Trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực để phục vụ cho những lợi ích sống còn của mình, con người ngày càng khám phá ra bí mật của thế giới ấy, càng nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của nó, cũng như tìm ra cách vận dụng những quy luật đó vào các lĩnh vực hoạt động của mình, trước hết là sản xuất ra của cải vật chất, lĩnh vực hoạt động cơ bản nhất của đời sống xã hội. Bằng những tri thức kinh nghiệm và những tri thức lý luận tích lũy được trong quá trình nhận thức thế giới, con người đã sáng tạo ra những công cụ ngày càng tinh vi và hoàn hảo. Chúng đánh dấu trình độ chinh phục của loài người với tự nhiên, là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại trong lịch sử. Trong xã hội hiện đại, nguyên nhân hàng đầu của tăng năng suất lao động, của sự đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng là do con người đã áp dụng đã áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất. Điều đó được thể hiện trước hết ở việc nâng cao trình độ thiết bị máy móc, sự sâu sắc và tăng cường chuyên môn hoá lao động sự tăng lên của xã hội sản xuất.Tất cả các quả trình đó có sự tác động qua lại lẫn nhau thông qua những cơ chế của chúng và cùng một hướng phát triển đã làm cho các qui trình sản xuất trở nên nhịp nhàng, tự động hoá và đạt hiệu quả cao. Song rõ ràng đó không phải là qui trình vận động một cách tự phát, được khẳng định một lần cho xong, mà là các quá trình luôn được vận động, thông qua sự can thiệp và tính năng động, tích cực của chủ thể. Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dẫn tới nền kinh tế tri thức đã tạo ra những bước nhảy vọt trong sản xuất của nhân loại và trong quan niệm về lực lượng sản xuất xã hội. Đối với những nước đang phát triển “con đường công nghiệp hoá rút ngắn thời gian” đó sẽ tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về mặt kinh tế. Bởi vì khoảng cách giữa các nước giàu nghèo chính là sự cách biệt về tri thức, năng lực sáng tạo và sử dụng tri thức. Trong bối cảnh đó các nước “đi sau” chỉ có thể phát triển khoa học công nghệ, giáo dụcđào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức, khả năng sử dụng tri thức, mới có thể rút ngắn được khoảng cách với các nước tiên tiến. Từ nhận thức đó đứng trên quan điểm duy vật biện chứng. Trong bài viết này em xin đề cập tới : KINH TẾ TRI THỨC ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ TRI THỨC TỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA.
Trang 1Đề tài: Kinh tế tri thức - ảnh hởng của kinh tế tri thức tới sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở nớc ta
lời nói đầu
Trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực để phục vụ cho những lợi ích sống còn của mình, con ngời ngày càng khám phá ra bí mật của thế giới ấy, càng nắm bắt đợc quy luật vận động và phát triển của nó, cũng nh tìm ra cách vận dụng những quy luật đó vào các lĩnh vực hoạt động của mình, trớc hết là sản xuất ra của cải vật chất, lĩnh vực hoạt động cơ bản nhất của đời sống xã hội Bằng những tri thức kinh nghiệm và những tri thức lý luận tích lũy đợc trong quá trình nhận thức thế giới, con ngời đã sáng tạo ra những công
cụ ngày càng tinh vi và hoàn hảo Chúng đánh dấu trình độ chinh phục của loài ngời với tự nhiên, là thớc đo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại trong lịch sử
Trong xã hội hiện đại, nguyên nhân hàng đầu của tăng năng suất lao động, của
sự đa dạng hoá sản phẩm tiêu dùng là do con ngời đã áp dụng đã áp dụng tiến
bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất Điều đó đợc thể hiện trớc hết ở việc nâng cao trình độ thiết bị máy móc, sự sâu sắc và tăng cờng chuyên môn hoá lao động sự tăng lên của xã hội sản xuất.Tất cả các quả trình đó có sự tác động qua lại lẫn nhau thông qua những cơ chế của chúng và cùng một hớng phát triển đã làm cho các qui trình sản xuất trở nên nhịp nhàng, tự động hoá và đạt hiệu quả cao Song rõ ràng đó không phải là qui trình vận động một cách tự phát, đợc khẳng định một lần cho xong, mà là các quá trình luôn đợc vận
động, thông qua sự can thiệp và tính năng động, tích cực của chủ thể
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dẫn tới nền kinh
tế tri thức đã tạo ra những bớc nhảy vọt trong sản xuất của nhân loại và trong quan niệm về lực lợng sản xuất xã hội Đối với những nớc đang phát triển
“con đờng công nghiệp hoá rút ngắn thời gian” đó sẽ tránh đợc nguy cơ tụt
hậu xa hơn về mặt kinh tế Bởi vì khoảng cách giữa các nớc giàu nghèo chính
1
Trang 2là sự cách biệt về tri thức, năng lực sáng tạo và sử dụng tri thức Trong bối cảnh đó các nớc “đi sau” chỉ có thể phát triển khoa học công nghệ, giáo dục-
đào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức, khả năng sử dụng tri thức, mới có thể rút ngắn đợc khoảng cách với các nớc tiên tiến Từ nhận thức đó đứng trên quan điểm duy vật biện chứng Trong bài viết này em xin đề cập tới :
"Kinh tế tri thức - ảnh hởng của kinh tế tri thức tới sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở nớc ta"
Chơng 1: kinh tế tri thức là gì?
