1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẬN DỤNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về CHIẾN TRAN NHÂN dân TRONG sự NGHIỆP xây DỰNG và bảo về tổ QUỐC HIỆN NAY

31 660 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 154,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh một danh nhân văn hoá thế giới, cả cuộc đời và sự nghiệp của Người là những “tư liệu” vô giá cho cách mạng Việt Nam. Mặc dù Người không có một tác phẩm riêng biệt nào viết về các vấn đề cụ thể của lĩnh vực triết học, nhưng tư tưởng và hành động của Người luôn mang đậm “sắc thái” triết học, luôn thể hiện sự sâu sắc và khiêm nhường của một nhà hiền triết phương Đông, mặc dù chưa khi nào người tự thừa nhận mình là nhà triết học. Chính vì vậy, khi tìm hiểu tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân, chúng ta thấy rất rõ sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng triết học MácLênin, tư tưởng triết học phương Đông của Người vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, làm bùng lên “ngọn lửa” truyền thống yêu nước của dân tộc “thiêu cháy” mọi kẻ thù.

Trang 1

Mở đầu

T tởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủnhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sángtạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nớc ta, đồngthời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp và giải phóng con ngời Mặc dù, trong toàn bộ “hệ thốngquan điểm toàn diện và sâu sắc” không bàn một cách cụ thể về các khái niệm,phạm trù, hay những quy luật nh các t tởng triết học trong lịch sử nhân loạicũng nh triết học Mác-Lênin; nhng ẩn chứa những nội dung thể hiện trình độ

và phơng pháp t duy triết học sâu sắc, thể hiện sự nhất quán một thế giới quan,một nhân sinh quan rất triết học của Hồ Chí Minh

Kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những t tởng của nhân loại đặcbiệt là chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh

đã có những đóng góp to lớn vào kho tàng t tởng nhân loại , làm phong phúthêm chủ nghĩa Mác-Lênin nói riêng trên rất nhiều vấn đề, trong đó có t tởngcủa Ngời về chiến tranh nhân dân Đây là một trong những di sản quý báu củaNgời để lại cho dân tộc ta cũng nh toàn thể các dân tộc thuộc địa, bị áp bức,bóc lột đứng lên giành và giữ chính quyền cách mạng, xây dựng và bảo vệvững chắc nền tự do độc lập

1 T tởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân.

1.1 Cơ sở hỡnh thành tư tường Hồ chớ Minh về chiến tranh nhõn dõn.

Tư tưởng chiến tranh nhõn dõn là một bộ phận trong tư tưởng Hồ ChớMinh Tư tưởng Hồ Chớ Minh bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sõusắc về những vấn đề cơ bản của cỏch mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng

và phỏt triển sỏng tạo chủ nghĩa Mỏc - Lờnin vào điều kiện cụ thể của nước ta,

kế thừa và phỏt triển cỏc giỏ trị truyền thống tốt đẹp của dõn tộc, tiếp thu tinh

Trang 2

hoa trớ tuệ của nhõn loại éú là tư tưởng về giải phúng dõn tộc, giải phúng giaicấp, giải phúng con người; về độc lập dõn tộc gắn liền với chủ nghĩa xó hội,kết hợp sức mạnh dõn tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhõn dõn,của khối đại đoàn kết toàn dõn tộc; về quốc phũng toàn dõn, xõy dựng lựclượng vũ trang nhõn dõn…

Tư tưởng Hồ Chớ Minh là ngọn cờ lónh đạo, ngọn cờ tập hợp, ngọn cờđộng viờn, cổ vũ nhõn dõn ta, quõn đội ta làm nờn kỳ tớch vĩ đại trong Cỏchmạng Thỏng Tỏm, những chiến cụng lừng lẫy suốt 30 năm chiến tranh giảiphúng dõn tộc, bảo vệ Tổ quốc Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tưtưởng Hồ Chớ Minh về chiến tranh nhõn dõn được phỏt huy lờn những đỉnhcao mới Tư tưởng ấy xuất phỏt từ tớnh chất cuộc chiến tranh chống xõm lược,chiến tranh yờu nước, chớnh nghĩa, cỏch mạng của thời đại éú là chiến tranhgiải phúng dõn tộc, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, dõn chủ,hạnh phỳc cho nhõn dõn, mở đường đưa đất nước tiến lờn chủ nghĩa xó hội,dưới sự lónh đạo của éảng Cộng sản Việt Nam

