Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trí thức là một lực lượng cách mạng. Đội ngũ này đã có những đóng góp to lớn và ngày càng khẳng định vị trí xứng đáng của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 - Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ViệtNam , trí thức là một lực lượng cách mạng Đội ngũ này đã có những đóng góp to lớn vàngày càng khẳng định vị trí xứng đáng của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.Liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đã trở thànhnền tảng của xã hội Việt Nam trên con đường đi lên CNXH Trong công cuộc đổi mới, tríthức nói chung và đội ngũ trí thức giáo dục - đào tạo nói riêng, đã và đang, ngày càngđóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra rất nhanh chóng, có tác động mạnh
mẽ và toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Sự phát triển của cuộc cách mạng
Trang 2này đã tạo ra vận hội lớn cho tất cả các dân tộc vươn lên, đồng thời cũng đặt ra nhữngthách thức gay gắt cho mỗi nước trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế và xã hội Việc xâydựng đội ngũ trí thức GDĐH sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển khoa học và côngnghệ, tạo nguồn lực nội sinh nhằm thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo địnhhướng XHCN.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nhận thức được tầm quan trọng của khoa học vàcông nghệ, giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển bền vững của dân tộc Nghị quyếtĐại hội lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: "Khoa học và giáo dục đóng vai trò thenchốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đấtnước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới" Nghị quyếtĐại hội lần thứ VIII của Đảng cũng chỉ rõ: "Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu", "là khâu đột phá bước vào thời kỳ mới"
Những năm qua, trong quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển của đấtnước, đội ngũ trí thức GDĐH đã phát triển mạnh về số lượng, có chuyển biến tích cực vềchất lượng Song, trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực cho thời kỳđẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, tiếp cận với nền kinh tế mới - kinh tế tri thức, từngbước hội nhập với sự vận động chung của thế giới…, thì nền GDĐH Việt Nam nóichung và trí thức GDĐH nói riêng, còn nhiều vấn đề tồn tại cần được khắc phục để pháttriển: Cơ cấu trí thức GDĐH còn nhiều bất cập, năng lực và phẩm chất của trí thức nhàgiáo chưa bộc lộ hết và còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới GDĐH cũngnhư sự phát triển khoa học; chưa đáp ứng kịp thời đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhânlực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện CNH,HĐH đất nước theo định hướng XHCN
Trang 3Bởi vậy, đề tài "Nghiên cứu cơ cấu và chất lượng trí thức GDĐH ở nước ta hiện nay"
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết và lâu dài; góp phần phát triển GDĐH, thúc đẩy
sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam đã có nhiều bài viết, nhiều côngtrình nghiên cứu về trí thức và đội ngũ trí thức giáo dục - đào tạo Trong đó, đặc biệtquan trọng là những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo,các văn bản của Đảng, Nhà nước ta về đội ngũ này
Những năm gần đây, nhất là từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, vấn đề trí thức đượcquan tâm nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống qua một số chương trình khoa họccấp Nhà nước, luận án khoa học, và một số tài liệu khác Đáng lưu ý trong số đó là:
- Đề tài KX 04 - 06 do Giáo sư Phạm Tất Dong chủ nhiệm (được viết thành sách "Tríthức Việt Nam thực tiễn và triển vọng", NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995), nghiêncứu một cách tổng thể tầng lớp trí thức Việt Nam Trong đó đề cập gián tiếp đến vấn đề
