1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020

70 486 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tốc độ tăng trưởng GDP lập nên kỷ cũng bộc lộ khá nhiều yếu kém: tăng trưởng xuất khẩu không ổn định, còn chứa đựng nhiều yếu tố không bền vững và dễ bị tổn thương bởi những cú sốc từ bê

Trang 1

tế  mà  thời  gian  qua  đã  giúp  cho  các  lĩnh  vực  công  nghiệp,  dịch  vụ  và  đặc  biệt  là  nông 

nghiệp ở  ĐBSCL đạt được những  thành tựu to lớn. Tốc độ  tăng trưởng GDP  lập nên  kỷ 

cũng  bộc  lộ  khá  nhiều  yếu  kém:  tăng  trưởng  xuất  khẩu  không  ổn  định,  còn  chứa  đựng 

nhiều  yếu  tố  không  bền  vững  và  dễ  bị  tổn  thương  bởi  những  cú  sốc  từ  bên  ngoài;  sản 

triển  của  vùng  cũng rất  thiếu đồng bộ,  chưa cân  xứng  giữa  các ngành nghề,  lĩnh  vực  và 

giữa  các  địa phương; phát  triển nặng về  chiều  rộng,  chạy  theo  số  lượng nên  chất  lượng, 

hiệu quả và đặc biệt là tính cạnh tranh quốc tế không cao… 

Những hạn chế trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ 

yếu có thể khẳng định là thiếu vắng những sản phẩm chủ lực có khả năng tạo ra giá trị gia 

tăng lớn, sức cạnh tranh cao và nhất là tạo được động lực thúc đẩy khai thác một cách hiệu 

quả tài  nguyên thiên nhiên, lao động và những lợi  thế “trời cho” mà không một nơi nào 

khác  có  được ngoài  vùng đất  nầy.  Vấn  đề đặt ra  ở đây  là,  làm  cách nào để  ĐBSCL  xác 

định được sản phẩm chủ lực hoặc hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng để tập trung đầu tư phát

triển;  làm cách nào để cho  sản phẩm chủ lực ĐBSCL có thể cạnh tranh ngang ngửa với hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong cả nước và trên thế giới; và làm cách nào để sản phẩm chủ lực ĐBSCL không ngừng phát triển và phát triển một cách bền vững trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế… 

Từ sự phân tích trên đây cho thấy, việc nhanh chóng nghiên cứu để tìm ra những sản phẩm chủ lực, giữ vai trò chủ đạo đồng thời tạo ra cú đột phá mạnh mẽ cho phát triển kinh tế ĐBSCL trong tương lai gần cũng như lâu dài là yêu cầu khách quan và bức thiết ở 

thời  điểm hiện nay.  Và,  đây cũng  chính  là  lý  do mà  tác  giả  chọn  đề  tài: “Xác định  sản  phẩm  chủ  lực  và  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực  Đồng  bằng  sông  Cửu  Long  đến  năm  2020” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của bản thân. 

2.  Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên nghiên cứu của luận án  2.1. Mục tiêu nghiên cứu 

Luận án tập trung vào nghiên cứu 3 mục tiêu cơ bản sau đây: 

1) Hệ thống tiêu chí  xác định  sản phẩm chủ lực phù hợp với điều kiện thực tế và tính đặc thù của ĐBSCL để làm cơ sở đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực thống nhất cho toàn vùng. 

1) Nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm chủ lực và vận dụng nó để làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận cũng như thực tiễn trong việc đánh giá, xét chọn  và phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL từ nay đến năm 2020. 

2) Phân tích, đánh giá nhu cầu thị trường, tiềm năng và lợi thế phát triển sản phẩm chủ lực cũng như năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực ĐBSCL để từ đó xây dựng Hệ thống tiêu chí đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực vùng từ nay đến năm 2020. 

3) Trên cơ sở Hệ thống tiêu chí, tiến hành phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những hàng hóa hội đủ điều kiện hoặc có triển vọng để hình thành Bảng danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL từ nay đến năm 2020

Trang 2

Đối  tượng  nghiên  cứu  của  luận  án  là  các  sản  phẩm  hàng  hóa  và  dịch  vụ  chủ  lực 

mang  đặc  trưng  cho  lợi  thế,  tiềm  năng  và  gắn  chặt  với  quá  trình  phát  triển  kinh  tế  của 

1)  Thuyết  lợi  thế  cạnh  tranh  quốc  gia  của  M.Porter  (1990).  Porter  cho  rằng, 

các lý thuyết phát  triển truyền  thống như  lợi  thế  tuyệt  đối  của  Adam  Smith  và lợi  thế  so 

sánh  của  David  Ricardo  xem nền  kinh  tế  như  là  sự  “định hướng bởi  yếu  tố nguồn  lực”. 

Tức,  lợi  thế  của  một  quốc  gia  trong  thương  mại  quốc  tế  được  xác  định  bởi  các  yếu  tố 

3) Sự phát triển của khái niệm cụm ­ Kinh nghiệm hiện tại và triển vọng, Christian 

H. M. Ketels (2003). Ketels đã trình bày khung khái niệm về cụm (cluster) của Michael 

M. Porter, các loại hình cụm, sự tiến hóa cuả cụm và cụm với hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, Ketels cũng nói đến những phát hiện trong thực nghiệm đối với cụm, cụm dựa trên chính sách phát triển kinh tế và xem đây như là mô hình phát triển kinh tế mới. Thông qua công trình nghiên cứu này, Ketels đã mở rộng hơn về khái niệm cụm so với khái niệm ban đầu của Michael M. Porter và qua đó, giúp mọi người hiểu đúng và đầy đủ hơn tầm quan trọng của cụm đối với phát triển kinh tế địa phương trong môi trường cạnh tranh toàn cầu [48]. 4) Lý thuyết điểm trung tâm của Christaller (1933). Lý thuyết này cho rằng, vùng nông thôn chịu lực hút của thành phố và coi thành phố là cực hút và hạt nhân của sự phát triển. Từ đó, đối tượng đầu tư có trọng điểm cần được xác định trên cơ sở nghiên cứu mức 

độ thu hút và ảnh hưởng của một trung tâm và cũng sẽ xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm. Trong giới hạn bán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn của thị trường ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc cung cấp hàng hoá của trung tâm. 

Lý thuyết này được Alosh (Đức) bổ sung. Điểm đáng chú ý của lý thuyết điểm trung tâm 

là xác định được quy luật phân bố không gian tương ứng giữa các điểm dân cư, từ đó có thể áp dụng quy hoạch các điểm dân cư trên lãnh thổ mới khai thác [45]. 

5) Một nghiên cứu về các chỉ số năng lực cạnh tranh, G. Arzu INAL (2003). Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và sự quan tâm ngày càng sâu sắc của các

Trang 3

được  tác  giả  tham  khảo  như:  “Regional  innovation  systems  (RIS)  in  China  của  Jon 

Sigurdson”  đăng  trên  Working  Paper  No  195,  July  2004  [49];  “Sustaining  the  Green 

Revolution in India” của S. Nagarajan [50]; “Economic contributios of Thailand’s creative 

industries”, đăng trên tạp chí Fiscal Policy Institute 2009 [47]; “Koji – The key product in 

Japanese  alcoholic  beverages  and  fermented  foods,  Tokyo  University  of  Agriculture 

Sedagaya­ku,  Tokyo,  Japan  [54];  “Identifying  and  assessing  the  factors  that  influence 

cluster’s  competitiveness  in  Oregon, and  some  initial  suggestions”,  Luận  án  Tiến  sĩ  của 

Sam  Gi  Hong  (2007) [52] Nhìn  chung  các  tài liệu này  đều nhấn mạnh đến  vai  trò  của 

phát triển cụm ngành sản phẩm trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia và đề 

xuất các chính sách hỗ trợ để cụm phát triển một cách bền vững. 

4.2 Tài liệu trong nước 

1) Luận án Tiến sĩ “Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các 

tỉnh  vùng  Bắc  Trung  bộ”  của  Nguyễn  Hồng  Lĩnh  (2007).  Luận  án  đã  vận  dụng  các  lý 

thuyết  liên  quan,  đặc  biệt  là  mô  hình  kim  cương  của  M. Porter  để  phân  tích  tìm  ra  các 

nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn 

các tỉnh Bắc Trung bộ. Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo 

sát thực tế; rút kinh nghiệm  phát  triển ngành công nghiệp chế biến ở một  số nước Đông 

Nam  Á  và  dựa  trên  tiềm  năng,  lợi  thế  của  vùng,  Luận  án  đã  xác  định  các  ngành  công 

3) Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001 – 

2005 của Bộ Khoa học­Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) với 

chủ đề “ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm  chủ lực”. Mục đích của Chương trình là nhằm gia tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu 

xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao cũng như thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ.  Nội dung chủ yếu của Chương trình 

là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có năng  suất, chất  lượng  cao,  chống  chịu  sâu bệnh…;  xây  dựng  các mô hình  thâm  canh  và sản  xuất  công nghiệp  trong nuôi trồng nông, lâm,  thủy  hải  sản  theo hướng bền  vững  và bảo vệ môi trường sinh thái [1] 

4) “Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hà Nội”. Theo Qui chế này, cơ sở xác định sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố là các  tiêu chí  gồm  sức cạnh tranh trên thị  trường trong và ngoài nước; được tạo ra trên các dây chuyền thiết bị có trình độ công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất trong từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, đảm bảo năng lực sản xuất  và môi  trường bền vững; tạo ra mức tăng trưởng cao,  ổn định;  hoặc  thuộc nhóm  sản phẩm  xuất  khẩu  chủ  lực, đóng  góp tỷ  trọng  lớn vào tổng  GDP  công  nghiệp.  Qui  trình  xét  chọn  có  4  bước:  đề  xuất  doanh  nghiệp  tham  gia Chương trình;  khảo sát sản phẩm công nghiệp;  tổ chức đánh giá, xét  chọn và công nhận sản phẩm chủ lực [17]. 

5) Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh  giai  đoạn  2002  –  2005”.  Theo  Chương  trình  này,  Hệ  thống  tiêu  chí  lựa  chọn  sản phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng 

ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chương trình trên năm lĩnh vực:  thiết  kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt động hướng dẫn, tư vấn hay môi giới doanh nghiệp với nhà tư vấn có năng lực và uy tín, giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn lực về khoa học và tài chính của thành phố [2]

Trang 4

Ngoài  ra,  Luận án  còn  tham khảo nhiều  tài liệu chương trình phát triển sản phẩm 

chủ  lực  tương  tự  của  các địa phương  khác  cũng như  hội  thảo, hội  nghị,   liên quan đến 

nhằm hỗ trợ các sản phẩm chủ lực phát triển một cách bền vững đến năm 2020. 

6.  Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu của đề tài  6.1 Phương pháp tiếp cận vấn đề 

Để tiếp cận vấn đề, tác giả thực hiện thông qua các phương pháp chủ yếu như: 

+  Tiếp  cận hệ  thống:  Trong quá  trình nghiên cứu  xác định  sản phẩm  chủ  lực  của 

Đồng bằng sông Cửu Long, những loại hàng hóa, dịch vụ không có tính đặc thù hoặc tính đặt  thù không cao, tác giả đặt  chúng trong mối  quan hệ hỗ tương với hàng hóa, dịch vụ cùng  loại  trong  cả  nước.  Nghĩa  là  xem  hàng  hóa,  dịch  vụ  đó  của  Đồng  bằng  sông  Cửu Long như là một bộ phận hữu cơ trong mối quan hệ tổng thể của cả nước. 

+ Tiếp cận logic: Từ việc nghiên cứu, thu thập các dữ liệu, thông tin thông qua tài 

liệu, sách báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng để xây dựng các mô hình lý thuyết 

về sản phẩm chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long, xem đây là giả thuyết để làm cơ sở 

chứng minh cho tính đúng đắn của nó hoặc loại trừ nó. 

