ cho phát triển lữ hành du lịch quốc tế

sản phẩm du lịch đạt chất lượng, những loại hình du lịch phù hợp để khai thác có hệu

quả Việc tìm hiểu về chúng, phát huy những thế mạnh của các sản phảm du lịch, loại

hình du lịch là điều hết súc cần thiết

Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc

điểm giống nhau, hoặc vì chúng thoả mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự,

hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó

lịch khác nhau Theo động cơ đi du lịch, thì du lịch có thể được chia thành 5 loại hình

du lịch như sau:

a Du lịch nghỉ dưỡng

các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ Du lịch chữa bệnh được phân thành: chữa bệnh bằng khí hậu: khí hậu núi, khí hậu biển…; chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm nước khoáng, uống nước khoáng…; chữa bệnh bằng bùn; Chữa bệnh bằng hoa quả …

b Du lịch văn hoá

Gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những yếu tố văn hóa, lễ hội truyền thống, phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới

các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức

là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương

điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian

vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch làng nghề; Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận) là

những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Theo thống kê, lượng khách chọn du lịch văn hoá - làng nghề hiện chiếm tới 60% trong tổng lượng 800 triệu khách du lịch trên toàn thế giới Khi văn hoá được giao

Trang 8

thoa một cách tích cực thì giới hạn về không gian, địa lý sẽ không còn ý nghĩa Lợi ích

c Du lịch sinh thái

''Du lịch sinh thái '' (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và mau

chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người từ những lĩnh vực khác nhau Đây là

một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau

Ở Việt Nam: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn

hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển

bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km, bên cạnh hệ sinh thái vùng cát ven biển,

Việt Nam còn có 7 đến 10 triệu ha đất ngập nước mà trong đó có trên 75 % hệ sinh thái

đất ngập nước vào loại điển hình so với các vùng đất ngập nước toàn thế giới Tiêu

biểu nhất của hệ sinh thái đất ngập nước là vùng Đồng Tháp Mười, các đầm phá ven

biển miền Trung, các hồ chứa nước … Đây là tiềm năng du lịch sinh thái lớn ở Việt

Nam Một số địa chỉ du lịch sinh thái như: vườn quốc gia như Cúc Phương, Bạch Mã,

Cát Tiên, Ba Vì và khu sinh quyển Cần Giờ đã tham gia hoạt động du lịch sinh thái và

có hiệu quả Các khu này đã xây dựng được một số tuyến du lịch sinh thái, đường mòn

thiên nhiên Tiêu biểu là Vườn quốc gia Cúc Phương đã xây dựng khu nuôi linh trưởng

rộng gần 2 ha, ở đây có một số loài khỉ, vượn và các loài động vật khác

d Du lịch mạo hiểm

thể thao đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao trong việc tổ chức chương trình vì nó liên quan

trực tiếp đến sự an toàn cho du khách Du lịch mạo hiểm đang thu hút sự quan tâm của

nhiều du khách, đặc biệt là những người ưa khám phá, mạo hiểm, trở về với tự nhiên

Nước ta có tiềm năng du lịch đa dạng và đang nổi lên là một điểm đến mới, hấp

dẫn trên bản đồ du lịch thế giới Với 3/4 địa hình là đồi núi, với các hệ thống sông ngòi

chằng chịt, các dãy núi đá vôi của địa hình karst, nhiều hang động đẹp, nhiều khu rừng

nguyên sinh nhiệt đới cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia rộng lớn, với hơn 3.000 km bờ biển tạo nên những cảnh đẹp vô cùng phong phú, những bức tranh sinh động trải dài từ Bắc đến Nam là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm

Địa hình nước ta rất thích hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm như đi bộ (trekking), leo núi (hiking), đua ô tô, mô tô, xe đạp, lặn biển, bè mảng, đua

thuyền, lướt ván, nhảy dù, dù lượn, khinh khí cầu v.v… Trekking là loại hình du lịch

mạo hiểm phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay Trekking thường được tổ chức theo hình

thức homestay tại gia đình của người dân bản địa Chính vì thế mà du khách sẽ được hưởng trọn vẹn cảm giác “về với thiên nhiên” với đầy đủ bản ngã văn hoá của mình

e Du lịch MICE

dịch vụ này lớn hơn rất nhiều so với du lịch cá nhân hay du lịch nhóm Ngày

nay, MICE (Meetings, Incentives, Conventions, Events) được xem là sản phẩm du lịch

tổng hợp của những sản phẩm du lịch đơn lẻ kết hợp

họp giữa các công ty với nhau (Association meetings) và cuộc họp giữa các thành viên trong một công ty (Coporate meetings)

như những cuộc họp nhưng mục đích của nó thì khác so với meetings, Incentive thường được tổ chức: nhằm tập hợp những lực lượng bán hàng mạnh nhất để thảo luận những chiến lược trong tương lai; liên kết các nhà quản lý cấp cao với các lực lượng hàng đầu trong bán hàng; tuyên dương nhân viên nhân viên xuất sắc; khen thưởng các đại lý bán hàng vượt chỉ tiêu…

mô lớn hơn so với meetings hay incentives Các cuộc hội họp này được tổ chức bởi những tổ chức quốc tế và quy tụ nhiều thành viên tham dự hơn

Trang 9

Sự kiện và các cuộc triển lãm (Events/ Exhibitions) bao gồm hai hình thức

exhibitions là hình thức đặc biệt vì quy mô của nó thu hút rất nhiều báo, đài cũng như

các phương tiện truyền thông khác và đây chính là các cuộc triển lãm

ty, là những chính sách thường kỳ của các công ty và tập đoàn đa quốc gia Mỗi lần tổ

chức, các công ty thường thích thay đổi địa điểm và di chuyển từ quốc gia này sang

quốc gia khác để phục vụ nhu cầu du lịch của những người tham dự Việt Nam là điểm

mà nhiều khách du lịch muốn đến tham quan, trước hết là vì sự mới mẻ của quốc gia

này, khi những quốc gia khác trong khu vực đang trở nên nhàm chán đối với họ

1.1.4 Tình hình phát triển du lịch thế giới và khu vực

a Tình hình chung:

Ngày nay, Du lịch được xác định là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh

tế của nhiều nước và được coi là một trong những ngành kinh tế hàng đầu của nền kinh

tế thế giới trong thế kỷ XXI Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), trong những

năm gần đây, du lịch toàn cầu tiếp tục phát triển mặc dù chịu ảnh hưởng tiêu cực của

thiên tai, dịch bệnh (SARS, Cúm gà,…), cuộc chiến Irắc, xung đột, khủng bố ở Trung

Đông và nhiều nơi khác trên thế giới Năm 1999, lượng khách du lịch quốc tế đạt 664

triệu lượt, thu nhập từ du lịch đạt 445 tỷ USD; đến 2006 lượng khách du lịch quốc tế

đạt 842 triệu lượt, thu nhập từ du lịch đạt trên 700 tỷ USD

b Mười điểm đến hàng đầu thế giới

Về lượng khách đến, Pháp đứng vị trí số 1, tiếp đó đến Tây Ban Nha và Mỹ,

Trung Quốc đứng thứ 4 về lượng khách đến, Italia, đứng thứ 5 về lượng khách đến

Anh và Đức đứng thứ 6 và thứ 7, Áo đứng thứ 9, Mexico và Liên bang Nga đứng thứ

10 về lượng khách đến, Về lượng khách quốc tế, có thay đổi trong danh sách 10 nước

đứng đầu năm 2006, Đức thay thế Mexico ở vị trí thứ 7, Áo và Liên bang Nga tăng

thêm một bậc, lên vị trí thứ 9 và 10 Ngược lại, Thổ Nhĩ Kỳ đứng ở vị trí thứ 9 năm

2005, đã tụt 2 bậc Mười nước thu nhập hàng đầu năm 2006 chiếm 51% tổng số thu nhập, ước tính 735 tỷ đô la Mỹ, lượng khách du lịch của các nước này có sụt giảm chút

ít, chiếm 47% tổng lượng khách toàn cầu

c Du lịch ra nước ngoài

Đối với các thị trường nguồn, du lịch quốc tế vẫn khá là tập trung ở các nước công nghiệp của Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á - Thái Bình Dương Tuy nhiên, với các mức độ gia tăng của thu nhập thuần, nhiều nước đang phát triển đã cho thấy sự tăng trưởng nhanh trong những thập kỷ qua, đặc biệt ở Đông Bắc và Đông Nam Châu Á, Trung và Tây Âu, Trung Đông và Nam Phi

d Tình hình du lịch Châu Á và Thái Bình Dương

Châu Á và Thái Bình Dương tăng trưởng mạnh trong năm 2006, với mức tăng trưởng bình quân 9,4% Nam Á và Đông Á tăng 11,6% Khu vực thành công nhất là Nam Á, tăng 13,9% Trong khi đó , lượng khách đến Indonesia giảm 6%, Thái Lan – tuy có nhiều biến cố chính trị xẩy ra nhưng các thông số theo tháng vẫn tăng 20% Nam Á tăng 13,9% trong năm 2006 Ở Châu Đại Dương, khách đến Úc tăng hơn 5,2% trong năm 2005, và một số đảo Thái Bình Dương đạt được mức tăng trưởng bình thường, bao gồm các đảo Cook và Guam, đều tăng +6% Nhưng điểm đến nhiều nhất

là Papua New Guinea (+17%) và Fiji (+10%)

e Triển vọng du lịch năm 2020 (Tourism 2020 Vision)