Chiến tranh nhân dân, là “chiến tranh do đông đảo quần chúng nhândân tiến hành vì lợi ích của nhân dân, có lực lợng vũ trang làm nòng cốt, dới

sự lãnh đạo của giai cấp tiến bộ, bằng mọi hình thức và vũ khí có trong taychống sự xâm lợc từ bên ngoài hoặc chống ách thống trị bên trong.”1 Mộthình thức chiến tranh với sự tham gia đông đảo, nhiệt tình, bằng sự phát huytối đa mọi khả năng và sức lực của quần chúng nhân dân Nói cách khác, đây

là hình thức chiến tranh của toàn dân, toàn thể dân chúng đều tham gia đánhgiặc giữ nớc, vì quyền lợi, vì cuộc sống của chính ngay những ngời dân thamgia chiến tranh Dới sự lãnh đạo của giai cấp tiến bộ, các lực lợng dân chúng

đợc tập hợp và tổ chức lại, tạo thành sức mạnh tổng hợp, to lớn; với mọi thứ vũkhí trong tay có thể đánh thắng mọi kẻ thù

Trong lịch sử, cũng đã có những triết gia bàn đến vị trí, vai trò của conngời, của quần chúng nhân dân theo quan điểm duy vật biện chứng; nhng docòn bị hạn chế bởi điều kiện lịch sử hoặc lập trờng giai cấp, nên họ cha có

1 Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H 1996, tr 173.

Trang 3

quan niệm đúng đắn và đầy đủ về vấn đề đó Chỉ đến khi triết học Mác-Lênin

ra đời, các vấn đề về con ngời, về quần chúng nhân dân mới đợc làm sáng tỏtrên cơ sở khoa học và mang tính cách mạng triệt để, sâu sắc Từ quan niệmcon ngời là chủ thể sáng tạo và cải tạo thế giới, con ngời là trung tâm của mọithời đại; từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tợng trong thếgiới, chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ vai trò to lớn của quần chúng nhân dân.Quần chúng nhân dân là ngời sáng tạo chân chính ra lịch sử, là chủ thể của lịch

sử Mọi hoạt động của quần chúng nhân dân là điều kiện cơ bản quyết định sựtồn tại và phát triển của xã hội Họ là lực lợng cơ bản của mọi cuộc cách mạng,cách mạng thực sự là ngày hội, là sự nghiệp của họ Trong các lĩnh vực khác nh:Văn hoá, nghệ thuật, khoa học v.v, quần chúng nhân dân cũng vừa là ngời sángtạo, vừa là ngời thởng thức, gìn giữ, bảo vệ và phát triển những giá trị đó Mặtkhác, quần chúng nhân dân còn là nơi khơi dậy nguồn cảm hứng, rung động chocác sáng tác nghệ thuật của các văn, nghệ sĩ Có thể nói rằng trong lĩnh vực quân

sự, chính trị cũng nh các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, quần chúng nhân dânluôn có vai trò vô cùng to lớn, họ thực sự là động lực của mọi cuộc cách mạngxã hội, là chủ thể sáng tạo của mọi hoạt động sống Do đó, trong các hoạt

động xã hội, nhất là làm cách mạng, “ai” tập hợp, phát huy đợc sức mạnh củaquần chúng nhân dân, “ngời” đó sẽ có điều kiện thuận lợi làm nên chiến thắng

và ngợc lại Kế thừa và phát triển những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

về vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân, ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đãnhận thấy, muốn làm cách mạng Việt Nam thành công phải dựa vào sức mạnhcủa toàn thể quốc dân đồng bào, phải tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành

chính quyền về tay nhân dân Hồ Chí Minh khẳng định: Dễ mời lần không

Trung kỳ và Nam kỳ năm 1924, Hồ Chí Minh đã viết: “Để có cơ thắng lợi,

một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dơng: Phải có tính chất một cuộc khởinghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn Cuộc khởi nghĩa phải

đợc chuẩn bị trong quần chúng”3 Hồ Chí Minh cho rằng, để tiến hành chiếntranh nhân dân thắng lợi không chỉ hô hào, kêu gọi quần chúng nhân dân là

đủ, mà phải biết cổ vũ, động viên, tập hợp, tổ chức chặt chẽ, phải làm cho toànthể dân chúng nhận thức rõ tội ác của kẻ thù, thấy rõ trách nhiệm của mình tr-

ớc vận mệnh của đất nớc Đồng thời, mọi ngời dân tham gia vào cách mạng

2 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H 2000, tr 112.

3 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H 2000, tr 468.

