1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chính sách của trung quốc đối với khu vực đông á hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đến việt nam

168 489 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Là khu vực rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nền kinh tÕ ph¸t triÓn năng động hàng đầu thế giới, có vị trí chiến lược quan trọng, đồng thời cũng là nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại, Đông Á kể từ sau chiÕn tranh thÕ giíi thứ hai luôn là địa bàn thu hút sự quan tâm của các nước lớn. Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, do sự chi phối của trật tự thÕ giíi hai cực, Đông Á về cơ bản là nơi tranh giành ¶nh h­ëng giữa hai siêu cường Liên Xô và Mỹ. Sau khi Liên Xô tan rã, chiÕn tranh lạnh kết thúc, Mỹ với tư cách là siêu cường duy nhất, có điều kiện thuận lợi để củng cố và t¨ng c­êng vị trí của mình ở Đông Á. Tuy nhiên, những thay đổi trong so sánh lùc l­îng ở Đông Á thập niên đầu sau chiÕn tranh lạnh diễn ra ngoài sự mong đợi của Mỹ. Liên bang Nga (LB Nga) tuy được cộng đồng thÕ giíi công nhận là nước kế thừa vị trí của Liên Xô trên trường quốc tế nhưng do những khó khăn ở trong nước và chính sách đối ngoại “hướng về phương Tây“ trong suốt thập niên 90 nên vị trí, vai trò của Nga ở Đông Á giảm sút đáng kể. Trong khi đó, Mỹ những năm đầu sau chiÕn tranh lạnh phải ưu tiên giải quyết những vấn đề trong nước nên buộc phải giảm bớt sự can dự ở bên ngoài, trong đó có Đông Á. Việc xuất hiện những “khoảng trống” quyền lực ở Đông Á do LB Nga giảm bớt sự hiện diện của mình và Mỹ giảm bớt sự can dự thËp niªn ®Çu sau chiÕn tranh l¹nh đã tạo điều kiện thuận lợi cho một số nước lớn trong khu vực vươn lên lấp “khoảng trống”, trong đó có Trung Quốc. Điều này nằm trong chiÕn l­îc tổng thể của Trung Quốc là tìm cách khẳng định vai trò, vị trí của một cường quốc thÕ giíi, trước hết là ở Đông Á – điều mà trong suốt thời kỳ chiÕn tranh lạnh Trung Quốc không thực hiện được. Bên cạnh những tiền đề khách quan thuận lợi, việc Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực kinh tÕ trong 3 thập niên tiến hành cải cách, mở cửa kể từ năm 1978 tạo ra những điều kiện chủ quan thuận lợi để Trung Quốc thực hiện mục tiêu này. Sự trỗi dậy của Trung Quốc xét về tiềm lực kinh tÕ, quân sự cũng như việc nước này triển khai chính sách đối ngoại nhằm mục tiêu mở rộng, t¨ng c­êng vai trò, vị trí ở Đông Á đã tác động không nhỏ đến tương quan lùc l­îng ở khu vực, làm thay đổi (ở các mức độ khác nhau) chính sách đối ngoại của các nước có liên quan, trước hết là của các nước lớn, cũng như đời sống quan hÖ quốc tế tại Đông Á. Việt Nam là một nước nằm ở khu vực Đông Á và đang triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trong đó có các nước lớn. Việc Trung Quốc đang triển khai chính sách đối ngoại theo hướng t¨ng c­êng vai trò, vị trí ở Đông Á có tác động lớn đến tình hình quốc tế tại khu vực, đồng thời cũng tác động nhất định đến chính sách đối ngoại của Việt Nam với những xu hướng thuận nghịch đan xen. Trong bối cảnh đó, tiến hành nghiªn cøu, tìm hiểu chính sách Đông Á của Trung Quốc hiện nay cũng như trong thập niên tới và ¶nh h­ëng của nó đến tình hình quốc tế tại khu vực là rất cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đề tài sẽ góp phần nhận thức đúng đắn mục tiêu chiÕn l­îc của chính sách Đông Á của Trung Quốc trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, một số xu hướng vận động, ph¸t triÓn của tương quan lùc l­îng ở khu vực trong thời gian tới dưới tác động của nhân tố Trung Quốc. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ nêu ra những luận chứng khoa häc và một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam để có thể tận dụng những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực dưới tác động của chính sách Đông Á của Trung Quốc hiện nay cũng như trong thập niên tới. Với lý do trên, chúng tôi chọn vÊn đề “Chính sách của Trung Quốc ®èi víi khu vùc §«ng ¸ hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đến Việt Nam” làm đề tài nghiªn cøu khoa häc cấp Bộ năm 2011. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Những năm gần đây, Đông Á nói chung, chính sách của các nước lớn, nhất là của Trung Quốc đối với Đông Á nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiªn cøu, các học giả trong và ngoài nước. Cho đến nay, nhiều công trình nghiªn cøu của tập thể và cá nhân có liên quan đến vấn đề này đã được xuất bản. Ngoài nước: Ở ngoài nước, các công trình nghiªn cøu về vị trí chiÕn l­îc của Đông Á cũng như chính sách của các nước lớn đối với khu vực này, đặc biệt là chính sách Đông Á của Trung Quốc, có nội dung tương đối phong phú và hình thức rất đa dạng, bao gồm các bài viết riêng lẻ, các sách chuyên khảo đến các kỷ yếu hội thảo... trong đó nổi lên những nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, những biến động của tình hình Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI: Trong nội dung này, các công trình công bố thời gian qua chủ yếu nêu ra vị trí, vai trò của khu vực Đông Á trong đời sống quan hÖ quốc tế trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Các công trình đều thống nhất khẳng định rằng, Đông Á ngày càng đóng vai trò đầu tàu của nền kinh tÕ thÕ giíi với sự ph¸t triÓn năng động của khu vực, sự hợp tác liên kết kinh tÕ với nhiều tầng nấc khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả cũng chứng minh rằng Đông Á vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp có thể dẫn đến mất ổn định chính trị. Đề cập về vấn đề này có cuốn “East Asian strategic review” 2002 (tác giả Tomoe Daigo, Marie Izuyama, Shigekatsu Kondo..., Nxb The National institute for defense studies, Tokyo, 2002) trình bày tổng quan về Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI, đồng thời nghiên cứu về vấn đề an ninh ở Đông Á và các nước trong khu vực: những vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Đông Nam Á, an ninh ở Đông Á và một số vấn đề liên quan đến Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản,.... Các t¸c giả cho rằng không thể phủ nhận sự ph¸t triÓn năng động của Đông Á song nơi đây còn tồn tại nhiều điểm nóng như vấn đề eo biển Đài Loan, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, các cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo ở một số nước trong khu vực, những tranh chấp biên giới, hải đảo giữa một số nước... Trong khi đó, Đông Á chưa hình thành một tổ chức an ninh khu vực có khả năng giải quyết những nguy cơ bất ổn định này. Thứ hai, Đông Á là khu vực đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn: Có thể nói, khá nhiều công trình của các học giả nước ngoài đề cập đến vấn đề này như “Sức mạnh về chiÕn l­îc trên biển của Trung Quốc” của John W. Levis và Xue Titai (2003); “Thời đại Trung Quốc” của Tống Thái Khánh (1999); “Quan hệ chiÕn l­îc Trung – Mỹ: từ bạn bè đến đối thủ cạnh tranh” (2001); “Trung Quốc và chiÕn l­îc chuỗi ngọc trai trên biển” (2010)… Các công trình này đều thống nhất ở những điểm sau: 1. Đông Á nói riêng, CATBD nói chung ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của thÕ giíi trong thế kỷ XXI. 2. Do sự đan xen giữa các mâu thuẫn, giữa các lợi ích, đặc biệt là giữa các nước lớn cho nên Đông Á ngày nay, bên cạnh xu thế chủ đạo là hòa bình và hợp tác, vẫn còn tồn tại những nhân tố có thể gây mất ổn định. 3. Đông Á chưa có một cơ chế an ninh tập thể nên Diễn đàn an ninh của ASEAN (ARF) đang thu hút sự quan tâm của các nước lớn. Do đó, ARF ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong đời sống Đông Á trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Thứ ba, Trung Quốc ngày càng mở rộng và t¨ng c­êng vai trò ¶nh h­ëng ở khu vực Đông Á: Trên cơ sở phân tích những nhân tố chủ quan và khách quan đòi hỏi Trung Quốc cần quan tâm đến Đông Á như tình hình của khu vực, nhu cầu của công cuộc cải cách, mở cửa... các tác giả nước ngoài như Regina Abrani với bài “Sự trỗi dậy của Trung Quốc và trách nhiệm với thÕ giíi – nhìn lại và đánh giá ” (Vietnam.net ngày 2322008); Điền Trung Thanh: “Hợp tác Đông Á và lợi ích chiÕn l­îc của Trung Quốc” (Tạp chí Châu Á – Thái Bình Dương đương đại (Tiếng Trung) số 52003); Khâu Đan Dương: “Hợp tác Đông Á và sự lựa chọn chiÕn l­îc của Trung Quốc” (Tạp chí Nghiên cứu vấn đề Trung Quốc (tiếng Trung) số 32005); Châu Khải Bình, Lý Bắc: “Chỉến lược Đông Á của các nước lớn và suy ngẫm về đối sách của Trung Quốc”, (Học báo Học viện chính trị Nam Kinh (tiếng Trung) số 42009)… Các tác giả này đều có chung nhận định: Trung Quốc cần t¨ng c­êng hơn nữa vai trò của mình ở khu vực Đông Á; Trong chính sách Đông Á của Trung Quốc hiện nay, hướng ưu tiên là Đông Nam Á theo phương châm “Nam trước, Bắc sau” xem đây là sự lựa chọn chiÕn l­îc trong chính sách của Trung Quốc ở Đông Á … Ngoài ra, còn nhiều công trình đáng chú ý khác đề cập đến chính sách của Trung Quốc ở Đông Á như: Cuốn “Trung Quốc Con Rồng lớn Châu Á” (tác giả Arne De Keijzer và Daniel Burstein, Nxb Từ điển Bách khoa, 2008) đề cập đến nhiều vấn đề và kiến giải ở nhiều cấp độ khác nhau về tình hình Trung Quốc, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Qua đó các tác giả đưa ra dự báo về một Trung Quốc nhanh chóng nổi trội thành một siêu cường theo mọi nghĩa: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, nghệ thuật... Cuốn “ASEAN China trade relations: 15 years of development and prospects” (Quan hệ thương mại ASEAN Trung Quốc: 15 năm phát triển và triển vọng của Li Wannan, John Wong, Lye Liang Fook.., Nxb Thế giới, 2008) tập hợp các bài tham luận trong hội thảo tập trung vào chủ đề mối quan hệ thương mại đa phương giữa Trung Quốc ASEAN và quan hệ giữa các nước thành viên ASEAN với Trung Quốc Cuốn “Sự phát triển của Trung Quốc không thể tách khỏi thế giới” (Sách tham khảo của Chu Thượng Văn và Trần Tích Hỷ; Nxb. Chính trị quốc gia, 1997) phân tích tình hình thế giới theo cách nhìn nhận và đánh giá của Trung Quốc, đồng thời trình bày có hệ thống các quan điểm về chiến lược đối ngoại của Trung Quốc hiện nay, trong đó có đề cập đến Đông Nam Á. Cuốn “Bàn về cạnh tranh toàn cầu” (Sách tham khảo của Bạch Thụ Cường, Nxb. Thông tấn, 2002) tổng kết các lý luận cạnh tranh trong toàn cầu hoá kinh tế và trình bày một số kinh nghiệm cạnh tranh thị trường trên thế giới và tình hình thực tiễn cạnh tranh của Trung Quốc hiện nay ở Đông Á; Bài “Chiến lược nước lớn hòa bình của Trung Quốc”của Vương Phàm, Viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao, Trung Quốc đăng trên “Tạp chí Đương đại” của Ban Liên lạc Đối ngoại Trung Quốc do Phạm Thị Lan Hương (Vụ Trung Quốc – Đông Bắc Á) dịch đăng trên trang web http:www.tuyengiao.vn; Bài phát biểu của giáo sư Thời Ân Hoằng, Viện Quan hệ quốc tế, Đại học nhân dân Trung Quốc về “Chính sách đối ngoại của Trung Quốc” năm 2008 tại Hội nghị nghiên cứu “Tình hình chiến lược quốc tế năm 2008 tổ chức tại Bắc Kinh đăng trên trang web http:www.mekongnet.ru; Bài “Đường lối ngoại giao của thế hệ lãnh đạo thứ 4 ở Trung Quốc” (Minh Châu (theo Asia Times), http:vietbao.vn, 19112003); Bài “Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng đối với CHDCND Lào” của tác giả Bertil Lintner, (Thông tin Những vấn đề chính trị xã hội, Trung tâm Thông tin khoa học, Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh, số 11, 32010); Bài “Trung Quốc đối phó với thách thức mới trong thúc đẩy phát triển hòa bình” của tác giả Mã Chấn Cương, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Trung Quốc, đăng trên Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đề quốc tế” số 1 2006, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 642006; Bài “Trung Quốc trỗi dậy và sự thay đổi của trật tự quốc tế” của tác giả Toàn Thánh Hưng, Giáo sư Đại học Giang Tây, đăng trên Tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại”, Trung Quốc, số 112005, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 242006; Tổng quan tình hình nghiªn cøu ngoài nước cho thấy: 1. Do tầm quan trọng của Đông Á trong đời sống quan hÖ quốc tế , cho nên khu vực này trước đây cũng như hiện nay luôn là địa bàn tranh giành ¶nh h­ëng của các nước lớn. 2. Tình hình thÕ giíi và Đông Á hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc t¨ng c­êng vai trò ¶nh h­ëng của mình ở khu vực. 3. Việc Trung Quốc triển khai chính sách nước lớn nhằm tăng cường vai trò, ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Á hiện nay đang tác động đến quan hÖ với các nước trong khu vực, trước hết là các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á với cả 2 mặt: tích cực lẫn tiêu cực. Trong nước: Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài nghiên cứu là khá phong phú với nhiều nội dung và cách tiếp cận khác nhau, cụ thể như sau: Thứ nhất, các công trình đề cập tổng thể về chính sách và hoạt động đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á. Các công trình này dành một dung lượng nhất định phân tích vai trò của Trung Quốc tại khu vực Đông Á và những chuyển biến cơ bản trong quan hệ của Trung Quốc với các nước trong khu vực. Đó là các công trình: Cuốn “Chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới” (Sách chuyên khảo của Phạm Minh Sơn chủ biên, Nxb Lý luận chính trị, 2008) cung cấp những nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản… Cuốn “Sự điều chỉnh chiến lược hợp tác khu vực Châu Á Thái Bình Dương(CATBD) trong bối cảnh quốc tế mới” (tác giả Nguyễn Xuân Thắng chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2004) đi sâu nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của khu vực CATBD, bối cảnh quốc tế mới (trên hai góc độ an ninh chính trị và kinh tế quốc tế) và những tác động của chúng đối với hợp tác khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đồng thời chỉ ra những xu hướng và triển vọng hợp tác kinh tế cơ bản ở khu vực trên các khía cạnh từ song phương đến đa phương. Cuốn sách cũng phân tích sự thay đổi vị trí địa chính trị kinh tế của Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, ASEAN trong khu vực và những điều chỉnh chiến lựơc hợp tác của các nước này. Cuốn “Quá trình mở cửa đối ngoại của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa” (tác giả Nguyễn Thế Tăng, Nxb Khoa học xã hội, 1997) đã trình bày bối cảnh ra đời, cơ sở lý luận, quá trình hình thành, thành tựu, vấn đề tồn tại, bài học kinh nghiệm và triển vọng của chính sách mở cửa trong đối ngoại của Trung Quốc. Cuốn “Những điểm nóng trên thế giới gần đây” (Đỗ Nhật Quang chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002) nêu lên thực trạng và một số diễn biến mới của tình hình thế giới năm 2002, tình hình Đông Nam Á, LB Nga, khu vực Trung Quốc Đông Bắc Á,… Cuốn “Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách mở cửa (1978 – 2008) của Lê Văn Mỹ chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội năm 2009 cung cấp một cái nhìn xuyên suốt về ngoại giao Trung Quốc từ cải cách, mở cửa đến nay. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết có liên quan đến vấn đề này như: Sự điều chỉnh chiến lược ngoại giao và quan hệ Mỹ Trung Nga sau sự kiện 1192001 (Lê Văn Mỹ, Tc Nghiên cứu Châu, Số 2, 2006); Những điều chỉnh trong chiến lược an ninh Đông Á của Trung quốc sau chiến tranh lạnh (Hiền Lương, Đỗ Thủy, Tc Nghiên cứu quốc tế, Số 1(64), 2006)... Thứ hai, các công trình phân tích quá trình hợp tác và liên kết ở khu vực, trong đó quan hệ Trung Quốc với các nước và các tổ chức trong khu vực được xem xét với mức độ khác nhau. Các công trình thuộc loại này rất lớn về số lượng như: Cuốn “Quan hệ Trung Quốc ASEAN Nhật Bản trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam” (tác giả Vũ Văn Hà chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2007) trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ Trung Quốc ASEAN Nhật Bản, tổng quan về quan hệ song phương và đa phương Trung Quốc ASEAN Nhật Bản và các tác động của quan hệ Trung Quốc ASEAN Nhật Bản đến Việt Nam Cuốn “Trung Quốc và ASEAN trong hội nhập: thử thánh mới, cơ hội mới” (tác giả Trần Quốc Hùng, Nxb. Trẻ, 2003) phân tích quá trình Trung Quốc gia nhập WTO cũng như việc tổ chức ASEAN tăng cường hợp tác theo chiều sâu nội khối và mở rộng hợp tác quốc tế trong xu thế hội nhập trên toàn thế giới, đồng thời chỉ ra những thử thách và cơ hội mới cho các nước này. Cuốn “Hiệp định thương mại tự do ASEAN+3 và tác động tới kinh tế thương mại Việt Nam” (tác giả Trần Văn Hóa chủ biên, Nxb Thế giới, 2006) đã trình bày tổng quát về các hiệp định thương mại tự do của ASEAN với các đối tác thương mại lớn khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ôxtrâylia và những tác động của nó đối với thương mại và đầu tư Việt Nam. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan đến vấn đề này được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Tam giác chiến lược Nga – Trung Ấn và những trở ngại trong việc hiện thực hóa ý tưởng trên (Phan Văn Rân, Tc Nghiên cứu Trung Quốc, số 12004. Quan hệ Nga Trung trong tam giác chiến lược Nga Trung Quốc ASEAN (Nguyễn Thanh Thuỷ, Tc Nghiên cứu Châu Âu, số 3, 2006); Quan hệ thương mại và đầu tư Trung Quốc – ASEAN vẫn trong xu thế gia tăng (Nguyễn Đình Long, Phạm Quang Diệu, Tạp chí Thương mại, Số 3, 2006); Chủ nghĩa khu vực và thực tiễn Đông Á (Đinh Thị Hiền Lương, Tc Nghiên cứu Quốc tế, Số 2(61), 2005); Tác động của sự phát triển quan hệ Trung Quốc ASEAN đối với khu vực Châu ÁThái Bình Dương hiện nay (Nguyễn Hoàng Giáp, Tc Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 1, 2005); Quan hệ ASEAN Trung Quốc trên lĩnh vực chính trị an ninh thời kỳ sau chiến tranh lạnh (Thái Văn Long, Tc Lý luận chính trị, Số 1, 2005); Xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do song phương ở Đông Á và hệ quả đối với khu vực (Bùi Trường Giang, Tc Nghiên cứu kinh tế, Số 1, 2005); Vấn đề văn hoá trong chủ nghĩa khu vực Đông Á (Hoàng Khắc Nam, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Số 1(55), 2005); Tìm hiểu về thực trạng an ninh khu vực Đông Á (Nguyễn Thanh Hiền, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Số 1(55), 2005); Hiệp định khung khu mậu dịch tự do Trung QuốcASEAN, bước phát triển mới của mối quan hệ Trung QuốcASEAN đầu thế kỷ XXI (Lê Văn Mỹ, Tc Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5, 2004); Ý nghĩa chính trị của khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc ASEAN (TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 342006); ASEAN : Những vấn đề và xu h¬ướng (Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb KHXH, HN 1997); Từ ASEAN 7 đến ASEAN 10: Một Đông Nam Á thống nhất và thách thức (Nguyễn Quốc Hùng, Nxb CTQG, HN 1998); Từ ASEAN 7 tới ASEAN 10 Cơ hội hay là thách thức (Nguyễn Thu Mỹ, Tc Nghiên cứu Đông Nam Á, số 31997); Tiến tới một ASEAN hoà bình, ổn định và phát triển bền vững (Nxb CTQG, HN 2001); Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hoá (Trần Khánh chủ biên, Nxb KHXH, HN 2002); Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI (Phạm Đức Thành chủ biên, Nxb KHXH, HN 2006)… Thứ ba, các công trình và bài viết về sự phát triển quan hệ của Trung Quốc với từng nước trong khu vực Đông Á. Đây là một hướng nghiên cứu khá đa dạng về hình thức, từ hội thảo khoa học đến bài viết và nhiều tác phẩm chuyên khảo, đồng thời cũng rất phong phú về nội dung, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị, an ninh đến kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật... Có thể nêu ra một số các công trình như: Quan hệ Trung Hàn kể từ sau khi bình thường hoá (Hoàng Minh Hằng, Tc Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á , Số 5, 2005); Vì sao gần đây nổ ra chống Nhật ở Trung Quốc và Hàn Quốc (Trịnh Trọng Nghĩa, Tc Nghiên cứu Đông Bắc Á, Số 4, 2006); Quan hệ Trung Nhật: thực trạng và triển vọng (TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 442006); Quan hệ TrungNga trong và sau chiến tranh lạnh (Phạm Thành Dung, Vũ Thuý Hà, Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 4, 2005; Quan hệ Trung Nga sau hơn 10 năm khôi phục (TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 442006); Malaixia Mắt xích trong chiến lược hướng Nam của Trung Quốc, (Những vấn đề chính trị xã hội, Trung tâm Thông tin khoa học, Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh, số 9, 32010); Quan hệ Trung Ấn: khó tránh khỏi cạnh tranh (TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 442006); Trung Quốc và Ấn Độ “bắt tay” cùng thúc đẩy “Thế kỷ châu Á” (Tạp chí “Cải cách và mở cửa”, Trung Quốc, số 1 2006, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 142006)... Nhìn chung, các công trình này đều cho rằng, bước sang thế kỷ XXI, các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc đang điều chỉnh chính sách đối với Đông Á theo hướng t¨ng c­êng vai trò ¶nh h­ëng và bảo vệ lợi ích của mình. Chính vì vậy, các điều chỉnh này đã và đang tác động rất lớn đến đời sống quan hÖ quốc tế tại khu vực nói chung, chính sách đối ngoại của các nước vừa và nhỏ trong khu vực nói riêng, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiªn cøu mang tính hệ thống, cập nhật về chính sách của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á trong 2 thập niên đầu thế kỷ XXI và ¶nh h­ëng của nó đến việc tập hợp lùc l­îng giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là vị trí của Việt Nam trong chính sách của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á. Để khắc phục khoảng trống này và thiết thực phục vụ cho nghiªn cøu và giảng dạy bộ môn Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam tại Học viện Chính trị Hành chính quèc gia Hồ Chí Minh, chúng tôi quyết định chọn đề tài này làm đề tài nghiªn cøu khoa häc cấp Bộ năm 2011. 