Đây là kế hoạch dự báo và đánh giá dài hạn của Tổ chức Du lịch Thế giới về sự phát triển du lịch trong vòng 20 năm của thiên niên kỷ mới Mục đích chính của Triển vọng Du lịch Năm 2020 là những dự báo trong thời gian 25 năm, năm 1995 là năm khởi điểm và những dự báo cho năm 2010, 2020

Theo đó, UNWTO dự báo lượt khách du lịch ước tính đạt trên 1.56 tỷ vào năm

2020 Trong đó, 1.18 tỷ lượt sẽ là khách đi du lịch giữa các vùng còn lại 0.38 tỷ lượt sẽ

là khách đi du lịch đường dài Tổng số lượt khách theo vùng vào năm 2020 cho thấy 3

Trang 10

khu vực đứng đầu sẽ là Châu Âu (717 triệu khách), Đông Á & Thái Bình Dương (397

triệu) và Châu Mỹ (282 triệu), tiếp đó là Châu Phi, Trung Đông và Nam Á

Đông Á & Thái Bình Dương, Nam Á, Trung Đông và Châu Phi dự báo đạt mức

tăng trưởng trên 5% một năm, trong khi đó trung bình thị phần thế giới là 4.1% Những

khu vực phát triển mạnh như Châu Âu và Châu Mỹ lại dự báo chỉ đạt dưới mức tăng

trưởng trung bình nói trên

Bảng 1.1: Triển vọng Du lịch 2020: Dự báo du lịch thế giới theo khu vực

Nguồn: Dữ liệu của Tổ chức Du lịch Thế giới - UNWTO

Châu Âu sẽ duy trì thị phần cao nhất về lượng khách, mặc dù có sự sụt giảm từ

60% (năm 1995) xuống còn 45,9% vào năm 2020 Vào năm 2010, Châu Mỹ sẽ giảm từ

19,3% (năm 1995) xuống còn 18,1% (năm 2020) và sẽ phải nhường vị trí thứ hai của

mình cho khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, vùng sẽ đón nhận 25,4% lượng khách

du lịch của thế giới vào năm 2020

Du lịch đường dài toàn cầu sẽ tăng trưởng nhanh hơn, đạt 5.4% một năm trong

suốt giai đoạn 1995-2020, cao hơn du lịch giữa các vùng (đạt 3.8%) Như vậy, tỷ lệ

giữa du lịch nội vùng và du lịch đường dài sẽ chuyển dịch từ 82:18 năm 1995 thành

con số sát hơn 76:24 năm 2020

Về kinh tế, doanh thu du lịch được xếp ngang hàng với doanh thu từ xuất khẩu

và tiêu dùng du lịch được xếp ngang hàng với chi phí nhập khẩu Đối với nhiều nước,

Du lịch quốc tế là nguồn thu không thể thiếu để thu ngoại tệ

f Xu hướng phát triển du lịch

Kinh tế dịch vụ du lịch vừa mỗi nước phát triển gắn liền với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế Hiện nay đang diễn ra những xu hướng phát triển dịch vụ du lịch như sau:

Xu hướng thứ nhất: Là sự chuyển hướng đi của nguồn khách du lịch Trước

đây khách du lịch Châu Âu thường đi nghỉ ở các nước láng giềng hoặc ở những vùng

du lịch nổi tiếng thế giới như Địa Trung Hải, Biển Đen, Hawai, vùng Caribe hoặc trượt tuyết trên dãy Alpes; khách Châu Á cũng chỉ đi du lịch các nước trong khu vực thì nay nguồn khách được phân đến những vùng, những nước mới phát triển du lịch để tìm hiểu và phát hiện những điều mới mẻ, bất ngờ và lý thú

Xu hướng thứ hai: Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch thay đổi Những năm

trước đây, tỷ trọng chi tiêu của khách cho các dịch vụ cơ bản (ăn, ở, vận chuyển) lớn thì hiện nay tỷ trọng chi tiêu của khách cho các dịch vụ bổ xung (mua sắm hàng hoá,

thăm quan, giải trí) tăng lên Các nhà kinh tế đã tổng kết: Nếu trước đây tỷ trọng này là

7/3 thì nay là 3/7, có nghĩa là trước đây khách hàng giành 7 phần cho ăn ở, đi lại và 3 phần cho mua sắm hàng hoá, tham quan, giải trí, nhưng ngày nay thì ngược lại

Xu hướng thứ ba: Khách du lịch chỉ sử dụng 1 phần dịch vụ của các tổ chức

kinh doanh du lịch chứ không mua chương trình du lịch trọn gói vì theo hướng này, khách hoàn toàn được tự do trong chuyến đi du lịch của mình mà không bị phụ thuộc vào người khác và không bao trả phí dịch vụ cho các tổ chức du lịch

Xu hướng thứ tư: Hiện nay các nước đang tiến hành giảm thiểu các thủ tục về

thị thực hải quan nhằm cạnh tranh, thu hút khách Như vậy khách du lịch sẽ không phải mất nhiều thời gian chờ đợi thủ tục, giảm được chi phí không đáng có

1.1.5 Những cơ hội và thách thức của lữ hành du lịch quốc tế khi hội nhập

Ngày 10/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới Sự kiện này cùng với việc Việt Nam trở thành Uỷ viên không thường trực

Trang 11

Hội đồng bảo an Liờn hợp quốc đó và đang tỏc động ngày càng mạnh mẽ đến cỏc lĩnh

vực của đời sống kinh tế-xó hội của Việt Nam, trong đú cú du lịch

a Những cơ hội:

Là thành viờn WTO, Việt Nam cú điều kiện phỏt huy tiềm năng lợi thế đồng

thời, hạn chế những nhược điểm như thiếu vốn, lạc hậu về cụng nghệ,…Cầu du lịch sẽ

tăng nhanh là cơ hội lớn để Việt Nam phỏt triển du lịch Là thành viờn WTO, Việt Nam

buộc phải thực hiện những cam kết mở cửa thị trường hơn nữa, phải thay đổi thể chế,

chớnh sỏch, luật phỏp…theo thể chế thị trường, thụng lệ quốc tế Đõy là tiền đề rất quan

trọng để chỳng ta trở thành “đối tỏc” của cỏc tập đoàn du lịch quốc tế, là một khõu

trong hệ thống du lịch toàn cầu Là thành viờn WTO, Việt Nam sẽ khụng cũn bị phõn

biệt đối xử trong việc cung ứng cũng như tiếp nhận cỏc dịch vụ du lịch Theo nghĩa đú,

chỳng ta sẽ ngang bằng hơn với cỏc đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch Khi cầu

du lịch trờn thế giới tăng lờn đú cũng chớnh là cơ hội cho Việt Nam phỏt triển ngành du

lịch

Hội nhập khu vực và thế giới, Việt Nam từng bước phải thay đổi mụi trường,

thể chế Cỏc chớnh sỏch và luật phỏp ngày càng phự hợp hơn với thụng lệ quốc tế

Thụng tin về Việt Nam sẽ ngày càng đầy đủ hơn, cập nhật tốt hơn Những điều này

làm cho Việt Nam trở nờn gần gũi hơn với du khỏch nước ngoài Ngoài việc được nõng

lờn mặt bằng chung, Việt Nam cú nhiều cơ hội hơn để nõng cao khả năng cạnh tranh

do phỏt huy cỏc lợi thế riờng Trước hết, do đa dạng về điều kiện tự nhiờn và truyền

thống văn hoỏ đặc sắc, Việt Nam cú thể phỏt triển nhiều loại hỡnh du lịch Bờn cạnh đó,

Việt Nam cũn cú mụi trường thuận lợi cho phỏt triển du lịch Đú là mụi trường chớnh

trị ổn định và an toàn cho du khỏch Một lợi thế khỏc là người Việt Nam đụn hậu, mến

khỏch và chu đỏo.Việt Nam cũng được đỏnh giỏ là quốc gia đối phú hiệu quả với cỏc

loại dịch bệnh như bệnh SARS, dịch cỳm gà

Những phõn tớch trờn cho thấy, hội nhập kinh tế quốc tế đó đem lại những cơ hội

to lớn cho sự phỏt triển của du lịch Việt Nam

b Những thỏch thức:

Hội nhập khu vực và thế giới, du lịch Việt Nam phải đối mặt với khụng ớt khú khăn, thỏch thức Ba thỏch thức lớn mà Du lịch Việt Nam phải vượt qua là:

