Phát triển môi trường tiếng Anh ngoài lớp học nhằm đạt chuẩn đầu ra cho sinh viên Đại học Thái Nguyên.Phát triển môi trường tiếng Anh ngoài lớp học nhằm đạt chuẩn đầu ra cho sinh viên Đại học Thái Nguyên.Phát triển môi trường tiếng Anh ngoài lớp học nhằm đạt chuẩn đầu ra cho sinh viên Đại học Thái Nguyên.Phát triển môi trường tiếng Anh ngoài lớp học nhằm đạt chuẩn đầu ra cho sinh viên Đại học Thái Nguyên.
Trang 11
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
I Danh sách những người tham gia thực hiện đề tài
1 TS Trần Thị Nhi – phó Trưởng Khoa – Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên
2 ThS Phùng Văn Huy – Bộ môn tiếng Anh – Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên
3 Trần Thị Ngân – Bộ môn tiếng Anh – Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên
4 Phạm Hùng Thuyên - Bộ môn tiếng Anh – Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên
5 ThS Đặng Quang Huy – Tổ QLKH&HTQT – Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên
II Danh sách đơn vị phối hợp thực hiện đề tài
1 Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên
- Đại diện: TS Lê Hồng Thắng – Trưởng Khoa
Trang 21 Bối cảnh xã hội trong nghiên cứu thụ đắc ngoại ngữ 15
2 Đường hướng tương tác trong thụ đắc ngôn ngữ hai 19
6 Phát triển tài liệu học ngoại ngữ bên ngoài lớp học 31
CHƯƠNG III:TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC
HÀNH TIẾNG ANH NGOÀI LỚP HỌC
32
1 Tăng cường ngữ nhập (input) qua các hoạt động đọc mở rộng (ER) 32
2 Tăng cường giao tiếp với người bản ngữ (Output) 34
2.1 Hoạt động kết nối mạng lưới trường học quốc tế 34
2.2 Trò chuyện với người nước ngoài qua Skype 34
2.3 Học tiếng Anh qua video cùng thầy giáo nước ngoài 37
3 Xây dựng các trang web tạo môi trường thực hành và tăng cường
khả năng tự học
39
3.2 Website phát triển năng lực tiếng Anh và kỹ năng giảng dạy
tiếng Anh ELTiCenter
40
3.3 Website Vietnamese English Journal (VNEJournal) 41
4 Thúc đẩy sự tương tác (Interraction): dạy tình nguyện và tham gia
trợ giảng
43
4.1 Trợ giảng: mô hình học tập tương hỗ giữa sinh viên năm cuối
và sinh viên năm thứ nhất
43
5 Thúc đẩy phong trào, tạo môi trường thực hành 45
5.1 Hoạt động trại ngôn ngữ và giao lưu văn hóa 45
5.2 Chương trình sinh hoạt ngoại khóa Tiếng Anh “ Free
Practice” (FP) cho sinh viên
46
6 Hình thành cộng đồng học tập: Câu lạc bộ tiếng Anh cộng đồng 48
Trang 33
(CEC)
6.4 Chuyển giao mô hình CLB cho sinh viên các trường không
CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ
CHUYỂN GIAO MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG TRONG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
57
1 Sự tác động của các hoạt động tăng cường thực hành tiếng Anh
ngoài lớp học đến năng lực tiếng và kỹ năng nghề nghiệp của sinh
viên
57
1.2 Dự án Trò chuyện với người bản ngữ qua Skype 64
1.3 Phát triển kỹ năng viết qua website VNEJournal 71
2 Kết quả năng lực tiếng Anh của đối tượng nghiên cứu qua kiểm tra
đánh giá theo Khung tham chiếu châu Âu
Trang 4Bảng 4: Kỹ năng tiếng Anh được rèn luyện qua một số hoạt động của CEC
Bảng 5: Kỹ năng định hướng nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh và
Sư phạm Anh được rèn luyện qua một số hoạt động của CEC
Bảng 6: Các hoạt động của CEC bổ trợ cho các môn học trong chương trình
Bảng 7:Kết quả thay đổi điểm số học tập của các sinh viên tham gia câu lạc bộ CEC
Bảng 8:Kết quả thay đổi điểm số học tập của các sinh viên không tham gia câu lạc bộ
CEC
Bảng 9: Những thay đổi về điểm số trước và sau khi tham gia dự án
Bảng 10: Ý kiến của sinh viên tham gia Dự án Trò chuyện với người nước ngoài qua
Skype
Bảng 11: Đánh giá chung của sinh viên tham gia Dự án Trò chuyện với người nước
ngoài qua Skype
Bảng 13: Đánh giá của tình nguyện viên tham gia Dự án Trò chuyện với người nước
ngoài qua Skype
Bảng 14:Thống kê kết quả tham gia thực nghiệm viết bài cho VNEJournal
Bảng 15: So sánh về thời gian dành cho kỹ năng viết
Bảng 16: Tần xuất gặp phải khó khăn khi phát triển ý cho bài viết
Bảng 17: Tần xuất về lỗi từ vựng
Bảng 18: Thống kê thi Aptis ở Khoa Ngoại ngữ năm 2015, 2016
Bảng 19: Thống kê sinh viên Khoa Ngoại ngữ thi Aptis năm 2015, 2016
Biểu đồ 1: Điểm học trung bình các môn thực hành tiếng Anh của sinh viên tham gia
câu lạc bộ CEC và sinh viên không tham gia câu lạc bộ CEC
Biểu đồ 2: Thay đổi điểm thực hành tiếng của 2 nhóm sinh viên nghiên cứu
Biểu đồ 3: Điểm trung bình kỹ năng nghe và nói của sinh viên trước và sau khi tham
Trang 55
gia dự án
Biểu đồ 4: Tỉ lệ thay đổi điểm số
PHỤ LỤC 1
DANH SÁCH GIẢNG VIÊN PHỤ TRÁCH CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
MÔI TRƯỜNG THỰC HÀNH TIẾNG ANH NGOÀI LỚP HỌC
ĐIỂM HỌC MÔN THỰC HÀNH TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN KHÔNG THAM
GIA CÂU LẠC BỘ CEC
PHỤ LỤC 5
ĐIỂM BÀI KIỂM TRA NGHE NÓI CỦA SINH VIÊN TRƯỚC KHI THAM GIA
DỰ ÁN TRÒ CHUYỆN VƠI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI QUA SKYPE
PHỤ LỤC 6
CHỦ ĐỀ GỢI Ý CHO CHƯƠNG TRÌNH V-SKYPE PROJECT
PHỤ LỤC 7
ĐIỂM BÀI KIỂM TRA NGHE NÓI CỦA SINH VIÊN SAU KHI THAM GIA DỰ
ÁN TRÒ CHUYỆN VƠI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI QUA SKYPE
PHỤ LỤC 8
STATISTIC RESULTS OF MARKS OF STUDENTS IN 2 WRITING TESTS BY
SPSS
PHỤ LỤC 9
VIEW SUMMARY OF THE ELTICENTER WEBSITE PROJECT
(from August, 2014 to2 P.M on the 5th of June, 2015)
Trang 6CNTT : Công nghệ thông tin
ER: Extensive reading/Đọc mở rộng
FR: Free practice
IM: Immersion
i + 1: Comprehensible input
L1: First language/ngôn ngữ thứ nhất
L2: Second language/ngôn ngữ thứ hai
MySN: My Schools Network
SA: Study abroad
SLA: Second Language Acquisition/Thụ đắc ngôn ngữ hai
VNEJournal: Vietnamese English Journal
Trang 77
Trang 88
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Phát triển môi trường tiếng Anh ngoài lớp học nhằm đạt
chuẩn đầu ra cho sinh viên Đại học Thái Nguyên
- Mã số: ĐH2014 – TN01- 03
- Chủ nhiệm: TS Trần Thị Nhi
- Cơ quan chủ trì: ĐH Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện: từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 7 năm 2016
2 Mục tiêu
Đề tài tập trung vào việc các mục tiêu chính sau đây:
- Tạo ra môi trường tiếng Anh cho sinh viên thông qua các hoạt động thực hành ngoài lớp học nhằm giúp sinh viên đạt chuẩn năng lực tiếng Anh theo quy định của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020
- Thành lập một mạng lưới liên kết sinh viên theo mô hình câu lạc bộ, qua
đó sinh viên có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm học tập tiếng Anh, tạo thành một cộng đồng học tập, tham gia tổ chức các hoạt động, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, và tăng cường các kỹ năng nghề nghiệp
- Tạo động lực học cho sinh viên thông qua các giờ dạy, các hội thảo, các buổi tư vấn chủ yếu về kỹ năng tự học và khai thác nguồn tài liệu, kết hợp tổ chức các hoạt động tạo ra môi trường sử dụng tiếng Anh
- Tăng cường sử dụng người nước ngoài thúc đẩy nhu cầu giao tiếp và cơ hội thực hành, chủ trương học đi đôi với hành
3 Kết quả nghiên cứu
Đề tài đã tập trung triển khai thí điểm một loạt các hoạt động, các dự án nhỏ, các mô hình thí điểm liên quan đến việc thúc đẩy môi trường tiếng Anh ngoài lớp học cho sinh viên, sau đó tập trung đánh giá tác động của các mô hình đó lên hiệu quả học tập môn tiếng Anh của sinh viên
4 Kết quả nghiên cứu
- Bài báo đăng trên kỷ yếu hội thảo quốc tế: 01
- Bài đăng trên kỷ yếu hội thảo quốc gia: 02
- Trang web thực hiện cho dạy và học tiếng Anh: 03
Trang 99
- Hướng dẫn sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp: 03
5 Khả năng áp dụng và phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu:
- Áp dụng cải tiến chất lượng dạy và học tiếng Anh và cho các ngoại ngữ khác ở Khoa Ngoại ngữ
- Áp dụng cải tiến chất lượng dạy và học tiếng Anh ở các trường khác trong ĐH Thái Nguyên
Ngày 13 tháng 6 năm 2016
Cơ quan chủ trì
Trần Thị Nhi
Trang 1010
MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
THAI NGUYEN UNIVERSITY
INFORMATION ON RESEACH RESULTS
1 General information