+  Các  phương  pháp hỗ  trợ  khác:  Sử  dụng  các  phương  pháp  mô  hình  hóa,  sơ  đồ 

hóa, phương pháp  thống  kê,  phương pháp hồi  qui  tuyến  tính…, đặc biệt  trong phân  tích cạnh tranh sẽ áp dụng mô hình kim cương (diamond model) của Michael M. Porter để xác 

định lợi thế cạnh tranh ngành hàng. 

6.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 

Để thực hiện đề tài này, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp định tính để thu thập phân tích và diễn giải dữ liệu nhằm mục đích khám phá các nhân tố và mối quan hệ đến tính chủ lực của hàng hóa, dịch vụ. Việc sử dụng cơ sở dữ liệu này chủ yếu là để xây dựng  cơ  sở  lý  thuyết  một  cách  khoa  học  và  khách  quan  về  sản phẩm  chủ  lực.  Công  cụ được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là:  Khảo sát thực tế tại  các địa phương, thảo 

luận nhóm; Thảo luận tay đôi; Quan sát    

6.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 

Các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực như: 

Hệ số lợi thế hiển thị ngành (RCA); Hệ số thương mại ròng (NTR); Hệ số địa phương hóa (LQ); Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR); Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)

Trang 5

­ Các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá xét chọn SP chủ lực 

­  Xây  dựng  tiêu  chí  và qui trình xác định 

­  Danh  mục  sản  phẩm chủ  lực 

­ Giải pháp phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020

nghiêm phát triển sản phẩm chủ lực ở một số quốc gia và địa phương trong nước.  Chương  2:  Thực  trạng  xác  định  và  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực  Đồng  bằng 

sông Cửu Long thời gian qua 

Chương  này  chủ  yếu  thực  hiện  việc  phân  tích,  đánh  giá  thực  trạng  xác  định  sản phẩm  và phát triển sản phẩm chủ lực ở ĐBSCL thời gian qua. Đưa ra nhận xét ưu, nhược điểm trong việc xác định  sản phẩm chủ lực của các địa phương trong vùng để làm cơ sở 

cho việc tiến hành xác định sản phẩm chủ lực cấp vùng đến năm 2020. 

Chương 3:  Xác  định  sản  phẩm chủ  lực  và phát  triển sản  phẩm  chủ  lực Đồng 

bằng sông Cửu Long đến năm 2020 

Chương ba chủ yếu giải quyết 3 vấn đề cơ bản là: xây dựng Hệ thống tiêu chí xác định  sản phẩm  chủ lực  ĐBSCL;  đề  xuất  Danh mục  sản phẩm  chủ  lực  ĐBSCL  đến năm 

2020 và đề xuất một  số giải pháp chủ  yếu phát  triển  sản phẩm  chủ lực của ĐBSCL một 

cách bền vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế. 

Chương 1 

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC XÁC ĐỊNH SẢN PHẨM  CHỦ LỰC VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC 

1.1. Tổng quan về sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực  1.1.1. Định nghĩa về sản phẩm chủ lực 

1.1.1.1. Một số quan điểm khác nhau về sản phẩm vụ chủ lực

Trang 6

của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Những ngành hoặc sản phẩm 

này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng 

lãnh  thổ.  Điển  hình nhất  là Nhật  bản,  20 năm  sau  thế  chiến  thứ  2  (1951  –  1973) đã  trở 

thành nền kinh tế lớn của thế giới  với  GDP tăng trưởng gấp 20 lần. Các sản phẩm được 

+ Kế đến là Chương trình "Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2002­2005" đã giới hạn sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp với thuật ngữ “sản phẩm công nghiệp chủ lực”. Theo Chương trình, những sản phẩm này phải có khả năng cạnh tranh cao, tiềm năng thị  trường lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với người sản xuất, đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa và phát triển kinh tế của Thành phố. Ngoài ra, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp  Hồ Chí  Minh giai đoạn 2002­2005 phải vừa có tính hiện đại, vừa có tính văn hóa truyền thống; vừa sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước vừa có thương hiệu mạnh và đặc biệt, phải bảo đảm về lao động và thân thiện với môi trường (Quyết định số: 153 /2002/QĐ­UB) [2]. 

+ Một khái niệm khác có thể tham khảo là “sản phẩm công nghiệp chủ lực” của Tp 

Hà Nội ghi trong “Qui chế đánh giá, xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố 

Hà Nội”, Theo cách mô tả của Qui chế này thì “sản phẩm chủ lực” đã được giới hạn trong phạm vi ngành công nghiệp với các đặc trưng cơ bản là: Có sức cạnh tranh trên thị trường trong  và ngoài nước;  Được tạo ra  trên dây  chuyền  thiết bị  có  công nghệ  ngang  tầm  khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất và chiến lược phát triển của Thành phố trong từng thời kỳ; Đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; Tạo ra mức tăng trưởng ổn định 

ở  mức  cao  và  thuộc nhóm sản  phẩm  xuất  khẩu  chủ  lực  với  tỷ  trọng  đóng góp vào  tổng GDP công nghiệp lớn (Quyết định số 03/2006/QĐ­UB) [17]. 

+  Cùng  một  quan  niệm  với  Tp  Hồ  Chí  Minh  và  Tp  Hà  Nội,  tỉnh  Đồng  Nai  với 

“Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006­2010” cũng tập trung giới hạn ở “Sản phẩm công nghiệp chủ lực” và cho rằng, sản phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc thực  hiện các mục  tiêu, nhiệm  vụ đặt  ra  trong  một  thời kỳ  nhất định.  Đây  là  những  sản phẩm  công  nghiệp  chiếm  tỷ trọng  cao  trong cơ  cấu  ngành công nghiệp  có  nhịp  độ tăng trưởng và tỷ lệ giá trị  gia tăng cao, có vị trí chi phối và  ảnh hưởng đến sự phát  triển đối với  nhiều  sản  phẩm  công  nghiệp  khác  cũng  như  có  sức  cạnh  tranh  cao  trên  thị  trường trong  nước  và  xuất  khẩu  (Quyết  định  số  955/QĐ­UBND).  Nói  cách  khác,  đối  với  tỉnh Đồng Nai thì sản phẩm chủ lực là sản phẩm công nghiệp có thế mạnh về giá trị sản lượng 

và giá trị gia tăng; có sức tác động hay lan tỏa đến các sản phẩm công nghiệp khác, đồng thời có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước [9]

Trang 7

lực  lượng quan trọng nhất  có  ý nghĩa  quyết  định  chiến  trường  như  “quân  chủ  lực”, “bộ 

đội”  chủ lực Lực lượng  này  được  sử  dụng  khi  cần  giải  quyết  các mục  tiêu  chiến lược,

quyết  định  đến  phạm  vi  toàn  cục.  Đặc  trưng  của  chủ  lực  là  tập  trung  với  số  lượng  lớn, được huấn luyện chính qui, chuyên nghiệp, trang bị hiện đại và có khả năng cơ động tác chiến trên diện rộng. 

Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm trong Luận án này là khái niệm dùng để chỉ  sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại  hóa, tức  là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại. Khái niệm sản phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm chế  biến  có  thịt  đóng  hộp,  cá  đóng  hộp,  thịt  đông  lạnh,  cá  đông  lạnh ,  ngành  hóa  mỹ phẩm có bột  giặt, nước xả, chất  tẩy rửa gia dụng, mỹ phẩm Khi  tham khảo các tài  liệu tiếng Anh, tác giả thường thấy xuất hiện các từ hoặc cụm từ có thể được xem là tương ứng với  sản phẩm  chủ  lực  hay  ngành hàng  chủ lực  như:  key products, main products, major products  hoặc key sectors, main sectors. 

­ Main products: Là sản phẩm chính, sản phẩm chủ yếu của một công ty, giữ vị trí 

chủ yếu về sản lượng tiêu thụ, doanh thu hoặc tạo nên hình ảnh doanh nghiệp. Ví dụ main products của Seaprodex gồm: Fresh (cá tươi), Frozen (đông lạnh), Processed (chiến biến), 

­ Major Products: Sản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp hay quốc gia. Ví dụ 

sản  phẩm  chính  của  Sumikin  Bussan  Special  Steel  Co.,  Ltd  là:  Tubes  and  Pipes  (ống nước, ống kết  cấu cho xe ô  tô,  máy  móc  và ống  thép đặc  biệt cho  các nhà máy hóa dầu); Steel Sheets and Plates (thép tấm); Construction Materials (thép xây dựng); Bar and Wire Rods (thanh thẳng, thanh cuộn) và Raw Materials (thép nguyên liệu thô). Hay sản phẩm chính của Nhật: Xe máy, Xe hơi, Thiết bị điện và Máy vi tính…Trong đó, xe gắn máy với nhãn hiệu Honda, Suzuki, Yamha hay xe hơi  với nhãn hiệu Toyota hoặc thiết bị điện tử, 

điện lạnh của Sony… là biểu tượng, là nét văn hóa của nước Nhật xưa và nay. 

­ Key sectors: Ngành hàng hoặc lĩnh vực sản xuất quan trọng, chủ yếu của một địa 

phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia. Ví dụ, để qui hoạch phát triển Ấn Độ đã xác định có

Trang 8

thương mại);  Finance (Tài  chính);  Communication & IT (Công nghệ thông tin và truyền 

thông); Education (Giáo dục); Health & Family welfare (Y tế và phúc lợi gia đình)  

Từ những  kết  quả phân tích đã  trình bày ở phần  trên,  có  thể nhận diện  sản phẩm 

chủ  lực  thông qua định  nghĩa như  sau:  “Sản  phẩm  chủ  lực  là  sản  phẩm hàng hóa  hoặc 

dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn  và năng lực cạnh 

tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi  kéo các ngành nghề khác cùng phát  triển; đồng thời 

nó  còn  có  thể là  sản phẩm  thể hiện  tính đặc  thù riêng,  mang  ý nghĩa  văn hóa  của  một 

nên có thể đảm bảo được khối  lượng cung ứng lớn cho thị  trường đồng thời  chất lượng, 

mẫu mã  kiểu dáng  và  các tính năng  khác phải  giống nhau  giữa  các  cá  thể.  Rõ  ràng,  sản 

và lôi kéo chúng cùng phát triển theo. Mặt khác, quá trình phát triển của sản phẩm chủ lực cũng thường xuyên chịu sự tác động bởi các ngành hàng hoặc sản phẩm khác. Sự liên hệ này được thể hiện thông qua các mối liên hệ chuỗi giá trị (sự kết nối liên tiếp về mặt công nghệ trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) hoặc các mối liên hệ bổ trợ (mối liên hệ tương 

hỗ tạo ra điều kiện thuận lợi  cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm). Với  tính chất lan tỏa như vậy, thực tế cho thấy khi sản phẩm chủ lực phát triển sẽ tạo ra nhu cầu hỗ trợ, 

nhu cầu liên kết…từ đó kích thích, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển theo.  4) Sản phẩm mang tính đặc thù của quốc gia, vùng lãnh thổ 

Một  sản  phẩm  chủ  lực  còn  là  sản  phẩm  thể  hiện  lợi  thế  đặc  trưng  của  quốc  gia, vùng lãnh thổ mà không nơi nào khác có thể sánh kịp. Người tiêu dùng bỏ tiền mua sản phẩm ấy chính bởi những giá trị đặc trưng mà họ thấy được từ sản phẩm, đồng thời đối thủ cạnh tranh khó lòng bắt chước vì thiếu những điều kiện mang tính  lợi thế cạnh tranh của quốc  gia hay  vùng  lãnh  thổ  (vị  trí  địa  lý,  tài nguyên  thiên nhiên,  lao động…).  Ngoài  ra, nhiều  sản phẩm chủ lực còn là  biểu tượng văn hóa của quốc gia  hay vùng lãnh thổ, góp 

phần tạo nên thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế. 

5) Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường 

Sản phẩm chủ lực nhất thiết phải là sản phẩm mà trong quá trình khai thác nguyên liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi  thải bỏ  không gây hại hoặc ít  gây hại  hơn cho môi trường so với sản phẩm cùng loại và được các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc quốc tế công nhận. Hoặc, sản phẩm được tạo ra có khả năng thay thế cho các nguyên liệu 

tự nhiên mà trong quá trình tồn tại, sử dụng hoặc sau khi thải bỏ gây hại ít hơn cho môi 

trường so với sản phẩm được thay thế. 

1.1.1.4. Điểm khác cơ bản của khái niệm sản phẩm chủ lực trong Luận án 

Có thể thấy, về cơ bản Luận án đã kế thừa có chọn lọc các khái niệm mà các tài liệu trước đây đưa ra. Tuy nhiên, nếu xét ở phạm vi nội dung và ý nghĩa cũng như so sánh với 

từng tài liệu riêng rẻ thì Luận án đã đưa ra nhiều điểm mới. 

Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa Luận án với các tài liệu về sản phẩm chủ lực 

Khái niệm trong Luận án  Các khái niệm trước đây

Trang 9

trên  tiềm  năng,  lợi  thế  chung  của  vùng, 

miền quyết định một cách khách quan. 

Xác định sản phẩm của địa phương, dựa vào điều kiện sản xuất đặc thù của địa phương và 

do doanh nghiệp quyết định theo chủ quan Bao  gồm  cả  sản phẩm  công nghiệp, nông 

nghiệp ­ thủy sản và dịch vụ 

Thường  chỉ  đề  cập  chủ  yếu  đến  sản  phẩm công nghiệp, hoặc nông nghiệp 

Sản  phẩm  không  những  mang  giá  trị  vật 

1)  Xác định  đúng  sản phẩm chủ  lực đồng nghĩa  với  việc  xác  định  được  năng  lực 

cạnh  tranh  cốt  lõi  của  quốc  gia,  vùng  lãnh  thổ…,  để  từ  đó  có  chính  sách  đầu  tư  đúng 

có tác động lôi  kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ phát triển. 

Xác định đúng sản phẩm chủ lực nghĩa là đã xem xét một  cách đầy đủ  các ngành nghề có liên quan trong nền kinh tế. Điều này có nghĩa, khi tập trung đầu tư phát triển một ngành hàng chủ lực nào đó sẽ đồng thời phải đầu tư cho các ngành có liên quan khác làm cho chúng có điều kiện phát triển theo. Ngược lại, cũng thông qua quá trình xem xét này, 

có  thể  xác  định  được  những  ngành  nào  có  khả  năng  lan  tỏa  đến  nó  để  có  chính  sách 

khuyến khích đầu tư và qui hoạch phát triển một cách tương ứng và đồng bộ. 

3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng nền kinh 

tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu. 

Sản phẩm chủ lực của quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp, thực trạng và tương lai phát  triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó. Căn cứ vào định vị này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch 

cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất ổn kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững

4)  Xác  định  đúng  sản  phẩm  chủ  lực  cũng  có  nghĩa  là  xác  định  đúng  đối  tượng  khách hàng và  thị  trường  tiêu  thụ để  tăng  cường áp  dụng  các hệ  thống quản  lý  và thực  hành chất lượng phù hợp. 

Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được những sản phẩm bảo đảm chất lượng, thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng. Muốn vậy, các nhà sản xuất phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn 

diện theo chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng.  1.1.3. Một số lý thuyết liên quan đến xác định và phát triển sản phẩm chủ lực  1.1.3.1. Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723­1790) 

Adam  Smith được  coi  là  cha đẻ  của kinh  tế học hiện đại.  Tác phẩm  lớn nhất  của ông là 'The Wealth of Nations' xuất bản 1776. Trong tác phẩm, ông nhấn mạnh lợi ích của chuyên môn hoá và nhu cầu sinh ra hệ thống cơ chế thị trường, phản hồi qua hệ thống giá. 

Có lẽ tư tưởng gắn liền với ông là Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantage). Trong 

mô hình kinh tế cổ điển, các nhà học giả cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm

Trang 10

đối  về công nghệ) và các nước đang phát triển  (có lợi  thế  tuyệt đối  về nguồn lực)  thông 

qua  bù đắp  sự  yếu  kém  về  khả  năng  sản  xuất tư  liệu sản  xuất  và  yếu  kém về  kiến thức 

công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối [55]. 

1.1.3.2. Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1772­1823) 

Học thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các 

quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị  lao động. Theo học thuyết này thì  ngoại 

thương  có  lợi  cho  mọi  quốc  gia  miễn  là  xác  định  đúng  lợi  thế  so  sánh.  Nghĩa  là  việc 

nghệ  như  nhau:  các  nước  phát  triển có  cung  về tư  bản nhiều  hơn các  nước  đang  phát

triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi  nhân công lớn hơn. Ngược lại  số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước phát triển. Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại 

ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công. 

Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế 

so sánh cao một cách  tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi  thế  so  sánh  về  những hàng  hóa này.  Điều  này  lý  giải  vì  sao Việt  Nam lại xuất khẩu nhiều  sản  phẩm  thô  hoặc  sơ  chế  như  dầu  thô, than  đá,  thủy  sản  đông  lạnh   hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép  còn nhập khẩu máy móc, 

thiết bị từ các nước phát triển [3]. 

1.1.3.3. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Micheal E. Porter (1772­1823) 

Michael E. Porter là người đã đưa ra môn học về chiến lược cạnh tranh và mô hình phân tích cấu trúc ngành. Về lý luận cạnh tranh, ông đã xuất bản ba cuốn sách nổi  tiếng thế giới và được sử dụng trong hầu hết các chương trình đào tạo MBA của các nước. Đó là cuốn ''Chiến lược cạnh tranh'' xuất bản năm 1980, cuốn ''Lợi thế cạnh tranh'' năm 1985 và cuốn  ''Lợi  thế  cạnh  tranh  quốc  gia”  vào  năm  1990.  Trong  tác  phẩm  Lợi  thế  cạnh  tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Kim cương”. Theo Porter thì không một quốc gia nào có được khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành mà chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại  phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của  quốc  gia  đó. Khi nền  tảng  của  cạnh  tranh  càng  chuyển  dịch sang  sự  sáng  tạo  và  tri thức mới  thì vai  trò  của quốc  gia càng  tăng lên. M.  Porter  cho  rằng  các nền  kinh  tế đều phải trải qua 3 giai đoạn phát triển cạnh tranh, đó là: cạnh tranh dựa vào yếu tố sản xuất, cạnh  tranh dựa vào đầu tư, cạnh tranh dựa vào đổi mới và sáng tạo. Các giai đoạn cạnh tranh phản ánh nguồn lợi thế đặc trưng, bản chất và quy mô của những ngành phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế. 

Việc phân chia các giai đoạn cạnh tranh chỉ mang tính chất tương đối và các quốc gia hay các địa phương không nhất thiết phải đi qua tất cả các giai đoạn, nhưng việc xác

Trang 11

giúp  cho  các  doanh  nghiệp  có  được  “Quyền  lực  thị  trường”  để  thành  công  trong  kinh 

doanh  quốc tế.  Theo  Michael.E Porter,  lợi  thế  cạnh  tranh  của quốc  gia,  địa phương hay 

Nền kinh tế định  hướng sáng tạo 

Hiệu quả nhờ 

chi phí đầu vào 

Hiệu quả nhờ  đầu tư mạnh 

Hiệu quả nhờ  đổi mới

các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Ông  còn  đưa ra  thêm  2  yếu  tố  bổ  sung là  vai  trò  của nhà nước  và  yếu  tố thời  cơ.  (Xem 

CÁC NGÀNH  CÔNG NGHIỆP  PHỤ TRỢ VÀ CÓ  LIÊN QUAN 

CÁC ĐIỀU  KIỆN VỀ  CẦU 

ĐIỀU KIỆN  YẾU TỐ SẢN  XUẤT 

SỰ  NGẪU  NHIÊN 

CHÍNH  PHỦ

Trang 12

Ban  đầu,  Porter  cung  cấp  các  nguyên  lý  cụm  cho  các  cụm  quốc  gia  và  quốc  tế nhưng  sau  đó đã  nhận  ra sự  thích  hợp  cho  các cụm  vùng  kinh  tế  trong nội  bộ quốc gia. Một cụm giống như chuỗi giá trị trong sản xuất hàng hoá, dịch vụ, trong đó các ngành sản xuất được liên kết với nhau bởi dòng hàng hoá và dịch vụ mạnh hơn dòng liên kết chúng với phần còn lại của nền kinh tế. Các quan hệ trong cụm được phân thành 3 loại: (1)  quan hệ  mua  ­  bán  bởi  sự  tập  trung  và  hội  nhập  dọc  giữa  quá  trình  sản  xuất chính với các đầu vào và phân phối hàng hoá và dịch vụ; 

(2) quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh và các đối tác nhằm khai thác thông tin về sản phẩm và qui trình, mở rộng sự cải tiến và các liên kết chiến lược; và 

(3) quan hệ giữa thị phần và nguồn tài nguyên bằng sự chia sẻ công nghệ, lực lượng lao động và thông tin. 

Việc sử dụng khái niệm cụm như là công cụ để hiểu được quá trình phát triển sản phẩm chủ lực ở cấp độ vùng và sự ảnh hưởng của nó đến việc định dạng và chuyển giao chính sách phát triển cụm và phát triển kinh tế vùng. Ở cấp vùng, các chính sách phát triển cụm được hỗ trợ bởi các cơ quan phát triển vùng và gắn với các chiến lược phát triển địa phương. Trong trường hợp này, sự tiếp cận cụm về nguyên tắc được sử dụng như là công 

cụ phát triển về ngành sản phẩm và không gian liên kết hoạt động của ngành sản phẩm đó.  1.1.3.5 Phát triển bền vững sản phẩm chủ lực 

Năm 1980, lần đầu tiên trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (được Hiệp hội 

Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế ­ IUCN công bố), thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện với nội dung rất đơn giản:  "Sự phát  triển của nhân loại  không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Đến năm 1987, khái niệm này được phổ 

biến  rộng  rãi thông  qua  nội  dung  của Báo  cáo  Brundtland (còn  gọi  là  Báo  cáo Our  Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới ­ WCED (nay là Ủy ban  Brundtland).  Theo báo  cáo này  thì  phát  triển bền  vững  là "sự phát triển  có  thể đáp  ứng

Trang 13

CON  NGƯỜI 

SẢN  PHẨM  CHỦ LỰC 

TÀI  NGUYÊN  LỢI 

và sử dụng phân gia súc. 

3) Liên  quan đến yếu tố  lợi nhuận: Phát triển sản phẩm chủ lực phải tạo ra giá trị 

một cách công bằng cho người tiêu dùng và các bên liên quan trong chuỗi giá trị. Phát triển sản phẩm chủ lực cần bảo đảm  khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp 

và  các bên liên quan,  tạo  ra giá  trị  hữu dụng cao  cho người  tiêu  dùng, đảm bảo  nối  kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với  các công ty lớn và các công ty đa quốc gia, công 

nghiệp hóa, hiện đạt hóa và không ngừng tăng quy mô sản xuất hợp lý [42]. 

1.2 Phương pháp xác định và phát triển sản phẩm chủ chủ lực  1.2.1. Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực 

1.2.1.1 Khái niệm tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực 

Tiêu chí  xác định sản phẩm chủ lực là một  hoặc một  số chỉ tiêu định lượng hoặc định  tính mà  theo đó, người  ta  có  thể nhận biết  được sản phẩm  nào  có ưu  thế  trong  sản xuất, kinh doanh hoặc cạnh tranh trên thương trường để công nhận là sản phẩm chủ lực. Theo quan điểm của một số  nhà nghiên cứu thì  có thể tiếp cận vấn đề  này từ các 

+ Nhóm tiêu chí đủ: là những yếu tố mà sản phẩm chủ lực đòi hỏi  về phía xã hội. 

Chẳng hạn như: phải có tài nguyên, nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng thương hiệu, chính

Trang 14

chương trình hay qui định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương [2], [8]   1.2.1.3. Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực 

Việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần. Cụ thể: 

+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách quan của hàng hóa. Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, của 

xã hội  cũng như của nhà quản lý. Thông qua các tiêu chí đánh giá, người  ta có thể nhận biết được sản phẩm chủ lực đang sở hữu những tính năng, chất lượng gì và có khả năng 

thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng tới đâu. 

+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực còn là những yêu sách về phía xã hội và nhà 

quản lý. Nếu đáp ứng được những yêu sách này thì sản phẩm sẽ đủ điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực. Như vậy, cũng có thể xem hệ thống tiêu chí đánh giá là khuôn mẫu cho các chính sách đầu tư về công nghệ, sử dụng tài nguyên, đào tạo tay nghề và các chính sách hỗ 

trợ của Nhà nước. 

+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, khi được thừa nhận, là một văn bản có giá 

trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà hoạch định chính sách  và  nhà  quản  lý.  Để  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực,  các  nhà  sản  xuất  phải  điều  chỉnh công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng hợp chuẩn. Sẽ không  còn  tùy  tiện,  chủ quan xem  thường qui  chuẩn  thường  thấy  ở  đối  tượng này.  Nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ 

chức thực hiện thích hợp. 

+  Tiêu  chí  xác  định  sản  phẩm  chủ  lực  là  một  bản  tuyên  ngôn  về  chất  lượng  của 

hàng hóa,  thể  hiện  sự  cam  kết  về  trách  nhiệm  của doanh nghiệp, nhà  sản  xuất với  cộng

Trang 15

đồng,  xã  hội.  Thông  qua  hệ  thống  tiêu  chí  xác  định  sản  phẩm  chủ  lực,  người  tiêu  dùng 

doanh của toàn vùng. 

(2) Hệ số địa phương hóa của sản phẩm trong vùng (LQ  ir  ) 

Hệ số địa phương hóa (Location Quotient ) giúp đo lường mức độ tập trung chuyên môn  hóa  của  vùng,  miền  hay  địa  phương  về  lĩnh  vực  khu  vực  i  trong  mối  quan  hệ với vùng lãnh thổ lớn hơn R (thường là một quốc gia) và trong toàn bộ nền kinh tế (tức là, tất 

cả  các  lĩnh  vực  của nền  kinh  tế của  một  quốc  gia).  Thông qua hệ số này,  người  ta thấy được mức độ tập trung chuyên môn hóa của một ngành hay sản phẩm nào đó tại một vùng, miền hay địa phương so với mức độ tập trung chuyên môn hóa ngành, sản phẩm đó của vùng lớn hơn hay trên cả nước ((Maggioni và Riggi năm 2008). 

tranh toàn cầu (Florida State University, 2010). 

(3) Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm trong vùng (Grw). 

Tiêu chí này cho biết mức độ tăng trưởng về sản lượng, giá trị sản lượng hoặc giá trị gia tăng của sản phẩm chủ lực. Nó phản ảnh khả năng và triển vọng phát triển của hàng hóa chủ lực trong tương lai. 

Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm có thể nhận được từ số báo cáo hàng năm của địa hoặc tính theo công thức : 

(1.2)

Trang 16

đến  toàn bộ ngành  kinh  tế  (nông nghiệp,  công  nghiệp,  thương mại dịch  vụ)  sản phẩm i. 

Nếu  CGrw <  1,  việc  phát  triển  sản  phẩm  i  sẽ  làm  tăng  tỷ  trọng  giá  trị  sản  phẩm  i  trong 

ngành  nên  sẽ  ảnh  hưởng  tiêu  cực  đến  tăng  trưởng  ngành  kinh  tế  (kéo  giảm  tốc  độ  tăng 

trưởng của ngành); Nếu CGrw >1, việc phát triển sản phẩm y sẽ làm tăng tỷ trọng giá trị sản 

phẩm i trong ngành nên sẽ ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng ngành kinh tế (đẩy nhanh 

tốc độ tăng trưởng của ngành). 

(5) Tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm so với toàn vùng (R EX ) 

Là tỷ lệ so sánh giữa giá trị  xuất  khẩu của sản phẩm chủ lực với  tổng giá trị  xuất 

khẩu  của  toàn  vùng.  Tiêu  chí  này  phản  ảnh  tầm quan  trọng  của  sản phẩm  chủ  lực  trong 

vì nó ảnh hưởng lớn đến thành tích xuất khẩu chung của toàn vùng. 

(6) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu nội địa (RCA  D  ) 

Là  chỉ  tiêu  phản  ảnh  khả  năng  cạnh  tranh  trong  xuất  khẩu  của  vùng  về  một  sản phẩm cụ thể trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả nước về sản phẩm đó. Nếu tỷ trọng  xuất  khẩu  của  vùng  về  sản phẩm  chủ  lực lớn hơn  tỷ trọng  sản phẩm cùng  loại  đó trong tổng xuất khẩu của cả nước thì vùng, địa phương đang xét được coi là vùng có lợi thế so sánh về loại sản phẩm đó. 

/

= Trong đó: 

EX ir : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của vùng, địa phương r 

EXr: Tổng giá trị xuất khẩu của vùng, địa phương r 

EX iN : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của cả nước 

EXN: Tổng giá giá trị xuất khẩu của cả nước Nếu hệ số RCA D lớn hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là có lợi thế  so  sánh  nội  địa  về sản phẩm  i.  Hệ  số này  càng  cao  thì lợi  thế  so  sánh càng  cao. Ngược lại, nếu RCAD nhỏ hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là không 

có lợi thế so sánh nội địa về sản phẩm i. 

(7) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu thế giới của sản phẩm (RCA W ) 

Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả thế giới về hàng hóa đó. Nếu tỷ trọng xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực lớn hơn tỷ trọng hàng hóa đó trong tổng xuất khẩu của cả thế giới thì quốc gia đó được coi là có lợi thế so sánh về hàng hóa đó. 

(1.6) (1.5)

Trang 17

/

= Trong đó: 

EXiN: Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của quốc gia 

EX N : Tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia 

EXiw: Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của thế giới 

EX W : Tổng giá giá trị xuất khẩu của cả thế giới 

Nếu hệ số RCAW lớn hơn 1 thì quốc gia đang xem xét được coi là có lợi thế so sánh 

quốc  tế  về  sản phẩm  i.  Hệ số  này  càng  cao  thì  lợi thế  so  sánh  càng  cao.  Ngược  lại, nếu 

ngành  I/0. 

10) Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) 

DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng thông qua  xem  xét  tính  hiệu  quả  của  nguồn  lực  trong  nước  được  sử  dụng  để  sản  xuất  ra  sản phẩm. DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng với 1 đơn vị tiền tệ thu được từ sản phẩm đem bán. Do đó, DRC nhỏ hơn 1 có nghĩa là sản phẩm có lợi thế so sánh và ngược lại. DRC càng nhỏ thì lợi thế so sánh càng cao. Công thức tính: 

1  ( 

PV  DRC

Trang 18

Chỉ  tiêu này phản ảnh bối  cảnh tác động từ bên ngoài  có thuận lợi hay không đối 

với  quá  trình  sản  xuất  và  cung  ứng hàng hóa  chủ  lực.  Ngành công nghiệp  hoặc dịch  vụ 

Sản xuất gắn với  môi  trường đang được xem là “vũ khí” tăng sức cạnh tranh của 

doanh  nghiệp  trên  thương  trường.  Một  ngành  sản  xuất  không phá hủy  cân  bằng hệ  sinh 

thái,  không  ô  nhiễm  môi  trường  tự  nhiên,  không  ảnh  hưởng  đến  sức  khỏe  cộng 

thống tiêu chí cũng như từng tiêu chí cụ thể. 

+ Về điểm chuẩn tối đa. Đây là biểu thị mức độ đạt được của hệ thống các tiêu chí; 

là cơ sở để đưa ra quyết định việc có công nhận một sản phẩm nào đó là sản phẩm chủ lực hay không (xét về mặt định lượng). Điểm chuẩn tối đa của hệ thống có thể là 10, 20, 50 hoặc 100, tùy vào quyết định chủ quan của người xây dựng. Tuy nhiên, để đảm bảo việc đánh giá chính xác đến mức phần trăm (1/100), cần chọn theo thang điểm ‘bách phân’, tối 

đa là 100 điểm (thực tế nhiều địa phương trong nước đã làm). 

+ Về điểm chuẩn tối đa cho từng tiêu chí. Đây là biểu thị mức độ đạt được của một 

tiêu chí cụ thể; là cơ sở xem xét mức độ đạt được về mặt định lượng của một  yếu tố nào 

đó. Do mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên khi xây dựng thang điểm chuẩn cho mỗi tiêu chí, cần tiến hành theo phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi để thu thập thông tin, xử lý và tìm ra trọng số cho mỗi tiêu chí. 

Nếu gọi i (i=1,2,3,4,5 n), là các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi trong thang đo 

và cũng là trọng số của phương án lựa chọn; tỷ lệ người chọn trả lời phương án là r (r=% của số người tham gia trả lời); vậy, trọng số của một tiêu chí  cụ thể nào đó chính là ∑ir. 

Từ đó, nếu gọi t là tiêu chí thứ t (với t = 1,2,3,4,5 m) thì tổng trọng số của cả hệ thống các tiêu chi được biết là ∑∑ir. Bây giờ gọi P là tổng điểm chuẩn tối đa của hệ thống và P t 

là điểm chuẩn tối đa của tiêu chí. Vậy, điểm chuẩn tối đa của một tiêu chí được tính bằng công thứcsau:

(1.11)

Trang 19

Qua nghiên cứu qui trình  đánh giá, xét chọn sản phẩm  của các địa phương tác giả 

nhận thấy, để đảm bảo được yêu cầu này, ĐBSCL cần thực hiện theo qui trình với 4  giai 

đoạn với các nội dung công việc chủ yếu như sau: 

Hình 1.4 Qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực 

Nguồn: Tác giả tổng hợp và xây dựng  1) Giai đoạn chuẩn bị 

Thiếu chuẩn  Không đủ chuẩn 

HOÀN THIỆN 

Đủ chuẩn 

GIAI ĐOẠN CÔNG  NHẬN TÔN VINH

+ Xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá xét chọn sản phẩm chủ lực cho toàn vùng. Bộ tiêu 

chí này phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu như:

·  Bảo đảm tính định tính và định lượng. Cần ưu tiên xem xét các tiêu chí định lượng kết hợp cân nhắc một số tiêu chí định tính cần thiết

·  Bảo đảm cả điều kiện cần và điều kiện đủ. Tức Bộ tiêu chí phải vừa thể hiện 

rõ khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường, đồng thời chỉ ra được những bức xúc, đòi hỏi mà xã hội, địa phương cần hỗ trợ. 

Để bảo đảm khách quan, khoa học, thiết nghĩ công việc này cần giao cho các nhà nghiên  cứu  và  chuyên  môn  trong  từng  lĩnh  vực  như  sản  xuất,  kinh  doanh,  xuất  nhập khẩu…phối hợp thực hiện. 

+ Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của vùng. Một sản 

phẩm  có thể chưa trở thành chủ lực của vùng do còn thiếu các điều kiện hỗ trợ cần thiết như đầu tư, xây dựng và quảng bá thương hiệu…Do đó, các địa phương cần thống nhất xây dựng chính sách ưu tiên, hỗ trợ chung để sản phẩm đó trở thành chủ lực của vùng. 

Để đảm bảo tính hiệu lực khi thực thi, việc hoạch định chính sách phải được các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính, kế hoạch đầu tư, quản lý nhà nước 

về sản xuất kinh doanh phối hợp với bộ phận chỉ đạo chung xây dựng. 

+ Thiết kế các thủ tục đăng ký, mẫu biểu giấy tờ cần thiết. Cần hoàn thiện các qui 

định, hướng dẫn, mẫu biểu giấy tờ cần thiết…để làm cơ sở pháp lý và tạo ra tính thống nhất trong chỉ đạo cũng như quản lý hành chính trong quá trình thực hiện. 

phương tiện truyền thông phù hợp. 

+ Tiếp nhận đăng ký và sàng lọc đối tượng tham gia chương trình. Nhằm bảo đảm 

tính khả thi và tập trung, tránh dàn trải, bộ phận chỉ đạo tiếp nhận đăng ký của các doanh nghiệp và tiến hành sàng lọc với 2 nội dung sau:

Trang 20

phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương cũng như địa phương [2], [8], [16], [17]   1.3 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm chủ lực của một vài quốc gia trong  khu vực Đông Nam Á 

Nhiều  quốc  gia trên  thế  giới,  đặc  biệt  là  các  nước  Đông  Nam  Á  có  nét  tương đồng  về  nhiều  mặt  như  vùng  kinh  tế  ĐBSCL  của  Việt  Nam,  đã  rất  khó  khăn  trong phát triển kinh tế vào đầu nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, gần đây đã phát triển vượt bậc nhờ vào lựa chọn và phát triển sản phẩm/ngành sản phẩm phù hợp theo mô hình 

cụm phát triển của M. Porter. Xin dẫn chứng 3 trường hợp điễn hình nhất như sau:  1.3.1 Kinh nghiệm của Indonesia 

Chính phủ Indonesia cho rằng, với một đất nước mà kinh tế nông nghiệp còn giữ vai trò chủ lực, nông dân và nông thôn vẫn còn là địa bàn quan trọng thì nhiệm vụ trước hết  là phải  có những chính sách tác động mạnh mẽ vào công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Chính phủ cũng đã tiến hành cải  tổ lại  khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục đích tư nhân hóa một bộ phận quan trọng đồn điền của Nhà nước, thu hút đầu tư của tư bản nước ngoài để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu… Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân trong nước tham gia kinh doanh đồn điền trên  cơ  sở  Nhà  nước  cho  vay  vốn  với  lãi  suất  thấp,  miễn  giảm  thuế  kinh  doanh  và  cho phép  phối  hợp  với  Nhà  nước  để  thực  hiện  hợp  đồng  xuất  khẩu.  Từ  năm  1968, khuyến nông  được Indonesia  xác  định  là  nhiệm  vụ quan  trọng  hàng  đầu. Trong  đó,  việc  cung cấp lúa gạo, ổn định lương thực được xem như là mục tiêu chính  của kế hoạch phát triển. Nhờ chính sách khuyến khích sản xuất nông sản và cải tạo hệ thống lưu thông nông sản như vậy mà công nghiệp chế biến của Indonesia đã có những bước tiến căn bản. Là nước nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới, Indonesia bắt đầu tự túc được lương thực từ năm 1981. Các  loại  cây  công  nghiệp  được  chú  trọng  phát  triển  để  tiêu  thụ  trong  nước  và  tham  gia xuất khẩu trên thị trường như: cà phê, ca cao, cao su, hồ tiêu hạt trắng và hồ tiêu hạt đen

Trang 21

Trong thời kỳ 1985­1996, Indonesia tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu dầu cọ, cao 

su, sắn, hoa, trái cây, cơm dừa và dầu dừa, gỗ. 

Những năm cuối thế kỷ XX do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, nền kinh 

tế  Indonesia  bị  thiệt  hại  nặng  nề.  Tình  hình  chính  trị  bất  ổn  và  hạn  hán  xảy  ra  nghiêm 

trọng đã  làm  cho  nông nghiệp nước này  không phát  triển được.  Sau  khi  Chính  phủ mới 

được thành lập (6/1999) kinh tế Indonesia nói chung và nông nghiệp nói riêng đã có dấu 

hiệu phục hồi: chiến lược phát triển nông nghiệp mới của Indonesia thể hiện một cuộc cải 

tổ sâu sắc, đặc biệt là trong lĩnh vực lưu thông nông sản như: xóa bỏ độc quyền của Bulog 

trong nhập khẩu lúa mì, bột mì, đậu tương, tỏi  và gạo;  cắt  giảm thuế quan với  tất cả các 

hàng  thực phẩm xuống mức  cao nhất  là 5%;  cho  tự do buôn bán  giữa  các vùng,  loại  bỏ 

những cản trở đối với việc buôn bán và vận chuyển một số hàng hóa, giảm các cản trở phi 

thuế quan đối với thị trường nông sản, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh nhỏ có cơ hội 

tăng thu nhập; mở rộng tự do buôn bán thực phẩm, chuyển dần từ cơ chế hành chính sang 

các công cụ tài  chính, thị trường để quản lý  lương thực và ổn định giá; đảm bảo giá sàn 

theo mức thích hợp  cho  từng  vùng để hỗ  trợ nông dân,  thay  cho  việc bảo hộ người  tiêu 

xã  hội  của  Philippines. Phần  lớn  sản  xuất  nông nghiệp là  các  loại  cây  trồng cho tiêu  thụ 

trong nước như gạo và ngô, và cây  trồng để xuất  khẩu như dừa, mía và  chuối. Trước đây, 

sản xuất nông nghiệp thường được tiến hành theo quy mô nhỏ, nhưng hiện nay nó được tổ

chức thành  các đồn rộng lớn.  Ngay  từ  thập kỷ  60,  Philippines  đã  tiến hành  cuộc  cách mạng  xanh  nhằm  tăng  năng  suất  cây  trồng  bằng  cách  áp  dụng  tiến  bộ  khoa  học  kỹ thuật  như  lai  tạo  ra  các  giống  lúa  cao  sản,  phân  bón  hóa  học,  thuốc  trừ  sâu  và  xây dựng hệ thống thủy nông.  Đã từ lâu,  Philippines là quê hương của  giống lúa cao sản tại  châu  Á;  ở  đây  có  Viện  Nghiên  cứu  Lúa  Quốc  tế  (IRRI)  và  là  nước  đi  đầu  trong việc  áp dụng những giống lúa do IRRI tạo ra. Sản xuất lúa, dừa, mía là những ngành nghề  có  qui  mô  lớn  và  mang  tính  truyền  thống.  Trung  tâm  sản  xuất  lương  thực  của Philippines  là  vùng  Mindacao,  chiếm  34%  diện  tích  Philippines,  đóng  góp  34%  cho sản  xuất  nông  ngư  nghiệp  của  Philippines,  Chính  phủ  đầu  tư  1/3  ngân  sách  nông nghiệp xây dựng vùng này thành vùng sản xuất chuyên canh lúa. Ngành sản xuất dừa 

là ngành  chính  trong  nền  kinh  tế  Philippines,  đặc  biệt  trong  việc  thu ngoại  tệ  và  tạo công ăn việc làm. Khoảng 90% lượng dừa của nước này được chế biến thành cùi dừa khô. Trong đó, 5% lượng cùi dừa khô là để xuất khẩu, 95% chế biến thành dầu ăn và dầu  công  nghiệp  khác.  Mía  đường  được  trồng  trên  những  đồn  điền  lớn,  đường Philippines được nhập theo quota ưu đãi vào thị trường Mỹ. 

Vì  là  một  nước  nông  nghiệp,  nên  Philippines  đã  chọn  phát  triển  ngành  công nghiệp  chế  biến  nông  sản.  Chính phủ  Philippines  đề  ra  ba  mục  tiêu  của  ngành công nghiệp  chế  biến  nông  sản  là  bảo  đảm  xuất  khẩu các  mặt  hàng  truyền  thống,  tìm  các nguồn  hàng  nông  nghiệp  mới  để  xuất  khẩu  và  tự  sản  xuất  để  thay  thế  nhập  khẩu. Philippines  quyết  định  thay  đổi  chính  sách  nông  nghiệp  từ  bảo  trợ  sang  tăng  cường cạnh tranh. Một loạt các chính sách phát triển nông nghiệp ra đời như: 

­ Luật  “hiện đại hóa nông, ngư nghiệp" (AFMA­1998),  cung cấp các chính sách 

cơ bản  cùng  với  các biện pháp để hiện đại hóa nông nghiệp và thủy sản. Luật này nhằm mục đích:  (1) thực hiện các biện pháp  theo tầm quan trọng của nông nghiệp và thủy sản (2) đảm bảo sự lãnh đạo mạnh mẽ của Bộ Nông nghiệp và (3) nâng cấp ngắn hạn và dài hạn khả năng hành chính của Bộ Nông nghiệp và các tổ chức liên quan. 

­ Dự án GMA là một  kế hoạch trung hạn của Philippines  (1999­2001) nhằm thực hiện  AFMA­1998.  Theo kế  hoạch  này,  dự  án  lúa  bao  gồm:  (1)  thực hiện  an  ninh lương thực quốc gia, (2) xóa đói giảm nghèo ở các làng nông nghiệp, (3) tăng thu nhập cho nông dân, (4) thực hiện nông nghiệp bền vững, và (5) nâng cấp khả năng của nông dân. 

­ Chương trình nghị sự của Bộ nông nghiệp (2001) bao gồm 11 mục: (1) thúc đẩy việc thực hiện các quy định chủ yếu của đạo luật Hiện đại hóa nông nghiệp thủy sản năm

Trang 22

1997,  (2)  tăng  cường  các  biện pháp  chống  buôn  lậu  và  cải  thiện môi  trường đầu  tư,  (3) 

triệt để triển khai thực hiện Luật Thuỷ sản, (4) sắp xếp các cơ sở hạ tầng, bao gồm cả các 

cơ  sở  thủy  lợi  và  đường  giao  thông,  (5)  thiết  lập  một  hệ  thống  tài  trợ  cho  nông  dân  và 

những người  tương tự, (6) thảo luận về tài  nguyên nước trong nông nghiệp, (7) xem xét 

các dự án GMA, (8) xem xét ưu đãi trong thúc đẩy phát triển kinh doanh và tài chính, (9) 

xúc tiến phát triển ở Mindanao, (10) cung cấp hỗ trợ để tái lập các quỹ thuế dừa, và (11) 

củng cố tổ chức của nông dân (ASEAN­JAPAN CB Project). 

Có thể nói đây là một tổ hợp các chính sách liên quan đến sản xuất, nghiên cứu 

chuyển  giao  công  nghệ,  khuyến  nông,  phát  triển  kinh  tế  nông  thôn,  thương  mại,  tài 

chính  và  thị  trường  với  nhiều  chương  trình,  giải  pháp  cụ  thể  nhằm  tăng  cường  hiệu 

Lan.  Chuyển  dịch  cơ  cấu  kinh tế  theo  hướng  giảm  dần  tỷ  trọng  GDP  cũng  như  xuất 

khẩu trong nông nghiệp.  Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành  kinh 

tế chủ lực làm  nền tảng cho phát triển kinh tế của quốc gia này. Sản xuất nông nghiệp 

được phân bổ tập trung theo cụm ở rải rác khắp nơi trên lãnh thổ như:  vải thiều, dâu 

tây và  các loại trái  cây khác  tập trung ở Bắc Thái  Lan; lúa  gạo,  mía, sắn được trồng 

nhiều  ở khu vực Đông Bắc;  khu vực Miền  Trung Thái Lan nổi tiếng về lúa gạo xuất 

khẩu, nơi  đây  được  mệnh danh  là  “Nồi  cơm  của  Châu  Á”.  Tương  tự,  vùng  quê  phía 

để  cải  thiện  toàn  diện  nông  nghiệp  trong  2  năm  (2002  ­  2004).  Trong  đó  chú  trọng nâng cao  chất lượng sản phẩm, phát triển loại giống tốt, mở rộng tưới tiêu, phát triển công nghệ sinh học, phát triển các sản phẩm mới, đặc biệt khuyến khích và cho phép nông  dân  tham  gia  trực  tiếp  vào  các  kế  hoạch  phát  triển  nông  nghiệp  và  nông  thôn. (ASEAN­JAPAN CB Project). 