Tư duy kinh doanh: Tư duy trong kinh doanh du lịch vẫn mang đậm dấu ấn của

tư duy tiểu nụng, bao cấp

Tổ chức kinh doanh: Việt Nam đang kinh doanh du lịch theo kiểu “mạnh ai nấy làm”, tức là được tổ chức một cỏch tự phỏt Vỡ thế, sự hỡnh thành, phỏt triển của cỏc

doanh nghiệp du lịch hầu hết mang tớnh tự nhiờn Nhà nước chủ yếu “đi sau” chứ chưa thật sự là người dẫn dắt, mở đường cho doanh nghiệp

Hoạt động điều hành của Chớnh phủ và ngành Du lịch: Việt Nam là nước đi

sau, tiềm lực và kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực (trong đú cú kinh doanh du lịch) rất hạn chế Nếu để tự phỏt, ớt cú khả năng doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh được với doanh nghiệp nước ngoài Chỳng ta bị lộp vế và phải chịu thua thiệt là điều khú trỏnh khỏi

Những phõn tớch trờn cho thấy, Việt Nam trở thành thành viờn WTO đó đem lại những cơ hội và thỏch thức cho phỏt triển Du lịch Việt Nam đều rất lớn Tuy nhiờn,

cơ hội chỉ là tiền đề, vấn đề là ở chỗ chỳng ta cần phải làm gỡ để tận dụng được những

cơ hội đú Đồng thời, vượt qua những thỏch thức trờn đõy cũng khụng dễ dàng Nếu khụng vượt qua được thỏch thức thỡ cơ hội cũng trở thành vụ nghĩa Rừ ràng là, những

nỗ lực chủ quan của toàn Đảng, toàn dõn, của ngành Du lịch, đặc biệt của cỏc doanh nghiệp kinh doanh du lịch là nhõn tố giữ vai trũ quyết định đối với sự phỏt triển của Du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới

1.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh (NLCT) trong lữ hành du lịch quốc tế

1.2.1 Khỏi niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh, núi chung, là sự phấn đấu vươn lờn khụng ngừng để giành lấy vị trớ hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đú bằng cỏch ứng dụng những tiến bộ khoa

Trang 12

học - kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng xuất và hiệu

quả cao nhất

Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh Không có cạnh tranh sẽ

không có sinh tồn và phát triển Đó là quy luật tồn tại của muôn loài

Trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị tường tiêu thụ

sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ

thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội Biện pháp kỹ thuật là áp dụng công

nghệ tiên tiến, công nhân có trình độ tay nghề cao; biện pháp kinh tế như trợ cấp tài

chính, bảo hộ, cho vay ưu đãi, bán phá giá v.v ; biện pháp chính trị - kinh tế là dùng áp

lực chính trị để buộc đối phương phải nhượng bộ một hoặc một số điều kiện thương

mại nào đó có lợi cho mình; biện pháp quân sự như gây chiến tranh cục bộ, hoặc chiến

ranh thế giới để gây ảnh hưởng và chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả

năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm, doanh nghiệp, ngành có khả năng cạnh tranh

mạnh, yếu Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh

1.2.2 Khái niệm Năng lực cạnh tranh và NLCT trong lữ hành du lịch Quốc tế

a Khái niệm Năng lực cạnh tranh

Đây là một thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi nhưng đến nay vẫn là

khái niệm khó hiểu và rất khó đo lường Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, “Năng

lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên

thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa sau: “ Năng lực cạnh

tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất

có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu

vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh

tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”

Cấp độ năng lực cạnh tranh, có thể được phân biệt thành 4 cấp độ dưới đây:

cho nhân dân với tốc độ cao và bền vững, được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia Yếu tố quyết định tới NLCT của một quốc gia là môi trường kinh tế vĩ mô, nền tảng kinh tế vi mô, trình độ hoạt động của các doanh nghiệp, chất lượng môi trường kinh doanh và năng xuất sản xuất quốc gia

so với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo được công ăn việc làm và nâng cao thu nhập.Yếu tố quyết định tới NLCT của ngành là NLCT quốc gia, môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường kinh doanh, chất lượng của các doanh nghiệp trong ngành, tiềm lực vốn có của ngành đó, lợi thế cạnh tranh, hiệu suất hoạt động, nguồn nhân lực phục vụ v.v…

lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng xuất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ: khả năng sản phẩm đó tiêu thụ

được nhanh chóng khi có nhiều người cùng tham gia bán loại sản phẩm đó trên cùng

một thị trường Hay nói cách khác NLCT của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản

phẩm đó

b Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế

cấp độ cạnh tranh ngành, là khả năng của các doanh nghiệp, ngành Du lịch và Chính phủ trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Một ngành có năng lực cạnh tranh nếu ngành đó có năng lực duy trì được lợi nhuận, nâng cao thu nhập, gia tăng thị phần của mình trên thị trường trong và ngoài nước Đối với lĩnh vực lữ hành du lịch quốc tế, NLCT chính là NLCT điểm đến du lịch của du

Trang 13

khách quốc tế Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch là khả năng của một điểm đến

phân phối hàng hoá và dịch vụ du lịch tốt hơn các điểm đến khác

quốc tế Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới NLCT trong lữ hành du lịch quốc tế: Yếu tố

địa lý; yếu tố nhân chủng - xã hội; thị hiếu của cầu du lịch; ảnh hưởng của thoả mãn

khách du lịch; vấn đề tuyên truyền, quảng bá markeing; tiếp cận thị trường du lịch;

giá cả và chi phí; tỷ giá; sử dụng công nghệ thông tin; an toàn, an ninh và rủi ro; phân

biệt sản phẩm (định vị); chất lượng cở sở vật chất - hạ tầng phục vụ cho du lịch; chất

lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch; chất lượng nguồn tài nguyên, môi trường du lịch;

nguồn nhân lực; chính sách của chính phủ; môi trường kinh doanh v.v

Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế Trong

Báo cáo về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch và lữ hành năm 2009 của Diễn

đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã đưa ra các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh trong

lĩnh vực lữ hành gồm 3 nhóm chỉ số, 14 chỉ số đơn (có 73 chỉ số thành phần)

- Hành lang pháp lý gồm 5 chỉ số: các quy định luật pháp và chính sách,

quy định về môi trường, an toàn và an ninh, y tế và vệ sinh, ưu tiên du lịch và lữ hành

- Cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh du lịch và lữ hành gåm 5 chỉ số:

Cơ sở hạ tầng giao thông hàng không, Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, Cơ sở hạ

tầng du lịch, Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Năng lực cạnh

tranh giá trong ngành du lịch và lữ hành

- Nguồn lực tự nhiên, văn hoá và nhân lực gồm 4 chỉ số: nguồn nhân lực,

nhận thức du lịch quốc gia, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực văn hoá

Chúng tôi sẽ sử dụng các chỉ số này, dựa trên kết quả công bố của Diễn đàn

kinh tế thế giới năm 2009 và một số thực trạng của các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp để

đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch và lữ hành của Việt Nam trong

chương 2

1.3 Kinh nghiệm nâng cao cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế của một số Quốc gia trên thế giới

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Tháng 12/ 2001 là thờ điểm lịch sử với Trung Quốc, một đất nước đông dân nhất Thế giới, đó là thời điểm quốc gia này trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới WTO Từ năm 2001, Trung Quốc đã sửa đổi hơn 2000 văn bản liên quan tới thương mại, bãi bỏ gần 700 văn bản pháp luật khác để thực hiện các cam kết của mình khi tham gia sân chơi thương mại quốc tế Du lịch là lĩnh vực đầu tiên mà Trung Quốc thực hiện ngay tất cả các cam kết khi gia nhập WTO, 5 hãng du lịch hoàn toàn của nước ngoài, 13 hãng du lịch liên doanh với nước ngoài đang hoạt động ở Trung Quốc Giá cả, chất lượng phục vụ đều rất cạnh tranh và người tiêu dùng được hưởng lợi Nhiều tập đoàn du lịch nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc với cung cách phục vụ chuyên nghiệp và xây dựng hàng loạt các khách sạn mới góp phần thu hút nhiều du khách đến với Trung Quốc Sau khi Trung Quốc cắt giảm thuế nhập khẩu cho các mặt hàng thực phẩm thì hàng loạt mặt hàng thực phẩm chất lượng cao được ccá nhà hàng, khách sạn nhập khẩu về để đáp ứng nhu cầu của quý khách Như vậy, trung Quốc đã mở cửa sớm ngành du lịch, có chiến lược liên doanh tốt với các doanh nghiệp nươớc ngoài, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng và thuận lợi cho doanh nghiệp

du lịch thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống luật pháp về du lịch theo hướng hội nhập, tạo môi trường pháp lý côg bằng, thuận lợi cho mọi chủ thể tham gia hoạt động du lịch, thúc đẩy ngành du lịch Trung Quốc phát triển, người dân Trung Quốc được hưởng lợi trực tiếp từ sự phát triển của ngành du lịch Nước ta cần nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc và học tập họ để phát triển nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng khi hội nhập WTO