1) Nguồn gốc của kinh tế tri thức
Từ những năm 70 trở lại đây, tiến bộ khoa học kỹ thuật dần trở nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế Quan niệm “Khoa học kỹ thuật là lực sản xuất thứ nhất” bắt đầu trở thành hiện thực.Sự cạch tranh trong thế giới ngày
nay đã trở thành cuộc cạch tranh quốc lực tổng hợp, lấy kinh tế làm cơ sở, lấy khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học kỹ thuật cao để mở đờng Trên thực tế, năm 1997 giá trị sản xuất khoa học kỹ thuật trong ngành công nghệ thông tin
ở Mỹ đã vợt 10% giá trị tổng sản phẩm quốc nội, tổng giá trị xuất khẩu trong ngành dịch vụ có hàm lợng chất xám cao (mà chủ yếu là kỹ thuật thông tin) chiếm gần 40% tổng giá trị hàng xuất khẩu Gần 50% tổng giá trị xuất khẩu quốc nội của các nớc thành viên Tổ chức hợp tác kinh tế (OECD) có đợc từ các ngành sản xuất có tri thức là nền tảng
Từ đầu những năm 70 đến nay có nhiều cách nói về nền kinh tế tơng lai Trớc tiên là Z.K.Brezinski, nguyên Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Trong tác phẩm “Giữa hai thời đại-nhiệm vụ của Mỹ trong thời đại kỹ thuật điện tử”, Brezinski đã từng nói: Chúng ta đang đứng trớc một “thời đại kỹ thuật điện
2
Trang 3tử” Năm 1973, Nhà Xã hội học Mỹ Daniel Bell gọi thời đại này là “xã hội
hậu công nghiệp” Năm 1982, nhà Kinh tế và nhà tơng lai học của Mỹ J.Naisbitt trong cuốn “Đại xu thế” đã đa ra khái niệm mới “Kinh tế thông tin”, lấy nền tảng sản xuất chủ yếu dựa vào nền kinh tế mới để đặt tên cho loại hình kinh tế này Năm 1986, trong cuốn “Xã hội kỹ thuật cao”, các nhà Kinh tế
Anh đã nêu ra khái niệm “Kinh tế kỹ thuật cao” Năm 1990 tổ chức nghiên
cứu của Liên hợp quốc đã đa ra khái niệm “kinh tế tri thức” để xác định tính
chất của loại hình kinh tế mới này Năm 1996, Tổ chức Hợp tác kinh tế định nghĩa rõ ràng là “Kinh tế lấy tri thức làm cơ sở” (Knowledge based economy)
Đây là lần đầu tiên hệ thống chỉ tiêu và dự đoán của loại hình kinh tế mới này
đợc nêu ra Tháng 2-1997, Tổng thống Mỹ B.Clinton đã dùng cách nói “kinh
tế tri thức” (Knowledge economy) nh tổ chức nghiên cứu của Liên hợp quốc
đã nêu ra trớc đây “Báo cáo về sự phát triển của thế giới” (World
Development Report) của Ngân hàng thế giới xuất bản năm 1998 đã đặt tên nền kinh tế đó là “Nền kinh tế tri thức của phát triển” (Knowledge for
Development)
Việc xác định cho đúng tên gọi của loại hình kinh tế mới tuy rất phức tạp, nhng nó đã giúp cho con ngời từng bớc xây dựng nên một khái niệm mới ngày càng rõ ràng, đó là “Nhân loại đang bớc vào một thời đại kinh tế mới, lấy việc chi phối, chiếm hữu nguồn tài nguyên trí lực, và lấy việc sử dụng, phân phối, sản xuất của tri thức làm nhân tố chủ yếu” Nói ngắn gọn đó là
“Thời đại mà khoa học kỹ thuật là lực lọng sản xuất thứ nhất” Trải qua 30
năm khảo nghiệm, có thể khẳng định rằng, đây là một khái niệm khoa học Nếu phân chia các giai đoạn phát triển kinh tế của loài ngời thì có thể chia thành kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và kinh tế kỹ thuật cao Thực
tế khái niệm “kinh tế tri thức” là khái niệm mới về một loại hình kinh tế mới
khác với loại hình kinh tế trớc đây Loại hình kinh tế trớc đây lấy công nghiệp truyền thống làm nền tảng sản xuất, lấy nguồn tài nguyên thiếu và ít ỏi làm chỗ dựa để phát triển sản xuất “Kinh tế tri thức” lấy công nghiệp kỹ thuật cao