và nhiệm vụ quan trọng của trí thức GDĐH trong việc đào tạo trí thức mới, bồi dưỡng vàphát triển nhân tài cho đất nước Đề tài đã chỉ rõ: " Nếu có chính sách đào tạo đúng đắnthì đội ngũ trí thức có nguồn bổ sung phong phú và do đó chất lượng đội ngũ trí thức sẽđảm bảo theo hướng đúng đắn" [6, 140] Đồng thời kết luận: " Đầu tư cho việc xây dựngđội ngũ trí thức phải là một hướng ưu tiên" [7, 161]… Bởi vậy, việc xây dựng chính sáchphát triển giáo dục - đào tạo khả thi, chính sách sử dụng và đãi ngộ đối với trí thức đúngđắn sẽ tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực con người - nhân tố quyết định sự pháttriển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay
Trang 4- Một số đề tài khoa học thuộc chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước mã sốKX.07 "Con người - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội" do Giáo sư, Tiến sĩKhoa học Phạm Minh Hạc chủ nhiệm Trong đó đáng lưu ý là các đề tài KX.07 - 08 doGiáo sư, Tiến sĩ Hoàng Đức Nhuận chủ nhiệm, nghiên cứu vai trò của gia đình và nhàtrường trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam ; đề tài KX.07 -
14 do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Đường chủ nhiệm, nghiên cứu việc bồi dưỡng vàđào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới; đề tài KX.07 - 18 do Giáo sư, Tiến sĩNguyễn Trọng Bảo chủ nhiệm, nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát hiện,tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài ở nước ta…
Nhìn chung, các đề tài này đã đề cập đến các mặt, những khía cạnh khác nhau của độingũ trí thức GDĐH, với tư cách là một bộ phận của trí thức Việt Nam - lực lượng giữvai trò quyết định chất lượng và hiệu quả GDĐH, góp phần quyết định chất lượng nguồnnhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đặc biệt đề tài KX.07 - 14 đã
đề cập đến chức năng kép của đội ngũ giảng viên đại học là vừa giảng dạy vừa nghiêncứu khoa học Đó là đối tượng thường xuyên phải bồi dưỡng và đào tạo nâng cao về trình
độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực xử lý tình huống trong hoạt động giảngdạy và nghiên cứu… đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH
- Gần đây (từ 1996 - đến nay), đã có nhiều đề tài khoa học - công nghệ cấp Nhà nướcnghiên cứu những bộ phận khác nhau của đội ngũ trí thức Việt Nam Trong đó cần phải
kể đến công trình khoa học độc lập cấp Nhà nước (Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuậtViệt Nam chủ trì) do Giáo sư Phạm Tất Dong chủ nhiệm, nghiên cứu thực trạng trí thứcViệt Nam trước năm 2000 Đề tài gồm những chuyên đề, trong đó đã đề cập một cáchkhái quát thực trạng đội ngũ trí thức làm giảng viên các trường đại học, cao đẳng hiện
Trang 5nay Đề tài đã chỉ ra một số nhược điểm như: kiến thức chưa cập nhật, chậm đổi mớiphương pháp giảng dạy… làm sao cho chất lượng đào tạo ở đại học và trên đại học cònhạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay cũngnhư trong tương lai gần… [7].
- Đề tài KX.03 - 09 trong đó có đề tài nhánh "Trí thức trẻ và sinh viên", do Phó giáo sưBùi Khắc Việt chủ nhiệm, đã đề cập đến trí thức trẻ trong các trường đại học, cao đẳng vàsinh viên với tư cách là nguồn bổ sung cho đội ngũ trí thức nói chung và trí thức nhà giáo
ở đại học nói riêng… Đề tài đã phân tích những mặt mạnh, tích cực, đồng thời cũng nêulên những hạn chế, bất cập, nhất là về chất lượng của lực lượng này so với yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội Chỉ ra một trong những nguyên nhân của sự bất cập đó là do chấtlượng giáo dục - đào tạo chưa cao
- Bên cạnh các đề tài nghiên cứu trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác về tríthức với các góc độ khác nhau, như công trình của tác giả Phan Viết Dũng về "Vị trí vàvai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam " (Luận án PhóTiến sĩ Triết học H 1988) Công trình của tác giả Phan Thanh Khôi về "Động lực của tríthức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay" (Luận án Phó Tiến sĩ Triết học H.1992), và một số luận án Tiến sĩ, Thạc sĩ khác liên quan đến trí thức nói chung và trí thứcgiáo dục - đào tạo nói riêng Những công trình trên đã luận giải tương đối hệ thống nhữngvấn đề lý luận về vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức, cũng như những động lực chủ yếu đểngười trí thức phát huy năng lực trí tuệ của mình trong hoạt động khoa học
- Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu độc lập của các nhà khoa học đã đượccông bố trên sách, báo, tạp chí v.v… Như cuốn: "Một số vấn đề về trí thức Việt Nam"(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998) của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn đã đề cập
Trang 6phẩm chất trí tuệ của người trí thức Đồng thời tác giả nhấn mạnh: "… phải coi giáo dục
và khoa học ở trung tâm những vấn đề kinh tế - xã hội" [92, 193] Cuốn "Tiếng chuôngcảnh tỉnh cho thế kỷ XXI" của tác giả Daisaku Ikeda… (NXB Chính trị Quốc gia, HàNội, 1993) đã đề cập đến tiềm năng của con người, nguồn lực trí tuệ - một nguồn lực cơbản của nền kinh tế tri thức trong thể kỷ XXI Cuốn "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡngcửa thế kỷ XXI" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999) của Giáo sư, Tiến sĩ PhạmMinh Hạc, đã làm rõ một số nét về tình hình đội ngũ nhà giáo hiện nay trước những thửthách của thế kỷ XXI…
Như vậy, dưới các góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau, những tài liệu trên đã giảiquyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trí thức Tuy nhiên, các tài liệu đó vẫnchưa đề cập và nghiên cứu sâu về đội ngũ trí thức GDĐH, với tư cách là một bộ phận củatrí thức Việt Nam, có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo trí thức mới, chuẩn bịnguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển đất nước hiện tại và tương lai Bởi thế,nghiên cứu "Cơ cấu và chất lượng trí thức GDĐH ở nước ta hiện nay" là rất cấp thiết
3 - Mục đích và nhiệm vụ của luận án.
a) Mục đích của luận án
Làm rõ những nét cơ bản về thực trạng cơ cấu và chất lượng đội ngũ trí thức GDĐH, từ
đó đề xuất một số giải pháp lớn nhằm xây dựng đội ngũ này có cơ cấu hợp lý và chấtlượng cao, để góp phần xây dựng một nền GDĐH Việt Nam hiện đại, đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay, cũng như công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta nóichung
b) Nhiệm vụ của luận án
Trang 7Để đạt mục đích trên, luận án đề ra và tập trung giải quyết những vấn đề chủ yếu sau:
- Làm rõ tính đặc thù của đội ngũ trí thức GDĐH trong tầng lớp trí thức Việt Nam
- Phân tích thực trạng cơ cấu đội ngũ trí thức GDĐH hiện nay theo phương thức hoạtđộng chủ yếu, theo nhóm ngành khoa học lớn, theo sự phân bố vùng lãnh thổ và các dạngtrường, theo chủ thể quản lý, theo độ tuổi, trong đó, về chất lượng chú ý đến trình độ,năng lực, phẩm chất của đội ngũ này…
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ trí thức GDĐH có cơ cấuhợp lý và chất lượng cao: Vấn đề tuyển chọn bổ sung lực lượng tri thức trẻ, có năng lựccho GDĐH; vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng;những chính sách nhằm tạo môi trường và động lực để phát triển tiềm năng trí tuệ của độingũ trí thức GDĐH, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước…
4 - Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Luận án thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, các quan điểm và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về chiến lược pháttriển con người Việt Nam, về đội ngũ trí thức và về giáo dục - đào tạo…
Luận án kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của tập thể và của các nhà khoahọc về những vấn đề liên quan
- Cơ sở thực tiễn của luận án là tình hình đội ngũ trí thức nói chung và trí thức GDĐHnói riêng; tình hình giáo dục - đào tạo nói chung và GDĐH nói riêng, nhất là từ khi tiếnhành công cuộc đổi mới hiện nay
Phương pháp nghiên cứu của luận án là trên cơ sở phương pháp luận Triết học Mác Lênin, luôn chú ý đến tính chính trị - xã hội của vấn đề nghiên cứu Kết hợp phương pháp
Trang 8-lô gic và lịch sử để luận giải những vấn đề đặt ra trong luận án Sử dụng phương phápthống kê, so sánh và phân tích tập hợp những tài liệu có được nhằm làm rõ thực trạng độingũ trí thức hiện nay Sử dụng phương pháp diễn giải, quy hợp để trình bày học nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn mà luận án nêu ra.