1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia

Đất nước Malaysia đã có mọt chiến dịch quảng cáo hết sức khôn ngoan, phạm

vi cháo hàng rộng rãi từ những cửa hàng thời trang phhong phú đến những khu nghỉ

Trang 14

mát trên đảo ngát mọt màu xanh của rừng rậm nhiệt đới đã thu hút được một lượng lớn

khách du lịch quốc tế, đặc biệt là lượng khách đến từ Trung Đông - đối tợng khách có

khả năng chi trả cao Để thu hút khách du lịch, Malaysia đã đầu tư rất nhiều vào cơ sở

hạ tầng du lịch Các khách sạn, nhà nghỉ nỗ lực hết mình để tạo cho du khách cảm giác

như ở quê nhà, khách sạn Sunway Resort nổi tiếng có bảy quan chức dịch vụ khách trọ

biết nói tiếng Arập và thuê năm sinh viên từ trường Lenanese – American đến đây mở

các lớp hàng tuần về phép xã giao Trung Đông và dạy các cụm từ Arập cho người dân

địa phương Các khách sạn ở trung tâm thủ đô luôn sẵn sàng phục vụ khách du lịch

Một điều mà chúng ta nhận thấy là Malaysia đã có chiến lược một chiến lược phát triên

du lịch rất rõ ràng, xác định thị trường mục tiêu, công tác xúc tiến quảng bá du lịch

được thực hiện một cách bài bản và có hiệu quả Đây là những kinh nghiêm bổ ích cho

các chúng ta học tập

1.3.3 Kinh nghiệm của Campuchia

Tổ chức thương mại Thế giới WTO đã kết nạp Campuchia là thành viên vào

tháng 9/2003, đánh dấu sự hội nhập của kinh tế Campuchia vào khu vực và toàn cầu

Từ khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp lữ hành nước ngoài đến mở chi nhánh thành

lập doanh nghiệp tại Campuchia, làm cho ngành du lịch Campuchia khửi sắc Là một

đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như hòang cung, Đền Vàng, đồi Bà

Pênh, Angkor Wat và Angkor Thom được công nhận là di sản văn hoá Thế giới, ngành

du lịch Campuchia đã thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan Năm 2005

lượng khách quốc tế đến với đát nước chùa Tháp đạt 1,4 triệu lượt người tăng 35% so

với năm 2004 Theo Bộ du lịch Campuchia, từ nay đến 2010 lượng khách quốc tế đến

Campuchia ước tăng từ 25-30% Các doanh nghiệp nước ngoài với kỹ năng quản lý và

bề dầy kinh nghiệm Marketing nên đã góp phần quảng bá hình ảnh du lịch, đất nước

con người Campuchia ra thị trường quốc tế, thúc đẩy ngành du lịch phát triển góp phần

vào sự phát triển của nền kinh tế

1.3.4 Kinh nghiệm của Singapore

Singapore, con rồng Châu Á, là một trong số ít những quốc gia non trẻ mà đạt được nhiều thành tựu trong việc phát triển kinh tế Về phần ngành du lịch, Singapore

đã chú trọng để phát triển Nhận thấy đất nước mình không có tiềm năng về tài nguyên

du lịch, Singapore đặc biệt chú trọng tới chất lượng dịch vụ du lịch cũng như công tác phục vụ trong du lịch, đưa ra các quy chuẩn chất lượng nhất định Thêm vào đó, Singapore cũng đặc biệt lưu tâm tới công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh đất nước mình ra bên ngoài qua nhiều kênh truyền thông cũng như các tập gấp, tờ rơi với thông tin đầy đủ rõ ràng tới tận tay du khách Ngoài ra, Singapore cũng rát chú trọng trong việc kết hợp giữa du lịch và hàng không, coi đó là sự bổ trợ cần thiết cho nhau, có quan

hệ khăng khít tương hỗ Đôi khi có những chiến dịch quảng bá được hàng không hỗ trợ gần như hoàn toàn Đây là những kinh nghiệm quý báu cho du lịch Việt Nam học tập

1.3.5 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra

Bài học về xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh: Để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế nhằm thu hút khách du lịch, cần

thiết hoạch định chiến lược cạnh tranh du lịch quốc gia và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành, từ đó xây dựng triển khai kế hoạch và chương trình cạnh tranh cho từng thời kỳ, phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch và lữ hành

Bài học về xây dựng thương hiệu và xúc tiến hình ảnh du lịch quốc gia: Để

nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành, bốn nước trên đều coi trọng xây dựng thương hiệu và xúc tiến xác lập hình ảnh và vị thế của du lịch các nước này trên thị trường quốc tế Thương hiệu du lịch quốc gia không chỉ là những yếu tố hữu hình như khẩu hiệu quảng cáo, logo, tập gấp, trang web mà còn bao gồm các yếu tố vô hình như thông tin quảng cáo, quan hệ công chúng và marketing trực tiếp, các sự kiện đặc biệt, chiến lược bán và thực hiện sản phẩm/dịch vụ

Bài học về công tác thị trường, xúc tiến du lịch: Để thu hút khách quốc tế, phải

nghiên cứu đặc điểm, tâm lý, thị hiếu, khả năng chi tiêu của từng đối tượng khách, từ

đó có biệc pháp đáp ứng nhu cầu của họ Muốn vậy, phải đẩy mạnh nghiên cứu thị

Trang 15

trường, trên cơ sở đó xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp và tổ chức xúc tiến hiệu quả

Để thực hiện tốt công tác thị trường, xúc tiến du lịch ở nước ngoài, cần tổ chức chiến

dịch xúc tiến du lịch trong từng giai đoạn, thiết lập văn phòng đại diện du lịch ở những

thị trường trọng điểm

Bài học đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm vµ dịch vụ du lịch: Đa

dạng hoá sản phẩm du lịch là yếu tố then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh thu hút

khách du lịch Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan và Tây Ban Nha đều coi trọng yếu tố

này và đã thành công trong việc thu hút và lưu chân du khách Để tăng sức hấp dẫn

của các điểm đến du lịch, cần chú trọng nâng cao chất lượng; thiết lập mối liên kết du

lịch với các nước láng giềng Nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn hoá dịch vụ du lịch

trên cơ sở nhấn mạnh tới an toàn, loại trừ đeo bám khách du lịch; ngăn ngừa tai nạn và

Bài học tạo thuận lợi cho khách du lịch quốc tế: Miễn thị thực là chính sách có

tính chiến lược nhằm thu hút khách quốc tế Malaysia, Singapore và Thái Lan đã áp

dụng thành công chính sách này, góp phần tăng nhanh lượng khách quốc tế đến các

nước này thời gian qua Hiện nay, miễn thị thực vẫn được coi như một trong những

giải pháp kích cầu và thúc đẩy khách du lịch lựa chọn điểm đến

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC

LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 2.1 Hoạt động lữ hành du lịch quốc tế ở Việt Nam

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của lữ hành du lịch quốc tế ở Việt Nam

a Giai đoạn từ 1960 - 1975

Ngày 09/07/1960 theo quyết định của Thủ tướng, Công ty du lịch Việt Nam được thành lập, trực thuộc Bộ Ngoại Thương, đã đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt nam với nhiệm vụ chính là phục vụ các đoàn khách quốc tế của Đảng và Chính phủ Do điều kiện đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, kinh tế khó khăn và nhân dân còn nghèo, du lịch chưa phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành và tiện nghi phục vụ còn nghèo nàn Du lịch Việt nam chưa hội đủ các điều kiện chung và điều kiện đặc trưng để phát riển với tư cách là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp

b Giai đoạn 1975- 1990

Hộng đoạt lữ hành du lịch quốc tế ở giai đoạn này cũng chỉ mới sơ khai Thị trường chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ Điều đáng lưu

ý nhất là vào năm 1986 hoạt động lữ hành với tư cách là công ty gửi khách tới các công

ty nhận khách ở Đông Âu, Liên xô cũ đã bắt đầu triển khai và thực hiện Sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành của hoạt động lữ hành quốc tế bị động ( Outbound Tourism) trong ngành du lịch của nước ta

c Giai đoạn từ năm 1990 đến nay

Nhờ chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước, lượng khách nước ngoài vào Việt Nam ngày một tăng Nhận thức rõ vai trò của hoạt động lữ hành nên từ năm 1990, ngành Du lịch đã từng bước mở rộng cấp giấy phép kinh doanh LHQT cho các doanh nghiệp, trước hết là doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp lữ hành đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng nguồn khách du lịch trong những năm qua