3
Trang 4làm lực lợng sản xuất thứ nhất, lấy trí lực làm chỗ dựa chủ động, có nh vậy mới có thể giữ cho kinh tế phát triển.
2) Mối quan hệ giữa tri thức và kinh tế
Có thể nói sự khác nhau cơ bản nhất giữa con ngời và động vật là sự sáng tạo, mà động lực đầu tiên của sự sáng tạo là tri thức Vì vây, bất kỳ một hoạt động nào của con ngời không tách rời tri thức Những kiến thức đợc tích luỹ, quy nạp để hình thành nên hệ thống chính là khoa học Đối tợng của nghiên cứu khoa học là tri thức và kỹ thuật Đó cũng chính là tri thức khoa học và khoa học kỹ thuật
Nghiên cứu khoa học thời cổ rất đơn giản, nghiên cứu và sản xuất gắn liền với nhau “Ngời cha của Vật lý học” ngời cổ HyLạp-Acsimet (287-212 tr-
ớc công nguyên) vừa nghiên cứu vật vật lý học lại vừa chế tác công cụ theo nguyên tắc vật lý Bắt đầu từ thế kỷ 17 mới có sự phân chia giữa cơ sở nghiên cứu với phát triển kỹ thuật Đại biểu là Newton-Nhà Vật lý học (1642-1727), bắt đầu nghiên cứu lý thuyết Tuy nhiên thành quả nghiên cứu của họ rất ít đ-
ợc ứng dụng Nguyên nhân chủ yếu là do trong quá trình hình thành nên hệ thống khoa học tự nhiên hiện đại, các môn học tách rời nhau, nghiên cứu dần
đi theo chiều sâu hơn Mặt khác, cùng với sự phát triển ngày càng sâu sắc của
lý luận, việc ứng dụng kỹ thuật ngày càng khó khăn hơn
Từ phát hiện khoa học đến phát minh kỹ thuật, trớc đầu thế kỷ 20 mất khoảng 30 năm, đầu thế kỷ 20 đến giữa thế kỷ 20 là 10 năm, đến cuối thế kỷ
20 rút ngắn lại còn khoảng 5 năm Kết quả này làm cho khoảng cách giữa phát hiện khoa học và phát minh kỹ thuật ngày càng thu hẹp hơn, nhiều kết quả sẽ
đợc đa vào thực tế hơn Bởi vì, nếu 1 nhà khoa học thành công trong việc phát hiện khoa học mà thời gian đa vào ứng dụng trong thực tế lâu thì rất khó cho
họ có thành tích trong phát minh kỹ thuật Thế nhng nếu chu kỳ rút ngắn sẽ làm cho phát hiện khoa học và phát minh kỹ thuật sẽ do một ngời thực hiện,
do vậy phát minh kỹ thuật sẽ sớm trở thành hiện thực Ngày nay do sự ứng
4
Trang 5dụng của thành quả nghiên cứu lý luận khoa học mới tăng nhanh Quá trình thay đổi này có thể thấy đợc trong (bảng 1) trang sau so sánh phát minh và
phát hiện khoa học
Đồng thời việc thực hiện kỹ thuật cao làm cho nhân tố tri thức vợt xa nhân tố vật chất Ví dụ thời gian nghiên cứu đối với một số công trình nghiên cứu về sinh học tơng đối ngắn, số vốn bỏ ra lại không nhiều, một ngời hoặc một nhóm ngời có thể tự đứng ra nghiên cứu, nên chu kỳ nghiên cứu đợc rút lại tơng đối ngắn Có thể đi thẳng từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu khai thác Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu chủ yếu dựa vào tri thức, có thể nhảy qua nghiên cứu ứng dụng, trực tiếp ra thị trờng, thu đợc hiệu quả kinh tế nh khai thác phần mềm máy tính Nguyên nhân của hiện tợng này là do khi tiến hành nghiên cứu cơ bản đã phát hiện thấy giá trị uứng dụng của công trình
Do tính chất của nghiên cứu cơ bản có thay đổi lớn, nên buộc phải có cơ cấu
tổ chức để liên hệ với thị trờng Vì thế, hàng loạt khu công nghiệp kỹ thuật cao mới đã đợc ra đời
5
Trang 6Bảng 1: Một số so sánh phát minh kỹ thuật
và phát hiện khoa học
thai nghén
Phát hiện chất kháng sinh 1910 Thuốc kháng sinh 1940 30 năm