5 - Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Từ góc độ chính trị - xã hội xác định vị trí và vai trò của đội ngũ trí thức GDĐH đốivới sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng XHCN, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH ở nước ta
- Dựa vào lý luận triết học - chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học, nghiên cứumột cách có hệ thống về cơ cấu và chất lượng đội ngũ trí thức GDĐH
- Đề xuất một số vấn đề nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức GDĐH, góp phầnxây dựng lực lượng lao động trí tuệ cao, đội ngũ trí thức Việt Nam và tiềm lực khoa học -công nghệ quốc gia, xây dựng nền GDĐH Việt Nam hiện đại phục vụ sự nghiệp đổi mớiđất nước
6 - Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án giúp cho những người trí thức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạonhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò và trách nhiệm lớn lao của mình đối với công cuộcđổi mới đất nước, đối với sự hưng thịnh của dân tộc; từ đó có ý thức hơn trong hoạt độngtrí tuệ sáng tạo vì sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
- Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu được sử dụng làm cơ sở khoa học cho việchoạch định chiến lược xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức GDĐH, nhằm khai thác có
Trang 9hiệu quả hơn tiềm năng trí tuệ của đội ngũ này trong sự nghiệp phát triển giáo dục - đàotạo và khoa học - công nghệ nước nhà…
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy các chuyên đề CNXH khoa họcliên quan
7 - Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phụ lục, luận án gồm 3chương, 6 tíêt
Chương 1 TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC - BỘ PHẬN ĐẶC THÙ CỦA TRÍ THỨC
VIỆT NAM
1.1 QUAN NIỆM VỀ TRÍ THỨC GDĐH
1.1.1 Một số khái niệm
Trí thức là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới "Trí thức" có
nguồn gốc từ tiếng La tinh: Intelligentia (Intelligens là thông minh, có trí tuệ, có nhậnthức, hiểu biết có suy nghĩ) dùng để chỉ những người có học thức cao, học vấn sâu rộng.Trong từng giai đoạn phát triển lịch sử của mỗi quốc gia, theo những quan điểm vàcách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về trí thức Đến nay, đãthống kê được hơn 60 định nghĩa về trí thức [6, 13] Ví dụ, theo từ điển Triết học: "Tríthức là tập đoàn xã hội, gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm
kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoahọc, một bộ phận lớn viên chức" [98] Trong từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học xácđịnh: "Trí thức, một nhóm xã hội, bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc
Trang 10phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó" [97] Còn từ điểnChính trị nêu ra: "Trí thức là một tầng lớp người trong xã hội chuyên lao động trí óc phứctạp, có tính chất sáng tạo" [100]…
Nhìn chung, những định nghĩa trên đã đề cập một số dấu hiệu để nhận biết trí thức,
trong đó nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản sau: là một tầng lớp xã hội; có trình độ
học vấn, trình độ chuyên môn cao; với kiểu lao động trí óc phức tạp là chủ yếu; có chức năng sáng tạo, truyền bá và áp dụng tri thức khoa học vào việc đẩy nhanh sự phát
triển mọi mặt của đời sống xã hội