Trang 16

Với sự phát triển kinh tế của đất nước và xu thế hội nhập với nền kinh tế thế

giới, các doanh nghiệp lữ hành của Việt Nam sẽ không ngừng phát triển không chỉ theo

quy mô mà cả về chất lượng đảm bảo là cầu nối giữa cung và cầu trong du lịch

2.1.2 Hoạt động lữ hành du lịch quốc tế ở Việt Nam những năm gần đây

a Lượng khách du lịch quốc tế

Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và Việt kiều về thăm quê hương, Tổ Quốc

ngày một đông Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam luôn tăng trưởng cao, với

tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 11,2%/năm, trong đó khoảng 65% theo mục đích du

lịch Trong tổng số khách đến theo mục đích du lịch, chỉ khoảng 50% - 60% đi theo

tour trọn gói Như vậy, một số lượng khách không nhỏ đi tự do, thường gọi là "khách

du lịch ba lô", khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích khác như dự hội nghị, hội

thảo, tìm kiếm cơ hội làm ăn hay thăm thân đã mua các tour tại chỗ trong thời gian ở

Việt Nam Xem bảng 2.1:

Bảng 2.1: Số lượng khách quốc tế đến Việt nam 1999- 2008

ĐVT: 1.000 người Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

Tổng số 1.782 2.140 2.331 2.628 2.429 2.928 3.468 3.584 4.172 4.254

Thay đổi 20,1% 8,9% 12,7% -7,5% 20,5% 18,4% 3,3% 16,4% 2%

THEO PHƯƠNG TIỆN

Đường không N/A N/A N/A N/A N/A 1.822 N/A 2.702 3.262 3.284

Đường biển N/A N/A N/A N/A N/A 263 N/A 224 225 157

THEO THỊ TRƯỜNG China 484,0 492,0 675,8 723,4 693,0 778,4 752,6 520,3 564,6 650,1

Malaysia N/A N/A N/A N/A N/A N/A 105,6 145,5 174,0

Thái lan 19,3 20,8 31,6 41,0 40,1 N/A 80,9 123,8 160,7 183,1

Khác 825,3 1.036,4 821,4 931,6 919,3 816,2 1.021 1.284 1.173 1.367

Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam

Cơ cấu khách theo phương tiện vận chuyển không có nhiều thay đổi nhưng lượng khách đường bộ và đường thuỷ chiếm tỷ lệ ngày càng nhỏ trong tổng lượng khách

Thị trường khách du lịch quốc tế chính của Việt Nam có thể kể đến là Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Pháp, Úc v.v Khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam rất đông, một phần do Trung Quốc ở rất gần Việt Nam, phần khác do lượng khách đi bằng Giấy Thông hành giữa 2 nước với thủ tục đơn giản thuận tiện, nên lượng khách Trung Quốc vào nước ta chiếm một tỷ trọng lớn, trung bình 15-20% Lượng khách đến từ các nước Đông Bắc Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan cũng chiếm tỷ trọng lớn Điều này được thể hiện rõ trong vài năm gần đây, đặc biệt từ khi quan hệ hợp tác kinh tế - chính trị - ngoại giao của Việt Nam với quốc gia này nâng lên tầm cao mới Khách quốc tế từ các nước trên đến Việt nam không chỉ thuần tuý du lịch mà còn kết hợp tìm hiểu thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư kinh doanh

Lượng khách đến từ Hoa Kỳ tăng cao phần nhiều cũng từ việc tìm kiếm cơ hội đầu tư kinh doanh ở Việt nam Lượng khách đến từ Pháp, Úc chủ yếu có nhu cầu du lịch, ngoài ra cũng có nhu cầu tìm kiếm cơ hội đầu tư kinh doanh

b Thu nhập của du lịch và du lịch quốc tế

Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội Hoạt động du lịch thu hút

sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân, mang lại thu nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà gián tiếp đối với các ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập cho các cộng đồng dân cư địa phương Tốc độ tăng trưởng nhanh về thu nhập: năm 1990 thu nhập du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2008, con số đó ước đạt 64.000 tỷ đồng, gấp khoảng 50 lần Một con số rất ấn tượng Hơn nữa, doanh thu du lịch quốc tế ở Việt Nam ngày một tăng cao Dần trở thành một bộ phận thu nhập không thể tách rời của du lịch Việt Nam

Xem bảng 2.2:

Trang 17

2.1.3 Đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực Lữ hành Du lịch quốc tế của Việt Nam

Từ thực tiễn hoạt động lữ hành cho thấy, đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực lữ

hành quốc tế của Việt Nam là các nước Đông Bắc Á, ASEAN và Trung Quốc Trên

thực tế, chúng tôi tạm chọn ra 7 đối thủ cạnh tranh trong khu vực và Trung quốc để tiện

so sánh và giúp chúng ta có cái nhìn thực tế hơn Các quốc gia đó là: Trung Quốc,

Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philipppines, Campuchia; trong đó đối

thủ cạnh tranh mạnh nhất là Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore

Trong khu vực Đông Nam Á, lĩnh vực Lữ hành của Việt Nam đang phải đối

diện với áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh từ các đối thủ cạnh tranh chính trong việc

thu hút khách quốc tế Mặc dù tốc độ tăng trưởng khách quốc tế hàng năm của Việt

Nam luôn cao hơn so với hầu hết các nước trong khu vực nhưng về số tuyệt đối thì vẫn

còn khoảng cách xa so với Malaysia, Thái Lan và Singapore

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam

2.2.1 Môi trường kinh doanh lữ hành du lịch quốc tế

a Môi trường chính trị - ngoại giao có nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động

du lịch nói chung và lữ hành du lịch quốc tế nói riêng

Toàn cầu hóa, hòa bình, hợp tác và phát triển công nghệ nhanh tạo cơ hội lớn

cho phát triển du lịch Việt Nam Vị thế chính trị và hình ảnh của Việt Nam trên trường

quốc tế được nâng cao Chính sách cải cách và mở cửa của Chính phủ Việt Nam đã đẩy

mạnh tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện mở rộng giao lưu và quan hệ kinh tế quốc tế

Với điều kiện chính trị ổn định, Chính phủ đã đề ra những chính sách hướng về doanh nghiệp, tạo nền tảng mở rộng các loại hình kinh tế đối ngoại

Chính phủ Việt Nam xác định du lịch là ngành “kinh tế quan trọng” tiến tới thành ngành “kinh tế mũi nhọn” trong nền kinh tế quốc dân, quan tâm phát triển du lịch Chính phủ tập trung khá thành công vào việc tăng cường thông tin và hiểu biết về

Việt Nam trên trường quốc tế Việt Nam được đánh giá là điểm đến “an toàn và thân

thiện” Các nhà đầu tư lớn trên thế giới đã quan tâm đầu tư vào Việt Nam

Du lịch Việt Nam là thành viên của Tổ chức Du lịch thế giới và hầu hết các khuôn khổ đa phương khác Với nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế, du lịch Việt Nam đã

ký 42 hiệp định hợp tác du lịch song phương với các nước là thị trường du lịch trọng điểm và trung tâm giao lưu quốc tế, tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác; ký hiệp định hợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN; thiết lập và tăng cường hợp tác

du lịch với các nước khác; tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch Tiểu vùng Mêkông mở rộng, hợp tác Hành lang Đông - Tây, hợp tác sông Mêkông - sông Hằng, hợp tác ASEAN, APEC, ASEM, hợp tác trong Hiệp hội du lịch Châu Á - Thái Bình Dương (PATA), trong Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO)…; có quan hệ bạn hàng với hàng ngàn hãng lữ hành của 60 nước và vùng lãnh thổ Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách, đẩy mạnh xúc tiến du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động gắn kết hoạt động du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và thế giới Một số chính phủ và tổ chức quốc tế như Luxembourg, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hà Lan, Cu Ba, cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp, EU, WTO… viện trợ không hoàn lại gần 40 triệu USD về đào tạo nhân lực và hỗ trợ kỹ thuật cho du lịch Việt Nam; thu hút 9,126 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài (chiếm 7% tổng số vốn FDI

cả nước, không tính số dự án đầu tư vào văn phòng và căn hộ cho thuê)

b Cơ chế chính sách phục vụ cho phát triển lữ hành du lịch quốc tế:

Các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ sung, tạo môi trường cho du lịch hoạt động thông thoáng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn

Trang 18

1995 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quy hoạch các vùng du lịch và

các trọng điểm du lịch đã được xây dựng; trên 50 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung

ương và một số điểm du lịch, khu du lịch đã có quy hoạch, tạo điều kiện để đẩy mạnh

quản lý du lịch và xây dựng các dự án đầu tư

Chính sách, thể chế tạo nền tảng thúc đẩy du lịch phát triển đã được hình thành

và đổi mới phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển du lịch thế giới.Năm 2005,

Quốc hội đã thông qua Luật Du lịch để điều chỉnh các quan hệ du lịch ở tầm cao hơn;

khẳng định một lần nữa vị thế của ngành Du lịch ngay từ chính sách và thể chế

Theo TTCI 2009 của WEF đánh giá về chỉ số: “Thông tin đầy đủ, rõ ràng về

luật lệ, chính sách của chính phủ” cho việc phát triển du lịch nói chung thì Việt Nam