3. Mục tiêu của đề tài: Đề tài đi sâu phân tích nguyên nhân, mục đích, chính sách của Trung Quốc ở Đông Á hiện nay, xu hướng vận động cũng như tác động của nó đến tình hình quốc tế tại khu vực trong thập niên tới. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ làm rõ tác động của chính sách của Trung Quốc ở Đông Á đối với Việt Nam xét trên cả 2 mặt tích cực và tiêu cực, từ đó đề xuất một số kiến nghị trong đối sách của Việt Nam trước tác động này. 4. Nội dung nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nêu trên, đề tài đặt ra và giải quyết các nội dung cơ bản sau đây: Làm rõ những tiền đề và điều kiện khách quan và chủ quan để Trung Quốc triển khai chính sách mở rộng và t¨ng c­êng vai trò ở Đông Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Qu¸ tr×nh triÓn Trung Quèc khai chÝnh s¸ch ®èi víi khu vùc Đông Á trong 10 n¨m ®Çu thÕ kû XXI Phân tích những tác động trực tiếp và gián tiếp của việc triển khai chính sách Đông Á của Trung Quốc đến quan hÖ quốc tế tại khu vực hiện nay và thập niên tới. Trên cơ sở những luận chứng khoa häc đề tài sẽ trình bày tác động của chính sách ở Đông Á của Trung Quốc đối với Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam trước những tác động của chính sách của Trung Quốc ở khu vực Đông Á. Với những nội dung cơ bản đã xác định, đề tài được cấu trúc làm 3 phần, cụ thể như sau: 1 Phần thứ nhất: Những nhân tố thóc ®Èy Trung Quèc triÓn khai chÝnh s¸ch ®èi ngo¹i cña mét c­êng quèc ë §«ng Á. 2 Phần thứ hai: Trung Quốc triển khai chính sách với các nước Đông Á trong thập niên ®Çu thÕ kû XXI 3 Phần thứ ba: Việt Nam tr­íc tác động của chính sách ë khu vùc Đông Á của Trung Quốc. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận Mác – Lênin; t­ t­ëng của Lênin về hòa bình và cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau; t­ t­ëng Hồ Chí Minh về mối quan hÖ giữa các dân tộc và quốc tế. Đề tài cũng dựa vào các quan điểm đánh giá về tình hình thÕ giíi và khu vực Đông Á của ĐCS Việt Nam thể hiện trong các Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI và Nghị quyết Hội nghị TW III, khóa VII của Đảng, xem đây là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận, những định hướng t­ t­ëng và khoa häc để thực hiện đề tài. Đề tài nghiên cứu thuộc vấn đề lịch sử , lý luận quan hÖ quốc tế , vì vậy phương pháp nghiên cứu của đề tài trước hết là phương pháp lịch sử, phương pháp lô gích vµ ph­¬ng ph¸p nghiªn cøu quan hÖ quèc tÕ. Trong quá trình nghiên cứu, c¸c phương pháp này được sử dụng chủ yếu và kết hợp chÆt chÏ với nhau. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như phương pháp phân tích vµ tæng hîp, thống kê, đối chiếu vµ so sánh, khái quát hóa… 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài: Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây: Làm rõ thực chất chính sách Đông Á của Trung Quốc hiện nay và dự báo trong thập niên tới dưới góc độ là một cường quốc đang trỗi dậy. Làm rõ những tác động đa chiều của chính sách Đông Á của Trung Quốc trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI đến so sánh lùc l­îng và quan hÖ quốc tế tại khu vực, trong đó có Việt Nam. Góp phần bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhận thức và nghiên cứu về quan hÖ quốc tế nói chung, chính sách đối ngoại của một nước lớn là Trung Quốc nói riêng trong quá trình hình thành trật tự thÕ giíi mới sau chiÕn tranh lạnh. Góp phần cung cấp những luận cứ khoa häc và thực tiễn để làm rõ quan điểm của Đảng về một trong những đặc điểm trong giai đoạn hiện nay của thời đại là “quan hÖ giữa các nước lớn – nhân tố quan trọng tác động đến sự ph¸t triÓn của thÕ giíi”, đồng thời cũng cung cấp những cơ sở giúp Đảng và Nhà nước ta đề ra chính sách đối ngoại phù hợp nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hÖ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những cán bộ hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại, cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Quan hệ quốc tế. Với ý nghĩa trên, sau khi được nghiệm thu, đề tài sẽ là nguồn tư liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu bộ môn Quan hệ quốc tế tại hệ thống Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. PHẦN THỨ NHẤT NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY TRUNG QUỐC TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỘT CƯỜNG QUỐC Ở ĐÔNG Á 1.1 Những nhân tố khách quan 1.1.1. Vị trí quốc tế ngày càng tăng của khu vực Đông Á là vùng đất chạy dài từ Bắc xuống Nam, nằm ở rìa phía Đông của lục địa châu Á với hai phần Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Khu vực rộng lớn này bao gồm 16 quốc gia (5 quốc gia Đông Bắc Á là Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và 11 quốc gia Đông Nam Á là (Brunây, Campuchia, Đông Timo, Lào, Myanma, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam, Xinhgapo), nhưng lại rất chênh lệch về diện tích, dân số, nhất là trình độ phát triển kinh tế cũng như khác nhau về chế độ chính trị, bản sắc văn hóa và tôn giáo. Đông Á cũng là khu vực có nhiều cường quốc hàng đầu thế giới, đồng thời là nơi có vị thế địa chiến lược quan trọng của thế giới. Nó là hành lang, là cầu nối, án ngữ ngã ba chiến lược giao thông trên biển lẫn trên bộ giữa phương Đông với phương Tây và ngược lại. Chính vì vậy từ nửa sau thế kỷ XIX phần lớn các nước Đông Á là đối tượng bị xâm lược, thôn tính của các nước thực dân đế quốc châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, kể từ nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt là sau chiến tranh lạnh đến nay, Đông Á trở thành khu vực phát triển năng động, góp phần vào sự phát triển chung của thế giới. Cùng với vị thế quốc tế ngày càng tăng, Đông Á cũng là nơi diễn ra sự tranh giành ảnh hưởng một cách quyết liệt giữa các nước lớn. Những biến đổi sâu sắc của môi trường địa – chính trị và địa – kinh tế tại Đông Á kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đã mở ra một không gian phát triển mới cho khu vực và tạo nên vị thế mới của Đông Á trong quan hệ quốc tế. Vai trò của Đông Á trong quan hệ quốc tế ngày càng quan trọng hơn xét trên cả hai phương diện: chính trị an ninh và kinh tế, cụ thể như sau: Trên phương diện chính trị an ninh Thứ nhất, vị thế chính trị ngày càng tăng của Đông Á trong quan hệ quốc tế thể hiện ở vai trò chính trị ngày càng tăng của các chủ thể chính trị trong khu vực, mà trước hết phải kể đến là Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và ASEAN Trung Quốc: Trung Quốc là nước có vai trò quan trọng đối với sự ổn định về an ninh chính trị và kinh tế của khu vực. Trong suốt hai thập kỷ qua, Trung Quốc được cả thế giới biết tới bởi những kỳ tích trong phát triển kinh tế và những tham vọng quyền lực to lớn về chính trị ở khu vực và trên toàn cầu. Sự gia tăng sức mạnh về kinh tế và trên mức độ nhất định cả ảnh hưởng về chính trị, văn hóa của Trung Quốc làm gia tăng vị thế của Trung Quốc nói riêng và của khu vực Đông Á nói chung trong quan hệ quốc tế. Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở châu Á năm 1997 và nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2008 càng làm nổi bật tiềm lực kinh tế và vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế. Trung Quốc trở thành một nhân tố quan trọng cơ bản giúp duy trì sự ổn định kinh tế khu vực và thế giới. Trung Quốc ngày nay đã thực sự trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng nể của Mỹ ở khu vực Đông Á nói riêng và trên trường quốc tế nói chung. Tiếng nói của nước này trên các diễn đàn quốc tế dường như càng ngày càng gia tăng uy lực, trở nên cứng rắn hơn trong quan hệ với Mỹ và phương Tây. Tại Hội nghị an ninh Munich (22010), lần đầu tiên trong nhiều thập niên qua, Trung Quốc công khai nói về sự lớn mạnh của họ và đòi chia sẻ trách nhiệm lớn hơn trên trường quốc tế . Nhật Bản: Sự phồn vinh của Đông Á có đóng góp không nhỏ từ phía Nhật Bản một cường quốc kinh tế thế giới và đang tìm kiếm vai trò chính trị tương xứng của mình. Từ sau chiến tranh lạnh, chính sách đối ngoại của Nhật Bản có những điều chỉnh mang tính bước ngoặt theo hướng tăng cường tính độc lập, chủ động và tích cực hơn trong quan hệ với Mỹ nhằm vươn lên thành cường quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế, phát huy vai trò và ảnh hưởng trên thế giới nói chung và ở khu vực Đông Á nói riêng. Nhật Bản nỗ lực thoát khỏi vị thế chính trị của một quốc gia bại trận, tìm kiếm cơ hội để được hưởng quyền lợi chính trị như một quốc gia bình thường trên trường quốc tế, mà trước hết là ở Liên Hợp quốc (LHQ). Sau nhiều cố gắng không mệt mỏi của Nhật Bản, ngày 11121995, với 155 phiếu thuận và 3 phiếu chống, Đại hội đồng LHQ đã thông qua nghị quyết xóa bỏ “điều khoản nước thù địch” trong bản Hiến chương LHQ, mở đường cho Nhật Bản có quyền đề nghị tham gia Hội đồng Bảo an. Tiếp đó Nhật Bản tăng cường mở rộng ảnh hưởng tại tổ chức này. Thông qua những đóng góp to lớn về tài chính và nhân lực cho LHQ, một mặt, Nhật Bản tăng cường vị thế của mình tại tổ chức quốc tế số một này; mặt khác, Nhật Bản tìm cách giải thoát mình khỏi những ràng buộc về quân đội, quốc phòng của quốc gia bại trận sau chiến tranh. Tháng 61992, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua “Luật hợp tác duy trì hòa bình Liên Hợp quốc” trong đó quy định Nhật Bản có thể phái lực lượng ra nước ngoài tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình mà không cần phải sửa đổi Hiến pháp. Các nỗ lực này cho thấy, Nhật Bản đang cố gắng để sớm trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và có tiếng nói trong cơ cấu quyền lực này. Nhật Bản còn sử dụng viện trợ phát triển chính thức (ODA) như là một công cụ đối ngoại trong chiến lược ngoại giao tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu trở thành một cường quốc không chỉ kinh tế mà cả chính trị của mình. Điều này được thể hiện rõ qua tuyên bố ngày 1912006 của Ngoại trưởng Nhật Bản Aso: “Xét cho cùng, ODA của Nhật Bản cần phải phục vụ lợi ích của Nhật Bản, nhằm nâng cao hình ảnh của Nhật Bản trên thế giới” . Ở Đông Á, đặc biệt là Đông Nam Á, Nhật Bản tích cực tận dụng các kênh song phương và đa phương sẵn có, sử dụng công cụ ODA, vốn đầu tư,… để tranh thủ sự ủng hộ của các nước này. Cùng với mậu dịch, ODA và FDI của Nhật đã tạo ra một sự gắn bó mật thiết giữa Nhật với ASEAN trong mấy thập kỷ qua. Mặc dù vẫn lấy quan hệ Nhật Mỹ làm nền tảng chính sách đối ngoại, song gần đây Nhật Bản tăng cường chiến lược Trở lại châu Á, phát huy vai trò người đại diện cho châu Á trong G7, lấy châu Á làm bàn đạp để từng bước đưa Nhật Bản trở thành cường quốc về chính trị; thúc đẩy cải cách LHQ, thực hiện mục tiêu trở thành thành viên thường trực HĐBALHQ thông qua các đề nghị, các đóng góp cụ thể trong các lĩnh vực an ninh, kinh tế và các vấn đề toàn cầu. Tuy còn đứng trước một số khó khăn nhất định, song nhìn toàn cục, vai trò quốc tế của Nhật Bản đã được cải thiện hơn; vị thế của Nhật Bản đã được coi trọng hơn trong một số tổ chức quốc tế và khu vực như WTO, APEC, ARF, ASEM, UNHCR, G7, Ủy ban sông Mê Kông, ADB, ... Dư luận chung tỏ sự đồng tình với việc Nhật Bản cần có vai trò to lớn hơn trong quan hệ quốc tế, đặc biệt trong những vấn đề kinh tế và các vấn đề toàn cầu. LB Nga: Nước Nga thời Tổng thống Putin bắt đầu hồi sinh khá nhanh sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự và lần đầu tiên khẳng định mục tiêu khôi phục lại vai trò của một cường quốc trong lợi thế đặc thù lưỡng thể Âu – Á. LB Nga hiện nay chưa phải là vai diễn có vai trò như Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản trên sân khấu quyền lực khu vực, ảnh hưởng kinh tế còn hạn chế. Tuy nhiên, với tư cách là một cường quốc thì mọi sự dàn xếp an ninh chiến lược tại Đông Á, đặc biệt ở Đông Bắc Á, đều bất thành nếu không có sự tham dự của Nga. Nga rõ ràng đang chiếm nhiều ưu thế về sức mạnh quân sự và ảnh hưởng an ninh, không thua kém bất kỳ chủ thể cạnh tranh quyền lực nào trên tầng bậc thứ nhất (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản); đồng thời cũng không thể xem thường một số lợi thế kinh tế của Nga, nhất là tài nguyên và năng lượng. Hàn Quốc: Hàn Quốc do tiếp tục giữ được kỳ tích sông Hàn đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ 9 thế giới và lớn thứ 4 châu Á, với hệ thống kinh doanh phát triển sâu rộng trong khu vực. Thêm vào đó, Hàn Quốc lại nằm ở tâm điểm của một điểm nóng an ninh phức tạp nhất là vấn đề bán đảo Triều Tiên, cho nên Hàn Quốc có sức nặng tạo sự chuyển biến tình thế rõ nét trong cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung và Trung – Nhật, đồng thời có ý nghĩa thiết thực đối với Nga, Ấn Độ, EU và Ôxtrâylia trên con đường tăng cường ảnh hưởng tại Đông Á. ASEAN: ASEAN cũng là một thực thể có vai trò ngày càng tăng ở khu vực Đông Á và trên thế giới. Trong nội bộ khu vực Đông Á nổi bật lên mối quan hệ tam giác Nhật Bản Trung Quốc – ASEAN. Tuy là một tổ chức bao gồm những nước vừa và nhỏ và phần lớn là các nước đang phát triển nhưng trước mắt ASEAN đang có lợi thế là cả Trung Quốc và Nhật Bản đều muốn tranh thủ. Mặt khác, tuy sức mạnh kinh tế, quân sự không thể sánh với các nước lớn, vả lại tính thống nhất không cao do cơ chế hợp tác còn lỏng lẻo, song ASEAN lại là địa bàn chiến lược mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tất cả các nước lớn có tham vọng quyền lực ở Đông Á. Ngày nay ASEAN đang đẩy nhanh quá trình liên kết và hội nhập kinh tế, với ưu tiên hàng đầu là thực thi đầy đủ cam kết và chương trình hợp tác kinh tế nội khối, hướng tới mục tiêu thành lập Cộng đồng ASEAN (AC) vào năm 2015 trên cơ sở Hiến chương chung. Do đó, đối với các nước lớn, việc tranh thủ, lôi kéo được ASEAN, tạo thế đứng vững trên sân chơi chiến lược Đông Nam Á, có tác dụng hỗ trợ, cộng hưởng lớn ảnh hưởng ở Đông Á, CATBD và cả thế giới. Từ góc nhìn này cho thấy, mặc dù ASEAN không trực diện cạnh tranh quyền lực với các nước lớn, nhưng bản thân nó lại là một chủ thể có quyền lực đáng kể ở Đông Á, do tầm quan trọng địa – chính trị, địa – chiến lược và nhất là cách thức mà ASEAN tương tác vào cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại đây. Vai trò toàn cầu của Đông Á còn được thể hiện qua sự tham gia của các quốc gia Đông Á với tư cách là các nước thành viên tại các cơ chế quốc tế như LHQ, G20, WTO v.v... Đặc biệt, với 4 thành viên và đại diện ASEAN tại G20, Đông Á có khả năng đóng góp tích cực và đáng kể cho việc kiến tạo một cấu trúc mới hiệu quả hơn, dân chủ hơn cho nền quản trị toàn cầu. Thứ hai, ở cấp độ khu vực, vị trí của Đông Á trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh còn thể hiện ở quá trình hợp tác tại khu vực diễn ra nhanh chóng và khá hiệu quả. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, lợi ích của khu vực luôn được thể hiện bằng việc cung cấp, đảm bảo và mở rộng lợi ích cho các nước trong khu vực. Hợp tác khu vực luôn thể hiện thành một «sức mạnh lực lượng tập thể », một mặt nó thúc đẩy sự cân bằng lợi ích trong quá trình toàn cầu hóa, mặt khác nó mang lại lợi ích cho từng nước trong khu vực nói riêng và cho toàn khu vực nói chung trong quan hệ quốc tế. Diễn đàn hợp tác kinh tế CATBD (APEC) sau khi được thành lập, đã thu nạp hầu hết các nước Đông Á vào phạm vi hợp tác và đang từng bước thể chế hoá qua các cuộc hội nghị thượng đỉnh hàng năm cũng như các hội nghị chuyên đề ở cấp bộ trưởng và chuyên viên. Đây là một cơ sở để các quốc gia trong khu vực xây dựng mối quan hệ trên khung khổ pháp luật và các quy phạm quốc tế, và điều này có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của khu vực. Những khác biệt về hệ tư tưởng cùng những áp lực từ bên ngoài không làm đảo ngược được tiến trình mở rộng ASEAN. Đối với ASEAN, sách lược chủ yếu là tập trung phát triển kinh tế, tăng cường hơn nữa tiến trình liên kết ASEAN, tiếp tục phát huy vai trò trong tiến trình liên kết Đông Á, cân bằng quan hệ với các nước lớn trong khu vực và trên thế giới. Các diễn đàn như ARF, 10+3 cùng sáng kiến thành lập quĩ tiền tệ châu Á (cho dù sáng kiến này chưa thành hiện thực) thể hiện rõ những bước phát triển mới trong hợp tác đa phương ở khu vực. Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) được tổ chức do sự đề xuất của ASEAN và ASEAN giữ vị trí chủ đạo. Ấn Độ, Ôxtrâylia và Niu Dilân là 3 nước ngoài khu vực cũng trở thành nước thành viên của EAS là một trong những biện pháp để ASEAN thực hiện chiến lược cân bằng nước lớn, kiềm chế sự chi phối của bất kỳ một nước lớn nào trong tổ chức khu vực. Thứ ba, vị trí của Đông Á trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh còn được thể hiện ở sự tương tác lẫn nhau giữa các thực thể chính yếu trên “bàn cờ quyền lực” khu vực, đó là các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, cùng với ảnh hưởng rất quan trọng của Nga, Ấn Độ, ASEAN và trên mức độ nhất định cả vai trò của Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Ôxtrâylia. Thời kỳ chiến tranh lạnh, tuy chịu sự chi phối của cuộc đối đầu Đông Tây và trật tự thế giới hai cực, nhưng ở Đông Á đã xuất hiện một trật tự khá đặc thù với sự ngự trị của tam giác chiến lược Xô Mỹ Trung. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự cũ đã thay đổi, song ở Đông Á một số di sản của thời kỳ đối đầu vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt (vấn đề Bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan, tranh chấp lãnh thổ Nga – Nhật, quan hệ có lúc căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản chung quanh vấn đề lịch sử …). Đây vừa là những nhân tố tiềm ẩn nguy cơ đối với sự ổn định của môi trường địa – chính trị và an ninh Đông Á, vừa là nét đặc thù chi phối sự hình thành trật tự khu vực sau chiến tranh lạnh. Bước sang thế kỷ XXI, cục diện thế giới và Đông Á chuyển biến rất nhanh chóng do sự bùng nổ một loạt sự kiện và vấn đề lớn, mà tầm cấp ảnh hưởng của chúng buộc tất cả các quốc gia đều phải điều chỉnh cách hành xử cả trong đối nội lẫn đối ngoại. Môi trường địa – chính trị và cán cân lực lượng trên thế giới nói chung, ở Đông Á nói riêng đã thay đổi một cách cơ bản dưới tác động của chuỗi sự kiện: từ cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ, hai cuộc chiến do Mỹ phát động tại Ápganixtan và Irắc, đến sự tăng tiến bất thường giá dầu lửa và đặc biệt là cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008. Cạnh tranh địa – chính trị chiến lược và quyền lực giữa các nước lớn càng trở nên quyết liệt, đi vào chiều sâu trong bối cảnh các vấn đề như khủng bố quốc tế, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu… nổi lên thành chương trình nghị sự mang tính toàn cầu.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Là khu vực rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nền kinh tÕph¸t triÓn năng động hàng đầu thế giới, có vị trí chiến lược quan trọng,đồng thời cũng là nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại, Đông Á kể từsau chiÕn tranh thÕ giíi thứ hai luôn là địa bàn thu hút sự quan tâm của cácnước lớn Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, do sự chi phối của trật