ý tởng đa chức năng 1987 Máy vi tính đa chức năng 1991 4 năm
Nguồn: Sách thực hành Triết học - ĐH QL&KD Hà Nội - Tr.9
3) Khái niệm kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên nền tảng tri thức, lấy tri thức, trí tuệ, khoa học và công nghệ làm chủ đạo; lực lợng những ngời lao động có học vấn cao, tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, đợc đào tạo cơ bản, có hệ thống và hiện đại là chủ thể của hoạt động kinh tế
Nền kinh tế tri thức chủ yếu vẫn là nền kinh tế hàng hoá, vẫn tuân theo qui luật giá trị, vẫn vận động theo cơ chế thị trờng và hiện diện trong cơ chế thị trờng nhng tri thức đã trở thành nền tảng, cốt lõi quyết định sự phát triển của nó
Trang 7cản đợc những ngời khác sử dụng chúng Các công cụ nh bảo vệ bí mật thơng mại và bằng sáng chế, bản quyền và thơng hiệu chỉ dành cho những ngời tạo
ra tri thức một sự bảo vệ ít ỏi nào đó mà thôi
b) Phân biệt các loại tri thức
Sẽ là hữu ích nếu phân biệt đợc các loại tri thức khác nhau what), là loại tri thức về sự kiện, ngày nay đang giảm dần tầm quan trọng Biết tại sao (know-what) là tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội và suy nghĩ của con ngời Biết ai đó (know-who) là về thế giới của các quan hệ xã hội và là tri thức
(know-về ai biết cái gì và ai có thể làm gì Việc biết những ngời cần thiết đôi khi còn quan trọng đối mới đổi mới hơn là biết đợc các nguyên tắc khoa học Biết chỗ
và biết thời gian (know-where và know-when) đang ngày càng quan trọng trong nền kinh tế linh hoạt và năng động Biết cách làm (know-how) là biết về các kỹ năng thực hiện công việc ở mức độ thực hành
c) Tầm quan trọng của tri thức
Tri thức là sức mạnh, bởi nó là chất dinh dỡng cho sự phát triển trí tuệ
và năng lực sáng tạo trí tuệ vô tận của loài ngời Cá thể là hữu hạn nhng nhân loại là vô cùng Dân tộc nào sớm tự ý thức đợc những hạn chế, những giới hạn của chính mình, biết tiếp thu những tinh hoa nhân loại ở mọi thời đại, kết hợp với bản sắc truyền thống vốn có với những tinh hoa bên ngoài mình, biết tiêu hoá và làm chủ những giá trị ấy, biến nó thành của mình, làm phong phú và giàu có bản thân mình thì dân tộc ấy chủ động tìm thấy triển vọng của mình , dân tộc đó sẽ phát triển và trờng tồn Ngợc lại sẽ khó tránh khỏi suy thoái và diệt vong Hoặc tiến kịp đá phát triển chung, khẳng định một cách xứng đáng trong thế giới hoặc sẽ không bao giờ, sẽ mãi mãi đi sau, rơi vào tình cảnh nô
lệ và lệ thuộc vào nớc khác Có khẳng định đợc không hay lại tự phủ định chính mình-đó là thách thức lớn nhất đặt ra với mọi quốc gia-dân tộc trên lộ trình phát triển, trớc hết là phát triển kinh tế Tri thức kết tinh trong sản phẩm, trong kinh doanh và trong hoạt động kinh tế nói chung
4) Đặc điểm của kinh tế tri thức
7
Trang 8Thứ nhất, đặc điểm lớn nhất làm khác biệt kinh tế tri thức khác với các
kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp chính là tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên.Vốn quí nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức Tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo ra sự tăng trởng kinh tế Không phải nh các nguồn lực khác bị mất đi khi sử dụng, tri thức và thông tin có thể đợc chia sẻ, và trên thực tế lại tăng lên khi sử dụng