được đánh giá khá tốt Theo đó, Việt Nam đạt thứ hạng (58/133) quốc gia với điểm số

(4.2/7.0), xếp sau Singapore (1/6.3) và Malaysia (20/5.0), Trung Quốc (46/4.5); các

nước còn lại xếp sau như: Thái Lan (60/4.2), Campuchia(76/4.0), Philippines (85/3.8),,

Indonesia (121/3.2) đều xếp sau Việt Nam v.v Điều này cho thấy công cuộc cải cách

thể chế, chính sách, hành chính của Việt Nam đang đi đúng hướng, cần cố gắng phát

huy hơn nữa

c Môi trường pháp lý đối với hoạt động lữ hành du lịch quốc tế

Hiện nay, hoạt động du lịch và lữ hành du lịch quốc tế của Việt Nam được chi

phối bởi hàng loạt các văn bản luật và dưới luật Nhiều văn bản pháp quy vẫn chưa quy

định rõ ràng, đầy đủ, chưa được ban hành kịp thời, đồng bộ, gây khó khăn cho việc

triển khai hoạt động lữ hành Cụ thể như sau :

- Về Luật doanh nghiệp: trong thực tế thi hành Luật doanh nghiệp và các

văn bản dưới Luật vẫn còn những khó khăn như: một số điều khoản trong Luật

và các thông tư hướng dẫn không rõ ràng, dẫn đến tình trạng nhiều doanh

nghiệp lữ hành sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là tiến hành

kinh doanh ngay mà không làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép Lữ hành du lịch quốc

tế gây tình trạng khó quản lý cho cơ quan chuyên trách, tạo sự cạnh tranh thiếu lành mạnh cho doanh nghiệp

- Về văn bản pháp lý chuyên ngành:Luật Du lịch Việt Nam được công bố

tháng 6/2005 và có hiệu lực từ 01/01/2006, đề cập đến nhiều nội dung mới, thực sự đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch Tuy nhiên, những văn bản luật chuyên ngành vẫn còn những rào cản khiến doanh nghiệp lữ

hành du lịch khó phát triển Các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện về các lĩnh

vực: xuất, nhập cảnh, cưu trú, đi lại cho người Việt Nam và nước ngoài; quản lý chi nhánh, văn phòng đại diện du lịch ở trong và ngoài nước; lưu trú; thanh tra; xử phạt hành chính; quản lý môi trường du lịch… đã được ban hành và thực hiện có hiệu quả

- Về các văn bản pháp quy khác liên quan đến hoạt động lữ hành còn thiếu

đồng bộ Khuôn khổ luật pháp cho khu vực dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng

chưa hoàn thiện, nhiều văn bản pháp luật chồng chéo, quy định không rõ ràng Tựu trung lại, những ưu đãi cho hoạt động lữ hành du lịch quốc tế chưa rõ ràng, thậm chí hầu hết văn bản luật đưa ra các quy định khó khăn nhất, thí dụ: đối với lữ hành quốc tế, thuế suất VAT là 10% chưa có tính cạnh tranh với du lịch một số nước trong khu vực Vấn đề hoàn thuế VAT cho khách quốc tế mang hàng hóa mua sắm trong tour du lịch ra khỏi lãnh thổ Việt Nam chưa được áp dụng Các quy định về hạn chế tốc độ xe còn bất hợp lý, gây tình trạng kéo dài thời gian đi lại và ức chế cho lái xe

và du khách

Nhìn chung, môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh lữ hành đã được cải thiện trong thời gian qua nhưng vẫn còn chưa thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp Điều đó ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh lữ hành

d Môi trường có tính cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp lữ hành quốc tế

Các doanh nghiệp tham gia kinh doanh LHQT phát triển mạnh, thích nghi dần

cơ chế mới, từng bước làm ăn có hiệu quả Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của

Trang 19

cả 6 thành phần kinh tế Tính đến nay, theo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam

đã có 758 doanh nghiệp lữ hành quốc tế được phân bổ như sau Xem bảng 2.3:

Bảng 2.3: Số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (7/2009)

Khu vực Tổng số Nhà nước Cổ phần Liên doanh TNHH Tư nhân

Lực lượng tham gia hoạt động lữ hành quốc tế ngày càng đông đảo, thêm vào đó

là việc một số tổ chức, cá nhân không có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế vẫn

tham gia kinh doanh với nhiều chiêu bài như hạ giá, hạ chất lượng sản phẩm, trốn lậu

thuế v.v Điều này đã tạo áp lực cạnh tranh lớn cho tất cả các doanh nghiệp lữ hành

quốc tế khác tham gia kinh doanh, đặc biệt là cạnh tranh giá, khiến giá sản phẩm lữ

hành du lịch quốc tê giảm đáng kể, hiệu quả kinh doanh không cao

2.2.2 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch và lữ hành du lịch quốc tế

a Cơ sở lưu trú:

Trong giai đoạn 2000-2009, cả nước đã nâng cấp, xây mới 60.000 phòng khách

sạn (tăng gấp trên 2,5 lần của hơn 30 năm trước) Đến nay, cả nước có khoảng 10.800

cơ sở lưu trú, với 213.200 buồng phòng, trong đó 5.239 cơ sở được xếp hạng từ đạt tiêu

chuẩn đến 5 sao với tổng số 131.342 buồng Xem bảng 2.4:

Bảng 2.4: Số lượng các cơ sở lưu trú (6/2009) Xếp hạng 5 sao 4 sao 3 sao 2 sao 1 sao Đạt tiêu chuẩn

Lượng phòng 8,564 10,950 12,674 31,450 20,790 46,724

Nguồn: Tổng cục Du lịch năm 2009

Tuy vậy, cung vẫn thấp hơn cầu ở các trung tâm du lịch lớn Nên các doanh

nghiệp lữ hành đang đối mặt với khó khăn thiếu cơ sở lưu trú chất lượng cao.Giá

phòng khách sạn 3 sao trở lên tăng đáng kể, gây ảnh hưởng tới giá thành tour du lịch

Thực tê về lượng phòng khách sạn được xếp hạng đủ tiêu chuẩn, thì theo đánh giá trong bảng chỉ số TTCI 2009 (Travel & Tourism Competitiveness Index) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic forum) tính chỉ số này dựa theo số lượng phòng trên một trăm dân rồi xếp hạng từ 1 đến 133; thì Việt Nam ở vị trí (82/133) với điểm

số (0.3 phòng /100 dân), được đánh giá ở mức trung bình, đứng thứ (4 /8) quốc gia trong bảng so sánh Trong khu vực, Singapore (34/0.9) được đánh giá cao nhất; Malaysia (45/0.6) ở vị trí thứ 2; Thái lan (48/0.6) ở vị trí 3; Trung Quốc (98/0.1) ở vị trí thứ 7, Philippine ở vị trí thứ 8/8 quốc gia trong bảng xếp hạng

Như vậy, có thể thấy rằng Việt Nam cũng không phải quốc gia có chỉ số này quá

tệ Vấn đề ở chỗ, chúng ta có kế hoạch thúc đẩy du lịch phát triển thì cần phải đầu tư thêm cơ sở lưu trú phù hợp để đón tiếp lượng khách quốc tế vào Việt Nam

b Các cơ sở kinh doanh vận chuyển khách du lịch:

Các đơn vị lữ hành gặp khó khăn với hàng không nội địa Hiện tại mới chỉ có 3 hãng được phép khai thác trên chăng bay nội địa của Việt Nam Trong đó, Indochina mới bị thu hồi giấy phép; Jetstar Airline thì gặp một số vấn đề trong an toàn bay; Việt Nam airlines thì không kham nổi một thị trường rộng lớn với rất nhiều điểm đến trên

cả 3 miền Bắc, Trung, Nam và một số các đảo (Phú Quốc, Côn Đảo) nên hành khách thường xuyên gặp phải tình trạng thiếu vé, huỷ chuyến, chậm chuyến gây rất nhiều bất cập cho du khách cũng như các hãng lữ hành trong việc bảo đảm chương trình du lịch cho khách hàng của mình Hơn nữa, đội ngũ máy bay của Việt Nam cũng bị đánh giá khá kém về chất lượng nhiều máy bay cũ, đã được khai thác rất lâu rồi vẫn đang được khai thác gây cảm giác thiếu an toàn, không thoải mái cho du khách

Một trong những tiêu chí đánh giá về năng lực trong ngành hàng không của WEF đó là: “chất lượng của hạ tầng vận chuyển hàng không” Theo đó, chỉ số này của

Việt Nam bị đánh giá khá kém ở vị trí (92/133) quốc gia với điêm số (3.90/7.0), có khoảng cách rất xa sau Singapore (1/6.9), Malaysia (20/6.0); Thái Lan (28/5.8); với