Project title: Develop informal/outside-classroom English environment for students at Thai Nguyen University to reach the required graduation standard
Code number: ĐH2014 – TN01- 03 Coordinator: Trần Thị Nhi
Implementing institute: Thai Nguyen University
Duration: from July 2014 to July 2016
2 Objectives
The study aims to:
- create an English environment in which students can practice English through outside-classroom activities so that they can meet standard mandated by the Project 2020
- formulate a network of students clubs through which they can share experience in learning English, build up a learning community, and foster skills
- motivate students with workshops and classes on study skills and learning resource access skills
- make use of foreigners to enhance communication
3 Research results
The study focused on utilizing activities and mini-projects to enhance the outside-classroom environment for students to practice English, then the study was conducted to evaluate how some of these projects impact on students’ English learning
4 Products
- 01 paper in an international conference proceedings
Trang 1111
- 02 papers in national conference proceedings
- 03 seniors’ graduation papers
- 03 websites for English teaching and learning
5 Transfer alternatives of research results and applicability
- The research results can be applied to improve the teaching and learning of English and other foreign languages at Thai Nguyen
University School of Foreign Languages
- The research results can be applied to improve the teaching and learning of English at other colleges under Thai Nguyen
University
Trang 12Trong khi việc dạy và học tiếng Anh được quan tâm nhiều ở góc độ phương pháp giảng dạy và thiết lập mạng lưới giáo viên, dường như phương pháp tự học và việc hình thành các cộng đồng sinh viên học tiếng Anh ít được giới nghiên cứu và các nhà sư phạm quan tâm Đây chính là mảng nghiên cứu còn để ngỏ cần được quan tâm thỏa đáng trước những thay đổi mau lẹ về công nghệ hiện nay với những ảnh hưởng rõ rệt tới việc đắc thụ ngôn ngữ
Ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam, việc học tiếng Anh chủ yếu diễn ra trong lớp học Khi bước chân ra khỏi lớp, người học thường không có cơ hội tiếp xúc hoặc sử dụng tiếng Anh Thiếu môi trường giao tiếp khiến việc hoàn thiện được tiếng Anh để phục vụ cho học tập, nghiên cứu và đáp ứng được yêu cầu công việc sau khi tốt nghiệp của các bạn sinh viên trở nên hết sức khó khăn Trong khi
đó, yêu cầucủa các nhà tuyển dụng ở các công ty, các doanh nghiệp nước ngoài, các
cơ quan, tổ chức có dùng ngoại ngữ ngày càng khắt khe, đòi hỏi sinh viên khi tốt nghiệp phải có năng lực ngoại ngữ thực sự Đối với sinh viên ngành sư phạm, các
sở giáo dục cũng có yêu cầu tuyển dụng rất rõ ràng về năng lực ngoại ngữ thể hiện
ở chứng chỉ của các tổ chức có uy tín cấp chứ không chỉ căn cứ duy nhất vào bằng tốt nghiệp đại học như trước đây Đặc biệt, trước yêu cầu về chuẩn năng lực tiếng Anh của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020, việc giúp các bạn sinh viên đạt chuẩn đầu
ra tiếng Anh trước khi tốt nghiệp là việc làm hết sức cần thiết
Các phương tiện truyền thông sẵn có hiện nay cho phép và đòi hỏi sự thay đổi
về cách thức giúp người học lĩnh hội kiến thức Hình thành môi trường học tập ngoài lớp học, trang bị kỹ năng tự học, hướng dẫn cách tiếp cận và khai thác nguồn học liệu là những biện pháp giúp sinh viên tăng cường vốn tiếng Anh ngoài chương
Trang 1313
trình vốn rất hạn chế về thời lượng và phương pháp giảng dạy tại các nhà trường Với chương trình tổ chức thực nghiệm thí điểm thực hiện các biện pháp trên, đề tài này sẽ góp phần giải quyết vấn đề chuẩn đầu ra của sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo của ĐH Thái Nguyên
Thành lập một mạng lưới liên kết sinh viên theo mô hình câu lạc bộ, qua đó sinh viên có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm học tập tiếng Anh, tạo thành một cộng đồng học tập, tham gia tổ chức các hoạt động, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, và tăng cường các kỹ năng nghề nghiệp
Tạo động lực học cho sinh viên thông qua các giờ dạy, các hội thảo, các buổi tư vấn chủ yếu về kỹ năng tự học và khai thác nguồn tài liệu, kết hợp tổ chức các hoạt động tạo ra môi trường sử dụng tiếng Anh
Tăng cường sử dụng người nước ngoài thúc đẩy nhu cầu giao tiếp và cơ hội thực hành, chủ trương học đi đôi với hành
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các hoạt động phát triển tiếng Anh ngoài lớp học được áp dụng cho sinh viên của Khoa Ngoại ngữ Đối tượng tham gia nghiên cứu là sinh viên chuyên ngành tiếng Anh Giảng viên tham gia thực hiện các mô hình thí điểm là các giảng viên của Bộ môn tiếng Anh - Khoa Ngoại ngữ, ĐH Thái Nguyên
Hoạt động chuyển giao mô hình được mở rộng ra đối tượng là giảng viên và sinh viên các trường trong ĐH Thái Nguyên
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thực nghiệm thí điểm, nghiên cứu hành động tập trung vào việc triển khai các hoạt động tăng cường hoạt động thực hành tiếng Anh ngoài lớp học Đơn vị phối hợp thực hiện là Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên
Trang 1414
Các hoạt động này được triển khai dưới dạng các dự án nhỏ có sự tham gia xây dựng ý tưởng và tổ chức triển khai của các giảng viên tiếng Anh Với phương châm trao quyền cho sinh viên, một phần lớn các hoạt động được thực hiện qua câu lạc bộ tiếng Anh cộng đồng CEC Giáo viên phụ trách đóng vai trò tư vấn, giám sát và giúp kết nối với các tổ chức ngoài nhà trường, đặc biệt là các tổ chức và cá nhân là người nước ngoài
Một số mô hình thí điểm đượclựa chọn nghiên cứu để đánh giá mức độ hiệu quả Các kết quả nghiên cứu được thực hiện qua khảo sát ý kiến của sinh viên, giáo viên
và những người tham gia các chương trình dự án, đồng thời tiến hành phân tích và
so sánh kết quả năng lực tiếng và kỹ năng nghề nghiệp của các sinh viên thể hiện qua điểm học, qua điểm thi trong các chương trình thực nghiệm và trong toàn khóa học.Trên cơ sở những kết quả đã đánh giá, việc tổ chức chuyển giao mô hình hoạt động tới sinh viên các trường trong ĐH Thái Nguyên bước đầu được thực hiện
Trang 1515
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Bối cảnh xã hội trong nghiên cứu thụ đắc ngoại ngữ
Khi bàn về những tác động của yếu tố môi trường tới quá trình tiếp thụ ngoại ngữ, các học giả thường phân chia bối cảnh xã hội mà người học lĩnh hội một ngôn ngữ mới thành năm nhóm cơ bản dựa vào vai trò, chức năng, và phạm vi sử dụng cũng như ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất (L1) và ngôn ngữ thứ hai (L2) (Siegel, 2003) Các tiêu chí thường được đưa vào xem xét bao gồm: (1) mức độ mà ngôn ngữ đích có vai trò, chức năng (bao quát hay hạn chế) trong bối cảnh văn hoá-xã hội đó; (2) mức độ ngôn ngữ đích được sử dụng bởi đa số hoặc thiểu số người dân trong cộng đồng ngôn ngữ đó
Bảng 1 Bối cảnh xã hội trong SLA(phỏng theo Siegel, 2003)
Bối cảnh Người học Ngôn ngữ đích (L2) Ví dụ
L2 đa số
L2 dominant
Du học sinh, người nhập cư, người thiểu số
Được dùng rộng rãi ngoài lớp học
Người Hawaii học tiếng Anh tại Mỹ, người Dao học tiếng Việt ở Việt Nam L2 hạn chế
External L2
Học sinh, sinh viên, người học theo các chương trình chính quy
Được dùng như một ngoại ngữ, chủ yếu ở một số công việc, hoạt động nhất định
Học sinh, sinh viên Việt Nam học tiếng Anh tại Việt Nam
Song ngữ
(L1+L2)
Coexisting L2
Những người sống trong môi trường đa ngôn ngữ
Nhiều ngôn ngữ được
sử dụng đồng thời trong cùng một cộng đồng
Cư dân Canada học tiếng Anh và tiếng Pháp, cư dân Singapore học tiếng Trung, tiếng Anh L2 chính thức
Institutional L2
Những người sống trong môi trường đa ngôn ngữ
Ngôn ngữ được bản địa hoá và được dùng
là ngôn ngữ chính thức
Tiếng Anh ở Ấn Độ, Nepal, Philipine
L2 thiểu số
L2 minority
Những người sử dụng L1 là chủ
Ngôn ngữ của cộng đồng người thiểu số,
Người Kinh học tiếng Hmong ở Việt