Về công nghiệp, Thái Lan  tập trung phát triển mạnh  công nghiệp chế biến với 

sự  phân bố đều khắp  ở  các  địa phương.  Công  nghiệp chế  biến  lúa  gạo  của Thái  Lan bao gồm hàng chục ngàn cơ sở xay xát lớn, vừa và nhỏ cộng với hệ thống kho chứa gạo,  kho  dự  trữ,  các  xí  nghiệp  sản  xuất  bao  bì  đóng  gói  ở  khắp  các  thị  trấn,  thành phố,  bến  cảng.  Mặt  hàng  gạo  sấy  của  Thái  Lan  đang  "một  mình,  một  chợ"  và  Thái Lan  đang  đẩy  mạnh  sản  xuất  mặt  hàng  này  lên  tới  30%  khối  lượng  gạo  xuất  khẩu. Công nghiệp mía đường, công nghiệp chế biến sắn của Thái Lan cũng khá phát triển với sản lượng khoảng gần 4 triệu tấn sắn khô/năm. Đặc biệt, công nghệ chế biến trái cây  và  rau  xuất  khẩu của  Thái  Lan  phát  triển  khá  nhanh  với  rất  nhiều chủng  loại  từ dứa,  xoài, dừa,  chuối, bưởi, măng cụt,  rau  thơm  và  đặc biệt  là  đồ  gia  vị   Hiện  nay, Thái  Lan  là  một  trong những  nước  đứng đầu  thế  giới  về  xuất  khẩu  rau quả chế  biến sang thị trường các nước Mỹ, Nhật, EU. Trồng và chế biến cao su cũng là ngành kinh 

tế có giá trị cao ở Thái Lan. Nhằm khuyến khích nông dân chế biến tập trung để nâng cao  chất  lượng  sản  phẩm  và  giảm  chi  phí  sản  xuất,  tăng  sức  cạnh  tranh,  Chính  phủ Thái Lan hỗ trợ cho nông dân sơ chế 100% mủ cao su trên cơ sở các hộ có nhu cầu sơ chế phải tự nguyện liên kết lại trong các tổ chức tự quản như tập đoàn, hợp tác xã,  

và  đăng  ký  với  Quỹ  hỗ  trợ  trồng  lại  cao  su  (ORRAF)  để  được  xem  xét  đầu  tư  nhà máy chế biến có qui mô, công suất thích hợp (nhà máy do ORRAF đầu tư 100% vốn 

và giao cho tập đoàn hoặc hợp tác xã tự quản lý). Hiện nay,  Thái Lan là quốc gia có nền công nghiệp chế biến cao su đạt trình độ cao và một trong những nước xuất khẩu cao su hàng đầu thế giới. 

Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa,  tự  do  hóa  thương  mại,  nông  nghiệp  Thái  Lan  cũng  phải  đối  mặt  với  nhiều  khó

Trang 23

cao,  giá  nhân  công  tăng;  cơ  sở  hạ  tầng  và  trang  thiết  bị  sản  xuất  kém, nhất  là  vùng 

phía  Bắc  và  Đông  Bắc;  các  nguồn  tài  nguyên  thiên  nhiên  bị  khai  thác  kém  hiệu 

quốc  tế.  Nhờ  nổi  tiếng  về  chất  lượng,  nông  sản  chế  biến  của  Thái  Lan  đang  cạnh 

tranh  quyết  liệt  chiếm  dần  thị  phần  của  Indonesia  và  Malaysia.  Bên  cạnh  đó,  Chính 

phủ  Thái  Lan  tập  trung  khai  thác  thị  trường  các  nước  đạo  Hồi  với  chủ  trương  xây 

dựng tỉnh Pattani (giáp biên giới  Malaysia) thành trung tâm sản xuất thực phẩm cho 

đạo Hồi của thế giới. Chính phủ Thái Lan đã đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, 

khuyến  khích đầu  tư  bằng thuế,  tín dụng  ưu đãi,  giúp  các  nhà  đầu  tư  nghiên  cứu  thị 

trường  Ai  Cập  và Nam  Phi,  thống  nhất  với  Indonesia  và  Malaysia  về  nhãn hiệu, qui 

tắc quản lý chất lượng thức ăn Hồi giáo của các nước ASEAN. Đến nay, 221 nhà máy 

sản xuất sản phẩm này của Thái Lan đã đi vào hoạt động [52]. 

1.3.4 Bài học rút ra cho Luận án 

Cò thể nói,  nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong  việc xác định và  phát 

triển  các  sản  phẩm  nông nghiệp  cũng như  xây  dựng  các ngành  hàng  công nghiệp  bổ 

trợ như  chế biến nông sản, lâm  sản và thủy sản  đã cho thấy sự  cần thiết của việc xác 

định  đúng  đắn  ngành  hàng,  sản  phẩm  chủ  lực  trên  cơ  sở  tiềm  năng,  lợi  thế  của  mỗi 

Trang 24

E. Porter để phân tích những tiềm năng và lợi thế gần như có một không hai này.  2.1.1 Điều kiện về các yếu tố sản xuất để phát triển sản phẩm chủ lực  2.1.1.1 Điều kiện về nguồn nhân lực 

Như đã nói ở phần trên, dân số ĐBSCL năm 2010hiện có 17,272 triệu người, chiếm 19,87% dân số cả nước và mật độ dân số là 426 người/km 2 , cao hơn trung bình chung cả nước (263 người/km 2 ). Dân số nông thôn ĐBSCL có 13,272 triệu người (chiếm 76,84%), cao hơn rất nhiều so với cả nước (69,83%). Số người trong độ tuổi lao động của toàn vùng 

có  khoảng  10,129  triệu  người,  chiếm  58,64%  dân  số,  trong  đó  số  lao  động  có  việc  làm 

Tỷ lệ lao động có việc làm  52,8  54,8  55,5  56,2  56,7 

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2010 

Theo  số  liệu  trong  bảng 2.1,  dân  số  ĐBSCL  đã  tăng  từ 16946,9  ngàn người  năm 

2006 lên 17272,2 ngàn người năm 2010, tăng 1,92% cả giai đoạn  (thấp hơn tốc độ trung bình cả nước ­ tăng 4,34% cả giai đoạn). Trong đó, dân số nông thôn có chiều hướng giảm 

và người trong độ tuổi lao động có việc làm cũng tăng và luôn cao hơn trung bình chung của cả nước (từ 52,8% năm 2006 lên 56,7% năm 2010). Tuy nhiên, lực lượng lao động đã

Trang 25

Cà  Mau;  nhóm  đất  nhiễm  mặn  có  khoảng  0,75  triệu  ha,  khó  cung  cấp nước  ngọt  từ  hệ 

thống  sông  ngòi  nên  chỉ  trồng  được  lúa  vào  mùa  mưa,  còn  mùa  khô  nhiều  nơi  được 

chuyển sang nuôi tôm nước mặn và lợ; và các loại đất khác chỉ với khoảng 0,35 triệu ha,

gồm đất than bùn (vùng rừng U Minh), đất xám trên phù sa cổ (cực Bắc của ĐBSCL) và đất đồi núi (phía Tây­Bắc ĐBSCL). 

của toàn vùng  

Bảng 2.4  Diện tích một số cây trồng quan trọng giai đoạn 2006 – 2010 

Loại cây trồng  Trong đó  2006  2007  2008  2009  2010 

1. Cây ăn quả  các loại 

Cả nước (ha)  764.400  778.500  775.500  774.000  776.300 ĐBSCL (ha)  276.896  281.675  279.049  255.348  258.918 

2. Cây mía 

Cả nước (ha)  288.100  293.400  270.700  265.600  266.300 ĐBSCL (ha)  69.496  66.792  64.032  62.990  61.843 

2. Cây dừa 

Cả nước (ha)  134.870  136.600  141.000  144.900  147.000 ĐBSCL (ha)  107.896  109.269  112.760  115.941  117.544 

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê và Thống kê kinh tế xã hội các tỉnh, thành ĐBSCL 2010

Trang 26

Từ bảng  trên có  thể  thấy,  ĐBSCL  là  quê hương  của  các  loại  cây  mà  đứng đầu  là 

cây dừa với  diện tích chiếm khoảng 80% diện  tích dừa cả nước. Kế đến  chính  là cây ăn 

quả  và  thứ ba  phải  kể  đến  là  cây  mía  với  diện  tích  lần  lượt  chiếm  35%  và  23%  của  cả 

có  khoảng  750  km  chiều  dài  bờ  biển  (chiếm  khoảng  23%  tổng  chiều  dài  bờ  biển  toàn 

quốc)  với  22  cửa  sông,  cửa  lạch  và  hơn  800.000  ha  bãi  triều  (70­80%  là bãi  triều  cao)

Điều kiện giao thoa mặn, lợ, ngọt cũng đã tạo nên một vùng sinh thái đặc thù, hiếm thấy 

trên thế giới, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất thủy sản hàng hoá tập trung. 

3) Khí hậu thời tiết 

ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới Bắc bán cầu, cận xích đạo, mang tính chất nhiệt đới gió mùa, mặt khác lại là vùng đồng bằng ven biển nên khí hậu trong vùng có sự pha trộn khí hậu hải dương với nền nhiệt độ cao và lượng mưa  hàng năm dồi dào. Số giờ chiếu sáng cao và phân bố tương đối đồng đều trong năm; Độ ẩm không khí trung bình dao động từ 83­88%; Lượng mưa tập trong mùa mưa, chiếm khoảng 90% lượng mưa của cả năm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa  khô  từ  tháng  12 đến  tháng  4  năm  sau.  Nhìn  chung,  điều  kiện  thời tiết  khí  hậu  của các địa phương ĐBSCL là khá tương đồng và rất thuận lợi cho các loại cây trồng nhiệt đới thích nghi với nhiệt độ, độ ẩm cao, nắng nhiều và lượng mưa trung bình trong năm lớn. Tuy nhiên, đây cũng còn 

là môi trường thuận lợi cho nhiều loại côn trùng phát triển, nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ dịch bệnh, 

nấm mốc ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp 

2.1.1.3 Điều kiện về tri thức, khoa học  1) Hệ thống trường và cơ sở đào tạo 

ĐBSCL đang trên đường hoàn thiện cơ sở hạ tầng giáo dục và đào tạo với hệ thống 

13  trường  đại học,  2  phân hiệu  (Đại  học  Kiến  trúc  Tp.  Hồ  Chí  Minh  và  Thủy  sản  Nha Trang),  26  trường  cao  đẳng,  28  trường  trung  học  chuyên  nghiệp.  Bên  cạnh  đó,  một  số trường khác đang chuẩn bị  thành lập như Đại học Quốc tế Cần Thơ, Đại học Kỹ thuật – Công nghệ  Như vậy, tính đến cuối năm 2010, đã có 10/13 tỉnh trong vùng có trường đại học, tất cả các tỉnh đều có trường cao đẳng Hệ thống cơ sở giáo dục thường xuyên đã cơ bản phủ khắp địa bàn  tỉnh, huyện. Riêng  lĩnh  vực dạy  nghề,  ĐBSCL hiện  có  334  cơ  sở, trong đó có 8 trường cao đẳng nghề, 30 trường trung cấp nghề và 127 trung tâm dạy nghề (41% là cơ sở dạy nghề tư thục). Mỗi năm  có hàng vạn sinh  viên, học sinh  tốt nghiệp ra trường. Trong đó, có 10,1% sinh viên học ngành Nông­ lâm ngư nghiệp, ở bậc cao đẳng tỷ 

lệ này là 4,7% .  Đây là lực lượng lao động có chuyên môn nhiều trình  độ khác nhau bổ 

sung vào nguồn nhân lực cho ĐBSCL. 