tự thÕ giíi hai cực, Đông Á về cơ bản là nơi tranh giành ¶nh hëng giữa haisiêu cường Liên Xô và Mỹ

Sau khi Liên Xô tan rã, chiÕn tranh lạnh kết thúc, Mỹ với tư cách làsiêu cường duy nhất, có điều kiện thuận lợi để củng cố và t¨ng cêng vị trícủa mình ở Đông Á Tuy nhiên, những thay đổi trong so sánh lùc lîng ởĐông Á thập niên đầu sau chiÕn tranh lạnh diễn ra ngoài sự mong đợi của

Mỹ Liên bang Nga (LB Nga) tuy được cộng đồng thÕ giíi công nhận là

nước kế thừa vị trí của Liên Xô trên trường quốc tế nhưng do những khó

khăn ở trong nước và chính sách đối ngoại “hướng về phương Tây“ trongsuốt thập niên 90 nên vị trí, vai trò của Nga ở Đông Á giảm sút đáng kể.Trong khi đó, Mỹ những năm đầu sau chiÕn tranh lạnh phải ưu tiên giảiquyết những vấn đề trong nước nên buộc phải giảm bớt sự can dự ở bênngoài, trong đó có Đông Á Việc xuất hiện những “khoảng trống” quyềnlực ở Đông Á do LB Nga giảm bớt sự hiện diện của mình và Mỹ giảm bớt

sự can dự thËp niªn ®Çu sau chiÕn tranh l¹nh đã tạo điều kiện thuận lợi chomột số nước lớn trong khu vực vươn lên lấp “khoảng trống”, trong đó cóTrung Quốc Điều này nằm trong chiÕn lîc tổng thể của Trung Quốc là tìmcách khẳng định vai trò, vị trí của một cường quốc thÕ giíi, trước hết là ởĐông Á – điều mà trong suốt thời kỳ chiÕn tranh lạnh Trung Quốc khôngthực hiện được Bên cạnh những tiền đề khách quan thuận lợi, việc TrungQuốc đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực kinh tÕ trong 3thập niên tiến hành cải cách, mở cửa kể từ năm 1978 tạo ra những điều kiệnchủ quan thuận lợi để Trung Quốc thực hiện mục tiêu này Sự trỗi dậy củaTrung Quốc xét về tiềm lực kinh tÕ, quân sự cũng như việc nước này triểnkhai chính sách đối ngoại nhằm mục tiêu mở rộng, t¨ng cêng vai trò, vị trí ởĐông Á đã tác động không nhỏ đến tương quan lùc lîng ở khu vực, làm

Trang 2

thay đổi (ở cỏc mức độ khỏc nhau) chớnh sỏch đối ngoại của cỏc nước cúliờn quan, trước hết là của cỏc nước lớn, cũng như đời sống quan hệ quốc tếtại Đụng Á.

Việt Nam là một nước nằm ở khu vực Đụng Á và đang triển khaichớnh sỏch đối ngoại rộng mở, đa phương húa, đa dạng húa với tất cả cỏcnước trong cộng đồng quốc tế, trong đú cú cỏc nước lớn Việc Trung Quốcđang triển khai chớnh sỏch đối ngoại theo hướng tăng cờng vai trũ, vị trớ ở

Đụng Á cú tỏc động lớn đến tỡnh hỡnh quốc tế tại khu vực, đồng thời cũng

tỏc động nhất định đến chớnh sỏch đối ngoại của Việt Nam với những xuhướng thuận nghịch đan xen

Trong bối cảnh đú, tiến hành nghiên cứu, tỡm hiểu chớnh sỏch Đụng

Á của Trung Quốc hiện nay cũng như trong thập niờn tới và ảnh hởng của

nú đến tỡnh hỡnh quốc tế tại khu vực là rất cần thiết, cú ý nghĩa cả về lý

luận lẫn thực tiễn Đề tài sẽ gúp phần nhận thức đỳng đắn mục tiờu chiến

l-ợc của chớnh sỏch Đụng Á của Trung Quốc trong hai thập niờn đầu thế kỷXXI, một số xu hướng vận động, phát triển của tương quan lực lợng ở khuvực trong thời gian tới dưới tỏc động của nhõn tố Trung Quốc Trờn cơ sở

đú, đề tài sẽ nờu ra những luận chứng khoa học và một số kiến nghị về đốisỏch của Việt Nam để cú thể tận dụng những mặt tớch cực, hạn chế nhữngmặt tiờu cực dưới tỏc động của chớnh sỏch Đụng Á của Trung Quốc hiệnnay cũng như trong thập niờn tới Với lý do trờn, chỳng tụi chọn vấn đề

“Chớnh sỏch của Trung Quốc đối với khu vực Đông á hai thập niờn đầu thế kỷ XXI và tỏc động đến Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Bộ năm 2011

2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài:

Những năm gần đõy, Đụng Á núi chung, chớnh sỏch của cỏc nướclớn, nhất là của Trung Quốc đối với Đụng Á núi riờng là đề tài thu hỳt sựquan tõm của nhiều nhà nghiên cứu, cỏc học giả trong và ngoài nước Chođến nay, nhiều cụng trỡnh nghiên cứu của tập thể và cỏ nhõn cú liờn quanđến vấn đề này đó được xuất bản

* Ngoài nước:

Ở ngoài nước, cỏc cụng trỡnh nghiên cứu về vị trớ chiến lợc của Đụng

Á cũng như chớnh sỏch của cỏc nước lớn đối với khu vực này, đặc biệt làchớnh sỏch Đụng Á của Trung Quốc, cú nội dung tương đối phong phỳ và

Trang 3

hình thức rất đa dạng, bao gồm các bài viết riêng lẻ, các sách chuyên khảo

đến các kỷ yếu hội thảo trong đó nổi lên những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, những biến động của tình hình Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI:

Trong nội dung này, các công trình công bố thời gian qua chủ yếunêu ra vị trí, vai trò của khu vực Đông Á trong đời sống quan hÖ quốc tếtrong thập niên đầu thế kỷ XXI Các công trình đều thống nhất khẳng địnhrằng, Đông Á ngày càng đóng vai trò đầu tàu của nền kinh tÕ thÕ giíi với

sự ph¸t triÓn năng động của khu vực, sự hợp tác liên kết kinh tÕ với nhiềutầng nấc khác nhau Tuy nhiên, các tác giả cũng chứng minh rằng Đông Ávẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp có thể dẫn đến mất ổn định chính trị

Đề cập về vấn đề này có cuốn “East Asian strategic review” 2002 (tác giả

Tomoe Daigo, Marie Izuyama, Shigekatsu Kondo , Nxb The Nationalinstitute for defense studies, Tokyo, 2002) trình bày tổng quan về ĐôngNam Á thập niên đầu thế kỷ XXI, đồng thời nghiên cứu về vấn đề an ninh

ở Đông Á và các nước trong khu vực: những vấn đề tranh chấp lãnh thổ ởĐông Nam Á, an ninh ở Đông Á và một số vấn đề liên quan đến Hàn Quốc,Trung Quốc, Nga, Nhật Bản,

Các t¸c giả cho rằng không thể phủ nhận sự ph¸t triÓn năng động củaĐông Á song nơi đây còn tồn tại nhiều điểm nóng như vấn đề eo biển ĐàiLoan, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, các cuộc xung đột dân tộc,tôn giáo ở một số nước trong khu vực, những tranh chấp biên giới, hải đảogiữa một số nước Trong khi đó, Đông Á chưa hình thành một tổ chức anninh khu vực có khả năng giải quyết những nguy cơ bất ổn định này

Thứ hai, Đông Á là khu vực đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn:

Có thể nói, khá nhiều công trình của các học giả nước ngoài đề cập

đến vấn đề này như “Sức mạnh về chiÕn lîc trên biển của Trung Quốc” của John W Levis và Xue Titai (2003); “Thời đại Trung Quốc” của Tống Thái Khánh (1999); “Quan hệ chiÕn lîc Trung – Mỹ: từ bạn bè đến đối thủ cạnh tranh” (2001); “Trung Quốc và chiÕn lîc chuỗi ngọc trai trên biển”

(2010)… Các công trình này đều thống nhất ở những điểm sau:

1 Đông Á nói riêng, CA-TBD nói chung ngày càng đóng vai tròquan trọng trong mọi lĩnh vực của thÕ giíi trong thế kỷ XXI

Trang 4

2 Do sự đan xen giữa các mâu thuẫn, giữa các lợi ích, đặc biệt làgiữa các nước lớn cho nên Đông Á ngày nay, bên cạnh xu thế chủ đạo làhòa bình và hợp tác, vẫn còn tồn tại những nhân tố có thể gây mất ổn định.

3 Đông Á chưa có một cơ chế an ninh tập thể nên Diễn đàn an ninhcủa ASEAN (ARF) đang thu hút sự quan tâm của các nước lớn Do đó,ARF ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong đời sống Đông Á trongnhững thập niên đầu thế kỷ XXI

Thứ ba, Trung Quốc ngày càng mở rộng và t¨ng cêng vai trò ¶nh ëng ở khu vực Đông Á:

h-Trên cơ sở phân tích những nhân tố chủ quan và khách quan đòi hỏiTrung Quốc cần quan tâm đến Đông Á như tình hình của khu vực, nhu cầucủa công cuộc cải cách, mở cửa các tác giả nước ngoài như Regina Abrani

với bài “Sự trỗi dậy của Trung Quốc và trách nhiệm với thÕ giíi – nhìn lại và đánh giá ” (Vietnam.net ngày 23/2/2008); Điền Trung Thanh: “Hợp tác Đông Á và lợi ích chiÕn lîc của Trung Quốc” (Tạp chí Châu Á – Thái Bình Dương đương đại (Tiếng Trung) số 5/2003); Khâu Đan Dương: “Hợp tác Đông

Á và sự lựa chọn chiÕn lîc của Trung Quốc” (Tạp chí Nghiên cứu vấn đề Trung Quốc (tiếng Trung) số 3/2005); Châu Khải Bình, Lý Bắc: “Chỉến lược Đông Á của các nước lớn và suy ngẫm về đối sách của Trung Quốc”, (Học báo Học viện

chính trị Nam Kinh (tiếng Trung) số 4/2009)… Các tác giả này đều có chungnhận định: Trung Quốc cần t¨ng cêng hơn nữa vai trò của mình ở khu vực ĐôngÁ; Trong chính sách Đông Á của Trung Quốc hiện nay, hướng ưu tiên là ĐôngNam Á theo phương châm “Nam trước, Bắc sau” xem đây là sự lựa chọn chiÕnlîc trong chính sách của Trung Quốc ở Đông Á …

Ngoài ra, còn nhiều công trình đáng chú ý khác đề cập đến chínhsách của Trung Quốc ở Đông Á như:

Cuốn “Trung Quốc - Con Rồng lớn Châu Á” (tác giả Arne De

Keijzer và Daniel Burstein, Nxb Từ điển Bách khoa, 2008) đề cập đếnnhiều vấn đề và kiến giải ở nhiều cấp độ khác nhau về tình hình TrungQuốc, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai Qua đó các tác giả đưa ra dựbáo về một Trung Quốc nhanh chóng nổi trội thành một siêu cường theomọi nghĩa: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, nghệ thuật

Trang 5

Cuốn “ASEAN - China trade relations: 15 years of development and prospects” (Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc: 15 năm phát triển

và triển vọng của Li Wannan, John Wong, Lye Liang Fook , Nxb Thế giới,2008) tập hợp các bài tham luận trong hội thảo tập trung vào chủ đề mốiquan hệ thương mại đa phương giữa Trung Quốc - ASEAN và quan hệgiữa các nước thành viên ASEAN với Trung Quốc

Cuốn “Sự phát triển của Trung Quốc không thể tách khỏi thế giới” (Sách tham khảo của Chu Thượng Văn và Trần Tích Hỷ; Nxb Chính trị

quốc gia, 1997) phân tích tình hình thế giới theo cách nhìn nhận và đánhgiá của Trung Quốc, đồng thời trình bày có hệ thống các quan điểm vềchiến lược đối ngoại của Trung Quốc hiện nay, trong đó có đề cập đếnĐông Nam Á

Cuốn “Bàn về cạnh tranh toàn cầu” (Sách tham khảo của Bạch Thụ

Cường, Nxb Thông tấn, 2002) tổng kết các lý luận cạnh tranh trong toàn cầuhoá kinh tế và trình bày một số kinh nghiệm cạnh tranh thị trường trên thế giới

và tình hình thực tiễn cạnh tranh của Trung Quốc hiện nay ở Đông Á; Bài

“Chiến lược nước lớn hòa bình của Trung Quốc”của Vương Phàm, Viện

trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao, Trung Quốcđăng trên “Tạp chí Đương đại” của Ban Liên lạc - Đối ngoại Trung Quốc

do Phạm Thị Lan Hương (Vụ Trung Quốc – Đông Bắc Á) dịch đăng trêntrang web http://www.tuyengiao.vn; Bài phát biểu của giáo sư Thời Ân

Hoằng, Viện Quan hệ quốc tế, Đại học nhân dân Trung Quốc về “Chính sách đối ngoại của Trung Quốc” năm 2008 tại Hội nghị nghiên cứu “Tình

hình chiến lược quốc tế năm 2008" tổ chức tại Bắc Kinh đăng trên trangweb http://www.mekongnet.ru; Bài “Đường lối ngoại giao của thế hệ lãnh

đạo thứ 4 ở Trung Quốc” (Minh Châu (theo Asia Times), http://vietbao.vn, 19/11/2003); Bài “Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng đối với CHDCND Lào”

của tác giả Bertil Lintner, (Thông tin Những vấn đề chính trị - xã hội, Trungtâm Thông tin khoa học, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh, số 11, 3-2010);

Bài “Trung Quốc đối phó với thách thức mới trong thúc đẩy phát triển hòa bình” của tác giả Mã Chấn Cương, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu các

vấn đề quốc tế của Trung Quốc, đăng trên Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đềquốc tế” số 1/ 2006, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 6/4/2006; Bài

“Trung Quốc trỗi dậy và sự thay đổi của trật tự quốc tế” của tác giả Toàn

Thánh Hưng, Giáo sư Đại học Giang Tây, đăng trên Tạp chí “Quan hệ quốc

Trang 6

tế hiện đại”, Trung Quốc, số 11/2005, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày2/4/2006;

Tổng quan tình hình nghiªn cøu ngoài nước cho thấy:

1 Do tầm quan trọng của Đông Á trong đời sống quan hÖ quốc tế ,

cho nên khu vực này trước đây cũng như hiện nay luôn là địa bàn tranhgiành ¶nh hëng của các nước lớn

2 Tình hình thÕ giíi và Đông Á hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi

để Trung Quốc t¨ng cêng vai trò ¶nh hëng của mình ở khu vực

3 Việc Trung Quốc triển khai chính sách nước lớn nhằm tăng cườngvai trò, ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Á hiện nay đang tác động đếnquan hÖ với các nước trong khu vực, trước hết là các nước vừa và nhỏ ởĐông Nam Á với cả 2 mặt: tích cực lẫn tiêu cực

* Trong nước:

Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài nghiêncứu là khá phong phú với nhiều nội dung và cách tiếp cận khác nhau, cụ thểnhư sau:

Thứ nhất, các công trình đề cập tổng thể về chính sách và hoạt

động đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Đông Á Các công trình

này dành một dung lượng nhất định phân tích vai trò của Trung Quốc tạikhu vực Đông Á và những chuyển biến cơ bản trong quan hệ của TrungQuốc với các nước trong khu vực Đó là các công trình:

Cuốn “Chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới” (Sách chuyên khảo của Phạm Minh Sơn chủ biên, Nxb Lý luận chính trị,

2008) cung cấp những nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của một

số nước lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản…

Cuốn “Sự điều chỉnh chiến lược hợp tác khu vực Châu Á - Thái Bình Dương(CA-TBD) trong bối cảnh quốc tế mới” (tác giả Nguyễn Xuân Thắng

chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2004) đi sâu nghiên cứu những đặc điểm

cơ bản của khu vực CA-TBD, bối cảnh quốc tế mới (trên hai góc độ an ninhchính trị và kinh tế quốc tế) và những tác động của chúng đối với hợp táckhu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời chỉ ra những xu hướng vàtriển vọng hợp tác kinh tế cơ bản ở khu vực trên các khía cạnh từ song

Trang 7

phương đến đa phương Cuốn sách cũng phân tích sự thay đổi vị trí địa chính trị - kinh tế của Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, ASEAN trong khuvực và những điều chỉnh chiến lựơc hợp tác của các nước này.