Do vậy, nền nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế d dật chứ không phải là khan hiếm Sự sáng tạo, đổi mới thờng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc
đẩy sự phát triển Công nghệ đổi mới rất nhanh vòng đời công nghệ rut ngắn: quá trình từ lúc ra đời, phát triển rồi tiêu vong của một lĩnh vực sản xuất, hay công nghệ chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng Các doanh nghiệp muốn trụ đợc
và phát triển phải luôn đổi mới công nghệ sản phẩm Sáng tạo là linh hồn của
sự đổi mới Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra dựa chủ yếu vào cái ch a biết; cái đã biết không còn giá trị nữa; tìm ra cái cha biết tức là tạo ra giá trị mới Khi phát hiện ra cái cha biết thì cũng tức là loại trừ cái đã biết Cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới, nền kinh tế, xã hội luôn đổi mới Đó là dặc trng của sự phat triển sự tiến hoá của xã hội sắp tới: phát triển từ cái mới, chứ không phải từ số lợng lớn dần lên.
Thứ hai, sự chuyển đổi cơ cấu Các công nghệ mới, các ý tởng mới là
chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lợng cuộc sống Do
đó nền kinh tế có tốc độ tăng trởng cao dịch chuyển nhanh cơ cấu Nhng đây cũng là nền kinh tế mang tính rủi ro, vì nó luôn biến động, luôn có nhiều thách thức mới Trong khi nền kinh tế dựa vào sự sản xuất hàng loạt, quy chuẩn hoá, thì nền kinh tế tri thức dựa trên cơ sở sự sản xuất linh hoạt hàng hoá và dịch vụ đa vào công nghệ cao Các doanh nghiệp không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm Công nghệ trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra năng suất, sự tăng trởng và việc làm.Cho nên, sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiêu biểu cho nền sản xuất tơng lai Phát triển nhanh các doanh nghiệp sản xuất công nghệ, trong đó khoa học
8
Trang 9và sản xuất đợc nhất thể hoá, không phân biệt trong phòng thí nghiệm với công xởng, những ngời làm việc trong đó là công nhân tri thức, họ vừa nghiên cứu vừa sản xuất Các khu công nghệ (technology park) hình thành và phát triển rất nhanh Đó là những nơi sản xuất công nghệ, thờng đợc gọi là vờn ơm công nghệ, là cái nôi của ngành công nghiệp tri thức ở đây hội tụ các điều kiện thuận lợi để nhất thể hoá quá trình nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, triển khai công nghệ và sản xuất dựa vào công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lợng thải ra ít phế thải, cho nên nền kinh tế tri thức có thể thực hiện
đợc sản xuất sạch, không gây ô nhiễm môi trờng Kinh tế tri thức là nền kinh
tế phát triển bền vững
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong mọi lĩnh vực và
thiết lập mạng thông tin đa phơng tiện phủ khắp nớc, nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế Mọi ngời đều có nhu cầu thông tin và dễ dàng truy nhập vào các kho thông tin cần thiết cho mình Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có tác
động của công nghệ thông tin để nâng cao năng suất, chất lợng, hiệu quả Cũng chính vì vậy, nhiều ngời gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh số, nền kinh
tê mạng, nền kinh tế Internet, nền kinh tế điện tử.Thơng mại điện tử, thị trờng
ảo, tổ chức ảo, xí nghiệp ảo, làm việc từ xa đợc sử dụng rộng rãi, làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên rất nhanh nhạy, linh hoạt; khoảng cách bị xoá dần, ý nghĩa của vị trí địa lý giảm đi Xã hội thông tin phát triển
Thứ t, nền kinh tế tri thức thúc đẩy sự dân chủ hoá Thông tin đến với
mọi ngời Mọi ngời đều dễ dàng truy cập các thông tin cần thiết Dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội đợc mở rộng Ngời dân nào cũng có thể đợc thông tin kịp thời về các quyết định của cơ quan nhà nớc hoặc
tổ chức có liên quan đến họ và họ có thể thể có ý kiến ngay nếu thấy không phù hợp Việc tập hợp ý kiến của nhân dân rất dễ dàng và thuận tiện Nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” có điều kiện thuận lợi để thực hiện Cách
tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi Trong thời đại thông tin, mô hình chỉ huy
9
Trang 10tập trung, có đẳng cấp tỏ ra không còn phù hợp Ngời ta sử dụng nhiều hơn mô hình phi đẳng cấp, phi tập trung; mô hình mạng, trong đó tật dụng các quan hệ ngang; thông tin đợc đến tất cả mọi ngời, mọi nơi một một cách thuận lợi, nhanh chóng, không cần đi qua các khâu trung gian Đó là mô hình tổ chức dân chủ, rất linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sự năng động sáng tạo của mọi ngời.
Thứ năm, hình thành xã hội học tập Giáo dục rất phát triển Mọi ngời
đều phải học tập, học thờng xuyên, học ở trờng và học ở trên mạng để không ngừng trau dồi kĩ năng, phát triển trí sáng tạo Mọi ngời thờng xuyên đợc cập nhật kiến thức, chủ động theo kịp sự đổi mới và cs khả năng thúc đẩy sự đổi mới Với sự bùng nổ thông tin và sự luôn đổi mới kiến thức, mô hình giáo dục truyền thống: đào tạo xong ra làm việc không còn phù hợp, mà phải theo mô hình học tập suốt đời: đào tạo cơ bản, ra làm việc và tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc Các hình thức giáo dục thờng xuyên, nhất là giáo dục thông qua mạng rất phát triển Con ngời học tập suốt đời, vừa học vừa làm việc Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi ngời bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng
có thể học tập đợc Mạng thông tin có ý nghĩa rất quan trọng cho việc học tập suốt đời.Trong nền kinh tế tri thức, khoản đầu t cho giáo dục và khoa học chiếm tỷ lệ rất cao Nói chung, đầu t vô hình (cho con ngời, cho giáo dục, khoa học, văn hoá-xã hội ) cao hơn đầu t hữu hình (xây dựng cơ sở vật chất-
kỹ thuật) Phát triển con ngời trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội Vốn con ngời thực sự là vốn quí nhất
5) Các tiêu chí của kinh tế tri thức
vụ ứng dụng công nghệ cao
> 70% do lao động trí óc mang lại
> 70% là “công nhân tri thức”
> 70% là t bản con ngời
10
Trang 11“Nền kinh tế tri thức sẽ hình thành và phát triển nhanh nền kinh tế và triệt
để hơn công nghiệp”
11
Trang 12Chơng 2: Kinh tế tri thức và sự nghiệp công nghiệp
hoá-hiện đại hoá ở Việt Nam
1) Kinh tế Việt Nam những năm đầu sau chiến tranh
a) Tình hình trong nớc và quốc tế
Sau năm 1975, tình hình trong nớc và quốc tế đã có những thay đổi cơ bản và sâu sắc Đất nớc thống nhất đặt ra yêu cầu hợp nhất nền kinh tế theo mô hình chung, từ đó đặt ra yêu cầu mới cho một chiến lợc công nghiệp hoá cho cả nớc đợc thống nhất