Mỗi thời đại đều có yêu cầu riêng của mình về các chuẩn mực đối với trí thức Chuẩnmực này phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học và mặt bằng dân trí mà quốc gia đó đạttới Trước kia, các nhà Nho hoặc các người đậu tú tài (tương đương tốt nghiệp phổ thôngtrung học ngày nay) đã được xem như những người có sự hiểu biết nhiều, là người tríthức Với trình độ văn hoá và mức độ có được, họ đã truyền lại cho các thế hệ sau khôngchỉ "cái chữ" mà cả "cái lễ, cái nghĩa"; không chỉ truyền đạt trí thức mà quan trọng hơn làtruyền lại những giá trị tư tưởng của cuộc sống con người cho thế hệ nối tiếp Chức nănglưu truyền văn hoá đó thường được xã hội trao trọng trách cho trí thức - nhà giáo
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, trình độ học vấn, trình độnhận thức của con người cũng được nâng lên, nên chỉ những người đã qua đào tạo hoặc
tự học, đạt trình độ đại học hoặc tương đương, mới có thể tiếp cận được kiểu lao động
của người trí thức
Việc nhận biết người trí thức phải thông qua sự đánh giá tính sáng tạo của họ, trongquá trình lao động trí óc phức tạp, ở giá trị của những sản phẩm khoa học, bao gồm cáccông trình, tác phẩm, đề án, bài giảng… Vì vậy, trong thực tế, người có bằng cấp cao
Trang 11(thậm trí nhiều bằng cấp) nhưng chưa hẳn đã là trí thức theo đúng nghĩa của phạm trùnày, nếu trong hoạt động nghề nghiệp của họ không có yếu tố trí tuệ sáng tạo, mà chỉ làngười thực hiện dạng lao động trí óc khác (lao động trí óc giản đơn, thừa hành…).
Tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã làm cho cơ cấu xã hội
- giai cấp có sự biến đổi sâu sắc Giai cấp công nhân và nông dân đang từng bước được
"trí thức hoá", nhất là thế hệ công nhân và nông dân trẻ được học hành và hiểu biết tănglên Đồng thời, một số lượng không ít những người có học vấn cao đang trực tiếp thamgia lao động sản xuất vật chất, đó là những kỹ thuật viên cao cấp, những "công nhân áotrắng" Phương thức lao động của họ gắn liền với dây chuyền công nghệ hiện đại, hoặctrong những khâu đòi hỏi trình độ hiểu biết cao Từ đó, trong xã hội đã và đang xuất hiệnnhững khái niệm mới để chỉ những cá nhân cũng như bộ phận xã hội "giáp ranh" như tríthức - công nhân, công nhân - trí thức, trí thức - viên chức…
Trí thức là một bộ phận (vừa là chủ thể vừa là khách thể) của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại Cuộc cách mạng này đang ngày càng có ý nghĩa lớn lao, tác độngđến mọi mặt của đời sống xã hội ở tất cả các nước Cho nên, đội ngũ trí thức trong cơ cấu
xã hội sẽ có nhiều biến đổi, số lượng được tăng lên nhanh chóng, chất lượng và vai tròcủa nó ngày càng được nâng cao
Thắng lợi của cách mạng XHCN với sự ra đời của chế độ mới sẽ tạo điều kiện thuậnlợi, và động lực mới để trí thức phát huy tài năng, trí tuệ của mình trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "cách mạng rất cần trí thức
và chỉ có cách mạng mới biết tôn trọng trí thức" [52, 53]
Thực tiễn đã và đang chứng tỏ lao động trí óc nói chung, lao động trí tuệ phức tạp nóiriêng vẫn là bộ phận giữ vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Trí thức
Trang 12còn phát triển lâu dài trong tương lai Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trí thứckhông bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi" [51, 36].
Từ những cách tiếp cận khác nhau về trí thức, tổng hợp lại, theo quan niệm của đề tài
này, Luận án cho rằng: Trí thức là một tầng lớp xã hội, gồm những người có trình độ
học vấn, trình độ chuyên môn cao, bằng lao động trí tuệ sáng tạo của mình để phát kiến, truyền bá và ứng dụng những tri thức khoa học mới, tiến bộ và hữu ích vào đời sống xã hội Đây là lực lượng xã hội đang trở thành nguồn nhân lực quan trọng cho
sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như phát triển chung của nhân loại.