Trang 20

Trung Quốc (75/4.4), Campuchia (87/4.2), Philippines (89/4.2), chúng ta xếp sau với

khoảng cách không xa lắm về thứ hạng cũng như điểm số

Ở chỉ số: “Mạng lưới vận chuyển hàng không quốc tế” thì Việt Nam được đánh

giá kém nhất trong chỉ số này Việt Nam (91/4.4), có khoảng cách rất xa sau Singapore

(2/6.9), Thái Lan (26/6.0), Malaysia (33/5.8); Việt Nam xếp gần sau Campuchia

(86/4.5), Philippines (76/4.7), Trung quốc (74/4.8)

Điều này cho thấy chúng ta rất cần phải nâng cao chất lượng hạ tầng vận

chuyển hàng không cũng như cần phát triển mạng lưới vận chuyển quốc tế Mặc dù

trong vài nẳm trở lại đây chúng ta đã đầu tư khá nhiều cho xây dựng, đặc biệt khu vực

sân bay ở Hà Nội, Tp HCM nhưng như thế là vẫn chưa đủ Chúng ta nên chú ý cả tới

đầu tư đội ngũ máy bay có độ tuổi trung bình khá cao, có kế hoạch bổ sung máy bay để

tăng cường sử dụng, đặc biệt trong những dịp lễ, tết, mùa cao điểm

Về vận chuyển đường sắt: Chúng ta có hệ thống tuyến đường sắt khá hoàn

chỉnh, đặc biệt trên hành trình Bắc – Nam Vấn đề ở chỗ, hệ thống này đã đưa vào vận

hành hàng trăm năm nay rồi nên năng lực vận chuyển cũng kém hiệu quả, đặc biệt về

mặt thời gian chạy tàu Dẫn đến tình trạng ngại không muốn mua vé tàu do chạy quá

lâu, chất lượng chuyến đi Đặc biệt trong những dịp lễ, tết, hè việc mua vé tàu trở nên

đặc biệt khó khăn

Ô tô du lịch cũng là vấn đề đáng phải bàn Chất lượng xe du lịch của Việt Nam

thường kém, do xe mới phải nhập về Việt Nam thường bị đánh thuế rất cao; trong khi

xe được sản xuất trong nước có chất lượng không đảm bảo vì chủ yếu là công nghệ lắp

ráp, linh kiện được nhập từ Trung Quốc về hoàn thiện Doanh nghiệp khắc phục bằng

cách nhập xe cũ từ nước ngoài về, đặc biệt từ Hàn Quốc, nên chất lượng xe có phần

hạn chế Thêm vào đó, chất lượng đường xá ở Việt Nam rất tồi tệ cũng là nguyên nhân

gây hư hại xe nhanh chóng Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng chương

trình du lịch, cũng là yếu tố bất lợi cho cạnh tranh chất lượng

c Các cơ sở dịch vụ khác:

Nhà hàng, quán bar, trung tâm chăm sóc sắc đẹp, trung tâm vui chơi giải trí, cửa hàng mua sắm phát triển ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng v.v nhưng cũng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của du khách Dịch vụ vui chơi giải trí thiếu, không phong phú đa dạng sẽ gây tâm lý nhàm chán cho du khách những lúc rảnh rỗi cũng như giảm một nguồn thu đáng kể cho địa phương du lịch

Trung tâm mua sắm thiếu hoặc chưa đủ tầm để giới thiệu được công đoạn sản xuất, có phong cách phục vụ chuyên nghiệp, bài trí hấp dẫn, bán sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo uy tín chất lượng Tất cả những điều này đều không mang lại sức cạnh tranh tốt cho du lịch Việt Nam nói chung lữ hành du lịch quốc tế nói riêng

Hệ thống phương thức thanh toán bằng thẻ cũng chưa được phổ biến, trừ những thành phố lớn hay cơ sở lớn mới chấp nhận Hơn nữa, hệ thống ATM các trên toàn quốc cũng hạn chế, gây phiền hà trong thanh toán cho du khách

Theo TTCI 2009 của WEF, tính toán theo tỷ lệ các máy ATM trên một triệu dân rồi xếp thứ tự Theo đó, Việt Nam (103/17.8), một thứ hạng rất thấp nếu so với Singapore (30/406.4), Thái Lan (34/343.7); ngay cả những nước xếp trên gần chúng ta nhất như Philippines (93/35.1), Trung quốc (90/45.9), Indonesia (88/53.5) cũng có khoảng cách rất xa so với Việt Nam Quốc gia bị đánh giá kém nhất trong chỉ số này là Campuchia (112/4.7) v.v… Nhìn chung các nước trong khu vực của chúng ta với hệ

thống ATM cũng chưa được đánh giá cao Điều này chỉ ra một thực tế rằng trong chi tiêu chúng ta vẫn chủ yếu dùng tiền mặt là nhiều, chưa phát huy được tiện dụng trong việc dùng thẻ để thanh toán Khi du khách nước ngoài sang Việt Nam, họ không chỉ mang theo tiền mặt mà còn dùng thẻ ATM đề chi trả các khoản tiêu dùng hàng ngày và cất trữ tiền cho an toàn Trường hợp có quá ít các điểm thanh toán khi họ dùng thẻ sẽ là điều bất tiện cho du khách

2.2.3 Sản phẩm và dịch vụ lữ hành du lịch quốc tế

a Sản phẩm lữ hành du lịch quốc tế

Trang 21

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, sản phẩm lữ hành du

lịch quốc tế của Việt Nam còn rất hạn chế, mới dựa chủ yếu vào các yếu tố tự nhiên,

khai thác những cái có sẵn, không thể hiện ưu thế trên thị trường Giá trị gia tăng trong

sản phẩm thấp hơn nhiều so với mức trung bình thế giới Thể hiện ở một số điểm sau:

Tính đa dạng và độc đáo: Các chương trình du lịch cho khách Inbound phần lớn

dựa trên kinh nghiệm và thông tin ít ỏi, đôi khi đã lạc hậu và được chào bán trên hầu

như tất cả các thị trường Nhiều doanh nghiệp lữ hành du lịch quốc tế mới thành lập đã

sao chép chương trình của các công ty khác và biến thành sản phẩm của mình Ngoài

ra, Du lịch Việt Nam ít đưa ra được sản phẩm mới hoặc làm mới sản phẩm của mình

Các chương trình tour của Việt Nam vẫn chưa tạo nên khác biệt so với các nước trong

khu vực

Mức độ ổn định của chất lượng: Các doanh nghiệp hoạt động lữ hành du lịch

quốc tế luôn trong tình trạng báo động về chất lượng dịch vụ ở một khâu nào đó, một

nơi nào đó và thời điểm nào đó Có thể là thái độ thiếu thân thiện của hướng dẫn viên,

thiếu điểm tham quan trong chương trình, chất lượng dịch vụ không đúng như quảng

cáo v.v Điều này làm cho khách hàng nghi ngờ về chất lượng sẩn phẩm lữ hành du

lịch quốc tế của Việt Nam Trong khi đó, vấn đề này ở các nước trong khu vực ít phải

quan tâm đến

Giá cả tour trọn gói: Có khá nhiều mức giá khác nhau, thậm chí chênh lệc rất

lớn, của các doanh nghiệp được đưa ra cho cùng một sản phẩm Để cạnh tranh nhiều

doanh nghiệp giảm giá tuỳ tiện, cắt bớt chương trình, dịch vụ kèm theo làm ảnh hưởng

nghiêm trọng tới chất lượng sản phẩm

Về nguồn nhân lực phát triển sản phẩm: Ở Việt Nam, nguồn nhân lực không

được đào tạo cơ bản và không đủ điều kiện tìm hiểu thị trường và nhu cầu khách hàng

một cách thấu đáo Do vậy, họ gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển sản phẩm để

thoả mãn đúng nhu cầu của khách

Điều kiện hình thành sản phẩm: Việc khai thác tài nguyên du lịch để trở thành

sản phẩm và dịch vụ du lịch mới ở Việt Nam diễn ra chậm Ở một số địa phương trong nhiều năm hầu như không có gì mới đã làm cho các công ty lữ hành không có điều kiện hình thành hoặc làm mới các chương trình tour của mình Điều đó sẽ gây nhiều khó khăn cho việc ra đời những sản phẩm mới, đa dạng phong phú giúp khách hàng có nhiều lựa chọn và tối ưu được nhu cầu của mình