Trang 16Thật vậy, Collentine và Freed (2004) trong bài nghiên cứu tổng thuật đã chỉ tác động của ba môi trường học tập lên việc sử dụng ngôn ngữ của người học Nhóm thứ nhất học ngoại ngữ theo các lớp học truyền thống, độc lập với việc sử dụng ngoại ngữ bên ngoài lớp học, còn gọi là AH (at home) Một ví dụ dễ nhận biết cho nhóm này là các lớp học tiếng Anh trong một trường trung học ở Việt Nam.Nhóm thứ hai học ngoại ngữ qua cách tiếp cận ‘tắm’ ngôn ngữ (immersion programs) qua các chương trình chuyên sâu, như các chương trình trại hè, trại ngôn ngữ tiếng Anh ở Hà Nội hay các làng ngôn ngữ nhân tạo mà người học tập trung trong một thời gian nhất định, sử dụng tiếng cả tiếng Anh và tiếng Việt trong quá trình học tập (gọi là IM) Nhóm thứ ba học ngoại ngữ theo con đường du học, tại chính nơi ngôn ngữ đích được sử dụng rộng rãi bên ngoài lớp học, ví dụ như sinh viên Việt Nam học tiếng Anh tại Hoa Kỳ (gọi là SA hoặc study abroad) Collentine
và Freed (2004) đã chỉ ra rằng xét về tổng thể, chúng ta không thể kết luận được môi trường học tập nào ưu việt hơn so với nhóm còn lại vì mỗi môi trường học tập
có đóng góp nhất định vào những khía cạnh ngôn ngữ khác nhau của người học Tuy nhiên, khi xét trên từng bình diện ngôn ngữ, kỹ năng ngôn ngữ cụ thể, các tác giả đã chỉ ra nhóm thứ nhất (AH) có ưu thế hơn so với hai nhóm còn lại về kiến thức ngữ pháp (morphosyntatic control) Ngạc nhiên hơn, khả năng phát âm gần với người bản ngữ (nativelike phonological control) đều tìm thấy ở học viên trong cả hai nhóm ở nhà (AH) và du học (SA), điều này thách thức những giả định trước đây cho rằng nhóm SA có ưu thế hơn về phát âm khi sống trong môi trường ngôn ngữ đích Ở một góc độ khác, nhóm SA có thể hiện ưu thế hơn trong việc phát triển từ vựng và khả năng diễn đạt (lexical breadth and narrative ability), đặc biệt là năng
Trang 1717
lực khẩu ngữ (oral fluency) Người học nhóm SA nói ngôn ngữ đích trôi chảy, dễ dàng với tốc độ giống người bản ngữ hơn các nhóm còn lại Ở nhóm ‘tắm’ ngôn ngữ IM, nhiều kết quả tương tự như nhóm SA cũng được tìm thấy, tuy nhiên còn chưa đồng nhất, đặc biệt trong chiến lược giao tiếp
Ngoài cách phân loại môi trường học ngoại ngữ kể trên, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đắc thụ ngôn ngữ thường phân biệt quá trình tiếp thụ ngôn ngữ trong bối cảnh tự nhiên (naturalistic SLA) và quá trình tiếp thụ trong môi trường học đường (instructed SLA) Cách phân chia này cũng tương tự như cách tiếp cận của Krashen (2002) khi đề cập tới môi trường học chính thức (formal environment) và môi trường học không chính thức (informal environment) Môi trường chính thức/học đường thường là các lớp học ngoại ngữ trong đó kiến thức, ngữ liệu đầu vào được lựa chọn và hoạt động được thiết kế để mô phỏng những tình huống tương tác giúp người học giao tiếp Việc cung cấp phản hồi và sửa lỗi sai cho người học nhằm giúp người học lĩnh hội ngôn ngữ được thực hiện một cách có chủ đích Môi trường học không chính thức/tự nhiên diễn ra ngoài lớp học, nơi mà người học có
cơ hội tiếp xúc và sử dụng ngôn ngữ đích trong điều kiện tự nhiên, do vậy việc đắc thụ ngôn ngữ là không chủ đích (subconscious acquisition)
Wagner và Hatch (trích trong Kashen, 2002) cho rằng các lớp dạy ngoại ngữ
sẽ có ưu thế hơn môi trường bên ngoài khi nó được xem là nơi để trang bị cho người học ở trình độ thấp về kiến thức đầu vào cơ bản làm nền tảng cho việc đắc thụ ngôn ngữ, khi mà mà thế giới bên ngoài rất khó để cung cấp cho họ kiến thức đầu vào mà tự họ có thể hiểu và khái quát được (comprehensible input)
Kashen cũng chỉ ra rằng có nhiều nghiên cứu cho thấy môi trường học chính thức hay ta vẫn thường gọi là môi trường trong lớp học, có thể giúp người học đạt được hiệu quả ngôn ngữ tốt nhất; nhưng cũng có rất nhiều nghiên cứu lại cho thấy môi trường học không chính thức, hay còn được gọi là môi trường ngoài lớp học, lại
có thể đem lại hiệu quả ấn tượng hơn Kết luận cho vấn đề tranh cãi này, tác giả khẳng định rằng đối với môi trường học không chính thức, khi có sự thúc đẩy nhu cầu giao tiếp thực sự, sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc lĩnh hội ngôn ngữ Môi trường học chính thức có tiềm năng để khuyến khích cả việc đắc thụ ngôn ngữ và hoạt động học Dựa trên nền tảng Lý thuyết điều khiển (Monitor Theory), tác giả
Trang 1818
cũng nhấn mạnh rằng đối với đối tượng người lớn học tiếng Anh, có hai hệ thống độc lập để phát triển ngôn ngữ, một là lĩnh hội không chủ đích (subconscious acquisition) và hệ thống thứ hai là học có chủ đích (conscious learning) Hai hệ thống này có tác động qua lại với nhau, trong đó, việc lĩnh hội ngôn ngữ không chủ đích quan trọng hơn rất nhiều
Tiếp cận từ góc độ lý luận, Siegel (2003) chỉ ra rằng những nghiên cứu thụ đắc ngoại ngữ thường tập trung vào bối cảnh xã hội thứ nhất đến nhóm thứ ba (L2
đa số, L2 hạn chế, Song ngữ L1+L2) do vậy rất khó khăn trong việc khái quát, chuyển giao kết quả nghiên cứu sang bối cảnh xã hội khác, đặc biệt là nhóm “L2 chính thức” khi mà ngôn ngữ đích được ‘bản địa hoá’ để dùng trong rất nhiều hoạt động của đời sống xã hội (chính phủ, luật pháp, giáo dục…) nhưng ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày lại có thể là một ngôn ngữ khác; và nhóm “L2 thiểu số” khi mà ngôn ngữ đích được sử dụng bởi một cộng đồng nhỏ, sống trong một cộng đồng ngôn ngữ lớn hơn (như việc người Kinh học tiếng Dao ở Việt Nam) Ngay khi bối cảnh ‘L2 hạn chế’ được nghiên cứu rất nhiều, nhưng đa số các nghiên cứu tập trung vào môi trường học đường thay vì việc học ngoại ngữ diễn ra ngoài lớp học Điều này cũng rất dễ hiểu vì môi trường ngoài lớp học (out-of class learning) thường được xem như là một phần của những nghiên cứu về tiếp thụ ngoại ngữ tự nhiên (naturalistic SLA) và rất nhiều người mặc định rằng môi trường đó chủ yếu dành
cho việc học thay vì hoạt động dạy có thể can thiệp Benson (2011) quan sát thấy:
“…thực tế là hầu hết các nhà nghiên cứu [quá trình học ngoại ngữ]
và độc giả [của họ] là giáo viên trong các lớp học Là giáo viên, chúng ta quen với ý niệm rằng lớp học ‘nghiễm nhiên’ là nơi dành cho việc học diễn ra Quá trình học bên ngoài lớp học cũng thường
‘vô hình’ đối với giáo viên, hoặc ít nhất khó tiếp cận hơn quá trình học trong lớp” (tr 8)
Tuy nhiên, giả định này cũng cần được kiểm tra kỹ hơn khi mà không phải mọi hoạt động học ngoại ngữ ngoài môi trường học đường đều giống nhau Đề tài này sẽ góp phần khoả lấp khoảng trống về lý luận đối với việc học ngoại ngữ không chính thức trong bối cảnh ngôn ngữ đích được sử dụng rất ít bên ngoài lớp học Quan trọng hơn, đề tài tập trung vào các hoạt động giáo viên và nhà trường có thể
Trang 1919
triển khai, hỗ trợ quá trình tự học của sinh viên Tiếp cận từ góc độ thực tiễn, việc kết hợp hoạt động dạy học trong các lớp học ngoại ngữ và việc hình thành môi trường hoạt động ngoài lớp học là việc cần thiết giúp cho sinh viên có cơ hội tiếp xúc và sử dụng các kiến thức đã học vào giao tiếp thực tế và giúp họ có cơ hội phát triển năng lực tiếng Anh một cách tối đa, đặc biệt là năng lực sử dụng ngôn ngữ đích một cách tự nhiên, thuần thục phục vụ các nhu cầu giao tiếp hàng ngày và trong công việc.Nghiên cứu của Collentine và Freed (2004) và những nhận định của Krashen có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức, triển khai các chương trình tăng cường cho các lớp học truyền thống bằng cách bù đắp những hạn chế mà cách tổ chức dạy học này chưa giải quyết được Có thể thấy, trong khi trong lớp chính quy
có thế mạnh giúp người học lĩnh hội những kiến thức về ngôn ngữ đích thì hạn chế của nó là chưa giúp người học sử dụng được ngoại ngữ một cách tự tin, thành thục Chính vì vậy, những tương tác bên ngoài lớp học giữ vai trò then chốt trong việc
phát triển năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ của người học Nhận định này phù hợp với những lý luận về thụ đắc ngôn ngữ hai, đặc biệt là đường hướng tương tác (interaction approach) và lối tiếp cận văn hoá-xã hội (socio-cutural) sẽ được khái quát sau đây
2 Đường hướng tương tác trong thụ đắc ngôn ngữ hai
Trong lĩnh vực nghiên cứu thụ đắc ngôn ngữ hai, đường hướng tương tác khởi nguồn từ giả thuyết tương tác (Interaction Hypothesis) do Mike Long (1996) đưa ra trong luận án tiến sĩ của mình Những năm tiếp theo, các học giả đã phát triển, mở rộng giả thuyết này,bao hàm các khía cạnh của giả thuyết ngữ nhập (Input Hypothesis) do Krashen (1982) đề xướng, cùng với giả thuyết ngữ xuất (Output Hypothesis) của Swain (1985, 2005) Đường hướng này diễn giải quá trình lĩnh hội ngôn ngữ mới qua tác động của việc tiếp xúc với ngôn ngữ đích, sản sinh ngôn ngữ đích, và phản hồi người học nhận được qua việc sử dụng ngôn ngữ
Khái niệm ngữ nhập (input) được Krashen đưa ra và phổ biến vào những năm 1980 nhằm nhấn mạnh tới việc người học ngoại ngữ, cũng giống như một người tiếp thụ tiếng mẹ đẻ của mình, cần rất nhiều ngữ liệu đầu vào thông qua việc nghe, đọc để sau này có thể nói, viết Chính vì thế hoạt động học ngoại ngữ không thể diễn ra, hoặc không thành công là do người học, đặc biệt trong môi trường ngoại
Trang 2020
ngữ (L2 hạn chế), chưa có đủ nguồn ngôn ngữ để tiếp nhận, qua đó kích hoạt được những thông số bên trong não bộ (parameter settings) nhằm thúc đẩy quá trình lĩnh hội ngôn ngữ mới Từ giả thuyết này, Krashen cho rằng chỉ cần người học được tiếp xúc với nguồn ngữ liệu phù hợp sau một thời gian nhất định người học sẽ có thể
“đắc thụ” được ngôn ngữ đích Ông cũng phân biệt hai quá trình trong việc phát
triển ngoại ngữ: học với thụ đắc Lập luận của Krashen nhấn mạnh rằng, thụ đắc
ngôn ngữ là một quá trình mang tính tiềm thức (subconscious), nó diễn ra một cách
tự nhiên mà không cần có sự can thiệp của ý thức Ngược lại, học ngôn ngữ diễn ra
một cách chính thức, có sự tham gia của ý thức, đặc biệt là người học ngoại ngữ, quá trình này diễn ra một cách có ý thức, được các giáo viên dạy ở trường lớp thay
vì người học tiếp nhận trong môi trường tự nhiên như tiếng mẹ đẻ
Giả thuyết của Krashen rất hợp lý và có tính thuyết phục cao, phù hợp với hiểu biết chung của nhiều người (common sense) nên được người học và người dạy ngoại ngữ đón nhận nhiệt tình Tuy nhiên, giả thuyết của Krashen không phải được tất cả mọi người đón nhận, đặc biệt là những nhà hàn lâm và các nhà nghiên cứu
Họ đặt ra những câu hỏi liên quan tới giả thuyết này và chỉ ra rằng giả thuyết ngữ nhậprất hấp dẫn nhưng không thể kiểm chứng được về mặt dữ liệu Đồng ý rằng ngữ nhập rất có ý nghĩa và giữ vai trò quan trọng, nhưng không phải tất cả ngữ liệu đều có tác động như nhau Đối với một người tiếp thụ tiếng mẹ đẻ ngay từ khi mới lọt lòng, nguồn ngữ liệu mà đứa trẻ đó tiếp nhận là vô cùng phong phú và đa dạng, tuy nhiên, điều này khó có thể được hiện thực hóa cho người học ngoại ngữ Sau đó Krashen cũng điều chỉnh giả thuyết của mình cho hợp lý hơn Ông cho rằng nguồn ngữ liệu đó phải cao hơn trình độ hiện tại của người học một chút, nhưng vẫn giúp người học hiểu được với thuật ngữ “i+1” (comprehensible input) thì quá trình thụ đắc ngôn ngữ sẽ diễn ra thành công Một lần nữa, thật khó có thể định nghĩa được thế nào là i+1, đặc điểm của nó là gì và làm sao có được i+1 cho nhiều người học khác nhau
Những năm tiếp theo cũng có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng nếu chỉ nhờ vào ngữ nhập thì sẽ không đủ, người học có thể đạt được mức độ nhất định trong quá trình học ngoại ngữ nhưng khó có thể phát triển ở các mức độ cao hơn Swain (1985) chỉ ra điều này khi bà nghiên cứu những người học tiếng Anh trong
Trang 2121
các chương trình ‘tắm’ ngôn ngữ (immersion) tại Canada Người học đạt được mức
độ thuần thục khi giao tiếp, khi nghe nói nhưng về mặt ngữ pháp vẫn có rất nhiều lỗi sai mà mặc dù họ có thể sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ thành công cho những hoạt động cơ bản, tiếng Anh của họ nghe vẫn có vẻ như tiếng Anh “bồi” (pidginized) Từ đó bà đưa ra một giả thuyết mới: giả thuyết ngữ xuất (output hypothesis), bổ sung cho giả thuyết của Krashen Tầm quan trọng của ngữ xuất là rất lớn, ngữ xuất không chỉ giúp người học có cơ hội sử dụng ngôn ngữ đích mà còn tạo cơ hội cho người học kiểm định giả thuyết về ngôn ngữ họ đang cố gắng lĩnh hội Thông qua tương tác, trao đổi, người học có thể khái quát hoá từ những tình huống giao tiếp thành công hoặc thất bại nhờ việc thử nghiệm ngôn ngữ đích Một chức năng khác của ngữ xuất chính là việc nó có thể thúc đẩy mức độ ‘tự động’ (automaticity) trong việc sử dụng ngôn ngữ của người học
Vấn đề không chỉ đơn giản là ngữ nhập- ngữ xuất (input-output) như hai giả thuyết trên mà quá trình tiếp thụ ngôn ngữ mới còn phức tạp hơn nhiều khi sau này các lý thuyết gia bổ sung thêm những lập luận mới từ những nghiên cứu của mình Long (1996) đưa ra giả thuyết về tương tác (interaction hypothesis) qua luận án tiến
sĩ của mình, cho rằng chính nhờ quá trình tương tác và thương lượng mà ngữ nhập được chuyển hóa và có ý nghĩa hơn đối với người học; Tương tác, hiểu một cách đơn giản, chính là những cuộc hội thoại, trao đổi mà người học tham gia Tương tác cung cấp cho người học ngữ cảnh giao tiếp phù hợp
Như vậy, đường hướng tương tác nhấn mạnh tới vai trò, chức năng của các hợp phần mà thiếu một trong số đó, quá trình lĩnh hội ngôn ngữ mới khó có thể diễn
ra thành công Trong số đó, ngữ nhập, tương tác, và ngữ xuất có vị trí then chốt Các lớp học truyền thống thường tập trung vào việc cung cấp ngữ liệu thông qua các hoạt động nghe, đọc, giới thiệu từ vựng, ngữ pháp mà thường dành ít thời gian cho việc tương tác và sản sinh ngôn ngữ đích, đặc biệt trong lớp học đông người Tương tác trong lớp học, xét ở một góc độ nào đó, cũng chưa thực sự gắn với nhu cầu giao tiếp tự nhiên của người học như bên ngoài lớp học Chính vì vậy mà việc tạo ra môi trường trao đổi thông tin tự nhiên hơn (authentic) là việc làm cần thiết nhằm giúp người học có cơ hội sử dụng ngôn ngữ đích, nâng cao khả năng giao tiếp của họ Bên cạnh những yếu tố về môi trường học tập, vai trò của mỗi cá nhân trong
Trang 22đó người học ngoại ngữ luôn có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với ngôn ngữ đích, tuy nhiên mô hình này khó có thể khái quát sang những bối cảnh học tập khác, đặc biệt
là môi trường ngoại ngữ khi mà ngôn ngữ đích không được sử dụng phổ biến bên ngoài lớp học
Dornyei (2005) phát triển một mô hình mới nhằm bù đắp những hạn chế trong mô hình trước đó của Gardner Dựa vào những nghiên cứu về động cơ trong tâm lý-giáo dục, ông đưa ra mô hình ‘Động lực học ngoại ngữ nội ngã” (The L2 Motivational Self System) qua đó người học có động cơ học tập vì muốn khoả lấp những khoảng cách trong định vị bản thân của bản thân họ Mô hình này có ba hợp phần: (1) Con người lý tưởng (Ideal Self) là người mà người học mong muốn trở
Trang 2323
thành, có thể là một người sử dụng ngoại ngữ thành công; (2) Con người mong muốn (Ought-to Self) là người mà người học được mong đợi trở thành, thường là áp lực từ gia đình, nhà trường, và xã hội Đơn cử một ví dụ là hình ảnh con người tương lai của họ không có việc làm sẽ có tác động như một ‘phản lực' để người học
nỗ lực hơn; (3) Hợp phần thứ ba là những trải nghiệm học đường mà người học có được qua các chương trình đào tạo, các khoá học ngoại ngữ Trải nghiệm tích cực hay tiêu cực sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi và thái độ của người học đối với ngôn ngữ đích Chẳng hạn như khi người học có trải nghiệm tích cực với khoá học
A và yêu thích giáo viên dạy môn đó, những trải nghiệm này sẽ có tác động tới nỗ lực của người học thông qua niềm yêu thích tự nhiên của họ Cũng theo cách tiếp cận về niềm yêu thích cho một hoạt động nào đó mà các nhà nghiên cứu đã khái quát hoá thành hai nhóm động lực: bên trong và bên ngoài (intrinsic and extrinsic) (Ryan and Deci, 2000)
Động lực bên trong là năng lượng thúc đẩy người học vì niềm yêu thích, đam
mê, và sự thoả mãn đối với hoạt động người học tham gia Trong trường hợp này, người học thấy thích thú, say mê với việc học một ngôn ngữ mới Họ tham gia các hoạt động học tập ngoại ngữ và thoả mãn được nhu cầu bên trong của mình, tự họ thấy được ý nghĩa, giá trị của hoạt động họ đang tham gia Ngược lại, động lực bên ngoài là những yếu tố khách quan tác động lên hành vi, thái độ của người học với một hoạt động cụ thể nào đó Chẳng hạn như người học muốn nhận được điểm số cao hoặc chiến thắng trong một cuộc thi thì những động cơ này sẽ thúc đẩy họ Đôi khi vì những áp lực đó mà người học phải cố gắng hơn Đơn cử một ví dụ về nhóm sinh viên lo sợ không thể tốt nghiệp ra trường vì yêu cầu chuẩn đầu ra ngoại ngữ, họ quyết tâm dành thời gian công sức học tập với hy vọng đáp ứng được yêu cầu đặt
ra Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng động lực bên trong có mối liên
hệ rõ ràng hơn đối với thành tích học tập (Dörnyei, 1994) Nói cách khác, khi người học có động lực bên trong thì thường đạt được mức độ thành thạo ngoại ngữ cao hơn so với những người có động lực bên ngoài Mặc dầu vậy, chúng ta cần phải thấy rằng việc phân chia theo cách nhị nguyên hoặc này hoặc kia là không phù hợp Trên thực tế việc phân chia các loại động cơ, động lực chỉ có tính chất tương đối vì
Trang 244 Năng lực tự học (Autonomy)
Kashen (2002) cũng đưa ra những luận điểm khái quát về người học ngoại ngữ tốt và người học ngoại ngữ chưa hiệu quả Tác giả trích dẫn kết quả nghiên cứu của Naimon và các tác giả khác vào năm 1978 khi họ tiến hành khảo sát trên 34 người học ngoại ngữ thành công và thấy rằng hai nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến
sự thành công của họ là động lực (motivation) và tắm mình trong ngôn ngữ đích (immersion) Họ cũng đưa ra kết luận rằng những người có cơ hội học tập tại nước
sử dụng ngôn ngữ đích, kết hợp với kỹ năng tự học tốt, là những người lĩnh hội
Trang 2525
ngôn ngữ đó rất thành công Ngoài ra, những người học ngoại ngữ thành công cũng cho rằng việc học ngữ pháp là không đủ, điểm số cao trong những khóa học ở trường cũng không phản ánh nhiều khả năng sử dụng tốt ngoại ngữ của họ Vì vậy, việc kết hợp hiệu quả giữa việc học chính thống trên lớp và học không chính thống bên ngoài lớp học là mô hình phổ biến của những người học ngoại ngữ giỏi Những người này không tham gia vào môi trường học trên lớp hoặc môi trường bên ngoài một cách thụ động Họ tự biết sàng lọc những thông tin và kiến thức phù hợp, và tùy vào từng điều kiện cụ thể mà áp dụng vào việc lĩnh hội ngôn ngữ một cách phù hợp nhất
Với mô hình học tập theo hệ thống tín chỉ, ngoài giờ học tương tác trực tiếp trên lớp, sinh viên phải dành ra rất nhiều thời gian cho việc tự học Chính vì vậy, trang bị kỹ năng tự học và khai thác học liệu được coi là những giải pháp tích cực giúp sinh viên tự học hiệu quả
Đặc biệt, với chương trình đào tạo hiện nay ở các trường trong ĐH Thái Nguyên, số giờ dành cho ngoại ngữ không hề tương ứng với số giờ cần có để đạt chuẩn theo qui định Giờ ngoại ngữ trong chương trình học đại học 4 năm của sinh viên không chuyên ngữ ở hầu hết các trường rơi vào khoảng 9 đến 10 tín chỉ, tương ứng với khoảng 120 giờ tương tác trực tiếp trên lớp Đối với sinh viên chuyên tiếng Anh của Khoa Ngoại ngữ, số giờ tương tác trên lớp dành cho các môn tiếng Anh trong chương trình đào tạo bốn năm là khoảng 1.200 giờ, trong đó có khoảng 800 giờ dành cho nâng cao năng lực tiếng và 400 giờ dành cho các môn chuyên ngành
Theo nghiên cứu của tổ chức Cambridge English Language Assessment thuộc ĐH Cambridge, số giờ tương tác trên lớp cho một người học tiếng Anh để đạt được các bậc năng lực theo Khung tham chiếu châu Âu như sau:
Để đạt được năng lực từ bậc A2, cần có khoảng từ 180 đến 200 giờ
Để đạt được năng lực từ bậc A2 lên B1, cần có khoảng từ 350 đến 400 giờ
Để đạt được năng lực từ bậc B1 lên B2, cần có khoảng từ 500 đến 600 giờ
Để đạt được năng lực từ bậc B2 lên C1, cần có khoảng từ 700 đến 800 giờ
Để đạt được năng lực từ bậc C1 lên C2, cần có khoảng từ 1000 đến 1200 giờ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc đạt được năng lực ngoại ngữ nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như môi trường thực hành ngoài lớp học,
Trang 2626
mức độ học tập trung hay kéo dài rải rác, tuổi tác, thời gian tiếp xúc với ngôn ngữ
và thời gian tự học ngoài giờ trên lớp
Như vậy, để sinh viên không chuyên (thường có đầu vào A1) đạt chuẩn B1 theo qui định của Đề án NNQG 2020 thì chương trình học phải tổ chức được 530 giờ đến 600 giờ học trên lớp, để sinh viên chuyên ngữ (thường có đầu vào là A2) đạt chuẩn C1 thì chương trình phải tổ chức được từ 1550 giờ đến 1800 giờ học trên lớp Nếu đem so sánh, số giờ tiếng Anh hiện có trong chương trình đào tạo của các trường đào tạo sinh viên không chuyên chỉ đạt được dưới ¼ số giờ cần có, tức còn thiếu ít nhất là 410 giờ; số giờ tiếng Anh trong chương trình đào tạo sinh viên chuyên ngữ của Khoa Ngoại ngữ chỉ bằng hơn 3/4 số giờ cần có, tức còn thiếu ít nhất là 350 giờ
Để tổ chức được số giờ học lý tưởng như trên là điều gần như không thể đối với các nhà trường Vậy, giải pháp dường như khả thi nhất hiện nay là giúp sinh
viên tăng cường tự học
5 Học tập ngoại ngữ bên ngoài lớp học
Như đã trình bày bên trên, mặc dù việc học ngoại ngữ diễn ra ngoài lớp học
có vị trí và vai trò rất lớn trong quá trình tiếp thụ ngôn ngữ đích, nhưng đề tài này nhận được rất ít quan tâm thể hiện qua các công trình nghiên cứu hoặc các bài viết học thuật cho tới những năm gần đây (Richards, 2015; Benson & Reinders, 2011; Sockett, 2014) Nổi bật trong số các công trình nghiên cứu đề tài này là tuyển tập các bài viết trong cuốn sách do Benson và Reinders chủ biên có tên “Bên ngoài lớp
học ngoại ngữ” (Beyond the language classroom) xuất bản năm 2011
Richards (2015) trong bài viết có tên ‘diện mạo đang thay đổi trong học
ngoại ngữ: Học bên ngoài lớp học’ lập luận rằng hai chiều hướng ảnh hưởng tới
việc học ngoại ngữ thành công, đó là những gì diễn ra ở trong lớp học và những gì diễn ra bên ngoài lớp học Trước đây, nhiều người hay ngầm giả định rằng việc học trong lớp là việc chuẩn bị hoặc là bước chuyển tiếp cho việc sử dụng ngôn ngữ bên ngoài lớp học Tuy nhiên, với những thay đổi về mặt công nghệ, tương tác giữa các cộng đồng ngôn ngữ ngày càng thuận lợi thì những cơ hội học tập trong lớp học có
vẻ rất hạn chế Richards đã chỉ ra những cơ hội và các nguồn lực bên ngoài lớp học, cách chúng được sử dụng và loại hình học tập mà chúng có thể đem lại Đồng thời
Trang 2727
ông cũng đưa ra những đề xuất liên quan tới việc dạy học trên lớp và công tác đào tạo giáo viên để kịp thời bắt kịp xu thế, diện mạo mới trong hoạt động dạy-học ngoại ngữ Lý luận dạy học, các nghiên cứu, và hoạt động dạy học qua bao nhiêu năm nói chung vẫn tập trung vào môi trường trong lớp Các nhà hàn lâm và nhà chuyên môn quan tâm tới việc thiết kế đề cương, giáo trình học tập, thiết kế các chiến lược và các bài luyện tập cho người học trong lớp chứ không phải bên ngoài lớp học Ngay cả các chương trình sư phạm cũng tập trung vào việc giúp giáo viên khai thác hiệu quả các nguồn lực để giúp người học trong lớp thay vì bên ngoài lớp học Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng môi trường lớp học bộc lộ rất nhiều hạn chế đối với quá trình tiếp thụ ngôn ngữ Bên cạnh những yếu tố về môi trường xã hội, không gian tâm lý như đã thảo luận trước đó, việc tổ chức dạy học theo cách truyền thống còn có nhiều bất cập, đặc biệt là sĩ số lớp đông, thời gian hạn chế, đội ngũ giáo viên không đồng đều, dạy học chủ yếu tập trung cho cho việc thi cử Tuy nhiên, bối cảnh xã hội trong đó việc học ngoại ngữ diễn ra cũng thay đổi không ngừng, đặc biệt là ảnh hưởng của toàn cầu hoá và tác động của sự phát triển công nghệ lên các khía cạnh của đời sống xã hội và hoạt động giáo dục Các chương trình truyền hình xuyên quốc gia, phim ảnh, âm nhạc xuyên biên giới, internet cho phép nhiều người tìm hiểu về những quốc gia hay nền văn hoá mà họ chưa từng nghe thấy trước đó Thêm vào đó là càng ngày càng nhiều ứng dụng người học có thể tải
về để tự học, tự nghiên cứu hay trao đổi với bạn bè qua mạng xã hội…Trên báo chí rất nhiều những câu chuyện tự học ngoại ngữ thành công mà người học không tham gia các lớp học truyền thống Richards chỉ ra rằng rất nhiều cơ hội học tập mà người dạy và người học có thể khai thác được Trong số đó phải kể đến phòng trò chuyện trực tuyến (chat rooms), các trung tâm tự truy cập (self-access centers), mạng xã hội, trò chơi điện tử (digital games) Bên cạnh việc những công cụ này hỗ trợ việc
tự học, thì cũng có rất nhiều nền tảng công nghệ hỗ trợ việc cùng học với những người khác như sử dụng Voicethread, skype, Google hangouts, hoặc người học tham gia vào các dự án bên ngoài lớp học…
Rõ ràng, ở góc độ lý luận, các nhà nghiên cứu cần phát triển lý thuyết phù hợp để diễn giải các hoạt động học tập bên ngoài lớp học, đồng thời lấy đó làm tiền
để để định hướng, hỗ trợ các hoạt động triển khai chương trình học ngoại ngữ bên
Trang 2828
ngoài lớp học Bước đầu, Richards đã chỉ ra những đặc điểm của phương thức học tập này Khi nghiên cứu, tìm hiểu, thiết kế chương trình chúng ta cần lưu ý tới các khía cạnh:
Địa điểm: ở nhà, ở thư viện, ở công viên, hay ở sân trường
Thể thức: khẩu ngữ hay bút ngữ, trực tuyến hay ngoại tuyến, ,…
Mục đích: chủ đích hay không chủ đích, cụ thể hoặc chung chung
Kiểm soát: người học tự quản lý, giáo viên quản lý, trường học hỗ trợ Tương tác: một chiều hay đa chiều
Ngữ vực: bản ngữ hay phi bản ngữ, có chuẩn bị hoặc không chuẩn bị Hậu cần: đòi hỏi, đơn giản, phức tạp
Nhiệm vụ: nghe, nhắc lại, luyện âm, tóm tắt…
Cách thức: cá nhân, theo cặp, theo nhóm, câu lạc bộ
Phương tiện: bảng, máy tính, điện thoại, truyền hình
Một cách tiếp cận khác là việc chỉ ra những cơ hội mà trải nghiệm học tập bên ngoài lớp học có thể cung cấp, những lợi ích mà người học có được Những lợi ích mà phương thức học tập này mang lại thường có biên độ rộng hơn những tác động trong lớp học, ví dụ:
o Giúp người học phát triển các bình diện ngôn ngữ, năng lực giao tiếp và ngữ dụng
o Học thông qua tương tác và kiến tạo nội dung có nghĩa (negocitation of meaning)
o Cải thiện cả mức độ trôi chảy và chính xác trong sử dụng ngôn ngữ đích
o Mở rộng cơ hội tiếp xúc với ngôn ngữ đích (cụ thể là tiếng Anh)
o Tận dụng được các thể thức học tập khác nhau, phong cách học khác nhau
o Phát triển kỹ năng tự học, năng lực tự chủ trong học tập
o Phát triển việc sử dụng các chiến lược giao tiếp
Bên cạnh đó thì cả người dạy và người học cũng có những lợi ích thông qua phương thức học tập này Chẳng hạn như người học có thể:
o Tận dụng được sự linh hoạt và tiện lợi trong quá trình học tập thông qua việc
họ có thể kiểm soát quản lý không gian, phương thức, cách thức học tập
o Đạt được những trải nghiệm học tập tích cực
Trang 2929
o Gắn với nhu cầu, lợi ích và mối quan tâm của mình
o Tăng cường các cơ hội tương tác với bạn bè và những người khác
o Phát triển các kỹ năng mềm các liên quan tới quá trình học tập
Giáo viên cũng có thể tận dụng được những lợi thế qua phương thức này như việc:
o Cung cấp các cơ hội, trải nghiệm học tập và môi trường lớp học không cho phép
o Kết nối hoạt động trong lớp học và bên ngoài lớp học
Đáng mừng hơn, học ngoại ngữ bên ngoài lớp học gần đây đã trở thành “đối
tượng nghiên cứu” của các học giả trên thế giới Báo cáo các công trình được xuất
bản trong tuyển tập có tên “Bên ngoài lớp học ngoại ngữ” (Beyond the language
classroom) xuất bản năm 2011, do Benson và Reinders chủ biên Trong chương mở
đầu, Benson (2011) đã khái quát hoá các vấn đề liên quan tới hoạt động dạy và học bên ngoài lớp học làm cơ sở lý luận cho một mảng nghiên cứu còn rất mới nhưng nhiều tiềm năng Bài viết của Benson xác định phạm vi nghiên cứu và một số nội dung cơ bản Phạm vi nghiên cứu hoạt động học ngoại ngữ bên ngoài lớp học là rất lớn, bao quát nhiều khía cạnh như Richards đã đề cập bên trên, bao gồm: địa điểm, thể thức, mục đích, tương tác, ngữ vực, nhiệm vụ, phương tiện…Benson cũng lưu ý rằng, khi trình bày, thảo luận những nội dung liên quan tới đối tượng ‘học ngoại ngữ bên ngoài lớp học’, có rất nhiều thuật ngữ liên quan được sử dụng trước đó như
‘ngoại khoá’, ‘tự học’, ‘phi chính quy’…các học giả cần lưu ý Tuy nhiên, tự chung lại có bốn khía cạnh có thể được tiếp cận một cách độc lập, bao gồm: không gian, hình thức, phương pháp sư phạm, và mức độ kiểm soát
Thứ nhất về không gian, hoạt động học tập ngoại ngữ ‘bên ngoài lớp học’,
‘bên ngoài trường học’, ‘ngoại khoá’, ‘sau giờ học’ hay ‘câu lạc bộ’…đều tập trung vào địa điểm và thường hàm ý rằng các hoạt động này bổ trợ cho hoạt động dạy-học trong các lớp học truyền thống Cũng tuỳ theo cách phân loại mà có những hoạt động mang tính tự phát, không có sự chuẩn bị trước và cũng có những hoạt động học tập được lên kế hoạch chi tiết Tuy nhiên, cũng có những người học ngoại ngữ không tham gia vào bất cứ hoạt động nào liệt kê bên trên, như vậy thuật ngữ ‘bên ngoài lớp học’ bao quát các không gian học tập khác nhau Tuy nhiên, những hoạt
Trang 3030
động được gọi là bên ngoài lớp học hay bên ngoài trường học lại có thể diễn ra ngay trong lớp học, trong trường học Đơn cử như các câu lạc bộ ngoại ngữ, các hoạt động tranh luận, các cuộc thi nói tiếng Anh, hay các cuộc biểu diễn bằng tiếng Anh Tuy nhiên, khía cạnh về không gian chưa đủ phân biệt các loại hình học tập mà các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu Chúng ta cần xét ở một khía cạnh khác
Thứ hai về hình thức, những thuật ngữ như ‘phi chính quy’ hoặc ‘không chính thức’ thường được sử dụng đối lập với hình thức dạy-học ‘chính quy’, loại hình đào tạo thường diễn ra ở các cơ sở giáo dục và được công nhận rộng rãi Người
ta cũng thường phân biệt loại hình ‘phi chính quy’ với ‘không chính thức’ khi mà nhóm phi chính quy có thể không cần tới việc kiểm soát chặt chẽ về bằng cấp nhưng vẫn được triển khai qua các chương trình học tập cụ thể Ngược lại, nhóm
‘không chính thức’ có thể là bất kỳ hoạt động nào mà người học tham gia để nâng cao kiến thức, kỹ năng của mình
Thứ ba là về phương pháp sư phạm, các thuật ngữ ‘sự dạy’, ‘tự học’ thường được dùng để phân biệt với hình thức dạy học trên lớp Khi nói tới dạy học, người
ta thường mặc định rằng đó là một quy trình chính thức, có sự chuẩn bị liên quan tới mục tiêu, tài liệu, kỹ thuật trình bày nội dung môn học…Tuy nhiên, đối với người học ngoại ngữ, những hoạt động như xem phim, nghe nhạc cũng có thể là một phương thức dạy học đối với họ
Thứ tư là về mức độ kiểm soát, ám chỉ việc mức độ mà người học chịu trách nhiệm và đưa ra những quyết định liên quan tới hoạt động học tập của mình Người học có thể tự tiếp cận, tự tìm hiểu hoặc cũng có thể tham vấn với những người có kinh nghiệm hơn, hoặc với thầy cô trên lớp học để xây dựng lộ trình, chiến lược học tập cho riêng mình Họ cũng có thể làm việc độc lập hoặc tham gia vào các nhóm nhỏ, các tổ chức mà những cộng động học tập để kết nối, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người có chung mục tiêu và mối quan tâm như họ (như việc tham gia tổ chức, duy trì các câu lạc bộ ngoại ngữ)
Như vậy có rất nhiều khía cạnh liên quan tới việc nghiên cứu, triển khai các chương trình tăng cường hỗ trợ sinh viên bên ngoài lớp học Dù tiếp cận ở góc độ nào thì việc hỗ trợ người học qua các chương trình không chính quy cần xem xét để đạt được mục tiêu đề ra
Trang 3131
6 Phát triển tài liệu học ngoại ngữ bên ngoài lớp học
Rất nhiều nội dung thảo luận phần trước tập trung vào lý thuyết chỉ ra tầm quan trọng và cách thức triển khai hoạt động học tập bên ngoài lớp học Tuy nhiên, rất ít cách làm cụ thể được đề cập tới trong việc tổ chức chương trình, phát triển tài liệu cho mô hình học tập này Trong chương tổng kết của tuyển tập Bên ngoài lớp
học ngoại ngữ” (Beyond the language classroom) đã đề cập trước đó, Reinders đưa
ra các gợi ý để chuẩn bị tài liệu giúp sinh viên tự học Ông trình bày tám giai đoạn trong toàn bộ quy trình học tập
Bảng 2 Quy trình tự học
Xác định nhu cầu Bài thi xếp lớp
Đánh giá của giáo viên
Kinh nghiệm học trước đó, những khó khăn gặp phải Thiết lập mục tiêu Quyết định bởi khoá học,
Trang 3232
CHƯƠNG III: TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH TIẾNG
ANH NGOÀI LỚP HỌC
1 Tăng cường ngữ nhập (input) qua các hoạt động đọc mở rộng (ER)
Khoa Ngoại ngữ đã có nhiều hoạt động nhằm phát triển văn hóa đọc bằng ngoại ngữ cho sinh viên
Tủ sách trao đổi miễn phí:Tủ sách là một kho học liệu phong phú bao gồm
nhiều lĩnh vực khác nhau, từ những tài liệu mang tính học thuật đến các cuốn sách
về khoa học thưởng thức,các cuốn truyện, tản văn về văn hóa, đất nước, con người của các nước nói tiếng Anh Nguồn tài liệu này được các giảng viên tiếng Anh, các
cá nhân và tổ chức tình nguyện đóng góp Hàng tuần, sinh viên có thể đến mượn sách, cùng thảo luận chia sẻ về những gì đã đọc Được đặt ở vị trí thuận tiện, tủ sách miễn phí cũng là nơi để sinh viên và giáo viên có thể tự do tặng sách và nhận sách miễn phí
Ngày hội đọc sách:Sự kiện được tổ chức hàng năm nhằm giới thiệu các
nguồn sách mà sinh viên có thể tiếp cận khai thác, giới thiệu các cuốn sách hay phù hợp với sinh viên Đây cũng là dịp để sinh viên, cán bộ giáo viên quyên góp và trao đổi sách Dưới sự tư vấn hướng dẫn của các giảng viên, sinh viên được quyền chủ động lập kế hoạch, lựa chọn nội dung và địa điểm tổ chức, đề xuất xin kinh phí, phân công nhân sự, đề xuất hỗ trợ cơ sở vật chất, tổ chức hoạt động Sự kiện này còn thu hút được sinh viên từ các câu lạc bộ của các trường đại học khác tham gia Thông qua hoạt động thiết thực và ý nghĩa này, các bạn trẻ được hướng tới mục đích cống hiến vì cộng đồng, đồng thời phát triển kĩ năng lãnh đạo trẻ, kĩ năng làm việc nhóm, tích lũy kinh nghiệm sống và đẩy mạnh văn hóa đọc sách trong sinh viên
Ngoài sách tiếng Anh quyên góp được từ các thầy cô và sinh viên tham gia chương trình có thể bổ sung vào nguồn tư liệu dùng cho sinh viên của Khoa Ngoại ngữ, hoạt động này cũng giúp thu thập được một nguồn sách phong phú đa dạng sau
đó được các bạn sinh viên sắp xếp phân phát cho học sinh ở vùng sâu vùng xa và trẻ
em ở trung tâm bảo trợ xã hội
Trang 3333
Góc đọc Bookworm Corner: Hoạt động nàyđược triển khai nhằm tăng
cường kỹ năng đọc mở rộng cho sinh viên Tranh thủ các nguồn tài trợ từ các tổ chức bên ngoài, Bộ môn tiếng Anh đã trực tiếp triển khai dự án góc đọc
“Bookworm Corner”, lựa chọn đặt mua các tạp chí phù hợp và sưu tầm các sách đọc thông dụng cho sinh viên Mục tiêu của tủ sách này là để giới thiệu cho sinh viên những tài liệu nhẹ nhàng, giảm tính hàn lâm, hình thành hứng thú đọc bằng tiếng Anh cho sinh viên, đặc biệt là những sinh viên có trình độ tiếng Anh thấp Những sách được lựa chọn thường là sách văn học, tạp chí, sổ tay hướng dẫn du lịch.Sách được phân loại theo độ khó ngôn ngữ Góc đọc sách này hoàn toàn do sinh viên vận hành các hoạt động như phân loại, sắp xếp sách theo thể loại và trình độ ngôn ngữ,
tổ chức cho mượn và nhận lại sách, soạn thảo và ban hành nội quy Góc đọc sách này đã thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức và cá nhân người nước ngoài đến thăm và tài trợ sách hoặc kinh phí mua sách
Đọc sách tại gia đình giáo viên nước ngoài Với sự nhất trí từ phía Khoa
Ngoại ngữ, thầy giáo người Mỹ Bill McDonald đã triển khaihoạt động “Library night” Thầy Bill McDonald đang giảng dạy tại Khoa Ngoại ngữ và đã có thời gian công tác tại ĐH Thái Nguyênđược 8 năm Hoạt động này đã tạo cho sinh viên một
cơ hội quí giá để rèn luyện khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh Với một thư viện nhỏ đặt tại nhà gồm các sách tiếng Anh do hai vợ chồng ông bà Bill và Sue McDonald sưu tầm, tối thứ Tư hàng tuần, ông bà tổ chức cho sinh viên đến phòng đọc để đọc sách tiếng Anh và trao đổi thảo luận về cuốn sách đã đọc Ngoài ra, sinh viên còn được chơi các trò chơi bằng tiếng Anh, thảo luận theo chủ điểm, học các bài học ngắn về ngữ âm, từ vựng giúp nâng cao năng lực tiếng Bà Sue thậm chí còn dạy sinh viênnấu các món ăn Mỹ tại bếp nấu của gia đình ông bà Người học được trải nghiệm cách học hết sức thú vị và hiệu quả Tham gia cùng thầy Bill còn có các giảng viên bộ môn tiếng Anh và một số giảng viên tình nguyện người nước ngoài khác Hoạt động này không chỉ thu hút các bạn sinh viên Khoa Ngoại ngữ mà còn
có sinh viên các trường khác trong ĐH Thái Nguyên tham gia
Những hoạt động kể trên đã góp phần không nhỏ thúc đẩy phong trào đọc sách trong sinh viên, hình thành ở sinh viên thói quen đọc sách thường xuyên – một thói quen mà sinh viên còn rất thiếu Đặc biệt, các em được học ngoại ngữ theo
Trang 3434
phương pháp gần giống tiếng mẹ đẻ, tức là được đặt trong môi trường có các tài liệu thực tế (authentic materials) và được lĩnh hội ngôn ngữ bằng đường hướng khá tự nhiên thông qua đọc mở rộng (extensive reading) chứ không chỉ dừng lại ở các giáo trình tài liệu dùng trên lớp
2 Tăng cường giao tiếp với người bản ngữ (Output)
2.1 Hoạt động kết nối mạng lưới trường học quốc tế
Với tiền đề là hệ thống My Schools Network, một nền tảng mạng xã hội học tập vận hành ở địa chỉ www.myschoolsnetwork.com từ Dự án Giáo dục Đại học Việt Nam – Hà Lan giai đoạn 2005-2009với 25 quốc gia tham gia, số lượng giáo viên và sinh viên của Khoa Ngoại ngữ tham gia không ngừng tăng Đây là môi trường giáo dục lành mạnh cho học sinh phổ thông, sinh viên học tập và cho giáo viên đại họctrao đổi chuyên môn Các hoạt động chủ yếu trên MySN là thực hành tiếng, học hỏi văn hóa, ứng dụng CNTT trong dạy và học ngoại ngữ, e-learning, thực tập sư phạm trực tuyến, nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy
Năm 2014, Khoa Ngoại ngữ đã thúc đẩy sự lan rộng của MySN.Ngoài các hoạt động của sinh viên và giáo viên Khoa Ngoại ngữ trên MySN, Khoa đã tích cực kết nối các trường phổ thông ở Việt Nam tham gia như Trường Vùng cao Việt Bắc, THPT Dương Tự Minh, THCS Độc Lập, THPT Hiệp Hòa 2 Bắc Giang, và các trường đại học khác như ĐH Hồng Đức – Thanh Hóa, ĐH Quy Nhơn, góp phần tạo thành một mạng lưới quốc tế các trương phổ thông và đại học toàn cầu Ngoài ngôn ngữ chính là tiếng Anh, hiện nay MySN bắt đầu mở rộng sang các thứ tiếng khác như tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay, việc tận dụng mọi thời gian và cơ hội cho sinh viên được tự học là vô cùng cần thiết Mạng lưới MySN đã tạo ra nhiều sự kiện giúp sinh viên học tập ngoài giờ lên lớp một cách hứng thú như: viết về một chủ đề cho sẵn, chụp ảnh và viết lời bình cho ảnh, đọc diễn cảm, làm thơ, làm lipdub v.v Khi tham gia mạng lưới này, sinh viên Việt Nam có cơ hội được tiếp xúc với sinh viên quốc tế
2.2 Trò chuyện với người nước ngoài qua Skype
Để tối đa hóa cơ hội giao tiếp với người nước ngoài,một dự án thử nghiệm được tiến hành cho sinh viên tiếng Anh nhằm tạo cơ hội cho sinh viên tiếp xúc với
Trang 3535
ngôn ngữ đích thông qua trò chuyện trực tiếp với người nước ngoài qua mạng Internet Dự án “Trò chuyện tiếng Anh với người nước ngoài qua phần mềm Skype” giúp kết nối sinh viên với những người nói tiếng Anh ở khắp nơi trên thế giới Hàng tuần, các sinh viên tham gia chương trình được sắp xếp lịch hẹn và trò chuyện với các tình nguyện viên nước ngoài qua phần mềm Skype Chương trình đã được thí điểm với nhóm sinh viên tiếng Anh gồm 38 em Các em này được thường xuyên trò chuyện với hơn 40 người đang sinh sống tại các nước nói tiếng Anh Hầu hết những người này đều làm trong lĩnh vực giáo dục và đa số là những người về hưu
Được lên kế hoạch và triển khai thử nghiệm trong năm học 2014-2015 bởi giảng viên tiếng Anh Khoa Ngoại Ngữ-ĐHTN, dự án “Trò chuyện tiếng Anh với người nước ngoài” (V-Skype- cectn.net/2015/news/cec-online/v-skype-project-28.html) đã chính thức được triển khai trong học kỳ I, năm học 2015-2016 với tư cách là một hoạt động thường xuyên của CLB tiếng Anh Cộng đồng (CEC- cectn.net) của Khoa Ngoại Ngữ Từ khi dự án chính thức được đi vào hoạt động đến thời điểm 30/11/2015, V-Skype đã thực hiện thành công một số hoạt động sau đây:
Phỏng vấn tuyển tình nguyện viên (TNV) trực tuyến vào ngày 22-23/8/2015; thông báo 30 TNV là sinh viên Khoa Ngoại Ngữ vượt qua vòng phỏng vấn vào ngày 24/8/2015
Ngày 30/8/2015, CEC tổ chức Buổi định hướng cho 30 TNV là sinh viên Khoa Ngoại Ngữ và 10 học sinh trường THPT Chuyên Thái Nguyên tại Trung tâm học liệu, Đại học Thái Nguyên Trong buổi định hướng, tất cả các TNV được hướng dẫn đăng ký lịch trình trò chuyện và một vài chú ý, yêu cầu khi tham gia chương trình
Từ ngày 7/9/2015 đến 30/11/2015, tất cả các TNV theo đúng lịch trình tiến hành nói chuyện hàng tuần với người nước ngoài Toàn bộ TNV được chia thành 5 nhóm với 5 nhóm trưởng phụ trách việc thu thập các đoạn ghi âm và hình ảnh gửi về cho đội triển khai dự án
Ghi chép nhật ký hàng tuần
Lập 2 nhóm Facebook: V-Skype Project dành cho thông báo và quản lý TNV
là học sinh, sinh viên; Vietnam Skype Project bao gồm cả TNV nước ngoài
và học sinh, sinh viên để trao đổi, thảo luận
Trang 36 Tổng số lịch trình phát ra: 47 cuộc trò chuyện/tuần Cụ thể: 6 cuộc đối thoại vào thứ 2, 10 cuộc đối thoại vào thứ 3, 10 cuộc đối thoại vào thứ 4, 8 cuộc đối thoại vào thứ 5, 8 cuộc đối thoại vào thứ 6, 1 cuộc đối thoại thứ 7 và 4 cuộc đối thoại vào chủ nhật
Số lượng bản ghi âm và hình ảnh được thu thập được tính từ tuần 1 đến tuần
3 của dự án: 15 bản ghi âm và 3 hình ảnh
Lượt ghi nhật ký: 39 lượt ghi nhật ký từ học sinh, sinh viên và 147 lượt ghi nhật ký của TNV nước ngoài
Hoạt động giữa một sinh viên Việt Nam và một người nước ngoài trong một cuộc đàm thoại thường diễn ra theo các bước trong bảng sau:
Bảng 3: Các bước trong một cuộc đàm thoại giữa sinh viên Việt Nam và người nước ngoài(Phỏng theo Nguyen Thi Dieu Huong,2016)
ngoài
Sinh viên
4 Gửi tranh ảnh, tài liệu, các đường link có liên
quan đến chủ đề giao tiếp
9 Thảo luận các chủ đề khác có liên quan
Trang 3737
11 Chia sẻ những câu chuyện xảy ra hàng ngày
14 Dùng Google trợ giúp tìm kiếm thông tin
15 Cho người đối thoại xem quang cảnh xung
quanh qua camera
16 Giới thiệu người đối thoại với các thành viên
khác trong gia đình, bạn bè hoặc thú cưng
2.3 Học tiếng Anh qua video cùng thầy giáo nước ngoài
Mục tiêu của chương trình:
Mở rộng hiểu biết về văn hóa, kỹ năng ngôn ngữ Tiếng Anh cho sinh viên Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Thái Nguyên (KNN-ĐHTN) thông qua hình thức video ngắn gọn, dễ hiểu
Phát triển kỹ năng làm việc theo nhóm, ứng dụng CNTT trong học tập ngoại ngữ cho sinh viên KNN-ĐHTN
Đối tượng tham gia và hình thức tổ chức:
Tham gia tổ chức: cố vấn CLB CEC, các thành viên CLB Tiếng Anh CEC,chuyên gia Scott Gross từ Hoa Kỳ
Đối tượng hưởng lợi: giáo viên KNN-ĐHTN, sinh viên CLB CEC, sinh viên KNN-ĐHTN
Hình thức tổ chức: quay video ngắn (05-06 phút) thảo luận về cách sử dụng
và ý nghĩa một số thành ngữ nhất định trong Tiếng Anh với mức độ khó phù hợp với trình độ của sinh viên
Kết quả:
Trang 3838
Số lượng video phát hành: 07 đoạn với các chủ đề khác nhau
Các từ vựng/thành ngữ Tiếng Anh được thảo luận gồm:
Video 1: https://www.youtube.com/watch?v=ubKCFzjRSrs: chủ đề: tài chính: broke (khánh kiệt), spot (cho vay tiền), buck (đô-la), make ends meet (có đủ tiền để làm gì đó), loaded (giàu có)
Video 2: https://www.youtube.com/watch?v=CUGouEN-Pg8: chủ đề: các thành ngữ với từ “mưa”: right as rain (mọi thứ đều trong tình trạng tốt), raining cats and dogs (mưa như trút nước), don’t rain on my parade (đừng làm mất hứng), rain or shine (dù mưa hay nắng), take a rain check (hẹn dịp khác), save it for a rainy day (để lúc khác)
Video 3: https://www.youtube.com/watch?v=b2k21vukKqA: chủ đề: giải trí: hang out (hẹn hò), chill (out) (giải trí), shoot the breeze (chém gió), sleep in (ngủ nướng), couch potato (lười biếng),
Video 4: https://www.youtube.com/watch?v=7MKTOVdumNs: chủ đề: khuyến khích: go for it! (tiến lên), give it a go (cố lên), give it your best shot (hãy làm tốt nhất có thể), keep your head up (tích cực lên), break a leg! (chúc may mắn)
Video 5: https://www.youtube.com/watch?v=lv73G31dKCI: chủ đề: các thành ngữ với từ “đánh”: hit on (tán tỉnh), hit the books (học), hit the hay (đi ngủ), hit nail on the head (nói gì đó hoàn toàn chính xác), hit the road (bắt đầu đi du lịch), hit the ground running (bắt tay làm ngay), hit below the belt (đi quá trớn)
Video 6: https://www.youtube.com/watch?v=83dBZlmi2-g: chủ đề: các tình huống: can of worms (tình huống rắc rối), icing on the cake (tin mừng), when in Rome, do as the Romans do (nhập gia tùy tục), best of both worlds (tận hưởng cả hai), same boat (đi chung một thuyền)
Video 7: https://www.youtube.com/watch?v=gg6RamC03w4: chủ đề: thời gian: about time (đã đến lúc điều gì đó xảy ra), time to kill (giết thời gian), time flies (thời gian trôi nhanh), against the clock (chạy đua với thời gian), down to the wire (tới phút cuối), at the drop of the hat (nhanh như cắt), eleventh hour (phút cuối)
Trang 39Website edmodo.com có mã đăng nhập là ze29t9được xây dựng trên nền tảng
có sẵn của trang edmodo.com, được bố cục thành nhiều bài khác nhau với nội dung phong phú và thiết thực cao Trang web được mở cửa miễn phí cho tất cả sinh viên trong Đại học Thái Nguyên có nhu cầu học tự học tiếng Anh ở nhà tham khảo và học tập Trang web có giao diện đơn giản, thân thiện và có tính tương tác cao giữa sinh viên với nhau và với giáo viên Mục tiêu của trang web:
- Hướng dẫn các kỹ năng học tiếng Anh
- Cung cấp tài liệu học tập phục vụ nhu cầu tự học tiếng Anh ngày càng cao của đông đảo sinh viên trong Đại học Thái Nguyên
- Luyện tập các kỹ năng tiếng tiếng Anh thông qua tương tác giữa sinh viên và với các bài tập trực tuyến
Nội dung của trang web được bố cục theo tuần; mỗi tuần đều có bài viết, tài nguyên, bài tập về các kỹ năng tiếng tiếng Anh, ngữ pháp và phát âm
a Tuần 1
- Phương pháp học kỹ năng nói và từ vựng
- Kỹ năng nghe và nói: Giới thiệu bản thân trong tiếng Anh
- Mạo từ trong tiếng Anh
- Phát âm: Nhận dạng hệ thống phụ âm và nguyên âm trong tiếng Anh
b Tuần 2
- Kỹ năng học tiếng Anh thông qua hình thức xem phim trực tuyến
- Danh từ: Danh từ, danh từ số ít, danh từ số nhiều
- Kỹ năng đọc: Đọc tin tức và trả lời câu hỏi
- Kỹ năng viết và từ vựng: Mô tả người
c Tuần 3
- Kỹ năng học tiếng Anh thông qua hình thức nghe nhạc
- Kỹ năng đọc hiểu và ngữ pháp: Tính từ và phó từ trong tiếng Anh
- Kỹ năng viết: Viết đoạn
d Tuần 4
Trang 4040
- Kỹ năng viết: Mô tả công việc ưu thích của bạn
- Phát âm: Phát âm phụ âm khó trong tiếng Anh “sh”
- Kỹ năng nói: Mô tả một sự kiện bạn thấy ấn tượng nhất
e Tuần 5
- Kỹ năng học tiếng Anh ở nhà
- Ngữ pháp: Mệnh đề quan hệ trong tiếng Anh
- Kỹ năng viết: Mệnh đề phụ thuộc, mệnh đề độc lập
- Bài tập: Động từ thì quá khứ đơn
f Tuần 6
- Kỹ năng đọc: Đọc tin tức và trả lời câu hỏi
- Kỹ năng nói: Nói về người nổi tiếng mà bạn thích
- Phát âm: Trọng âm câu
g Tuần 7
- Kỹ năng đọc và ghi chép
- Kỹ năng học tiếng Anh thông qua hình thức hoạt động theo nhóm
- Kỹ năng nghe: Ngày cá tháng 4
h Tuần 8
- Sử dụng điện thoại để học tiếng Anh
- Kỹ năng nói: Tài liệu về đoạn hội thoại mẫu trong tiếng Anh
- Kiểm tra năng lực từ vựng
Tiến trình xây dựng và vận hành hoạt động của trang web được chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn 01: Xây dựng định hướng nội dung cho trang web Khảo sát nhu cầu học của sinh viên các trường trong Đại học Thái Nguyên Thử nghiệm và xin ý kiến giáo viên giảng dạy tiếng Anh trình độ A2
Giai đoạn 02: Xây dựng tài nguyên cho trang web Mời các bạn sinh viên tham gia, vừa học tập vừa góp ý để cải thiện nội dung
Trang web đã được giảng viên đưa vào sử dụng như một phần tích hợp trong chương trình giảng dạy cho 160 sinh viên của Khoa Ngoại ngữ Tuy nhiên, hiện nay sinh viên ĐH Thái Nguyên hoàn toàn có thể đăng nhập để khai thác sử dụng trang web miễn phí
3.2 Website phát triển năng lực tiếng Anh và kỹ năng giảng dạy tiếng Anh ELTiCenter
Việc đáp ứng những yêu cầu về chuẩn năng lực tiếng Anh của Đề án NNQG
2020 là một thách thức lớn đối với giáo viên, sinh viên và học sinh thuộc cộng đồng dân tộc thiểu số do những điều kiện khó khăn về kinh tế, địa lý và giáo dục Đặc điểm dạy và học tiếng Anh cho cộng đồng dân tộc thiểu số đòi hỏi phương pháp và cách tiếp cận riêng Website ELTiCenter (địa chỉ http://elticenter.wordpress.com/) nhằm mục đích hình thành một mạng lưới cộng đồng học tập và giảng dạy để chia sẻ thông tin, tìm kiếm sự giúp đỡ trong nước và nước ngoài giúp nâng cao tiếng Anh cho cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam