- Ngày nay, vấn đề cốt lõi của phương pháp dạy học mới là dạy cho học sinh cách học, hình thành cho học sinh cách học, khả năng tự học, ham học, học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi, lấy t
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬNHỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN 2
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
III MỤC ĐÍCH
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
V ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
VI.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VII CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
1.1.6 Những biểu hiện của năng lực tự học ở học sinh tiểu học
1.1.7 Sự cần thiết phải bồi dưỡng khả năng tự học ở học sinh tiểu học
1.1.8 Ý nghĩa của tự học đối với học sinh tiểu học
1.1.9 Hình thành thói quen tự học cho học sinh tiểu học
1.1.10.Đặc điểm của học sinh tiểu học liên quan đến hoạt động học tập môn Toán
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Về phía học sinh
1.2.2 Về phía giáo viên
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC MÔN TOÁN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VỸ DẠ - TP HUẾ
2.1 Sơ lược về trường tiểu học Vỹ Dạ
2.2 Khảo sát khả năng tự học môn Toán cho học sinh Trường tiểu học Vỹ
Dạ - TP Huế
Trang 22.3.2.1 Hướng dẫn cho học sinh phương pháp tự học
2.3.2.2 Tăng cường sử dụng các phương pháp tự học tích cực
2.3.2.3 Đổi mới hình thức giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
2.3.2.4 Tăng cường kiểm tra đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ tự học của học sinh
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM BỒI DƯỠNG KHẢ NĂNG TỰ HỌC MÔN TOÁN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
3.1 ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN
3.2 ĐỐI VỚI HỌC SINH
3.3 ĐỐI VỚI NHÀ TRƯỜNG
3.4 ĐỐI VỚI PHỤ HUYNH HỌC SINH
C KẾT LUẬN
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3A MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Mục tiêu của Giáo dục Tiểu học là đào tạo, giáo dục học sinh phát triển toàn diện Trong đó môn Toán có một vị trí đặc biệt quan trọng, các kiếnthức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết để học các môn khác ở tiểu học và học tiếp môn Toán ở trung học Vì vậy, việc nâng cao chất lượng dạy và học mônToán ở tiểu học đang là vấn đề được đặt ra hàng đầu
- Việc phát huy tích cực, tự giác học tập của học sinh đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, trong tình hình hiện nay, việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm đòi hỏi ở người học sinh yêu cầu cao là phải tích cực, độc lập, tự giác Tính tích cực, tự giác giúp học sinh tự tin, chủ động trong hoạt động học tập, trở thành chủ thể của hoạt động học tập
- Ngày nay, vấn đề cốt lõi của phương pháp dạy học mới là dạy cho học sinh cách học, hình thành cho học sinh cách học, khả năng tự học, ham học, học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi, lấy tự học làm cốt
- Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết Trung ương V khóa
8 từng nêu rõ: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạp của học sinh Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”.
- Như vậy, tự học là phương pháp hiệu quả nhất để chiếm lĩnh tri thức mộtcách tối ưu và bồi dưỡng cho học sinh tiểu học khả năng tự học là một việc làm cần thiết, vì từ thói quen, khả năng tự học ấy các em sẽ không ngừng củng cố, hoàn thiện kiến thức của bản thân và chính các em sẽ tự mình mở cánh cửa bước vào chân trời tri thức bao la của nhân loại để trởthành người công dân có ích cho xã hội
- Một nét nổi bật hiện nay là học sinh tiểu học chưa biết cách học, chưa học tập một cách tích cực Nếu dạy học một cách thụ động sẽ không đáp ứng được yêu cầu mới của xã hội Dạy học sinh biết tự học là một sự thay đổi về chất của quá trình dạy học Trang bị cho học sinh phương pháp tự học, phương pháp suy nghĩ tức là đã dạy cho các em “học một để hiểu biết nhiều hơn thế” để giúp học sinh biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục Để làm được điều đó cần đề ra một số biện pháp thích hợp, hiệu quả nhằm hình thành bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự học đáp ứng mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học ở tiểu học Vì những
Trang 4lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài “THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM BỒI DƯỠNG KHẢ NĂNG TỰ HỌC MÔN TOÁN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VỸ DẠ - TP HUẾ” để nghiên cứu nhằm đưa ra một số biện pháp thích hợp nâng cao hiệu quả dạy và học môn Toán ởtiểu học.
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
- Trong “Tự đào tạo để dạy học” (seformer pour enseigner) giáo sư giáo dục viện đại học đào tạo giáo viên thuộc Hàn Lâm Viện RETEIL ( Pháp,1993) đã đưa ra những công trình nghiên cứu nhằm góp thêm tiếng nói
về cách tiếp cận khọa học và tính phương pháp luận về dạy học: “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Xu thế của phương pháp dạy học Toán trên thế giới hiện nay, nhìn chung đều thể hiện ý chí
chuyển từ các kiểu tiếp cận truyền thống sang kiểu tiếp cận mang tính đổi mới Từ hệ thống phương pháp thụ động sang phương pháp dạy học tích cực, biến chủ thể nhận thức thành chủ thể hành động, đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, thầy chỉ đạo để học sinh tự lĩnh hội kiến thức mới
- Đề cập đến phương pháp tự học môn Toán của học sinh tiểu học đã có một số tác giả: Đỗ Trung Hiệu – Đỗ Đình Hoan – Vũ Dương Thụy – Vũ Quốc Chung với “Phương pháp dạy học môn Toán” Phạm Đình Thực với “Phương pháp dạy học môn Toán ở bậc tiểu học” Ngoài ra, còn một
số báo, tạp chí xuất bản năm 2000, báo tự học, báo dạy học ngày nay cũng đề cập đến vấn đề này Nhưng các tác giả này chỉ nêu một cách khái quát mà chưa đi sâu vào các biện pháp cụ thể Chính vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu để góp phần nâng cao khả năng tự học môn Toán cho học sinh tiểu học
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu thực trạng khả năng tự học môn Toán cho học sinh trường tiểu học Vỹ Dạ - TP Huế
- Giúp giáo viên và học sinh tiếp cận với phương pháp dạy học mới
- Vận dụng tốt các biện pháp để nâng cao khả năng tự học môn Toán cho học sinh tiểu học Vỹ Dạ - TP Huế
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
2 Tìm hiểu thực trạng và các biện pháp để nâng cao khả năng tự học môn Toán cho học sinh trường tiểu học Vỹ Dạ - TP Huế
3 Đưa ra một số ý kiến đề xuất
V ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Học sinh lớp 5 trường tiểu học Vỹ Dạ - TP Huế
- Các biện pháp để tự học môn Toán áp dụng cho học sinh tiểu học
Trang 5- Sách giáo khoa tiểu học và một số tài liệu có liên quan.
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích, tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, trò chuyện, phỏng vấn
VII CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 : Thực trạng khảo sát khả năng tự học môn Toán của học sinh trường tiểu học Vỹ Dạ - TP Huế
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm bồi dưỡng khả năng tự học môn Toán của học sinh trường tiểu học Vỹ Dạ - TP Huế
- Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “ Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả trong hoàn cảnh nhất định với cường độ học tập nhất định”.
- Theo GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, có khi cả cơ bắp, cùng các phầm chất của chính mình, rồi cả động cơ, tình cảm cá nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực kiến thức của nhân loại, biến lĩnh vực
đó trở thành sở hữu của mình”.
- Theo các nhà nghiên cứu: “ Tự học là tự đặt mình trước các tình huống, vấn đề thực tiễn, cụ thể sinh động của cuộc sống Từ đó thấy có nhu cầu
và hứng thú phát hiện và giải quyết mâu thuẫn trong nhận thức để tìm
ra cái chưa biết, cái mới cần khám phá”.
Trang 6- Tự học được hiểu là quá trình kết hợp sự nỗ lực chủ quan của người học,chủ yếu là nỗ lực của tư duy và sự tranh thủ, tận dụng, khai thác với các nguồn lực bên ngoài.
- Tự học không có nghĩa cô lập người học khỏi xã hội, mà tự tìm tòi để kiến tạo kiến thức một cách chủ động theo cách riêng của mình Biết tự học cũng có nghĩa là biết kế thừa những giá trị văn hóa của nhân loại Tri thức toán học của nhân loại ngày càng tăng, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển, do đó biết tự học là biết cách thu thập và xử lí thông tin cần thiết cho việc hiểu biết của mình, phục vụ cho quá trình kiến tạo kiến thức mới Từ các ý kiến trên, có thể rút ra một số điểm chung:
- Tự học là tự tìm tòi cách thức chiếm lĩnh tri thức, chân lí một cách tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo
- Biết tự học là biết kế thừa và khai thác những công cụ, phương tiện mà loài người cung cấp :Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo….để thu thập trithức cho riêng mình
- Tự học không có nghĩa là học một mình mà học một mình mà học trong môi trường xã hội, dưới sự hướng dẫn của thầy và sự hợp tác với các bạn
1.1.2 Quan niệm về tự học của học sinh Tiểu học
- Tự học là một hoạt động đòi hỏi phải tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì thì mới đạt kết quả Do đó, tự học gắn bó với quá trình tự giáo dục để hình thành những nét tính cách như: Trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…
- Ở học sinh Tiểu học hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo Để học tập
có hiệu quả, học sinh cần phải có phương pháp học tập Qua nghiên cứu củacác nhà tâm lí học cho rằng từ lớp 1 - 2 đến lớp 3 - 4 và đến lớp 5, phương pháp học tập có ý nghĩa khác nhau đối với học sinh Tiểu học Nếu ở lớp 1- 2, phương pháp học tập là quan trọng nhất, còn những kiến thức mà nhà trường đưa đến cho các em chủ yếu nhằm cung cấp chất liệu trẻ học cách học thì đến lớp 3 - 4, học sinh đã có phương pháp học tập nhưng nó cần được củng cố đã được xác định hình thành năng lực của mỗi cá thể, để trẻ vận dụng nó vào cuộc sống và quá trình học tập sau này Vì thế bậc tiểu họcđược coi là bậc học của phương pháp học tập Ở bậc học này, học sinh muốn học điều gì, muốn có tri thức, kĩ năng, các chuẩn mực thì giáo viên phải làm mẫu rồi tổ chức cho học sinh tựu làm để được cái cần có Như vậy,
ở một khía cạnh nào đó, có thể nói, trong phương pháp học tập của học sinhtiểu học đã bao gồm phương pháp tự học
Trang 7- Tự học gắn liền với tự ý thức và tự giáo dục Ở học sinh tiểu học, khả năng tự ý thức, tự giáo dục của các em đang được hình thành và phát triển
Do vậy, tự học của học sinh tiểu học khác với tự học của học sinh cấp THCS , THPT về yêu cầu, mức độ, phạm vi Tự học của học sinh tiểu học chỉ giới hạn ở việc trẻ tự giác hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao (làm bài tập về nhà, chuẩn bị bài học mới ) Dù trực tiếp hay gián tiếp hoạtđộng tự học của học sinh đều có sự hướng dẫn của giáo viên Tự học của học sinh tiểu học không chỉ diễn ra ở nhà mà còn diễn ra ngay ở lớp học Hình thức dạy học rất thích hợp đối với các trường tiểu học dạy 2 buổi / ngày Ở hình thức dạy học này học sinh tiến hành tự học theo những nội dung, cách thức và tiến bộ khác nhau, tùy thuộc vào năng lực cá nhân, dưới
sự hướng dẫn của giáo viên
1.1.3 Các phương thức tự học
1.1.5.1 Tự học hoàn toàn
- Là việc người học tự đọc sách giáo khoa, tự mình tra cứu thông tin cần thiết để chiếm lĩnh tri thức cho riêng mình Theo phương pháp này học sinh phải phát huy nội lực của chính bản thân mình đến nội lực phát triển mạnh nhưng phương pháp này mất nhiều thời gian vì không có hệ thống và ít kế thừa từ hiểu biết của người đi trước
1.1.5.2 Tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy
- Là hình thức hoạt động tự lực của người học để chiếm lĩnh tri thức và hoàn thành kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên
- Học sinh là chủ thể của hoạt động học, được đặt vào tình huống học tập dothầy tổ chức và chỉ đạo, học sinh học thông qua tương tác xã hội để giải quyết vấn đề Thông qua đó học sinh tự khám phá những điều mình chưa rõchứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức thầy sắp đặt sẵn
- Học sinh được đặt vào tình huống thực tế của đời sống, được trực tiếp quan sát, dự đoán, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách hiểu của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng đó, phát huy được tính tích cực, sáng tạo
để thích ứng với những tình huống không quen thuộc trong đời sống thực tế
Trang 8- Tự học , tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hoạt động của chính mình, cá nhân hóa việc học đồng thời hợp tác với các bạn trong lớp học, dưới sự hướng dẫn của thầy.
Việc dạy thích hợp với quá trình trên thực chất cũng là một quá trình:
- Kết hợp quá trình dạy học với quá trình tự học Quá trình giáo dục với quá trình tự giáo dục
- Kết hợp hữu cơ quá trình các nhân hóa với quá trình xã hội hóa việc học
- Cộng hưởng dạy học với tự học Nó là một tập hợp chu trình tự học, có thể xem là một quá trình người dạy hướng dẫn, tổ chức cho người học
“tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự điều chỉnh” tự chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động của chính mình
1.1.5 Chu trình và tự học của học sinh
c Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy cô người học tự kiểm tra, đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh sản phẩm khoa học (tri thức)
Chu trình trên thực chất là con đường phát hiện vấn đề, nghiên cứu khoa học, con đường xoắn ốc Oristic ở tầm vóc và trình độ học trò, con đường dẫn tới tri thức khoa học, đến chân lí mới đối với người học và chỉ có thể ra dưới tác động hợp lí của chu trình dạy của thầy
1.1.6 Những biểu hiện của năng lực tự học ở học sinh tiểu học.
- Học sinh có khả năng thay đổi phương thức hành động để giải quyết vấn đềphù hợp với những thay đổi của các điều kiện
- Có khả năng chuyển từ trừu tượng, khái quát sang cụ thể và ngược lại
- Thích tìm tòi, khám phá bài toán theo nhiều cách khác nhau
- Có óc quan sát tinh tế, nhanh chóng phát hiện ra vấn đề, phát hiện ra nhữngđiểm “nút” làm cho việc giải quyết vấn đề phát triển theo chiều hướng hợp lí
hơ, độc đáo hơn
- Có trí tưởng tượng phát triển, nhất là trong quá
1.1.7 Sự cần thiết phải bồi dưỡng năng lực tự học ở học sinh tiểu học
Trang 9- Năng lực tự học được bồi dưỡng giúp học sinh phát huy được tính tích cực,chủ động, tư duy sáng tạo của người học, tăng hứng thú, sự say mê học tập
và ý chí vươn lên của học sinh
- Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức lớn cần cung cấp và quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
- Tự học giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi vì nó là kết quả của
sự hứng thú, tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp học tập tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi học sinh biết cách tự học, học sinh sẽ
“có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
1.1.8 Ý nghĩa của tự học đối với học sinh tiểu học
- Tự học là năng lực đóng vai trò quan trọng đối với học sinh tiểu học Năng lực này được bồi dưỡng và phát huy là điều kiện để phát huy tối đa vai trò chủ thể của người học Học sinh không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin
- Tự học giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức Tự học là một khâu quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình học tập của học sinh Kiến thức mà hằng ngày trẻ tiếp thu trên lớp chỉ có thể bền vững nếu như chúng được ôn tập, củng cố thường xuyên bằng hệ thống bài tập hoặc việc làm ngoài giờ lên lớp
- Tự học giúp học sinh rèn kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, nhất là lớp 1 – 2, tự học càng có ý nghĩa hơn khi tất cả các kĩ năng học tập của trẻ hầu như chưa có nhưng cần phải nhanh chóng được hình thành (kĩ năng tính toán), trong khi thời gian dành cho tiết luyện tập trên lớp là rất ít, trẻ chỉ có thể luyện tập ở nhà
- Tự học góp phần tích cực hoạt động nhận thức của học sinh Học sinh phải học bài, làm bài tập đầy đủ và chuẩn bị cho bài học mới một cách chu đáo mới có thể đáp ứng được yêu cầu của việc học trên lớp
- Tự học giúp học sinh luôn củng cố và phát triển cách học của mình, phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tính tích cực, độc lập, tinh thần trách nhiệm, tự giác cao
1.1.9 Hình thành thói quen tự học cho học sinh tiểu học
1.1.10.Đặc điểm của học sinh tiểu học liên quan đến hoạt động học tập môn Toán.
1.1.10.1 Đặc điểm về nhận thức của học sinh tiểu học
- Chú ý của học sinh tiểu học: Cả 2 loại chú ý không chủ định và chú ý có chủ định đều được hình thành và phát hiện ở học sinh Tiểu học, chú ý không
Trang 10chủ định đã có trước 6 tuổi và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ, hấp dẫn
dễ dàng gây chú ý không chủ định của học sinh
- Chú ý không chủ định chiếm ưu thế Sự tập trung chú ý còn yếu dễ bị phântán Do đó phải tổ chức giờ học một cách khoa học, ngắn gọn mà vẫn đảm bảo nội dung kiến thức
- Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình thành và phát triển mạnh Sự hình thành đáp ứng nhu cầu hoạt động học ở giai đoạn đầu cấp chú ý có chủđịnh được hình thành nhưng chưa ổn định, chưa bền vững Vì vậy, để duy trìnội dung mỗi tiết học phải trở thành đối tượng hoạt động của học sinh
- Trí nhớ có chủ định và trí nhớ không chủ định đều được hình thành ở học sinh tiểu học do yêu cầu hoạt động học trí nhớ có chủ định hình thành và phát triển Học sinh phải nhớ công thức, quy tắc, định nghĩa, khái niệm…để vận dụng giải bài tập hoặc tiếp thu tri thức mới, ghi nhớ này buộc học sinh phải sử dụng cả 2 phương pháp của trí nhớ có chủ định là: ghi nhớ máy móc
và ghi nhớ ý nghĩa
- Đặc điểm trí nhớ ở học sinh tiểu học thiên về trí nhớ trực quan hình tượng hơn là trí nhớ tư duy logic, nên khi hướng dẫn các em tự học cần nhấn mạnh,khắc sâu nhiệm vụ học tập cho các em, dạy cho các em cách ghi nhớ để học tập đạt kết quả cao
- Tri giác của học sinh tiểu học thường mang tính tổng thể, ít đi sâu vào chi tiết, mang tính chủ động Do đó sự phân biệt các đối tượng, biểu tượng hình học của các em chưa chính xác Tri giác về không gian và thời gian của các
em chưa tốt Vì vậy, cần tạo điều kiện cho học sinh tri giác bằng nhiều cách khác nhau, các em có thể tự học bằng quan sát mô hình, sự vật cụ thể
- Tư duy của các em thường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựa vào đặc điểm bên ngoài.Vì thế khi khái quát học sinh thường dựa vào chức năng,công dụng của sự vật
- Do hoạt động học được hình thành ở học sinh tiểu học qua 2 giai đoạn nên
tư duy của học sinh tiểu học cũng được hình thành qua 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: Đặc điểm tư duy học sinh lớp 1,2,3
Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục hình thành và phát triển, tư duy trừu tượng bắt đầu được hình thành Tư duy cụ thể được thể hiện rõ ở học sinh lớp 1,2 nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức mới phải tiến hành các thao tác với vật thực hoặc các hình ảnh trực quan
Giai đoạn 2: Đặc điểm tư duy học sinh tiểu học lớp 4,5
- Tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc
Trang 11- Cần khơi gợi, dẫn dắt tạo sự chú ý cao để các em tự học tập hoàn thiện kiến thức dang dở.
1.1.10.2 Sự phát triển các thao tác tư duy của học sinh tiểu học.
a Phát triển thao tác tư duy phân tích và tổng hợp
- Phân tích là thao tác tư duy nhằm chỉ ra các đặc điểm, tính chất , thuộc tínhcủa sự vật, hiện tượng cho trước
Ví dụ: Trong Toán học khi dạy về số thập phân ta phân tích thành phần nguyên và phần thập phân, từ đó chỉ ra dấu hiệu , đặc điểm của số thập phân.Khi dạy học giải toán, GV hướng dẫn học sinh phân tích nội dung bài toán
để chỉ ra cái đã cho, cái cần tìm và mối liên hệ giữa chúng
- Tổng hợp là thao tác tư duy nhằm tập hợp các đặc điểm, tính chất, thuộc tính riêng lẻ thành một đối tượng chung nhất
- Ví dụ: Khi dạy học giải toán, từ kết quả phân tích, GV yêu cầu HS tổng hợp lại để có tóm tắt bài toán
- Ở tiểu học, học sinh bước đầu có khả năng phân tích, tổng hợp Tuy nhiên phân tích, tổng hợp của học sinh phát triển không đều, nhiều lúc phân tích không đi đến tổng hợp Do đó, tổng hợp nhiều khi không đúng hoặc không đủ dẫn đến sai lầm khi khái quát hóa, khi hình thành khái niệm và cả khi giải toán Dần dần phân tích, tổng hợp có sự gắn bó nhưng cả 2 thao tác trên của học sinh vẫn ở trình độ thấp
b Phát triển thao tác tư duy trừu tượng hóa, khái quát hóa.
- Khái quát hóa là thao tác tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ việc nghiên cứu các trường hợp cụ thể, riêng lẻ để rút ra kết luận chung, tổng quát
- Trừu tượng hóa là thao tác tư duy dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính cụ thể, riêng lẻ để giữ lại cái chung nhất, cái bản chất của đối tượng nhận thức Có 2 dạng trừu tượng hóa.Trừu tượng hóa từ đồ vật, hiện tượng cảm tính và trừu tượng hóa từ các hoạt động thao tác với đồ vật, hiện tượng đó
- Trừu tượng hóa nhằm: Rút dấu hiệu bản chất ra khỏi dấu hiệu khác, hoặc loại bỏ tất cả dấu hiệu không bản chất để bộc lộ dấu hiệu cần quan tâm Đây
là yếu tố rất cần khi các em tự học để rút ra những công thức, quy tắc Toán học
Cả 2 dạng trừu tượng đều rất khó đối với học sinh tiểu học Vì vậy, giáo viêncần sử dụng hợp lí các kĩ năng Sư phạm để từng bước giúp học sinh phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa
c Phát triển thao tác tư duy phán đoán và tư duy lôgic
- Tư duy của học sinh tiểu học nhằm vào 3 mặt: Những câu hỏi thắc mắc trước một vấn đề tình huống, tự tìm ra dự kiến của một lời giải và kiểm tra lại sự đúng đắn của một đáp số
Trang 12- Tư duy logic chỉ phát triển thông qua phát triển khả năng suy luận.
- Trong học Toán, học sinh tiểu học còn khó diễn tả những tình huống bằng lời, khó nhận thức về quan hệ kéo theo Khi suy luận các em còn gắn với đời sống thực tế quan sát Đến cuối bậc tiểu học thì học sinh đã ý thức được
cơ chế lập luận, tức là thao tác nhận thức đã đưa đến kết quả Chính điều này sẽ giúp ích cho việc học Toán có hiệu quả cao hơn
1.1.3 Quá trình tự học
- Quá trình tự học là quá trình đòi hỏi một sự nhào nặn có ý thức, có chọn lựa, thế hiện năng lực tự thân của người học và chính quá trình ấy học sinh mới thật sự kế thừa những tinh hoa văn hóa của nhân loại, đồng thời tác động tích cực vào tri thức để phát hiện ra cái mới và sáng tạo, làm phong phú, mới mẻ cho những tri thức đã có
Chỉ có tạo điều kiện cho học sinh tự làm chủ quá trình học tập, biết cách khai thác kiến thức, biết dùng năng lực tư duy để khám phá, tìm tòi, phát hiện thì kết quả học ấy mới thực sự là kết quả của chính người học Từ đó, học sinh hứng thú, yêu thích môn học và tự kiểm tra, tự khẳng định mình
1.1.4 Năng lực tự học, tự nghiên cứu là gì?
Năng lực tự học, tự nghiên cứu là yếu tố mang tính quyết định của tính
tự lực, tự thân học tập
Có thể khẳng định năng lực tự học, tự nghiên cứu tạo cho học sinh một
sự sẵn sàng về tâm lí tiếp nhận, người học định hướng được nhu cầu học tậpcủa mình Từ ý thức được nhu cầu học tập, người học sẽ phấn đấu thỏa mãnnhu cầu nhận thức bằng thái độ nghiêm túc học tập
Người học tự học, tự nghiên cứu độc lập, tự chủ trong khó khăn, vất vả thì sẽ thu được kết quả bền vững Người tự học, tự nghiên cứu sẽ phát huy được sự thống nhất biện chứng giữa phẩm chất và năng lực, giữa ý thức và hành động, động cơ khát vọng khám phá
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢO SÁT NĂNG LỰC TỰ HỌC MÔN TOÁN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VỸ DẠ - TP HUẾ
2.1 Sơ lược về trường tiểu học Vỹ Dạ
- Trường tiểu học Vỹ Dạ được thành lập vào năm 1925 Năm 1975, trường mang tên: Trường cấp 1, cấp 2 Vỹ Dạ Đến năm 1994, trường được tách ra
từ trường trên và chính thức mang tên trường tiểu học Vỹ Dạ
Lúc đầu, trường đóng ở tại 225 Nguyễn Sinh Cung Năm 2008, nhà trườngđược tỉnh và thành phố xây dựng cho một ngôi trường khang trang, sạch sẽ
Trang 13tại 51A Lâm Hoằng Ngày 1/4/2008, trường chính thức được đưa vào hoạt động Trường có 30 phòng học phục vụ cho công tác dạy và học.
Trường có 25 lớp với tổng số học sinh của cả 5 khối là 994 em, trong đó
444 học sinh nữ và 550 học sinh nam, tất cả học sinh đều được học 2 buổi/ ngày Trường hiện có 42 giáo viên với trình độ trên chuẩn là 38 giáo viên (chiếm 90% )
Chức năng nhiệm vụ:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục Tiểu học do Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Huy động trẻ đúng độ tuổi vào lớp một, vận động trẻ em bỏ học đến
trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học và tham gia xóa mù chữ trong phạm vi cộng đồng
- Quản lí giáo viên, nhân viên và học sinh
- Quản lí, sử dụng đất đai, trường lớp, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức, cá nhân trong cộng đồng thực hiệncác hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho giáo viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.Những thành tích đã đạt được:
- Năm 2011- 2012 trường đã chiêu sinh được 205 học sinh vào lớp 1, đạt tỉ
lệ 100% Trường là đơn vị đạt chuẩn phổ cập đúng độ tuổi (2012)
- Thực hiện tốt kế hoạch và chương trình của Bộ GD – ĐT đề ra
- Thực hiện tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
- Thực hiện tốt chủ đề năm học, tiếp tục đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục
- Đẩy mạnh xây dựng phong trào trường học thân thiện, học sinh tích cực.Trường được công nhận là trường học thân thiện, học sinh tích cực: đạt loại tốt
- Đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt Đạt kết quả cao trong các hộithi do tỉnh, thành phố tổ chức như: học sinh giỏi tỉnh, thành phố, vở sạch chữđẹp, Olympic Tiếng Anh qua mạng, tin học; văn nghệ; thể thao…
- Liên đội được công nhận là liên đội vững mạnh cấp thành phố
- Trường tiểu học Vỹ Dạ cùng với trường Quang Trung, Trần Quốc Toản là
ba trường dạy thí điểm chương trình Tiếng Anh của Bộ từ lớp 3 trở lên (4 tiết/ tuần)
2.2 Khảo sát khả năng tự học môn Toán cho học sinh Trường tiểu học Vỹ
Dạ - TP Huế
Trang 142.2.1 Cách tiến hành
* Phương pháp quan sát:
- Mục đích : Khai thác những thông tin cần thiết như thái độ, hứng thú, nănglực tự học của học sinh khi học môn Toán để phục vụ cho việc đánh giá thựctrạng và đề xuất giải pháp tương ứng
- Cách thực hiện: Dự một số tiết luyện tập giải Toán của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Vỹ Dạ
+ Nếu học sinh tích cực làm bài tập ở nhà, giải đúng và có cố gắng tìm ra các cách giải bài Toán khác nhau thì các em có năng lực tự học tốt
+ Ngược lại, nếu các em có vẻ mệt mỏi, uể oải, không làm bài tập, chuẩn bị bài ở nhà thì đó là những trường hợp mà chúng ta cần có những biện pháp đểbồi dưỡng năng lực tự học
* Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
- Mục đích: Thu thập những thông tin đầy đủ, chính xác để đánh giá được khả năng tự học của học sinh trường tiểu học Vỹ Dạ - TP Huế
- Số lượng khách thể nghiên cứu: 80 học sinh lớp 4 trường tiểu học Vỹ Dạ.Trong đó:
2.2.2.1 Phiếu điều tra cho học sinh
Gồm 6 câu hỏi xoay quanh 3 vấn đề:
a, Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của học sinh về năng lực tự học:Câu 1: Thái độ của HS đối với các tiết bài tập thực hành như thế nào?
Trang 15Câu 2: Ứng xử của học sinh khi gặp một bài tập khó như thế nào?
Xem kỹ bài mẫu GV đã
Câu 3: Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải của học sinh như thế nào ?