Trang 4

đều cảm nhận đợc lợi ích mà họ sẽ đợc thừa hởng sau khi cách mạng thànhcông, đó là “ngời cày có ruộng”, “mọi ngời ai cũng có cơm ăn, áo mặc, aicũng đợc học hành”.v.v Nên ngời nói: “Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến

quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân Muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dỡng lực lợng của họ Muốn nông dân có lực lợng dồi dào thì phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở”4

Theo Ngời, lực lợng tham gia trong chiến tranh nhân dân phải là toànthể nhân dân, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, hễ bất cứ ai làngời con nớc Việt, là con Lạc cháu Hồng đều có nghĩa vụ và quyền lợi trong

đấu tranh cách mạng của dân tộc Do vậy, “muốn kháng chiến lâu dài để tớithắng lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lợng mới mong đi tớithắng lợi cuối cùng Cậu bé chăm chỉ học hành trong nhà trờng cũng là khángchiến Anh dân cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy,chị bán hàng buôn bán ngợc xuôi, ông già xách giỏ đi câu cũng là khángchiến Các công chức, các nhà văn, nhà báo mải miết trớc bàn giấy, cạnh tủsách cũng là kháng chiến Các y sinh, khán hộ lăn lộn bên giờng bệnh cũng làkháng chiến Các nhà giàu có đem hết tài lực mở mang xởng thợ, khai thácruộng đất cũng là kháng chiến Đó là toàn dân kháng chiến”5

Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946,

Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ ngời già, ngời trẻ, khôngchia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là ngời Việt Nam thì phải đứng lên đánhthực dân Pháp để cứu Tổ quốc”6 Do có đờng lối kháng chiến đúng đắn màtrong cuộc kháng chiến chống Pháp đã tập hợp đợc đông đảo quần chúng nhândân tham gia Không chỉ có công nhân, nông dân, tri thức, mà còn có cảnhững nhân sĩ yêu nớc…đều đồng tâm hiệp sức tham gia vào cuộc khángđều đồng tâm hiệp sức tham gia vào cuộc khángchiến của dân tộc

Sức mạnh của chiến tranh nhân dân phải là sức mạnh tổng hợp của củatinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, là sức mạnh có tổ chức của

đông đảo quần chúng nhân dân, cùng với việc sử dụng và phát huy, tác dụngcủa mọi thứ vũ khí mọi phơng tiện Theo Ngời: “Muốn thực hiện toàn dânkháng chiến, ngoài việc động viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải

động viên cả tinh thần lẫn kinh tế”7 Nên bất kỳ ở đâu, lúc nào Hồ Chí Minh

4 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H 2000, tr 23.

5 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 2000, tr 84.

6 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H 2000, tr 480

7 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 2000, tr 84.

Trang 5

cũng thờng xuyên coi trọng động viên tinh thần tự lực, tự cờng, lòng yêu nớc

và chí căm thù giặc của dân tộc, coi trọng tình đoàn kết, gắn bó giữa con ng ờivới con ngời, giữa các anh em, đồng chí, bè bạn Ngời luôn khích lệ và yêucầu mọi ngời phải đoàn kết, yêu thơng, giúp đỡ lẫn nhau, muôn ngời nh một,cả “dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn Song, chân lý

đó không bao giờ thay đổi”; nêu cao truyền thống “thơng ngời nh thể thơngthân”, “bầu ơi thơng lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhng chung một giàn”của dân tộc Việt Nam, có nh thế mới làm nên thắng lợi đợc Ngời viết:

“Đoàn kết ,đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”8

ở đây mặc dù Hồ Chí Minh không nói đến mối liên hệ phổ biến nhMác-Lênin đã từng đề cập, nhng trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của triếthọc Mác – Lênin, Ngời làm rõ các mối liên hệ thông qua phạm trù “đoànkết” Ngời cũng coi đoàn kết nh một mối liên hệ cơ bản, bản chất của mọicộng đồng ngời, mọi tổ chức ngời trong xã hội Trong chiến tranh nhân dân,Ngời coi đoàn kết toàn dân tộc là sức mạnh cực kỳ to lớn, là truyền thống vôcùng quý báu của nhân dân ta Ngời chỉ rõ: “Nếu chúng ta đoàn kết thành mộtkhối, thì chúng ta chắc chắn tranh đợc hoà bình và tự do, vì đoàn kết là sứcmạnh…đều đồng tâm hiệp sức tham gia vào cuộc kháng!”9; “Ta kháng chiến thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết”, vì “đoàn kết làsức mạnh vô địch”10 Do vậy, khi cả dân tộc ta bớc vào tranh đấu để thốngnhất Tổ quốc, Ngời khẳng định: “Thống nhất nớc nhà là con đờng sống củanhân dân ta Đoàn kết là một lực lợng tất thắng”11

Nh vậy, Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểmtriết học Mác-Lênin về mối liên hệ phổ biến, vai trò của quần chúng nhân dânvào xây dựng chiến lợc chiến tranh nhân dân, mà Ngời còn thổi vào truyềnthống đoàn kết của dân tộc một luồng sinh khí mới, làm tăng thêm vai trò vàsức mạnh to lớn của nhân dân trong đấu tranh cách mạng, để từ đó khẳng địnhlực lợng trong chiến tranh nhân dân là toàn dân là sức mạnh của đại đoàn kết

toàn dân tộc Trong Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá II Trờng

Đại học nhân dân Ngời nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân.

Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lợng đoàn kết của nhân dân”12

Trang 6

Chiến tranh nhân dân theo t tởng Hồ Chí Minh là hình thức chiến tranhmang tính chất chính nghĩa, cách mạng do giai cấp công nhân – giai cấp tiến

bộ lãnh đạo, mà trực tiếp là Đảng cộng sản Việt Nam; mục tiêu là vì độc lập

tự do của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, vì sự nghiệp giải phóngdân tộc khỏi ách thống trị của giai cấp Phong kiến, địa chủ thối nát và thựcdân, đế quốc; hình thức chiến tranh này đối lập với chiến tranh do chủ nghĩa

đế quốc tiến hành, nhằm xâm lợc, nô dịch các dân tộc trên thế giới Do vậy,trong quá trình tiến hành chiến lợc chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn nhận

đợc sự ủng hộ chân thành cả về vật chất và tinh thần của bạn bè, của các dântộc và lực lợng yêu chuộng hoà bình tiến bộ trên toàn thế giới Từ đó, cùng vớitinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc, nhất địnhkhông chịu làm nô lệ” của toàn dân tộc đã càng tạo ra những điều kiện thuậnlợi, những động lực to lớn cho cách mạng Việt Nam Ngời đã viết: “Nhờ quân

và dân ta kháng chiến anh dũng và đợc sự ủng hộ của nhân dân các nớc bạn,nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới nên chúng ta đãthắng lợi ở Hội nghị Giơ ne vơ”13 Đây là một trong những chiến công quantrọng góp phần to lớn làm nên chiến thắng lịch sử năm 1975, chấm dứt hoàntoàn chiến tranh ở Việt Nam, Bắc – Nam thống nhất một nhà, non sông thu

về một mối, cả nớc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trên cơ sở học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội nói chung,

về tính chất, đặc điểm của chiến tranh nói riêng, Hồ Chí Minh đã vận dụng vàphát triển sáng tạo xác định rõ tính chất, đặc điểm của chiến tranh nhân dân ởViệt Nam Theo Ngời, tuy chiến tranh nhân dân ở nớc ta là cuộc chiến tranhchính nghĩa, có sự ủng hộ của cả nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới, nhngxuất phát từ đặc điểm tình hình cụ thể của chúng ta, nên cuộc chiến tranh mànhân dân ta tiến hành phải là cuộc chiến tranh lâu dài, trờng kỳ, dựa vào sứcmình là chính Chúng ta cần phải huy động và phát huy tốt sức ngời, sức củacho chiến tranh; chế tạo, sáng tạo và sử dụng có hiệu quả các loại vũ khí,trang bị, phơng tiện để chiến tranh nhân dân giành thắng lợi cao nhất Chính

từ quan điểm này, nên ngay từ khi kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nớc đứnglên đánh đuổi Thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “…đều đồng tâm hiệp sức tham gia vào cuộc khángAi có súng dùngsúng Ai có gơm dùng gơm, không có gơm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Aicũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nớc”14 Thực tiễn lịch sử kháng

13 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H 2000, tr 338.

14 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H 2000, tr 480.

Trang 7

chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta đã minh chứng chonhững luận điểm trên của Hồ Chí Minh Ngay sau khi giành chính quyền vàomùa thu năm 1945, thực dân pháp đã có sự chuẩn bị mọi mặt cho việc quaytrở lại cớp nớc ta một lần nữa, với vũ khí, trang bị, phơng tiện hiện đại hơn, uylực mạnh hơn; trong khi đó, quân và dân ta mới chỉ mạnh về tinh thần, ý chí;còn vũ khí, trang bị, phơng tiện đang rất thô sơ và vô cùng thiếu thốn Do đó,theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt, quân và dân ta vừa rasức chống giặc, vừa tích cực chế tạo nhiều loại vũ khí, trang bị, phơng tiệnphục vụ cho chiến tranh, mặt khác vừa đánh giặc vừa xây dựng lực lợng, thếtrận và vừa sáng tạo ra những cách đánh linh hoạt, phù hợp với khả năng sinhlực, binh lực hiện có và hình thức chiến tranh nhân dân ở nớc ta Đánh địchtrong thế trận của chiến tranh nhân dân, trong điều kiện chúng đang mạnh hơn

ta gấp nhiều lần, chúng ta không thể dùng cách “đơng đầu” trực tiếp, mà phảidùng du kích”, đánh địch ở mọi quy mô: từng ngời đánh, từng đơn vị và từnglàng xã đánh, có đánh lớn, có đánh vừa và có đánh nhỏ với mọi thứ vũ khí,trang bị, phơng tiện trong tay, đặc biệt phải cớp vũ khí, trang bị, phơng tiệncủa địch để tiêu hao, tiêu diệt địch; phải đẩy mạnh truyền thống “giặc đến nhà

đàn bà cũng đánh”, “trăm họ là binh”, ‘cả nớc chung sức, toàn dân đánh giặc”,

“mỗi ngời dân là một chiến sỹ yêu nớc, mỗi làng xã là một pháo đài” Làmcho địch không xác định đợc đâu là lực lợng chủ lực, đâu là lực lợng du kích,lực lợng địa phơng hay ngời dân lao động, cả nớc tạo thành màng lới vây bắt

và tiêu diệt địch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “…đều đồng tâm hiệp sức tham gia vào cuộc khánglàng nào, huyện nào, tỉnh nàocũng có du kích, thì nó thành một tấm lới sắt, một thứ “thiên la, địa võng” mà

địch thì bị du kích tỉa dần tỉa mòn Bộ phận địch còn sống sót, thì ẩn khôngyên, ở không yên, nghe gió thổi chim kêu cũng hoảng sợ, rồi cũng bị du kích

15 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 338

16 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H 2000, tr 507

Trang 8

tiêu diệt nốt”17.Lực lợng tham gia trong chiến tranh nhân dân, theo Hồ ChíMinh là toàn thể quốc dân đồng bào, nhng không phải đơn thuần là việc tậphợp vào để “biểu dơng” lực lợng, để “ghi tên” mình vào trong danh sách thamgia kháng chiến, mà phải là mỗi ngời một việc, ngời thì trực tiếp cầm vũ khí

đánh giặc, ngời thì lo công tác bảo đảm mọi mặt (hậu cần, chính trị, quân sự,thông tin v.v) theo yêu cầu của cuộc kháng chiến Muốn làm đợc điều này,

đòi hỏi những ngời tổ chức phải biết cách tổ chức, có kế hoạch, bố trí, sắp xếp

đúng ngời đúng việc, ai có thế mạnh ở mặt nào thì phải đa họ vào đúng mặthoạt động ấy để họ phát huy sở trờng, sở đoản; cần nhìn ngời và xem việc màphân công cho hợp lý, phải “dùng ngời nh dùng gỗ” thì hiệu quả công việcmới cao Ngời nói: “Du kích tổ chức khéo, thì toàn dân gái trai già trẻ, sĩ côngnông thơng, ai cũng có thể tham gia Ngời thì lo đánh giặc, ngời thì lo tiếp tế,tình báo, liên lạc, tuyên truyền Mọi ngời đều có dịp phụng sự Tổ quốc”18.Chiến tranh nhân dân Việt Nam không chỉ là một cuộc chiến tranh mang tínhchất toàn dân mà còn thể hiện ở tính chất toàn diện biểu hiện ở nội dung, hìnhthức, phơng pháp nghệ thuật tiến hành chiến tranh đa dạng, phong phú biểuhiện ở cả lực lợng và sức mạnh của toàn dân Đánh địch là phải đánh trên tấtcả các mặt, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại giao v.v mặt này hỗ trợcho mặt khác giành thắng lợi Thực tiễn qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chống mỹ của dân tộc ta cho thấy, thực hiện t tởng của Ngời, chúng ta đãkết hợp đồng thời tiến công tốt các lĩnh vực và đã đạt kết quả cao, nh quân sự

và ngoại giao luôn đi đôi với nhau, chúng ta “vừa đánh, vừa đàm”, “đánh làchủ yếu, đàm là hỗ trợ”,buộc địch từ thế tiến công phải chuyển dần về thếphòng ngự, ta từ yếu chuyển thành mạnh; các hiệp định nh hiệp định Giơ-ne-vơ, hiệp định Pari…đều đồng tâm hiệp sức tham gia vào cuộc kháng đều lần lợt buộc địch phải ký kết, tạo điều kiện cho tatiếp tục tranh thủ thời gian chuẩn bị mọi mặt cho tiến công quân Pháp trên các

cứ điểm ở Điện Biên Phủ năm 1954, tổng tiến công và nổi dậy năm 1975 kếtthúc hoàn toàn chiến tranh ở Việt Nam Về mặt trận kinh tế, chúng ta vừa rasức tăng gia sản xuất, vừa thực hành tiết kiệm, xây dựng hậu phơng vữngmạnh chi viện cả sức ngời, sức của cho tiền phơng với phơng châm: “Thóckhông thiếu một cân, quân không thiếu một ngời”, “Tất cả cho tiền tuyến, tấtcả vì đánh thắng giặc Mỹ xâm lợc”, “Tiền tuyến gọi, hậu phơng trả lời” v.v

Đây cũng là một trong những biểu hiện về mối liên hệ phong phú muôn vẻ của

17 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 338.

