Tốc độ tăng trưởng GDP lập nên kỷ cũng bộc lộ khá nhiều yếu kém: tăng trưởng xuất khẩu không ổn định, còn chứa đựng nhiều yếu tố không bền vững và dễ bị tổn thương bởi những cú sốc từ bê
Trang 1tế mà thời gian qua đã giúp cho các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và đặc biệt là nông
nghiệp ở ĐBSCL đạt được những thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng GDP lập nên kỷ
cũng bộc lộ khá nhiều yếu kém: tăng trưởng xuất khẩu không ổn định, còn chứa đựng
nhiều yếu tố không bền vững và dễ bị tổn thương bởi những cú sốc từ bên ngoài; sản
triển của vùng cũng rất thiếu đồng bộ, chưa cân xứng giữa các ngành nghề, lĩnh vực và
giữa các địa phương; phát triển nặng về chiều rộng, chạy theo số lượng nên chất lượng,
hiệu quả và đặc biệt là tính cạnh tranh quốc tế không cao…
Những hạn chế trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ
yếu có thể khẳng định là thiếu vắng những sản phẩm chủ lực có khả năng tạo ra giá trị gia
tăng lớn, sức cạnh tranh cao và nhất là tạo được động lực thúc đẩy khai thác một cách hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên, lao động và những lợi thế “trời cho” mà không một nơi nào
khác có được ngoài vùng đất nầy. Vấn đề đặt ra ở đây là, làm cách nào để ĐBSCL xác
định được sản phẩm chủ lực hoặc hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng để tập trung đầu tư phát
triển; làm cách nào để cho sản phẩm chủ lực ĐBSCL có thể cạnh tranh ngang ngửa với hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong cả nước và trên thế giới; và làm cách nào để sản phẩm chủ lực ĐBSCL không ngừng phát triển và phát triển một cách bền vững trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế…
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, việc nhanh chóng nghiên cứu để tìm ra những sản phẩm chủ lực, giữ vai trò chủ đạo đồng thời tạo ra cú đột phá mạnh mẽ cho phát triển kinh tế ĐBSCL trong tương lai gần cũng như lâu dài là yêu cầu khách quan và bức thiết ở
thời điểm hiện nay. Và, đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn đề tài: “Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của bản thân.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên nghiên cứu của luận án 2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án tập trung vào nghiên cứu 3 mục tiêu cơ bản sau đây:
1) Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực phù hợp với điều kiện thực tế và tính đặc thù của ĐBSCL để làm cơ sở đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực thống nhất cho toàn vùng.
1) Nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm chủ lực và vận dụng nó để làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận cũng như thực tiễn trong việc đánh giá, xét chọn và phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL từ nay đến năm 2020.
2) Phân tích, đánh giá nhu cầu thị trường, tiềm năng và lợi thế phát triển sản phẩm chủ lực cũng như năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực ĐBSCL để từ đó xây dựng Hệ thống tiêu chí đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực vùng từ nay đến năm 2020.
3) Trên cơ sở Hệ thống tiêu chí, tiến hành phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những hàng hóa hội đủ điều kiện hoặc có triển vọng để hình thành Bảng danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL từ nay đến năm 2020
Trang 2Đối tượng nghiên cứu của luận án là các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chủ lực
mang đặc trưng cho lợi thế, tiềm năng và gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế của
1) Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.Porter (1990). Porter cho rằng,
các lý thuyết phát triển truyền thống như lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lợi thế so
sánh của David Ricardo xem nền kinh tế như là sự “định hướng bởi yếu tố nguồn lực”.
Tức, lợi thế của một quốc gia trong thương mại quốc tế được xác định bởi các yếu tố
3) Sự phát triển của khái niệm cụm Kinh nghiệm hiện tại và triển vọng, Christian
H. M. Ketels (2003). Ketels đã trình bày khung khái niệm về cụm (cluster) của Michael
M. Porter, các loại hình cụm, sự tiến hóa cuả cụm và cụm với hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, Ketels cũng nói đến những phát hiện trong thực nghiệm đối với cụm, cụm dựa trên chính sách phát triển kinh tế và xem đây như là mô hình phát triển kinh tế mới. Thông qua công trình nghiên cứu này, Ketels đã mở rộng hơn về khái niệm cụm so với khái niệm ban đầu của Michael M. Porter và qua đó, giúp mọi người hiểu đúng và đầy đủ hơn tầm quan trọng của cụm đối với phát triển kinh tế địa phương trong môi trường cạnh tranh toàn cầu [48]. 4) Lý thuyết điểm trung tâm của Christaller (1933). Lý thuyết này cho rằng, vùng nông thôn chịu lực hút của thành phố và coi thành phố là cực hút và hạt nhân của sự phát triển. Từ đó, đối tượng đầu tư có trọng điểm cần được xác định trên cơ sở nghiên cứu mức
độ thu hút và ảnh hưởng của một trung tâm và cũng sẽ xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm. Trong giới hạn bán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn của thị trường ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc cung cấp hàng hoá của trung tâm.
Lý thuyết này được Alosh (Đức) bổ sung. Điểm đáng chú ý của lý thuyết điểm trung tâm
là xác định được quy luật phân bố không gian tương ứng giữa các điểm dân cư, từ đó có thể áp dụng quy hoạch các điểm dân cư trên lãnh thổ mới khai thác [45].
5) Một nghiên cứu về các chỉ số năng lực cạnh tranh, G. Arzu INAL (2003). Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và sự quan tâm ngày càng sâu sắc của các
Trang 3được tác giả tham khảo như: “Regional innovation systems (RIS) in China của Jon
Sigurdson” đăng trên Working Paper No 195, July 2004 [49]; “Sustaining the Green
Revolution in India” của S. Nagarajan [50]; “Economic contributios of Thailand’s creative
industries”, đăng trên tạp chí Fiscal Policy Institute 2009 [47]; “Koji – The key product in
Japanese alcoholic beverages and fermented foods, Tokyo University of Agriculture
Sedagayaku, Tokyo, Japan [54]; “Identifying and assessing the factors that influence
cluster’s competitiveness in Oregon, and some initial suggestions”, Luận án Tiến sĩ của
Sam Gi Hong (2007) [52] Nhìn chung các tài liệu này đều nhấn mạnh đến vai trò của
phát triển cụm ngành sản phẩm trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia và đề
xuất các chính sách hỗ trợ để cụm phát triển một cách bền vững.
4.2 Tài liệu trong nước
1) Luận án Tiến sĩ “Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các
tỉnh vùng Bắc Trung bộ” của Nguyễn Hồng Lĩnh (2007). Luận án đã vận dụng các lý
thuyết liên quan, đặc biệt là mô hình kim cương của M. Porter để phân tích tìm ra các
nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn
các tỉnh Bắc Trung bộ. Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo
sát thực tế; rút kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp chế biến ở một số nước Đông
Nam Á và dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, Luận án đã xác định các ngành công
3) Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001 –
2005 của Bộ Khoa họcCông nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) với
chủ đề “ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực”. Mục đích của Chương trình là nhằm gia tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu
xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao cũng như thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ. Nội dung chủ yếu của Chương trình
là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh…; xây dựng các mô hình thâm canh và sản xuất công nghiệp trong nuôi trồng nông, lâm, thủy hải sản theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái [1]
4) “Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hà Nội”. Theo Qui chế này, cơ sở xác định sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố là các tiêu chí gồm sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; được tạo ra trên các dây chuyền thiết bị có trình độ công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất trong từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; tạo ra mức tăng trưởng cao, ổn định; hoặc thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng GDP công nghiệp. Qui trình xét chọn có 4 bước: đề xuất doanh nghiệp tham gia Chương trình; khảo sát sản phẩm công nghiệp; tổ chức đánh giá, xét chọn và công nhận sản phẩm chủ lực [17].
5) Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2002 – 2005”. Theo Chương trình này, Hệ thống tiêu chí lựa chọn sản phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng
ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chương trình trên năm lĩnh vực: thiết kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt động hướng dẫn, tư vấn hay môi giới doanh nghiệp với nhà tư vấn có năng lực và uy tín, giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn lực về khoa học và tài chính của thành phố [2]
Trang 4Ngoài ra, Luận án còn tham khảo nhiều tài liệu chương trình phát triển sản phẩm
chủ lực tương tự của các địa phương khác cũng như hội thảo, hội nghị, liên quan đến
nhằm hỗ trợ các sản phẩm chủ lực phát triển một cách bền vững đến năm 2020.
6. Phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu của đề tài 6.1 Phương pháp tiếp cận vấn đề
Để tiếp cận vấn đề, tác giả thực hiện thông qua các phương pháp chủ yếu như:
+ Tiếp cận hệ thống: Trong quá trình nghiên cứu xác định sản phẩm chủ lực của
Đồng bằng sông Cửu Long, những loại hàng hóa, dịch vụ không có tính đặc thù hoặc tính đặt thù không cao, tác giả đặt chúng trong mối quan hệ hỗ tương với hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong cả nước. Nghĩa là xem hàng hóa, dịch vụ đó của Đồng bằng sông Cửu Long như là một bộ phận hữu cơ trong mối quan hệ tổng thể của cả nước.
+ Tiếp cận logic: Từ việc nghiên cứu, thu thập các dữ liệu, thông tin thông qua tài
liệu, sách báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng để xây dựng các mô hình lý thuyết
về sản phẩm chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long, xem đây là giả thuyết để làm cơ sở
chứng minh cho tính đúng đắn của nó hoặc loại trừ nó.
+ Các phương pháp hỗ trợ khác: Sử dụng các phương pháp mô hình hóa, sơ đồ
hóa, phương pháp thống kê, phương pháp hồi qui tuyến tính…, đặc biệt trong phân tích cạnh tranh sẽ áp dụng mô hình kim cương (diamond model) của Michael M. Porter để xác
định lợi thế cạnh tranh ngành hàng.
6.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Để thực hiện đề tài này, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp định tính để thu thập phân tích và diễn giải dữ liệu nhằm mục đích khám phá các nhân tố và mối quan hệ đến tính chủ lực của hàng hóa, dịch vụ. Việc sử dụng cơ sở dữ liệu này chủ yếu là để xây dựng cơ sở lý thuyết một cách khoa học và khách quan về sản phẩm chủ lực. Công cụ được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là: Khảo sát thực tế tại các địa phương, thảo
luận nhóm; Thảo luận tay đôi; Quan sát
6.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực như:
Hệ số lợi thế hiển thị ngành (RCA); Hệ số thương mại ròng (NTR); Hệ số địa phương hóa (LQ); Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR); Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)
Trang 5 Các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá xét chọn SP chủ lực
Xây dựng tiêu chí và qui trình xác định
Danh mục sản phẩm chủ lực
Giải pháp phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020
nghiêm phát triển sản phẩm chủ lực ở một số quốc gia và địa phương trong nước. Chương 2: Thực trạng xác định và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng
sông Cửu Long thời gian qua
Chương này chủ yếu thực hiện việc phân tích, đánh giá thực trạng xác định sản phẩm và phát triển sản phẩm chủ lực ở ĐBSCL thời gian qua. Đưa ra nhận xét ưu, nhược điểm trong việc xác định sản phẩm chủ lực của các địa phương trong vùng để làm cơ sở
cho việc tiến hành xác định sản phẩm chủ lực cấp vùng đến năm 2020.
Chương 3: Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng
bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Chương ba chủ yếu giải quyết 3 vấn đề cơ bản là: xây dựng Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL; đề xuất Danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm
2020 và đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL một
cách bền vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC XÁC ĐỊNH SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC
1.1. Tổng quan về sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực 1.1.1. Định nghĩa về sản phẩm chủ lực
1.1.1.1. Một số quan điểm khác nhau về sản phẩm vụ chủ lực
Trang 6của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Những ngành hoặc sản phẩm
này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng
lãnh thổ. Điển hình nhất là Nhật bản, 20 năm sau thế chiến thứ 2 (1951 – 1973) đã trở
thành nền kinh tế lớn của thế giới với GDP tăng trưởng gấp 20 lần. Các sản phẩm được
+ Kế đến là Chương trình "Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 20022005" đã giới hạn sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp với thuật ngữ “sản phẩm công nghiệp chủ lực”. Theo Chương trình, những sản phẩm này phải có khả năng cạnh tranh cao, tiềm năng thị trường lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với người sản xuất, đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa và phát triển kinh tế của Thành phố. Ngoài ra, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 20022005 phải vừa có tính hiện đại, vừa có tính văn hóa truyền thống; vừa sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước vừa có thương hiệu mạnh và đặc biệt, phải bảo đảm về lao động và thân thiện với môi trường (Quyết định số: 153 /2002/QĐUB) [2].
+ Một khái niệm khác có thể tham khảo là “sản phẩm công nghiệp chủ lực” của Tp
Hà Nội ghi trong “Qui chế đánh giá, xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố
Hà Nội”, Theo cách mô tả của Qui chế này thì “sản phẩm chủ lực” đã được giới hạn trong phạm vi ngành công nghiệp với các đặc trưng cơ bản là: Có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; Được tạo ra trên dây chuyền thiết bị có công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất và chiến lược phát triển của Thành phố trong từng thời kỳ; Đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; Tạo ra mức tăng trưởng ổn định
ở mức cao và thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực với tỷ trọng đóng góp vào tổng GDP công nghiệp lớn (Quyết định số 03/2006/QĐUB) [17].
+ Cùng một quan niệm với Tp Hồ Chí Minh và Tp Hà Nội, tỉnh Đồng Nai với
“Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 20062010” cũng tập trung giới hạn ở “Sản phẩm công nghiệp chủ lực” và cho rằng, sản phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong một thời kỳ nhất định. Đây là những sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp có nhịp độ tăng trưởng và tỷ lệ giá trị gia tăng cao, có vị trí chi phối và ảnh hưởng đến sự phát triển đối với nhiều sản phẩm công nghiệp khác cũng như có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu (Quyết định số 955/QĐUBND). Nói cách khác, đối với tỉnh Đồng Nai thì sản phẩm chủ lực là sản phẩm công nghiệp có thế mạnh về giá trị sản lượng
và giá trị gia tăng; có sức tác động hay lan tỏa đến các sản phẩm công nghiệp khác, đồng thời có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước [9]
Trang 7lực lượng quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định chiến trường như “quân chủ lực”, “bộ
đội” chủ lực Lực lượng này được sử dụng khi cần giải quyết các mục tiêu chiến lược,
quyết định đến phạm vi toàn cục. Đặc trưng của chủ lực là tập trung với số lượng lớn, được huấn luyện chính qui, chuyên nghiệp, trang bị hiện đại và có khả năng cơ động tác chiến trên diện rộng.
Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm trong Luận án này là khái niệm dùng để chỉ sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại hóa, tức là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại. Khái niệm sản phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm chế biến có thịt đóng hộp, cá đóng hộp, thịt đông lạnh, cá đông lạnh , ngành hóa mỹ phẩm có bột giặt, nước xả, chất tẩy rửa gia dụng, mỹ phẩm Khi tham khảo các tài liệu tiếng Anh, tác giả thường thấy xuất hiện các từ hoặc cụm từ có thể được xem là tương ứng với sản phẩm chủ lực hay ngành hàng chủ lực như: key products, main products, major products hoặc key sectors, main sectors.
Main products: Là sản phẩm chính, sản phẩm chủ yếu của một công ty, giữ vị trí
chủ yếu về sản lượng tiêu thụ, doanh thu hoặc tạo nên hình ảnh doanh nghiệp. Ví dụ main products của Seaprodex gồm: Fresh (cá tươi), Frozen (đông lạnh), Processed (chiến biến),
Major Products: Sản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp hay quốc gia. Ví dụ
sản phẩm chính của Sumikin Bussan Special Steel Co., Ltd là: Tubes and Pipes (ống nước, ống kết cấu cho xe ô tô, máy móc và ống thép đặc biệt cho các nhà máy hóa dầu); Steel Sheets and Plates (thép tấm); Construction Materials (thép xây dựng); Bar and Wire Rods (thanh thẳng, thanh cuộn) và Raw Materials (thép nguyên liệu thô). Hay sản phẩm chính của Nhật: Xe máy, Xe hơi, Thiết bị điện và Máy vi tính…Trong đó, xe gắn máy với nhãn hiệu Honda, Suzuki, Yamha hay xe hơi với nhãn hiệu Toyota hoặc thiết bị điện tử,
điện lạnh của Sony… là biểu tượng, là nét văn hóa của nước Nhật xưa và nay.
Key sectors: Ngành hàng hoặc lĩnh vực sản xuất quan trọng, chủ yếu của một địa
phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia. Ví dụ, để qui hoạch phát triển Ấn Độ đã xác định có
Trang 8thương mại); Finance (Tài chính); Communication & IT (Công nghệ thông tin và truyền
thông); Education (Giáo dục); Health & Family welfare (Y tế và phúc lợi gia đình)
Từ những kết quả phân tích đã trình bày ở phần trên, có thể nhận diện sản phẩm
chủ lực thông qua định nghĩa như sau: “Sản phẩm chủ lực là sản phẩm hàng hóa hoặc
dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn và năng lực cạnh
tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển; đồng thời
nó còn có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một
nên có thể đảm bảo được khối lượng cung ứng lớn cho thị trường đồng thời chất lượng,
mẫu mã kiểu dáng và các tính năng khác phải giống nhau giữa các cá thể. Rõ ràng, sản
và lôi kéo chúng cùng phát triển theo. Mặt khác, quá trình phát triển của sản phẩm chủ lực cũng thường xuyên chịu sự tác động bởi các ngành hàng hoặc sản phẩm khác. Sự liên hệ này được thể hiện thông qua các mối liên hệ chuỗi giá trị (sự kết nối liên tiếp về mặt công nghệ trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) hoặc các mối liên hệ bổ trợ (mối liên hệ tương
hỗ tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm). Với tính chất lan tỏa như vậy, thực tế cho thấy khi sản phẩm chủ lực phát triển sẽ tạo ra nhu cầu hỗ trợ,
nhu cầu liên kết…từ đó kích thích, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển theo. 4) Sản phẩm mang tính đặc thù của quốc gia, vùng lãnh thổ
Một sản phẩm chủ lực còn là sản phẩm thể hiện lợi thế đặc trưng của quốc gia, vùng lãnh thổ mà không nơi nào khác có thể sánh kịp. Người tiêu dùng bỏ tiền mua sản phẩm ấy chính bởi những giá trị đặc trưng mà họ thấy được từ sản phẩm, đồng thời đối thủ cạnh tranh khó lòng bắt chước vì thiếu những điều kiện mang tính lợi thế cạnh tranh của quốc gia hay vùng lãnh thổ (vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lao động…). Ngoài ra, nhiều sản phẩm chủ lực còn là biểu tượng văn hóa của quốc gia hay vùng lãnh thổ, góp
phần tạo nên thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế.
5) Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường
Sản phẩm chủ lực nhất thiết phải là sản phẩm mà trong quá trình khai thác nguyên liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi thải bỏ không gây hại hoặc ít gây hại hơn cho môi trường so với sản phẩm cùng loại và được các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc quốc tế công nhận. Hoặc, sản phẩm được tạo ra có khả năng thay thế cho các nguyên liệu
tự nhiên mà trong quá trình tồn tại, sử dụng hoặc sau khi thải bỏ gây hại ít hơn cho môi
trường so với sản phẩm được thay thế.
1.1.1.4. Điểm khác cơ bản của khái niệm sản phẩm chủ lực trong Luận án
Có thể thấy, về cơ bản Luận án đã kế thừa có chọn lọc các khái niệm mà các tài liệu trước đây đưa ra. Tuy nhiên, nếu xét ở phạm vi nội dung và ý nghĩa cũng như so sánh với
từng tài liệu riêng rẻ thì Luận án đã đưa ra nhiều điểm mới.
Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa Luận án với các tài liệu về sản phẩm chủ lực
Khái niệm trong Luận án Các khái niệm trước đây
Trang 9trên tiềm năng, lợi thế chung của vùng,
miền quyết định một cách khách quan.
Xác định sản phẩm của địa phương, dựa vào điều kiện sản xuất đặc thù của địa phương và
do doanh nghiệp quyết định theo chủ quan Bao gồm cả sản phẩm công nghiệp, nông
nghiệp thủy sản và dịch vụ
Thường chỉ đề cập chủ yếu đến sản phẩm công nghiệp, hoặc nông nghiệp
Sản phẩm không những mang giá trị vật
1) Xác định đúng sản phẩm chủ lực đồng nghĩa với việc xác định được năng lực
cạnh tranh cốt lõi của quốc gia, vùng lãnh thổ…, để từ đó có chính sách đầu tư đúng
có tác động lôi kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ phát triển.
Xác định đúng sản phẩm chủ lực nghĩa là đã xem xét một cách đầy đủ các ngành nghề có liên quan trong nền kinh tế. Điều này có nghĩa, khi tập trung đầu tư phát triển một ngành hàng chủ lực nào đó sẽ đồng thời phải đầu tư cho các ngành có liên quan khác làm cho chúng có điều kiện phát triển theo. Ngược lại, cũng thông qua quá trình xem xét này,
có thể xác định được những ngành nào có khả năng lan tỏa đến nó để có chính sách
khuyến khích đầu tư và qui hoạch phát triển một cách tương ứng và đồng bộ.
3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng nền kinh
tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu.
Sản phẩm chủ lực của quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp, thực trạng và tương lai phát triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó. Căn cứ vào định vị này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất ổn kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững.
4) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa là xác định đúng đối tượng khách hàng và thị trường tiêu thụ để tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý và thực hành chất lượng phù hợp.
Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được những sản phẩm bảo đảm chất lượng, thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng. Muốn vậy, các nhà sản xuất phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn
diện theo chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. 1.1.3. Một số lý thuyết liên quan đến xác định và phát triển sản phẩm chủ lực 1.1.3.1. Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (17231790)
Adam Smith được coi là cha đẻ của kinh tế học hiện đại. Tác phẩm lớn nhất của ông là 'The Wealth of Nations' xuất bản 1776. Trong tác phẩm, ông nhấn mạnh lợi ích của chuyên môn hoá và nhu cầu sinh ra hệ thống cơ chế thị trường, phản hồi qua hệ thống giá.
Có lẽ tư tưởng gắn liền với ông là Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantage). Trong
mô hình kinh tế cổ điển, các nhà học giả cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm
Trang 10đối về công nghệ) và các nước đang phát triển (có lợi thế tuyệt đối về nguồn lực) thông
qua bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tư liệu sản xuất và yếu kém về kiến thức
công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối [55].
1.1.3.2. Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (17721823)
Học thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các
quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị lao động. Theo học thuyết này thì ngoại
thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác định đúng lợi thế so sánh. Nghĩa là việc
nghệ như nhau: các nước phát triển có cung về tư bản nhiều hơn các nước đang phát
triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn. Ngược lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước phát triển. Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại
ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công.
Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế
so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này. Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô hoặc sơ chế như dầu thô, than đá, thủy sản đông lạnh hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép còn nhập khẩu máy móc,
thiết bị từ các nước phát triển [3].
1.1.3.3. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Micheal E. Porter (17721823)
Michael E. Porter là người đã đưa ra môn học về chiến lược cạnh tranh và mô hình phân tích cấu trúc ngành. Về lý luận cạnh tranh, ông đã xuất bản ba cuốn sách nổi tiếng thế giới và được sử dụng trong hầu hết các chương trình đào tạo MBA của các nước. Đó là cuốn ''Chiến lược cạnh tranh'' xuất bản năm 1980, cuốn ''Lợi thế cạnh tranh'' năm 1985 và cuốn ''Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1990. Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Kim cương”. Theo Porter thì không một quốc gia nào có được khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành mà chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó. Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên. M. Porter cho rằng các nền kinh tế đều phải trải qua 3 giai đoạn phát triển cạnh tranh, đó là: cạnh tranh dựa vào yếu tố sản xuất, cạnh tranh dựa vào đầu tư, cạnh tranh dựa vào đổi mới và sáng tạo. Các giai đoạn cạnh tranh phản ánh nguồn lợi thế đặc trưng, bản chất và quy mô của những ngành phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế.
Việc phân chia các giai đoạn cạnh tranh chỉ mang tính chất tương đối và các quốc gia hay các địa phương không nhất thiết phải đi qua tất cả các giai đoạn, nhưng việc xác
Trang 11giúp cho các doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để thành công trong kinh
doanh quốc tế. Theo Michael.E Porter, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, địa phương hay
Nền kinh tế định hướng sáng tạo
Hiệu quả nhờ
chi phí đầu vào
Hiệu quả nhờ đầu tư mạnh
Hiệu quả nhờ đổi mới
các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Ông còn đưa ra thêm 2 yếu tố bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ. (Xem
CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VÀ CÓ LIÊN QUAN
CÁC ĐIỀU KIỆN VỀ CẦU
ĐIỀU KIỆN YẾU TỐ SẢN XUẤT
SỰ NGẪU NHIÊN
CHÍNH PHỦ
Trang 12Ban đầu, Porter cung cấp các nguyên lý cụm cho các cụm quốc gia và quốc tế nhưng sau đó đã nhận ra sự thích hợp cho các cụm vùng kinh tế trong nội bộ quốc gia. Một cụm giống như chuỗi giá trị trong sản xuất hàng hoá, dịch vụ, trong đó các ngành sản xuất được liên kết với nhau bởi dòng hàng hoá và dịch vụ mạnh hơn dòng liên kết chúng với phần còn lại của nền kinh tế. Các quan hệ trong cụm được phân thành 3 loại: (1) quan hệ mua bán bởi sự tập trung và hội nhập dọc giữa quá trình sản xuất chính với các đầu vào và phân phối hàng hoá và dịch vụ;
(2) quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh và các đối tác nhằm khai thác thông tin về sản phẩm và qui trình, mở rộng sự cải tiến và các liên kết chiến lược; và
(3) quan hệ giữa thị phần và nguồn tài nguyên bằng sự chia sẻ công nghệ, lực lượng lao động và thông tin.
Việc sử dụng khái niệm cụm như là công cụ để hiểu được quá trình phát triển sản phẩm chủ lực ở cấp độ vùng và sự ảnh hưởng của nó đến việc định dạng và chuyển giao chính sách phát triển cụm và phát triển kinh tế vùng. Ở cấp vùng, các chính sách phát triển cụm được hỗ trợ bởi các cơ quan phát triển vùng và gắn với các chiến lược phát triển địa phương. Trong trường hợp này, sự tiếp cận cụm về nguyên tắc được sử dụng như là công
cụ phát triển về ngành sản phẩm và không gian liên kết hoạt động của ngành sản phẩm đó. 1.1.3.5 Phát triển bền vững sản phẩm chủ lực
Năm 1980, lần đầu tiên trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (được Hiệp hội
Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế IUCN công bố), thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Đến năm 1987, khái niệm này được phổ
biến rộng rãi thông qua nội dung của Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Theo báo cáo này thì phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng
Trang 13CON NGƯỜI
SẢN PHẨM CHỦ LỰC
TÀI NGUYÊN LỢI
và sử dụng phân gia súc.
3) Liên quan đến yếu tố lợi nhuận: Phát triển sản phẩm chủ lực phải tạo ra giá trị
một cách công bằng cho người tiêu dùng và các bên liên quan trong chuỗi giá trị. Phát triển sản phẩm chủ lực cần bảo đảm khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp
và các bên liên quan, tạo ra giá trị hữu dụng cao cho người tiêu dùng, đảm bảo nối kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các công ty lớn và các công ty đa quốc gia, công
nghiệp hóa, hiện đạt hóa và không ngừng tăng quy mô sản xuất hợp lý [42].
1.2 Phương pháp xác định và phát triển sản phẩm chủ chủ lực 1.2.1. Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
1.2.1.1 Khái niệm tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một hoặc một số chỉ tiêu định lượng hoặc định tính mà theo đó, người ta có thể nhận biết được sản phẩm nào có ưu thế trong sản xuất, kinh doanh hoặc cạnh tranh trên thương trường để công nhận là sản phẩm chủ lực. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì có thể tiếp cận vấn đề này từ các
+ Nhóm tiêu chí đủ: là những yếu tố mà sản phẩm chủ lực đòi hỏi về phía xã hội.
Chẳng hạn như: phải có tài nguyên, nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng thương hiệu, chính
Trang 14chương trình hay qui định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương [2], [8] 1.2.1.3. Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần. Cụ thể:
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách quan của hàng hóa. Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, của
xã hội cũng như của nhà quản lý. Thông qua các tiêu chí đánh giá, người ta có thể nhận biết được sản phẩm chủ lực đang sở hữu những tính năng, chất lượng gì và có khả năng
thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng tới đâu.
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực còn là những yêu sách về phía xã hội và nhà
quản lý. Nếu đáp ứng được những yêu sách này thì sản phẩm sẽ đủ điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực. Như vậy, cũng có thể xem hệ thống tiêu chí đánh giá là khuôn mẫu cho các chính sách đầu tư về công nghệ, sử dụng tài nguyên, đào tạo tay nghề và các chính sách hỗ
trợ của Nhà nước.
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, khi được thừa nhận, là một văn bản có giá
trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý. Để phát triển sản phẩm chủ lực, các nhà sản xuất phải điều chỉnh công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng hợp chuẩn. Sẽ không còn tùy tiện, chủ quan xem thường qui chuẩn thường thấy ở đối tượng này. Nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ
chức thực hiện thích hợp.
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một bản tuyên ngôn về chất lượng của
hàng hóa, thể hiện sự cam kết về trách nhiệm của doanh nghiệp, nhà sản xuất với cộng
Trang 15đồng, xã hội. Thông qua hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, người tiêu dùng
doanh của toàn vùng.
(2) Hệ số địa phương hóa của sản phẩm trong vùng (LQ ir )
Hệ số địa phương hóa (Location Quotient ) giúp đo lường mức độ tập trung chuyên môn hóa của vùng, miền hay địa phương về lĩnh vực khu vực i trong mối quan hệ với vùng lãnh thổ lớn hơn R (thường là một quốc gia) và trong toàn bộ nền kinh tế (tức là, tất
cả các lĩnh vực của nền kinh tế của một quốc gia). Thông qua hệ số này, người ta thấy được mức độ tập trung chuyên môn hóa của một ngành hay sản phẩm nào đó tại một vùng, miền hay địa phương so với mức độ tập trung chuyên môn hóa ngành, sản phẩm đó của vùng lớn hơn hay trên cả nước ((Maggioni và Riggi năm 2008).
tranh toàn cầu (Florida State University, 2010).
(3) Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm trong vùng (Grw).
Tiêu chí này cho biết mức độ tăng trưởng về sản lượng, giá trị sản lượng hoặc giá trị gia tăng của sản phẩm chủ lực. Nó phản ảnh khả năng và triển vọng phát triển của hàng hóa chủ lực trong tương lai.
Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm có thể nhận được từ số báo cáo hàng năm của địa hoặc tính theo công thức :
(1.2)
Trang 16đến toàn bộ ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ) sản phẩm i.
Nếu CGrw < 1, việc phát triển sản phẩm i sẽ làm tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm i trong
ngành nên sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng ngành kinh tế (kéo giảm tốc độ tăng
trưởng của ngành); Nếu CGrw >1, việc phát triển sản phẩm y sẽ làm tăng tỷ trọng giá trị sản
phẩm i trong ngành nên sẽ ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng ngành kinh tế (đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng của ngành).
(5) Tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm so với toàn vùng (R EX )
Là tỷ lệ so sánh giữa giá trị xuất khẩu của sản phẩm chủ lực với tổng giá trị xuất
khẩu của toàn vùng. Tiêu chí này phản ảnh tầm quan trọng của sản phẩm chủ lực trong
vì nó ảnh hưởng lớn đến thành tích xuất khẩu chung của toàn vùng.
(6) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu nội địa (RCA D )
Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của vùng về một sản phẩm cụ thể trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả nước về sản phẩm đó. Nếu tỷ trọng xuất khẩu của vùng về sản phẩm chủ lực lớn hơn tỷ trọng sản phẩm cùng loại đó trong tổng xuất khẩu của cả nước thì vùng, địa phương đang xét được coi là vùng có lợi thế so sánh về loại sản phẩm đó.
/
/
= Trong đó:
EX ir : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của vùng, địa phương r
EXr: Tổng giá trị xuất khẩu của vùng, địa phương r
EX iN : Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của cả nước
EXN: Tổng giá giá trị xuất khẩu của cả nước Nếu hệ số RCA D lớn hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là có lợi thế so sánh nội địa về sản phẩm i. Hệ số này càng cao thì lợi thế so sánh càng cao. Ngược lại, nếu RCAD nhỏ hơn 1 thì vùng hay địa phương đang xem xét được coi là không
có lợi thế so sánh nội địa về sản phẩm i.
(7) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu thế giới của sản phẩm (RCA W )
Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả thế giới về hàng hóa đó. Nếu tỷ trọng xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực lớn hơn tỷ trọng hàng hóa đó trong tổng xuất khẩu của cả thế giới thì quốc gia đó được coi là có lợi thế so sánh về hàng hóa đó.
(1.6) (1.5)
Trang 17/
= Trong đó:
EXiN: Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của quốc gia
EX N : Tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia
EXiw: Giá trị xuất khẩu sản phẩm i của thế giới
EX W : Tổng giá giá trị xuất khẩu của cả thế giới
Nếu hệ số RCAW lớn hơn 1 thì quốc gia đang xem xét được coi là có lợi thế so sánh
quốc tế về sản phẩm i. Hệ số này càng cao thì lợi thế so sánh càng cao. Ngược lại, nếu
ngành I/0.
10) Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)
DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng thông qua xem xét tính hiệu quả của nguồn lực trong nước được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm. DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng với 1 đơn vị tiền tệ thu được từ sản phẩm đem bán. Do đó, DRC nhỏ hơn 1 có nghĩa là sản phẩm có lợi thế so sánh và ngược lại. DRC càng nhỏ thì lợi thế so sánh càng cao. Công thức tính:
)
1 (
PV DRC
Trang 18Chỉ tiêu này phản ảnh bối cảnh tác động từ bên ngoài có thuận lợi hay không đối
với quá trình sản xuất và cung ứng hàng hóa chủ lực. Ngành công nghiệp hoặc dịch vụ
Sản xuất gắn với môi trường đang được xem là “vũ khí” tăng sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thương trường. Một ngành sản xuất không phá hủy cân bằng hệ sinh
thái, không ô nhiễm môi trường tự nhiên, không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng
thống tiêu chí cũng như từng tiêu chí cụ thể.
+ Về điểm chuẩn tối đa. Đây là biểu thị mức độ đạt được của hệ thống các tiêu chí;
là cơ sở để đưa ra quyết định việc có công nhận một sản phẩm nào đó là sản phẩm chủ lực hay không (xét về mặt định lượng). Điểm chuẩn tối đa của hệ thống có thể là 10, 20, 50 hoặc 100, tùy vào quyết định chủ quan của người xây dựng. Tuy nhiên, để đảm bảo việc đánh giá chính xác đến mức phần trăm (1/100), cần chọn theo thang điểm ‘bách phân’, tối
đa là 100 điểm (thực tế nhiều địa phương trong nước đã làm).
+ Về điểm chuẩn tối đa cho từng tiêu chí. Đây là biểu thị mức độ đạt được của một
tiêu chí cụ thể; là cơ sở xem xét mức độ đạt được về mặt định lượng của một yếu tố nào
đó. Do mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên khi xây dựng thang điểm chuẩn cho mỗi tiêu chí, cần tiến hành theo phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi để thu thập thông tin, xử lý và tìm ra trọng số cho mỗi tiêu chí.
Nếu gọi i (i=1,2,3,4,5 n), là các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi trong thang đo
và cũng là trọng số của phương án lựa chọn; tỷ lệ người chọn trả lời phương án là r (r=% của số người tham gia trả lời); vậy, trọng số của một tiêu chí cụ thể nào đó chính là ∑ir.
Từ đó, nếu gọi t là tiêu chí thứ t (với t = 1,2,3,4,5 m) thì tổng trọng số của cả hệ thống các tiêu chi được biết là ∑∑ir. Bây giờ gọi P là tổng điểm chuẩn tối đa của hệ thống và P t
là điểm chuẩn tối đa của tiêu chí. Vậy, điểm chuẩn tối đa của một tiêu chí được tính bằng công thứcsau:
(1.11)
Trang 19Qua nghiên cứu qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm của các địa phương tác giả
nhận thấy, để đảm bảo được yêu cầu này, ĐBSCL cần thực hiện theo qui trình với 4 giai
đoạn với các nội dung công việc chủ yếu như sau:
Hình 1.4 Qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực
Nguồn: Tác giả tổng hợp và xây dựng 1) Giai đoạn chuẩn bị
Thiếu chuẩn Không đủ chuẩn
HOÀN THIỆN
Đủ chuẩn
GIAI ĐOẠN CÔNG NHẬN TÔN VINH
+ Xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá xét chọn sản phẩm chủ lực cho toàn vùng. Bộ tiêu
chí này phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu như:
· Bảo đảm tính định tính và định lượng. Cần ưu tiên xem xét các tiêu chí định lượng kết hợp cân nhắc một số tiêu chí định tính cần thiết
· Bảo đảm cả điều kiện cần và điều kiện đủ. Tức Bộ tiêu chí phải vừa thể hiện
rõ khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường, đồng thời chỉ ra được những bức xúc, đòi hỏi mà xã hội, địa phương cần hỗ trợ.
Để bảo đảm khách quan, khoa học, thiết nghĩ công việc này cần giao cho các nhà nghiên cứu và chuyên môn trong từng lĩnh vực như sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu…phối hợp thực hiện.
+ Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của vùng. Một sản
phẩm có thể chưa trở thành chủ lực của vùng do còn thiếu các điều kiện hỗ trợ cần thiết như đầu tư, xây dựng và quảng bá thương hiệu…Do đó, các địa phương cần thống nhất xây dựng chính sách ưu tiên, hỗ trợ chung để sản phẩm đó trở thành chủ lực của vùng.
Để đảm bảo tính hiệu lực khi thực thi, việc hoạch định chính sách phải được các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính, kế hoạch đầu tư, quản lý nhà nước
về sản xuất kinh doanh phối hợp với bộ phận chỉ đạo chung xây dựng.
+ Thiết kế các thủ tục đăng ký, mẫu biểu giấy tờ cần thiết. Cần hoàn thiện các qui
định, hướng dẫn, mẫu biểu giấy tờ cần thiết…để làm cơ sở pháp lý và tạo ra tính thống nhất trong chỉ đạo cũng như quản lý hành chính trong quá trình thực hiện.
phương tiện truyền thông phù hợp.
+ Tiếp nhận đăng ký và sàng lọc đối tượng tham gia chương trình. Nhằm bảo đảm
tính khả thi và tập trung, tránh dàn trải, bộ phận chỉ đạo tiếp nhận đăng ký của các doanh nghiệp và tiến hành sàng lọc với 2 nội dung sau:
Trang 20phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương cũng như địa phương [2], [8], [16], [17] 1.3 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm chủ lực của một vài quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
Nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Nam Á có nét tương đồng về nhiều mặt như vùng kinh tế ĐBSCL của Việt Nam, đã rất khó khăn trong phát triển kinh tế vào đầu nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, gần đây đã phát triển vượt bậc nhờ vào lựa chọn và phát triển sản phẩm/ngành sản phẩm phù hợp theo mô hình
cụm phát triển của M. Porter. Xin dẫn chứng 3 trường hợp điễn hình nhất như sau: 1.3.1 Kinh nghiệm của Indonesia
Chính phủ Indonesia cho rằng, với một đất nước mà kinh tế nông nghiệp còn giữ vai trò chủ lực, nông dân và nông thôn vẫn còn là địa bàn quan trọng thì nhiệm vụ trước hết là phải có những chính sách tác động mạnh mẽ vào công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Chính phủ cũng đã tiến hành cải tổ lại khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục đích tư nhân hóa một bộ phận quan trọng đồn điền của Nhà nước, thu hút đầu tư của tư bản nước ngoài để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu… Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân trong nước tham gia kinh doanh đồn điền trên cơ sở Nhà nước cho vay vốn với lãi suất thấp, miễn giảm thuế kinh doanh và cho phép phối hợp với Nhà nước để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Từ năm 1968, khuyến nông được Indonesia xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong đó, việc cung cấp lúa gạo, ổn định lương thực được xem như là mục tiêu chính của kế hoạch phát triển. Nhờ chính sách khuyến khích sản xuất nông sản và cải tạo hệ thống lưu thông nông sản như vậy mà công nghiệp chế biến của Indonesia đã có những bước tiến căn bản. Là nước nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới, Indonesia bắt đầu tự túc được lương thực từ năm 1981. Các loại cây công nghiệp được chú trọng phát triển để tiêu thụ trong nước và tham gia xuất khẩu trên thị trường như: cà phê, ca cao, cao su, hồ tiêu hạt trắng và hồ tiêu hạt đen
Trang 21Trong thời kỳ 19851996, Indonesia tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu dầu cọ, cao
su, sắn, hoa, trái cây, cơm dừa và dầu dừa, gỗ.
Những năm cuối thế kỷ XX do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, nền kinh
tế Indonesia bị thiệt hại nặng nề. Tình hình chính trị bất ổn và hạn hán xảy ra nghiêm
trọng đã làm cho nông nghiệp nước này không phát triển được. Sau khi Chính phủ mới
được thành lập (6/1999) kinh tế Indonesia nói chung và nông nghiệp nói riêng đã có dấu
hiệu phục hồi: chiến lược phát triển nông nghiệp mới của Indonesia thể hiện một cuộc cải
tổ sâu sắc, đặc biệt là trong lĩnh vực lưu thông nông sản như: xóa bỏ độc quyền của Bulog
trong nhập khẩu lúa mì, bột mì, đậu tương, tỏi và gạo; cắt giảm thuế quan với tất cả các
hàng thực phẩm xuống mức cao nhất là 5%; cho tự do buôn bán giữa các vùng, loại bỏ
những cản trở đối với việc buôn bán và vận chuyển một số hàng hóa, giảm các cản trở phi
thuế quan đối với thị trường nông sản, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh nhỏ có cơ hội
tăng thu nhập; mở rộng tự do buôn bán thực phẩm, chuyển dần từ cơ chế hành chính sang
các công cụ tài chính, thị trường để quản lý lương thực và ổn định giá; đảm bảo giá sàn
theo mức thích hợp cho từng vùng để hỗ trợ nông dân, thay cho việc bảo hộ người tiêu
xã hội của Philippines. Phần lớn sản xuất nông nghiệp là các loại cây trồng cho tiêu thụ
trong nước như gạo và ngô, và cây trồng để xuất khẩu như dừa, mía và chuối. Trước đây,
sản xuất nông nghiệp thường được tiến hành theo quy mô nhỏ, nhưng hiện nay nó được tổ
chức thành các đồn rộng lớn. Ngay từ thập kỷ 60, Philippines đã tiến hành cuộc cách mạng xanh nhằm tăng năng suất cây trồng bằng cách áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật như lai tạo ra các giống lúa cao sản, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu và xây dựng hệ thống thủy nông. Đã từ lâu, Philippines là quê hương của giống lúa cao sản tại châu Á; ở đây có Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và là nước đi đầu trong việc áp dụng những giống lúa do IRRI tạo ra. Sản xuất lúa, dừa, mía là những ngành nghề có qui mô lớn và mang tính truyền thống. Trung tâm sản xuất lương thực của Philippines là vùng Mindacao, chiếm 34% diện tích Philippines, đóng góp 34% cho sản xuất nông ngư nghiệp của Philippines, Chính phủ đầu tư 1/3 ngân sách nông nghiệp xây dựng vùng này thành vùng sản xuất chuyên canh lúa. Ngành sản xuất dừa
là ngành chính trong nền kinh tế Philippines, đặc biệt trong việc thu ngoại tệ và tạo công ăn việc làm. Khoảng 90% lượng dừa của nước này được chế biến thành cùi dừa khô. Trong đó, 5% lượng cùi dừa khô là để xuất khẩu, 95% chế biến thành dầu ăn và dầu công nghiệp khác. Mía đường được trồng trên những đồn điền lớn, đường Philippines được nhập theo quota ưu đãi vào thị trường Mỹ.
Vì là một nước nông nghiệp, nên Philippines đã chọn phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản. Chính phủ Philippines đề ra ba mục tiêu của ngành công nghiệp chế biến nông sản là bảo đảm xuất khẩu các mặt hàng truyền thống, tìm các nguồn hàng nông nghiệp mới để xuất khẩu và tự sản xuất để thay thế nhập khẩu. Philippines quyết định thay đổi chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sang tăng cường cạnh tranh. Một loạt các chính sách phát triển nông nghiệp ra đời như:
Luật “hiện đại hóa nông, ngư nghiệp" (AFMA1998), cung cấp các chính sách
cơ bản cùng với các biện pháp để hiện đại hóa nông nghiệp và thủy sản. Luật này nhằm mục đích: (1) thực hiện các biện pháp theo tầm quan trọng của nông nghiệp và thủy sản (2) đảm bảo sự lãnh đạo mạnh mẽ của Bộ Nông nghiệp và (3) nâng cấp ngắn hạn và dài hạn khả năng hành chính của Bộ Nông nghiệp và các tổ chức liên quan.
Dự án GMA là một kế hoạch trung hạn của Philippines (19992001) nhằm thực hiện AFMA1998. Theo kế hoạch này, dự án lúa bao gồm: (1) thực hiện an ninh lương thực quốc gia, (2) xóa đói giảm nghèo ở các làng nông nghiệp, (3) tăng thu nhập cho nông dân, (4) thực hiện nông nghiệp bền vững, và (5) nâng cấp khả năng của nông dân.
Chương trình nghị sự của Bộ nông nghiệp (2001) bao gồm 11 mục: (1) thúc đẩy việc thực hiện các quy định chủ yếu của đạo luật Hiện đại hóa nông nghiệp thủy sản năm
Trang 221997, (2) tăng cường các biện pháp chống buôn lậu và cải thiện môi trường đầu tư, (3)
triệt để triển khai thực hiện Luật Thuỷ sản, (4) sắp xếp các cơ sở hạ tầng, bao gồm cả các
cơ sở thủy lợi và đường giao thông, (5) thiết lập một hệ thống tài trợ cho nông dân và
những người tương tự, (6) thảo luận về tài nguyên nước trong nông nghiệp, (7) xem xét
các dự án GMA, (8) xem xét ưu đãi trong thúc đẩy phát triển kinh doanh và tài chính, (9)
xúc tiến phát triển ở Mindanao, (10) cung cấp hỗ trợ để tái lập các quỹ thuế dừa, và (11)
củng cố tổ chức của nông dân (ASEANJAPAN CB Project).
Có thể nói đây là một tổ hợp các chính sách liên quan đến sản xuất, nghiên cứu
chuyển giao công nghệ, khuyến nông, phát triển kinh tế nông thôn, thương mại, tài
chính và thị trường với nhiều chương trình, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hiệu
Lan. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng GDP cũng như xuất
khẩu trong nông nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành kinh
tế chủ lực làm nền tảng cho phát triển kinh tế của quốc gia này. Sản xuất nông nghiệp
được phân bổ tập trung theo cụm ở rải rác khắp nơi trên lãnh thổ như: vải thiều, dâu
tây và các loại trái cây khác tập trung ở Bắc Thái Lan; lúa gạo, mía, sắn được trồng
nhiều ở khu vực Đông Bắc; khu vực Miền Trung Thái Lan nổi tiếng về lúa gạo xuất
khẩu, nơi đây được mệnh danh là “Nồi cơm của Châu Á”. Tương tự, vùng quê phía
để cải thiện toàn diện nông nghiệp trong 2 năm (2002 2004). Trong đó chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển loại giống tốt, mở rộng tưới tiêu, phát triển công nghệ sinh học, phát triển các sản phẩm mới, đặc biệt khuyến khích và cho phép nông dân tham gia trực tiếp vào các kế hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn. (ASEANJAPAN CB Project).
Về công nghiệp, Thái Lan tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến với
sự phân bố đều khắp ở các địa phương. Công nghiệp chế biến lúa gạo của Thái Lan bao gồm hàng chục ngàn cơ sở xay xát lớn, vừa và nhỏ cộng với hệ thống kho chứa gạo, kho dự trữ, các xí nghiệp sản xuất bao bì đóng gói ở khắp các thị trấn, thành phố, bến cảng. Mặt hàng gạo sấy của Thái Lan đang "một mình, một chợ" và Thái Lan đang đẩy mạnh sản xuất mặt hàng này lên tới 30% khối lượng gạo xuất khẩu. Công nghiệp mía đường, công nghiệp chế biến sắn của Thái Lan cũng khá phát triển với sản lượng khoảng gần 4 triệu tấn sắn khô/năm. Đặc biệt, công nghệ chế biến trái cây và rau xuất khẩu của Thái Lan phát triển khá nhanh với rất nhiều chủng loại từ dứa, xoài, dừa, chuối, bưởi, măng cụt, rau thơm và đặc biệt là đồ gia vị Hiện nay, Thái Lan là một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu rau quả chế biến sang thị trường các nước Mỹ, Nhật, EU. Trồng và chế biến cao su cũng là ngành kinh
tế có giá trị cao ở Thái Lan. Nhằm khuyến khích nông dân chế biến tập trung để nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh, Chính phủ Thái Lan hỗ trợ cho nông dân sơ chế 100% mủ cao su trên cơ sở các hộ có nhu cầu sơ chế phải tự nguyện liên kết lại trong các tổ chức tự quản như tập đoàn, hợp tác xã,
và đăng ký với Quỹ hỗ trợ trồng lại cao su (ORRAF) để được xem xét đầu tư nhà máy chế biến có qui mô, công suất thích hợp (nhà máy do ORRAF đầu tư 100% vốn
và giao cho tập đoàn hoặc hợp tác xã tự quản lý). Hiện nay, Thái Lan là quốc gia có nền công nghiệp chế biến cao su đạt trình độ cao và một trong những nước xuất khẩu cao su hàng đầu thế giới.
Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại, nông nghiệp Thái Lan cũng phải đối mặt với nhiều khó
Trang 23cao, giá nhân công tăng; cơ sở hạ tầng và trang thiết bị sản xuất kém, nhất là vùng
phía Bắc và Đông Bắc; các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kém hiệu
quốc tế. Nhờ nổi tiếng về chất lượng, nông sản chế biến của Thái Lan đang cạnh
tranh quyết liệt chiếm dần thị phần của Indonesia và Malaysia. Bên cạnh đó, Chính
phủ Thái Lan tập trung khai thác thị trường các nước đạo Hồi với chủ trương xây
dựng tỉnh Pattani (giáp biên giới Malaysia) thành trung tâm sản xuất thực phẩm cho
đạo Hồi của thế giới. Chính phủ Thái Lan đã đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng,
khuyến khích đầu tư bằng thuế, tín dụng ưu đãi, giúp các nhà đầu tư nghiên cứu thị
trường Ai Cập và Nam Phi, thống nhất với Indonesia và Malaysia về nhãn hiệu, qui
tắc quản lý chất lượng thức ăn Hồi giáo của các nước ASEAN. Đến nay, 221 nhà máy
sản xuất sản phẩm này của Thái Lan đã đi vào hoạt động [52].
1.3.4 Bài học rút ra cho Luận án
Cò thể nói, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong việc xác định và phát
triển các sản phẩm nông nghiệp cũng như xây dựng các ngành hàng công nghiệp bổ
trợ như chế biến nông sản, lâm sản và thủy sản đã cho thấy sự cần thiết của việc xác
định đúng đắn ngành hàng, sản phẩm chủ lực trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của mỗi
Trang 24E. Porter để phân tích những tiềm năng và lợi thế gần như có một không hai này. 2.1.1 Điều kiện về các yếu tố sản xuất để phát triển sản phẩm chủ lực 2.1.1.1 Điều kiện về nguồn nhân lực
Như đã nói ở phần trên, dân số ĐBSCL năm 2010hiện có 17,272 triệu người, chiếm 19,87% dân số cả nước và mật độ dân số là 426 người/km 2 , cao hơn trung bình chung cả nước (263 người/km 2 ). Dân số nông thôn ĐBSCL có 13,272 triệu người (chiếm 76,84%), cao hơn rất nhiều so với cả nước (69,83%). Số người trong độ tuổi lao động của toàn vùng
có khoảng 10,129 triệu người, chiếm 58,64% dân số, trong đó số lao động có việc làm
Tỷ lệ lao động có việc làm 52,8 54,8 55,5 56,2 56,7
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2010
Theo số liệu trong bảng 2.1, dân số ĐBSCL đã tăng từ 16946,9 ngàn người năm
2006 lên 17272,2 ngàn người năm 2010, tăng 1,92% cả giai đoạn (thấp hơn tốc độ trung bình cả nước tăng 4,34% cả giai đoạn). Trong đó, dân số nông thôn có chiều hướng giảm
và người trong độ tuổi lao động có việc làm cũng tăng và luôn cao hơn trung bình chung của cả nước (từ 52,8% năm 2006 lên 56,7% năm 2010). Tuy nhiên, lực lượng lao động đã
Trang 25Cà Mau; nhóm đất nhiễm mặn có khoảng 0,75 triệu ha, khó cung cấp nước ngọt từ hệ
thống sông ngòi nên chỉ trồng được lúa vào mùa mưa, còn mùa khô nhiều nơi được
chuyển sang nuôi tôm nước mặn và lợ; và các loại đất khác chỉ với khoảng 0,35 triệu ha,
gồm đất than bùn (vùng rừng U Minh), đất xám trên phù sa cổ (cực Bắc của ĐBSCL) và đất đồi núi (phía TâyBắc ĐBSCL).
của toàn vùng
Bảng 2.4 Diện tích một số cây trồng quan trọng giai đoạn 2006 – 2010
Loại cây trồng Trong đó 2006 2007 2008 2009 2010
1. Cây ăn quả các loại
Cả nước (ha) 764.400 778.500 775.500 774.000 776.300 ĐBSCL (ha) 276.896 281.675 279.049 255.348 258.918
2. Cây mía
Cả nước (ha) 288.100 293.400 270.700 265.600 266.300 ĐBSCL (ha) 69.496 66.792 64.032 62.990 61.843
2. Cây dừa
Cả nước (ha) 134.870 136.600 141.000 144.900 147.000 ĐBSCL (ha) 107.896 109.269 112.760 115.941 117.544
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê và Thống kê kinh tế xã hội các tỉnh, thành ĐBSCL 2010
Trang 26Từ bảng trên có thể thấy, ĐBSCL là quê hương của các loại cây mà đứng đầu là
cây dừa với diện tích chiếm khoảng 80% diện tích dừa cả nước. Kế đến chính là cây ăn
quả và thứ ba phải kể đến là cây mía với diện tích lần lượt chiếm 35% và 23% của cả
có khoảng 750 km chiều dài bờ biển (chiếm khoảng 23% tổng chiều dài bờ biển toàn
quốc) với 22 cửa sông, cửa lạch và hơn 800.000 ha bãi triều (7080% là bãi triều cao)
Điều kiện giao thoa mặn, lợ, ngọt cũng đã tạo nên một vùng sinh thái đặc thù, hiếm thấy
trên thế giới, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất thủy sản hàng hoá tập trung.
3) Khí hậu thời tiết
ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới Bắc bán cầu, cận xích đạo, mang tính chất nhiệt đới gió mùa, mặt khác lại là vùng đồng bằng ven biển nên khí hậu trong vùng có sự pha trộn khí hậu hải dương với nền nhiệt độ cao và lượng mưa hàng năm dồi dào. Số giờ chiếu sáng cao và phân bố tương đối đồng đều trong năm; Độ ẩm không khí trung bình dao động từ 8388%; Lượng mưa tập trong mùa mưa, chiếm khoảng 90% lượng mưa của cả năm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhìn chung, điều kiện thời tiết khí hậu của các địa phương ĐBSCL là khá tương đồng và rất thuận lợi cho các loại cây trồng nhiệt đới thích nghi với nhiệt độ, độ ẩm cao, nắng nhiều và lượng mưa trung bình trong năm lớn. Tuy nhiên, đây cũng còn
là môi trường thuận lợi cho nhiều loại côn trùng phát triển, nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ dịch bệnh,
nấm mốc ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
2.1.1.3 Điều kiện về tri thức, khoa học 1) Hệ thống trường và cơ sở đào tạo
ĐBSCL đang trên đường hoàn thiện cơ sở hạ tầng giáo dục và đào tạo với hệ thống
13 trường đại học, 2 phân hiệu (Đại học Kiến trúc Tp. Hồ Chí Minh và Thủy sản Nha Trang), 26 trường cao đẳng, 28 trường trung học chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, một số trường khác đang chuẩn bị thành lập như Đại học Quốc tế Cần Thơ, Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Như vậy, tính đến cuối năm 2010, đã có 10/13 tỉnh trong vùng có trường đại học, tất cả các tỉnh đều có trường cao đẳng Hệ thống cơ sở giáo dục thường xuyên đã cơ bản phủ khắp địa bàn tỉnh, huyện. Riêng lĩnh vực dạy nghề, ĐBSCL hiện có 334 cơ sở, trong đó có 8 trường cao đẳng nghề, 30 trường trung cấp nghề và 127 trung tâm dạy nghề (41% là cơ sở dạy nghề tư thục). Mỗi năm có hàng vạn sinh viên, học sinh tốt nghiệp ra trường. Trong đó, có 10,1% sinh viên học ngành Nông lâm ngư nghiệp, ở bậc cao đẳng tỷ
lệ này là 4,7% . Đây là lực lượng lao động có chuyên môn nhiều trình độ khác nhau bổ
sung vào nguồn nhân lực cho ĐBSCL.
2)Viện nghiên cứu
Ngoài hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề kể trên, ĐBSCL còn có hệ thống các viện nghiên cứu chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho các địa phương trong vùng như: Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL thuộc trường Đại học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II của Bộ Nông
Trang 27nghiên cứu cơ bản và ứng dụng cũng như chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông
nghiệp; tham gia đào tạo sau đại học, sản xuất và cung cấp các loại giống nông nghiệp
phục vụ cho phát triển sản xuất vùng ĐBSCL.
Hiện nay, cùng với hệ thống các trường đào tạo trong vùng, hệ thống các viện
nghiên cứu giữ vai trò trọng yếu trong việc đào tạo nguồn lao động có trình độ cao và
Bộ và vùng Đông Bắc. Như vậy, sau hơn 20 năm thực hiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, toàn vùng ĐBSCL đã có 565 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 9,5
tỉ USD, chiếm 4,53% số dự án và 4,85% vốn FDI đăng ký cả nước. Trong đó, vốn FDI lĩnh vực công nghiệp chế biến chiếm 79,1% về số dự án và 56,3% về vốn đăng ký. Long
An hiện là địa phương dẫn đầu cả về số dự án và vốn đăng ký, chiếm 59,47% số dự án và 37,07% tổng vốn đăng ký; Kiên Giang xếp thứ hai về vốn với khoảng 3,71% số dự án và
sử dụng đoạn TP.HCM – Trung Lương. Dự kiến đến năm 2015 sẽ khởi động thêm nhiều
dự án giao thông mang tầm cỡ quốc gia như dự án tuyến đường sắt TP.HCM Cần Thơ, hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc TP.HCM Cần Thơ, tuyến đường Hồ Chí Minh nối dài đến Đất Mũi. Cùng với hệ thống giao thông nông thôn đang được các địa phương đầu
tư, hệ thống giao thông đường bộ ĐBSCL sẽ đảm bảo tốt cho lưu thông thông nội vùng, kết nối với các tỉnh Đông Nam bộ và TP.HCM cũng như từ ĐBSCL đi các nước lân cận,
Trang 28Cà Mau, đồng thời tỉnh An Giang cũng đã đề xuất Chính phủ cho đầu tư thêm sân bay
Châu Đốc. Hiện các sân bay này chỉ sử dụng các máy bay nhỏ, khai thác các tuyến bay
từ TP.HCM đi Mỹ Tho dài 72 km); Tuyến từ Bến Tre đi Cà Mau với chiều dài trên 220
km; sông Cái Lớn có chiều dài khoảng 60km chảy qua Hậu Giang, Kiên Giang và đỏ ra
biển Rạch giá và hàng trăm con sông lớn, nhỏ và kênh đào khác đã tạo nên mạng lưới giao
thông thủy phong phú bậc nhất cả nước và khu vực. Hàng năm, hệ thống này đã vận
chuyển tới 32% hành khách và 70% khối lượng hàng hoá thế mạnh của vùng như lương
thực, thủy sản xuất khẩu, vật liệu xây dựng …
2.1.2 Qui mô cầu thị trường về các sản phẩm chủ lực 1) Thị trường lúa gạo
Theo dự báo của Tổ chức nghiên cứu thị trường EIU (Economist Intelligence Unit) trong vòng 10 năm tới, năng suất lúa thế giới tiếp tục tăng bình quân trên 0,7% hằng năm, trong đó 70% tăng trưởng về sản lượng lúa thế giới sẽ từ Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Nigeria. Tuy nhiên do tốc độ tăng dân số nhanh hơn nên hằng năm mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người sẽ giảm khoảng 0,4 % mỗi năm. Ấn Độ và Trung Quốc vẫn sẽ là các nước tiêu thụ gạo lớn nhất và ước khoảng 50% lượng gạo tiêu thụ toàn thế giới. Riêng năm 2010, do khí hậu biến đổi thất thường làm cho sản xuất lúa gạo chịu ảnh hưởng tiêu cực. Tại Ấn Độ, diện tích lúa giảm đã kéo theo sản lượng gạo giảm từ 99 triệu tấn niên vụ 2009 xuống còn 89 triệu tấn niên vụ 2010; tại Indonesia, sản lượng gạo niên vụ 2010 chỉ có thể đạt 37,1 triệu tấn, giảm 1,2 triệu tấn so với niên vụ 2009; tương tự, Philippines giảm gần 1 triệu tấn xuống còn 9,772 triệu tấn. Nhìn chung, diện tích lúa thế giới niên vụ 2010 chỉ vào khoảng 156,1 triệu ha, giảm 1,7 triệu ha so với niên vụ 2009, trong khi năng suất không tăng đã làm giảm sản lượng, niên vụ 2010 ước chỉ đạt 441,2
Trang 29khẩu gạo lớn nhất thế giới, dự kiến sẽ nhập khẩu khoảng 40% trong năm 2010, đạt mức
2,6 triệu tấn và sẽ tăng mức nhập khẩu 2,5 triệu tấn mỗi năm trong thời gian tới. Nếu nhu
cầu nhập khẩu gạo của thị trường Châu Á và Châu Phi tăng sẽ thúc đẩy khối lượng giao
dịch gạo thế giới lên hơn 31,3 triệu tấn vào năm 2012 và 33,4 triệu tấn năm 2016.
Đối với thị trường gạo Việt Nam, nếu so với những năm gần đây thì tiêu dùng gạo
trong nước hầu như không có những biến đổi lớn, mặc dù quy mô dân số của Việt Nam
không ngừng tăng và gạo vẫn được coi là lương thực thiết yếu. Nguyên nhân là do đời
sống của người dân ngày càng được nâng lên nên lượng gạo trong khẩu phần của mỗi gia
đình hầu như đã giảm xuống; thay vì đáp ứng số lượng như trước đây thì một bộ phận
không nhỏ dân cư đã chuyển sang dùng những loại gạo có chất lượng cao hơn. Vậy, vấn
đề chủ yếu về thị trường gạo Việt Nam là xuất khẩu. Như đã nêu ở phần trên, do nguồn
cung trên thế giới bị thu hẹp đã tạo ra cơ hội cho ngành xuất khẩu gạo Việt Nam phát
triển. Thị trường truyền thống chủ đạo của xuất khẩu gạo Việt Nam nói chung vẫn là
Kim ngạch (1000USD)
Theo Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), tổng cầu về thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên thế giới dự kiến sẽ đạt 183 triệu tấn vào năm 2015, với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm. Tiêu thụ thuỷ sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đoạn đến năm 2015, giảm so với mức 1,5% đã đạt được trong 20 năm trước. Tiêu thụ cá và sản phẩm cá bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 13,7 kg vào năm 2010 và 14,3 kg vào năm 2015, trong khi đó nhu cầu về shellfish (thuỷ sản có vỏ) và
các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,7 và 4,8 kg/người.
Bảng 2.9 Dự báo tiêu thụ thuỷ sản theo mục đích và theo nhóm nước đến 2015
Đơn vị: Triệu tấn
Mục đích và quốc gia tiêu thụ thủy sản đến năm 2015 2005 2010 2015
Bình quân giai đoạn (%) 2010/2005 2015/2010
Tiêu dùng cho thực phẩm 107,5 117,2 138,0 1,75 3,30
Hao hụt và tiêu dùng khác 37 40 45,0 1,60 2,40 Trong đó
Trang 30 6% là trái cây tươi.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, tỷ lệ trái cây nhập khẩu mấy năm qua liên tục tăng ở hai con số, chỉ tính riêng trong 7 tháng đầu năm 2011, các doanh nghiệp đã nhập về
134 triệu USD mặt hàng rau quả, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều loại trái cây như táo, cam, quýt, mận, nho, lựu từ Trung Quốc, Thái Lan, Philíppin, Mỹ, Niu Dilân đầy dẫy trên
Trang 31thế giới và thị trường nội địa cũng đang bị bỏ ngõ.
4) Thị trường du lịch
ĐBSCL với đặc thù là vùng sinh quyển độc đáo trên thế giới, nơi đây sẽ là điểm
đến mới đối với du khách quốc tế. Địa hình của vùng rất đặc trưng với nhiều sông rạch
vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng, của địa phương; việc
phát triển còn manh mún, chưa đồng bộ. Thực tế có thể nhận thấy, du khách khi đến
đến 2020, tầm nhìn 2050 của vùng sẽ có nhiều thay đổi quan trọng, tạo ra nhiều cơ hội
phát triển cũng như khó khăn cho vùng. Theo sự báo, đến năm 2020 dân số ĐBSCL có
khoảng 20 21 triệu người, trong đó dân số đô thị khoảng 7,0 7,5 triệu người với tỷ lệ đô
thị hóa khoảng 33 35%; đến năm 2050 con số này sẽ là khoảng 30 32 triệu người, trong
Phát triển cấu trúc không gian toàn Vùng với hành lang kinh tế sông Tiền, sông Hậu, quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, cụm các đô thị trung tâm và các đô thị nhỏ được phân bố đều dựa trên các vùng nông nghiệp, công nghiệp và du lịch;
Phát triển các vùng nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp tập trung chuyên môn hóa; hình thành các trục hành lang kinh tế công nghiệp và dịch vụ, tạo động lực cho các tỉnh trong Vùng phát triển nhanh và bền vững;
Phát triển các vùng, các trung tâm du lịch tầm quốc tế, quốc gia gắn với đặc trưng văn hóa, đô thị và cảnh quan tự nhiên; Phát triển hài hoà giữa đô thị và nông thôn;
Hình thành hệ thống hạ tầng xã hội đa dạng và linh hoạt trên cơ sở hệ thống hạ tầng kỹ thuật gắn kết hệ thống dân cư, đô thị trên toàn vùng, kiểm soát môi trường chặt chẽ ,với các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng thay đổi bất thường của thiên nhiên.
Hình thành các chương trình, dự án chiến lược có sức lan tỏa và thúc đẩy sự phát triển vùng; Xây dựng mô hình quản lý và kiểm soát phát triển không gian, kiến trúc cảnh
quan vùng có hiệu quả.
2) Định hướng phát triển không gian và vùng
Vùng phát triển đô thị: Gồm có vùng đô thị trung tâm gồm đô thị hạt nhân thành
phố Cần Thơ; vùng phụ cận xác định trong phạm vi bán kính 30 50 km từ vùng đô thị trung tâm; vùng đối trọng với các đô thị tỉnh lỵ có khoảng cách trung bình 30 50 km từ
đô thị trung tâm.
Các trục hành lang kinh tế đô thị: Gồm có trục hành lang kinh tế đô thị sông Tiền
sông Hậu (trục hành lang kinh tế Đông Tây) và quốc lộ 91; trục hành lang kinh tế đô thị quốc lộ 1A đường Hồ Chí Minh (hướng Bắc Nam); các trục hành lang kinh tế đô thị khác kết nối các đô thị còn lại trong các hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp và các dịch vụ
cho nông thôn.
Vùng phát triển công nghiệp: Gồm có vùng công nghiệp trung tâm tại ĐBSCL bố
trí các ngành công nghiệp chế xuất, kỹ thuật cao, công nghiệp sạch và công nghiệp phụ trợ; vùng công nghiệp phía Đông Bắc tại tỉnh Long An, Tiền Giang giáp với thành phố Hồ Chí Minh bố trí công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, cơ khí phục vụ sản xuất nông
Trang 32được nhu cầu của các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp trong vùng.
1) Ngành công nghiệp chế biến.
Những năm gần đây, công nghiệp trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ phát triển cao, bình quân tăng 21,8%. Đến đầu năm 2009, ĐBSCL có 99.966 cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, tăng 15.931 cơ sở so với năm 2005. Trong đó tăng nhiều nhất là công nghiệp chế biến nông sản như: chế biến gạo, thủy hải sản xuấy khẩu; chế biến sữa, dầu thực vật, đường, trái cây, rượu, bia, nước giải khát, chế biến thức ăn gia súc, sản xuất xi măng, khí điện đạm, phân bón, điện nước
Ngành xay xát lương thực với số lượng cơ sở được phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành với nhiều nhà máy có công suất khác nhau, theo số liệu thống kê, sản lượng xay xát toàn vùng năm
2009 đạt hơn 7,8 triệu tấn . Tuy nhiên, công suất xay xát và chế biến gạo xuất khẩu hiện tại chưa tương ứng với nguồn nguyên liệu của địa phương, công nghệ xay xát lạc hậu tiêu tốn nhiều năng lượng, tỷ lệ hao hụt cao. Tương tự, ngành chế biến thủy sản có 133 nhà máy với tổng công suất 690.000 tấn/năm. Mặc dù chế biến thủy sản là ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn chiếm tỷ trọng
và có tốc độ tăng trưởng cao trong vùng, nhưng sản phẩm chế biến chỉ dừng lại ở mức là cá tra phi lê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh.
2) Ngành sản xuất giống
Trang 33 Giống lúa. Giống là một trong bốn yếu tố có ý nghĩa quyết định trong quá trình
nay là 115 giống với 50 giống chính thức, trong đó có 80% giống do Viện lúa ĐBSCL
nghiên cứu lai tạo. Các loại giống của Viện lúa ĐBSCL nghiên cứu, lai tạo có đặc tính
690 USD năm 2006 lên 1100 USD năm 2010 gấp 1,6 lần năm 2006 và bằng 95% GDP bình quân đầu người cả nước. Trong đó, Tp Cần Thơ có thu nhập bình quân đầu người cao nhất với 1.950 USD/ người/năm, hơn gấp đôi thu nhập bình quân chung của toàn vùng (xem thêm bảng 1.12). Với thành tích như vậy, hàng năm ĐBSCL đóng góp khoảng 18% GDP cho cả nước; trên 53% sản lượng lúa gạo; gần 60% sản lượng thủy sản; chiếm 90% lượng gạo và khoảng 80% lượng thủy
Thực tế 362.235,5 449.048,5 583.754,0 694.675,0 845.108,6 //
1994 218.097,7 250.679,9 289.093,7 308.611,4 350.419,6 12,57 GDP
(tỷ đồng)
Thực tế 165.492,3 205.721,9 262.071,1 307.441,9 365.685,9 //
1994 102.509,0 116.281,4 131.291,7 143.720,8 160.659,5 11,88
Xuất khẩu (1000USD) Thực tế 3.571.769 4.211.646 5.702.609 5.877.720 6.990.655 18,28
2010 con số này lần lượt là 39%; 26% và 35%. Như vậy sau 10 năm, khu vực I giảm 14,4%%, khu vực II tăng 7,5% và khu vực III tăng 7%
Trang 34Về cây ăn trái. Bên cạnh lúa, cây ăn trái là loại cây trồng phổ biến ở ĐBSCL với
diện tích chiếm 40% và hàng năm thu hoạch hàng năm chiếm 70% sản lượng trái cây cả nước. Tuy nhiên, do tác động của nhiều nguyên nhân mà diện tích cây ăn trái ĐBSCL từ năm 2008 về sau có giảm so với 2007, nhưng sản lượng vẫn tăng tăng nhẹ. Hiện tại, toàn vùng chỉ còn khoảng 259 ngàn ha cây ăn trái, bằng 0,93 diện tích năm 2006 và sản lượng đạt khoảng 2,357 triệu tấn, gấp 1,12 lần năm 2006. Về GTSX, năm 2010 ước đạt 6.939,6
tỷ đồng, gấp 1,12 lần năm 2006 (6.186,5 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng 2,35% tổng GTSX toàn vùng và tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoan 2006 – 2010 là 2,9%/năm. Tuy nhiện, hiện
tại, xuất khẩu trái cây chưa phải là thế mạnh của ĐBSCL
Về cây dừa. Vườn dừa ĐBSCL có ở khắp các tỉnh trong vùng, nhưng tập trung chủ
yếu là ở Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau, Vĩnh Long… Trong đó, Bến Tre và Trà Vinh là nơi phát triển mạnh về diện tích lẫn chế biến xuất khẩu. Năm 2010, GTSX của dừa toàn vùng ước đạt 1.508,3 tỷ đồng, gấp 1,42 lần năm 2006, và tăng trưởng bình quân cho cả giai đoạn 2006 – 2010 là 9,2%/năm. Hiện trên địa bàn tỉnh Bến Tre có hơn 1.000
cơ sở sản xuất, chế biến các sản phẩm từ dừa như: Bột sữa dừa, cơm dừa nạo sấy, dầu dừa, kẹo dừa, chỉ sơ dừa, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 55 triệu USD/năm, đứng hàng thứ
2009 tăng nhẹ trở lại và đạt khoảng 5,3 triệu tấn vào năm 2010. GTSX cây mía toàn vùng cũng có sự biến động theo sản lượng nhưng nếu so sánh năm 2010 với 2006 thì tăng bình quân 0,79%/năm, đạt 1.866,8 tỷ đồng vào năm 2010
Trang 35Về chăn nuôi. Đây cũng là lĩnh vực thế mạnh của ĐBSCL, nhất là nuôi gia cầm
(thủy cầm là sản phẩm đặc trưng của vùng sông nước). Tuy nhiên, vì lý do thị trường, dịch
bệnh mà ngành chăn nuôi chưa phát huy hết lợi thế của mình. Theo số liệu thống kê,
GTSX chăn nuôi năm 2010 của vùng đạt 9.174,9 tỷ đồng tăng bình quân 9,79%/năm cả
độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 21,86%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân
cả nước giai đoạn này 3,77% (bình quân cả nước18,09%), trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm đến 96% GTSX của ngành. Các mặt hàng chủ yếu của ngành là chế biến
và liên tục là: gạo, cá đông lạnh, tôm đông lạnh, nông sản chế biến ,chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong xuất khẩu toàn vùng