2)Viện nghiên cứu 

Ngoài  hệ  thống  các  trường  đại  học,  cao  đẳng,  trung  học  chuyên  nghiệp  và  dạy nghề kể trên, ĐBSCL còn có hệ thống các viện nghiên cứu chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho các địa phương trong vùng như: Viện Lúa  ĐBSCL, Viện  Nghiên  cứu  phát triển ĐBSCL  thuộc  trường Đại  học  Cần  Thơ,  Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II của Bộ Nông

Trang 27

nghiên cứu cơ bản và ứng dụng cũng như chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông 

nghiệp;  tham gia  đào tạo  sau đại  học,  sản xuất  và  cung  cấp  các  loại  giống nông  nghiệp 

phục vụ cho phát triển sản xuất vùng ĐBSCL. 

Hiện  nay,  cùng  với  hệ  thống  các  trường  đào  tạo  trong  vùng,  hệ  thống  các  viện 

nghiên  cứu  giữ  vai  trò  trọng  yếu  trong  việc  đào  tạo  nguồn  lao  động  có  trình  độ  cao  và 

Bộ và vùng Đông Bắc. Như vậy, sau hơn 20 năm thực hiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, toàn vùng ĐBSCL đã có 565 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 9,5 

tỉ  USD, chiếm 4,53% số dự án và 4,85% vốn  FDI đăng ký cả nước. Trong đó, vốn  FDI lĩnh vực công nghiệp chế biến chiếm 79,1% về số dự án và 56,3% về vốn đăng ký. Long 

An hiện là địa phương dẫn đầu cả về số dự án và vốn đăng ký, chiếm 59,47% số dự án và 37,07% tổng vốn đăng ký; Kiên Giang xếp thứ hai về vốn với khoảng 3,71% số dự án và 

sử dụng đoạn TP.HCM – Trung Lương. Dự kiến đến năm 2015 sẽ khởi động thêm nhiều 

dự án giao thông mang tầm cỡ quốc gia như dự án tuyến đường sắt TP.HCM ­ Cần Thơ, hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc TP.HCM ­ Cần Thơ, tuyến đường Hồ Chí  Minh nối dài đến Đất Mũi. Cùng với hệ thống giao thông nông thôn đang được các địa phương đầu 

tư, hệ thống giao thông đường bộ ĐBSCL sẽ đảm bảo tốt cho lưu thông thông nội vùng, kết nối với các tỉnh Đông Nam bộ và TP.HCM cũng như từ ĐBSCL đi các nước lân cận,

Trang 28

Cà  Mau,  đồng  thời  tỉnh  An  Giang  cũng đã  đề  xuất  Chính  phủ  cho  đầu tư  thêm  sân bay 

Châu Đốc.  Hiện các sân bay này chỉ  sử dụng các máy bay nhỏ, khai  thác các  tuyến bay 

từ TP.HCM đi Mỹ Tho dài 72 km);  Tuyến  từ Bến Tre đi  Cà Mau với chiều dài  trên 220 

km;  sông Cái Lớn có chiều dài khoảng 60km  chảy qua Hậu Giang, Kiên Giang  và đỏ ra 

biển Rạch giá và hàng trăm con sông lớn, nhỏ và kênh đào khác đã tạo nên mạng lưới giao 

thông  thủy  phong  phú  bậc  nhất  cả  nước  và  khu  vực.  Hàng  năm,  hệ  thống  này  đã  vận

chuyển  tới  32% hành khách và 70%  khối  lượng hàng hoá thế mạnh của vùng như lương 

thực, thủy sản xuất khẩu, vật liệu xây dựng … 

2.1.2 Qui mô cầu thị trường về các sản phẩm chủ lực  1) Thị trường lúa gạo 

Theo dự báo của Tổ chức nghiên cứu thị trường EIU (Economist Intelligence Unit) trong vòng 10 năm tới, năng suất lúa thế giới tiếp tục tăng bình quân trên 0,7% hằng năm, trong đó 70% tăng  trưởng  về  sản  lượng lúa thế  giới  sẽ  từ  Ấn  Độ,  Indonesia,  Việt  Nam, Thái Lan, Myanmar và Nigeria. Tuy nhiên do tốc độ tăng dân số nhanh hơn nên hằng năm mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người sẽ giảm khoảng 0,4 % mỗi năm. Ấn Độ và Trung Quốc vẫn sẽ là các nước tiêu thụ gạo lớn nhất và ước khoảng 50% lượng gạo tiêu thụ toàn thế giới. Riêng năm 2010, do khí hậu biến đổi thất thường làm cho sản  xuất lúa gạo chịu ảnh hưởng tiêu cực. Tại Ấn Độ, diện tích lúa giảm đã kéo theo sản lượng gạo giảm từ 99 triệu tấn niên vụ 2009 xuống còn 89 triệu tấn niên vụ 2010; tại Indonesia, sản lượng gạo niên vụ 2010 chỉ có thể đạt 37,1 triệu tấn, giảm 1,2 triệu tấn so với niên vụ 2009; tương tự, Philippines giảm  gần 1 triệu tấn xuống còn 9,772 triệu tấn. Nhìn chung, diện tích  lúa thế giới  niên vụ 2010 chỉ  vào  khoảng 156,1 triệu ha,  giảm 1,7 triệu ha so  với  niên vụ 2009, trong  khi  năng  suất  không  tăng đã  làm  giảm sản  lượng, niên  vụ  2010  ước  chỉ  đạt 441,2 

Trang 29

khẩu gạo lớn nhất  thế giới, dự  kiến sẽ nhập khẩu khoảng 40% trong năm  2010, đạt mức 

2,6 triệu tấn và sẽ tăng mức nhập khẩu 2,5 triệu tấn mỗi năm trong  thời gian tới. Nếu nhu 

cầu nhập khẩu  gạo của thị trường Châu Á và Châu Phi tăng sẽ thúc đẩy khối lượng giao 

dịch gạo thế giới lên hơn 31,3 triệu tấn vào năm 2012 và 33,4 triệu tấn năm 2016. 

Đối với thị trường gạo Việt Nam, nếu so với những năm gần đây thì tiêu dùng gạo 

trong nước hầu như không có những biến đổi lớn, mặc dù quy mô dân số  của  Việt  Nam 

không  ngừng  tăng  và gạo vẫn  được  coi  là  lương  thực thiết  yếu.  Nguyên nhân  là  do đời 

sống của người dân ngày càng được nâng lên nên lượng gạo trong khẩu phần của mỗi gia 

đình  hầu  như  đã  giảm  xuống;  thay  vì  đáp  ứng  số  lượng  như  trước  đây  thì  một  bộ  phận 

không nhỏ dân cư đã chuyển  sang dùng những loại gạo có chất lượng cao hơn. Vậy, vấn 

đề chủ  yếu về thị  trường gạo  Việt  Nam  là xuất khẩu. Như đã nêu  ở phần trên, do nguồn 

cung  trên  thế  giới  bị  thu  hẹp  đã  tạo  ra  cơ  hội  cho  ngành  xuất  khẩu  gạo  Việt  Nam  phát 

triển.  Thị  trường  truyền  thống  chủ  đạo  của  xuất  khẩu  gạo  Việt  Nam  nói  chung  vẫn  là 

Kim ngạch  (1000USD) 

Theo Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), tổng cầu về thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên thế giới dự kiến sẽ đạt 183 triệu tấn vào năm 2015, với tốc độ tăng trưởng bình  quân  2,1%/năm.  Tiêu  thụ  thuỷ  sản  tính  theo  đầu  người  trên  toàn  cầu  sẽ  tăng  bình quân  0,8%  trong  giai  đoạn đến năm 2015,  giảm  so  với  mức  1,5% đã  đạt  được  trong  20 năm  trước. Tiêu  thụ  cá  và  sản phẩm  cá bình quân  đầu  người  dự báo  sẽ đạt  13,7  kg vào năm 2010 và 14,3 kg vào năm 2015, trong khi đó nhu cầu về shellfish (thuỷ sản có vỏ) và 

các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,7 và 4,8 kg/người. 

Bảng 2.9  Dự báo tiêu thụ thuỷ sản theo mục đích và theo nhóm nước đến 2015 

Đơn vị: Triệu tấn 

Mục đích và quốc gia tiêu  thụ thủy sản đến năm 2015  2005  2010  2015 

Bình quân giai đoạn (%)  2010/2005  2015/2010 

­ Tiêu dùng cho thực phẩm  107,5  117,2  138,0  1,75  3,30 

­ Hao hụt và tiêu dùng khác  37  40  45,0  1,60  2,40  Trong đó 

Trang 30

­ 6% là trái cây tươi. 

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, tỷ lệ trái cây nhập khẩu mấy năm qua liên tục tăng ở hai con số, chỉ tính riêng trong 7 tháng đầu năm 2011,  các doanh nghiệp đã  nhập về 

134 triệu USD mặt hàng rau quả, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều loại trái cây như táo, cam, quýt, mận, nho, lựu từ Trung Quốc, Thái Lan, Phi­líp­pin, Mỹ, Niu Di­lân đầy dẫy trên 

Trang 31

thế giới và thị trường nội địa cũng đang bị bỏ ngõ. 

4) Thị trường du lịch 

ĐBSCL với  đặc thù là vùng sinh quyển độc đáo trên thế giới, nơi  đây sẽ là điểm 

đến mới  đối  với  du khách quốc tế. Địa hình của vùng rất  đặc trưng với  nhiều sông rạch 

vẫn còn thấp,  chưa tương xứng với  tiềm năng và lợi  thế của vùng, của địa phương;  việc 

phát  triển  còn  manh  mún,  chưa  đồng  bộ.  Thực  tế  có  thể  nhận  thấy,  du  khách  khi  đến 

đến 2020,  tầm nhìn 2050  của  vùng  sẽ  có nhiều  thay  đổi  quan  trọng,  tạo  ra nhiều  cơ hội 

phát  triển  cũng như  khó  khăn  cho  vùng. Theo  sự báo, đến năm 2020  dân số  ĐBSCL  có 

khoảng 20 ­ 21 triệu người, trong đó dân số đô thị khoảng 7,0 ­ 7,5 triệu người với tỷ lệ đô 

thị hóa khoảng 33 ­ 35%; đến năm 2050 con số này sẽ là khoảng 30 ­ 32 triệu người, trong 

­ Phát triển cấu trúc không gian toàn Vùng với hành lang kinh tế sông Tiền, sông Hậu, quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, cụm các đô thị trung tâm và các đô thị nhỏ được phân bố đều dựa trên các vùng nông nghiệp, công nghiệp và du lịch; 

­  Phát  triển  các  vùng nông  nghiệp  công  nghệ  cao,  công  nghiệp  tập  trung  chuyên môn hóa; hình thành các trục hành lang kinh tế công nghiệp và dịch vụ, tạo động lực cho các tỉnh trong Vùng phát triển nhanh và bền vững; 

­ Phát triển các vùng, các trung tâm du lịch tầm quốc tế, quốc gia gắn với đặc trưng văn hóa, đô thị và cảnh quan tự nhiên; Phát triển hài hoà giữa đô thị và nông thôn; 

­ Hình thành hệ thống hạ tầng xã hội đa dạng và linh hoạt  trên cơ  sở hệ thống hạ tầng kỹ thuật gắn kết hệ thống dân cư, đô  thị trên toàn vùng, kiểm soát môi  trường chặt chẽ ,với các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng thay đổi bất thường của thiên nhiên. 