Về nghiên cứu phát triển sản phẩm mới: Các doanh nghiệp lữ hành của Việt

Nam nhìn chung chưa quan tâm đúng mức đến xây dựng và phát triển sản phẩm Hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và phát triển thị trường chưa được tổ chức khoa học, chuyên nghiệp Các doanh nghiệp rất hạn chế trong đầu tư sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin, công cụ toán học, thống kê vào nghiên cứu thị trường để tìm hiểu nhu cầu thị trường nhằm tạo ra sản phẩm mới phù hợp Đa số doanh nghiệp lữ hành thường thụ động, không chắc chắn về thị trường, không tạo ra được những sản phẩm mới đón đầu nhu cầu của thị trường, đáp ứng nhanh thay đổi đa dạng của thị

trường quốc tế

b Về dịch vụ lữ hành du lịch quốc tế Dịch vụ tư vấn du lịch: Vấn đề này ở Việt Nam còn yếu và hoạt động không

hiệu quă Nên chăng có một bộ phận công chuyên trách sẽ có điều kiẹn giúp đỡ du khách tốt hơn khi tham gia du lịch ở Việt Nam Hiện nay, các doanh nghiệp đang đảm trách vấn đề này là chủ yếu, họ làm cho chính bản thân mình Một bộ phận không nhỏ nhân viên thị trường của doanh nghiệp này còn chưa có điều kiện tiếp cận các điểm đến

và cập nhật thông tin về dịch vụ du lịch Chính điều này hạn chế khả năng cung cấp thông tin cần thiết cho khách hàng

Cung cấp và môi giới cung cấp dịch vụ lẻ: cũng gặp nhiều khó khăn khi hệ

thống dịch vụ của ta chưa được chuẩn hoá, nghèo nàn, chất lượng chưa ổn định, chưa đồng đều giữa các địa phương và mối liên hệ giữa họ với các công ty lữ hành không phải lúc nào cũng chặt chẽ

Trang 22

Hỗ trợ giải quyết thủ tục liên quan đến chuyến đi: Dù đã có nhiều cải tiến nhưng

những thủ tục hành chính như thủ tục xuất nhập cảnh còn nhiều bất cập và hạn chế gây

khó khăn cho du khách Thêm vào đó, thủ tục đối với một số loại hình du lịch đặc biệt

như: tour ô tô tay lái nghịch, chuyên cơ, tầu biển cũng tốn không ít thời gian của các

công ty lữ hành

Dịch vụ chăm sóc khách hàng: Phần lớn công ty lữ hành đều triển khai chăm

sóc khách hàng trong và sau chuyến đi Tuy nhiên, đối với khách quốc tế công tác này

mới chỉ được tập trung thực hiện trong quá trình phục vụ khách tại Việt Nam và cũng

chỉ tập trung ở những công ty lữ hành lớn, có thương hiệu còn ở những doanh nghiệp

nhỏ tiềm lực tài chính kém vẫn chưa dám chú trọng nhiều vào vấn đề này

Từ những phân tích trên có thể thấy năng lực cạnh tranh về sản phẩm và dịch vụ

lữ hành quốc tế của Việt Nam còn khá nhiều hạn chế Điều này xuất phát từ nhiều

nguyên nhân: điều kiện hình thành sản phẩm và dịch vụ lữ hành, nguồn nhân lực, hiệu

quả công tác xúc tiến du lịch và vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch v.v

2.2.4 Vấn đề tuyên truyền, quảng bá và Marketing trong lĩnh vực lữ hành du

lịch quốc tế của Việt Nam

Thứ nhất, về mặt chủ chương, đường lối: Từ đầu những năm 90, khi bước vào

thời kỳ đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương chiến lược “Phát triển du

lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” Năm 1999, Ban chỉ đạo Nhà nước về du

lịch được thành lập Chương trình hành động quốc gia về du lịch với hàng loạt sự kiện

được tổ chức khá rầm rộ Chương trình hành động quốc gia về du lịch từ 2000-2005 và

tiếp tục sang 2006 - 2010 với nhiều hoạt động đã được thực hiện và đã có dấu hiệu

khởi sắc hơn trước Tuy nhiên, có thể thấy một số chủ trương phát triển lữ hành du lịch

quốc tế chưa thực sự đi vào cuộc sống (Ví dụ: Chương trình “Ấn tượng Việt Nam” với

việc thực hiện thiếu đồng bộ nên không đạt được hiệu quả như mong đợi, lượng khách

xúc tiến du lịch hiện nay chưa phù hợp, mang nặng tính bao cấp theo cơ chế “xin-cho”

Thứ ba, Ngân sách dành cho hoạt động xúc tiến du lịch Năm 2009, ngân sách

dành cho hoạt động xúc tiến du lịch của Việt Nam (thông qua TCDL) chỉ là 25 tỷ đồng (1,4 triệu USD) Kể cả cộng thêm với ngân sách vài chục tỷ đồng các địa phương dành cho hoạt động này, con số này vẫn quá nhỏ so với ngân sách của các nước ASEAN khác như Thailand, Malaysia, Singapore ở mức từ 38-70 triệu USD/năm Nguồn ngân sách hạn hẹp làm cho hoạt động xúc tiến du lịch trở nên vô cùng khó khăn

Theo số liệu của Hội đồng Lữ hành và du lịch Thế giới – WTTC, tính toán chỉ

số này theo phần trăm ngân sách chi cho du lịch của các nước Mức độ đánh giá 1:

nhiều phần trăm ngân sách cho du lịch nhất, 133: nước có ít nhất; Việt Nam đạt

(109/1.4) là nước đạt thứ hạng thấp nhất (8/8) trong các nước so sánh, với một con số

rất khiêm tốn nếu so với Singapore (8/10.2), Campuchia (10/9.2), Indonesia (12/9.0),

Malaysia (104/1.7), Thái Lan (79/2.7), Philippines (59/3.6), Trung Quốc (50/3.9) v.v… Mặc dù, Malaysia đứng khá gần với Việt Nam về thứ hạng (104 & 109) Nhưng chúng ta cũng biết rằng GNP của Malaysia (186,7 tỷ USD) cao hơn nhiều so với Việt Nam (70 tỷ USD) trong khi dân số chỉ bằng 1/3 Việt Nam (26 triệu so với 86 triệu dân) nên chỉ số tương đối của họ vẫn cao hơn nhiều so với Việt Nam Vẫn biết rằng chúng

ta có nhiều vấn đề khác phải quan tâm hơn như y tế, giáo dục, xây dựng cơ bản … nhưng việc nhà nước ta đã xác định phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn trong khi không có chính sách đầu tư thích đáng cho du lịch thì e rằng sẽ khó có

cơ hội bứt lên được Du lịch là ngành kinh tế có tiềm năng phát triển, hơn nữa ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng của mình trong thu nhập quốc dân, việc làm … Nên chăng chúng ta phải có sự đầu tư hơn nữa cho du lịch

Ngày đăng: 06/08/2016, 23:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Triển vọng Du lịch 2020: Dự báo du lịch thế giới theo khu vực - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 1.1 Triển vọng Du lịch 2020: Dự báo du lịch thế giới theo khu vực (Trang 10)
Bảng 2.1: Số lƣợng khách quốc tế đến Việt nam 1999- 2008 - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.1 Số lƣợng khách quốc tế đến Việt nam 1999- 2008 (Trang 16)
Bảng 2.3: Số lƣợng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (7/2009) - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.3 Số lƣợng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (7/2009) (Trang 19)
Bảng 2.4: Số lượng các cơ sở lưu trú (6/2009) - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.4 Số lượng các cơ sở lưu trú (6/2009) (Trang 19)
Bảng 2.5: Một vài chỉ số TTCI 2009 của các quốc gia trong khu vực - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.5 Một vài chỉ số TTCI 2009 của các quốc gia trong khu vực (Trang 24)
Bảng 2.7: Một vài chỉ số TTCI 2009 có liên quan tới giá cả  Các chỉ số  Vé và lệ phí sân bay   Ngang giá sức mua  Mức giá phòng khách sạn - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.7 Một vài chỉ số TTCI 2009 có liên quan tới giá cả Các chỉ số Vé và lệ phí sân bay Ngang giá sức mua Mức giá phòng khách sạn (Trang 27)
Bảng 2.8: So sánh một vài chỉ tiêu về Nguồn lực tự nhiên & văn hoá của Việt Nam - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.8 So sánh một vài chỉ tiêu về Nguồn lực tự nhiên & văn hoá của Việt Nam (Trang 28)
Bảng 2.9: So sánh một vài chỉ tiêu có liên quan tới nhận thức và ƣu tiên du lịch - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.9 So sánh một vài chỉ tiêu có liên quan tới nhận thức và ƣu tiên du lịch (Trang 29)
Bảng 2.10: Xếp hạng TTCI của Việt nam 2007 - 2009  Chỉ số chung  Hành lang - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.10 Xếp hạng TTCI của Việt nam 2007 - 2009 Chỉ số chung Hành lang (Trang 30)
Bảng 2.11: Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.11 Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực (Trang 31)
Bảng 2.12 :   Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.12 Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực (Trang 31)
Bảng 2.14 :   Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
Bảng 2.14 Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực (Trang 33)
Bảng  2.13: Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực - Năng lực cạnh tranh từ hãng du lịch quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tếThực trạng và giải pháp
ng 2.13: Xếp hạng TTCI 2009 của Việt Nam và một số nước trong khu vực (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w