Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH --- *** --- NGUYỄN THANH SƠN THỰC TRẠNG
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
- *** -
NGUYỄN THANH SƠN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Thái Nguyên, năm 2007
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- *** -
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
VAI TR Ò NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.31.10
Người thực hiện: Nguyễn Thanh Sơn Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Anh Tài
Thái Nguyên, 5/2006
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
- *** - NGUYỄN THANH SƠN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60 - 31 - 10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Anh Tài
Thái Nguyên, năm 2007
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả Luận văn
NGUYỄN THANH SƠN
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CÁM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu nghiêm túc, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận
văn để bảo vệ tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh
doanh Thái Nguyên
Có được kết quả này, trước hết cho phép tôi được gửi lời cám ơn đến tập thể các
thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt những tri thức quý giá trong thời gian tôi được học
tập tại trường Đặc biệt tôi xin được chân trọng cảm ơn thầy giáo Tiến sỹ Đỗ Anh Tài
đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin được cám ơn các cơ quan Văn phòng UBND tỉnh Thái Nguyên, Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Giáo dục Đào Tạo, Sở
Y tế, Cục Thống kê và các hộ điều tra đã giúp đỡ tôi về tài liệu và các thông tin liên
quan phục vụ cho việc nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin được cám ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên,
ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành
luận văn này
Tác giả Luận văn
NGUYỄN THANH SƠN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan…….…….………
Lời cảm ơn ………… ……… ………
Mục lục.………
Danh mục các chữ viết tắt………… ….……….………
Danh mục các bảng……… ….… ………
Danh mục biểu đồ………… ……….….………
Mở đầu ……… …… ………… … ………
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài………
2 Mục tiêu nghiên cứu……… ………
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………
4 Đóng góp mới của luận văn……… ………
5 Bố cục luận văn……… ……… ………
Chương I: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu……
1.1 Cơ sở khoa học về nguồn nhân lực……… ……
1.1.1 Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực………
1.1.2 Cơ sở thực tiễn và ý nghĩa của nguồn nhân lực………
1.2 Phương pháp nghiên cứu………
1.2.1 Câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết………
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu………
1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu……….………
Chương I: Thực trạng nguồn nhân lực khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên………… ………
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu………
2.1.1 Điều kiện tự nhiên………
2.1.2 Thực trạng kinh tế xã hội khu vực nông thôn… … ………… …
2.2 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên 2.2.1 Thực trạng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực………
i ii iii v vi vii 1 1 2 3 3 4 5 5 5 14 27 27 27 29
32 32 32 43
50
50
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2.2 Thực trạng sử dụng lao động trong các hộ điều tra………
2.2.3 Đánh giá kết quả sử dụng lao động trong khu vực nông thôn ………
2.2.4 Ý kiến đề xuất của người dân để phát huy vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội………
2.2.5 Tác động của một số chính sách của tỉnh Thái Nguyên đến vấn đề sử dụng nhân lực trong khu vực nông thôn ……….…
2.3 Phân tích đánh giá……… …….…… ………
2.3.1 Một số hạn chế về nguồn nhân lực trong khu vực nông thôn … … …
2.3.2 Những khó khăn, trở ngại trong việc phát huy vai trò nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn ……… ……… …
Chương III: Một số giải pháp phát huy vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên
3.1 Quan điểm phương hướng và mục tiêu phát huy nguồn nhân lực nông thôn 3.1.1 Quan điểm phát huy vai trò nguồn nhân lực…….……… …
3.1.2 Phương hướng……… ………….………
3.1.3 Những mục tiêu cơ bản………
3.2 Một số giải pháp……… ……… ……….…………
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… …….… …
3.2.2 Nhóm giải pháp về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn để tạo thêm nhiều việc làm mới…… ……… ……….……….………
3.2.3 Nhóm giảp pháp về tạo việc làm, nâng cao hiệu quả lao động trong khu vực nông thôn……… ……… ……
3.2.4 Một số giải pháp phát triển kinh tế để nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực đối với các vùng nghiên cứu……… ……….………
Kết luận và kiến nghị……… ……… ………… ………
1 Kết luận……… ……….………
2 Đề nghị……….………… ……… ………
2.1 Đối với Nhà nước……… ……… ….………
2.2 Đối với tỉnh Thái Nguyên………
Danh mục tài liệu tham khảo …… …… … …….………
Phụ lục……… …….… … ………
62 73
85
89 91
91
92
94 94 94 95 96 96
96
99
104
107 110 110 111 111 111 113 116
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ tham gia LLLĐ chia theo nhóm tuổi năm 2005………
Biểu đồ 1.2 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế năm 2005………
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ dân số theo giới tính và nhóm tuổi khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên năm 2006………….… ……… ….……
Trang
20
22
39
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Nguồn nhân lực chia theo giới tính và khu vực thành thị, nông
thôn giai đoạn 2001 - 2005………… ………
Bảng 1.2 Cơ cấu lao động theo nghề nghiệp năm 2005……… …………
Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu về Y tế và Giáo dục của Việt Nam…… ………
Bảng 2.1 Hiện trạng diện tích đất tự nhiên……… ……… …………
Bảng 2.2 Hiện trạng cơ sở giáo dục đào tạo của khu vực nông thôn… …
Bảng 2.3 Thực trạng cơ sở y tế và cán bộ y tế xã……… ………
Biểu 2.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng văn hóa thông tin ….………… ………
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu hiện trạng cấp nước nông thôn………… ………
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn năm 2006…
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp……… ……
Bảng 2.8 Đặc điểm và quy mô lao động theo khu vực điều tra…… ………
Bảng 2.9 Cơ cấu trình độ văn hoá của những người đang làm việc… ……
Bảng 2.10 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động……… ……
Bảng 2.11 Một số chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe của người dân………
Bảng 2.12 Một số chỉ tiêu về tình hình chăm sóc trẻ em……… ……
Bảng 2.13 Thông tin về tình hình học tập của trẻ……… ………
Bảng 2.14 Cơ cấu đào tạo của những người đang theo học…… …………
Bảng 2.15 Một số chỉ tiêu về thông tin - văn hoá và thể thao…… ………
16
18 21 36 40 41 42 45 46 47 50 52 53 55 56 58 59 60 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Bảng 2.16 Phân bố lao động chia theo vị trí làm việc……… ………
Bảng 2.17 Thời gian làm việc bình quân của lao động làm việc tại hộ… …
Bảng 2.18 Một số đặc điểm của lao động thuần nông nghiệp………… …
Bảng 2.19 Một số đặc trưng của lao động có thời gian làm công việc phi nông nghiệp giữa các khu vực……… ………
Bảng 2.20 Cơ cấu của lao động làm việc ngoài hộ chia theo vị thế công việc, theo địa giới hành chính … ……… ………… ………
Bảng 2.21 Lao động ngoài hộ chia theo trình độ kỹ thuật và giới tính …
Bảng 2.22 Việc làm ngoài hộ chia theo ngành kinh tế và mức tiền công…
Bảng 2.23 Mức thu nhập bình quân chia theo vị trí làm việc……… ……
Bảng 2.24 Tỉ lệ lao động nghèo chia theo vị trí làm việc………… ………
Bảng 2.25 Thời gian làm việc trong năm của lao động nông thôn… ……
Bảng 2.26 Tổng hợp nhu cầu làm thêm của các hộ điều tra …… ………
Bảng 2.28 Ý kiến của hộ dân về những nguyên nhân dẫn đến hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực……… ………
Bảng 2.28 Tình hình sử dụng đất của hộ điều tra……… …………
Bảng 2.29 Tình hình vay vốn đầu tư sản xuất của các hộ điều tra…… …
Bảng 2.30 Tiếp cận thông tin giới thiệu việc làm trong 12 tháng qua… …
Bảng 2.31 Tổng hợp ý kiến đề xuất của người dân về nhu cầu phát triển nghề phụ……… ………
Bảng 2.32 Nhu cầu về ngành nghề cần được đào tạo của người dân… …
62 64 66
68
70
71
72 73 74 76 78
79 80 82 84
86 88
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới
đều có một đường lối chiến lược phát triển khác nhau Một số quốc gia trong những
thập kỷ gần đây đạt được những thành tựu phát triển kinh tế vượt bậc như Nhật
Bản, Hàn Quốc Khi tìm hiểu những nguyên nhân tạo ra bước phát triển nhẩy vọt
của các quốc gia này thì có một điểm chung nhất là họ đều có đường lối chiến lược
phát huy nguồn lực con người hiệu quả và hợp lý Nhân lực được coi là một nguồn
lực trọng tâm để phát triển kinh tế xã hội và được xem như là nguồn lực khởi đầu
cho mọi sự khởi đầu
Việt Nam với công cuộc đổi mới phát triển kinh tế xã hội trong hai thập kỷ
qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, trở thành một quốc gia năng động trong
khu vực Tuy nhiên trước bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế đã đặt ra những cơ hội và thách thức lớn trên mọi lĩnh vực Việt Nam được
đánh giá là quốc gia có lợi thế so sánh về lao động do lực lượng lao động dồi dào,
chi phí nhân công thấp, tuy nhiên để phát huy triệt để lợi thế so sánh, tạo đà xây
dựng phát triển nguồn nhân lực bền vững đòi hỏi phải có chiến lược đồng bộ và lâu
dài Chúng ta đã có sự đổi mới căn bản về quan điểm và nhận thức phát triển nguồn
nhân lực được thể hiện rõ nét trong văn kiện của Đảng và chính sách pháp luật của
Nhà nước Tại văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc khoá IX - X đã khẳng định
“Phát triển con người vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa lâu dài…nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát
triển kinh tế tri thức”; "Tăng cường đầu tư vào phát triển con người thông qua phát
triển mạnh giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Đảm bảo nguồn nhân lực
về số lượng và chất lượng với cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu ngày càng cao [1]
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi thuộc vùng Đông Bắc tổ quốc Là
trung tâm đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề lớn thứ 3 của cả
nước Trong những năm qua, Thái Nguyên đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế khá
mạnh mẽ, tốc độ phát triển GDP bình quân đạt trên 8%, thu nhập bình quân năm
2005 đạt khoảng 300USD/người Các chỉ tiêu xã hội có chiều hướng chuyển biến tích cực Với cơ chế chính sách mở tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển và đặc biệt với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài đang là những tiền đề tốt giúp Thái Nguyên có cơ hội phát triển và hòa mình với nhịp độ phát triển chung của cả nước Với những thành tựu đã đạt được nêu trên có một phần đóng góp quan trọng từ khu vực kinh tế nông thôn, bình quân giai đoạn 2001 - 2005 GDP khu vực nông nghiệp đóng góp gần 30% cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân năm khoảng 4,6%
Tuy nhiên với thực trạng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung và khu vực nông thôn nói riêng hiện nay còn quá nhiều bất cập đã cản trở, hạn chế tiến trình phát triển kinh tế xã hội Thực trạng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng
và thế mạnh vốn có Một trong những nguyên nhân chủ yếu là việc phát huy các nguồn nội lực còn rất thấp, đặc biệt chưa phát huy tốt vai trò nguồn nhân lực phục
vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội Vì vậy tập trung nghiên cứu, xây dựng các giải pháp giúp khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực nông thôn là nội dung cần được quan tâm nghiên cứu Trước thực trạng này yêu cầu đặt ra hiện nay là cần phải có công trình nghiên cứu khoa học nhằm đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực khu vực nông thôn
Từ thực tiễn nêu trên, tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải
pháp phát huy vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 92.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu đặc điểm của nguồn nhân lực khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu những nguyên nhân hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
trong thực tiễn
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nguồn nhân lực trong
khu vực nông thôn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong phân tích đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và
tình hình sử dụng nguồn nhân lực khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên Do vấn đề
nghiên cứu về nhân lực rất rộng và phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực nên trong
luận văn này sẽ chủ yếu tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về đặc điểm nguồn lao động
và sử dụng lao động nông thôn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại địa bàn đặc trưng cho
các vùng, khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên Khi tổng hợp phân tích tùy theo
từng nội dung nghiên cứu sẽ chia theo 3 khu vực cơ bản gồm khu vực vùng cao,
trung du và vùng thấp
- Thời gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng nguồn nhân
lực khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên tại thời điểm điều tra thu thập thông tin
(tháng 10/2006), có tham khảo số liệu sơ cấp các năm từ 2001 đến năm 2006
4 Đóng góp mới của Luận văn
Tìm hiểu khái quát thực trạng nguồn nhân lực khu vực nông thôn tỉnh Thái
Nguyên Phân tích đặc điểm về việc làm của các nhóm lao động như lao động thuần
nông, lao động phi nông nghiệp Từ đó chỉ ra những tồn tại hạn chế làm cơ sở đề
xuất các giải pháp phát huy vai trò nguồn nhân lực
5 Bố cục Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 03 phần chính sau:
- Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
- Thực trạng nguồn nhân lực khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên
- Các giải pháp phát huy vai trò nguồn nhân lực trong khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên
Trang 10CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.1.1 Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực
1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực “là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của
một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên phạm vi một địa phương, một
ngành hoặc một vùng chia theo địa giới hành chính” [23]
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là nguồn lực con người của quốc
gia hoặc vùng lãnh thổ có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình
phát triển KT-XH Theo nghĩa hẹp có thể lượng hóa bằng một bộ phận của dân số
bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không kể đến
trạng thái có việc làm hay không có việc làm
Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (đang
tham gia lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao
động), không gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm
việc Nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển
KT-XH Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay kinh tế tri thức đang chi phối các hoạt
động của nền kinh tế quốc dân thì con người trở thành động lực trực tiếp cho mọi sự
phát triển
1.1.1.2 Các quan điểm về nguồn nhân lực
- Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển
toàn diện con người là cơ sở quan trọng nhất cho việc nghiên cứu nhân tố con
người Khi nói đến nhân tố con người là nói tới mặt hoạt động cơ bản nhất quyết
định mọi thuộc tính, biểu hiện đặc trưng của con người Sự tác động của con người
quyết định đến toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử Tiến bộ xã hội không phải là quá trình tự động mà phải thông qua hoạt động của con người trong xã hội Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy phát triển xã hội Nhân tố con người vừa là phương tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần vừa hoàn thiện ngay chính bản thân mình Chỉ có nhân tố con người mới có thể làm thay đổi được công cụ sản xuất ngày càng phát triển với năng suất, chất lượng cao làm thay đổi quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác, nhằm mục đích ngày càng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho con người và cho xã hội
Theo C.Mác thì con người trong lực lượng sản xuất phải ngày càng phát triển cao về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, giầu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức, linh hoạt và văn minh trong ứng sử Trong đó trí tuệ không chỉ là những tri thức trừu tượng mà trước hết là những năng lực chuyên môn được đào tạo và đào tạo lại trong quá trình sản xuất [15] Khỏe mạnh về thể chất không chỉ đơn thuần là sự cường tráng về thể lực mà nó bao hàm trong đó sự phát triển về trí lực, tư chất thông minh và trí sáng tạo trong lao động học tập Con người tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là một nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất bằng sức mạnh của trí tuệ và sức lực của cơ bắp, trong đó trí tuệ ngày càng chiếm ưu thế trong quá trình sản xuất
- Nguồn nhân lực trong lý thuyết tăng trưởng:
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, tăng trưởng kinh tế là quá trình chuyển dịch đường giới hạn khả năng sản xuất, là quá trình biến đổi của các nguồn lực cơ bản phát triển kinh tế gồm: vốn tư bản, kỹ thuật, nhân lực và tài nguyên Trong đó nhân lực được xem như là nhân tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội Vốn tư bản thuần nhất giá trị định lượng nhưng vốn nhân lực bao hàm cả hai giá trị định lượng, định tính và quyết định hiệu quả lao động [23] Hiệu quả lao động đồng nhất khái niệm tăng năng suất lao động xã hội,
là tiền đề cải tạo xã hội Mặt khác hiệu quả lao động phản ánh sức khỏe, trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật, khả năng tay nghề của lực lượng lao động
Các nhà kinh tế học khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế đã đặc biết chú ý đến chất lượng lao động và vai trò của tiến bộ khoa học
Trang 11công nghệ Nếu lao động chỉ đề cập đến số lượng sẽ không mang lại tăng trưởng,
chỉ có tiến bộ công nghệ được lao động ứng dụng hiệu quả mới giải thích được sự
gia tăng không ngừng
- Xu hướng phát triển của nguồn nhân lực:
Giai đoạn hiện nay, con người không những muốn thoả mãn nhu cầu vật chất
ngày càng nhiều và đa dạng mà còn mong muốn bảo vệ môi trường trong quá trình
sản xuất, tạo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng và bền vững
Để giải quyết được yêu cầu trên thì con người có trí tuệ mới là nhân tố quyết định
thực hiện mục tiêu đó Trong thời đại mới nhân tố con người có tri thức ngày càng
đóng vai trò quyết định hơn trong lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Đối với
người lao động hiện tại cũng như trong tương lai không thể chỉ dựa vào kinh
nghiệm sản xuất mà đồng thời phải kết hợp với tri thức khoa học mới có thể nâng
cao năng suất lao động Chức năng của con người đã và sẽ có những biến đổi to lớn,
các thao tác trực tiếp của con người sẽ ngày càng ít, thay vào đó là sự sáng tạo và sự
điều khiển gián tiếp vào các khâu trong quá trình sản xuất Khoa học công nghệ là
sản phẩm lao động trí tuệ của con người, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực
Khi đánh giá nguồn nhân lực, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
sử dụng chỉ tiêu cơ bản là đánh giá về số lượng và chất lượng, đồng thời xem xét
các yếu tố phát triển và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
* Số lượng nguồn nhân lực: Là tổng số người tham gia hoạt động kinh tế và
được chia theo các đặc trưng về tuổi, giới tính, dân tộc, tương quan giữa nguồn
nhân lực với dân số Qua đó chỉ ra tính cân đối theo giới, theo nhóm tuổi hay không
và xu hướng thay đổi như thế nào trong tương lai Số lượng nguồn nhân lực được
xác định bởi chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng Ngoài ra còn được xác định
như tỷ lệ % so với tổng dân số, tốc độ gia tăng bình quân Theo từ điển thuật ngữ
của Pháp (1977 – 1985) thì nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm [6] Như vậy theo
quan niệm này thì những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng
không muốn làm việc thì không được tính vào nguồn nhân lực xã hội Còn một số
quốc gia khác lại xem nguồn nhân lực là toàn bộ dân số và có khả năng lao động, quan niệm này không có giới hạn về tuổi
Ở Việt Nam theo cách xác định của Tổng cục Thống kê, thì cách xác định nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người chưa làm việc nhưng có nhu cầu tìm việc và sẵn sàng làm việc Nguồn nhân lực còn được gọi với khái niệm lực lượng dân số tham gia hoạt động kinh tế Nguồn nhân lực có thể được phân chia như sau:
- Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: Bao gồm toàn bộ những người trong
độ tuổi lao động, có khả năng và nhu cầu lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm và còn gọi là lực lượng lao động
- Nguồn nhân lực đang làm việc: Là số lao động trong các ngành kinh tế bao gồm lao động làm công ăn lương và lao động tự làm còn gọi là lao động tham gia hoạt động kinh tế
- Nguồn nhân lực dự trữ: Bao gồm những người trong lực lượng lao động chưa có nhu cầu làm việc, chưa tham gia làm việc gọi là dân số không tham gia hoạt động kinh tế như người nội trợ, ốm đau, tàn tật và đi học
* Chất lượng nguồn nhân lực: Là trạng thái nhất định thể hiện mối quan hệ
giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội Bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội [23] Trình độ học vấn
và trình độ chuyên môn kỹ thuật theo nhóm tuổi, theo giới tính, dân tộc là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra chất lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu chia theo các đặc trưng, thiên hướng ngành nghề
Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực xét về mặt xã hội được thể hiện qua một số hệ thống chỉ tiêu chủ yếu sau:
Trang 12- Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của dân cư: Sức khỏe là trạng thái
thoải mái về chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là có bệnh tật hay
không Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa
thể chất và tinh thần Hiện trạng sức khỏe được đánh giá như về chiều cao, cân
nặng, tình trạng thị lực, tai mũi họng, thần kinh, nội ngoại khoa và có thể chia
theo 3 cấp độ tốt - trung bình - yếu
Bên cạnh việc đánh giá sức khỏe của người lao động người ta còn nên ra các
chỉ tiêu đánh giá sức khỏe của quốc gia qua các nhóm chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu y tế
cơ bản, chỉ tiêu về tình hình bệnh tật cụ thể như sau:
+ Tuổi thọ trung bình
+ Chiều cao, cân nặng trung bình của thanh niên
+ Tỷ lệ sinh thô, tỷ lệ chết thô, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
+ Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi
+ Tỷ lệ trẻ em sơ sinh dưới 2500g
+ Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
+ Tỷ lệ người mắc bệnh truyền nhiễm, nhóm bệnh có tiêm chủng
- Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa là sự hiểu biết của
người lao động với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội, là khả năng về
tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản Trình độ văn hóa biểu
hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là
một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và tác động
trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế xã hội Trình độ văn hóa tạo khả năng tiếp
thu và vận dụng hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn
Trình độ văn hóa được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không
chính quy và được đánh giá qua các chỉ tiêu cơ bản sau:
+ Tỷ lệ dân số biết chữ (tính những người từ đủ 10 tuổi trở nên)
+ Số năm đi học trung bình (tính những người từ đủ 15 tuổi trở nên)
+ Tỷ lệ người đi học chia theo các cấp tiểu học, trung học phổ thông, trung học cơ sở so với dân số trong độ tuổi đi học
+ Tỷ lệ học sinh đi học phổ thông đúng tuổi
* Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật:
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm trách công việc về quản lý hoặc hoạt động nghề nghiệp Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó mà người lao động được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và có khả năng chỉ đạo, quản lý công việc thuộc chuyên môn nhất định Trình độ kỹ thuật thường dùng
để chỉ trình độ của người được đào tạo các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức,
kỹ năng thực hành để thực hiện công việc nhất định Những người hoạt động trong các lĩnh vực kỹ thuật có thể qua đào tạo hoặc chưa qua đào tạo nhưng có thâm niên làm việc một thời gian nhất định có trình độ cấp bậc công nhân tương đương bậc 3 trở nên
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động phản ánh kiến thức và kỹ năng của lao động, phản ánh chất lượng lao động được hình thành thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo Trình độ chuyên môn là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế Nó cũng phản ánh khả năng làm việc của người lao động nhằm đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động
- Đo lượng trình độ chuyên môn kỹ thuật với một số chỉ tiêu sau:
+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với lực lượng lao động
+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề so với lực lượng lao động
+ Tỷ lệ đại học, trên đại học, trung học chuyên nghiệp so với dân số + Cơ cấu lao động chuyên môn kỹ thuật chia theo cấp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật
* Phát triển nguồn nhân lực:
- Khái niệm phát triển nguồn nhân lực được hiểu ở góc độ hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có điều chỉnh hợp lý số lượng Để có thể phát
Trang 13triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ vĩ mô phải có cơ chế chính sách tác động vào
nguồn nhân lực [14] Như vậy có thể hiểu khái niệm phát triển nguồn nhân lực là
tổng thể cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực gồm trí tuệ, phẩm chất tâm lý xã hội và điều chỉnh hợp lý về số lượng nhằm đáp
ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển
- Mức độ phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia được thể hiện một số
chỉ tiêu cơ bản như sau:
+ Số lượng giáo viên (cấp tiểu học và phổ thông/10.000 dân)
+ Số kỹ sư/10.000 dân
+ Số bác sỹ, y sỹ, dược sỹ/10.000 dân
+ Tỷ lệ học sinh nhập học cấp tiểu học đúng tuổi và tỷ lệ nhập học lớp 1 so
với số dân cùng độ tuổi
Hiện nay, trên thế giới đang phổ biến chỉ tiêu HDI (Human Development
Index) đánh giá chất lượng, trình độ phát triển nguồn nhân lực hay còn gọi cách
khác là chỉ số phát triển con người
Ngày nay cùng với việc phát triển nguồn nhân lực, người ta quan tâm nhiều
đến yếu tố phát triển và mức độ chênh lệch giữa các khu vực dân cư, giữa các vùng
miền và các nhóm dân tộc khác nhau Mặt khác nguồn nhân lực đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế Nếu mức độ sử dụng vốn, công nghệ có hiệu quả hay
không sẽ phụ thuộc nhiều vào yếu tố con người Một quốc gia dân số có trình độ
học vấn thấp, lao động không được đào tạo, sức khỏe yếu thì khả năng tăng trưởng
kinh tế không thể cao và thiếu bền vững Vì thế quan hệ giữa phát triển nguồn nhân
lực và tăng trưởng kinh tế là quan hệ nhân quả
* Sử dụng nguồn nhân lực: Là khái niệm chỉ sự khả dụng lao động trong
nền kinh tế quốc dân, bao hàm giá trị về số lượng và khả năng thu hút lao động
trong các ngành kinh tế Chất lượng sử dụng được xem xét, đánh giá như cơ cấu lao
động có việc làm trong các ngành kinh tế, năng suất lao động, lao động theo vị thế
việc làm, cơ cấu đào tạo, tỷ lệ lao động làm công hưởng lương, lao động tự tạo việc
làm chia theo các đặc trưng Ngày nay ý nghĩa của việc biết khai thác sử dụng lao
động vô cùng quan trọng, có thể hiểu ở hai góc độ về số lượng và chất lượng, trong
đó biết bố trí sử dụng cân đối hài hòa với các nguồn lực khác và việc sử dụng phải gắn liền với phát triển bền vững
1.1.1.4 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nguồn nhân lực
Qua tổng hợp ý kiến từ nhiều tài liệu nghiên cứu và qua thực tế, nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng to lớn của các yếu tố chính như sau:
- Tăng trưởng kinh tế: Tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực trên nhiều phương diện Tăng trưởng kinh tế không chỉ góp phần cải thiện đời sống nhân dân mà còn tăng khả năng tiết kiệm và đầu tư, tạo thêm việc làm Ngoài ra tăng trưởng kinh tế đồng hành với việc tăng thu ngân sách nhà nước, đây chính là tiền đề quan trọng để Nhà nước cân đối đầu tư nguồn lực tài chính cho các chương trình nhằm điều chỉnh, cân đối và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt trong các lĩnh vực phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên thì tăng trưởng kinh tế cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nhân lực như quá trình đô thị hóa gắn liền với tình trạng ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân và gánh nặng về y tế, giáo dục
do gia tăng dân số cơ học
- Tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe: Dinh dưỡng thấp, sức khỏe yếu không chỉ gây ốm yếu về thể trạng, về tinh thần mà còn làm giảm năng suất lao động, ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và tái sản xuất sức lao động Đối với bà mẹ đang mang thai, tình trạng dinh dưỡng không đảm bảo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đứa trẻ, ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong tương lai Hơn nữa suy dinh dưỡng và bệnh tật làm giảm khả năng sáng tạo và hạn chế việc học tập
- Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo: Là yếu tố vô cùng quan trọng vì
nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động mà còn giúp người dân có kiến thức biết tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống Trong bối cảnh thay đổi liên tục không ngừng về khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo giữ vai trò chủ yếu trong ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật Lịch sử các nền kinh tế thế giới cho thấy không có một quốc gia giầu có nào đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao trước
Trang 14khi đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông Kinh nghiệm từ các nước và vùng
lãnh thổ có tốc độ phát triển cao như Hàn Quốc, Singapo, Hồng Kông trong những
năm từ 1970 - 1980 thường đạt mức độ phổ cấp tiểu học trước khi nền kinh tế đạt
mức tăng trưởng cao Tiềm năng kinh tế của quốc gia phụ thuộc vào trình độ khoa
học công nghệ, khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào trình độ chất lượng giáo dục
1.1.1.5 Vai trò của nguồn nhân lực với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trong những thập kỷ 50 - 60 của thế kỷ 20, những thành tựu tăng trưởng kinh
tế thế giới chủ yếu do nền công nghiệp mang lại Đây là kết quả của những tiến bộ
khoa học kỹ thuật do con người tạo ra đặc biệt ở những nước có nguồn nhân lực
phát triển Trước đây người ta đánh giá cao vai trò của nguồn lực tự nhiên thì ngày
nay người ta quan tâm nhiều hơn đến vai trò của con người, nguồn lực con người đã
trở thành nguồn lực cơ bản nhất, quan trọng nhất để phát triển Trong phát triển
kinh tế xã hội, nhân tố con người vừa là mục tiêu vừa là động lực Yếu tố này có
mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại thúc đẩy cùng phát triển
Nguồn lực cơ bản của sự phát triển gồm nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con
người, trong đó nguồn lực tự nhiên là tài nguyên thiên nhiên một số là hữu hạn
nhưng nguồn lực con người lại mang tính vô hạn, không mất đi mà ngày càng hoàn
thiện phát triển Đây là ưu thể hơn hẳn của nguồn lực con người so với nguồn lực tự
nhiên Nguồn lực con người thành nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất để phát triển
Mặt khác từ thực tế phát triển kinh tế xã hội và kinh nghiệm của một số nước đã chỉ
ra rằng việc đầu tư vốn và công nghệ sẽ không hiệu quả nếu không có nguồn nhân
lực tương xứng với các yêu cầu phát triển
Ngày nay khi xuất hiện quan điểm về nền kinh tế tri thức thì vai trò của
nguồn nhân lực càng được đánh giá cao Chất lượng nhân lực bao hàm chứa đựng
giá trị tri thức kết tinh của nhân loại Từ thập kỷ 80 đến nay do tác động của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng, nền kinh tế thế giới đang biến
đổi rất sâu sắc và mạnh mẽ Đây không phải là một sự biến đổi bình thường mà là
một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại Nền kinh tế chuyển từ kinh tế công
nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công
nghiệp sang văn minh trí tuệ, (kinh tế tri thức - knowledge economy) nói lên vai trò quyết định của tri thức và công nghệ đối với phát triển kinh tế Tri thức ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp của sản xuất
Đầu tư vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế dài hạn Chính C.Mác đã coi tri thức là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất, người khẳng định khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp [15] Ngày nay con người không những tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất bằng việc tạo ra công nghệ, tạo ra phương pháp tổ chức quản lý sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả mà còn có thể trực tiếp làm ra sản phẩm như sản xuất phần mềm, các ngành công nghệ cao Trong lực lượng sản xuất mới, tri thức chiếm giữ vị trí nòng cốt, là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo ra của cải, việc làm trong tất cả các ngành của nền kinh tế
1.1.2 Cơ sở thực tiễn và ý nghĩa của nguồn nhân lực
1.1.2.1 Kinh nghiệm các nước về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực
Nền giáo dục hiện đại của Nhật Bản dựa trên nền tảng vững chắc của nền giáo dục truyền thống kết hợp với xu thế hướng ngoại Quan điểm phát triển giáo dục là chú trọng nhiều đến các ngành khoa học Họ xác định chỉ có con đường tiếp thu kỹ thuật mới có thể theo kịp các nước phương tây về trình độ phát triển khoa học công nghệ Ngoại ngữ là công cụ quan trọng để phát triển nền học thuật non trẻ của đất nước, từ thế kỷ 19 người Nhật đã nghiên cứu các ngoại ngữ Mặt khác, pháp luật về giáo dục quy định rõ các gia đình phải có nhiệm vụ đặt việc học tập của con cái lên trên hết Luật giáo dục Nhật Bản ra đời năm 1947 chỉ rõ giáo dục được coi là nhiệm
vụ của quốc gia và là quyền cơ bản của mọi người dân Do đó trong quá trình phát
Trang 15triển nhiều bước thăng trầm, trẻ em ở Nhật luôn được tạo điều kiện học tập tốt nhất
Bên cách hệ thống giáo dục tập trung chính quy thì các hình thức giáo dục tại gia
đình, tại các công ty được đặc biệt coi trọng [12] Thực tế cho thấy ở Nhật hình thức
giáo dục này phát triển nhất thế giới bởi vì người Nhật rất coi trọng trình độ học vấn
Trình độ học vấn chính là yếu tố tạo nên cơ hội làm việc suốt đời Chỉ có tốt nghiệp ở
những trường đại học lớn có danh tiếng và kết quả học tập loại giỏi thì mới có cơ hội
làm việc trong các công ty lớn và mới đảm bảo một vị trí tốt trong xã hội
Theo thống kê năm 1999 thì cứ 100.000 người dân Nhật Bản thì có 7,9 bệnh
viện, 67,4 cơ sở khám bệnh Số bác sĩ cho 100.000 dân là 177 người Theo báo cáo
của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2004, người Nhật Bản là người dân sống thọ
nhất thế giới với tuổi thọ trung bình là 81,9 tuổi Năm 2006 Nhật là nước châu Á
duy nhất nằm trong số 10 nước có chỉ số phát triển con người cao nhất thế giới
(HDI 0,949) Ở các cơ quan ích lợi công cộng, cơ quan của các địa phương lập ra,
nhân viên đều phải mua bảo hiểm y tế Loại hình bảo hiểm mà ai cũng có thể tham
gia là hệ thống bảo hiểm quốc dân Kể từ năm 1961 những ai không tham gia bảo
hiểm trong các hiệp hội bảo hiểm y tế bắt buộc phải tham gia bảo hiểm quốc dân
(http://WWW.VYSA.JP)
* Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ):
Đặc điểm nổi bật của Mỹ là coi trọng giáo dục, lấy giáo dục đào tạo là trung
tâm của phát triển nguồn nhân lực Giáo dục và đào tạo được đầu tư khá cao và gia
tăng liên tục Từ năm 1960 ngân sách đầu tư cho giáo dục của Mỹ khoảng 5,3%
GDP thì đến nay đạt gần 10% Ngân sách không chỉ đầu tư xây dựng hạ tầng, trang
thiết bị dạy học mà còn tập trung cho việc đào tạo giáo viên Nhờ đầu tư cho giáo
dục mà tỷ lệ người biết chữ ở Mỹ rất cao và đạt trên 97% Trong hơn một thế kỷ, hệ
thống giáo dục của Mỹ đã đào tạo một lực lượng lớn có trình độ học vấn cao và đưa
Mỹ trở thành một nước có nền giáo dục hàng đầu thế giới Trung tâm của hệ thống
giáo dục ở Mỹ là bậc đại học và được đặc biệt coi trọng [23] Theo quan niệm của
các nhà hoạch định chính sách giáo dục thì người nào vượt qua cấp giáo dục phổ
thông có tính chất đại chúng để tiến đến bậc đại học thì mới cần đầu tư, bồi dưỡng
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo hướng ưu tiên phát triển đào tạo ngành
lĩnh vực công nghệ cao và chiến lược thu hút chất xám ngoài nước có hiệu quả Họ coi trọng tầng lớp trí thức, tạo mọi điều kiện để họ phát huy khả năng
Chính sách quản lý, sử dụng nhân lực của của Mỹ là yếu tố kích thích sản xuất và tạo động lực cho người lao động và các chính sách đó được lồng ghép với các chính sách xã hội như chính sách việc làm, an sinh, phúc lợi xã hội Nhà nước giữ vai trò quan trọng làm nẩy sinh các nhân tố kích thích phát triển nguồn nhân lực
và được điều tiết mạnh mẽ bởi hệ thống pháp luật Hiệu ứng của pháp luật là kích thích phát triển nguồn nhân lực như bảo đảm quyền lợi của người lao động mặt khác thúc đẩy năng suất lao động tăng cao Vấn đề công bằng việc làm là cơ sở phát triển nhân lực, Chính phủ Mỹ đã đưa ra đạo luật cấm phân biệt về việc làm theo mầu da, chủng tộc, tôn giáo và giới tính do đó Mỹ thu hút được đội ngũ lao động tri thức từ khắp mọi nơi trên thế giới
Năm 2006 Mỹ là nước nằm trong số 10 nước có chỉ số phát triển con người cao nhất thế giới (HDI 0,948) Tuổi thọ trung bình của dân Mỹ là 77,3 tuổi Mới đây một cuộc khảo sát quốc tế về các bệnh nhân cho thấy chi tiêu cho ngành y tế và chăm sóc sức khỏe người dân tại Hoa Kỳ cao hơn bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới Hiện nay Theo luật liên bang, phúc lợi chăm sóc y tế là để cho những người không có tiền hoặc bảo hiểm Có khoảng 86,4% người Mỹ được hưởng bảo hiểm y
tế, trong đó có 61% hưởng bảo hiểm y tế do có việc làm (http://diendan.edu.net.vn)
* Các nước EU:
Ở hầu hết các nước EU, chính sách phát triển nguồn nhân lực chịu sự can thiệp của nhà nước bởi vì nếu không có sự kiểm soát thì các công ty có thể rơi vào tình trạng cực đoan là chỉ tập trung đào tạo nhân công để giải quyết các công việc trước mắt, do đó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài của quốc gia Chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực của các nước EU là đào tạo đội ngũ lao động có trình độ học vấn cao, có kỹ năng nghề nghiệp Do đó, giáo dục và đào tạo như là điều kiện tiên quyết để tăng khả năng thích ứng cạnh tranh về khoa học kỹ thuật, là động lực của sự phát triển và còn là một trong những hướng ưu tiên trong các chiến lược phát triển của các nước
Trang 16Các nước EU có hệ thống giáo dục dạy nghề rất tốt Nước Đức được đánh giá
là có hệ thống đào tạo nghề trên quy mô lớn dành cho những người không có điều
kiện học đại học Các học sinh trong độ tuổi 15 - 17 được học ở các trường dạy
nghề kết hợp với dạy văn hóa, sau 3 năm học phải qua kiểm tra trình độ nghề Nếu
vượt qua kỳ thi đó thì sau một năm học thêm các môn như quản trị, luật cơ bản và
một số môn kỹ thuật, người lao động có thể tạo lập doanh nghiệp [23] Đây có thể là
nhân tố quan trọng dẫn đến trình độ của lực lượng lao động đồng đều và năng suất
lao động tăng cao và ổn định
Chính sách việc làm được chính quyền các nước EU đặc biệt quan tâm và đầu
tư cho chương trình phát triển việc làm ngày càng tăng, trong đó ngân sách đầu tư
cho đào tạo việc làm chiếm tỷ trọng lớn nhất
1.1.2.2 Nguồn nhân lực Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Xuất phát từ đặc trưng nổi bật của lịch sử phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
qua các thời kỳ là nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, đã tạo nên những tập quán của
lối làm ăn mạnh mún, tản mạn, lối tư duy làm theo lệ hơn theo luật Chế độ phong
kiến tồn tại quá lâu đã hình thành và tồn tại tính cộng đồng làng xã bó buộc người
lao động khó có thể vượt ra khỏi khuôn khổ làng xã và cản trở hạn chế sự năng
động, sáng tạo trong lao động sản xuất
Trong thời kỳ chiến tranh chống thực dân xâm lược, chúng ta phải tập trung
nguồn lực con người cho tiền tuyến nên nhiều thế hệ thanh niên đã cống hiến tuổi
thanh xuân vì độc lập tự do của tổ quốc nên không có điều kiện học tập đầy đủ,
chưa có điều kiện phát triển tài năng của mình do đó không thể tránh khỏi những sai
lầm, hạn chế trong việc xây dựng đất nước sau chiến tranh
Việc áp dụng và duy trì quá lâu mô hình kinh tế theo cơ chế hành chính tập
trung, quan liêu bao cấp là nguyên nhân hạn chế sự phát huy phẩm chất mới của
người lao động Trong nhiều năm chúng ta tập trung cho việc cải tạo quan hệ sản
xuất cũ, thiết lập củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới mà chưa tập trung cao
độ cho phát triển lực lượng sản xuất Giai đoạn này chúng ta đề cao vai trò của tập
thể, không thấy hết vai trò của cá nhân Những tập quán, thói quen hình thành và
tồn tại quá lâu trong lịch sử đã ăn sâu và nhiều thế hệ người lao động Việt Nam làm cản trở quá trình phát triển của dân tộc Như Lênin đã nhận xét: “những tập quán, thói quen xấu của con người là sức mạnh đáng sợ nhất” [15]
Ngày nay, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tàn dư của đặc tính lao động tiểu nông dần được xoá bỏ, trí tuệ con người Việt Nam bắt đầu phát triển hướng vào quá trình sáng tạo của cải vật chất Những đức tính mới, phẩm chất tốt đẹp của người lao động hiện đại đang dần hình thành và hoàn thiện Con người Việt Nam đang chuyển biến nhanh chóng để thích ứng với cơ chế thị trường và sự biến động phức tạp của những biến đổi kinh tế
xã hội Với những đức tính cần cù, bền bỉ kết hợp với sự thông minh, sáng tạo, nguồn nhân lực Việt Nam đang minh chứng khả năng lợi thế so sánh Nhiều ngành sản xuất truyền thống bị sa sút, đình trệ trong thời kỳ bao cấp nay đã có cơ hội hồi sinh và vươn lên chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngành dệt lụa, thêu ren, mây tre đan, mộc, thủ công mỹ nghệ Sức sáng tạo và mạnh dạn trong sản xuất kinh doanh
đã xuất hiện một số ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh mới Những lĩnh vực mũi nhọn của một số nước công nghiệp phát triển như điện tử, tin học, viễn thông, lao động của chúng ta đã có khả năng tiếp cận và phát triển nhanh chóng Từ chỗ nhập linh kiện lắp ráp, dần dần lao động Việt Nam đã có thể chế tạo một số linh kiện thay thế đặc biệt trong các ngành lắp máy công nghiệp, đóng tàu, dầu khí Một số công
ty của Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu phần mềm tin học, xuất khẩu hàng hóa có giá trị hàm lượng công nghệ cao Những dấu hiệu đó cho thấy nguồn nhân lực của chúng ta có nhiều triển vọng tốt đẹp để vươn lên hội nhập với khu vực và thế giới Tuy nhiên người lao động Việt Nam hiện nay hạn chế lớn là về mặt thể lực Người Việt Nam đang bị thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là nông thôn mức dinh dưỡng được cung cấp trong ngày dưới mức tối thiểu của một lao động bình thường (theo tiêu chí đánh giá của quốc tế là 2.000 calo/người/ngày) [17] Không chỉ những người trong độ tuổi lao động, mà trẻ em là nguồn lao động trong tương lai thì tỷ lệ suy dinh dưỡng còn rất cao Mặt khác sự phát triển trí lực của người lao động, năng lực vận dụng kiến thức khoa học trong lao động sản xuất của người lao động Việt Nam còn yếu và đang là một trở ngại lớn nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế
Trang 17khi chúng ta đang được tiếp xúc nhiều với công nghệ kỹ thuật mới của thế giới và
phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại
* Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng:
Dân số nước ta hiện này trên là 80 triệu người, tốc độ tăng dân số bình quân
hàng năm khoảng trên 1% Là một nước có cơ cấu dân số trẻ và có mức tăng trưởng
cao Với điều kiện đó hàng năm Việt Nam có một số lượng lớn dân số đến độ tuổi
lao động
Lao động của Việt Nam năm 2005 là khoảng 44,4 triệu người, bình quân giai
đoạn 2001 – 2005 hàng năm tăng 2,3%, tương ứng với 805 ngàn người Do đặc
điểm cơ cấu phân bố dân số và lao động giữa thành thị và nông thôn nên lao động
có việc làm ở nông thôn vẫn chiếm phần lớn Lao động ở khu vực nông thôn hiện
nay tuy có giảm nhưng vẫn chiếm gần 3/4 tổng số lao động có việc làm Lao động
làm việc tại thành thị có tốc độ tăng cao hơn nông thôn, tốc độ tăng hàng năm
khoảng 5% và cao hơn gấp 3 lần khu vực nông thôn [5]
Bảng 1.1 Nguồn nhân lực chia theo giới tính
và theo khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2001 - 2005
Đvt: Triệu người
Nguồn: Bộ Lao động – TBXH, năm 2006
Trong 5 năm từ 2001 đến 2005 nguồn nhân lực Việt Nam tăng khoảng 4,3
triệu người, bình quân hàng năm nguồn nhân lực tăng thêm khoản 860 ngàn người
Năm 2005 lao động nam là 22,7 triệu người trong khi nữ là 21,7 triệu người, tỷ lệ
lao động nữ giảm từ 49,63% năm 2001 xuống 48,87% năm 2005 Nguồn cung lao
động của Việt Nam ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng đáng kể, từ năm
2001 đến 2005 lao động khu vực nông thôn tăng khoảng 2,5 triệu người với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 1,56% Khu vực thành thị tăng 1,8 triệu người tương ứng với mức tăng bình quân hàng năm khoảng 3% [5] Xu hướng lao động trong khu vực thành thị tiếp tục tăng nhanh do nguyên nhân phân mở rộng các khu vực đô thị đã làm tăng diện tích khu vực thành thị về mặt địa lý Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và có tốc độ đô thị hóa cao, cùng với tốc độ tăng trưởng dân số của khu vực thành thị ngày càng nhanh thì sự di chuyển
cơ học dân số từ nông thôn ra thành thị làm gia tăng lao động khu vực thành thị Nếu xem nguồn nhân lực chia theo nhóm tuổi cho thấy lao động ở nhóm tuổi
30 - 34 tham gia lực lượng lao động rất cao và đạt trên 95% Nhóm tuổi từ 15 - 24
và từ 55 tuổi trở nên những năm gần đây có xu hướng tiếp tục giảm
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ tham gia LLLĐ chia theo nhóm tuổi năm 2005
0 20 40 60 80 100 120
15 - 19 20 - 24 25 - 29 30 - 34 35 - 39 40 - 44 45 - 49 50 - 54 55 - 59 60 - 64 65 +
Tổng Nam Nữ
Nguồn: Bộ Lao động – TBXH, năm 2006
Như vậy lực lượng lao động Việt Nam khá trẻ và dồi dào, đây là một trong những lợi thế nếu chúng ta biết sử dụng hợp lý và hiệu quả Số lượng nhân lực lớn
là một điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chúng ta đang có một lực lượng lao động hớp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước Ngược lại nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lực
Trang 18lượng lao động đông đảo thì đây là yếu tố kìm hãm quá trình phát triển kinh tế của
đất nước
- Một số đặc điểm của nguồn nhân lực:
+ Đặc trưng của nguồn nhân lực theo nhóm nghề: Đặc điểm nổi bật là lao
động phổ thông chiếm tỷ trọng lớn nhất trong lực lượng lao động Lao động nữ làm
nghề phổ thông nhiều hơn nam giới với tỷ lệ tương ứng là 52% Lao động kỹ thuật
trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 5,2%, điều này có nghĩa là phần lớn
lao động trong nông nghiệp làm công việc giản đơn
Bảng 1.2 Cơ cấu lao động theo nghề năm 2005
Đvt: %
6 Lao động có kỹ thuật trong nông,
Nguồn: Bộ Lao động – TBXH, năm 2006
+ Đặc trưng việc làm chia theo vị thế công việc: Năm 2005, nhóm lao động
tự tạo việc làm cho bản thân và lao động làm việc tại gia đình chiếm số lượng chủ
yếu của nguồn nhân lực Số lao động làm việc tại hộ là 14,3% và có xu hướng giảm
nhanh trong thời gian tới Nhóm nhân lực làm công hưởng lương trong và ngoài khu
vực Nhà nước tăng đáng kể từ 5,0 triệu người năm 1996 lên 11 triệu người năm
2005 Nhóm lao động là chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh chiếm khoảng 200 ngàn người, tương ứng với 0,4% nguồn nhân lực cả nước [5], [7] Nếu chia theo khu vực thì số lao động tại hộ ở nông thôn cao hơn nhiều so với thành thị Kết quả này cho thấy một thực tế là khu vực nông thôn lao động làm việc tại hộ là chủ yếu, số lao động đi làm thuê hưởng lương ngoài hộ rất ít
+ Nhân lực tham gia các ngành kinh tế: Năm 2005 cơ cấu lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 56,7% và bình quân mỗi năm giảm 1,31% Lao động trong ngành công nghiệp chiếm 17,8%, lao động trong ngành dịch vụ chiếm 25,5% Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Điều đó phản ánh xu thế công nghiệp chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tuy nhiên lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn
Biểu đồ 1.2 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế năm 2005
Nguồn: Bộ Lao động - TBXH, năm 2006
- Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực:
+ Y tế và chăm sóc sức khỏe: Việt Nam trong nhiều năm qua đã có nhiều nỗ lực cố gắng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân Cho đến nay nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng dân số đã được cải thiện, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5% năm 1990 xuống còn 25,2% năm 2005 Tầm vóc và tốc độ tăng trưởng thể lực của trẻ em, thanh thiếu niên và người trưởng thành là khá cao so với quy luật chung, sau 25 năm chiều cao trung bình của nam thanh niên 18 tuổi
Trang 19tăng 4,5 cm và nữ tăng 4 cm Một số chỉ tiêu được cải thiện đáng kể như tuổi thọ
trung bình là trên 71 tuổi Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi bị chết là 17,80/00, tỷ lệ tử vong ở
trẻ em dưới 5 tuổi là 260/00, tỷ lệ sinh đẻ (số lần sinh trung bình tính trên một phụ
nữ) là 1,8%, tỷ lệ tử vong sản phụ (số ca tử vong/100.000 ca sinh sống) là 130
Mặc dù vậy, Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm
trọng như tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn ở mức cao Việt Nam còn phải đối mặt với
một số căn bệnh quay trở lại như lao phổi cùng với những bệnh mới do lối sống đặc
thù của một số nhóm xã hội sinh ra và số tai nạn giao thông ngày càng gia tăng Nạn
dịch HIV/AIDS cũng đang lan nhanh ở Việt Nam, mỗi ngày có tới hơn 100 người bị
lây nhiễm mới và từ năm 2000 đến năm 2005, số người đang phải sống chung với
HIV/AIDS đã tăng lên hơn gấp hai lần, từ 122.000 lên tới 263.000 người Ở một số
vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi chết còn rất cao tới 25 - 34%, tỷ lệ suy
dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi còn cao tới 30 - 35% Số lượng
người tàn tật của cả nước khá lớn khoảng 5,3 triệu, chiếm gần 6,3% dân số, tỷ lệ
dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và hàng năm vẫn tiếp
tục tăng thêm do số trẻ em sinh ra bị dị tật và các bệnh bẩm sinh [1]
Theo báo cáo của UNDP, chỉ số phát triển con người Việt Nam tiếp tục tăng
(năm 1995 xếp thứ 108/177, năm 2006 xếp thứ 120/174) [1] Mặc dù mức GDP
bình quân đầu người chính thức của Việt Nam mới chỉ khoảng 600 USD và tình
trạng nghèo đói vẫn còn phổ biến, song những thành tích của quốc gia về mặt phát
triển con người lại khá thuận lợi Điều này được phản ánh ở sự gia tăng liên tục các
chỉ số HDI trong suốt mười năm qua và nói lên sự tiến bộ đạt được trong lĩnh vực y
tế và mức sống dân cư Tuy chỉ số phát triển con người của nước ta đã từng bước
cải thiện, nhưng vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực và thấp xa so với
các nước phát triển
+ Về giáo dục đào tạo: Mặc dù đất nước còn nghèo, thu nhập quốc dân còn
thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh nhưng Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn về mặt giáo dục Cùng với củng cố kết quả xóa mù chữ và phổ cập
giáo dục tiểu học, đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ
sở Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đạt 97,5% Số học sinh trung
học chuyên nghiệp tăng 12,9%/năm, dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm, sinh viên đại học và cao đẳng tăng 8,4%/năm [1], [3] Chất lượng dạy nghề có chuyển biến tích cực, bước đầu đã hình thành mạng lưới dạy nghề cho lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số, người tàn tật, gắn dạy nghề với tạo việc làm Nhiều trường dân lập, tư thục bậc đại học, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông và dạy nghề đã được thành lập Cơ sở vật chất của ngành đã được tăng cường, đặc biệt là đối với vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu về y tế và giáo dục của Việt Nam
2010 tỷ lệ này sẽ là 40% Năm học 2004 - 2005, hệ chính quy đại học, cao đẳng tuyển 199.065 sinh viên, hệ không chính quy tuyển 111.860 sinh viên Nền giáo dục Việt Nam ngoài việc đào tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề, còn tạo ra những nhà khoa học có tên tuổi trên thế giới Bên cạnh các thành tích đó, hệ thống giáo dục đào tạo còn đang đứng trước nhiều khó khăn, trang thiết bị dạy học
Trang 20nghèo nàn lạc hậu, giáo trình thiếu cập nhật, trình độ giáo viên chưa cao và chưa
được quan tâm đúng mức
Đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tăng lên đáng kể Ngân sách nhà
nước dành cho giáo dục tăng nhanh trong thời gian qua Năm 2005 ngân sách cho
giáo dục và đào tạo chiếm khoảng 18% tổng chi ngân sách nhà nước Trong năm
cũng đã huy động bằng nhiều nguồn vốn khác để phát triển giáo dục như phát hành
công trái giáo dục, đóng góp của công đồng, của doanh nghiệp và vốn hỗ trợ từ bên
ngoài Trong số đó nhiều nhất là chi cho cấp mẫu giáo và trung học cơ sở khoảng
60% rồi đến tiểu học dưới 50%, trung học phổ thông 19%, trung học chuyên nghiệp
và trung học nghề 12% [3] Mặc dù chi phí cho giáo dục cao nhưng một điều đáng
lo lắng là số học sinh tiểu học bỏ học vẫn có chiều hướng gia tăng
+ Về trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Trong những năm gần đây tỷ lệ lao động qua đào tăng liên tục do Nhà nước
có các chính sách khuyến khích đào tạo, mở rộng các hình thức đào tạo theo nhiều
mô hình mới, trong đó tập trung loại hình đào tạo nghề ngắn hạn, dài hạn và dạy
nghề cho nông dân nên đến năm 2005 lao động qua đào tạo đạt 25,2%, trong đó lao
động qua đào tạo nghề là 15,26%
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nam cao hơn lao động nữ, trong
số 6,6 triệu người đã qua đào tạo nghề thì có 4,3 triệu lao động nam Trình độ
chuyên môn kỹ thuật của khu vực thành thị và nông thôn có sự chênh lệch tương
đối lớn, tại khu vực thành thị nguồn nhân lực đã quan đào tạo là 51,4%, trong khi
đó ở nông thôn là 16,8% Số lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học
tập trung ở thành thị chiếm tới 73,05%, còn lại 26,95% là ở khu vực nông thôn [7]
Tình hình phân bố và sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật hiện nay rất
bất hợp lý Cán bộ chuyên môn kỹ thuật tập trung phần lớn ở các viện, các cơ quan
hành chính tại các trung tâm đô thị, tạo nên tình trạng vừa thừa vừa thiếu Tỷ lệ lao
động khoa học kỹ thuật làm việc trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh chỉ có 32,7%
(trong khi tỷ lệ này của Thái Lan là 58,2%, Hàn Quốc 48%, Nhật Bản 64,4%) còn
lại 67,3% làm việc ở các cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức đoàn thể Ngành
nông lâm ngư nghiệp có địa bàn chính ở nông thôn nhưng 89,3% số cán bộ kỹ thuật
có chuyên môn thuộc lĩnh vực này lại làm việc tại các cơ quan trung ương, 8,9% làm việc tại các cấp thành phố, 1,8% làm việc tại cấp huyện và ở cấp xã [24] Chế độ sử dụng cán bộ chuyên môn kỹ thuật còn nhiều bất hợp lý, một số lượng lớn sử dụng chưa đúng ngành nghề đào tạo Hiện nay nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật cao là rất lớn, đặc biệt ở một số vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Nhưng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật đáp ứng được nhu cầu sử dụng rất thấp Ví dụ như thành phố Hồ Chí Minh chỉ tuyển được khoảng 60% nhu cầu, còn các tỉnh miền Đông Nam Bộ chỉ tuyển được 20% số kỹ sư cơ khí, điện, điện tử, hóa chất, kế toán, phiên dịch tiếng Trung, Hàn Quốc so với tổng số nhu cầu của các tỉnh [23] Bên cạnh đó, rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng không tìm được việc làm hoặc phải làm trái ngành nghề Thực tế này phản ánh tình trạng mất cân đối giữa số lượng và chất lượng của lao động chuyên môn kỹ thuật Số lượng lao động được đào tạo lớn nhưng chất lượng đào tạo lại rất thấp, không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp như thiếu kỹ năng thực hành, thiếu lao động lành nghề
* Cơ hội và thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế:
- Về cơ hội: Số lượng lao động Việt Nam tương đối rồi dào, số lao động trẻ chiếm đại đa số nguồn nhân lực Nhà nước đang quan tâm đầu tư vấn đề đào tạo, người lao động được tiếp cận với các công nghệ mới tiên tiến và hiện đại Hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam đã được ban hành và cơ bản đảm bảo các tiêu chuẩn lao động quốc tế, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội Thị trường lao động và các hoạt động dịch vụ liên quan đã được hình thành và đang từng bước hoàn thiện phát triển, nhất là ở các thành phố, các khu công nghiệp tập trung Đã có sự dịch chuyển lớn về lao động giữa các khu vực kinh tế, các địa phương, các ngành nghề Chính sách về thị trường lao động được điều chỉnh tạo điều kiện cho sự dịch chuyển
- Về thách thức và khó khăn: Trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động thấp, tác phong, thái độ làm việc, ý thức chấp hành pháp luật của người lao
Trang 21động chưa cao Hiện có đến 74,7% lực lượng lao động chưa qua đào tạo và tập
trung phần lớn ở nông thôn, khu vực kém phát triển [26] Xu hướng dịch chuyển lao
động sẽ rất lớn, từ nông thôn ra thành thị và vào khu công nghiệp tập trung, di
chuyển lao động ra ngoài nước Pháp luật lao động có phạm vi điều chỉnh hẹp và
tính cưỡng chế thi hành chưa cao Các hoạt động dịch vụ liên quan đến lĩnh vực lao
động và thị trường lao động mới hình thành và còn hạn chế, chưa tương xứng với sự
phát triển Số người tham gia thị trường lao động Việt Nam mới chỉ chiếm 20% lực
lượng lao động Nhận thức của một bộ phận người lao động và người sử dụng lao
động, trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức về hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn
chế Số lượng lao động tham gia lực lượng lao động ngày càng tăng tạo ra sức cạnh
tranh lớn
- Định hướng về phát triển nguồn nhân lực theo xu hướng hội nhập: Phải
nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề và kỹ năng nghề Nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật, đổi mới tác phong, thái độ làm việc của người lao động Tăng
cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và các công ước quốc tế
Hoàn thiện và phát triển thị trường lao động, xây dựng mối quan hệ lao động minh
bạch và lành mạnh
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1 Câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Tại sao phải nghiên cứu nguồn nhân lực khu vực nông thôn
- Thực trạng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực và sử dụng lao động hiện
nay ở khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên
- Xu hướng chuyển dịch lao động, các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực
nông thôn
- Các giải pháp nào để phát huy tốt vai trò nguồn nhân lực nông thôn
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Cơ sở phương pháp luận
Nghiên cứu đánh giá nguồn nhân lực một cách toàn diện không thể sử dụng
một hoặc một số phương pháp đơn lẻ mà phải có được một phương pháp luận tổng
hợp và đồng bộ Phương pháp nghiên cứu trong đề tài dựa trên khung lý thuyết hệ thống các khái niệm có liên quan và thông qua một số chỉ tiêu cơ bản nhằm đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng về hiện trạng và tình hình sử dụng nguồn nhân lực tại địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu định tính về các đặc trưng và xu hướng vận động, đánh giá các chính sách tác động
1.2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Thông tin thứ cấp: Thu thập tham khảo báo cáo, tài liệu, số liệu các cuộc điều tra có liên quan
+ Thông tin sơ cấp: Thông qua phiếu khảo sát điều tra một số nội dung nghiên cứu về nguồn nhân lực và hiện trạng sử dụng trong khu vực nông thôn Điều tra phỏng vấn trực tiếp các thông tin về lao động trong độ tuổi lao động, thông tin
về việc làm của hộ, thông tin về y tế, giáo dục, thông tin liên lạc…
Điều tra tại 180 hộ gia đình đại diện cho khu vực nông thôn và chia theo 3 vùng (vùng cao - trung du - vùng thấp) thuộc tỉnh Thái Nguyên Đại diện mỗi vùng chọn ngẫu nhiên 02 xã, mỗi xã chọn 30 hộ Sau đó lấy tổng số hộ của xã chia cho số mẫu (30 hộ) được hệ số k Số hộ điều tra sẽ là các hộ có số thứ tự: 01, 1+k, 1+2k, 1+3k, … 1+29k trong danh sách sổ quản lý hộ khẩu của xã
Mẫu phiếu phỏng vấn gồm 2 mục chính là thông tin chung về hộ và thông tin của lao động trong hộ
+ Quan sát thực tế: Trong quá trình tiến hành điều tra, đã khảo sát phỏng vấn, trao đổi với người dân về các thông tin định tính
- Phương pháp tổng hợp số liệu: Sử dụng phần mền tính toán Excel
- Phương pháp phân tích số liệu:
+ Phương pháp thống kê, so sánh và mô tả
Trang 221.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Chất lượng nguồn lao động: Trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật, tình
hình chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, khả năng ứng dụng khoa
học kỹ thuật vào sản xuất…
- Số lượng: Lực lượng lao động, lao động tham gia hoạt động kinh tế, lao
động chia theo khu vực, giới tính, độ tuổi
- Sử dụng nguồn nhân lực: Lao động làm việc trong và ngoài hộ, năng suất
lao động, tiền lương thu nhập của lao động Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
quốc dân, lao động tham gia các thành phần kinh tế, tỷ lệ lao động làm công ăn
lương, đặc trưng của lao động thiếu việc làm
- Chỉ số HDI: Là một chỉ số tổng hợp dùng để đo lường sự phát triển toàn
diện của một quốc gia, một địa phương dựa trên 3 yếu tố cơ bản nhất của sự phát
triển con người, bao gồm:
Sức khỏe: Thông qua kỳ vọng sống hay còn gọi là tuổi thọ bình quân
Giáo dục, học vấn: Thông qua tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đi học chung
Mức sống: Thông qua tổng sản phẩm quốc nội bình quân trên đầu người tính
theo tỷ giá sức mua tương đương
Từ năm 1990, chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đã đưa ra và hoàn
thiện phương pháp tính HDI, phương pháp tính gồm 02 bước như sau:
Bước 1: Tính 3 chỉ số phát triển thành phần về sức khỏe, học vấn và mức
sống, trong đó:
Về sức khỏe: Theo quy luật chung nếu con người khỏe mạnh thì cuộc sống sẽ
trường thọ và ngược lại Vì vậy, sức khỏe được lượng hóa thông qua chỉ tiêu tuổi
thọ, ký hiệu là X1 Tính tuổi thọ bình quân của dân cư một địa phương là một công
việc phức tạp Phương pháp truyền thống được sử dụng để tính chỉ số thành phần
này là xây dựng bảng sống Do tính tuổi thọ bình quân là công việc phức tạp đòi hỏi
phải có số liệu thống kê chi tiết dân số theo nhóm tuổi (từ 1 - 4 ; 5 - 9; … 75 - 79;
trên 80 tuổi) và tương ứng với dân số chết theo từng nhóm tuổi này trong năm Hiện
nay để đơn giản cách tính, một số nhà nghiên cứu đưa ra công thức tính xấp xỉ tuổi thọ bình quân như sau:
Tuổi thọ bình quân (X1) = 73,1 – 194 x IMR + 70 X G Trong đó: IMR là tỷ suất (0/00) trẻ sơ sinh chết dưới 1 tuổi, G là tỷ lệ (0/00) người từ 65 tuổi trở lên trong tổng dân số
Về học vấn: Chỉ tiêu đánh giá về thành tựu giáo dục hay học vấn ký hiệu là X2, được đo bằng tổng tỷ lệ biết chữ với trọng số 2/3 và tỷ lệ đi học chung với trọng số 1/3 Tỷ lệ người biết chữ ký hiệu là E1 là tỷ lệ những người từ đủ 15 tuổi trở lên biết đọc và viết được một đoạn văn ngắn Tỷ lệ đi học chung ký hiệu là E2 là
tỷ số giữa tổng số người ở mọi độ tuổi đang học ở tất cả các bậc phổ thông, trung học chuyên nghiệp, đại học và sau đại học với tổng dân số từ 5 đến 24 tuổi Học vấn (X2) = 2/3E1 + 1/3E2
Về mức sống: ký hiệu là X3, đo lường bằng GDP bình quân đầu người và tính theo công thức: X3 = Log (GDP bình quân đầu người)
Các chỉ tiêu trên được chuyển đổi thành chỉ số thành phần theo công thức chung như sau:
Xi - Xmin
Li =
Xmax - Xmin Theo quy ước của Liên hiệp quốc, giá trị lớn nhất (max) và nhỏ nhất (min) của các chỉ tiêu nói trên như sau:
Trang 23Bước 2: Tính chỉ số phát triển con người HDI
Ba chỉ số thành phần có giá trị như nhau đối với sự phát triển con người nên
trọng số của các chỉ số thành phần đều bằng 1/3 và công thức tính là:
HDI = 1/3 x (L1 + L2 + L3)
HDI là chỉ báo tổng hợp quan trọng để đánh giá thực trạng phát triển con
người và từ đó có kế hoạch, chiến lược phát triển toàn diện con người trong tương
lai HDI được sử dụng để so sánh sự phát triển mang tính bền vững và còn được sử
dụng để so sánh sự phân hóa, phát triển không đều giữa các quốc gia, địa phương,
dân tộc cũng như các nhóm kinh tế xã hội khác nhau trong cùng một khu vực Từ
đó các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để đánh giá được tính cấp thiết của việc
thúc đẩy phát triển y tế, giáo dục thay vì chỉ tính đến sự tăng trưởng kinh tế
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có
Thái Nguyên có 7 huyện, một thành phố và một thị xã với tổng số 180 xã, phường
và thị trấn, trong đó có 14 xã vùng cao, 106 xã vùng núi, còn lại là các xã trung du
và đồng bằng
Tỉnh Thái Nguyên giáp Bắc Kạn ở phía Bắc, Vĩnh Phúc và Tuyên Quang ở phía Tây, Lạng Sơn, Bắc Giang ở phía Đông và Thủ đô Hà Nội ở phía Nam Với vị trí địa lý như vậy, Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của vùng trung du miền núi Bắc Bộ và là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi Bắc Bộ với vùng đồng bằng Bắc Bộ Sự giao lưu này được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu mối Đường quốc lộ số 3 từ Hà Nội lên Bắc Cạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên chạy qua thành phố Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đồng thời còn là cửa ngõ phía Bắc qua tỉnh Bắc Kạn lên Cao Bằng thông sang biên giới Trung Quốc Các quốc lộ 37, 1B cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch giao thông quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh Tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều, Lưu Xá - Kép - Đông Triều nối với khu công nghiệp Sông Công, khu Gang Thép và thành phố Thái Nguyên Vị trí này đã và đang tạo điều kiện cho Thái Nguyên trở thành trung tâm kinh tế vùng miền núi Bắc
Bộ, nhất là sau khi tuyến đường cao tốc Thái Nguyên - Hà Nội được xây dựng
Trang 24Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc Nam, thấp dần
xuống phía Nam Cấu trúc vùng phía Bắc chủ yếu là đá phong hóa mạnh castơ tạo
thành nhiều hang động, thung lũng nhỏ Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh
cao nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam Ngoài hai dãy núi kể trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo
hướng Đông Bắc - Tây Nam đến Võ Nhai tạo nên vùng ít mưa và dãy núi Bắc Sơn
chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc
Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa Đông Bắc
- Địa hình: Thái Nguyên có bốn nhóm cảnh quan hình thái địa hình với đặc
trưng khác nhau:
+ Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng
Bắc Bộ có diện tích không lớn phân bố ở phía Nam của tỉnh, chủ yếu thuộc hai
huyện Phú Bình, Phổ Yên với độ cao địa hình 10 - 15m Kiểu địa hình đồng bằng
xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào
khoảng 20 - 30m và phân bố dọc hai con sông lớn là sông Cầu và sông Công thuộc
huyện Phổ Yên và Phú Bình
+ Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi được chia thành ba kiểu gồm
kiểu cảnh quan gò đồi thấp, trung bình, dạng bát úp với độ cao tuyệt đối 50 - 70m
phân bố ở Phú Bình, Phổ Yên Kiểu cảnh quan đồi cao đỉnh bằng hẹp, chủ yếu phân
bố ở phía Bắc của tỉnh kéo dài từ Đại Từ đến Định Hóa Kiểu địa hình đồi cao sườn
lồi, thẳng, đỉnh nhọn, hẹp, kéo dài dạng dãy độ cao phổ biến từ 100 - 150m phân bố
ở phía Bắc của tỉnh trong lưu vực sông Cầu, từ Đồng Hỷ, Phú Lương đến Định Hóa
+ Nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp chiếm tỷ lệ lớn, hầu như chiếm
trọn vùng đông bắc của tỉnh Nhóm cảnh quan địa hình núi thấp, phân bố dọc ranh
giới Thái Nguyên với các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh
Phúc Trước đây, phần lớn diện tích nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp có
lớp phủ rừng nhưng hiện nay lớp phủ rừng đang bị suy giảm
+ Nhóm cảnh quan hình thái địa hình nhân tạo ở Thái Nguyên chỉ có một
kiểu là các hồ chứa nhân tạo, trong đó các hồ lớn là hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo
Linh, Cây Si, Ghềnh Chè Hiện tại, trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng trên 200 hồ
chứa các loại với tổng diện tích mặt nước gần 6.000ha Đây là điều kiện thuận lợi lớn cho tỉnh trong việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt Một số hồ lớn là những địa điểm hấp dẫn đối với phát triển du lịch sinh thái
Như vậy, có thể thấy cảnh quan hình thái địa hình Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng Tuy nhiên, muốn khai thác sử dụng tốt lãnh thổ phải tính đến đặc tính của từng kiểu cảnh quan, đặc biệt là các kiểu cảnh quan đồi núi chiếm phần lớn diện tích của tỉnh Mặc dù là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác Đây cũng là một thuận lợi của tỉnh trong việc canh tác nông, lâm nghiệp, phát triển kinh tế xã hội nói chung mà nhiều tỉnh trung du miền núi khác không có
- Địa chất: Mặc dù có diện tích lãnh thổ không lớn nhưng cấu trúc địa tầng của Thái Nguyên khá phức tạp, có nhiều nguồn gốc khác nhau Tính phong phú của các giới hệ tầng quyết định rất lớn đến chất lượng đất và sự phong phú của các loại khoáng sản của Thái Nguyên
Trong bản chú giải bản đồ địa chất và khoáng sản đã liệt kê tới 28 hệ tầng, phức hệ địa chất với nhiều loại đá khác nhau Các hệ tầng này phần lớn có dạng tuyến và phân bố theo nhiều hướng khác nhau Phần lớn các hệ tầng nằm ở phía Bắc của tỉnh có hướng thiên về Đông Bắc – Tây Nam, trong khi các hệ tầng ở phía Nam tỉnh lại thiên về hướng Tây Bắc - Đông Nam Các hệ tầng có chứa đá vôi tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc của tỉnh, không thành khối liên tục mà xen kẽ với các tầng khác nhau Vùng Tây Bắc của tỉnh có hệ tầng Phố Ngữ, chiếm tỷ lệ diện tích lớn với các loại đá phổ biến là phiến sét, sét, sét silic, cát bột kết Vùng phía Nam
là hệ tầng Tam Đảo, hệ tầng Nà Khuất, hệ tầng Hà Cối với nhiều loại đá khác nhau
2.1.1.2 Thời tiết khí hậu
Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 - 2.500mm
và kéo dài trong 3 tháng
Trang 25Với lượng mưa khá lớn, trung bình 1.500 - 2.500mm, tổng lượng nước mưa
phân bố không đều theo thời gian và không gian Theo không gian lượng mưa tập
trung nhiều ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, trong khi đó tại huyện Võ
Nhai, Phú Lương lượng mưa tập trung ít hơn Theo thời gian, lượng mưa tập trung
khoảng 87% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10
Do địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam nên khí hậu của tỉnh vào mùa đông
được chia thành ba vùng:
- Vùng lạnh nhiều nằm ở phía Bắc huyện Võ Nhai
- Vùng lạnh vừa gồm huyện Định Hóa, Phú Lương và phía Nam huyện Võ Nhai
- Vùng ấm gồm các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã Sông
Công và thành phố Thái Nguyên
Nhìn chung, điều kiện khí hậu thuỷ văn của tỉnh Thái Nguyên tương đối
thuận lợi để có thể phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho
phát triển các ngành nông, lâm nghiệp nói chung Tuy vậy, vào mùa mưa với lượng
mưa tập trung lớn thường xảy ra tai biến về sụt lở, trượt đất, lũ quét ở một số triền
đồi núi và lũ lụt ở khu vực dọc theo lưu vực sông Cầu và sông Công
2.1.1.3 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 354.150ha
+ Đất núi chiếm 43,83% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200m, hình thành
do sự phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và đá trầm tích Đất núi thích hợp
cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh
doanh, nhưng cũng thích hợp để trồng các cây đặc sản, cây ăn quả
+ Đất đồi chiếm 24,57% diện tích tự nhiên, chủ yếu hình thành trên cát kết,
bội kết, phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo Đây là vùng đất xen kẽ giữa nông
và lâm nghiệp Đất đồi phân bố ở một số vùng như Đại Từ, Phú Lương… với độ
cao từ 50 đến 200m rất phù hợp đối với cây công nghiệp, đặc biệt là cây chè và cây
ăn quả lâu năm
+ Đất ruộng chiếm 12,11% diện tích đất tự nhiên Tuy phần lớn diện tích có
độ phì thấp song có thể phát triển các cây lương thực như lúa, ngô, cây mầu như khoai, lạc, đỗ
+ Các loại đất còn lại chiếm 19,49%, trong đó đất chưa sử dụng hiện còn khoảng 49.049,6 ha và chiếm 13,85% diện tích đất tự nhiên
Bảng 2.1 Hiện trạng diện tích đất tự nhiên của tỉnh
Đvt: Ha
Tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó:
77823 54814,6
76770 53726,9
73317 50348,9
73198 50348,9
42885 32882,9
Nguồn: UBND tỉnh Thái Nguyên, năm 2006
Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh có sự thay đổi tương đối lớn kể từ năm 2000 đến nay Đất lâm nghiệp tăng đều qua các năm, năm 2005 chiếm 46,62% Điểm đáng lưu ý là diện tích đất chưa sử dụng giảm mạnh qua các năm, chủ yếu được chuyển sang phục vụ mục đích lâm nghiệp Năm 2005 đất chưa sử dụng chiếm 13,85% tổng diện tích đất tự nhiên, gần 77% trong số này có khả năng sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp
- Tài nguyên nước mặt: Nguồn nước mặt của Thái Nguyên chủ yếu do hệ thống sông ngòi cung cấp Thái Nguyên có hai con sông chính là sông Công và sông Cầu
Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ Núi Cốc có mặt nước
Trang 26điều hòa dòng chảy, chủ động tưới tiêu cho 12 nghìn ha lúa, màu và cây công
nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công
nguồn từ Chợ Đồn chảy theo hướng Bắc - Đông Nam Tổng lượng nước sông Cầu
nghìn ha lúa hai vụ của huyện Phú Bình và các huyện Hiệp Hoà, Tân Yên của tỉnh
Bắc Giang
Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên còn nhiều sông nhỏ khác thuộc hệ thống sông Kỳ
Cùng và hệ thống sông Lô Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì trên các
con sông nhánh chảy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có tiềm năng thuỷ điện kết hợp
với thuỷ lợi quy mô nhỏ
- Tài nguyên khoáng sản: Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông
Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Hiện đã phát hiện
177 điểm quặng và mỏ khoáng sản với hơn 30 loại hình khoáng sản khác nhau phân
bố tập trung ở các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai… Tài nguyên
khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên có thể chia thành bốn nhóm,
+ Nhóm nguyên liệu cháy gồm than đá và than mỡ với tổng trữ lượng gần
100 triệu tấn, đứng thứ hai trong cả nước, chất lượng tương đối tốt Các mỏ có trữ
lượng lớn là Khánh Hòa 46 triệu tấn, Núi Hồng 15,1 triệu tấn, hai mỏ Làng Cẩm và
Phấn Mễ mỗi mỏ có trữ lượng trên 3,5 triệu tấn Riêng trữ lượng than mỡ trong
ngành luyện kim đứng đầu trong cả nước, đủ đáp ứng các nhu cầu về luyện kim, sản
xuất nhiệt điện và các nhu cầu khác
+ Nhóm khoáng sản kim loại gồm cả kim loại đen như sắt, mangan, titan và
kim mầu loại như chì, kẽm, đồng, niken, nhôm, thiếc, vonfram, altimoan, thuỷ
ngân, vàng… Trữ lượng các loại này không lớn nhưng có giá trị về mặt kinh tế
+ Nhóm khoáng sản phi kim loại gồm pyrit, barit, phốtphorít, graphit…,
trong đó đáng chú ý nhất là phốtphorít với tổng trữ lượng khoảng 89.500 tấn
+ Khoáng sản vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi…
trong đó sét xi măng có trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn Ngoài ra, Thái Nguyên còn
có sét làm gạch ngói, cát sỏi dùng cho xây dựng… Đáng chú ý nhất trong nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng của tỉnh là đá carbonat bao gồm đá vôi xây dựng có
lượng 194,7 triệu tấn
Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa trong phạm vi cả nước như quặng sắt, than, đặc biệt là than mỡ Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển các ngành công nghiệp như luyện kim, khai khoáng, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng
- Tài nguyên rừng: Thái Nguyên có trên 165,1 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong
đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 104,8 nghìn ha và rừng trồng có trên 60 nghìn ha Rừng phòng hộ có diện tích gần 55,6 nghìn ha, rừng đặc dụng gần 28,2 nghìn ha và rừng kinh tế gần 81,4 nghìn ha Tổng diện tích đất chưa sử dụng trên 81,449 nghìn
ha, trong số này có trên 39 nghìn ha có khả năng phục vụ mục đích lâm nghiệp
Về tính đa dạng sinh học có thể thấy Thái Nguyên khá đa dạng về các loài động thực vật, đặc biệt có nhiều loại cây con dược liệu quý có thể phát triển ở quy
mô sản xuất hàng hóa
Sau nhiều năm khai thác, sử dụng không hợp lý, lớp phủ thực vật của Thái Nguyên đã suy giảm cả về diện tích, sinh khối và bề dày Điều này gây ảnh hướng xấu đối với các điều kiện tự nhiên khác như đất, nước, khí hậu và cũng như đến khả năng phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân trong tỉnh Do khai thác rừng phục vụ tăng trưởng kinh tế và do công tác bảo vệ và trồng rừng trong một thời gian dài còn yếu kém nên đến nay tài nguyên rừng ở Thái Nguyên suy giảm đáng kể, không còn rừng giàu, rừng trung bình còn rất ít, chủ yếu là rừng nghèo kiệt Các loại gỗ quý thuộc nhóm 1 - 4 đã cạn kiệt, còn chủ yếu là gỗ nhóm 5 - 8 đường kính nhỏ Các loại vầu, nứa, các loại đặc sản rừng, dược liệu và động vật rừng cũng bị giảm một cách nghiêm trọng và đã đến mức báo động [20]
Trang 272.1.2 Thực trạng kinh tế xã hội khu vực nông thôn
2.1.2.1 Thực trạng và đặc điểm dân số
Dân số khu vực nông thôn Thái Nguyên năm 2006 là 855,9 ngàn người, bằng
76,72% dân số toàn tỉnh và đang có xu hướng tăng chậm Nguyên nhân là có một
bộ phân dân cư giảm cơ học và một số vùng, khu vực được chuyển đổi địa giới
hành chính từ nông thôn chuyển thành khu vực thành thị Dân số nữ là khoảng
415,9 ngàn người chiếm 48,6% dân số cả khu vực
Cơ cấu dân số tương đối trẻ và đồng đều giữa nam và nữ Do lịch sử gia tăng
dân số từ những thập kỷ 70 - 80 - 90 của thế kỷ XX, khu vực nông thôn Thái
Nguyên có tốc độ tăng dân số tương đối cao nên cơ cấu dân số hiện nay nhóm tuổi
từ 15 đến 24 tuổi chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số, cụ thể đối với nam là khoảng
trên 51 ngàn người và trên 48 ngàn người đối với nữ (xem biểu đồ 2.1)
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ dân số theo giới tính và nhóm tuổi
khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên năm 2006
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên
Dân cư phân bố không đồng đều, ở vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt,
trong khi đó ở vùng trung du dân cư lại dày đặc Mật độ dân số thấp nhất là huyện
dân số trung bình của tỉnh thuộc loại cao so với các tỉnh miền núi Bắc Bộ Khu vực
nông thôn hiện có tám dân tộc cùng sinh sống Dân tộc Kinh chiếm khoảng 75,5%;
Tày 10,7%; Nùng 5,1%; Dao 2,1%; Sán Dìu 2,4%; các dân tộc khác Cao Lan, Mông, Hoa chiếm 4,2% dân số toàn tỉnh Dân số hoạt động nông nghiệp của tỉnh chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 721,8 ngàn người chiếm gần 70% dân số toàn tỉnh và chiếm trên 85% dân số khu vực nông thôn
Chất lượng dân số toàn tỉnh nói chung và dân số khu vực nông thôn nói riêng ngày càng được cải thiện Tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 35 là 99,5% Thể lực của người dân đang được cải thiện đáng kể, các chỉ số về chiều cao, cân nặng
có xu hướng tăng dần qua các năm
2.1.2.2 Vài nét về lĩnh vực y tế, giáo dục và truyền thông
- Về Giáo dục đào tạo: Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho dạy học của tỉnh nói chung và khu vực nông thôn nói riêng được qua tâm đầu tư cải thiện đáng kể
Số trường lớp học được duy trì và mở rộng, công tác giáo dục ở vùng sâu, vùng xa được quan tâm nhiều hơn 100% số xã đã đạt và giữ vững tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi theo tiêu chuẩn quốc gia Có 70% số xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập THCS [25] Trình độ giáo viên phổ thông và mẫu giáo được nâng dần qua các năm Toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đi học vào các cấp học đều tăng và đạt cao hơn với mức trung bình của toàn quốc
Bảng 2.2 Hiện trạng cơ sở giáo dục đào tạo của nông thôn khu vực
So sánh với khu vực
và cả nước (%)
Số lượng Tỷ lệ (%) lượng Số Tỷ lệ (%) Đông Bắc Cả nước
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, năm 2006
Trang 28Mạng lưới và quy mô trường học tiếp tục phát triển phù hợp với yêu cầu phổ
cập giáo dục Tuy nhiên, các trường, lớp vùng nông thôn miền núi còn thiếu phương
tiện dạy và học tập Tình trạng quá tải về nhu cầu học tập tại các trường THPT vẫn
còn tồn tại do số lượng trường THPT còn quá ít Phần lớn mỗi huyện chỉ mới có 1
đến 2 trường THPT với cơ sở vật chất còn thiếu trong khi nhu cầu đòi hỏi mỗi
huyện cần có ít nhất ba trường Số lớp học tính bình quân trên mỗi trường cũng rất
cao khiến cho chất lượng dạy và học bị ảnh hưởng Hiện nay khu vực nông thôn
chưa có trường phổ thông bán công và dân lập
- Về Y tế và công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân: Đã có nhiều tiến
bộ, trong đó thực hiện tốt việc khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và nhân
dân xã 135, xã ATK Các chương trình y tế quốc gia được triển khai và thực hiện
tương đối tốt Các dịch bệnh lớn được kiểm soát hiệu quả Tuy nhiên hiện nay khu
vực nông thôn chưa có sở y tế dân lập Chất lượng dịch vụ ở một số cơ sở y tế tuyến
huyện và trạm y tế xã còn thấp do thiếu cơ sở vật chất, thiếu các máy móc, thiết bị
hiện đại phục vụ khám chữa bệnh và thiếu bác sĩ giỏi Bệnh viện A của tỉnh thường
xuyên trong tình trạng quá tải
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, năm 2006
- Lĩnh vực văn hóa, truyền thông: Hệ thống phát thanh truyền hình của tỉnh
hiện vẫn còn gặp một số khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và cán
bộ kỹ thuật Nhiều xã thuộc vùng nông thôn chưa có trạm phát thanh xã, còn nhiều
nơi chưa được phủ sóng phát thanh truyền hình Năm 2006 mới có khoảng 50% xã
trong tỉnh có điểm hoạt động vui chơi giải trí
Hiện trong toàn tỉnh có 9 nhà văn hóa cấp huyện nhưng cơ sở vật chất còn nghèo nàn, 13,9% số xã có nhà văn hóa, 62,9% số thôn, bản có nhà văn hóa Nhà văn hóa cấp cơ sở hoạt động với nhiều loại hình sinh hoạt đa dạng góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân địa phương Tuy nhiên, hiện vẫn còn thiếu các điểm văn hóa và trung tâm thể thao
Biểu 2.4 Hiện trạng hạ tầng cơ sở văn hóa thông tin
So sánh với khu vực và cả nước (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Đông Bắc
Cả nước
Nguồn: Cục Thống kế tỉnh Thái Nguyên, năm 2006
- Công tác Dân số - KHHGĐ và Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em: Được thực hiện tương đối tốt, nhận thức của nhân dân về kế hoạch hóa gia đình có chuyển biết
rõ nét Từ năm 2000 trở lại đây, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khu vực nông thôn không vượt quá mức 0,7%, tỷ lệ người sinh con thứ 3 giảm Tỷ suất sinh thô năm 2005 của toàn tỉnh là 13,570/00, hiện nay đã cấp thẻ BHYT khám chữa bệnh miễn phí cho 100% trẻ em dưới 6 tuổi Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng theo chương trình tiêm chủng mở rộng ở các xã miền núi, vùng cao đạt trên 78% Các mục tiêu chương trình quốc gia về chăm sóc bảo em được thực hiện tốt, năm 2005 tỷ lệ trẻ em suy
Trang 29dinh dưỡng giảm xuống chỉ còn 27% (2001 là 35%) Giai đoạn 2001 - 2005 tỷ lệ trẻ
em từ 2 - 5 tuổi được theo dõi tăng trưởng 2 lần/năm đạt trên 50% [22]
2.1.2.3 Thực trạng phát triển kinh tế khu vực nông thôn
Khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên chia là 3 khu vực rõ rệt gồm vùng cao,
trung du, vùng thấp Số đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng nông thôn gồm 144 xã
phân bố tại 9 huyện, thành thị Mỗi vùng có những đặc trưng khác nhau do điều
kiện địa lý khác nhau, tập tục truyền thống văn hóa và tập quán canh tác khác nhau
Trong những năm gần đây khu vực nông thôn đã có sự thay đổi cơ bản theo hướng
sản xuất hàng hóa Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của lĩnh
vực sản xuất phi nông nghiệp Một số vùng sản xuất cây, con tập trung và làng nghề
tiểu thủ công nghiệp được hình thành phát triển Các hợp tác xã kiểu mới ở nông
thôn được thành lập, đóng vai trò chính trong việc cung cấp các dịch vụ cày bừa,
tưới tiêu, khuyến nông, khuyến lâm, cung ứng vật tư kỹ thuật, chuyển giao công
nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp Một số mô hình sản xuất có hiệu quả đã xuất
hiện ở nông thôn Thái Nguyên như mô hình kinh tế trang trại, kinh tế gò đồi Hệ
thống kết cấu hạ tầng nông thôn được cải thiện đáng kể trong những năm qua
Theo số liệu khảo sát điều tra nông nghiệp nông thôn năm 2006, khu vực
nông thôn hiện có khoảng 213.200 hộ dân sinh sống, trong đó có 174.700 hộ làm
nông nghiệp và có thu nhập lớn nhất từ nông, lâm nghiệp thủy sản chiếm 81,94%
Số hộ phi nông nghiệp và có thu nhập chính từ các ngành dịch vụ - công nghiệp xây
dựng còn rất ít và chỉ chiếm khoảng 14,6%, trong đó tỷ lệ này ở các huyện Định
Hóa, Võ Nhai chỉ đạt dưới 10% Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí của Chính phủ năm
2005 là 32,33% tương ứng với 61.929 hộ và chiếm đến 90,7% số hộ nghèo cả tỉnh,
(tỷ lệ này cao hơn mức bình quân chung của cả nước và vùng Đông Bắc) Như vậy
có thể thấy rằng hiệu quả lao động trong khu vực nông thôn còn thấp, nguồn thu
chính của các hộ dân từ nông lâm nghiệp Năm 2005 năng suất lao động nông
nghiệp chỉ đạt 4,26 triệu đồng/người/năm
* Hạ tầng nông thôn:
- Tính đến cuối năm 2005 toàn tỉnh Thái Nguyên có 4.545km đường bộ
Trong số này có 184,6km đường quốc lộ, 248,8km đường tỉnh, 865,6km đường
huyện, 3.180,6km đường xã và liên xã Toàn bộ đường quốc lộ và đường đô thị đã được nhựa hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại nội tỉnh và phục vụ tốt hơn nhu cầu đi lại của người dân Hệ thống đường tỉnh lộ mới có 128,5/248,8km được nhựa hóa, còn lại 120,3km là đường đá dăm, cấp phối và đường đất Nhìn chung, tỷ
lệ mặt đường được rải nhựa, đổ bê tông còn thấp, mới đạt 20,4%, đặc biệt đối với đường xã, phường chỉ đạt 11%, còn lại đường đá hoặc đường cấp phối, đường đất (trong đó đường đất chiếm tới 67,1%) Tỷ lệ mặt đường xấu nhìn chung cao (54,5%) [9] Hiện 100% các xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã Tuy nhiên, khả năng tiếp cận bằng đường bộ với một số xã miền núi trong tỉnh còn nhiều khó khăn
do địa hình dốc, chất lượng đường kém Một số đoạn đường quốc lộ, một số đường huyện và một số cầu đang xuống cấp, ảnh hưởng đến năng lực vận tải nội tỉnh và với tỉnh ngoài
- Đường thuỷ ở Thái Nguyên khá phong phú và phân bố rộng khắp các vùng nông thôn trong tỉnh Thái Nguyên hiện có 430km đường thủy bao gồm hai tuyến đường sông chính nối với các tỉnh ngoài Tuyến Đa Phúc - Hải Phòng dài 161km và tuyến Đa Phúc - Hòn Gai dài 211km và hai tuyến vận tải thủy nội tỉnh tuyến Thái Nguyên - Phú Bình dài 16km và tuyến Thái Nguyên - Chợ Mới dài 40km, tuy nhiên việc đi lại ở tuyến này còn hạn chế Giao thông thuỷ là một lợi thế của tỉnh nói chung và đặc biệt là khu vực nông thôn nói riêng nhưng cho đến nay chưa được khai thác nhiều Trong tương lai, khi quan hệ giao lưu kinh tế và thương mại với các địa phương khác phát triển thì loại hình giao thông này cần được khai thác hiệu quả
- Nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn có hai hình thức cấp nước phổ biến là cung cấp nước theo hệ tập trung tự chảy và nguồn nước ngầm Một bộ phận dân cư các xã miền núi nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống sử dụng nước mưa, nước suối do không đủ kinh phí để đào giếng hoặc do tập quán
Tính đến cuối năm 2005 có khoảng 24,3% số xã có công trình nước sinh hoạt tập trung, 66% dân nông thôn được sử dụng nước sạch [21] Số người được dùng nước sạch tăng nhanh do hệ thống cung cấp nước sạch từ các giếng khoan tập trung
và các nguồn nước đầu mối qua sử lý được Nhà nước đầu tư xây dựng Hiện nay ngoài 02 nhà máy nước ở khu vực thành thị thì ở khu vực nông thôn đã có thêm 05
Trang 30nhà máy nước của dự án Nhật Bản tài trợ đặt tại các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ
Yên và khu vực các xã phía nam thành phố Thái Nguyên
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu hiện trạng cấp nước nông thôn
Nguồn: Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh, năm 2005
- Nguồn điện cấp cho tỉnh Thái Nguyên hiện nay là điện lưới quốc gia thông
qua trạm biến áp Thái Nguyên và trạm Sóc Sơn Lưới điện trên địa bàn tỉnh bao
gồm các cấp điện áp 220, 110, 35, 22, 10 và 6KV Kể từ năm 2003, 100% số xã
thuộc khu vực nông thôn đã có điện và 98% số thôn có điện, có khoảng 85% hộ dân
nông thôn được sử dụng điện [20] Mức tiêu thụ điện năng của tỉnh tăng rất nhanh
qua các năm, bình quân tăng 16,3%/năm trong giai đoạn 2001- 2005 Tuy nhiên
điện tiêu thu phục vụ cho nông lâm nghiệp thủy sản chỉ chiếm 0,2% tổng điện năng
tiêu thụ toàn tỉnh
- Hệ thống thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp của tỉnh khá hoàn chỉnh từ các kênh
đầu mối tới kênh nội đồng với tổng chiều dài 949km và 2.070 công trình thuỷ lợi
tính đến cuối năm 2005 nhưng hiện mới cung cấp đủ nước tưới ổn định cho gần
73.000ha đất canh tác mỗi năm cho cả ba vụ trong số tổng diện tích đất canh tác
nông nghiệp 95.871,3ha (chiếm 76,1% diện tích)
- Mạng lưới bưu chính viễn thông và dịch vụ bưu chính viễn thông có tốc độ
phát triển rất nhanh Tính đến cuối năm 2005 toàn tỉnh có 1 bưu cục trung tâm, 9
bưu cục huyện, thị và 41 bưu cục khu vực 100% các xã có điện thoại cố định và
97,9% xã trong tỉnh có điểm bưu điện văn hóa xã [20] Nhìn chung các điểm bưu
điện xã đều đáp ứng tốt nhu cầu thông tin liên lạc, phát hành báo chí ở địa phương
trừ một số xã miền núi Mạng lưới bưu chính viễn thông đã phủ kín toàn tỉnh với tổng đài dung lượng 30.000 số Các dịch vụ viễn thông hiện đại như nhắn tin, Internet, điện thoại di động đã được đưa vào sử dụng rộng rãi
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn năm 2006
So sánh với khu vực và cả nước (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Đông Bắc
Cả nước
Số xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã
Số xã có đường liên thôn đã được nhựa, bê tông trên 50%
Số xã có công trình nước sinh
Số xã có hệ thống thoát nước thải chung
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, năm 2006
- Hệ thống ngân hàng và dịch vụ tài chính đã có những bước tiến rõ rệt trong những năm gần đây Hệ thống ngân hàng hoạt động tốt, đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Hiện nay có 02 hệ thống ngân hàng có mạng lưới rộng khắp vùng nông thôn là Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và Ngân hàng Chính sách - Xã hội đã mở các điểm giao dịch đến tận hầu hết các xã trong tỉnh nhằm tạo điều kiện cho người
Trang 31dân có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn vay đầu tư sản xuất, kịp thời đáp ứng nhu cầu
vốn ngày càng tăng của nhân dân và các thành phần kinh tế khác
* Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu về lĩnh vực nông nghiệp:
- GDP của ngành nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng ổn định bình quân 4,6%
năm, tuy nhiên cơ cấu của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế toàn tỉnh đã giảm
đáng kể (năm 2001 - 31,44%, 2005 - 26,54%) Nếu xem xét năng suất lao động
nông nghiệp theo giá cố định thì mức tăng không đáng kể mặc dù vốn đầu tư cho
ngành nông nghiệp luôn đạt mức cao và tiếp tục được tỉnh quan tâm đầu tư xây
dựng, cải tạo nâng cấp các công trình hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Năng suất lao động
nông nghiệp đồng/năm Triệu 2,62 3,07 3,12 3,82 4,26
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2006
- Hiện nay nông nghiệp vẫn là một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Ngành
này đang từng bước tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa Các sản phẩm nông nghiệp
chủ yếu của tỉnh là lúa, chè, lạc, đậu tương, gia súc, gia cầm, hoa quả tươi Giá trị
sản xuất toàn ngành nông nghiệp năm 2005 đạt trên 2.645 tỷ đồng Một số vùng sản
xuất hàng hóa tập trung hướng vào các loại cây, con có sản lượng và giá trị kinh tế
cao đã được hình thành như vùng chè, lợn, gà, bò và rừng nguyên liệu Sản lượng
lương thực có hạt bình quân đầu người trong toàn tỉnh liên tục tăng qua các năm,
năm 2005 đạt 340kg Phân ngành trồng trọt và chăn nuôi vẫn chiếm tỷ trọng lớn
nhất (92,9% tổng GTSX nông lâm thủy sản năm 2005), tỷ trọng phân ngành thuỷ sản có cải thiện chút ít qua các năm nhưng vẫn rất nhỏ (năm 2005 chiếm 2,1%), phân ngành lâm nghiệp chiếm 2,3% và dịch vụ nông - lâm nghiệp - thuỷ sản chiếm 2,7% Cơ cấu sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi được chuyển dịch phù hợp với nhu cầu thị trường Cụ thể một số lĩnh vực như sau:
+ Diện tích trồng lúa trong tỉnh giảm nhanh, năm 2005 tổng diện tích lúa cả năm của tỉnh còn 70.066ha nhưng do năng suất lúa tăng lên qua các năm nên sản lượng lúa liên tục tăng, đáp ứng mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời hình thành và phát triển được vùng lúa đặc sản hàng hóa Năm 2005, sản lượng lúa trong toàn tỉnh đạt trên 322 nghìn tấn
+ Diện tích trồng ngô tăng nhanh từ 10.716ha năm 2000 lên 15.934 ha năm
2005 trong khi diện tích trồng khoai liên tục giảm kể từ năm 2001 Diện tích trồng sắn đang có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây và đạt 3.936ha năm 2005 Tỉnh cũng đã đã có quyết định phê duyệt phương án phát triển vùng nguyên liệu sắn của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 với nội dung là ổn định diện tích vùng nguyên liệu ở mức 4.000 - 4.200ha, sản lượng sắn đạt 100.000 tấn củ/năm trong đó 90% được chế biến công nghiệp
+ Tổng diện tích trồng rau, đậu trong toàn tỉnh tăng nhanh từ năm 2001 đến năm 2005 tăng gần 7.100ha
+ Sản xuất chè ngày càng phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, mở rộng diện tích chè thương phẩm Diện tích trồng chè của tỉnh liên tục tăng lên qua các năm nhờ chuyển đổi đất vườn tạp kém hiệu quả sang trồng chè Năm 2005 đạt 16.446ha với sản lượng chè đạt trên 93,7 nghìn tấn, trong đó có 14.133ha chè kinh doanh với năng suất trên 60 - 65 tạ/ha Ngoài cây chè, một số cây công nghiệp khác cũng được trồng nhiều trong tỉnh, cây lạc được trồng với diện tích trên 4.300ha, đậu tương gần 3.600ha + Diện tích cây ăn quả tăng nhanh từ năm 2000 đến nay, năm 2005 đạt 12.444ha, trong đó diện tích cây vải nhãn đạt gần 9.000ha Diện tích trồng mới cây
ăn quả đã được các địa phương thực hiện vượt xa so với mục tiêu trồng mới 1.000ha cây ăn quả mỗi năm trong kế hoạch hàng năm
Trang 32+ Ngành chăn nuôi tăng trưởng nhanh, giá trị tổng sản phẩm tăng bình quân
3,8% giai đoạn 2001 - 2005 và cũng đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng
hóa Tuy nhiên, tỷ trọng ngành chăn nuôi trong GDP nông nghiệp còn thấp
- Ngành thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong giá trị nông - lâm - thuỷ
sản của tỉnh Sản xuất thủy sản Thái Nguyên chủ yếu là hoạt động nuôi trồng sản
xuất các loại cá thương phẩm
- Các dịch vụ cung cấp giống cây trồng, tưới tiêu, làm đất, sơ chế sản phẩm,
cung ứng giống cây lâm nghiệp, cung ứng thức ăn gia súc, sửa chữa gia công cơ khí
(công cụ tuốt lúa, sao chè ) đã bước đầu phát triển Hệ thống dịch vụ kỹ thuật nông
- lâm nghiệp - thủy sản của tỉnh hiện có 7 nông lâm trường, 6 công ty, 6 cơ quan sự
nghiệp khoa học, 11 trạm trại sản xuất giống cây trồng vật nuôi, 104 hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp, 150 tổ hợp tác thủy lợi, các tổ dịch vụ làm đất cơ giới hóa và các
cửa hàng đại lý bán vật tư nông nghiệp Tuy nhiên, nhìn chung các dịch vụ nông,
lâm, thủy sản của tỉnh chưa đa dạng và chưa đáp ứng đủ nhu cầu của ngành, nhất là
ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa của tỉnh
* Phân bố các thành phần kinh tế trong khu vực nông thôn:
Số doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn rất ít và phân bố không đều Các
doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn chủ yếu kinh doanh các lĩnh vực khai thác
khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng và một số nông, lâm trường nằm rải rác tại
các huyện trong tỉnh Doanh nghiệp dân doanh chiếm chưa đến 5% so với tổng số
doanh nghiệp của cả tỉnh Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện còn quá ít
đầu tư vào khu vực nông thôn Hiện nay khu vực nông thôn có khoảng 588 trang
trại, trong đó nhiều nhất là trang trại chăn nuôi chiếm 62,6%, vốn SXKD bình quân
là 148,2 triệu đồng Số lao động làm việc bình quân là 3,1 người Toàn tỉnh hiện có
83 HTX nông nghiệp, bình quân một HTX sử dụng 33 lao động
2.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN
2.2.1 Thực trạng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
2.2.1.1 Số lượng nguồn nhân lực
Số lượng nguồn nhân lực là một chỉ tiêu phản ánh nguồn lao động, được xác định trong một giới hạn không gian và thời gian nhất định Để tìm hiểu về số lượng nguồn nhân lực cần xem xét chỉ tiêu phản ánh đặc trưng của nguồn lao động như lao động bình quân/hộ, tổng lao động/số nhân khẩu
Bảng 2.8 Đặc điểm và quy mô lao động theo khu vực điều tra
Đvt: Người
Theo khu vực
Vùng cao
Trung
du
Vùng thấp
(1,18)
4,8 (1,32)
4,3 (1,09)
4,36 (1,07)
6 Quy mô lao động bình quân
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc là độ lệch chuẩn tại α = 0,1
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
- Từ kết quả tổng hợp tại bảng 2.8 cho thấy quy mô nhân khẩu bình quân và quy mô lao động của hộ có xu hướng tăng dần từ vùng thấp đến vùng cao Có 2 lý
Trang 33+ Thứ hai, vùng thấp có điều kiện kinh tế phát triển hơn vùng cao nếu số
người đến độ tuổi lao động nhưng chưa tham gia làm việc tương đối lớn Họ tiếp
tục được gia đình cho đi học văn hóa, học chuyên môn kỹ thuật nên lực lượng lao
động tại các hộ vùng trung du và vùng thấp ít hơn ở vùng cao
+ Thứ ba là ở vùng thấp số người đến tuổi trưởng thành có cơ hội và điều
kiện thoát ly tách khỏi hộ gia đình dẫn đến sự dịch chuyển nhân khẩu và lao động
- Cơ cấu lao động chia theo nhóm tuổi:
+ Dưới 16 tuổi: 2,67%
+ Từ 16 tuổi đến dưới 40 tuổi: 54,72%
+ Từ 40 tuổi đến dưới 60 tuổi: 38,93%
+ Trên 60 tuổi: 3,68%
Lao động nông thôn trẻ tuổi chiếm đa số, đây là nguồn lực quan trọng đóng
góp vào sự phát triển của khu vực và của cả tỉnh trong tương lai
- Hệ số lao động/nhân khẩu bình quân:
+ Hệ số này cho biết số người làm việc trong hộ và số người sinh sống tại hộ
nhưng không tham gia lao động sản xuất Kết quả tổng hợp hệ số chung các khu
vực là 0,6
+ Chỉ tiêu này có tích chất 2 mặt, một là nếu hệ số lớn chứng tỏ số người
tham gia lao động lớn, khả năng khai thác sử dụng lao động xét về mặt số lượng là
tốt Vì vậy khi xem xét chỉ tiêu này phải căn cứ vào quan sát trực quan và đặc điểm
của từng hộ theo các vùng khác nhau để loại trừ yếu tố ảnh hưởng như đặc điểm
nhóm tuổi, giới tính Nếu so sánh tương quan giữa người lao động với số nhân khẩu
không làm việc thì cứ 1 lao động làm việc phải nuôi thêm 0,6 người ăn theo
+ Tỷ lệ này đang có xu hướng giảm dần từ vùng cao xuống khu vực thấp hơn
Như vậy mối quan hệ giữa lao động và nhân khẩu có tác động rất lớn đến thu nhập
chung của hộ và mức thu nhập bình quân theo đầu người
2.2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực
* Trình độ văn hóa của lực lượng lao động
Số lao động chưa biết chữ chiếm 1,43%, số lao động đã tốt nghiệp trung học phổ thông là 28,68% Từ kết quả điều tra cho thấy rằng trình độ văn hóa nhìn chung
ở vùng nông thôn vẫn còn rất thấp, số người chưa tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm đến 71,84%/tổng số lao động tại các hộ (bảng 2.9)
Có sự khác biệt lớn về trình độ văn hóa giữa các vùng, lao động chưa tốt nghiệp các cấp ở vùng cao luôn thấp hơn nhiều so với lao động vùng trung du và vùng thấp Cá biệt có những gia đình ở vùng cao không có thành viên nào đã tốt nghiệp tiểu học Chính từ sự khác biệt về trình độ văn hóa giữa các khu vực sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng lao động và sự phân hóa mức sống, khoảng cách thu nhập chênh lệch ngày càng lớn
Bảng 2.9 Cơ cấu trình độ văn hóa của những người đang làm việc
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Số lao động trẻ hiện nay ở nông thôn chủ yếu bỏ học ở những lớp cuối cấp trung học cơ sở Đáng chú ý là một số học sinh tốt nghiệp nhưng cũng không tiếp tục theo học do kinh tế gia đình khó khăn, các trường trung học phổ thông thường khá xa nhà Ngoài ra do nhận thức của người dân chưa quan tâm đến vấn đề học tập của trẻ Một số gia đình chưa khuyến khích con em phấn đấu học tập, chưa thấy hết lợi ích lâu dài của việc học tập sẽ quyết định đến tương lai của trẻ
Trang 34Lao động nông thôn nhất là với khu vực vùng cao, với trình độ học vấn thấp
như hiện nay sẽ khó có thể ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và
đời sống Hàng năm Nhà nước dành nhiều khoản kinh phí để tổ chức các lớp đào
tạo, bồi dưỡng kiến thức về khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao kỹ thuật nông
nghiệp, tổ chức các khóa đào tạo dạy nghề ngắn hạn cho nông dân Để tiếp thu kiến
thức giảng dạy thì người dân phải có kiến thức cơ bản để hiểu và ứng dụng được
trong sản xuất Có như vậy thì các chương trình dự án đào tạo mời đạt được mục
tiêu nâng cao năng lực, kiến thức cho người dân và phát huy được hiệu quả đào tạo
trong thực tiễn
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Theo điều tra, số lao động đã được đào tạo chiếm tỷ lệ 16,39% so với lực
lượng lao động Trong số lao động được đào tạo, trình độ trung cấp chiếm đến 70%,
công nhân kỹ thuật chỉ chiếm có 10% Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở khu vực vùng
cao rất thấp và chỉ đạt 9,04%, trong đó số người có trình độ đại học là dưới 1%
Bảng 2.10 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động
Đvt: % Theo
đào tạo
động đang làm việc phù hợp với đào tạo
Công nhân kỹ thuật
Trung cấp
Cao đẳng
Đại học trở nên
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Trong số lao động được đào tạo trả lời phỏng vấn, chỉ có 25% cho rằng công
việc họ đang làm phù hợp với ngành nghề đào tạo Những người được làm đúng
chuyên ngành đào tạo được bố trí làm việc tại các cơ quan nhà nước như giáo viên,
công chức viên chức Thực trạng lao động làm việc trái ngành, trái nghề không chỉ
diễn ra ở khu vực thành thị mà đang là vấn đề bất cập ở cả trong khu vực nông thôn
Có sự khác biệt tương đối lớn về trình độ được đào tạo của lao động giữa các khu vực Khu vực vùng cao, số lao động được đào tạo chỉ đạt 9,04% trong tổng số lao động, khu vực trung du 15,85% và khu vực vùng thấp 24,68% Có một xu hướng dễ nhận thấy là lao động qua đào tạo và lao động được đào tạo các ngành bậc cao giảm dần từ vùng cao xuống vùng thấp (bảng 2.10) Xuất phát từ trình độ văn hóa của vùng cao thấp hơn vùng trung du và vùng thấp nên số người có điều kiện tiếp tục theo học chuyên môn kỹ thuật rất ít Đồng thời như phân tích về nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa trình độ văn hóa giữa các khu vực, điều kiện kinh tế của
hộ gia đình quyết định đến vấn đề đầu tư nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật Nếu gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, họ sẽ phải tính toán làm sao để giải quyết những nhu cầu vật chất trước mắt, cần thiết hơn việc đầu tư cho con cái học hành Xét về mặt địa lý và điều kiện cơ sở hạ tầng thì lao động ở vùng trung du, vùng thấp có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin về giáo dục đào tạo Họ cũng có nhiều
cơ hội để lựa chọn ngành nghề đào tạo, đây làm một nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về trình độ giữa các vùng
Chất lượng lao động nông thôn thấp và thiếu lao động kỹ thuật, số có kỹ thuật lại chưa được sử dụng đúng chuyên ngành đào tạo, vì vậy họ sẽ không thể phát huy khả năng, kiến thức chuyên môn đã được đào tạo Thực trạng lao động có kỹ thuật vừa thiếu, vừa không đúng chuyên ngành ngoài nguyên nhân đầu tư cho giáo dục đào tạo thấp thì nguyên nhân do một số lao động sau khi đào tạo xong, họ đã tìm kiếm việc làm ở thành thị và sẽ không quay lại làm việc ở khu vực nông thôn nữa Mặt khác thực tế hiện nay việc làm ở khu vực nông thôn chưa đa dạng, thiếu các cơ quan, doanh nghiệp có vị trí làm việc thích hợp để thu hút lao động có trình độ chuyên môn đến làm việc
Trong một vài năm tới, với thực trạng chất lượng lao động thấp như hiện nay, các hộ khó có thể áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, thiếu kiến thức tổ chức phát triển kinh tế hộ gia đình Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần phải đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho lao động ở khu vực nông thôn Như vậy trình
độ kỹ thuật của người lao động vừa là động lực để phát triển kinh tế hộ một cách bền vững, vừa là mục tiêu phấn đấu của hộ gia đình