-Cuốn “Quá trình mở cửa đối ngoại của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa” (tác giả Nguyễn Thế Tăng, Nxb Khoa học xã hội, 1997) đã trình bày bối

cảnh ra đời, cơ sở lý luận, quá trình hình thành, thành tựu, vấn đề tồn tại, bàihọc kinh nghiệm và triển vọng của chính sách mở cửa trong đối ngoại củaTrung Quốc

Cuốn “Những điểm nóng trên thế giới gần đây” (Đỗ Nhật Quang chủ

biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002) nêu lên thực trạng và một số diễn biếnmới của tình hình thế giới năm 2002, tình hình Đông Nam Á, LB Nga, khuvực Trung Quốc - Đông Bắc Á,…

Cuốn “Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách

mở cửa (1978 – 2008) của Lê Văn Mỹ chủ biên, Nxb Khoa học xã hội năm

2009 cung cấp một cái nhìn xuyên suốt về ngoại giao Trung Quốc từ cảicách, mở cửa đến nay

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết có liên quan đến vấn đề này như: Sự điều chỉnh chiến lược ngoại giao và quan hệ Mỹ - Trung - Nga sau sự kiện 11/9/2001 (Lê Văn Mỹ, T/c Nghiên cứu Châu, Số 2, 2006); Những điều chỉnh trong chiến lược an ninh Đông Á của Trung quốc sau chiến tranh lạnh (Hiền Lương, Đỗ Thủy, T/c Nghiên cứu quốc tế, Số 1(64), 2006)

Thứ hai, các công trình phân tích quá trình hợp tác và liên kết ở

khu vực, trong đó quan hệ Trung Quốc với các nước và các tổ chức trong khu vực được xem xét với mức độ khác nhau Các công trình thuộc loại

này rất lớn về số lượng như:

Cuốn “Quan hệ Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản trong bối cảnh mới

và tác động của nó tới Việt Nam” (tác giả Vũ Văn Hà chủ biên, Nxb Khoa

học xã hội, 2007) trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ Trung Quốc ASEAN - Nhật Bản, tổng quan về quan hệ song phương và đa phươngTrung Quốc - ASEAN - Nhật Bản và các tác động của quan hệ Trung Quốc

ASEAN Nhật Bản đến Việt Nam

Cuốn “Trung Quốc và ASEAN trong hội nhập: thử thánh mới, cơ hội

Trang 8

mới” (tác giả Trần Quốc Hùng, Nxb Trẻ, 2003) phân tích quá trình Trung

Quốc gia nhập WTO cũng như việc tổ chức ASEAN tăng cường hợp táctheo chiều sâu nội khối và mở rộng hợp tác quốc tế trong xu thế hội nhậptrên toàn thế giới, đồng thời chỉ ra những thử thách và cơ hội mới cho cácnước này

Cuốn “Hiệp định thương mại tự do ASEAN+3 và tác động tới kinh tế

- thương mại Việt Nam” (tác giả Trần Văn Hóa chủ biên, Nxb Thế giới,

2006) đã trình bày tổng quát về các hiệp định thương mại tự do củaASEAN với các đối tác thương mại lớn khu vực như Trung Quốc, HànQuốc, Nhật Bản, Ôxtrâylia và những tác động của nó đối với thương mại vàđầu tư Việt Nam

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan đến vấn đề này được đăng

tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Tam giác chiến lược Nga – Trung

-Ấn và những trở ngại trong việc hiện thực hóa ý tưởng trên (Phan Văn Rân, T/c Nghiên cứu Trung Quốc, số 1/2004 Quan hệ Nga - Trung trong tam giác chiến lược Nga - Trung Quốc - ASEAN (Nguyễn Thanh Thuỷ, T/c Nghiên cứu Châu Âu, số 3, 2006); Quan hệ thương mại và đầu tư Trung Quốc – ASEAN vẫn trong xu thế gia tăng (Nguyễn Đình Long, Phạm Quang Diệu, Tạp chí Thương mại, Số 3, 2006); Chủ nghĩa khu vực và thực tiễn Đông Á (Đinh Thị Hiền Lương, T/c Nghiên cứu Quốc tế, Số 2(61), 2005); Tác động của sự phát triển quan hệ Trung Quốc - ASEAN đối với khu vực Châu Á- Thái Bình Dương hiện nay (Nguyễn Hoàng Giáp, T/c Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 1, 2005); Quan hệ ASEAN - Trung Quốc trên lĩnh vực chính trị

- an ninh thời kỳ sau chiến tranh lạnh (Thái Văn Long, T/c Lý luận chính trị, Số 1, 2005); Xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do song phương ở Đông Á và hệ quả đối với khu vực (Bùi Trường Giang, T/c Nghiên cứu kinh tế, Số 1, 2005); Vấn đề văn hoá trong chủ nghĩa khu vực Đông Á (Hoàng Khắc Nam, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á,

Số 1(55), 2005); Tìm hiểu về thực trạng an ninh khu vực Đông Á (Nguyễn

Thanh Hiền, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Số 1(55),

2005); Hiệp định khung khu mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN, bước phát triển mới của mối quan hệ Trung Quốc-ASEAN đầu thế kỷ XXI (Lê Văn Mỹ, T/c Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5, 2004); Ý nghĩa chính trị của

Trang 9

đặc biệt, ngày 3/4/2006); ASEAN : Những vấn đề và xu hướng (Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb KHXH, HN 1997); Từ ASEAN 7 đến ASEAN 10: Một Đông Nam Á thống nhất và thách thức (Nguyễn Quốc Hùng, Nxb CTQG, HN 1998); Từ ASEAN 7 tới ASEAN 10 - Cơ hội hay là thách thức (Nguyễn Thu Mỹ, T/c Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/1997); Tiến tới một ASEAN hoà bình, ổn định và phát triển bền vững (Nxb CTQG, HN 2001); Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hoá (Trần Khánh chủ biên, Nxb KHXH, HN 2002); Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI (Phạm

Đức Thành chủ biên, Nxb KHXH, HN 2006)…

Thứ ba, các công trình và bài viết về sự phát triển quan hệ của

Trung Quốc với từng nước trong khu vực Đông Á Đây là một hướng

nghiên cứu khá đa dạng về hình thức, từ hội thảo khoa học đến bài viết vànhiều tác phẩm chuyên khảo, đồng thời cũng rất phong phú về nội dung,bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị, an ninh đến kinh tế, văn hóa, khoa học

kỹ thuật Có thể nêu ra một số các công trình như: Quan hệ Trung - Hàn

kể từ sau khi bình thường hoá (Hoàng Minh Hằng, T/c Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á , Số 5, 2005); Vì sao gần đây nổ ra chống Nhật ở Trung Quốc và Hàn Quốc (Trịnh Trọng Nghĩa, T/c Nghiên cứu Đông Bắc

Á, Số 4, 2006); Quan hệ Trung - Nhật: thực trạng và triển vọng (TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 4/4/2006); Quan hệ Trung-Nga trong và sau chiến tranh lạnh (Phạm Thành Dung, Vũ Thuý Hà, Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 4, 2005; Quan hệ Trung - Nga sau hơn 10 năm khôi phục (TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 4/4/2006); Malaixia - Mắt xích trong chiến lược hướng Nam của Trung Quốc, (Những vấn đề chính trị - xã

hội, Trung tâm Thông tin khoa học, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh, số

9, 3-2010); Quan hệ Trung - Ấn: khó tránh khỏi cạnh tranh (TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 4/4/2006); Trung Quốc và Ấn Độ “bắt tay” cùng thúc đẩy “Thế kỷ châu Á” (Tạp chí “Cải cách và mở cửa”, Trung

Quốc, số 1/ 2006, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 1/4/2006)

Nhìn chung, các công trình này đều cho rằng, bước sang thế kỷXXI, các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc đang điều chỉnh chính sách đốivới Đông Á theo hướng t¨ng cêng vai trò ¶nh hëng và bảo vệ lợi ích củamình Chính vì vậy, các điều chỉnh này đã và đang tác động rất lớn đến đời

Trang 10

sống quan hệ quốc tế tại khu vực núi chung, chớnh sỏch đối ngoại của cỏc

nước vừa và nhỏ trong khu vực núi riờng, trong đú cú Việt Nam

Tuy nhiờn, cho đến nay chưa cú cụng trỡnh nghiên cứu mang tớnh hệ

thống, cập nhật về chớnh sỏch của Trung Quốc đối với khu vực Đụng Á trong

2 thập niờn đầu thế kỷ XXI và ảnh hởng của nú đến việc tập hợp lực lợng giữacỏc nước trong khu vực, đặc biệt là vị trớ của Việt Nam trong chớnh sỏch củaTrung Quốc đối với khu vực Đụng Á Để khắc phục khoảng trống này và thiết

thực phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy bộ mụn Quan hệ quốc tế và chớnh

sỏch đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam tại Học viện Chớnh trị - Hànhchớnh quốc gia Hồ Chớ Minh, chỳng tụi quyết định chọn đề tài này làm đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011

3 Mục tiờu của đề tài:

Đề tài đi sõu phõn tớch nguyờn nhõn, mục đớch, chớnh sỏch của TrungQuốc ở Đụng Á hiện nay, xu hướng vận động cũng như tỏc động của nú

đến tỡnh hỡnh quốc tế tại khu vực trong thập niờn tới Trờn cơ sở đú, đề tài

sẽ làm rừ tỏc động của chớnh sỏch của Trung Quốc ở Đụng Á đối với ViệtNam xột trờn cả 2 mặt tớch cực và tiờu cực, từ đú đề xuất một số kiến nghịtrong đối sỏch của Việt Nam trước tỏc động này

4 Nội dung nghiờn cứu:

Để thực hiện mục tiờu nờu trờn, đề tài đặt ra và giải quyết cỏc nội dung cơ bản sau đõy:

- Làm rừ những tiền đề và điều kiện khỏch quan và chủ quan đểTrung Quốc triển khai chớnh sỏch mở rộng và tăng cờng vai trũ ở Đụng Átrong hai thập niờn đầu thế kỷ XXI

- Quá trình triển Trung Quốc khai chính sách đối với khu vực Đụng

Á trong 10 năm đầu thế kỷ XXI

- Phõn tớch những tỏc động trực tiếp và giỏn tiếp của việc triển khai

chớnh sỏch Đụng Á của Trung Quốc đến quan hệ quốc tế tại khu vực hiện

nay và thập niờn tới

- Trờn cơ sở những luận chứng khoa học đề tài sẽ trỡnh bày tỏc độngcủa chớnh sỏch ở Đụng Á của Trung Quốc đối với Việt Nam, từ đú đề xuấtmột số kiến nghị về đối sỏch của Việt Nam trước những tỏc động của chớnhsỏch của Trung Quốc ở khu vực Đụng Á

Trang 11

Với những nội dung cơ bản đó xỏc định, đề tài được cấu trỳc làm 3 phần, cụ thể như sau:

1- Phần thứ nhất: Những nhõn tố thúc đẩy Trung Quốc triển khai

chính sách đối ngoại của một cờng quốc ở Đông Á.

2- Phần thứ hai: Trung Quốc triển khai chớnh sỏch với cỏc nước

Đụng Á trong thập niờn đầu thế kỷ XXI

3- Phần thứ ba: Việt Nam trớc tỏc động của chớnh sỏch ở khu vực

Đụng Á của Trung Quốc.

5 Cơ sở lý luận và phương phỏp nghiờn cứu:

Đề tài được thực hiện trờn cơ sở lý luận và phương phỏp luận Mỏc –Lờnin; t tởng của Lờnin về hũa bỡnh và cựng tồn tại hũa bỡnh giữa cỏc nước

cú chế độ xó hội khỏc nhau; t tởng Hồ Chớ Minh về mối quan hệ giữa cỏcdõn tộc và quốc tế Đề tài cũng dựa vào cỏc quan điểm đỏnh giỏ về tỡnhhỡnh thế giới và khu vực Đụng Á của ĐCS Việt Nam thể hiện trong cỏcVăn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI và Nghị quyết Hội nghị TW III,khúa VII của Đảng, xem đõy là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận,những định hướng t tởng và khoa học để thực hiện đề tài

Đề tài nghiờn cứu thuộc vấn đề lịch sử , lý luận quan hệ quốc tế , vỡ vậy phương phỏp nghiờn cứu của đề tài trước hết là phương phỏp lịch sử,

phương phỏp lụ gớch và phơng pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế Trong quỏtrỡnh nghiờn cứu, các phương phỏp này được sử dụng chủ yếu và kết hợpchặt chẽ với nhau Ngoài ra, đề tài cũn sử dụng cỏc phương phỏp hỗ trợkhỏc như phương phỏp phõn tớch và tổng hợp, thống kờ, đối chiếu và sosỏnh, khỏi quỏt húa…

6 í nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

Đề tài cú ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đõy:

- Làm rừ thực chất chớnh sỏch Đụng Á của Trung Quốc hiện nay và

dự bỏo trong thập niờn tới dưới gúc độ là một cường quốc đang trỗi dậy

- Làm rừ những tỏc động đa chiều của chớnh sỏch Đụng Á của TrungQuốc trong hai thập niờn đầu thế kỷ XXI đến so sỏnh lực lợng và quan hệ

quốc tế tại khu vực, trong đú cú Việt Nam.

- Gúp phần bồi dưỡng, nõng cao trỡnh độ nhận thức và nghiờn cứu về

quan hệ quốc tế núi chung, chớnh sỏch đối ngoại của một nước lớn là Trung

Quốc núi riờng trong quỏ trỡnh hỡnh thành trật tự thế giới mới sau chiến tranhlạnh

Trang 12

- Góp phần cung cấp những luận cứ khoa häc và thực tiễn để làm rõquan điểm của Đảng về một trong những đặc điểm trong giai đoạn hiện naycủa thời đại là “quan hÖ giữa các nước lớn – nhân tố quan trọng tác độngđến sự ph¸t triÓn của thÕ giíi”, đồng thời cũng cung cấp những cơ sở giúpĐảng và Nhà nước ta đề ra chính sách đối ngoại phù hợp nhằm thực hiệnthắng lợi chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hÖ quốc tế, chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế” vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội.

- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những cán bộ hoạtđộng trên lĩnh vực đối ngoại, cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Quan

hệ quốc tế Với ý nghĩa trên, sau khi được nghiệm thu, đề tài sẽ là nguồn tư

liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu bộ môn Quan hệ quốc tế tại

hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 13

PHẦN THỨ NHẤT NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY TRUNG QUỐC TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỘT CƯỜNG QUỐC Ở ĐÔNG Á 1.1 Những nhân tố khách quan

1.1.1 Vị trí quốc tế ngày càng tăng của khu vực

Đông Á là vùng đất chạy dài từ Bắc xuống Nam, nằm ở rìa phíaĐông của lục địa châu Á với hai phần Đông Bắc Á và Đông Nam Á Khuvực rộng lớn này bao gồm 16 quốc gia (5 quốc gia Đông Bắc Á là Nga,Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và 11 quốc gia Đông Nam

Á là (Brunây, Campuchia, Đông Timo, Lào, Myanma, Malaixia, Inđônêxia,Philippin, Thái Lan, Việt Nam, Xinhgapo), nhưng lại rất chênh lệch về diệntích, dân số, nhất là trình độ phát triển kinh tế cũng như khác nhau về chế

độ chính trị, bản sắc văn hóa và tôn giáo Đông Á cũng là khu vực có nhiềucường quốc hàng đầu thế giới, đồng thời là nơi có vị thế địa chiến lượcquan trọng của thế giới Nó là hành lang, là cầu nối, án ngữ ngã ba chiếnlược giao thông trên biển lẫn trên bộ giữa phương Đông với phương Tây vàngược lại Chính vì vậy từ nửa sau thế kỷ XIX phần lớn các nước Đông Á

là đối tượng bị xâm lược, thôn tính của các nước thực dân đế quốc châu Âu

và Bắc Mỹ Tuy nhiên, kể từ nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt là sau chiến tranhlạnh đến nay, Đông Á trở thành khu vực phát triển năng động, góp phầnvào sự phát triển chung của thế giới Cùng với vị thế quốc tế ngày càngtăng, Đông Á cũng là nơi diễn ra sự tranh giành ảnh hưởng một cách quyếtliệt giữa các nước lớn

Những biến đổi sâu sắc của môi trường địa – chính trị và địa – kinh tếtại Đông Á kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đã mở ra một không gian pháttriển mới cho khu vực và tạo nên vị thế mới của Đông Á trong quan hệ quốc

tế Vai trò của Đông Á trong quan hệ quốc tế ngày càng quan trọng hơn xéttrên cả hai phương diện: chính trị - an ninh và kinh tế, cụ thể như sau:

* Trên phương diện chính trị - an ninh

Thứ nhất, vị thế chính trị ngày càng tăng của Đông Á trong quan hệ quốc tế thể hiện ở vai trò chính trị ngày càng tăng của các chủ thể chính

Trang 14

trị trong khu vực, mà trước hết phải kể đến là Trung Quốc, Nhật Bản, Nga

và ASEAN

- Trung Quốc: Trung Quốc là nước có vai trò quan trọng đối với sự

ổn định về an ninh chính trị và kinh tế của khu vực Trong suốt hai thập kỷqua, Trung Quốc được cả thế giới biết tới bởi những "kỳ tích" trong pháttriển kinh tế và những tham vọng quyền lực to lớn về chính trị ở khu vực

và trên toàn cầu Sự gia tăng sức mạnh về kinh tế và trên mức độ nhất định

cả ảnh hưởng về chính trị, văn hóa của Trung Quốc làm gia tăng vị thế củaTrung Quốc nói riêng và của khu vực Đông Á nói chung trong quan hệquốc tế Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở châu Á năm 1997 và nhất

là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới bắt đầu

từ năm 2008 càng làm nổi bật tiềm lực kinh tế và vị thế của Trung Quốctrên trường quốc tế Trung Quốc trở thành một nhân tố quan trọng cơ bảngiúp duy trì sự ổn định kinh tế khu vực và thế giới

Trung Quốc ngày nay đã thực sự trở thành một đối thủ cạnh tranhđáng nể của Mỹ ở khu vực Đông Á nói riêng và trên trường quốc tế nóichung Tiếng nói của nước này trên các diễn đàn quốc tế dường như càngngày càng gia tăng "uy lực", trở nên "cứng rắn" hơn trong quan hệ với Mỹ

và phương Tây Tại Hội nghị an ninh Munich (2/2010), lần đầu tiên trongnhiều thập niên qua, Trung Quốc công khai nói về sự lớn mạnh của họ vàđòi "chia sẻ trách nhiệm lớn hơn" trên trường quốc tế1

- Nhật Bản: Sự phồn vinh của Đông Á có đóng góp không nhỏ từ

phía Nhật Bản - một cường quốc kinh tế thế giới và đang tìm kiếm vai tròchính trị tương xứng của mình Từ sau chiến tranh lạnh, chính sách đốingoại của Nhật Bản có những điều chỉnh mang tính bước ngoặt theo hướngtăng cường tính độc lập, chủ động và tích cực hơn trong quan hệ với Mỹnhằm vươn lên thành cường quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh

tế, phát huy vai trò và ảnh hưởng trên thế giới nói chung và ở khu vựcĐông Á nói riêng

Nhật Bản nỗ lực thoát khỏi vị thế chính trị của một quốc gia bại trận,tìm kiếm cơ hội để được hưởng quyền lợi chính trị như một quốc gia bình

1 Phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hội nghị an ninh Munich đầu tháng 2/2010 Trước đó, dưới áp lực của Trung Quốc, Diễn đàn kinh tế Davos (từ 27 – 31/01/2010) đã

Trang 15

thường trên trường quốc tế, mà trước hết là ở Liên Hợp quốc (LHQ) Saunhiều cố gắng không mệt mỏi của Nhật Bản, ngày 11/12/1995, với 155phiếu thuận và 3 phiếu chống, Đại hội đồng LHQ đã thông qua nghị quyếtxóa bỏ “điều khoản nước thù địch” trong bản Hiến chương LHQ, mởđường cho Nhật Bản có quyền đề nghị tham gia Hội đồng Bảo an Tiếp đóNhật Bản tăng cường mở rộng ảnh hưởng tại tổ chức này Thông quanhững đóng góp to lớn về tài chính và nhân lực cho LHQ, một mặt, NhậtBản tăng cường vị thế của mình tại tổ chức quốc tế số một này; mặt khác,Nhật Bản tìm cách giải thoát mình khỏi những ràng buộc về quân đội, quốcphòng của quốc gia bại trận sau chiến tranh Tháng 6/1992, Quốc hội NhậtBản đã thông qua “Luật hợp tác duy trì hòa bình Liên Hợp quốc” trong đóquy định Nhật Bản có thể phái lực lượng ra nước ngoài tham gia hoạt độnggìn giữ hòa bình mà không cần phải sửa đổi Hiến pháp Các nỗ lực này chothấy, Nhật Bản đang cố gắng để sớm trở thành Ủy viên thường trực Hộiđồng Bảo an LHQ và có tiếng nói trong cơ cấu quyền lực này.

Nhật Bản còn sử dụng viện trợ phát triển chính thức (ODA) như làmột công cụ đối ngoại trong chiến lược ngoại giao tổng hợp nhằm thựchiện mục tiêu trở thành một cường quốc không chỉ kinh tế mà cả chính trịcủa mình Điều này được thể hiện rõ qua tuyên bố ngày 19/1/2006 củaNgoại trưởng Nhật Bản Aso: “Xét cho cùng, ODA của Nhật Bản cần phảiphục vụ lợi ích của Nhật Bản, nhằm nâng cao hình ảnh của Nhật Bản trênthế giới”2 Ở Đông Á, đặc biệt là Đông Nam Á, Nhật Bản tích cực tậndụng các kênh song phương và đa phương sẵn có, sử dụng công cụ ODA,vốn đầu tư,… để tranh thủ sự ủng hộ của các nước này Cùng với mậu dịch,ODA và FDI của Nhật đã tạo ra một sự gắn bó mật thiết giữa Nhật vớiASEAN trong mấy thập kỷ qua

Mặc dù vẫn lấy quan hệ Nhật - Mỹ làm nền tảng chính sách đốingoại, song gần đây Nhật Bản tăng cường chiến lược "Trở lại châu Á", pháthuy vai trò người đại diện cho châu Á trong G7, lấy châu Á làm bàn đạp đểtừng bước đưa Nhật Bản trở thành cường quốc về chính trị; thúc đẩy cảicách LHQ, thực hiện mục tiêu trở thành thành viên thường trựcHĐBA/LHQ thông qua các đề nghị, các đóng góp cụ thể trong các lĩnh vực

an ninh, kinh tế và các vấn đề toàn cầu Tuy còn đứng trước một số khó

2 Nguyên Vy, Ngoại giao ODA, http://tgvn.com.vn , cập nhật ngày 31/7/2009

Trang 16

khăn nhất định, song nhìn toàn cục, vai trò quốc tế của Nhật Bản đã đượccải thiện hơn; vị thế của Nhật Bản đã được coi trọng hơn trong một số tổchức quốc tế và khu vực như WTO, APEC, ARF, ASEM, UNHCR, G7, Ủyban sông Mê Kông, ADB, Dư luận chung tỏ sự đồng tình với việc NhậtBản cần có vai trò to lớn hơn trong quan hệ quốc tế, đặc biệt trong nhữngvấn đề kinh tế và các vấn đề toàn cầu.

- LB Nga: Nước Nga thời Tổng thống Putin bắt đầu "hồi sinh" khá

nhanh sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự và lần đầu tiên khẳng định mụctiêu khôi phục lại vai trò của một cường quốc trong lợi thế đặc thù lưỡngthể Âu – Á LB Nga hiện nay chưa phải là vai diễn có vai trò như Mỹ,Trung Quốc và Nhật Bản trên "sân khấu quyền lực" khu vực, ảnh hưởngkinh tế còn hạn chế Tuy nhiên, với tư cách là một cường quốc thì mọi sựdàn xếp an ninh chiến lược tại Đông Á, đặc biệt ở Đông Bắc Á, đều bấtthành nếu không có sự tham dự của Nga Nga rõ ràng đang chiếm nhiều ưuthế về sức mạnh quân sự và ảnh hưởng an ninh, không thua kém bất kỳ chủthể cạnh tranh quyền lực nào trên tầng bậc thứ nhất (Mỹ, Trung Quốc, NhậtBản); đồng thời cũng không thể xem thường một số lợi thế kinh tế của Nga,nhất là tài nguyên và năng lượng.3

- Hàn Quốc: Hàn Quốc do tiếp tục giữ được "kỳ tích sông Hàn" đã

vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ 9 thế giới và lớn thứ 4 châu Á, với hệthống kinh doanh phát triển sâu rộng trong khu vực Thêm vào đó, HànQuốc lại nằm ở tâm điểm của một điểm nóng an ninh phức tạp nhất là vấn

đề bán đảo Triều Tiên, cho nên Hàn Quốc có sức nặng tạo sự chuyển biếntình thế rõ nét trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung và Trung – Nhật,đồng thời có ý nghĩa thiết thực đối với Nga, Ấn Độ, EU và Ôxtrâylia trêncon đường tăng cường ảnh hưởng tại Đông Á

- ASEAN: ASEAN cũng là một thực thể có vai trò ngày càng tăng ở

khu vực Đông Á và trên thế giới Trong nội bộ khu vực Đông Á nổi bật lênmối quan hệ tam giác Nhật Bản - Trung Quốc – ASEAN Tuy là một tổchức bao gồm những nước vừa và nhỏ và phần lớn là các nước đang pháttriển nhưng trước mắt ASEAN đang có lợi thế là cả Trung Quốc và NhậtBản đều muốn tranh thủ Mặt khác, tuy sức mạnh kinh tế, quân sự không

3 Nguyễn Hoàng Giáp, Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á,

Trang 17

thể sánh với các nước lớn, vả lại tính thống nhất không cao do cơ chế hợptác còn lỏng lẻo, song ASEAN lại là địa bàn chiến lược mang ý nghĩa đặcbiệt quan trọng đối với tất cả các nước lớn có tham vọng quyền lực ở Đông

Á Ngày nay ASEAN đang đẩy nhanh quá trình liên kết và hội nhập kinh

tế, với ưu tiên hàng đầu là thực thi đầy đủ cam kết và chương trình hợp táckinh tế nội khối, hướng tới mục tiêu thành lập Cộng đồng ASEAN (AC)vào năm 2015 trên cơ sở Hiến chương chung

Do đó, đối với các nước lớn, việc tranh thủ, lôi kéo được ASEAN,tạo thế đứng vững trên "sân chơi" chiến lược Đông Nam Á, có tác dụng hỗtrợ, cộng hưởng lớn ảnh hưởng ở Đông Á, CA-TBD và cả thế giới Từ gócnhìn này cho thấy, mặc dù ASEAN không trực diện cạnh tranh quyền lựcvới các nước lớn, nhưng bản thân nó lại là một chủ thể có quyền lực đáng

kể ở Đông Á, do tầm quan trọng địa – chính trị, địa – chiến lược và nhất làcách thức mà ASEAN tương tác vào cạnh tranh chiến lược giữa các nướclớn tại đây

Vai trò toàn cầu của Đông Á còn được thể hiện qua sự tham gia của các quốc gia Đông Á với tư cách là các nước thành viên tại các cơ chế quốc tế như LHQ, G20, WTO v.v Đặc biệt, với 4 thành viên và đại diện

ASEAN tại G20, Đông Á có khả năng đóng góp tích cực và đáng kể choviệc kiến tạo một cấu trúc mới hiệu quả hơn, dân chủ hơn cho nền quản trịtoàn cầu

Thứ hai, ở cấp độ khu vực, vị trí của Đông Á trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh còn thể hiện ở quá trình hợp tác tại khu vực diễn ra nhanh chóng và khá hiệu quả

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, lợi ích của khu vực luôn được thểhiện bằng việc cung cấp, đảm bảo và mở rộng lợi ích cho các nước trongkhu vực Hợp tác khu vực luôn thể hiện thành một «sức mạnh lực lượng tậpthể », một mặt nó thúc đẩy sự cân bằng lợi ích trong quá trình toàn cầu hóa,mặt khác nó mang lại lợi ích cho từng nước trong khu vực nói riêng và chotoàn khu vực nói chung trong quan hệ quốc tế

Diễn đàn hợp tác kinh tế CA-TBD (APEC) sau khi được thành lập,

đã thu nạp hầu hết các nước Đông Á vào phạm vi hợp tác và đang từngbước thể chế hoá qua các cuộc hội nghị thượng đỉnh hàng năm cũng nhưcác hội nghị chuyên đề ở cấp bộ trưởng và chuyên viên Đây là một cơ sở

Trang 18

để các quốc gia trong khu vực xây dựng mối quan hệ trên khung khổ phápluật và các quy phạm quốc tế, và điều này có ý nghĩa lâu dài đối với sựphát triển của khu vực

Những khác biệt về hệ tư tưởng cùng những áp lực từ bên ngoàikhông làm đảo ngược được tiến trình mở rộng ASEAN Đối với ASEAN,sách lược chủ yếu là tập trung phát triển kinh tế, tăng cường hơn nữa tiếntrình liên kết ASEAN, tiếp tục phát huy vai trò trong tiến trình liên kếtĐông Á, cân bằng quan hệ với các nước lớn trong khu vực và trên thế giới.Các diễn đàn như ARF, 10+3 cùng sáng kiến thành lập quĩ tiền tệ châu Á(cho dù sáng kiến này chưa thành hiện thực) thể hiện rõ những bước pháttriển mới trong hợp tác đa phương ở khu vực Hội nghị cấp cao Đông Á(EAS) được tổ chức do sự đề xuất của ASEAN và ASEAN giữ vị trí chủđạo Ấn Độ, Ôxtrâylia và Niu Dilân là 3 nước ngoài khu vực cũng trở thànhnước thành viên của EAS là một trong những biện pháp để ASEAN thựchiện chiến lược cân bằng nước lớn, kiềm chế sự chi phối của bất kỳ mộtnước lớn nào trong tổ chức khu vực

Thứ ba, vị trí của Đông Á trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh còn được thể hiện ở sự tương tác lẫn nhau giữa các thực thể chính yếu trên “bàn cờ quyền lực” khu vực, đó là các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, cùng với ảnh hưởng rất quan trọng của Nga, Ấn

Độ, ASEAN và trên mức độ nhất định cả vai trò của Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Ôxtrâylia

Thời kỳ chiến tranh lạnh, tuy chịu sự chi phối của cuộc đối đầu ĐôngTây và trật tự thế giới hai cực, nhưng ở Đông Á đã xuất hiện một trật tự kháđặc thù với sự ngự trị của tam giác chiến lược Xô - Mỹ - Trung Khi chiếntranh lạnh kết thúc, trật tự cũ đã thay đổi, song ở Đông Á một số di sản củathời kỳ đối đầu vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt (vấn đề Bán đảo Triều Tiên, eobiển Đài Loan, tranh chấp lãnh thổ Nga – Nhật, quan hệ có lúc căng thẳng

giữa Trung Quốc và Nhật Bản chung quanh vấn đề lịch sử …) Đây vừa là

những nhân tố tiềm ẩn nguy cơ đối với sự ổn định của môi trường địa –chính trị và an ninh Đông Á, vừa là nét đặc thù chi phối sự hình thành trật

tự khu vực sau chiến tranh lạnh

Bước sang thế kỷ XXI, cục diện thế giới và Đông Á chuyển biến rấtnhanh chóng do sự bùng nổ một loạt sự kiện và vấn đề lớn, mà tầm cấp ảnhhưởng của chúng buộc tất cả các quốc gia đều phải điều chỉnh cách hành

Trang 19

xử cả trong đối nội lẫn đối ngoại Môi trường địa – chính trị và cán cân lựclượng trên thế giới nói chung, ở Đông Á nói riêng đã thay đổi một cách cơbản dưới tác động của chuỗi sự kiện: từ cuộc tấn công khủng bố vào nước

Mỹ, hai cuộc chiến do Mỹ phát động tại Ápganixtan và Irắc, đến sự tăngtiến bất thường giá dầu lửa và đặc biệt là cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu từnăm 2008 Cạnh tranh địa – chính trị chiến lược và quyền lực giữa cácnước lớn càng trở nên quyết liệt, đi vào chiều sâu trong bối cảnh các vấn đềnhư khủng bố quốc tế, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, biến đổi khíhậu… nổi lên thành chương trình nghị sự mang tính toàn cầu

Trong cuộc ganh đua quyền lực ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu,đến cuối thập niên đầu thế kỷ XXI, sức mạnh Mỹ trượt sâu vào suy giảmtương đối do những sai lầm trong 8 năm cầm quyền của G Bush Nhật Bảnthì loay hoay, khó xử để trở lại “quốc gia bình thường” trước sức cản vàmối nghi kỵ của một số nước láng giềng, trong khi phép mầu “ngoại giaokinh tế” dường như đang có dấu hiệu suy giảm công năng Trái lại, cácnước lớn khác như Trung Quốc, Ấn Độ và Nga đều vươn lên mạnh mẽ, đặcbiệt là sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc với đích ngắm giành ngôi

bá chủ khu vực, cùng những yêu sách ngày một thêm sức nặng của họ đòi

sẻ chia quyền lực toàn cầu Thực tế này làm cho cán cân sức mạnh giữa cácchủ thể quyền lực ở Đông Á có hiệu ứng chuyển hóa rất rõ nét so với thậpniên 90 thế kỷ XX, tạo cơ sở định vị một thứ tự quyền lực trên các tầng bậckhác nhau tại khu vực Nhìn chung, bước đầu có thể phác dựng một kết cấu

đa tầng bậc về ảnh hưởng và quyền lực giữa các chủ thể quốc tế trên “sânkhấu quyền lực” Đông Á hiện nay với những nét chủ yếu sau:

Trên tầng bậc thứ nhất, các vai diễn chủ chốt bao gồm Mỹ, TrungQuốc và Nhật Bản Ba nước lớn này đang cạnh tranh, hợp tác và kiềm chếlẫn nhau trong cơ chế tương tác tam giác chiến lược được hình thành giữa

họ từ thập niên cuối cùng thế kỷ XX Đương nhiên, cạnh tranh Mỹ - Trung– Nhật diễn ra không chỉ thuần túy giữa ba nước với nhau, mà còn cuốn hútcác nước và thực thể trong các tầng bậc quyền lực khác ở Đông Á như Nga,

Ấn Độ, ASEAN cũng như EU, Hàn Quốc, Ôxtrâylia Điểm nhấn mang tínhbước ngoặt trên tầng bậc quyền lực này hiện nay ở Đông Á đó là sự thu hẹprất ấn tượng về khoảng cách sức mạnh cũng như ảnh hưởng của Trung

Trang 20

Quốc so với Mỹ và Nhật Bản về nhiều mặt, nhất là về quy mô kinh tế vàtrên mức độ nhất định cả ảnh hưởng chính trị, văn hóa

Trên tầng bậc quyền lực thứ hai ở Đông Á, đang hiện hữu ba thựcthể - vai diễn chính có ảnh hưởng quan trọng đến cấu trúc quyền lực khuvực, đó là Nga, Ấn Độ và ASEAN Ba thực thể này không cạnh tranh gaygắt với nhau như tam giác Mỹ - Trung – Nhật, mà mặt hợp tác, bổ sung lẫnnhau tương đối nổi trội Nhưng với toan tính khác nhau, tất cả họ đều ngàycàng tích cực tạo thêm thế và lực, gia tăng vai trò của mình để giành thứbậc cao hơn hoặc chí ít không bị thua thiệt trong "cuộc chơi quyền lực" ởĐông Á Nga chủ trương tăng cường quan hệ với Trung Quốc, cải thiệnquan hệ với Nhật Bản và các nước trong khu vực để giảm sức ép từ Mỹ vàchâu Âu nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế trong nước

Trên tầng bậc thứ ba, hiện nay ở Đông Á có thể kể đến EU, HànQuốc và Ôxtrâylia Cả ba thực thể này vừa trực tiếp tham dự với mức độkhác nhau vào cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, vừa có vai tròtương tác và xúc tác trong quá trình hình thành trật tự khu vực

Thực tế cho thấy, tính chất đặc thù của trạng thái trật tự Đông Á hiệnnay, đó là tồn tại sự bất cân xứng trên mỗi chiều cạnh của tam giác quyềnlực chủ chốt Mỹ - Trung - Nhật, nhưng mối quan hệ tương tác, chế định lẫnnhau giữa ba chủ thể cấu thành tam giác ấy lại hình thành một thế "cânbằng thấp" - cân bằng "động" ở khu vực Trong thế cân bằng như vậy, đểtăng thêm phương tiện "mặc cả" giành lợi thế địa - chính trị, thì phươngthức tập hợp lực lượng của các nước khu vực, nhất là các nước lớn, cũngtrở nên hết sức cơ động, linh hoạt, nhiều vẻ về hình thức và phong phú vềnội dung, cả trên bình diện song phương lẫn đa phương Đó là lý do vì saotrong suốt thập niên đầu thế kỷ XXI, hàng loạt các khung khổ quan hệ quốc

tế ở Đông Á và có liên quan trực tiếp đến khu vực này lại được hình thành,nâng cấp hoặc hâm nóng nhằm gia tăng nguồn sinh lực mới: Cùng với việcthiết lập quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga trong thế kỷ XXI, cơ chếNhóm Thượng Hải - 5 được nâng lên thành Tổ chức Hợp tác Thượng Hải(SCO) Quan hệ Nga - Ấn, Nhật - Ấn bước lên tầm Đối tác chiến lược, Mỹcùng Nhật Bản ký Tuyên bố mới về "Đồng minh bảo đảm an ninh Mỹ -Nhật", "Phương hướng hợp tác phòng thủ Mỹ - Nhật" Trung Quốc và

Trang 21

toàn diện (JACEP), còn Mỹ liên tiếp đưa ra "Sáng kiến Doanh nghiệpASEAN", "Chương trình hợp tác ASEAN", ký "Quan hệ đối tác tăngcường Mỹ - ASEAN" và tham gia TAC Tiếp sau cơ chế Hội nghị Cấp caoĐông Á (EAS), Hợp tác Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc)xuất hiện gần như đồng thời với Nhóm G4 (Nhật Bản, Ấn Độ, Đức,Braxin) và Nhóm BRIC (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) 4

* Trên phương diện kinh tế

Đông Á là khu vực có nền kinh tế phát triển sôi động vào bậc nhấtthế giới Các chuyên gia dự tính, đến năm 2025, quy mô kinh tế Đông Á sẽchiếm 40% tổng lượng kinh tế toàn cầu5 Đến năm 2015, Đông Á sẽ thựchiện và vượt mục tiêu "kế hoạch phát triển thiên niên kỷ", tức là giảm mộtnửa mức dân số nghèo của năm 1990 Cựu Thủ tướng Xinhgapo Lý QuangDiệu đánh giá: GNP của Đông Á theo sức mua ngang giá PPP (PurchasingPower Parity) sẽ đạt 34.000 tỷ USD năm 2020 (tức chiếm 40% GNP củathế giới) so với 16.000 tỷ USD (hay 18%) của Bắc Mỹ và 12.000 tỷ USD(14%) của EU Năm 2050, tỷ trọng kinh tế của ba khu vực Đông Á, Bắc

Mỹ và EU trong nền kinh tế thế giới sẽ lần lượt là 42%; 15% và 10% Sứcmạnh kinh tế của Đông Á không chỉ thể hiện ở độ tăng trưởng cao GNP màkhối lượng FDI và buôn bán nội bộ cũng ngày càng tăng.6 Vai trò kinh tế củaĐông Á trong nền kinh tế toàn cầu được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, Đông Á là một đầu tàu kinh tế của thế giới

Với những kỳ tích trong phát triển kinh tế, Đông Á đã trở thành mộttrong những động lực tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu Những bướcphát triển kinh tế khu vực được đặc trưng với mô hình chuyển dịch kinh tếtheo kiểu “đàn sếu bay” mà tính hiệu quả của nó đã được lịch sử minhchứng Những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, kinh tế Nhật Bản phát triển theohướng tập trung vào công nghiệp nặng và các ngành có hàm lượng khoahọc công nghệ cao, dịch chuyển các ngành sản xuất cần nhiều nhân côngnhư dệt, nhựa tổng hợp,… sang “bốn con rồng châu Á” (Hàn Quốc,Xinhgapo, Hồng Công và Đài Loan) Đến cuối những năm 70 và những

4 Nguyễn Hoàng Giáp, Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á,

số 4(110) 4-2010, tr 9

5 Chiến lược Đông Á của Trung Quốc, theo “Tạp chí Ngoại giao Trung Quốc”, số 6/2009, Những vấn đề

chính trị - xã hội, Trung tâm Thông tin khoa học, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh, số 25 (6/2010)

6 Phạm Thị Thanh Bình, Châu Á – Thái Bình Dương trước thềm thế kỷ XXI, http://www.cpv.org.vn/cpv/

Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30066&cn_id=447393, cập nhật ngày 25/2/2011

Trang 22

năm 80 của thế kỷ XX thì đến lượt “bốn con rồng châu Á” điều chỉnh cơcấu kinh tế, chuyển dịch các ngành sử dụng nhiều nhân công sang các nướcnhư Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin và Trung Quốc lục địa Bướcsang những năm 90 của thế kỷ XX, chuỗi ngành nghề chuyển dịch nói trên

đã mở rộng sang các nước Việt Nam, Campuchia, Mianma…

Đông Á đang trở thành một mảng sáng nhất trong bức tranh kinh tếcủa thế giới Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầuđang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tếnghiêm trọng, thì Đông Á là nơi quy tụ những “gương mặt” sáng giá nhất

về tốc độ phục hồi sau khủng hoảng Các trụ cột truyền thống của nền kinh

tế thế giới như Mỹ, châu Âu đang phải viện đến sự chung tay góp sức củaTrung Quốc vào việc giữ ổn định kinh tế thế giới, và các nhà đầu tư cũngnhư các ngân hàng châu Âu đang hướng tới châu Á như là một kênh đầu tưhiệu quả và nguồn cung tài chính tiềm năng

Từ năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh

tế thế giới đã gây ra những tổn thất to lớn, tác động sâu sắc tới mọi mặt củađời sống thế giới Ở Đông Á, các nền kinh tế cũng gặp không ít khó khăn,nhưng đã đối phó khá hiệu quả với cuộc khủng hoảng, có tốc độ phục hồinhanh nhất và đang trở thành một đầu tàu tăng trưởng của kinh tế thế giới

Sự phục hồi nhanh đã chứng tỏ sức sống và tính năng động của các nềnkinh tế Đông Á, chứng tỏ ý chí và bản lĩnh vượt qua khó khăn của chínhphủ, nhân dân và doanh nghiệp các nước trong khu vực Đây cũng là cơ sở

để khẳng định rằng, trong những năm tới, Đông Á sẽ tiếp tục phát triểnmạnh mẽ, năng động và đóng vai trò đầu tàu tăng trưởng của nền kinh tếthế giới Với quy mô kinh tế tăng nhanh, Đông Á sẽ ngày càng có ảnhhưởng lớn hơn và do đó có điều kiện để tham gia ngày càng tích cực hơnvào các cơ chế hợp tác kinh tế quốc tế

Thứ hai, hợp tác khu vực được tăng cường

Thúc đẩy hợp tác đa phương ở Đông Á là phản ứng tất yếu của tất cảcác nước Đông Á trong quá trình toàn cầu hóa (TCH) kinh tế và nhất thểhóa khu vực, phù hợp với lợi ích chiến lược của tất cả các quốc gia Đông

Á Các nước trong khu vực đều nhận thấy rõ thúc đẩy quá trình nhất thểhóa khu vực là cơ sở để gia tăng tính cạnh tranh của mỗi quốc gia trong

Trang 23

quan hệ quốc tế và tương lai của khu vực, ở mức độ rất lớn sẽ được quyếtđịnh bởi chính sách và hành động của chính mỗi quốc gia, bởi nỗ lực triểnkhai mạnh mẽ hợp tác khu vực nhằm tìm kiếm khả năng cùng phát triển.Kinh tế các nước khu vực Đông Á ngày càng phụ thuộc lẫn nhau qua đầu

tư và thương mại Cho đến nay, dù chưa có một cơ chế hợp tác chặt chẽ,song kinh tế các nước ở khu vực này cũng đã gắn bó mật thiết với nhau qua

cơ chế thị trường Bên cạnh đó, ở khu vực hình thành trào lưu xây dựng các

cơ chế hợp tác khu vực mà FTA là trọng tâm

Sự năng động trong hợp tác kinh tế ở Đông Á còn được thể hiện qua

sự phong phú về loại hình với nhiều tầng nấc khác nhau, thông qua nhiều

cơ chế như: ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, các cơ chế hợp táctiểu vùng, các tam-tứ giác phát triển, và các hiệp định mậu dịch tự do đaphương hoặc song phương và hiện nay đang trong quá trình tiến tới xâydựng thể chế khu vực ở Đông Á và các thể chế liên khu vực ở CA-TBD

Có thể nói, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, việc đẩy mạnh mối liênkết kinh tế giữa các nước Đông Á chính là nền tảng quan trọng trong hợptác khu vực Lợi ích kinh tế chính là một động lực quan trọng thúc đẩy hợptác Đông Á Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Đông Á đã làmcho khu vực này hiện trở thành một trong ba trung tâm kinh tế lớn nhất trênthế giới Nếu các nền kinh tế Đông Á được kết nối với nhau thông qua mộthiệp định tự do hoá thương mại thì sức mạnh kinh tế của khu vực này sẽcòn tăng lên gấp bội Tiếng nói của các nước Đông Á sẽ có trọng lượnghơn tại các diễn đàn kinh tế khu vực và quốc tế Tuy nhiên, hợp tác khuvực không chỉ nhằm vào mục tiêu phát triển kinh tế mà góp phần vào việcduy trì môi trường hoà bình, ổn định trong khu vực cũng như vào sự pháttriển của mỗi đối tác thành viên

* Vấn đề an ninh ở khu vực và sự quan tâm của các nước lớn trên thế giới.

Bước vào thập niên đầu thế kỷ XXI, tình hình an ninh chính trị Đông

Á tiếp tục diễn biến rất phức tạp, nhưng những đường nét chủ yếu của trật

tự khu vực đã bộc lộ khá rõ nét Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các thựcthể quyền lực khác đã tạo nên cục diện ganh đua quyết liệt, tập hợp lựclượng, hòa hoãn, liên kết đa phương đa diện, cạnh tranh và hợp tác hết sức

Trang 24

năng động, tùy thuộc lẫn nhau vô cùng sâu sắc, hình thành cục diện cânbằng "động" tại Đông Á Trước hết, có thể thấy, cấu trúc quyền lực của trật

tự Đông Á hiện nay đang được duy trì trong trạng thái "cân bằng thấp"Trạng thái "cân bằng thấp" của trật tự Đông Á hàm nghĩa nó chưa đạt tớimột sự cân bằng chiến lược thực sự mang tính ổn định Sở dĩ vậy là vìĐông Á còn thiếu một cấu trúc nội tại ổn định có vai trò lãnh đạo, chi phốitoàn diện cả về kinh tế lẫn chính trị trong khu vực, sự ổn định an ninh khuvực phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài, trong đó đặc biệt phải kể đếnvai trò can dự của Mỹ.7

Hiện nay, hai cường quốc Đông Á là Trung Quốc và Nhật Bản tuy cóthực lực mạnh nhất, nhưng cả hai lại không thể tự mình tạo ra một cấu trúchay một cơ chế tương tác quyền lực nội tại đủ khả năng đảm bảo thế cân bằngchiến lược cho Đông Á Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc trên các lĩnhvực, nhất là kinh tế, đã làm cho cạnh tranh Trung - Nhật và tương quan sứcmạnh tổng thể quốc gia giữa hai nước nghiêng về phía có lợi cho Trung Quốc.Tuy nhiên, trạng thái bất cân bằng hiện nay giữa hai cường quốc hàng đầuĐông Á này lại không tạo ra sự bất ổn định quy mô lớn ở khu vực, dĩ nhiên

có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết và quan trọng nhất là do sự hiện diệncủa nhân tố Mỹ tại khu vực với ưu thế vẫn vượt trội về nhiều mặt của Mỹ sovới cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản Điều đó cũng lý giải vì sao cạnh tranh chiếnlược giữa các nước lớn rất quyết liệt, nhưng về cơ bản, thì sự dịch chuyển ảnhhưởng và quyền lực ở Đông Á thập niên đầu thế kỷ XXI đã diễn ra tương đối

ổn định trong hòa bình 8

Trong diễn biến thay đổi chính trị - chiến lược ở khu vực cũng phảichú ý đến sự cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Ấn Độ tại khu vựcĐông Á nói riêng và ở toàn châu Á nói chung Tương lai của khu vực sẽphụ thuộc rất nhiều vào các liên kết sẽ được thiết lập giữa Trung Quốc và

Ấn Độ, Mỹ và Nhật Bản và đặc biệt là vào vai trò mà Trung Quốc muốnthể hiện Trong các trò chơi chiến lược giữa các cường quốc, điều chủ yếu

là ASEAN tiếp tục đóng một vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng hòabình và thịnh vượng khu vực

7 Nguyễn Hoàng Giáp, Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á,

số 4(110) 4-2010, tr 8

8 Nguyễn Hoàng Giáp, Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á,

Trang 25

Hơn nữa, tính đa dạng và phức tạp cả về địa - chính trị, địa - kinh tế

và địa - văn hoá của khu vực Đông Á tự nó đã nói lên những thách thức vànguy cơ mà khu vực đang và sẽ phải đối mặt Sau chiến tranh lạnh, không

có khu vực nào trên thế giới không tồn tại các "điểm nóng" dễ bùng nổ, ảnhhưởng đến an ninh khu vực Điều quan trọng chưa phải là kể ra bao nhiêuthách thức an ninh mà khu vực phải đối phó, mà là cần phải có một sự đồngthuận về một cách tiếp cận đối với các tranh chấp, xung đột và phươngcách quản lý xung đột theo hướng văn hoá chính trị hoà bình Ở Đông Áhiện vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố có khả năng gây mất ổn định, những yếu

tố này sẽ đòi hỏi phải có sự tham gia mạnh mẽ của các nước liên quan đểgiải quyết Ví dụ đáng chú ý nhất là chương trình hạt nhân của CHDCNDTriều Tiên, và những mâu thuẫn, xung đột chủ quyền ở Biển Đông

Chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên là một sự đe dọađối với Hiệp ước không phổ biến hạt nhân trên thế giới Lộ trình và môthức thống nhất hai miền Nam - Bắc Triều Tiên sẽ không đơn giản Bánđảo Triều Tiên là địa bàn có sự đan xen về lợi ích của nhiều nước lớn, vàtrong ý nghĩa đó, nó có tầm quan trọng chiến lược đối với sự ổn định trênthế giới Cộng đồng quốc tế sẽ cần nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng quátrình chuyển đổi sẽ diễn ra một cách hòa bình

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế thế giới trong thập niên đầu thế

kỉ XXI cũng làm tăng nhu cầu về năng lượng Dầu mỏ trở thành mối quantâm hàng đầu của tất cả các quốc gia Nền kinh tế đang nở rộ của TrungQuốc phải phụ thuộc dầu mỏ từ bên ngoài có thể lên tới 67% nhu cầu Sựcạnh tranh trong việc tìm kiếm những nguồn cung mới cũng trở nên quyếtliệt hơn Chính việc phải tìm kiếm những nguồn cung dầu mỏ mới là mộttrong những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn tăng cao trong quan hệTrung - Nhật (tranh chấp quần đảo Điếu Ngư) và Trung Quốc với một sốnước Đông Nam Á (tranh chấp ở biển Đông) Việc đẩy mạnh hiện đại hóalực lượng quân sự (đặc biệt là hải quân và không quân) cũng như các hành

vi phô trương sức mạnh quân sự mang tính răn đe của Trung Quốc làm dấylên làn sóng nâng cấp, hiện đại hóa lực lượng quân sự, quốc phòng của cácquốc gia trong khu vực Chính tính chất không chắc chắn của nền an ninhquân sự là một trong những nguyên nhân làm tiếp tục quá trình tăng chi phíquốc phòng ở khu vực này thời kỳ sau chiến tranh lạnh Những vụ tranh

Trang 26

chấp về biển, đảo giữa các nước ở khu vực tiềm ẩn nguy cơ căng thẳngtrong các mối quan hệ song phương hoặc đa phương về an ninh ở khu vực

1.1.2 Chính sách của các nước lớn đối với khu vực Đông Á thập niên đầu thế kỷ XXI

Đông Á luôn là khu vực có tầm chiến lược quan trọng cả về địachính trị lẫn địa kinh tế Đây là khu vực tập trung mọi mâu thuẫn của thờiđại Thêm vào đó, Đông Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay đã trở thành mộtkhu vực phát triển năng động, góp phần to lớn vào sự phát triển chung củathế giới trong thập niên đầu thế kỷ XXI Chính vì vậy, Đông Á luôn là địabàn thu hút sự quan tâm của tất cả các nước lớn Tất cả các nước lớn như

Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ đều điều chỉnh chính sách Đông

Á của mình khi bước vào thế kỷ XXI để nhằm khẳng định vị thế, vai tròảnh hưởng cũng như bảo vệ lợi ích của mình tại khu vực Đông Á

1.1.2.1 Chính sách của Mỹ trong thập niên đầu thế kỷ XXI ở Đông Á

Mỹ là một siêu cường thuộc khu vực "lòng chảo" CA-TBD rộng lớn

mà Đông Á là một bộ phận trong đó Do đó, Đông Á luôn có vai trò có tínhchiến lược của Mỹ Tuy nhiên, thập niên đầu sau chiến tranh lạnh, trướcnhững thay đổi to lớn của tình hình thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, chínhsách Đông Á của Mỹ đã có những điều chỉnh quan trọng Bên cạnh việc coitrọng hai khu vực quan trọng vốn có trước đây là CA-TBD và châu Âu –Đại Tây Dương, Mỹ còn mở rộng tầm ảnh hưởng đến hai khu vực mới làTrung Đông và khu vực Nga và các nước khác trong SNG mà Nga có ảnhhưởng Thêm vào đó, Mỹ trong thập niên 90 còn tập trung nguồn lực giảiquyết những vấn đề trong nước Chính vì vậy, trong thập niên 90, Mỹ đãgiảm bớt sự can dự của mình ở CA-TBD nói chung, khu vực Đông Á nóiriêng, trong đó có việc rút quân khỏi nhiều căn cứ quân sự ở một số nướcĐông Nam Á, đặc biệt Xu-bích và Clát ở Philippin Bước sang thế kỷ XXI,tình hình thế giới và khu vực Đông Á có nhiều thay đổi theo hướng bất lợicho chiến lược toàn cầu của Mỹ Đó là cuộc chiến chống khủng bố sau sựkiện 11-9-2001; sự lớn mạnh của Trung Quốc trong quan hệ quốc tế; nhữngmâu thuẫn, bất đồng, xung đột ở khu vực Đông Á… Những thách thức này

đã buộc Mỹ phải dần chuyển trọng tâm chiến lược toàn cầu của mình vềkhu vực Đông Á

Trang 27

Trong một bài phát biểu tại Quốc hội Mỹ tháng 3-2005, ChristopherHill - trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á - Thái BìnhDương khẳng định mục tiêu chính sách Đông Á trong mục tiêu chiến lượctoàn cầu của Mỹ là: "dân chủ, phồn vinh, an ninh và hòa bình" và "trong tất

cả các mục tiêu chiến lược, việc giữ vững ổn định khu vực được ưu tiênhàng đầu " Phương thức để thực hiện mục tiêu trên chủ yếu thông qua cácbiện pháp ngoại giao và ngoại giao song phương chiếm vị trí chủ đạo trong

hệ thống ngoại giao Đông Á của Mỹ9 và tất cả đều dựa trên nền tảng là sứcmạnh không thể thiếu của nước Mỹ

Trong chính sách đối với Đông Á dưới thời Tổng thống G.W.Bush,(2001 - 2008), điều đầu tiên đặt ra là Mỹ đòi hỏi các đồng minh Đông Ácủa mình sự ủng hộ về vật chất và tinh thần cho cuộc chiến chống khủng

bố quốc tế mà Mỹ phát động Theo đó, Nhật Bản, Hàn Quốc bất chấp sựphản đối mạnh mẽ của dư luận trong nước đã hỗ trợ hậu cần quân sự ở mứcchưa từng có cho Mỹ và liên quân do Mỹ lãnh đạo tiến hành cuộc chiếnchống khủng bố, trong đó có cuộc chiến tranh Irắc do Mỹ phát động Mỹcũng tăng cường quan hệ hợp tác chống khủng bố với các nước đồng minhkhác ở Đông Nam Á như Thái Lan, Philippin trên hai phương diện: trợgiúp các nước này chống khủng bố và các lực lượng ly khai ngay tronglòng mỗi nước này, đồng thời yêu cầu các nước chia sẻ gánh nặng của Mỹtrong cuộc chiến tranh ở Irắc10

Trong chính sách chung của mình ở khu vực Đông Á, Mỹ chủtrương: "Dựa vào Nhật Bản để tiếp tục xây dựng vai trò lãnh đạo trong cácvấn đề quốc tế và khu vực; phối hợp với Hàn Quốc duy trì cảnh giác vớiCHDCND Triều Tiên; phát huy mối quan hệ đồng minh 50 năm giữa Mỹ

và Ốtxtrâylia để tiếp tục cùng nhau giải quyết các vấn đề khu vực và toàncầu; duy trì lực lượng trong khu vực nhằm thể hiện cam kết của Mỹ đối vớicác đồng minh; dựa vào sự ổn định do các mối quan hệ đồng minh này tạo

ra, cũng như vào những thể chế như ASEAN, APEC để hoạch định cácchính sách song phương và khu vực nhằm kiểm soát những thay đổi trongkhu vực năng động này11

9 Tài liệu TKĐB, TTXVN, Sđd, ngày 11-4-2007, tr.11.

10 Dẫn theo: Phạm Minh Sơn: Chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008, tr.57.

11 Dẫn theo: Xây dựng chương trình nghị sự cho các hoạt động hợp tác với những trung tâm quyền lực toàn cầu khác - Nhà trắng, Washington D.C 9-2002, http://wwwwhitehouse.gov/nsc/html

Trang 28

Chính sách đối ngoại theo hướng quan tâm đến Đông Á của Mỹ tiếp

tục được tăng cường dưới thời Tổng thống Obama Sau khi lên cầm quyền,

Chính quyền Obama đã đưa ra đánh giá đối với khu vực Đông Á từ ba mặt:

Một là: vị thế của khu vực Đông Á trên thế giới Hiện nay, Mỹ cho

rằng khu vực Đông Á không chỉ là một trong những khu vực có dân sốđông nhất thế giới, mà còn là một trong những khu vực có nền kinh tế pháttriển sôi động nhất và tập trung nhiều của cải nhất và cũng là một trongnhững khu vực có lực lượng quân sự dày đặc nhất, tiềm lực phát triển quân

sự lớn nhất và vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới.Ngoại trưởng Mỹ H Clinton thừa nhận: “Mấy thế hệ trước, các nước châu

Á từng rất nghèo, hiện nay họ có thể tự hào cho rằng họ là khu vực có mứcsống cao của thế giới Đến năm 2015, Đông Á sẽ hoàn thành vượt mục tiêu

“Chương trình phát triển thiên niên kỷ” của LHQ Vì vậy, bất kể về lĩnhvực kinh tế, hay là an ninh, đối với Mỹ khu vực Đông Á ngày càng trở nênquan trọng”

Hai là: lợi ích của Mỹ ở khu vực Đông Á Ngày nay, Mỹ nhiều lần

nhấn mạnh lợi ích của Mỹ gắn bó chặt chẽ với khu vực Đông Á Ngoạitrưởng Mỹ H Clintơn tuyên bố: “tương lai của Mỹ liên quan chặt chẽ vớiCA-TBD, còn tương lai của CA-TBD sẽ phải dựa vào Mỹ Về kinh tế vàchiến lược, Mỹ có lợi ích quan trọng trong việc tiếp tục lãnh đạo châu Á.”

“Về kinh tế, chúng tôi không có cách nào thoát khỏi sự gắn bó này Chẳnghạn như xuất khẩu về hàng hóa và dịch vụ của các công ty Mỹ sang cácnước CA-TBD đạt 320 tỉ USD, đồng thời tạo cơ hội việc làm thu nhập caocho hàng trăm nghìn người Cùng với đó, hàng trăm hàng nghìn nam nữquân nhân cũng đang phục vụ cho an ninh của khu vực này…”12 Chuyêngia về các vấn đề quốc tế Mỹ James J Przystup đã khái quát lợi ích của Mỹ

ở khu vực CA-TBD: bảo vệ lợi ích của công dân Mỹ ở châu Á, bảo hộ thịtrường của Mỹ ở khu vực này, bảo đảm sự tự do và an ninh của giao thôngđường biển, duy trì thế cân bằng lực lượng khu vực, đề phòng sự phổ biến

vũ khí hủy diệt hàng loạt, thúc đẩy các mặt như dân chủ và nhân quyền13

12 Dẫn theo: "Chiến lược an ninh Châu Á - TBD của chính quyền Obama" Trên trang Websi http://nghiên cứu bien dong.vn, ngày 7-11-2011, tr.2.

13 Dẫn theo: "Chiến lược an ninh Châu Á - TBD của chính quyền Obama" Trên trang Websi http://nghiên

Trang 29

Ba là: những thách thức mà Mỹ phải đối mặt ở khu vực Đông Á.

Trong “Báo cáo chiến lược an ninh CA-TBD của Mỹ” gửi lên chính quyềnObama, Trung tâm an ninh mới của Mỹ nêu rõ, gần 10 năm trở lại đây, khuvực Đông Á nảy sinh 4 thay đổi mang tính căn bản: 1) Sức mạnh chính trị

và tốc độ phát triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so vớicác khu vực khác trên thế giới Hiện nay, xuất khẩu của khu vực Đông Áchiếm 30% tổng lượng xuất khẩu của thế giới, kim ngạch thương mại mỗinăm giữa khu vực CA-TBD và Mỹ vượt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hốichiếm 2/3 tổng lượng của thế giới; 2) Sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt

đã đem đến cơ hội để kinh tế các nước xung quanh phát triển, mặt kháccũng đặt ra cho họ nhiều thách thức; 3) Các quốc gia sở hữu hạt nhân ở khuvực CA-TBD không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của chính phủ nhiềunước đối với vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thống phòngthủ tên lửa đạn đạo của Mỹ ở khu vực này, đều có khả năng dẫn đến cuộcchạy đua vũ trang thêm gay gắt; 4) Cơ chế hợp tác đa phương tại khu vựckhông ngừng tăng làm cho khả năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng tănglên Tất cả những thay đổi này bên cạnh đem lại cơ hội, cũng đặt ra không ítthách thức đối với Mỹ, trong đó Mỹ quan ngại nhất là sự trỗi dậy của TrungQuốc Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc sẽ là mối đe dọađối với sức ảnh hưởng kinh tế của Mỹ ở khu vực này Sự “lớn mạnh khôngngừng” của sức mạnh quốc phòng Trung Quốc, sự “không minh bạch” của pháttriển quân sự, và sự “tăng lên nhanh chóng” của chi phí quân sự, cũng như những

“hoạt động liên tiếp” của hải quân Trung Quốc ở Biển Đông đều đe dọa trực tiếpđến vai trò của Mỹ tại đây Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy Bắc Kinh rất

có tham vọng, và đang tìm cách thay thế vị thế mang tính chủ đạo của Mỹ ở TBD, cho tới toàn cầu.”

Ngoài những thách thức từ Trung Quốc, Mỹ còn lo lắng về vấn đềphổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt ở châu Á như vấn đề hạt nhân ởCHDCND Triều Tiên và Iran Vấn đề phổ biến hạt nhân không chỉ ảnhhưởng đến sự ổn định khu vực, mà còn kích thích Nhật Bản và Hàn Quốc

hạ quyết tâm phát triển vũ khí hạt nhân, thậm chí còn phá hoại hơn nữaquan hệ giữa Mỹ và các nước đồng minh này Thêm vào đó, chủ nghĩakhủng bố Hồi giáo ở Nam Á và Đông Nam Á tạo thành mối đe dọanghiệm trọng đối với lợi ích an ninh của Mỹ ở khu vực CA-TBD Trong

Trang 30

những thách thức mới, Mỹ còn nhìn thấy rất nhiều mối đe dọa khác nhưmối đe dọa từ khủng hoảng tài chính, môi trường, bệnh truyền nhiễm xuyênquốc gia Ngoại trưởng H Clintơn cho rằng “châu Á không chỉ là khu vựccủa các quốc gia trỗi dậy, mà còn là nơi có chính quyền bị cộng đồng quốc

tế cô lập; ở đó không chỉ tồn tại thách thức lâu dài, mà còn đang phải đốimặt với các mối đe dọa chưa từng có”14

Từ những thách thức mới đối với Mỹ nêu trên, chính sách đối ngoại

củ Mỹ ở Đông Á hiện nay xoay quanh ba vấn đề chính sau:

Một là: Khẳng định vị thế, vai trò của Mỹ ở Đông Á Sau khi lên cầm

quyền, trước tiên, chính quyền Obama đã đưa ra những điều chỉnh lớn vềquan niệm, theo đó nhấn mạnh Mỹ không những là một quốc gia ở CA-TBD, mà còn là một nhà nước châu Á Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ RobertGates từng tuyên bố rõ ràng rằng “Mỹ không phải là một khách mời củachâu Á, mà là một nước cư trú ở châu Á”15 Ngày 21 tháng 1 năm 2010, tạicuộc điều trần trước quốc hội, Trợ lí Ngoại trưởng phụ trách các vấn đềCA-TBD Kurt M Campbell nói rất rõ: “Nhân dịp thế kỷ của CA-TBDđang đến, trong môi trường quốc tế mới, Mỹ cần phải tăng cường và làmsâu sắc hơn nữa vai trò lãnh đạo và sự tham gia chiến lược của mình ở khuvực này”16 Từ đó có thể thấy, mục tiêu chủ yếu của chiến lược an ninhCA-TBD của Mỹ là: muốn tăng cường quyền lãnh đạo và quyền khống chếcủa Mỹ đối với khu vực CA-TBD

Ngày 12 tháng 1 năm 2010, trong bài phát biểu ở Honolulu, Ngoạitrưởng H Clintơn đã trình bày rõ ràng trọng điểm và nguyên tắc công việccủa Mỹ ở khu vực CA-TBD và trên thực tế những nguyên tắc và trọng điểmnày là nội dụng cơ bản của chiến lược an ninh CA-TBD của Mỹ hiện nay

Hai là: Củng cố và tăng cường các liên minh truyền thống với các nước trong khu vực, phát triển các quan hệ đối tác chiến lược mới.

Mỹ coi các nước đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philíppin vàThái Lan là lực lượng nòng cốt để Mỹ tiếp tục duy trì và phát huy tầm ảnh

14 Dẫn theo: "Chiến lược an ninh Châu Á - TBD của chính quyền Obama" Trên trang Websi http://nghiên cứu bien dong.vn, ngày 7-11-2011, tr.4.

15 Dẫn theo: "Chiến lược an ninh Châu Á - TBD của chính quyền Obama" Trên trang Websi http://nghiên cứu bien dong.vn, ngày 7-11-2011, tr.5.

16 Dẫn theo: "Chiến lược an ninh Châu Á - TBD của chính quyền Obama" Trên trang Websi http://nghiên

Trang 31

hưởng ở khu vực Đông Á Điều đó được thể hiện qua việc Mỹ khôngnhững không cắt giảm quân đồn trú ở Nhật Bản và Hàn Quốc, mà cònkhông ngừng cải tiến chất lượng quân đồn trú của Mỹ ở khu vực này Bêncạnh đó, hợp tác quân sự giữa Mỹ với các nước đồng minh ở Đông Nam Áđược khôi phục và tăng cường Ngoài việc cung cấp vũ khí, Mỹ và cácnước này còn tiến hành các cuộc tập trận, trao đổi thông tin quân sự… Đểtăng cường vai trò và tầm ảnh hưởng ở Đông Á, Mỹ còn chú trọng pháttriển quan hệ với nhiều nước Đông Á khác Ngoại trưởng Mỹ H Clintơnnêu rõ: “Ngoài hiệp ước đồng minh, Mỹ sẽ tăng cường quan hệ với cácnước chủ chốt khác, chúng tôi sẽ tiến hành đối thoại chiến lược với Ấn Độ,triển khai đối thoại chiến lược và kinh tế với Trung Quốc, xây dựng quan

hệ đối tác toàn diện với Inđônêxia Chúng tôi đang tăng cường quan hệ vớicác đối tác mới và đối tác lâu dài của chúng tôi, chẳng hạn như quan hệ vớiViệt Nam và Xinhgapo”

Ba là: Xây dựng các cơ chế bền vững cho sự hợp tác khu vực Mỹ

tích cực tham gia cơ chế hợp tác kinh tế và an ninh khu vực, bao gồm các

cơ chế như ngăn ngừa phổ biến vũ khí hạt nhân, xung đột khu vực, chạyđua vũ trang và hàng rào thuế quan, trong đó nhấn mạnh ý nghĩa quantrọng của việc “hợp tác có kết quả” Ngoại trưởng H Clintơn nói: “Kết quảthu được của những tổ chức hiện có quan trọng hơn nhiều so với kết quảthu được của những tổ chức mới Hiện nay, trong cơ chế đa phương, đốithoại là vô cùng quan trọng Với tư cách là một quốc gia ở châu Á đangngày càng có vai trò quan trọng trong khu vực và trên thế giới, chúng tôi sẽphải hành động nhiều hơn nữa Các tổ chức nên có quy tắc và đánh giá mộtcách chân thành đối với sự tiến bộ của các cơ chế, đồng thời cũng nhấnmạnh tất cả các thành viên đều nên có trách nhiệm trong việc phát huy vaitrò tích cực”17 Mỹ chủ trương phát huy vai trò lớn hơn trong các cơ chếhợp tác vốn có, phản đối việc thành lập các cơ chế khu vực mới, là vì sợcác nước lớn khác sẽ thông qua việc xây dựng các cơ chế mới để loại bỏ

Mỹ Tháng 11-2011, Mỹ là nước đăng cai tổ chức Hội nghị Thượng đỉnhAPEC với hy vọng sẽ đạt được mục đích can dự vào các hoạt động của khuvực, tuyên truyền quan niệm giá trị của Mỹ, nâng cao sức cạnh tranh củacác doanh nghiệp nước mình ở khu vực này Cùng với việc nhấn mạnh

17 Dẫn theo: "Chiến lược an ninh Châu Á - TBD của chính quyền Obama" Trên trang Websi http://nghiên cứu bien dong.vn, ngày 7-11-2011, tr.7.

Trang 32

triển khai rộng rãi hợp tác đa phương có tính linh hoạt và tính đa dạng, Mỹcòn coi trọng tính sáng tạo của hợp tác Chính quyền Obama tích cực pháttriển quan hệ với các nước thuộc lưu vực sông Mê Công, tiếp tục triển khaiđối thoại chiến lược ba bên với Ôxtrâylia và Nhật Bản, Nhật Bản và HànQuốc Mỹ còn hy vọng xây dựng đối thoại ba bên giữa Trung-Mỹ-Nhật vàNhật-Mỹ-Ấn, từ đó hình thành các cơ chế hợp tác khu vực CA-TBD đều có

Mỹ can dự

Tóm lại, chính sách Đông Á của Mỹ dưới thời Tổng thống Obama cóthể được gọi là “chính sách can dự trở lại” Chính sách này được đưa radựa trên cơ sở xem xét lại chính sách ngoại giao và chính trị cường quyềncủa chủ nghĩa đơn phương dưới thời Tổng thống G.W.Bush; là sự mở rộng

và khẳng định lại đối với chính sách Đông Á của Chính quyền B.Clinton.Phạm vi tư duy của chính sách này là chủ nghĩa tự do mới, tức là nhấnmạnh hợp tác ngoại giao, chứ không phải đe dọa bằng vũ lực; coi trọngviệc tiếp xúc hiểu biết lẫn nhau, chứ không phải đối kháng cô lập; thừanhận lợi ích chung, chứ không phủ nhận mâu thuẫn, xung đột; nhấn mạnhviệc phát triển cơ chế đa phương, chứ không đơn thuần dựa vào liên minhquân sự song phương, từ đó đạt được mục tiêu cuối cùng là tăng cườngquyền lãnh đạo và khống chế của Mỹ ở khu vực này Điều đáng lưu ý là:

“chính sách can dự trở lại” không phải là chỉ Mỹ quay trở lại, hoặc can dựtrở lại công việc ở Đông Á, vì xưa nay Mỹ chưa bao giờ rời khỏi Đông Á,

mà là Chính quyền Obama lại dùng cách tư duy của chủ nghĩa tự do mới đểxem xét, xử sự và giải quyết vấn đề Đông Á

1.1.2.2 Chính sách của Nhật Bản đối với Đông Á trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Bước vào thế kỷ XXI, thế giới nói chung và khu vực Đông Á nóiriêng đều có những biến đổi căn bản tác động đến mọi mặt của đời sống xãhội và quan hệ quốc tế Nhật Bản cũng chịu tác động từ những biến đổi trên

và buộc phải có sự điều chỉnh toàn bộ chính sách phát triển của mình, trong

đó bao gồm cả chính sách đối với Đông Á Chính sách mới của Nhật Bảnđối với khu vực Đông Á là sự thống nhất trong chính sách chung của Nhậtvới thế giới, đồng thời cũng thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt cho dù dướigiai đoạn cầm quyền của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) hay Đảng Dân chủ

Trang 33

Nhật Bản (DPJ) hiện nay Chính sách Đông Á mới của Nhật Bản hiện nayđược hình thành dưới tác động của một số nhân tố sau:

Trước hết, về bối cảnh quốc tế và khu vực: Bước vào thế kỷ XXI,

mặc dù có cuộc tấn công khủng bố nước Mỹ 11-9-2001 và cuộc chiến chốngkhủng bố do Mỹ phát động với hai cuộc chiến tranh lớn ở Ápganixtan và Irắc,nhưng trên tất cả, xu thế hoà bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế nổi trội.Trật tự thế giới đa cực, tuy chưa hình thành nhưng xu thế chính đã rõ nét,quan hệ giữa các nước lớn đang chuyển dần từ đối đầu sang đối tác, đối tácchiến lược và đi vào thế ổn định

Khu vực hoá cũng là một xu thế không thể đảo ngược Các tổ chức

hợp tác, liên kết đã hình thành ngày càng có điều kiện tăng cường sự gắn

bó chặt chẽ như ASEAN; APEC; ASEAN + 3; ASEM… Mặt khác, các cơchế khu vực mới cũng hình thành và phát huy ảnh hưởng như: Hội nghịCấp cao Đông Á (EAS) Thêm vào đó, sự trỗi dậy của Trung Quốc ngàycàng ảnh hưởng đến sự phát triển chung của khu vực Tình hình này đòi hỏiNhật Bản phải điều chỉnh chính sách đối với Đông Á để giữ vững vai trò vàbảo vệ các lợi ích của mình trong khu vực đầy sôi động này

Thứ hai, về thực lực của Nhật Bản: Sau một thập kỷ suy thoái, trì trệ,

bước vào thế kỷ XXI, Nhật Bản có một số thuận lợi nhất định: Nền chínhtrị Nhật Bản có phần ổn định hơn; kinh tế tuy tăng trưởng còn thấp và bấpbênh song đã có tăng trưởng dương Tuy nhiên, Nhật Bản cũng đứng trướcnhiều khó khăn Trong khi chưa đủ sức để tạo dựng một "Đại Đông Á"theo mong muốn thì sự trỗi dậy của Trung Quốc lại là điều đáng lo ngại đối

Trang 34

với Nhật Bản (tính đến năm 2010, Trung Quốc đã chính thức vượt NhậtBản trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 của thế giới)

Những biến động của tình hình thế giới, khu vực, hay trong nội tạinước Nhật đã buộc nước này phải điều chỉnh chính sách đối ngoại với thếgiới nói chung và chính sách với khu vực Đông Á nói riêng Tháng 4-2001,ngay sau khi lên nhậm chức, Thủ tướng Nhật Bản Koizumi đã tuyên bố sẽcải cách chính sách đối ngoại của Nhật theo hướng tăng cường tính độc lập,chủ động và tích cực hơn để vươn lên thành cường quốc chính trị tươngxứng với sức mạnh kinh tế nhằm phát huy vai trò ảnh hưởng ở Đông Á vàtrên thế giới Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, chính sách Đông Á củaNhật Bản có những điều chỉnh sau:

Một là, củng cố quan hệ song phương với Mỹ: Quan hệ Nhật - Mỹ đã

có bề dày lịch sử và được xây dựng trên cơ sở đồng thuận về hệ tư tưởngchính trị Hai nước đã ký Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ năm 1960 và giahạn trong tình hình mới vào năm 1996 Theo đánh giá của cả Mỹ và NhậtBản, tình hình khu vực CA-TBD sau chiến tranh lạnh vẫn tiềm ẩn nhiềunguy cơ xung đột và sự hiện diện của Mỹ về quân sự ở khu vực Đông Á làcần thiết để duy trì an ninh và ổn định ở khu vực này Trong các cuộc tiếpxúc song phương, Thủ tướng Nhật J.Koizumi và Tổng thống Mỹ G.Bushđều cho rằng cần cải tổ và củng cố hợp tác an ninh Nhật - Mỹ Cương lĩnhcủa chính phủ liên minh do DPJ cầm quyền hiện nay xác định sự cần thiết

xây dựng một quan hệ đối tác chặt chẽ và bình đẳng trong liên minh với

Mỹ 18 Nhật Bản xem xét lại thoả thuận Nhật - Mỹ về quy chế quân đội Mỹ,

cũng như việc tái bố trí các căn cứ quân sự Mỹ tại Nhật Bản, theo đó:

- Đổi tên Cục phòng vệ Nhật Bản (JDA) thành Bộ Quốc phòng và nâng cấp thành bộ có vị trí then chốt trong Nội các của Nhật Vấn đề này

bắt đầu từ năm 2001, nhằm tạo thuận lợi cho quan hệ an ninh Nhật - Mỹ

- Triển khai Hiệp định phát triển tên lửa đạn đạo với Mỹ Theo Hiệp

định này, Nhật Bản chịu trách nhiệm nghiên cứu và triển khai các loại tên lửaphòng thủ trên biển và hệ thống phòng không chống tên lửa đạn đạo Chi tiêu

18 Dẫn theo: Nguyễn Ngọc Trường: "Chính sách đối ngoại mới của Nhật Điều chỉnh và cọ sát - Báo Tổ

Trang 35

cho việc sản xuất vũ khí và các phương tiện quân sự hiện đại chiếm gần 50%ngân sách quốc phòng hàng năm của Nhật Bản (xấp xỉ 25 tỷ USD)19

- Điều chỉnh và cơ cấu lại lực lượng quân sự Mỹ đồn trú tại Nhật Bản theo hướng tinh giảm và trang bị vũ khí hiện đại Cố gắng giảm thiểu

những ảnh hưởng do hoạt động quân sự gây ra đối với các khu vực dân cưquanh căn cứ quân sự Mỹ (nhất là khu vực Okinawa)

Vào ngày 17-12-2010, Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan công bốchính sách quốc phòng mới của Nhật Theo chính sách này, Nhật sẽ chi23,49 nghìn tỷ yên (280 tỷ USD) cho chi tiêu quốc phòng trong 5 năm kể

từ tháng 4/2011, giảm 3% so với giai đoạn 5 năm trước do sức ép của nợcông đã tăng gấp đôi GDP20 Chính sách quốc phòng mới của Nhật Bản vẫnkhẳng định sự cần thiết của Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, đồng thời thayđổi mục tiêu tập trung các khả năng quân sự, khi phải đối mặt với sự giatăng quân sự từ Trung Quốc và chương trình hạt nhân của CHDCND TriềuTiên

Hai là, đa phương hoá quan hệ, dành ưu tiên nhiều hơn cho khu vực Đông Á Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, mặc dù còn nhiều khó khăn trong

quá trình chấn hưng nền kinh tế, song Nhật Bản vẫn không ngừng tăngcường chính sách "Trở lại châu Á", phát huy vai trò người đại diện chochâu Á trong G7, lấy châu Á làm "bàn đạp" để từng bước đưa Nhật Bản trởthành cường quốc về chính trị Thực tiễn cho thấy, Đông Á là khu vực gắn

bó khăng khít với nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỷ qua, là nơi tạo

ra nguồn cung và nguồn cầu to lớn cho nền kinh tế Nhật Đông Á là nơicung cấp nguyên liệu, năng lượng, các loại sản phẩm công nghiệp chế tạo

và nhiều loại hàng hoá khác Ngoài ra, gần đây Đông Á còn là nguồn cungcấp nhân lực trực tiếp cho Nhật Bản để bổ sung những thiếu hụt về nguồnlao động của quốc gia này" Những động thái gần đây của Nhật Bản như kýhiệp định thương mại tự do song phương với nhiều nước Đông Á, tích cựctrong việc thành lập Cộng đồng Đông Á, dành 50 – 60% tổng ODA cho cácnước châu Á càng cho thấy chính sách “nhập Á” của Nhật Bản

Ba là, coi trọng nhiều hơn đến vai trò của các nước ASEAN Các

nước ASEAN nằm trên con đường vận tải biển chiến lược của Nhật Bản

19 Dẫn theo: Phạm Minh Sơn…., Sđd, tr.248.

20 Dẫn theo: Thái An, tổng hợp từ AP và Reuters.

Trang 36

Duy trì sự ổn định ở khu vực này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với lợiích an ninh và kinh tế của Nhật Bản Tháng 1-2002, trong chuyến thămXinhgapo, Thủ tướng Koizumi đã đề xuất ý tưởng xây dựng "Cộng đồngĐông Á" mong muốn bằng việc tăng cường hợp tác với các nước ASEANtrên nhiều lĩnh vực, có thể xúc tiến quá trình nhất thể hoá khu vực Tháng12-2003, Hội nghị Cấp cao ASEAN - Nhật Bản lần thứ nhất đã thông qua

"Tuyên bố Tokyo", nhấn mạnh trên cơ sở hợp tác kinh tế sẽ phát triểnthành hợp tác chính trị và an ninh Tuy nội các Nhật Bản có thay đổi nhưngchính sách đối với ASEAN luôn được thực hiện nhất quán như: - Duy trìđối thoại và xây dựng lòng tin giữa Nhật Bản với các đối tác thông quahoạt động của Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) và ASEAN + 1; - Ủng hộtiến trình xây dựng khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA); - Xúctiến xây dựng Quỹ tiền tệ châu Á (AMF) Quỹ này sẽ thực thi các chứcnăng tín dụng theo mô hình IMF thu nhỏ; - Phối hợp giải quyết bằngphương pháp hoà bình các vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên biển với cácquốc gia láng giềng

Chính sách: "Tăng cường ngoại giao châu Á" một lần nữa được DPJkhẳng định: Trong khi tiếp tục duy trì mối quan hệ chiến lược với Mỹ,

Nhật Bản cần tập trung vào Trung Quốc và Hàn Quốc Chính sách Đông Á

mới của Nhật nhằm khắc phục các hạn chế trong quá khứ về sự phụ thuộcthái quá vào Mỹ, đồng thời nhấn mạnh ưu tiên mối quan hệ tay ba: NhậtBản - Hàn Quốc - Trung Quốc, duy trì và phát huy hệ thống "quyền lựcmềm" (xã hội đậm đà văn hoá, công nghệ cao; ảnh hưởng kinh tế và tưtưởng Minh Trị…) với Việt Nam; Inđônêxia; Cămpuchia và Philippin…

Như vậy là, trước những thay đổi của khu vực trong thập niên đầuthế kỷ XXI, Nhật Bản đã điều chỉnh chính sách Đông Á của mình theohướng tích cực, chủ động, độc lập hơn với Mỹ, tích cực tham gia trong cácđịnh chế khu vực để cùng ASEAN tạo thế cân bằng "động" vừa hợp tácvừa kiềm chế lẫn nhau trong quan hệ giữa các nước lớn và tạo thế đối ngoạicho mình, trước hết tại khu vực

1.1.2.3 Chính sách của LB Nga đối với khu vực Đông Á thập niên đầu thế kỷ XXI

Trang 37

Tuy là một quốc gia Á – Âu nhưng phần lớn lãnh thổ lại nằm ở Đông Á, LBNga có vai trò quan trọng trong việc hình thành cục diện an ninh Đông Á Nga cólợi ích ở Đông Á, nhưng nhìn tổng thể, đây chưa phải là "sân chơi" chính của Nga.

Do vậy, trong thập niên đầu thế kỷ XXI nước Nga như "con gấu ngủ đông" đối vớiĐông Á Chính sách Đông Á của Nga chỉ thực sự được đề cập và gia tăng mạnh mẽvào đầu năm 2011 Tuy nhiên, chính sách đó là sự tiếp nối của một quá trình trăn trởsuốt hơn một thập kỷ qua

Sau 8 năm cầm quyền của Tổng thống V.Putin và hơn 3 năm dưới sựlãnh đạo của cặp Métvêđép - Putin, nước Nga ngày nay đã trở lại vị trí

cường quốc thế giới Về kinh tế, Nga còn ở vị trí khiêm tốn trên bảng xếp

hạng của thế giới, nhưng lại có nền công nghiệp cơ bản và là nước có trữlượng dầu mỏ, khí đốt hàng đầu thế giới Vì thế, dầu mỏ và khí đốt đã gópphần làm tăng vị thế của Nga trên sân khấu chính trị thế giới Sức mạnh đócòn thể hiện trong các mối quan hệ của Nga với các bạn bè đối tác của Nga

ở các khu vực và trên thế giới Về quân sự, trong thời kỳ của Tổng thống

Putin và Métvêđép cầm quyền, quân đội Nga đã được tổ chức lại theohướng cơ động, tinh nhuệ và hiệu quả Lực lượng vũ trang Nga được trang

bị vũ khí chiến lược có đủ khả năng răn đe mọi đối thủ Do đó, Mỹ, Tây Âu

và Nhật Bản không thể không hợp tác với Nga trong giải quyết những vấn

đề trọng đại của thế giới cũng như khu vực

Đối với Nga, Đông Á trở thành một phần quan trọng trong chiếnlược phục hưng nước Nga Một khu vực Đông Á mở cửa có tầm quan trọngđối với Nga bởi quy mô thị trường này rất lớn, có ảnh hưởng trực tiếp tớilợi ích kinh tế, thương mại của Nga

Nhận thức được vấn đề này, đến nhiệm kỳ của Tổng thốngMétvêđép, Nga bắt đầu quan tâm đến việc mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại, an ninh đối với Đông Á, gắn với sự phát triển của vùng Viễn Đông(Nga) nói riêng và mục tiêu phát triển nước Nga nói chung Những nguyêntắc cơ bản trong chính sách của Nga đối với Đông Á nhằm tăng cường hợptác với các nước trong khu vực để cân bằng lực lượng với phương Tây

Trên lĩnh vực kinh tế: Nga tích cực tham gia hợp tác và hội nhập với các

nền kinh tế Đông Á, nâng cao ảnh hưởng của mình ở khu vực này Nga chủtrương mở cửa vùng Viễn Đông để thu hút đầu tư nước ngoài; áp dụngnhiều chính sách ưu đãi, đưa ra các hạng mục hợp tác, thành lập các khu

Trang 38

vực kinh tế tự do ở các tỉnh vùng Viễn Đông21 Nhiều nước Đông Á, trong

đó quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đang tích cực hợp tácvới Nga phát triển kinh tế ở vùng này Nga cũng tăng cường mở rộng thịtrường vũ khí ở khu vực, coi đây là nguồn cung cấp ngoại hối quan trọng

và để cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực

Bên cạnh đó, Nga còn chú trọng phát triển quan hệ với các nước ASEAN: nước Nga ngày càng nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của

ASEAN trên bản đồ địa chính trị thế giới Với khoảng 550 triệu dân vàtổng giá trị sản phẩm nội khối đã vượt quá 1,5 nghìn tỷ USD, ASEAN thực

sự là một thị trường khổng lồ và phát triển năng động, mà bằng chứng làcác quốc gia của khu vực này vẫn đạt được tăng trưởng kinh tế dương ngaytrong điều kiện khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu Vị trí địa lý củacác quốc gia ASEAN cũng thật "đắc địa", bởi nó nằm tại trung tâm giao thôngthế giới với 45% khối lượng lưu thông thương mại thế giới đi qua eo biểnMalắcca và Xinhgapo22 Cùng với quá trình TCH kinh tế, ý nghĩa về vị thếcủa khu vực này ngày một tăng lên và Nga không thể bỏ qua lợi thế này

Trong chính sách Đông Á của mình, Nga coi trọng xây dựng quan

hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ, tập trung vào

các lĩnh vực kinh tế, thương mại, kỹ thuật quân sự trên nguyên tắc tôntrọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi Phát biểu tại Hội nghị anninh châu Á được tổ chức tại Sangri-La (Xinhgapo) tháng 6 năm 2011, Phó Thủtướng Nga - Sergei Ivanov nói: "Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia lớn nhấtchâu Á là đối tác chiến lược của chúng tôi Chúng tôi cũng hợp tác thành côngtrên nhiều lĩnh vực với Nhật Bản và Hàn Quốc… Quan hệ đa phương của Ngavới các quốc gia thành viên ASEAN như Việt Nam, Inđônêxia, Xinhgapo đangđược phát triển Nga đã và đang tăng cường đối thoại chiến lược với ASEAN vàtham gia APEC, nơi Nga sẽ giữ vai trò điều phối vào năm 2012"… Nga mongmuốn chứng kiến khu vực CA-TBD phát triển mạnh mẽ, thịnh vượng"23

Trên lĩnh vực an ninh, Nga chủ trương thúc đẩy thành lập cơ chế hiệp thương an ninh Đông Bắc Á gồm: CHDCND Triều Tiên; Hàn Quốc; Mỹ;

Nhật Bản; Trung Quốc, Nga; lấy cơ chế này thiết lập không gian an ninh tậpthể cho khu vực CA-TBD Mặt khác, Nga tiếp tục duy trì và đề cao vai trò lựclượng quân sự của họ ở khu vực Đông Á; tập trung hiện đại hoá quân đội,

21 Xem thêm: "Nga đẩy mạnh phát triển vùng Viễn đông", Hữu Trung, Báo Tin tức, ngày 23-7-2011.

22 Quế Anh: Chiến lược đối ngoại của Nga năm 2011, TCCSĐT, tháng 2-2011.

23 Nga: Hợp tác với châu Á là ưu tiên ngoại giao của Moscaw, Báo Giáo dục Việt Nam, chủ nhật ngày

Trang 39

5-trong đó ưu tiên lực lượng quân sự đóng ở vùng Viễn Đông, trước hết là trênquần đảo Curin, nơi đang diễn ra tranh chấp với Nhật Bản24

Tóm lại, LB Nga là một quốc gia Đông Á, có vai trò, lợi ích quan

trọng trong khu vực này Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau,những năm trước đây, Đông Á chưa thực sự được Nga quan tâm tươngxứng với tiềm năng và vị thế của nó Dưới thời Tổng thống Métvêđép hiệnnay, Nga đã quan tâm đúng mức đối với Đông Á Sự tham gia của Nga ởĐông Á góp phần quan trọng vào cơ cấu "cân bằng" quyền lực ở khu vực.Việc Nga tham gia tiến trình Đông Á trong năm 2011 và giữ vai trò điềuphối APEC trong năm 2012 dự báo sự hợp tác và hội nhập khả quan hơnnữa của Nga đối với Đông Á

1.1.2.4 Chính sách của Ấn Độ đối với khu vực Đông Á thập niên đầu thế kỷ XXI

Ấn Độ đưa ra "Chính sách hướng Đông" từ đầu thập niên 90 của thế

kỷ XX, cũng được gọi là chính sách nhìn về phía Đông (Look East Policy),tính đến nay đại thể đã trải qua hai giai đoạn phát triển Giai đoạn đầu cótrọng điểm là nối lại quan hệ với các nước Đông Nam Á để "đáp chuyếntàu kinh tế nhanh" vốn được tôn vinh là các con rồng châu Á Trong bàiphát biểu năm 2005 tại Malaixia, Thủ tướng Ấn Độ M.Singh đã làm rõchính sách hướng Đông không đơn thuần là một chính sách kinh tế hướngngoại, mà còn là một bước chuyển hướng chiến lược trong cách nhìn nhậncủa Ấn Độ về thế giới và vị trí của Ấn Độ trong quá trình TCH hiện nay.Ông nói: "Trên tất cả là vươn tới các nước láng giềng có chung nền vănminh với chúng tôi ở Đông Nam Á và Đông Á Tôi luôn coi vận mệnh của

Ấn Độ gắn với các nước này và nhất là Đông Nam Á Tôi nhắc lại cam kếtcủa Ấn Độ trong việc cùng ASEAN và các nước Đông Á biến thế kỷ XXIthực sự là thế kỷ của châu Á"25

Bước vào thế kỷ mới, trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, cũng như thểnghiệm thành công công nghệ hạt nhân, Ấn Độ đã khởi động mục tiêu "trỗidậy của nước lớn", tăng cường việc hướng sang phía Đông Giai đoạn 2 củachính sách hướng Đông hiện nay của Ấn Độ có thể khái quát như sau:

Một là: Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á

và Đông Á Tháng 11/2002, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Ấn Độ lần đầu

24 Xem thêm: Lưu Việt: Nga ưu tiên nâng cấp Hạm đội Thái Bình Dương, Báo Tổ quốc, ngày 12-2-2011.

25 Dẫn theo: PM (Man mohan Singh)' keynote addres at special leaders dialogue of ASEAN Business Advisory Couneil, CualaLumpur, December 12.2005, http://wwwpmidia.nic.in/specches.htm

Trang 40

tiên được tổ chức tại Phnômpênh (Cămpuchia), Ấn Độ chính thức trở thànhmột bên của cơ chế hợp tác ASEAN + 1 Như vậy, Ấn Độ là nước đầu tiênngoài khu vực Đông Á tham gia vào cơ chế hợp tác ASEAN + 1 Kể từ đâyquan hệ Ấn Độ - ASEAN phát triển mạnh mẽ và ngày càng đi vào chiều sâu.

Cũng trong giai đoạn 2 của chính sách hướng Đông, Ấn Độ đã lầnlượt thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản (10/2008), Hàn Quốc(01/2010) và Việt Nam (11/2011) Quan hệ giữa Ấn Độ với Trung Quốccũng thay đổi nhanh chóng trong thời gian gần đây Trong chuyến thăm Ấn

Độ của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tháng 4/2005, hai bên đã cùngnhau ký bản Tuyên bố chung, trong đó nhấn mạnh: "mối quan hệ đối tácchiến lược, hợp tác vì hoà bình và thịnh vượng"26 Vào tháng 12/2010, Thủtướng Ôn Gia Bảo một lần nữa đến thăm Ấn Độ nhân dịp kỷ niệm 60 nămthiết lập quan hệ ngoại giao Động thái trên cho thấy, cả Ấn Độ và TrungQuốc đều muốn "khép lại" quá khứ để cùng nhau tiến lên Chính phủ Ấn Độtừng nhiều lần nhấn mạnh phát triển quan hệ với Trung Quốc là "một phầnquan trọng" trong chính sách hướng Đông của họ

Hai là: Mở rộng lĩnh vực hợp tác cả kinh tế lẫn an ninh, quốc phòng.

Về kinh tế:

+ Đối với ASEAN: Hiệp đinh Khu vực mậu dịch tự do Ấn Độ

-ASEAN (FTA) đã được ký kết tại Băng Cốc (Thái Lan) năm 2009 Hiệpđịnh này có hiệu lực từ ngày 1/1/2010

+ Đối với Nhật Bản, kể từ năm 2003 quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và Nhật

tăng lên nhanh chóng; hiện Nhật Bản là đối tác thương mại thứ 7 của Ấn Độ27

+ Với Hàn Quốc: cùng với việc nâng cấp quan hệ Ấn - Hàn lên

thành "quan hệ đối tác chiến lược", hai bên cũng đặt mục tiêu tăng gấp đôikim ngạch thương mại song phương lên mức 30 tỷ USD vào năm 2014thông qua việc thực hiện đầy đủ quy chế tự do thương mại song phương

+ Với Trung Quốc: Từ năm 2008, Trung Quốc đã trở thành đối tác

thương mại lớn nhất của Ấn Độ Kim ngạch thương mại song phương củahai nước này năm 2010 đạt 60 tỷ USD Các chuyên gia đều cho rằng tiềmnăng hợp tác của hai nước còn rất lớn, theo ước tính đến năm 2050 haiquốc gia khổng lồ này sẽ trở thành hai nền kinh tế lớn nhất thế giới28

26 Dẫn theo: Ngọc Hùng: "Cuộc đua Trung Ấn", http://wwwtgvn.com.vn ngày 7/10/2010.

Ngày đăng: 06/08/2016, 12:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Thanh Bình, châu Á - Thái Bình Dương trước thềm thế kỷ XXI, http://www.cpv.org.vn/cpv, cập nhật ngày 25/2/2011 2. Đỗ Minh Cao, Đền Yasukuni và quan hệ Nhật - Trung trongthập niên đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 9, 9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: châu Á - Thái Bình Dương trước thềm thếkỷ XXI", http://www.cpv.org.vn/cpv, cập nhật ngày 25/2/20112. Đỗ Minh Cao, "Đền Yasukuni và quan hệ Nhật - Trung trong"thập niên đầu thế kỷ XXI
3. Đỗ Minh Cao, Nhật - Trung: những trở ngại tiềm tàng trong quan hệ song phương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 10, tháng 10-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật - Trung: những trở ngại tiềm tàng trongquan hệ song phương
6. Nguyễn Anh Chương, Biến đổi trong quan hệ tam giác Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản với triển vọng nhất thể hóa Đông Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8(114) 8-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi trong quan hệ tam giác TrungQuốc - ASEAN - Nhật Bản với triển vọng nhất thể hóa Đông Á
7. Con đường cạnh tranh trong hợp tác khu vực châu Á và sự lựa chọn chiến lược của Trung Quốc (Tạp chí "châu Á - Thái Bình Dương đương đại", Trung Quốc, số 4/2010), Thông tấn xã Việt Nam, Các vấn đề quốc tế, Tài liệu tham khảo đặc biệt, tháng 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: châu Á - Thái Bình Dươngđương đại
8. Lê Văn Cương, Cục diện an ninh Đông Á đến năm 2020, Tạp chí Cộng sản, Số 811/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục diện an ninh Đông Á đến năm 2020
9. Trần Thị Duyên, Sự biến đổi gần đây của tình hình kinh tế, chính trị Nhật Bản và tác động của nó tới quan hệ Nhật Bản - ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5(123) 5-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi gần đây của tình hình kinh tế, chínhtrị Nhật Bản và tác động của nó tới quan hệ Nhật Bản - ASEAN
10. Nguyễn Hoàng Giáp, Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4(110) 4-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiệnnay
11. Nguyễn Hoàng Giáp, Sự phát triển quan hệ Trung Quốc - ASEAN tác động đến quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển quan hệ Trung Quốc - ASEANtác động đến quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á - Thái BìnhDương
12. Nguyễn Hoàng Giáp, Trật tự quyền lực ở Đông Á thập niên đầu thế kỷ XXI, Thông tin Nghiên cứu quốc tế, số 3+4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự quyền lực ở Đông Á thập niên đầuthế kỷ XXI
13. Nguyễn Minh Hằng, Trung Quốc với sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với sự phát triển kinh tế của cácnước ASEAN
14. Lê Thị Thu Hồng, ASEAN + 3 và cục diện Đông Á đương đại, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 12(118) 12-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN + 3 và cục diện Đông Á đương đại
15. Lâm Khải, Kết nối Đông Á, http://www.tgvn.com.vn, cập nhật ngày 7/12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết nối Đông Á
16. Trần Khánh, Can dự và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can dự và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐôngNam Á thập niên đầu thế kỷ XXI
17. Trần Khánh, Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Trung - Nhật (thập niên đầu thế kỷ XXI), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1 - 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á trong cạnh tranh chiến lược Trung -Nhật (thập niên đầu thế kỷ XXI)
18. Trần Khánh, Lợi ích chiến lược của Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản ở Đông Á trong những thập niên đầu thế kỷ XXI , Tạp chí Cộng sản, số 18 (186)/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích chiến lược của Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bảnở Đông Á trong những thập niên đầu thế kỷ XXI
19. Nhất Lam, Nhật Bản: chiến lược ngoại giao Liên Hợp Quốc, http://tgvn.com.vn, cập nhật ngày 18/12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản: chiến lược ngoại giao Liên Hợp Quốc
20. Nguyễn Kim Lân, Hợp tác ASEAN và Trung Quốc: Cơ hội và thách thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 7 - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác ASEAN và Trung Quốc: Cơ hội vàthách thức
21. Nguyễn Công Minh, Một số nét về chính sách ngoại giao láng giềng mới của Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3 (74), 9 - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét về chính sách ngoại giao lánggiềng mới của Trung Quốc
22. Phạm Bình Minh (Chủ biên), Cục diện thế giới đến năm 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục diện thế giới đến năm 2020
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
62. ASEAN Chairman's Statement on the ASEAN Post Ministerial Conference (PMC)+1 sessions, Singapore, 23 July 2008, http://www.aseansec.org Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w