18 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 338

Trang 9

chủ nghĩa Mác-Lênin trong t tởng về chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh.Ngời cũng xác định rất rõ những mối liên hệ nào là cơ bản, những mối liên hệnào là chủ yếu, quan trọng, là bên trong hay bên ngoài Vì thế, trong từng thời

điểm lịch sử, tuỳ từng tình hình cụ mà đặt mặt trận này cao hơn hay mặt trậnkhác cao hơn, cần giải quyết mối liên hệ này trớc hay mối liên hệ khác trớc

Do đó, trên mặt trận văn hoá t tởng Ngời nói: “Chiến tranh vè mặt văn hoá hay

t tởng so với những mặt khác cũng không kém quan trọng”19

Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh chủ yếu “lấy sức ta mà

tự giải phóng cho ta”, bởi theo Hồ Chí Minh, “Một dân tộc không tự lực cánhsinh mà cứ chờ dân tộc khác giúp đỡ thì dân tộc đó không xứng đợc độclập”20 Song, bên cạnh đó Ngời cũng không tuyệt đối hoá yếu tố nội lực, màngời còn tích cực đẩy mạnh hoạt động ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của cácdân tộc, bè bạn và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới Vì vậy, trong hai cuộckháng chiến thần thánh của dân tộc ta, chúng ta luôn nhận đợc sự ủng hộ đó ởmọi mặt trận, tạo điều kiện thuận lọi cho ta đánh thắng “hai đế quốc to”.Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh không cân sức giữa một bên có binhlực và sinh lực mạnh, thậm chí là những đội quân tinh nhuệ cùng các loại vũkhí, trang bị, phơng tiện hiện đại, với một bên chủ yếu là “ngời nông dân mặc

áo lính” cùng những thứ vũ khí, trang bị, phơng tiện hết sức thô sơ nh “cuốc,thuổng, gậy gộc”, vì vậy, không thể ngày một, ngày hai mà kết thúc chiếntranh Hơn nữa, nớc ta vốn là một nớc thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tếnông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, đã từng phải trải qua hàng nghìn năm Bắcthuộc; đã có những thời kỳ ngời dân Việt Nam phải chịu “một cổ hai chòng”,chịu hai tàng áp bức bóc lột Nhật-Pháp; chính quyền mới giành đợc còn quánon trẻ v.v Cho nên, tiến hành chiến tranh nhân dân phải là cuộc kháng chiếntrờng kỳ, dựa vào sức mình là chính; có nh thế mới chiến thắng đợc kẻ thùxâm lợc Nhằm giải thích rõ cho cuộc chiến này, Hồ Chí Minh nói: “Khángchiến phải trờng kỳ, vì đất ta hẹp, dân ta ít, nớc ta nghèo, ta phải chuẩn bị lâudài và phải có sự chuẩn bị về toàn diện của toàn dân”21 Ngời còn nói: “Địch

muốn tốc chiến, tốc thắng Ta lấy trờng kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất

định thua, ta nhất định thắng”22 Nh vậy, trờng kỳ kháng chiến là một trongnhững nghệ thuật, chiến thuật của hình thức chiến tranh nhân dân Nhng cũng

19 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 2000, tr 319

20 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 522

21 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H 2000, tr 164

22 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H 2000, tr 485

Trang 10

cần hiểu rằng, không phải trờng kỳ kháng chiến là kéo dài vô hạn về mặt thòigian, mà phải luôn nỗ lực, tích cực bồi dỡng về mọi mặt, vừa đánh địch, vừakhông ngừng củng cố, phát triển thế và lực có lợi cho cách mạng Trên cơ sở

đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kêu gọi, động viên tinh thần chiến đấu của toànquân, toàn dân ta, vừa khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm,

20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp

có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ Không có gì quíhơn độc lập tự do”23

1.2 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chớ Minh về chiến tranh nhõn dõn

Từ những vấn đề đã nêu ở trên, có thể khái quát t tởng Hồ Chí Minh vềchiến tranh nhân dân ở những nội dung cơ bản sau:

Một là, Đảng lónh đạo cỏch mạng, phỏt huy sức mạnh toàn dõn tộc đỏnh thắng kẻ thự xõm lược

Chủ tịch Hồ Chớ Minh đó sớm nhận thấy sức mạnh cứu nước phải làsức mạnh của toàn dõn, sức mạnh của cả dõn tộc Dưới sự chỉ đạo sỏng suốt

và tầm nhỡn xa, Đảng ta đó đưa ra ba quyết định cú ý nghĩa lịch sử Một là,quyết định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và kờu gọi cả nước đứng lờn tổngkhởi nghĩa, đưa Cỏch mạng Thỏng Tỏm đến thành cụng, lập ra nước ViệtNam dõn chủ cộng hoà Hai là, quyết định kờu gọi cả nước đứng lờn khỏngchiến chống Phỏp, đưa cuộc khỏng chiến trường kỳ chống đế quốc Phỏp đếnthắng lợi, giải phúng một nửa đất nước, đưa miền Bắc tiến lờn chủ nghĩa xóhội Ba là, quyết định kờu gọi cả nước đứng lờn khỏng chiến chống Mỹ, đưacuộc khỏng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phúngmiền Nam, thống nhất đất nước

Muốn đỏnh thắng những kẻ địch hung bạo, mạnh hơn ta gấp bội vềkinh tế, quõn sự, khoa học và cụng nghệ, Chủ tịch Hồ Chớ Minh và Đảng tachủ trương phải tiến hành chiến tranh toàn diện, trong đú mỗi người dõn ViệtNam, bất kỳ già trẻ, gỏi trai, bất kỳ giàu nghốo, lớn nhỏ đều phải trở thành

23 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H 2000, tr 108

Trang 11

chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quy luật tất yếu: bảo vệ đất nước luôn luôn gắn liềnvới xây dựng đất nước, động viên toàn dân kháng chiến luôn luôn đi đôi vớibồi bổ sức dân Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trường thực hiện khángchiến toàn diện bằng sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấutranh ngoại giao, lấy đấu tranh quân sự là chủ chốt, là trực tiếp quyết định

Hai là, gắn chặt tiến tuyến với hậu phương

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữatiền tuyến với hậu phương Trong khi nêu khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến,tất cả để chiến thắng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua

ái quốc Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và Bác Hồ đãphát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất, xây dựng vàcủng cố hậu phương, tạo nên khí thế mới và sức mạnh mới, góp phần quantrọng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vĩ đại trên mặt trận Điện Biên Phủ

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, miền Bắc xã hộichủ nghĩa đã trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, trởthành căn cứ địa cho cả nước, đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp giảiphóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm loxây dựng miền Bắc, coi miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoànthành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà Bác chỉ rõ, mọi việcchúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc vàomiền Nam Bác xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, hoàn thànhcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước

Quá trình lịch sử trên 30 năm kháng chiến chứng tỏ rằng, chiến tranhngày càng mở rộng, quy mô ngày càng lớn, mức độ ác liệt ngày càng tăng, thì

Trang 12

vai trò của hậu phương ngày càng to lớn Rõ ràng, hậu phương vững mạnh vềmọi mặt là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trong chiến tranh.

Ba là, nắm chắc ý đồ của địch, quán triệt quan điểm đánh lâu dài

Trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nói chung và chỉ đạo chiến tranh,Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc tình hình để phân tích cục diện trongnước và trên thế giới, đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trongtừng giai đoạn của cách mạng nói chung, trong từng giai đoạn chiến tranh nóiriêng, từ đó đề ra chiến lược, sách lược đúng đắn để chỉ đạo cuộc kháng chiếntrường kỳ, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi từng bước và ngày càng to lớn

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳngđịnh chiến lược đánh lâu dài nhằm làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắngnhanh của địch Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương trường kỳ kháng chiến,vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng, tích luỹ kinh nghiệm để đủ sức đánhbại quân địch Trong trường kỳ kháng chiến, Bác rất coi trọng giành cho đượcnhững thắng lợi liên tiếp, dù nhỏ, vừa góp gió thành bão đưa kháng chiến tiếnlên, vừa để nuôi dưỡng chí khí cách mạng, tinh thần kiên trì chiến đấu củađồng bào và chiến sĩ

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Đảng ta một lầnnữa lại đề ra chiến lược đánh lâu dài với lời kêu gọi của Bác: “Chiến tranh cóthể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng vàmột số thành phố khác có thể bị tàn phá Nhưng nhân dân Việt Nam quyếtkhông sợ Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Trong cuộc kháng chiếntrường kỳ, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, cả nước một lòng, quyết đánhlui kẻ địch từng bước, đánh đổ chúng từng bộ phận, tiến tới hoàn toàn đánhbại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ

Bốn là, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại

Trang 13

Ngay từ buổi đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ mốiquan hệ hữu cơ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vôsản cao cả, giữa tinh thần tự lực tự cường của dân tộc với việc tranh thủ sựđồng tình ủng hộ, sự giúp đỡ quốc tế Cách mạng Việt Nam là một bộ phậncủa cách mạng thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Phải luôn luôn nêucao tinh thần quốc tế vô sản, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị với các nước

xã hội chủ nghĩa anh em; hết lòng ủng hộ phong trào giải phóng của các dântộc; đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấutranh chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, đấu tranh cho hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”

Năm là, tinh thần cách mạng tiến công

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương, cách mạng là tiến công Khởi nghĩa

và kháng chiến là tiến công Tiến công vào mọi kẻ thù của dân tộc, tiêu diệtchúng để giành lại độc lập và tự do Tiến công vào chế độ cũ, dựng nên chế

độ mới, xoá bỏ mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.Muốn đưa cách mạng, đưa kháng chiến đến thắng lợi, phải tiến công liên tục,tiến công kiên quyết

Khi chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Bác đưa ra quyết tâm “Dù phải đốtcháy dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải giành lấy độc lập” “Hễ còn mộttên lính thực dân trên đất nước Việt Nam thì cứ đánh, đánh cho đến thắng lợihoàn toàn” Đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Bác ra lờikêu gọi: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tụcchiến đấu, quét sạch nó đi” Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch

Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trìnhđấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng

Tư tưởng chiến lược tiến công là định hướng cơ bản của hành động Vềquân sự, hình thức tác chiến chủ yếu là tiến công, nhưng trong điều kiện cụ

Trang 14

thể nhất định, có thể áp dụng hình thức tác chiến phòng ngự tạm thời đểchuẩn bị tiến công Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bất kỳ hoà bình hoặcchiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bịtrước” “Phải luôn luôn giành lấy chủ động”.

Nếu hành động tiến công là biện pháp chủ yếu để giành chủ động, thìquyền chủ động là sự thể hiện cao nhất của tư tưởng chiến lược tiến công, củaquyền làm chủ trên chiến trường và trong toàn bộ cuộc chiến tranh cáchmạng Tư tưởng chiến lược tiến công thể hiện tinh thần cách mạng triệt để củagiai cấp công nhân

Sáu là, xây dựng quân đội cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng quân đội cáchmạng Người đã trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức các đội tự vệ và dân quân vàsáng lập ra Quân đội nhân dân Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rấtsâu sắc rằng, muốn giải phóng dân tộc, phải dùng bạo lực cách mạng, sứcmạnh của quần chúng được tổ chức lại là cơ sở cho bạo lực cách mạng, lấylực lượng chính trị của quần chúng làm cơ sở, coi đó là nguồn sức mạnh vôtận Từ đó, quy luật của bạo lực cách mạng ở nước ta ngày càng phát huy tácdụng mạnh mẽ Bác chỉ rõ đường lối tổ chức của các lực lượng vũ trang cáchmạng là, trên cơ sở phát triển lực lượng vũ trang quần chúng mạnh mẽ vàrộng khắp, cần ra sức xây dựng quân đội nhân dân chính quy và hiện đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quân đội ta là quân đội nhân dân, từnhân dân mà ra, vì dân mà chiến đấu, cho nên đi đến đâu đều được dân tin,dân phục, dân yêu Người nói: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phậnthiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến

sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta” “Quân đội ta trung vớiĐảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc,

Trang 15

vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượtqua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyêntruyền giải phóng quân dựa trên những nguyên tắc cơ bản của một quân độicách mạng Chỉ thị của Bác nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộckháng chiến toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, chonên trong khi tập trung lực lượng để thành lập một đội quân đầu tiên cần phảiduy trì các lực lượng vũ trang địa phương”

Từ những ngày ấy, Bác đã phác hoạ một lực lượng vũ trang nhân dânđông đảo gồm có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các tổ chức, dân quân

tự vệ Trong suốt quá trình chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và tiến hành khángchiến chống Pháp, chống Mỹ, Bác hết sức coi trọng vai trò chiến lược của dânquân tự vệ, là lực lượng vô địch của toàn dân tộc Vô luận kẻ địch hung bạothế nào, hễ đụng vào lực lượng đó đều phải tan rã Bác đã sớm thấy rõ vai tròchiến lược của đội quân chủ lực Quân đội là công cụ của nhà nước vô sảnchuyên chính Bởi vậy, Bác Hồ luôn luôn coi trọng việc phát huy bản chấtcách mạng và tăng cường sức chiến đấu của quân đội, coi trọng vấn đề khôngngừng nâng cao chất lượng của quân đội

Trong lãnh đạo chiến tranh, theo yêu cầu của nhiệm vụ và khả năng củađất nước, Bác và Trung ương Đảng đã chủ trương không ngừng động viên sứcngười, sức của, phát triển số lượng của cả ba thứ quân; đưa bộ đội chủ lực từmấy trăm người, mấy nghìn người lúc đầu lên đến hàng vạn, hàng mấy chụcvạn người trong kháng chiến chống Pháp, hàng trăm vạn người trong khángchiến chống Mỹ Số lượng và chất lượng đều là những nhân tố tạo nên sứcmạnh chiến đấu Tuy nhiên, trong quá trình phát triển quân đội về số lượng,Bác Hồ và Đảng ta đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng về mọi mặt củaquân đội Quân đội càng phát triển về số lượng thì nâng cao chất lượng càng

Ngày đăng: 05/08/2016, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w