Xu thế quốc tế hoá về thơng mại và vốn đang và đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các nớc kinh tế thị trờng phát triển và đang phát triển, giúp cho họ đạt đợc những bớc phát triển nhanh vợt bậc Nhiều nớc công nghiệp hoá ở Châu á (Nics) đã duy trì đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao trong một thời gian dài Đặc biệt họ đã rất thành công trong việc thực hiện đờng lối công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu Trong khi ấy kinh tế các nớc trong khối kinh tế XHCN ngày càng gặp nhiều khó khăn, nhất là về chất lợng và sức cạch tranh của sản phẩm trên thị trờng thế giới; hiệu quả thấp của toàn bộ nền kinh tế Cơ chế kế hoạch hoá tập trung nền kinh tế đã tỏ rõ sự thiếu sức sống, thiếu động lực để tiếp tục phat triển các nền kinh tế XHCN bị suy sụp vào cuối những năm 80
b) Thực trạng kinh tế Việt Nam trong thời kì này
Đến năm 1976 cả nớc có 1913 xí nghiệp quốc doanh và công t hợp doanh với khoảng 52 vạn cán bộ công nhân viên Sản xuất công nghiệp năm
1976 đã vợt năm 1974-75 ( đạt 8,2 tỉ đồng giá trị tổng sản lợng tính theo giá
cố định năm 1970, tơng đơng với 48 tỉ đồng theo giá cố định năm 1982) Trong đó công nghiệp nhóm A chiếm 34,1%, công nghiệp nhóm B chiếm 65,9%; tiểu thủ công nghiệp 37,8%; công nghiệp quốc doanh 62,7%, công nghiệp t nhân 44,2%; công nghiệp địa phơng 55,8% Những ngành then chốt
12
Trang 13của công nghiệp nặng chiếm tỉ lệ không lớn: năng lợng 5,6%, luyện kim 3,3%, cơ khí 12,3% Trong công nghiệp nhóm B, các ngành lơng thực và thực phẩm vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất 33,6%, tiếp đó là ngành dệt, da, may, nhuộm 14,5%
Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, công nghiệp thu hút 10,6% tổng số lao động xã hội, 37% giá trị tài sản cố định, làm ra 38,4% tổng sản phẩm xã hội, 25,3% thu nhập quốc dân Nguồn nguyên liệu của công nghiệp nói chung còn phụ thuộc khá lớn vào nớc ngoài, đặc biệt các ngành cơ khí, hoá chất Chủng loại thiết bị máy móc khá phức tạp do nhập từ nhiều nớc khác nhau Trong đó, nhập của 13 nớc t bản khoảng 41%, của các nớc XHCN lúc đó 46%, còn trong nớc chỉ chế tạo đợc khoảng 13% Tình trạng không sử dụng hết công suất diễn ra phổ biến Riêng công nghiệp quốc doanh mới huy động
đợc 62% công suất
Sản phẩm công nghiệp bình quân trên đầu ngời còn ở mức thấp so với nhiều nớc trên thế giới: “điện 62,8 kwh, than sạch 115,9kg, xi măng 15,1kg, gạch viên 75 viên, gỗ tròn 0,03 m 3 , giấy 1,53 tấn, muối 11,9 kg, đờng mật 1,5
kg, vải vóc 4,5 mét ”1 Các số liệu trên cho thấy trình độ công nghiệp hoá của nền kinh tế còn thấp, công nghiệp quá nhỏ bé, đại bộ phận lao động vẫn là thủ công, năng suất lao động và thu nhập rất thấp Một số ngành công nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào nguyên liệu nhập khẩu ngày càng lâm vào tình trạng khó khăn hơn do nguồn dự trữ đang cạn dần
Cha bao giờ kinh tế đất nớc bị lâm vào tình trạng khó khăn nh giai đoạn cuối những năm 1970 và suốt những năm 80 Sản xuất nông nghiệp trì trệ không đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc Công nghiệp nặng đầu t lớn nhng hiệu quả thấp Nhiều mặt hàng tiêu dùng cho nhân dân thiếu nghiêm trọng Dấu hiệu của suy thoái và khủng hoảng kinh tế đã dần xuất hiện và bộc lộ rõ vào cuối những năm 80
c) Nguyên nhân
1 Niên giám thống kê, Hà Nội, 1982, Tr.187-190
13