­ Hình thành các chương trình, dự án chiến lược có sức lan tỏa và thúc đẩy sự phát triển vùng; Xây dựng mô hình quản lý và kiểm soát phát triển không gian, kiến trúc cảnh 

quan vùng có hiệu quả. 

2) Định hướng phát triển không gian và vùng 

­  Vùng phát triển đô thị: Gồm có vùng đô thị trung tâm gồm đô thị hạt nhân thành 

phố Cần Thơ; vùng phụ cận xác định trong phạm vi bán kính 30  ­ 50 km từ vùng đô thị trung tâm; vùng đối trọng với các đô thị tỉnh lỵ có khoảng cách trung bình 30 ­ 50 km từ 

đô thị trung tâm. 

­ Các trục hành lang kinh tế đô thị: Gồm có trục hành lang kinh tế đô thị sông Tiền 

sông Hậu (trục hành lang kinh tế Đông ­ Tây) và quốc lộ 91; trục hành lang kinh tế đô thị quốc lộ 1A ­ đường Hồ Chí Minh (hướng Bắc Nam); các trục hành lang kinh tế đô thị khác kết nối các đô thị còn lại trong các hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp và các dịch vụ 

cho nông thôn. 

­ Vùng phát triển công nghiệp: Gồm có vùng công nghiệp trung tâm tại ĐBSCL bố 

trí các ngành công nghiệp ­ chế xuất, kỹ thuật cao, công nghiệp sạch và công nghiệp phụ trợ; vùng công nghiệp phía Đông Bắc tại tỉnh Long An, Tiền Giang giáp với thành phố Hồ Chí  Minh bố  trí  công nghiệp  chế biến nông  lâm  thủy  sản,  cơ  khí phục vụ sản  xuất nông

Trang 32

được nhu cầu của các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp trong vùng. 

1) Ngành công nghiệp chế biến. 

Những năm gần đây, công nghiệp trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ phát triển  cao,  bình  quân  tăng  21,8%.  Đến  đầu  năm  2009,  ĐBSCL  có  99.966  cơ  sở  sản  xuất  công nghiệp nông thôn, tăng 15.931 cơ sở so với năm 2005. Trong đó tăng nhiều nhất  là công nghiệp chế biến nông sản như: chế biến gạo, thủy hải sản xuấy khẩu; chế biến sữa, dầu thực vật, đường, trái  cây,  rượu,  bia,  nước  giải  khát,  chế  biến  thức ăn  gia  súc,  sản xuất  xi  măng,  khí  ­điện­  đạm, phân bón, điện nước  

Ngành xay xát lương thực với số lượng cơ sở được phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành với nhiều nhà máy có công suất khác  nhau, theo số liệu thống kê, sản lượng xay xát toàn vùng năm 

2009 đạt hơn 7,8 triệu tấn . Tuy nhiên, công suất xay xát và chế biến gạo xuất khẩu hiện tại chưa tương ứng với nguồn nguyên liệu của địa phương, công nghệ xay xát lạc hậu tiêu tốn nhiều năng lượng, tỷ lệ  hao hụt cao. Tương tự, ngành chế biến thủy sản có 133 nhà máy với tổng công suất 690.000 tấn/năm. Mặc dù chế biến thủy sản ­ là ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn chiếm tỷ trọng 

và có tốc độ tăng trưởng cao trong vùng, nhưng sản phẩm chế biến chỉ dừng lại ở mức  là cá tra phi lê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh. 

2) Ngành sản xuất giống

Trang 33

­  Giống  lúa.  Giống là một  trong bốn  yếu  tố  có ý  nghĩa quyết định  trong quá  trình 

nay  là  115  giống  với  50  giống  chính  thức,  trong  đó  có  80%  giống  do  Viện lúa  ĐBSCL 

nghiên  cứu  lai  tạo.  Các  loại  giống  của  Viện  lúa  ĐBSCL  nghiên  cứu,  lai  tạo  có  đặc  tính 

690 USD năm 2006 lên 1100 USD năm 2010 gấp 1,6 lần năm 2006 và bằng 95% GDP bình quân đầu người cả  nước. Trong đó, Tp Cần Thơ có thu nhập bình quân đầu người cao nhất với 1.950 USD/  người/năm,  hơn  gấp đôi thu nhập bình quân chung  của  toàn vùng (xem thêm bảng 1.12). Với thành tích  như  vậy, hàng  năm ĐBSCL đóng  góp khoảng 18% GDP cho cả  nước;  trên 53% sản lượng lúa gạo; gần 60% sản lượng thủy sản; chiếm 90% lượng gạo và khoảng 80% lượng thủy 

Thực tế  362.235,5  449.048,5  583.754,0  694.675,0  845.108,6  // 

1994  218.097,7  250.679,9  289.093,7  308.611,4  350.419,6  12,57  GDP 

(tỷ đồng) 

Thực tế  165.492,3  205.721,9  262.071,1  307.441,9  365.685,9  // 

1994  102.509,0  116.281,4  131.291,7  143.720,8  160.659,5  11,88 

Xuất khẩu (1000USD)  Thực tế  3.571.769  4.211.646  5.702.609  5.877.720  6.990.655  18,28 

2010  con  số  này lần  lượt  là  39%;  26%  và  35%.  Như  vậy  sau  10  năm,  khu  vực  I  giảm 14,4%%, khu vực II tăng 7,5% và khu vực III tăng 7%

Trang 34

Về cây ăn trái. Bên cạnh lúa, cây ăn trái là loại cây  trồng phổ biến ở ĐBSCL với 

diện tích chiếm 40% và hàng năm thu hoạch hàng năm chiếm 70% sản lượng trái cây cả nước. Tuy nhiên, do tác động của nhiều nguyên nhân mà diện tích cây ăn trái ĐBSCL từ năm 2008 về sau có giảm so với 2007, nhưng sản lượng vẫn tăng tăng nhẹ. Hiện tại, toàn vùng chỉ còn khoảng 259 ngàn ha cây ăn trái, bằng 0,93 diện tích năm 2006 và sản lượng đạt khoảng 2,357 triệu tấn, gấp 1,12 lần năm 2006. Về GTSX, năm 2010 ước đạt 6.939,6 

tỷ đồng, gấp 1,12 lần năm 2006 (6.186,5 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng 2,35% tổng GTSX toàn vùng và tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoan 2006 – 2010 là 2,9%/năm. Tuy nhiện, hiện 

tại, xuất khẩu trái cây chưa phải là thế mạnh của ĐBSCL 

Về cây dừa. Vườn dừa ĐBSCL có ở khắp các tỉnh trong vùng, nhưng tập trung chủ 

yếu là ở Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau, Vĩnh Long… Trong đó, Bến Tre và Trà Vinh  là  nơi  phát  triển mạnh  về  diện  tích  lẫn chế biến  xuất  khẩu.  Năm 2010,  GTSX  của dừa toàn vùng ước đạt 1.508,3 tỷ đồng, gấp 1,42 lần năm 2006, và tăng trưởng bình quân cho cả giai đoạn 2006 – 2010 là 9,2%/năm. Hiện trên địa bàn tỉnh Bến Tre có hơn 1.000 

cơ sở sản xuất, chế biến các sản phẩm từ dừa như: Bột sữa dừa, cơm dừa nạo sấy, dầu dừa, kẹo dừa, chỉ sơ dừa,   với kim ngạch xuất khẩu khoảng 55 triệu USD/năm, đứng hàng thứ 

2009 tăng nhẹ trở lại và đạt khoảng 5,3 triệu tấn vào năm 2010. GTSX cây mía toàn vùng cũng có sự biến động theo sản lượng nhưng nếu so sánh năm 2010 với 2006 thì tăng bình quân 0,79%/năm, đạt 1.866,8 tỷ đồng vào năm 2010

Trang 35

Về  chăn  nuôi.  Đây  cũng  là  lĩnh  vực  thế mạnh  của  ĐBSCL,  nhất  là nuôi  gia  cầm 

(thủy cầm là sản phẩm đặc trưng của vùng sông nước). Tuy nhiên, vì lý do thị trường, dịch 

bệnh  mà  ngành  chăn  nuôi  chưa  phát  huy  hết  lợi  thế  của  mình.  Theo  số  liệu  thống  kê, 

GTSX chăn nuôi năm 2010  của vùng  đạt 9.174,9 tỷ đồng tăng bình quân 9,79%/năm cả 

độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 21,86%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân 

cả nước giai đoạn này 3,77% (bình quân cả nước18,09%), trong đó công nghiệp chế biến, chế  tạo  chiếm đến 96%  GTSX  của  ngành.  Các  mặt hàng  chủ  yếu  của ngành là  chế  biến 

và liên tục là: gạo, cá đông lạnh, tôm đông lạnh, nông sản chế biến ,chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong xuất khẩu toàn vùng

Ngày đăng: 06/08/2016, 22:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3  Quan hệ giữa Con người – Tài nguyên – Lợi nhuận với Sản phẩm - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Hình 1.3 Quan hệ giữa Con người – Tài nguyên – Lợi nhuận với Sản phẩm (Trang 13)
Bảng 2.1. Dân số và lao động ĐBSCL so với cả nước giai đoạn 2006 – 2010 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.1. Dân số và lao động ĐBSCL so với cả nước giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 24)
Bảng 2.4  Diện tích một số cây trồng quan trọng giai đoạn 2006 – 2010 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.4 Diện tích một số cây trồng quan trọng giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 25)
Bảng 2.2. Lao động đã qua đào tạo các vùng giai đoạn 2006 ­ 2010 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.2. Lao động đã qua đào tạo các vùng giai đoạn 2006 ­ 2010 (Trang 25)
Bảng 2.13  Một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng ĐBSCL giai đoạn 2006 ­ 2010 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.13 Một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng ĐBSCL giai đoạn 2006 ­ 2010 (Trang 33)
Bảng 2.18  Kết quả du lịch  ĐBSCL giai đoạn 2006 – 2010 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.18 Kết quả du lịch  ĐBSCL giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 36)
1) Bảng tự chấm điểm đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp. - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
1  Bảng tự chấm điểm đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp (Trang 39)
Bảng 3.1 Hệ thống tiêu chí định lượng dùng cho xác định hàng hóa chủ lưc - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 3.1 Hệ thống tiêu chí định lượng dùng cho xác định hàng hóa chủ lưc (Trang 52)
Bảng 3.2  Hệ thống tiêu chí định lượng dùng cho xác định dịch vụ chủ lưc - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 3.2 Hệ thống tiêu chí định lượng dùng cho xác định dịch vụ chủ lưc (Trang 52)
Bảng 3.8 Trị số các tiêu chí của sản phẩm điển hình ĐBSCL giai đoạn 2006 ­2010 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 3.8 Trị số các tiêu chí của sản phẩm điển hình ĐBSCL giai đoạn 2006 ­2010 (Trang 58)
Bảng 3.9 Điểm số các tiêu chí của sản phẩm điển hình ĐBSCL giai đoạn 2006 ­2010 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 3.9 Điểm số các tiêu chí của sản phẩm điển hình ĐBSCL giai đoạn 2006 ­2010 (Trang 59)
Bảng 3.10 Mức độ đạt được đối với tiêu chí định tính  11 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 3.10 Mức độ đạt được đối với tiêu chí định tính  11 (Trang 60)
Bảng 3.11 Điểm số các tiêu chí định tính - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 3.11 Điểm số các tiêu chí định tính (Trang 60)
Bảng 3.12 Kết quả điểm số chung - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 3.12 Kết quả điểm số chung (Trang 61)
3.3.1.2  Bảng danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020 - luận văn thạc sĩ Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
3.3.1.2 Bảng danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020 (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm