1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng

100 651 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến sự bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên các loại cây trồng .... Tác động đến kinh tế, xã hội của các biện pháp giảm thiểu ảnh

Trang 2

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 6

II MỤC TIÊU PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ 8

III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH 8

3.1 Nội dung phân tích 8

3.2 Phương pháp phân tích 10

3.2.1.Ph ương án tiếp cận 10

3.2.2 Ph ương pháp và công cụ phân tích 11

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH 11

4.1 Tình hình sâu bệnh hại cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam trong 25 năm qua (1976-2011) 11

4.1.1 Tác h ại của sâu hại lúa 12

4.1.2 Tác h ại của các loại bệnh hại lúa 14

4.1.3 Các loài sâu b ệnh hại cây công nghiệp 18

4.1.4 Các loài sâu b ệnh hại cây ăn quả 20

4.1.5 Các loài sâu b ệnh hại cây rau 22

4.1.6 Các biện pháp quản lý và phòng trừ sâu bệnh đã và đang áp dụng phổ bi ến tại Việt Nam 23

4.2 Tình hình nghiên cứu về tác động của BĐKH đến phát sinh sâu bệnh hại cây trồng trên thế giới và việt nam 27

4.2.1 Tác động của BĐKH đến sự phát sinh sâu bệnh hại cây trồng trên thế gi ới 27

4.2.1.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa bệnh hại cây trồng và môi trường trên thế giới 28

4.2.1.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sâu hại và môi trường 30

4.2.2 Tác động của BĐKH đến sâu bệnh hại một số cây trồng chính ở Việt Nam 32

4.2.2.1 Ảnh hưởng đến sâu bệnh chính trên cây lúa. 34

4.2.2.2 Ảnh hưởng đến sâu bệnh chính cây rau họ thập tự 37

4.2.2.3 Ảnh hưởng đến sâu bệnh hại các loại cây ăn quả 38

4.3 Khả năng tác động của BĐKH tới các loài sâu bệnh hại cây trồng ở việt nam, theo kịch bản BĐKH khác nhau đến năm 2050 44

4.3.1 Xu h ướng BĐKH toàn cầu 44

Trang 3

4.3.3 Tác động tiềm tàng của BĐKH 48

4.3.4 C ơ sở lý luận của những dự báo về tác động của BĐKH đối với sự bùng phát sâu b ệnh hại cây trồng ở Việt Nam 52

4.3.5 D ự báo khả năng tác động của BĐKH đối với sự bùng phát sâu bệnh h ại cây trồng ở Việt Nam 59

4.3.6 Ph ạm vi và khả năng tác động đến sâu bệnh hại cây trồng theo 3 kịch b ản (thấp, trung bình và cao) đến năm 2050 60

V ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ 61

5.1 Đề xuất biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến sự bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên các loại cây trồng 61

5.2 Tác động đến kinh tế, xã hội của các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên cây trồng 62

5.3 Khả năng áp dụng, nhân rộng các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên cây trồng 63

5.4 Chính sách thích ứng với BĐKH của ngành BVTV 63

5.5 Chính sách về BVTV 64

5.6 Chính sách đào tạo nâng cao năng lực 64

5.7 Chính sách về hợp tác quốc tế 64

5.8 Những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai những chính sách nhằm đối phó với BĐKH trong lĩnh vực BVTV 65

VI KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

6.1 Kết luận 65

6.2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

I Tài liệu trong nước: 67

II Tài liệu nước ngoài: 68

Trang 4

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc

Trang 6

I MỞ ĐẦU

Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện đang là thách thức lớn nhất đối với nhân loại vì đã có tác động ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường sinh thái trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Theo tài liệu

UN Framework Convention on Climate Change (UNFCCC), Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia trên thế giới đã và đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu bởi làm tăng mối nguy hại hiện có

về mặt môi trường và cản trở việc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của đất nước (Bộ TN&MT, 2008) Những tác động của BĐKH có thể gây ảnh hưởng trong nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội trên phạm vi cả nước, song sản xuất nông nghiệp phải chịu thiệt hại nhiều nhất và những tác hại đó có xu hướng làm giảm sự thành công trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đe dọa sự gắn kết xã hội mà Việt Nam đã đạt được trong suốt những thập kỷ qua

Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) định nghĩa BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc hơn BĐKH có thể là

do các quá trình tự nhiên hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển, làm thay đổi cán cân năng lượng của trái đất do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm thực vật che phủ

và lượng bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất

Kịch bản BĐKH là những giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế-xã hội, phát triển công nghiệp với việc sản sinh ra lượng phát thải khí nhà kính (KNK), làm tăng nhiệt độ không khí của trái đất dẫn đến hiện tượng băng tan và làm mực nước biển dâng cao Kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão…Nước biển dâng cao tại một vị trí có

Trang 7

thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt

độ của đại dương và các yếu tố khác

Hiện nay, chúng ta đang phải sống trong một thế giới có nhiều sự biến đổi lớn về khí hậu như nhiệt độ không khí của trái đất đang nóng dần lên làm cho mực nước biển đang dâng lên, có nhiều thay đổi về đa dạng sinh học như sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các sinh cảnh đang bị thu hẹp lại và phân cách nhau và đồng thời dân số tăng nhanh ở nhiều quốc gia, sức ép của công nghiệp hóa và toàn cầu hóa ngày càng lớn, trao đổi thông tin giữa các lĩnh vực ngày càng được mở rộng Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng lớn đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế giới, trong đó có việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường và gây ra những thay đổi lớn trong sự sinh trưởng, phát triển của các loài động thực vật trong tự nhiên

BĐKH được dự báo là sẽ tiếp tục diễn ra hết sức phức tạp và tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực, vùng và các quốc gia Việt Nam được coi là một trong các quốc gia sẽ bị tác động mạnh do BĐKH Để phát triển bền vững trong nông, lâm nghiệp và phát triển nông thôn, vấn đề đặt ra là cần có các phân tích, hiểu biết về BĐKH và những ảnh hưởng của nó tới dân sinh, kinh tế và xã hội; phải xem tác động của BĐKH toàn cầu là một nhân tố cấu thành trong xây dựng chiến lược phát triển, chính sách và các giải pháp nhằm giảm thiểu và thích ứng với các tác động tiêu cực do BĐKH gây ra

Ngành Bảo vệ thực vật (BVTV) có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển nông nghiệp và phát triển bền vững nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng Vì vậy báo cáo này tập trung phân tích tác động của BĐKH đối với sự bùng phát các loại sâu bệnh hại đối với một số cây trồng chính làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam để từ đó có các đề xuất về những chính sách phù hợp và các giải pháp thích ứng với sự BĐKH sẽ xảy ra trong tương lai

Báo cáo phân tích bao gồm các phần chính sau đây:

 Tổng quan tình hình sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam;

 Thực trạng và xu hướng BĐKH;

Trang 8

 Phân tích tác động của BĐKH đến phát sinh sâu hại cây trồng dựa trên các kịch bản BĐKH;

 Đề xuất các giải pháp thích ứng và chính sách phù hợp đối với ngành BVTV trong bối cảnh BĐKH;

 Kiến nghị các hoạt động ưu tiên của ngành BVTV nhằm giảm thiểu

và thích ứng với tác động của BĐKH;

 Kết luận và kiến nghị

II MỤC TIÊU PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ

Mục tiêu của báo cáo phân tích này nhằm:

- Đánh giá khả năng tác động của BĐKH đến sự bùng phát của sâu bệnh hại cây trồng và sự lây lan của chúng trên các cây trồng chính ở các vùng sinh thái nông nghiệp quan trọng của Việt Nam

- Kiến nghị một số chính sách thích hợp và đề xuất các biện pháp phù hợp, khả thi để hạn chế khả năng gây hại của sâu bệnh hại cây trồng và bảo vệ sản xuất nông nghiệp dưới tác động do BĐKH gây ra

III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH

3.1 Nội dung phân tích

• Thu thập, tổng hợp các tài liệu và thông tin liên quan

* Dữ liệu liên quan đến khí hậu

- Dữ liệu lịch sử về điều kiện khí hậu cho 7 vùng sinh thái nông nghiệp trong giai đoạn 1975 – 2010 (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, mực nước biển, bão, áp thấp nhiệt đới, ngập lụt, v.v )

- Kịch bản BĐKH (nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng theo từng vùng sinh thái) cho giai đoạn 2010 – 2050

* Dữ liệu và thông tin liên quan đến sản xuất nông nghiệp và sâu bệnh hại cây trồng trong 25 năm qua

- Diện tích, năng suất, sản xuất của các loại cây trồng thuộc các vùng khác nhau

- Thành phần sâu bệnh hại trên các đối tượng cây trồng trong cả nước

Trang 9

- Các chính sách, cơ chế có liên quan và các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan;

• Tổng quan các tài liệu khoa học về tác động của BĐKH đến phát sinh sâu bệnh hại cây trồng trên thế giới và Việt Nam

- Tác động của BĐKH đến phát sinh sâu bệnh hại cây trồng trên thế giới

- Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau ở các vùng sinh thái nông nghiệp của

- Dự báo phạm vi, khả năng tác động của BĐKH theo 3 kịch bản (thấp, trung bình và cao) đến năm 2050 đến:

- Phân tích, đánh giá sự khác biệt về tác động BĐKH với các sâu bệnh hại cây trồng ở các vùng sinh thái nông nghiệp và theo các kịch bản BĐKH khác nhau

• Đề xuất các chính sách phù hợp giảm thiểu tác động của BĐKH trong BVTV:

- Đề xuất các chính sách phù hợp nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp, bao gồm:

Trang 10

- Những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai những chính sách giảm thiểu tác động biến đối khó hậu trong vực BVTV

• Đề xuất và áp dụng các biện pháp thích ứng để giảm thiểu các tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng tại Việt Nam:

- Các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên cây lương thực, cây Công nghiệp, cây ăn quả và trên cây rau

- Đánh giá tác động đến kinh tế, xã hội của các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên cây trồng

- Đánh giá khả năng áp dụng, nhân rộng các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên cây trồng

- Đề xuất các dự án triển khai nhằm thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực BVTV

• Tổ chức hội thảo tham vấn về các phương án giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh trên cây trồng

- Hội thảo đánh giá kết quả nghiên cứu dự án

- Hội thảo lựa chọn các phương án giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh cho cây trồng

3.2 Phương pháp phân tích

3.2.1.Ph ương án tiếp cận

- Tiếp cận có tính kế thừa các nghiên cứu có liên quan: Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan trước đây, tổng quan và đúc kết kinh nghiệm cho nghiên cứu này để tránh lãng phí và tiêt kiệm thời gian

- Tiếp cận theo phương pháp có sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia sẽ tham gia trong các nhóm thảo luận trong các hoạt động nghiên cứu Ưu tiên làm việc theo nhóm trong quá trình thực hiện nghiên cứu Cán bộ địa phương và nông dân có kinh nghiệm, nông dân chủ chốt và

Trang 11

các đối tác được khuyến khích tham gia trong các hoạt động hiện trường tại các địa phương

- Tiếp cận mang tính hệ thống: Các hoạt động nghiên cứu sẽ được tiếp cận mang tính hệ thống theo nguyên tắc nhân quả Các kết luận đưa ra trong qua trình nghiên cứu sẽ dựa vào kết quả phân tích biện chứng Các chính sách đề xuất dựa vào kết quả phân tích của nhiệm vụ, các chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn và có tính thực tiễn

- Tiếp cận theo vùng sinh thái: Phân tích, đánh giá và lựa chọn các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến bùng phát và mức độ gây hại của sâu bệnh hại cây trồng được tiếp cận theo vùng sinh thái, nhằm đảm bảo các đề xuất đưa ra mang tính thực tiễn, hiệu quả thực sự và bền vững

3.2.2 Phương pháp và công cụ phân tích

- Đối với phần tổng quan, tiến hành xác định các nhóm vấn đề và liệt kê danh mục để tiến hành thu thập nguồn tài liệu Thực hiện phân tích và đánh giá theo các tiêu chí và nội dung có liên quan trực tiếp đến mục tiêu phân tích đã để ra

- Phương pháp có sự tham gia sẽ được áp dụng để thu thập các thông tin liên quan đến kinh nghiệm, quan điểm và những đề xuất của chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan Làm việc theo nhóm và có sự tham gia và đóng góp

ý kiến của các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực trong triển khai các hoạt động của nghiên cứu phân tích

- Phân tích và xử lý thông tin bằng phần mềm thống kê IRRISTAT

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH

4.1 Tình hình sâu bệnh hại cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam trong 25 năm qua (1976-2011)

Theo kết quả điều tra của Viện BVTV năm 1967 –1968 và 1977-1978 có đến 88 loài sâu, 39 loại bệnh gây hại trên cây lúa ở miền Bắc và 86 loài sâu, 33 loại bệnh gây hại trên lúa ở miền Nam Từ đó đến nay cũng đã có thêm nhiều kết quả nghiên cứu và thông báo bổ sung Kết quả điều tra năm 2006-2010 ghi nhận có 72 loài sâu hại, 35 loài bệnh hại trên lúa, ít hơn so với kết quả trong

Trang 12

những lần điều tra trước Số lượng các loài ít đi so với trước đây do một số nguyên nhân như thay đổi mùa vụ, cơ cấu giống, mức độ thâm canh và các giải pháp BVTV trong phòng chống dịch hại Tuy nhiên trong đó có nguyên nhân

do sự BĐKH có thể đã làm thay đổi thành phần các loài sâu bệnh hại trên cây trồng trong thời gian qua

4.1.1 Tác h ại của sâu hại lúa

Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam chịu tác động của các loài dịch hại Theo ước tính, hàng năm sâu và bệnh làm giảm sút khoảng 20% năng suất, không kể những mất mát trong kho do sâu mọt và nấm bệnh gây ra sau thu hoạch Côn trùng gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây lúa, từ khi gieo hạt cho tới lúc lúa chín Chúng phá hại trên tất cả các bộ phận của cây Tác hại của côn trùng không những ảnh hưởng tới năng suất và còn làm giảm chất lượng thóc gạo thương phẩm Một số loài côn trùng phá hại, mở đường cho vi sinh vật gây bệnh và quan trọng hơn, nhiều loài côn trùng còn là môi giới truyền các bệnh nguy hiểm cho cây lúa như bệnh vàng lụi (do rầy xanh đuôi đen truyền bệnh), bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá do rầy nâu là môi giới truyền bệnh

Tài liệu của Cục BVTV và Viện BVTV đã ghi nhận các đợt dịch sâu hại lúa ở các địa phương trong thời gian qua như sau:

* Sâu đục thân

Sâu đục thân bướm hai chấm là loài đục thân phổ biến và quan trọng nhất

ở Việt Nam Chúng phân bố rộng rãi ở khắp các vùng trồng lúa trong cả nước,

từ đồng bằng, ven biến đến các vùng trung du và miền núi Chúng phá hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch, gây hiện tượng nõn héo, bông bạc Những năm sâu phát sinh nhiều, tỷ lệ bông bạc trên một số trà lúa có thể lên tới 20-30%, đôi khi lên tới 90% và thậm chí là mất trắng Ở Gia Lâm (Hà Nội) vụ mùa 1987 và 1988 nhiều ruộng lúa cấy giống Mộc tuyền và nếp bị hại rất nặng, tỷ lệ bông bạc trên Mộc tuyền từ 20-30%, trên nếp lên tới 70-80% Năm 1996 diện tích lúa bị hại do sâu đục thân trên cả nước

là 742.000 ha, trong đó có 167.000 ha bị hại nặng; năm 1997, các số liệu tương ứng là 657.000 và 75.000 ha Các số liệu tổng kết trong những năm 2006-2010

Trang 13

cũng cho thấy thiệt hại của sâu đục thân là rất lớn, nhìn chung năm sau cao hơn năm trước, dao động từ vài trăm ngàn ha

Các loài sâu đục thân lúa khác như loài sâu đục thân lúa 5 vạch đầu nâu, 5 vạch đầu đen, sâu bướm cú mèo thường ít phổ biến hơn và không gây tác hại đáng kể trong các năm gần đây

* Sâu cuốn lá nhỏ

Sâu cuốn lá nhỏ trước đây chỉ được coi là gây hại thứ yếu trên cây lúa, về sau này, cùng với việc gieo trồng những giống lúa cải tiến, sử dụng nhiều phân đạm và thuốc hóa học, sâu cuốn lá nhỏ đã trở thành một trong những sâu hại lúa quan trọng ở Việt Nam Sâu phá hại trên hầu hết các vùng trồng lúa trong cả nước Sâu phá hại làm lá lúa bị bạc trắng, làm giảm diện tích quang hợp của cây lúa, ảnh hưởng nhiều đến năng suất lúa Năm 1984, sâu cuốn lá phát sinh và phá hại trên diện tích hàng ngàn ha lúa ở đồng bằng và trung du Bắc bộ Sâu gây hại nặng trong giai đoạn lúa làm đòng gây tác hại làm bông lúa ngắn, tỷ lệ lép cao, sụt giảm năng suất Năm 2006 tổng diện tích lúa trên cả nước bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại khoảng 642.917 ha, trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 44.035ha Đến năm 2010, sâu cuốn lá nhỏ bùng phát và gây hại trên diện rộng Diện tích bị nhiễm sâu cuốn lá nhỏ trong cả nước là 1.189.434 ha, tăng 75% so với năm

2009, trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 545.831 ha, tăng gần gấp 2,21 lần so với năm 2009 Ở Miền Bắc mức độ gây hại cao hơn miền Nam với diện tích bị nhiễm là 1.041.873 ha, trong đó 543.802 ha bị nhiễm nặng Mật độ sâu tập trung cao ở giai đoạn cuối đẻ nhánh- làm đòng trong vụ hè thu và vụ mùa Tuy được tập trung phòng trừ tích cực, song diện tích mất trắng vẫn lên đến 207 ha

* Bọ rầy

Dịch rầy nâu được ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam vào những năm 1931-1932 tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long Theo thống kê của Cục BVTV, trong những năm 90 rầy nâu phát sinh thành dịch trên diện tích rộng ở các tỉnh miền Bắc, diện tích lúa bị phá hại mỗi năm trung bình khoảng hơn 400

ha Ở các tỉnh phía Nam, trong năm 1998, diện tích lúa bị hại do rầy nâu lên đến 150.000 ha trong đó 14.000 ha bị hại nặng Gần đây nhất, năm 2006 rầy nâu lại

Trang 14

phát sinh thành dịch trên 22 tỉnh thành phía Nam với tổng diện tích bị nhiễm rầy khoảng 605.593 ha (gồm rầy nâu và rầy lưng trắng) Theo thống kê của Cục BVTV, tình hình thiệt hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra năm sau cao hơn năm trước Rầy nâu không chỉ gây hại trực tiếp đối với cây lúa nó còn là môi giới truyền nhiều bệnh virus nguy hiểm như bệnh lúa cỏ, bệnh vàng lùn, bệnh vàng lùn xoắn lá

4.1.2 Tác h ại của các loại bệnh hại lúa

* Bệnh Bạc lá

Bệnh bạc lá được ghi nhận ở Việt Nam từ những năm 1950 và ít được chú

ý Vào những năm 1970, Bệnh bạc lá trở nên có ý nghĩa quan trọng tại các vùng trồng giống lúa NN5 và NN8 ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng Trong điều kiện đại trà, năng suất lúa bị bệnh đã bị giảm từ 30 đến 60% (Hà Minh Trung, 2002)

* Bệnh vi khuẩn sọc vàng

Bệnh này phát sinh vào năm 1988 ở tỉnh Tiền Giang và Long An Sau đó bệnh lan rộng ở hầu hết các tỉnh miền Tây Nam bộ và cực Nam Trung bộ Đỉnh cao của bệnh xảy ra vào năm 1994 với khoảng 270 ngàn ha lúa bị nhiễm bệnh (Hà Minh Trung, 2002)

* Bệnh lem lép hạt

Bệnh này đã được phát hiện từ lâu, nhưng mãi đến năm 1990 bệnh mới được quan tâm khi nhiều diện tích lúa mùa sớm ở phía Bắc, lúa đông xuân ở miền Trung và hè thu ở Đồng bằng Nam bộ xuất hiện hiện tượng hạt lúa bị biến màu và lép, vỏ hạt lúa bị biến đen cục bộ hay toàn thể Đến năm 1992 bệnh phát sinh nặng, vào giai đoạn lúa bắt đầu chín sữa Cả nước có tới trên 100 ngàn ha lúa bị bệnh, năng suất lúa giảm 20-50%, chất lượng gạo và hạt giống bị xuống cấp nghiêm trọng, (Hà Minh Trung, 2002)

* Bệnh đạo ôn

Bệnh này được phát hiện đầu tiên tại Hương Sơn- Hà Tĩnh vào năm 1922 (Roger L, 1954) Từ năm 1970 phạm vi gây hại của bệnh mở rộng từ Bắc đến

Trang 15

Nam, đặc biệt gây hại nặng tại một số tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và đồng bằng Sông Hồng (Hà Minh Trung, 2002) Trong những năm gần đây, bệnh gây hại trên lúa ở các tỉnh phía Nam nặng hơn ở các tỉnh phía Bắc Năm 2006 diện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn khoảng 196.947 ha, đạo ôn cổ bông là 24.455 ha, trong khi năm 2010, số liệu này tương ứng là 243.619 ha và 83.254 ha, (Cục BVTV, 2006-2010)

* Bệnh khô vằn

Bệnh này được ghi nhận tại Việt Nam trong những năm ba mươi Tuy nhiên, từ thập kỷ 70, bệnh trở nên có ý nghĩa quan trọng khi phong trào thâm canh tăng năng suất lúa phổ biến khắp cả nước Bệnh gây hại nặng cho lúa vụ hè thu, mùa sớm và đông xuân muộn khi nhiệt độ và ẩm độ không khí tăng cao Khi lúa bị nhiễm bệnh ở thời kỳ lúa đứng cái và trỗ bông, năng suất lúa có thể giảm tới 46-77% (Hà Minh Trung, 2002)

* Bệnh vàng lùn và vàng lùn xoắn lá

Trong 2 năm 1977- 1978, bệnh này gây hại trên 40.000 ha lúa thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Từ năm 2006 đến nay, bệnh vàng lùn và vàng lùn xoắn lá xuất hiện và gây hại ở 22 tỉnh thành thuộc đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ, với diện tích lúa bị bệnh ở vụ Hè- Thu 2006 và Đông Xuân 2006-2007 lên tới 237.466 ha

* Bệnh lùn sọc đen phương nam

Vụ lúa mùa năm 2009, ở các tỉnh phía Bắc xuất hiện hiện tượng lúa bị

“lùn lụi”, về sau gọi là “Vàng lùn, lùn xoắn lá” gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lúa gạo Triệu chứng gây hại được ghi nhận đầu tiên ở Nghệ An vào tháng

8 năm 2009 Đến cuối tháng 11 năm 2009 đã ghi nhận 19 tỉnh có lúa bị bệnhvới tổng diện tích lên tới hơn 40.000 ha, trong đó gần 20.000 ha lúa gần như bị mất trắng Đến năm 2010 bệnh phát sinh và gây hại tại 33 tỉnh từ Khánh Hòa trở ra Bệnh phát sinh, gây hại tập trung từ giai đoạn mạ- lúa đứng cái, gây thất thu hoàn toàn trên diện tích 2.276 ha lúa

Số liệu dưới đây sơ bộ cho thấy tình hình gây hại của các đối tượng chính trên lúa trong phạm vi cả nước, giai đoạn 2001-2010

Trang 16

Bảng 1: Diện tích bị nhiễm sâu bệnh và dịch hại khác

rầy lưng

trắng 15,979 12,317 16,928 4,280 363,347 263,129 257,009 174,603 Sâu đục thân 18,775 41,249 28,142 9,528 270,426 275,957 277,702 107,360 Chuột hại 13,484 5,993 3,709 2,123 233,380 168,470 152,111 99,128

ốc bươu vàng 974 252 545 408 123,418 91,544 196,945 292,751 Bệnh

rầy lưng

trắng 48.867 95.301 179.000 99.637 141.221 605.593 782.500 1.177.000 824.316 1.082.309 Sâu đục thân 12.271 15.500 22.000 27.974 - 164.625 135.500 230.000 232.034 114.869 Chuột hại - 3.257 3.580 2.600 6.515 35.776 45.392 57.000 67.200 117.560 Bệnh

Ngu ồn: Cục Bảo vệ thực vật

Trang 17

4.1.2 S ự thay đổi số lượng và mức độ gây hại của các loài sâu bệnh hại trên cây lúa ở Việt Nam

Hầu hết các loài sâu bệnh hại phổ biến trên lúa ở nước ta ghi nhận được trong đợt điều tra khoảng thời gian 2006-2010 đều là các loài sâu bệnh hại đã xuất hiện từ những lần điều tra trước Tuy nhiên, đã có một số điểm khác biệt so với các kết quả điều tra trước đây như sau:

- Theo kết quả điều tra trước đây đã được công bố, số lượng các loài sâu hại lúa có tới 133 loài (TLTK), tuy nhiên lần điều tra này chỉ ghi nhận được có

72 loài, chiếm 54,1% số loài đã công bố

- Một số loài sâu gây hại lúa trước đây như: Nymphula fluctuosalis, Holotrichia sinensis, Lema oryzae, Phloeothrips oryzae, Gryllotalpa orientalis được cho là phổ biến thì lần điều tra này lại không thấy xuất hiện

- Trong lần điều tra này lại xuất hiện một số loài mới như: Rhopalosiphum padi L., Sitobion miscanthi (Takahashi), Menida formosa (Wesrw.), Pygomenida varipennis (Westw.), Pygomenida bengalensis (Westw.), Rhadinosa fleutiauxi (Baly), Lema lewisii Baly, Pelopidas sinensis Mabil., Steneotarsonemus spinki Smiley, Aceria sp., Schizotetranychus oryzae Ros

de Sim

- Có một số loài trước đây được ghi nhận là phổ biến nay chỉ xuất hiện với tấn suất dưới 25% như các loài: cào cào lớn, cào cào nhỏ, bọ xít gai vai dài, rầy điện quang, sâu đục thân 5 vạch đầu đen, sâu đục thân 5 vạch đầu nâu

Mức độ tác hại về kinh tế của các loài sâu bệnh gây hại trên lúa cũng có sự thay đổi Một số loài trước đây được xếp vào hàng những sâu hại chủ yếu như: sâu cuốn lá lớn, sâu keo, sâu cắn gié, sâu gai v.v thì trong vài thập niên qua hầu như lại không gây hại đáng kể Chưa ghi nhận được những trận dịch hại lớn nào do những loài sâu trên gây hại trong thời gian gần đây Ngược lại một số đối tượng sâu hại như: rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, bọ trĩ, bệnh khô vằn trước đây là những loại dịch hại thứ yếu thì nay trở nên nguy hiểm, gây hại trên diện tích lớn

và phải dùng số lượng thuốc lớn để diệt trừ các loại sâu hại đó Dựa vào mức độ

Trang 18

gây hại quan trọng về kinh tế, có thể chia các loài sâu bệnh hại trên lúa thành những nhóm chính như sau:

* Về sâu hại

Nhóm 1: Bao gồm những sâu hại chủ yếu, hàng năm thường phát sinh trên

diện rộng, những năm có dịch thường gây tổn thất lớn đối với sản lượng lúa, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế Thuộc nhóm này có các loài như sâu đục thân bướm 2 chấm (Scirpophaga incertulas Walker), sâu cuốn lá nhỏ

(Cnaphalocrosis medinalis Guenne), rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal), bọ xít dài (Leptocorisa acuta Thunberg)

Nhóm 2: Gồm những sâu hại thứ yếu, chúng chỉ gây hại trên diện tích hẹp

ở một số địa phương, ít khi gây ra những thiệt hại lớn Những loài đó là: bọ

xít xanh (Nezara viridula Linnaeus), bọ xít đen (Scotinophora lurida Burmeister), sâu keo (Spodoptera mauritia Boisduval;)

Nhóm 3: Những loài còn lại, chúng thường ít gặp trên ruộng lúa, hoặc có

mặt thường xuyên nhưng với số lượng ít và thiệt hại do chúng gây ra là

không đáng chú ý Có thể kể đến các loài như sâu đo xanh (Naranga aenescens Moore), sâu bướm mắt rắn (Melanistis leda Linneaus), rầy trắng nhỏ (Erythroneura subrufa Motschulsky)

* Về bệnh hại

Nhóm 1: Những loại gây hại quan trọng trên lúa có thể kể đến như Bệnh

đạo ôn (Piricularia oryzae), Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani), bệnh bạc

lá (Xanthomonas oryzae) và Bệnh vi rút lúa vàng lùn (Rice grassy stunt

virus- RGSV), vi rút lúa lùn xoắn lá (Rice ragged stunt virus- RRSV)

Nhóm 2: Những loại bệnh gây hại thứ yếu gồm: Bệnh tiêm lửa

(Helmonthosporium oryzae), Bệnh đốm nâu (Cercospora oryzae), Bệnh bỏng lá (Rhynchosporium oryzae), Bệnh hoa cúc (Ustilaginoides virens),

và Bệnh mốc hồng (Fusarium sp.)

4.1.3 Các loài sâu b ệnh hại cây công nghiệp

Chè và cà phê là hai loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu đang được chú trọng phát triển ở nước ta hiện

Trang 19

nay Cây chè đã được phát triển ở 34 tỉnh, với khoảng 6 triệu lao động tham gia tại các tỉnh miền núi vùng trung du Bắc bộ, bắc Trung bộ và cao nguyên Nam Trung bộ là nơi có thế mạnh cho phát triển cây chè Theo số liệu thống kê năm

2008, diện tích trồng chè của cả nước là 131 nghìn ha và theo kế hoạch phát triển đến 2015 sẽ nâng diện tích này lên 150 nghìn ha Đối với cây cà phê, theo quy hoạch phát triển của ngành sản xuất cà phê nước ta đến năm 2020-2030, mục tiêu giữ là sẽ ổn định diện tích trồng 500.000 héc ta như hiện nay nhưng sẽ nâng dần kim ngạch xuất khẩu lên 2,4 tỉ đô la Mỹ hàng năm Một trong những khó khăn đối với sản xuất chè và cà phê của nước ta là năng suất không ổn định

và chất lượng sản phẩm thấp và không đồng đều Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng này là do ảnh hưởng của các loài sâu bệnh phá hại

* Sâu bệnh hại chè

Thành phần sâu bệnh hại chè ngày càng có nhiều thay đổi và phức tạp Điều tra trên cây chè giai đoạn 1967-1968 ở miền Bắc có 34 loài sâu và 25 loại bệnh hại trên chè Ở miền Nam, giai đoạn 1977-1978, trên chè đã ghi nhận có 41 loài sâu và 8 loại bệnh hại Kết quả điều tra trên phạm vi toàn quốc năm 2006-

2010 đã phát hiện được 30 loài sâu hại thuộc 7 bộ côn trùng và 1 bộ nhện hại Các loài sâu hại phổ biến trên chè gồm: Rầy xanh, ve sầu bướm, Rệp muội nâu đen, bọ xít muỗi, sâu đo và nhện đỏ

17 loại bệnh hại đã được ghi nhận trong đợt điều tra này, trong đó nấm chiếm 12 loài, vi khuẩn 1 loài còn lại 4 loài là do các thực vật ký sinh Các bệnh

phồng lá chè Exobasidium vexans thối búp chè Gloeosporium, khô cành Colletotrichum camelliae là các bệnh hại quan trọng cho tất cả các vùng trồng chè Trong tháng 3 năm 2009 tại vùng trồng chè Thanh Tịnh, Thanh Chương,

Nghệ An nấm Colletotrichum camelliae đã phát sinh gây hại rất nặng trên các

ruộng chè giống PH1 đặc biệt trên các nương chè vừa mới đốn tỉa Bệnh sùi

cành chè do vi khuẩn Bacillus gorlencorianum gây ra chỉ phát hiện được ở các

vườn già cỗi không được chăm sóc đốn tỉa ở Thái Nguyên

Nấm Marrasmius equicrinis gây bệnh tóc đen hại chè ở vùng Thái

Nguyên cũng đã phát hiện được ở vùng Thanh Chương, Nghệ An Các nấm

Trang 20

Septobasidium theae gây bệnh cao cành chè, Botrytis cinerea gây bệnh thối xám trên chè, Corticium salmicola gây bệnh mốc hồng lần đầu tiên phát hiện đựợc ở Sơn La và Lâm Đồng Đặc biệt nấm Septobasidium theae gây hại rất nặng trên

các giống chè Bát Tiên, Kim Tuyên nhập nội từ Đài Loan trồng tại Tân Lập, Mộc Châu, Sơn La Có nhiều vườn chè ở đây đã bị các lớp nấm bao phủ kín thân và cành làm cây chết khô

* Sâu bệnh hại cà phê

Trong đợt điều tra năm 1977-1978 tại các tỉnh phía Nam, đã thu thập được 12 loài sâu bênh hại trên cây cà phê Gần đây, kết quả điều tra trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2006-2010 đã ghi nhận được kết quả có 31 loài sâu hại thuộc 8 bộ côn trùng gây hại đối với cây cà phê Các loài sâu hại phổ biến đối với cây trồng này bao gồm: ve sầu, ve sầu bọt, rệp muội nâu, rệp sáp xanh, rệp sáp vẩy trắng và mối Loài sâu hại nghiêm trọng và phổ biến ở các vùng trồng cà phê là rệp sáp xanh Mối cũng là đối tượng gây hại nặng cho cà phê chè ở Nghệ

An, Thừa thiên Huế

Kết quả điều tra năm 2006-2010 cũng đã phát hiện được 15 loài bệnh hại

so với 6 loại bệnh phát hiện được ở các tỉnh phía Nam giai đoạn 1977-1978 Các

bệnh thán thư Colletotrichum coffeanum, rỉ sắt Hemileia vastatrix phát hiện

được ở hầu hết các vùng điều tra Nấm H vastatrix gây hại nặng hơn trên các

vuờn cà phê vối ở Tây Nguyên Nấm C coffeanum gây hại trên lá, cành và quả

nấm gây triệu chứng khô cành, khô quả cho tất cả các giống cà phê ở các vùng

khác nhau Bệnh mốc xám quả do nấm Cladosporium và muội đen Capnodium coffeae thường gặp ở các vườn cà phê râm rạp, ẩm ướt Các bệnh cao cành

Septobasidium và mốc hồng Corticium salmicola lần đầu tiên được phát hiện

gây hại trên cà phê ở Lâm Đồng

Tuyến trùng nốt sần Meloidogyne gây hiện tượng vàng lá trên cà phê khá

phổ biến tại vùng Đăk Nông, Đăk Lăk, Gia Lai Những cây cà phê bị tuyến trùng gây hại trên rễ thường còi cọc, kém phát triển hơn ở trên vườn

4.1.4 Các loài sâu b ệnh hại cây ăn quả

* Sâu bênh hại cây cam

Trang 21

Thành phần bệnh hại trên các cây ăn quả có múi không thay đổi nhiều so với các cuộc điều tra trước đây Kết quả điều tra trong thời gian từ năm 2006-

2010, đã thu thập được 59 loài sâu hại thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ Trong đó có 20 loài xuất hiện phổ biến, gồm: Ve sầu bướm, bọ phấn gai đen, bọ phấn, rệp muội xanh, rệp muội đen, rệp sáp hình lục lăng, rệp sáp bán cầu nâu, rệp sáp xanh, rệp sáp vẩy nhỏ, rệp sáp vẩy nâu hình nón, rệp sáp vẩy nâu dài, bọ xít xanh cam, câu cấu lớn, bọ gạo, bướm phượng chấm đỏ, sâu cuốn lá, sâu vẽ bùa, nhện đỏ, nhện rám vàng và ốc nhỏ Loại gây hại nặng nhất và xuất hiện ở mọi vùng trồng cam là 2 loại rệp muội và sâu vẽ bùa Trên 4 loại cây ăn quả có múi đã phát hiện được 65 loại bệnh hại (cam chanh 24 bệnh, bưởi 19, quýt 14, chanh 8 loài) Các ký sinh gây hại cho cây ăn quả có múi thuộc 20 loài vi sinh vật, 2 loài thực vật ký sinh và 1 bệnh do sinh lý và một loài rêu

Các loài nấm Phytophthora, Elsinoe fawcetti, Mycosphaerella citri, Penicillium italicum, Colletotrichum gloeosporioides, Septobasidium reinkingii

và các vi khuẩn Xanthomonas campestris pv.citri, Liberobacter asiaticum là các

vi sinh vật gây bệnh hại phổ biến trên các cây ăn quả có múi

* Sâu bệnh hại cây nhãn vải

Kết quả điều tra cơ bản năm 1967-1968 của Viện Bảo vệ thực vật đã ghi nhận được 18 loài sâu hại trên nhãn vải, trong đó có 14 loài được coi là gây hại quan trọng Trong đợt điều tra sâu bệnh hại cây ăn quả năm 1997-1998 ghi nhận 38 loài, trong đó 7 loài gây hại quan trọng 39 loài sâu hại thuộc 6 bộ côn trùng và 1

bộ nhện nhỏ, trong đó có 9 loài phổ biến, gồm: Rầy họ Psyllidae gây u lõm lá, rệp muội đuôi dài, 2 loài rệp sáp vẩy trắng nhỏ, bọ xít nhãn, bọ trĩ, sâu cuộn lá,

bọ gạo, nhện chổi rồng trên cây nhãn được ghi nhận trong đợt điều tra

2006-2010 của Viện Bảo vệ thực vật

Đã phát hiện được 10 bệnh gây hại trên nhãn trong đợt điều tra năm

2006-2010, trong đó có 4 loại bệnh chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh Bệnh

sương mai do nấm Phytophthora sp gây hại nặng cho nhãn tại vùng Hưng Yên

trong những năm 90 của thế kỷ trước không được phát hiện trong đợt điều tra này Bệnh chổi rồng gây hại nặng cho các vườn nhãn ở miền Đông và miền Tây

Trang 22

Nam Bộ Trong tháng 8 năm 2009 tại xã Xuyên Mộc huyện Xuyên Mộc có vườn nhãn có tới 700 cây bị bệnh, đạt tỷ lệ 100% Bệnh khô cành phát sinh gây hại nặng cho nhãn ở miền Tây Nam Bộ, đồng thời cũng xuất hiện và gây hại cho các vườn nhãn ở Miền Đông Tuy nhiên cho đến nay nguyên nhân gây bệnh của cả

2 triệu chứng này vẫn chưa được xác định

Trên cây vải, năm 2001-2002 điều tra ở các vùng trồng vải trọng điểm đã thu thập được trên năm mươi loài sâu và nhện hại, trong đó sâu đục cuống quả vải được xác định là một trong những đối tượng gây hại quan trọng nhất Loài này không chỉ gây rụng quả, làm giảm năng suất nghiêm trọng mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới phẩm chất quả Ngoài ra, sâu còn gây hại trên cả lộc non, lá non và hoa vải Kết quả điều tra năm 2006-2010 thu thập được 46 loài sâu hại thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ Những loài phổ biến trên vải gồm: muội đuôi dài, rầy họ Psyllidae gây u lõm lá, RS vẩy trắng nhỏ, bọ xít vải, xén tóc đục thân, sâu đục vòng quanh thân cành, sâu đục cuống, đục thân họ Cossidae nhện lông nhung, nhện chổi rồng Cũng trong đợt điều tra này đã phát hiện được

11 loại bệnh Các nấm Rhizopus nigricans và nấm Cylindrosporium sp lần đầu tiên được phát hiện gây thối trên quả vải Nấm Peronophythora litchi và nấm Coletotrichum gloeosporioides là các nấm gây hại chính quan trọng cho các

vùng trồng vải Nấm xuất hiện gây hại cho vải từ thời kỳ ra hoa cho tới sau thu hoạch làm giảm năng suất và phẩm chất đồng thời làm giảm khả năng vận chuyển và bảo quản của quả vải

4.1.5 Các loài sâu b ệnh hại cây rau

Điều tra trên một số loại rau ăn lá phổ biến giai đoạn 2006-2010, đã thu thập được 26 loài sâu phá hại trên rau bắp cải, 24 loài trên su hào và 23 loài trên cây súp lơ (thuộc 7 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ) Những loài sâu hại phổ biến

có 7 loài đó là các loài: Bọ phấn, rệp xám, rệp đào, bọ nhảy sọc cong, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, sâu tơ và ruồi đục lá

25 loại bệnh hại đã được phát hiện trên 4 loại rau thuộc họ thập tự (Bắp cải, su hào, súp lơ, cải ăn lá) Các vi sinh vật hại trên cây rau thập tự chủ yếu là các loài nấm– 11 loài và 4 loài vi khuẩn

Trang 23

So sánh giữa kết quả điều tra năm 1967 – 1968 và năm 1977 – 1978 của Viện BVTV cho thấy thành phần bệnh hại trên cây rau thập tự không có nhiều

thay đổi Nấm Peronospora parasitica gây bệnh sương mai, Alternaria brassicae và Alternaria herculae gây bệnh đốm vòng vẫn là 3 loài ký sinh gây

hại chủ yếu trên rau họ thập tự Bên cạnh giai đoạn sinh sản vô tính của nấm

Alternaria brassicae trên bắp cải, su hào còn có thể đồng thời tìm thấy giai đoạn

sinh sản hữu tính Pleospora herbarum của nấm trên đồng ruộng tại Sa Pa, Lào

Cai

Từ năm 2006 bệnh sưng rễ bắp cải do nấm Plasmodiophora brasicae gây

ra đã trở thành một dịch hại chính cho vùng trồng rau Đà Lạt Trong năm 2008

nấm Plasmodiophora brasicae vẫn tiếp tục gây hại nguy hiểm cho vùng rau Đà

Lạt Nhiều ruộng bắp cải ở Phường 7, Trại Mát- thành phố Đà Lạt tỷ lệ cây bị bệnh đạt từ 50 – 80% Đến năm 2009, 2010 bệnh sưng rễ bắp cải còn được phát hiện gây hại trên bắp cải ở Sa Pa, Lào Cai

4.1.6 Các biện pháp quản lý và phòng trừ sâu bệnh đã và đang áp dụng phổ

bi ến tại Việt Nam

Theo kết quả điều tra cho thấy đã có nhiều thay đổi trong việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng theo hướng ngày càng tiến bộ và an toàn hơn Nếu như giai đoạn 1975, sâu bệnh ít hơn, người dân chỉ sử dụng 1-2 loại thuốc hóa học nhưng có độ độc rất cao, đến năm 1995 do thâm canh cao nên

có nhiều sâu bệnh xuất hiện, giai đoạn này người dân sử dụng nhiều thuốc hóa học hơn Đến nay, nhờ các hoạt động tuyên truyền, phổ biến khoa học kỹ thuật, người dân đã nhận thức được tác động có hại của thuốc hóa học đối với sức khỏe con người và môi trường, nên thuốc hóa học không còn là lựa chọn duy nhất để phòng trừ dịch hại, bảo vệ mùa màng Các biện pháp quản lý và phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp hiện nay đang được áp dụng bao gồm:

* Biện pháp canh tác: Đây là biện pháp cơ bản để ngăn chặn sự phát triển và

lây lan của nhiều loại sâu bệnh trên cây trồng

- Gieo trồng với mật độ hợp lý: Mật độ và kỹ thụật gieo trồng phụ thuộc vào đất, dinh dưỡng và khả năng thâm canh của các hộ nông dân Mật độ quá

Trang 24

dầy hoặc quá thưa đều ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, đồng thời còn ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của sâu bệnh và cỏ dại Các vườn cây trồng quá dầy, không được tỉa bớt cành thường không tạo nên sự thông thoáng, cản trở sự hấp thu ánh sáng, ẩm độ cao giữa các tán lá tạo điều kiện

cho các loại sâu bệnh phát triển gây hại

- Thời vụ gieo trồng hợp lý:Thời vụ gieo trồng thích hợp là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng, né tránh điều kiện thời tiết bất thuận, giảm

sự bùng phát sâu bệnh hại và làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng

- Luân canh, xen canh: Trồng xen, luân canh vụ cây trồng, ví dụ trồng xen ngô với đậu tương hoặc các cây tán lá cao với cây tán lá thấp sẽ mang lại hiệu quả kinh tế Có thể trồng các loại rau với các loại cây trồng ngũ cốc, nhằm khai thác tối đa dưỡng chất trong đất, giúp đất thu hồi chất đạm nhờ quá trình phân hủy lá cây và các chất thải nông nghiệp

- Tưới tiêu hợp lý:Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông-lương thế giới, tưới tiêu nông nghiệp chiếm tới 3/4 nguồn nước ngọt có trong ao hồ, sông ngòi vì vậy tưới tiêu hợp lý sẽ tiết kiệm được đáng kể nguồn nước ngọt cho tương lai Cũng qua nghiên cứu và dựa vào thực tế canh tác nông nghiệp cho thấy phương pháp tưới "nhỏ giọt", tưới vừa đủ, đưa nước trực tiếp tới cho các chân ruộng, cho cây trồng sẽ có hiệu quả hơn phương pháp tưới bằng hệ thống thủy lợi

Ngoài ra phương pháp tưới phun cũng có tác dụng tiết kiệm đáng kể nguồn nước và gần đây người ta còn áp dụng kỹ thuật tiên tiến, duy trì hàm ẩm trong đất, trong không khí cũng là giải pháp rất hiệu quả giúp tiết kiệm nước, giúp cây trồngsử dụng tốt nguồn nước để phát triển

* Biện pháp cơ lý

- V ệ sinh đồng ruộng: Vệ sinh đồng ruộng có thể diệt được các nguồn dịch hại có khả năng tồn tại trong các tàn dư thực vật còn sót lại trên đồng ruộng

để hạn chế được sự lây lan của sâu bệnh từ năm này sang năm khác

- Cắt, thu gom và tiêu hủy những cây, cành bị nhiễm nặng các loại sâu bệnh

Trang 25

- Làm sạch cỏ, xới xáo hạn chế nơi trú ngụ và ký chủ phụ của dịch hại, nhằm hạn chế số lượng dịch hại trên đồng ruộng

- Điều tra, phát hiện sớm và loại bỏ các cây bị sâu bệnh hại là công việc cần thiết để hạn chế sự lây lan của các bệnh này trên đồng ruộng

- Bắt bằng tay hoặc dùng bẫy bả, pheromone

* Biện pháp sử dụng cây giống khoẻ, giống chống chịu sâu bệnh

- Dùng cây giống khoẻ, sạch bệnh giúp cho cây trồng phát triển thuận lợi

- Sử dụng giống chống chịu và tiềm năng năng suất cao, ghép cải tạo thay thế các vườn cà phê già cỗi và bị nhiễm bệnh nặng sẽ giảm sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh; giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ được thiên địch; giữ được cân bằng hệ sinh thái trên đồng ruộng

* Biện pháp sinh học

- Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại Duy trì và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên có sẵn trên đồng ruộng Bảo vệ chúng tránh khỏi độc hại do dùng thuốc hoá học bằng cách sử dụng những loại thuốc chọn lọc, thuốc có phổ tác động hẹp, dùng thuốc khi thật cần thiết và phải dựa vào ngưỡng kinh tế Áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý cho cây trồng sinh trưởng phát triển, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh của cây, tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch đến cư trú

- Ưu tiên sử dụng các loại thuốc BVTV sinh học, thảo mộc Các loại thuốc

sinh học chỉ có tác dụng trừ dịch hại, không độc hại với các loại sinh vật có

ích an toàn với sức khỏe con người và môi trường

Trang 26

- Đúng chủng loại: Mỗi loại sâu hay bệnh đều có những loại thuốc thích hợp

để phòng trừ Dùng không đúng thuốc sẽ không diệt được sâu bệnh mà còn gây lãng phí và ảnh hưởng tới thiên địch và môi trường

- Đúng thời điểm (đúng lúc): Tác hại của dịch hại cây trồng chỉ có ý nghĩa khi mật độ quần thể đạt tới số lượng nhất định, gọi là ngưỡng kinh tế Do vậy, chỉ sử dụng thuốc đối với sâu hại khi mật độ của chúng đạt tới ngưỡng kinh tế Các biện pháp “phun phòng” chỉ nên áp dụng trong những trường hợp đặc biệt Phun thuốc định kỳ theo lịch có sẵn hoặc phun theo kiểu cuốn chiếu là trái với nguyên tắc của phòng trừ tổng hợp

- Đúng kỹ thuật (đúng cách): Dùng thuốc phải căn cứ vào đặc điểm của sâu bệnh hại Ví dụ khi phun thuốc trừ rệp phải phun vào các ổ rệp nơi chúng tập trung chích hút Nếu phun rệp hại cờ ngô không nên phun vào thời điểm

cờ ngô tung phấn Phun trừ sâu gai nên phun vào buổi sáng hoặc chiều tối khi trưởng thành sâu gai ít hoạt động

• Sử dụng thuốc có chọn lọc Trong quản lý dịch hại tổng hợp, người ta chủ trương ưu tiên dùng các loại thuốc có phổ tác động hẹp hay còn gọi là thuốc có tác động chọn lọc Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về tác động chọn lọc và độ an toàn của thuốc đối với thiên địch còn rất ít

Trang 27

4.2 Tình hình nghiên cứu về tác động của BĐKH đến phát sinh sâu bệnh hại cây trồng trên thế giới và Việt Nam

4.2.1 Tác động của BĐKH đến sự phát sinh sâu bệnh hại cây trồng trên thế giới

Nghiên cứu về tác động của BĐKH đối với sâu bệnh hại cây trồng trên thế giới còn rất hạn chế Tuy nhiên, thời gian qua đã có một số kết quả đạt được trong lĩnh vực này Theo Lars Neumeister (2010), BĐKH tác động tới nhiều mặt của nền nông nghiệp ở các nước đang phát triển Nó cũng tác động tới hệ sinh thái cỏ dại, sâu bệnh hại cây trồng, từ đó có thể ảnh hưởng tới vấn đề BVTV và việc sử dụng thuốc BVTV Việc gia tăng lượng khí CO2 có thể ảnh hưởng tới sinh trưởng, chất lượng dinh dưỡng của hầu hết các loài cây Nhiệt độ tăng làm cho các loài sâu hại có xu hướng di cư lên hướng bắc và tới vùng cao hơn để tránh nhiệt độ cao có thể tác động bất lợi cho những loài sâu hại đặc thù

Cũng theo Lars Neumeister (2010), sự nóng lên của trái đất đã gây sức ép lên các loài cỏ dại, sâu bệnh hại Nhiệt độ cao và mùa vụ kéo dài hơn, có thể làm tăng quần thể sâu hại ở các vùng châu Á Mùa đông ấm hơn, có thể làm giảm khả năng sâu hại bị chết do tác động của nhiệt độ thấp, từ đó tạo điều kiện để sâu hại gia tăng quần thể

Nhiệt độ tổng thể tăng, có thể ảnh hưởng tới tác nhân gây bệnh hại cây trồng, làm tốc độ phát triển của chúng nhanh hơn, cho ra nhiều thế hệ hơn trong một mùa vụ, trong khi lượng tác nhân gây bệnh bị chết giảm đi, áp lực bệnh lên cây trồng cao, cây dễ bị tổn thương hơn

Nhiệt độ có tác động tới vấn đề qua đông hoặc qua hè của nhiều tác nhân gây bệnh Ví dụ nhiệt độ mùa đông trong khoảng từ -6 0C đến -100C sẽ làm tăng

khả năng sống sót qua đông của một số loài nấm gây bệnh gỉ sắt (Puccinia graminis) do đó đã làm tăng mức độ bệnh hại trên cây Festuca và Lolium Đối

với nấm Phytopthora infestans, khi nhiệt độ tăng cao làm xuất hiện nhiều dạng

thuần thục (multimating types), làm tăng khả năng qua đông và khả năng sinh sản của các bào tử nấm này và như vậy làm tăng tác nhân gây bệnh (K.A.Garret, S.P.Dendy, E.E Frank, M.N Rouse và S.E Travers, 2006)

Trang 28

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh và gây hại của dịch hại trên đồng ruộng, tác giả Philip Keane và Allen Kerr (năm 1997) đã đề xuất nghiên cứu mối tương tác ba chiều giữa dịch hại – kí chủ và điều kiện ngoại cảnh bao gồm: Dịch hại – ký chủ – môi trường

- Sự hiện diện của dịch hại: Tính gây hại ( Độc tính và khả năng xâm nhiễm); Tính thích ứng; Khả năng sống sót; Khả năng nhân (Tái tạo)

- Kí chủ: Tính mẫn cảm; Giai đoạn sinh trưởng; Mật độ quần thể và cấu

trúc quần thể; Tình trạng cây (Khoẻ/yếu)

- Môi trường: Nhiệt độ; ẩm độ không khí; Tiểu khí hậu đồng ruộng; Lượng mưa; Sương và khoảng thời gian có sương/cường độ sương; Thời gian lá

bị ướt; Nhiệt độ đất; ẩm độ đất; Độ phì đất; Phân hữu cơ; Gió; Ô nhiễm không khí, nước, thuốc trừ dịch hại; Kẻ thù tự nhiên/ vi sinh vật đối kháng

Ba yếu tố này có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Nếu một trong ba yếu tố này thay đổi thì mức độ phát triển của một loại bệnh hại nào đó có thể xuất hiện Như vậy, BĐKH làm nhiệt độ không khí tăng cao, làm ẩm độ và nồng

độ khí CO2 trong khí quyển thay đổi đều có thể ảnh hưởng tới sự bùng phát của bệnh hại tới cây chủ với nhiều mức độ khác nhau

4.2.1.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa bệnh hại cây trồng và môi trường trên thế giới

* Tác động của nhiệt độ tăng đối với bệnh hại cây trồng:

Nhiệt độ tác động tới bệnh hại cây trồng thông qua cả cây chủ và tác nhân gây bệnh Nghiên cứu cho thấy nhiều loại bệnh hại gây ra bởi nấm gỉ sắt trên các loại cây ngũ cốc bị ảnh hưởng đặc biệt bởi nhiệt độ Tại nước Anh, có đến khoảng một nửa số các giống lúa mì trong danh sách đề nghị thử nghiệm thể

hiện mức kháng khác nhau đối với các chủng bệnh gỉ sắt lá do nấm Puccinia triticina có hiệu quả ở điều kiện nhiệt độ 10°C và không có hiệu quả ở 25°C (Jones và Clifford 1986 - 2002; Jones 2004-2007) Khi nhiệt độ tăng, những cây chủ như lúa mỳ, yến mạch ngày càng trở nên mẫn cảm với bệnh rỉ sắt, nhưng một số loại cỏ cho gia súc lại trở nên kháng bệnh (Coakley et all 1999)

Trang 29

Nhiều mô hình toán học đã được sử dụng để dự báo dịch bệnh dựa vào sự phát triển của tác nhân và khả năng nhiễm bệnh trong khoảng nhiệt độ đã định Nhìn chung, nấm bệnh chỉ phát triển tốt trong môi trường nhiệt độ nhất định

Thí nghiệm cho thấy nấm bệnh mốc sương do nấm Phytopthora phá hại cây cà

chua và khoai tây phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao và nhiệt độ trong khoảng từ 450F (7,20C) đến 800F (26,80C) (Wallin et al, 1950)

* Tác động của ẩm độ đối với bệnh

Cũng như nhiệt độ, ẩm độ tác động đến cả cây chủ và tác nhân gây bệnh Thí nghiệm cho thấy một số tác nhân gây bệnh ghẻ táo, bệnh mốc sương hoặc bệnh thối gốc hại rau thường gây hại nặng trong điều kiện ẩm độ của lá, ẩm độ tương đối và lượng mưa cao Bệnh phấn trắng phát triển mạnh trong điều kiện

ẩm độ thấp hơn so với 2 loại bệnh trên Khi mưa xảy ra thường xuyên và lượng mưa cao sẽ là môi trường thuận lợi để bệnh này kéo dài thời gian phát triển (Coakley et al 1999)

Tác nhân gây bệnh thực vật nói chung có khả năng trực tiếp hoặc gián tiếp thích ứng với BĐKH và có thể vượt qua khả năng bảo vệ của cây trồng Ở một mức độ quần thể, khả năng thích ứng của các tác nhân gây bệnh có thể là các yếu tố dự báo quan trọng nhất của ảnh hưởng của BĐKH (Garrett et al 2006)

Tuy nhiên, một số thay đổi, chẳng hạn như hạn hán gia tăng, có thể dẫn đến ít giai đoạn có điều kiện thuận lợi cho sự gây nhiễm do như sự hiện diện của nước, độ ẩm cao hoặc mở khí khổng là yêu cầu của nhiều tác nhân để có thể bắt đầu gây bệnh

Trong các điều kiện bất thuận, một số sinh vật tăng cường khả năng tạo ra các biến thể, ví dụ, kích thích hoạt động retrotransposon trong tác nhân gây bệnh

như Fusarium oxysporum, Ophiostoma ulmi và Ophiostoma Nono-ulmi (Anaya

và Roncero năm 1996; Bouvet et al 2008), và một số cơ chế hoạt động đáp ứng các yếu tố bất thuận (Twiss et al 2005) Sự gia tăng tỷ lệ đột biến để đáp ứng với stress đã được tìm thấy trong các loại nấm (Hastings et al 2000), đặc biệt là trong phản ứng với sự gia tăng của các loài hảo khí (Blanco et al 1995)

Trang 30

* Tác động của khí CO 2 đối với bệnh hại

Một số nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm tác động của khí CO2 tới bệnh Kết quả cho thấy cây trồng trong điều kiện khí CO2 cao có tán cây rậm rạp hơn, do đó ẩm độ trong tán cây cao, thuận lợi cho các loại bệnh hại phát triển Trong điều kiện CO2 cao, khả năng phân hủy của xác cây giảm, dẫn tới lượng tàn dư cây nhiều hơn, là môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh qua đông, làm tăng nguồn bệnh lây nhiễm cho vụ sau Lượng khí CO2 cao tác động tới sự sinh trưởng và phát triển của tác nhân gây bệnh, làm chúng sản sinh ra nhiều bào tử hơn Tuy nhiên, lượng khí CO2 tăng cũng làm thay đổi sinh lý cây chủ, làm cho cây chủ có khả năng kháng bệnh cao hơn (Coakley et all 1999)

Trong phần lớn các ví dụ được xem xét bởi Chakraborty et al (2000), mức độ nghiêm trọng của bệnh gia tăng khi nồng độ CO2 tăng cao, nhưng trong một số ví dụ mức độ bênh lại giảm CO2 cũng có thể có các tác động trực tiếp đến sự phát triển tác nhân gây bệnh Ví dụ, sự phát triển gia tăng của

Colletotrichum gloeosporioides ở nồng độ CO2 cao (Chakraborty và Datta 2003) CO2 cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của tác nhân gây bệnh được thể hiện ở sự gia tăng theo mức độ CO2 dẫn đến sự gia tăng của quá trình phát triển của tác nhân gây bệnh (Chakraborty và Datta năm 2003) Lake và

Wade (2009) cho biết Arabidopsis thaliana nhạy cảm hơn với Erysiphe cichoracearum ở nồng độ CO2 cao, tương quan với tăng mật độ lỗ khí khổng và chiều dài tế bào bảo vệ, nhưng có sự khác biệt vốn có giữa ecotypes trong phản ứng này Ở lúa, sự gia tăng tính nhạy cảm với bệnh đạo ôn (Magnaporthe

oryzae) khi nồng độ CO2 cao là do giảm thành phần silicon lá (Kobayashi et al 2006) Gia tăng CO2 cũng làm giảm biểu hiện tính chống chịu tạo được (Pangga

et al 2004.) hoặc ảnh hưởng đến biểu hiện của kháng trực tiếp hơn (Plazek et al 2001; Plessl et al 2005) (Braga et al 2006), nhưng trong các giống kháng, cũng gia tăng sức đề kháng bằng cách thúc đẩy sản xuất phytoalexin Ở đậu tương,

CO2 cao làm tăng bệnh đốm nâu Septoria nhưng làm giảm bệnh phấn trắng

(Eastburn et al 2010.)

4.2.1.2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sâu hại và môi trường

Trang 31

Côn trùng là sinh vật máu lạnh (cold- blooded) Nhiệt độ cơ thể của chúng gần tương đương với nhiệt độ môi trường Do đó, nhiệt độ có thể là yếu tố môi trường quan trọng nhất có ảnh hưởng tới tập tính, phân bố, phát triển và sinh sản của côn trùng Kết quả nghiên cứu của Bale và cộng sự (2002) cho rằng tác động của nhiệt độ tới sâu hại lấn át tác động của các yếu tố môi trường khác lên chúng Ước tính nhiệt độ cứ tăng 20C thì côn trùng có thể tăng từ 1- 5 vòng đời trong một vụ (season) (Yamamura & Kiritani, 1998)

Nhiệt độ là một trong những yếu tố khí hậu có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát dục, biến động quần thể các loại côn trùng gây hại nói trên Vì vậy, dưới tác động của BĐKH, nhiệt độ tăng lên sẽ là điều kiện để rút ngắn vòng đời các loại sâu hại, giúp chúng gia tăng quần thể nhanh chóng và gây ra thiệt hại nặng nề cho cây trồng Dưới tác động của trái đất nóng lên, các loài sâu hại vốn phân bố

ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới có thể sẽ mở rộng ra vùng ôn đới cùng với sự thay đổi về diện tích cây ký chủ của chúng, trong khi sự phân bố cũng như tính phong phú của một số loài côn trùng bị dễ bị tổn thương do nhiệt độ cao ở vùng khí hậu ôn đới có thể giảm đi và di chuyển lên vùng cao hơn do chúng có thể tìm thấy ở đó môi trường sống phù hợp hơn Một số loài có thể thay đổi tập tính, kéo dài thời gian qua đông Nhìn chung, BĐKH cùng với sự nóng lên của trái đất, có thể dẫn đến:

- Mở rộng phạm vi phân bố của các loài sâu hại

- Tăng thêm thời gian qua đông và quần thể phát triển nhanh hơn

- Thay đổi mối quan hệ tương tác giữa côn trùng và cây chủ

- Tăng nguy cơ xâm nhiễm của các loài di cư

- Ảnh hưởng tới đa dạng loài chất đốt, một số loài có nguy cơ mất đi

- Hạn chế hiệu quả của các kỹ thuật BVTV

Ngoài ra, sự thay đổi của ẩm độ không khí và nồng độ khí CO2 trong bối cảnh khí hậu biến đổi cũng là những yếu tố quan trọng tác động tới sâu hại cây trồng (Hamilton 2005; Coviella & Trumble 1999; Hunter, 2001)

Về ảnh hưởng của ẩm độ, nhiều tác giả cho rằng môi trường ẩm thích hợp với rầy nâu, góp phần làm tăng số lượng quần thể của chúng Theo Kulshreshtha

Trang 32

và ctv ẩm độ tương đối trong phạm vi từ 70- 80% là thích hợp cho sự phát dục của rầy nâu Nhìn chung dịch rầy nâu chủ yếu xảy ra trong mùa mưa hoặc phụ thuộc vào lượng mưa (Grist, 1969) Kết quả nghiên cứu ở miền trung Gia Va (Indonesia) cho thấy có tương quan rất chặt chẽ giữa tổng lượng mưa hàng năm

từ 1970- 1975 và diện tích lúa bị rầy nâu phá hoại Cũng có sự tương quan âm giữa số lượng tháng khô hạn trong năm với diện tích lúa bị hại vì rầy nâu Số ngày mưa trong năm cũng có xu hướng tương quan với diện tích lúa bị hại (Dyck và ctv, 1979) Tuy nhiên có tác giả lại có nhận định ngược lại, hoặc một

số tác giả lại không thấy có sự tương quan (Mochida và CTV, 1977)

4.2.2 Tác động của BĐKH đến sâu bệnh hại một số cây trồng chính ở Việt Nam

Sản xuất nông, lâm, nghiệp chịu nhiều rủi ro dưới tác động của BĐKH vì phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên (tài nguyên và khí hậu, thời tiết) BĐKH ảnh hưởng tới mọi mặt của sản xuất nông nghiệp, tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng và làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại

Nhiệt độ tăng trong mùa đông (mùa đông ấm) sẽ tạo điều kiện cho nguồn sâu có khả năng phát triển nhanh hơn, gây hại mạnh hơn Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các địa phương, sâu bệnh đang hoành hành tại nhiều tỉnh như Hà Tĩnh, Nghệ An, Hòa Bình, Ninh Bình và một

số địa phương khác trong cả nước Trong 2 năm gần đây, dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn lùn xoắn lá hại lúa ở ĐBSCL diễn biến gày càng phức tạp, ảnh hưởng đến khả năng thâm canh, tăng vụ và làm giảm nghiêm trọng sản lượng lúa ở một

số vùng Vụ mùa năm 2009, miền Bắc bắt đầu xuất hiện bệnh lùn sọc đen trên lúa Riêng Nghệ An, diện tích bị hại lên đến 6000 ha (Cục trồng trọt, 2009) Ở

Hà Nội, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh thành dịch vụ mùa năm 2001, 2010, cao điểm diện tích lúa bị hại lên đến 30.000 ha, dịch sâu đục thân hại lúa năm 2005, 2007, 2009 (Chi cục BVTV Hà Nội 2001, 2005, 2007, 2009, 2010) Tại tỉnh Hòa Bình, hơn 300 ha lúa Hè – Thu năm 2010 đang vào giai đoạn làm đòng bị nhiễm sâu bệnh nặng, chủ yếu là lùn sọc đen, sâu cuốn lá, thối nõn, nấm… diễn

ra rất phức tạp và khó lường và có nguy cơ trở thành đại dịch Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, huyện Yên Thủy được đánh giá là điểm nóng về sâu bệnh

Trang 33

Theo đánh giá sơ bộ của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Yên Thủy: do thời tiết thay đổi, năm 2010 mưa muộn nên người dân cũng cấy muộn hơn Trong thời gian lúa sinh trưởng, thời tiết cũng diễn biến thất thường, nắng ẩm, mưa nhiều nên sâu bệnh sinh sôi nhanh thành đại dịch

Ẩm độ và lượng mưa nhìn chung có ảnh hưởng tới sự phát sinh và phát triển của rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ và đục thân, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng có khác nhau Rầy nâu là loài ưa ẩm, chúng phát triển thích hợp trên ruộng lúa có nước hoặc mặt đất ẩm Khi trời ít mưa hoặc nắng hạn kéo dài, mặt ruộng khô nẻ thì mật độ rầy suy giảm Ngưỡng ẩm độ từ 80-85 % là điều kiện thích hợp cho rầy nâu phát sinh và phát triển Theo Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (2005), mật

độ rầy nâu sẽ tăng khi số ngày mưa sẽ tăng lên và lượng mưa cao hơn 5mm/tuần Mật độ rầy nâu cũng tăng lên theo sự gia tăng của độ ẩm không khí,

vì thế ở các tỉnh ở phía Nam nước ta do có lượng mưa, nhiệt độ và ẩm độ không khí cao mà rầy nâu phát sinh 12-13 lứa/năm, gây nên sự bùng phát liên miên của rầy nâu hại lúa (trong khi ở các tỉnh phía Bắc chỉ có 6-7 lứa/năm)

Ẩm độ thích hợp nhất cho sâu cuốn lá phát sinh và phát triển là 82-92% , tối thích trong khoảng 85-89 % Ngoài phạm vi này đều không thích hợp cho sự phát dục của sâu Nếu lượng mưa đủ lớn (không vượt quá 100 mm) và rải đều các tháng nhất là từ tháng 2 đến tháng 7-8 hàng năm sẽ tạo thuận lợi cho quần thể sâu cuốn lá phát triển và gây thành dịch (N.V.Hành, 1988)

Các tác giả Grist and Lever (1969), Soechardjan (1973), Anon (1975), N.V.Huỳnh (1975), N.C.Thuật (1988) và N.V.Hành (1988) đều đưa ra kết luận yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng rõ ràng và mạnh nhất đối với sự phát sinh và gây hại của các đối tượng rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân Nghiên cứu tại Thái Bình về mối quan hệ giữa nhiệt độ và thời gian phát sinh của các loại sâu hại nói trên cho thấy những năm có nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông cao hơn từ 1-2ºC so với nhiệt độ trung bình nhiều năm (như các năm 1998, 1999, 2000) thì lứa sâu non đầu tiên của các loại sâu nói trên thường xuất hiện sớm hơn 5-10 ngày so với các năm có nhiệt độ trung bình ngang bằng hoặc thấp hơn

so với trung bình nhiều năm (như các năm 2000, 2002, 2004)

Trang 34

Bảng 3 Nhiệt độ các tháng mùa đông và thời gian xuất hiện cao điểm gây hại lứa 1 của rầy non, sâu cuốn lá nhỏ và đục thân tại Thái Bình 1997-2006

Năm Nhiệt độ trung bình (ºC) Thời gian xuất hiện sâu non lứa 1

4.2.2.1 Ảnh hưởng đến sâu bệnh chính trên cây lúa

Khí hậu thời tiết là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng cho năng suất của cây trồng Mỗi loại cây trồng chỉ sinh trưởng phát triển tốt trong một điều kiện khí hậu nhất định Hoạt động của bất kỳ sinh vật nào ở các vùng sinh thái cũng chịu sự chi phối sâu sắc của điều kiện ngoại cảnh như: nhiệt độ,

độ ẩm, lượng mưa, gió Khí hậu thời tiết cũng ảnh hưởng tới sự phát sinh gây hại của các sinh vật gây hại cho cây trồng Cây lúa sẽ cho năng suất cao, ít sâu bệnh trong điều kiện sinh thái nhất định Sự thay đổi của điều kiện khí hậu thời

tiết sẽ ảnh hưởng tới sự phát sinh gây hại của sinh vật hại và năng suất của lúa

Bệnh đạo ôn

Bệnh đạo ôn là loại bệnh nguy hiểm hàng đầu ở khắp các vùng trồng lúa trong cả nước Tính chất nghiêm trọng của bệnh không chỉ là chúng phân bố rộng mà còn do chúng gây hại cho cây lúa ở nhiều giai đoạn, từ cây mạ đến giai đoạn trổ bông, làm cho lá lúa có thể bị cháy khô và hạt lúa bị khô lép, gây thiệt

Trang 35

hại từ 10 - 50% năng suất lúa nếu không phát hiện kịp thời để phòng trị Sự phát sinh, phát triển của bệnh liên quan chặt chẽ với điều kiện thời tiết, giống lúa và chế độ canh tác

Các nhà khoa học đã nghiên cứu và nhận thấy khi nhiệt độ không khí khoảng 24 – 280C, ẩm độ trên 90% thì bệnh đạo ôn phát triển và lây lan mạnh, bào tử nấm bệnh có thể nẩy mầm tạo thành giác bám, sau đó chúng đâm xuyên vào vách tế bào lá lúa để phát triển và gây hại cho mô cây

Nghiên cứu tại vùng đồng bằng sông Hồng của Đặng Thị Thanh Hà và cộng sự (2005) cho thấy có mối tương quan nghịch giữa số giờ nắng trong tuần

và mức độ nhiễm bệnh của cây lúa Trời càng âm u, ít nắng thì mức độ nhiễm bệnh sẽ tăng lên Tiếp theo yếu tố nắng là ẩm độ không khí Ẩm độ không khí càng cao thì mức độ nhiễm và lây lan của bệnh cũng sẽ càng tăng Do đó vụ lúa Đông- Xuân ở miền Bắc thường có khí hậu mát mẻ, ẩm độ cao, cho nên năm nào cũng thấy bệnh đạo ôn gây hại nặng Khi mưa nhỏ kéo dài, trời âm u, đêm

có sương mù nhiều cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển

Bệnh bạc lá

Cũng giống như bệnh đạo ôn, điều kiện thời tiết khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến sự phát sinh và gây hại của sâu bệnh bạc lá trên đồng ruộng

Vi khuẩn gây bệnh bạc lá lúa xâm nhập vào cây lúa qua rễ, gốc, khí khổng

lá thông qua vết thương cơ giới hoặc do nông dân khi nhổ mạ bị đứt rễ Ẩm độ

và lượng mưa có ý nghĩa quyết định đến mức độ bị bệnh của cây lúa Bệnh phát sinh, phát triển và lan truyền nhanh thành dịch trong điều kiện nhiệt độ 26-

300C, ẩm độ cao từ 90% trở lên Buổi sáng, vi khuẩn tiết ra những giọt dịch nhỏ trên phiến lá, sau biến nâu, đính vào lá Nhờ giọt sương dịch vi khuẩn lan ra và lây nhiễm Nguồn nước tưới tiêu, nước mưa, lụt, bão, gió là các nguyên nhân lan truyền vi khuẩn

Rầy nâu

Theo nghiên cứu của Nguyễn Công Thuật (2002), trong điều kiện nhiệt độ cao suốt cả năm ở ĐBSCL, rầy nâu phá hại quanh năm, lứa này tiếp theo lứa khác với khoảng cách 20-30 ngày và mật độ chỉ giảm sút sau mỗi vụ thu hoạch

Trang 36

Mỗi năm trên đồng ruộng có đến 10-11 lứa Ngược lại, ở các tỉnh phía Bắc, do nhiệt độ thấp kéo dài suốt mùa đông (từ giữa tháng 11 đến cuối tháng 2 năm sau), nên rầy nâu có một thời gian suy giảm về số lượng Mùa đông rét hay ấm, đến sớm hay muộn, kết thúc sớm hay kéo dài đều có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát sinh và gây hại của rầy nâu đầu năm sau Những năm mùa đông ấm và kết thúc sớm, rầy nâu thường xuất hiện sớm, phát triển nhanh và đạt đến đỉnh cao sớm hơn, do đó thường gây ra thiệt hại nặng Ngược lại, năm nào mùa đông rét đậm và kéo dài, rầy nâu thường xuất hiện muộn và tăng trưởng quần thể chậm,

do đó cũng gây hại muộn hơn và thiệt hại nhẹ hơn Trong điều kiện nhiệt độ khoảng 17- 200C, thời gian một lứa rầy thường kéo dài từ 40-50 ngày, trong khi

ở điều kiện nhiệt độ cao (23-300C), thời gian phát dục của rầy nâu giảm đáng kể, chỉ khoảng 25-32 ngày một lứa

Sâu cuốn lá nhỏ

Sâu cuốn lá nhỏ có phạm vi hoạt động từ 10-32 ºC, trên dưới nhiệt độ này mọi hoạt động của sâu đều bị ức chế và dẫn đến chết Khoảng cực thuận cho sâu hoạt động là 27-29,5 ºC, khoảng thuận ở ngưỡng dưới là 24-27ºC và ngưỡng cao là 29,5-30,5ºC (N.V Hành, 1988) Hàng năm ở miền Bắc sâu cuốn lá nhỏ thường có 8 lứa, 2 giai đoạn bị hại chính là thời kỳ lúa đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng - trỗ Trong điều kiện thời tiết nắng nóng mưa nhiều và nắng mưa xen kẽ, sâu cuốn lá nhỏ hại lúa dễ hại nặng và hiện tượng gối lứa rất phổ biến.Ở miền Nam do thời tiết nóng quanh năm, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh và phá hại liên tục,

từ lúa đông xuân chuyển sang lúa hè thu, lúa thu đông (lúa vụ 3) và lúa mùa Trong mỗi vụ lúa thường có 2 lứa sâu phát sinh và gây hại (Nguyễn Công Thuật, 2002)

Sâu đục thân bướm 2 chấm

Nghiên cứu của Viện BVTV cho thấy vòng đời của sâu đục thân bướm 2 chấm phụ thuộc đáng kể vào yếu tố nhiệt độ Vòng đời của sâu có thể kéo dài tới 60-70 ngày trong điều kiện nhiệt độ thấp 18-200C Nếu nhiệt độ tăng lên đến 25-

270C thì vòng đời rút ngắn còn từ 40-50 ngày

Trang 37

Trong điều kiện nhiệt độ thấp vào mùa đông ở các tỉnh phía Bắc, một bộ phận của lứa sâu cuối năm có hiện tượng qua đông Vào khoảng cuối tháng 11, khi nhiệt độ xuống thấp dưới 200C, sâu di chuyển dần xuống các đốt rạ ở phía dưới gần gốc lúa hoặc có khi xuống tận dưới mặt đất 1-2cm và qua đông ở đó Cho đến khoảng giữa tháng 2- đầu tháng 3 năm sau, khi thời tiết ấm dần, chúng mới hoạt động trở lại rồi hoá nhộng và sau đó hoá bướm rồi bay ra ngoài Hiện tượng qua đông của sâu đục thân hai chấm chỉ thấy ở miền Bắc, nơi có nhiệt độ thấp trong mùa đông Những năm mùa đông đến sớm, rét kéo dài thì lượng sâu qua đông nhiều, do vậy lứa sâu đầu năm sau thường có mật độ cao và gây hại nặng, tuy nhiên sâu qua đông trở lại hoạt động muộn, do vậy lứa sâu đầu năm cũng xuất hiện muộn hơn Ngược lại năm nào mùa đông ấm và kết thúc sớm, số lượng sâu qua đông ít thì mật độ lứa sâu này cũng thấp hơn, sâu qua đông vũ hoá sớm hơn và lứa sâu đầu năm cũng xuất hiện sớm hơn (Nguyễn Công Thuật, 2002)

4.2.2.2 Ảnh hưởng đến sâu bệnh chính cây rau họ thập tự

Có nhiều nguyên nhân gây ra sự thay đổi về thành phần và tần suất xuất hiện một số loài sâu bệnh hại đối với cây rau họ thập tự trong thời gian qua trong đó sự biến đổi của điều kiện thời tiết khí hậu là một trong những nguyên nhân quan trọng Trong thập kỷ 90, nhiều loài sâu hại có kích thước lớn như sâu xanh, sâu khoang là những đối tượng gây hại quan trọng Tuy nhiên, trong những năm gần đây các loài sâu hại có kích thước nhỏ hơn như rệp muội, bọ trĩ,

bọ phấn… lại trở thành các đối tượng phá hoại nghiêm trọng hơn Kết quả nghiên cứu được công bố bởi các tác giả K Sharma, B D Gossen và M R McDonald (2011) cho thấy, triệu chứng bệnh sưng rễ bắp cải không xuất hiện trong điều kiện nhiệt độ 100C mà chỉ biểu hiện ở nhiệt độ từ 150C trở lên và gây hại nhiều trong điều kiện nhiệt độ 250C Khi mầm bệnh hiện diện tại vùng rễ của cây bắp cải nhưng ở điều kiện nhiệt độ thấp, bệnh sẽ ẩn và không có biểu hiện triệu chứng bệnh Nhiệt độ càng cao, trên 150C trở lên triệu chứng bệnh xuất hiện và gây hại cho cây Nếu nhiệt độ tăng lên đến 250C sẽ là điều kiện tối

ưu để mầm bệnh phát triển mạnh và gây hại nghiêm trọng cho cây bắp cải

Trang 38

Trong những năm qua, bệnh sưng rễ bắp cải đã và đang trở thành dịch hại quan trọng đối với cây bắp cải và cải pố xôi ở vùng trồng rau Lâm Đồng Nguyên nhân có thể là do hiện tượng gia tăng nhiệt độ trung bình năm của tỉnh trong vòng 30 năm gần đây So sánh số liệu quan trắc tại các trạm trong tỉnh Lâm Đồng trong 3 thập kỷ từ 1980-1989, 1990-1999 và 2000-2009 cho thấy: Nhiệt

độ trung bình năm tại các trạm Bảo Lộc, Liên Khương và thành phố Đà Lạt cho thấy nhiệt độ đã tăng cao khoảng 0,1-0,20C Thời vụ trồng cải bắp và cải pố xôi tại Đà Lạt tập trung từ tháng 3-4 và tháng 9-10 hàng năm Trong thời gian sinh trưởng của cây rau này, nhiệt độ trung bình của các tháng này lại gần đạt tới ngưỡng nhiệt độ tối ưu cho bệnh sưng rễ bắp cải gây hại

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến vòng đời của sâu tơ, một đối tượng sâu hại quan trọng trên rau thập tự cho thấy: Ở nhiệt độ trung bình 21,70C và ẩm

độ 83,5% (tháng 11/1995) vòng đời của sâu tơ vào khoảng 21 ngày Khi nhiệt

độ trung bình giảm xuống đến 18,90C và ẩm độ 75,9% (tháng 12/1995) vòng đời của sâu tăng lên trên 27 ngày và khi nhiệt độ giảm xuống thấp hơn nữa đến mức 17,20C và ẩm độ 84,5% (tháng 01/1996) vòng đời của sâu kéo dài tới trên 33 ngày Điều đó chứng tỏ nhiệt độ càng cao, vòng đời của sâu tơ càng ngắn lại một cách rõ rệt, làm xuất hiện nhiều lứa trong 1 vụ rau Vì thế thiệt hại do sâu tơ trong một vụ rau sẽ tăng lên, dẫn đến năng suất và chất lượng rau giảm Để ngăn ngừa sâu phá hoại thì chi phí phòng trừ sẽ tăng thêm

Bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fabricius) là đối tượng sâu hại ít được nhắc

đến trước đây Chúng phát sinh quanh năm, đẻ trứng lai rai nên không thành lứa

rõ rệt, nhiệt độ thích hợp để sâu hại này phát sinh và phát triển là từ 25-300C Tuy nhiên do ảnh hưởng của nhiệt độ tăng lên từ những năm 2000 cho đến nay, loài sâu hại này đang trở thành mối nguy hại cho rau họ thập tự nói trên

4.2.2.3 Ảnh hưởng đến sâu bệnh hại các loại cây ăn quả

Do ảnh hưởng của BĐKH nên đã có sự thay đổi về thành phần và mức độ gây hại của nhiều loài sâu bệnh hại trên cây ăn quả như nhãn vải, cam Sâu đo hại vải và bệnh chổi rồng trên nhãn trước đây chỉ gây hại trong một phạm vi hẹp nhưng nay bệnh chổi rồng đã trở thành dịch hại trên diện rộng tại các vùng trồng

Trang 39

nhãn của ĐBSCL và sâu đo hại vải đã xuất hiện phổ biến vùng trồng vải của Thanh Hà (tỉnh Hải Dương) và Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) Kết quả nghiên cứu

về ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ và ẩm độ đến chu kỳ biến thái và vòng đời của sâu đo hại vải cho thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ khi nhiệt độ và ẩm

độ càng cao thì thời gian các pha sinh trưởng của sâu càng ngắn lại (Bảng 4)

Kết quả bảng 4 cho thấy thời gian trứng sâu đo hại vải phát dục từ 2,84 – 3,29 ngày Thời gian sâu non trung bình các lứa nuôi không đều nhau, kéo dài từ 12,02 – 18,02 ngày Vòng đời trung bình từ 25,09 – 31,56 ngày trong điều kiện nhiệt độ trung bình từ 18,78 – 29,15oC.

Bảng 4: Thời gian phát dục các giai đoạn sinh trưởng sâu đo hại vải

(Phòng thí nghiệm Viện BVTV năm 2009-2010)

Các nghiên cứu về sâu bệnh hại cây ăn quả có múi cho thấy trong vài thập

kỷ qua nhiều đối tượng gây hại nguy hiểm bùng phát, gây nhiều khó khăn cho sản xuất như sâu vẽ bùa, rầy chổng cánh, bọ trĩ hại hoa, nhện đỏ hại lá…tại tất

cả các vùng trồng cây có múi ở nước ta Nhìn chung các đối tượng trên đều có

xu hướng gây hại ngày càng nặng, vòng đời rút ngắn, hay nói cách khác khi nhiệt độ tăng dần thời gian sinh trưởng của chúng càng ngắn hơn, khả năng gây

Trang 40

hại càng lớn hơn Một ví dụ về thay đổi nhiệt độ môi trường liên quan đến vòng đời sâu hại cho thấy ở nhiệt độ 21,9 0 C, vòng đời bọ trĩ hại cam (Scirtothrips dorsalis) là 20,1 ngày Khi nhiệt độ tăng kên 25,30C, vòng đời rút xuống còn 17,6 ngày; ở nhiệt độ 26,90C thời gian vòng đời chỉ còn 16,1 ngày (bảng 5)

Bảng 5 Vòng đời và thời gian các pha phát dục của bọ trĩ hại cam Scirtothrips

dorsalis (Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà nội, 2004 – 2005)

Các pha phát dục Thời gian phát dục ở các nhiệt độ (Ngày

Rầy chổng cánh Diaphorina citri, một đối tượng nguy hiểm truyền bệnh

vàng lá gân xanh (greening) trên cây có múi, có các pha phát dục phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện nhiệt độ các tháng trong năm Hệ số tương quan giữa thời gian

từ trứng đến trưởng thành và nhiệt độ rất chặt chẽ: r = - 0,9366 Các tháng mùa

hè (tháng 6,7,8) nhiệt độ cao và ẩm độ thích hợp vòng đời của rầy chổng cánh

D citri ngắn hơn nhiều các tháng mùa đông (11,12,1 và tháng 2) (Nguyễn Văn Chí, 2002)

Ngày đăng: 06/08/2016, 12:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Diện tích bị nhiễm sâu bệnh và dịch hại khác - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Bảng 2 Diện tích bị nhiễm sâu bệnh và dịch hại khác (Trang 16)
Bảng 6. Thời gian các pha phát dục của D.citri qua các tháng trong năm - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Bảng 6. Thời gian các pha phát dục của D.citri qua các tháng trong năm (Trang 41)
Hình 2. Hệ quả tiềm tàng của mối quan hệ tương tác giữa các thành phần của - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Hình 2. Hệ quả tiềm tàng của mối quan hệ tương tác giữa các thành phần của (Trang 53)
Hình 3. Quan hệ giữa mật độ quần thể rệp sáp bột tua ngắn - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Hình 3. Quan hệ giữa mật độ quần thể rệp sáp bột tua ngắn (Trang 58)
Bảng 2: Thành phần bệnh hại cam - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Bảng 2 Thành phần bệnh hại cam (Trang 79)
Bảng 7: Thành phần sâu hại đã thu thập được trên súp lơ - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Bảng 7 Thành phần sâu hại đã thu thập được trên súp lơ (Trang 86)
Hình 2: Nhiệt độ Mùa đông: XII-II ( dT vào 2100 so với 1980-1999) - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Hình 2 Nhiệt độ Mùa đông: XII-II ( dT vào 2100 so với 1980-1999) (Trang 91)
Hình 5: Nhiệt độ Mùa thu: IX-XI (dT vào 2100 so với 1980-1999) - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Hình 5 Nhiệt độ Mùa thu: IX-XI (dT vào 2100 so với 1980-1999) (Trang 94)
Hình 6: Nhiệt độ trung bình năm (dT vào 2100 so với 1980-1999) - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Hình 6 Nhiệt độ trung bình năm (dT vào 2100 so với 1980-1999) (Trang 95)
Hình 9:  Lượng mưa Mùa hè VI-VII (%R vào cuối thế kỷ 21 so với 1980-1999) - Tác động của BĐKH tới sâu bệnh hại cây trồng ở Việt Nam Những chính sách và hành động thích ứng
Hình 9 Lượng mưa Mùa hè VI-VII (%R vào cuối thế kỷ 21 so với 1980-1999) (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w