Tầng lớp trí thức luôn biến đổi cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ và trithức nhân loại Do đó, nội dung khái niệm "trí thức" chắc chắn sẽ được tiếp tục nghiêncứu, bổ sung cho phù hợp với trình độ phát triển của xã hội, cũng như chính bản thân củangười trí thức trong thời đại mới
Trí thức Việt Nam trong lịch sử có truyền thống hiếu học, có lòng yêu nước và gắn bó
với nhân dân, với vận mệnh của dân tộc Nhiều người tên tuổi đã được ghi vào sử sách,trở thành những tấm gương sáng chói vì dân, vì nước như: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử, Ngô Thì Nhậm, Phan Bội Châu,Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền…
Đội ngũ trí thức mới nước ta ra đời và phát triển gắn liền với các quá trình cách mạng
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Hiện nay trí thức ở nước ta có khoảng 1.000.000 người tốt nghiệp đại học và cao đẳng,với 10.000 Thạc sĩ, 11.718 Tiến sĩ (cả Tiến sĩ khoa học - Nguyễn Văn Sơn), 800 Giáo sư,
3000 Phó giáo sư [23] Lực lượng này được đào tạo từ nhiều nguồn và phần lớn vào thời
Trang 13điểm khó khăn của đất nước, trong sự cố gắng lớn của công tác giáo dục nói chung vàGDĐH nói riêng.
Trí thức nước ta có khả năng sáng tạo và tiềm năng trí tuệ, đã vượt lên nhiều khó khăntrong lao động khoa học và thực tế cuộc sống, đạt được nhiều thành tựu trong hoạt độngnghề nghiệp, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước những nămqua Đảng, Nhà nước và nhân dân đã ghi nhận sự đóng góp to lớn này của trí thức
Vừa qua những trí thức tiêu biểu với 77 cụm công trình, tác phẩm khoa học xuất sắc đãđược phong tặng giải thưởng cao quý: Hồ Chí Minh Trong đó, ở lĩnh vực khoa học nàochúng ta cũng bắt gặp những trí thức đã từ lâu được ngưỡng mộ, không chỉ ở trong nước
mà cả ngoài nước, như: Giáo sư Trần Đại Nghĩa, Giáo sư Tạ Quang Bửu, Giáo sưNguyễn Xiển, Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu… ( KHKT và kỹ thuật); Viện sĩ Nguyễn KhánhToàn, Viện sĩ Trần Huy Liệu, Giáo sư Đặng Thái Mai, Giáo sư Trần Văn Giàu…(KHXH); Giáo sư Hồ Đắc Di, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Giáo sư Tôn Thất Tùng…(Khoa học Y - Dược); các nhà văn: Nam Cao, Huy Cận, Xuân Diệu, Tố Hữu…, các hoạsĩ: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái…, các nhà nghiên cứu văn học: Vũ NgọcPhan, Nguyễn Đổng Chi, Cao Huy Đỉnh…, các nhạc sĩ: Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, VănCao… (Văn học - Nghệ thuật) v.v…
Trí thức nước ta đã tiếp nối được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của trí thức tronglịch sử Trước những biến động phức tạp trên thế giới và những khó khăn trong nước,người trí thức Việt Nam vẫn một lòng đi theo Đảng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới đấtnước Trong những năm đổi mới vừa qua, trí thức đã có những đóng góp đáng kể gópphần đem lại những thắng lợi quan trọng cho đất nước Trí thức đã tham gia tạo lập luận
cứ khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
Trang 14và Nhà nước nhằm thực hiện thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN;tích cực nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào mặt đờisống xã hội; góp phần quan trọng vào xây dựng con người mới Việt Nam , nền văn hoáViệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc…
Sự nghiệp đổi mới càng phát triển, lao động khoa học sáng tạo của trí thức càng đượckhởi sắc và đội ngũ được trưởng thành thêm Từ đấy, đời sống tinh thần và vật chất củatrí thức nói chung được nâng lên rõ rệt, nhiều tổ chức khoa học được chấn chỉnh và sắpxếp lại, môi trường làm việc được nâng cấp và hiện đại hoá một bước
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, vai trò của trí thức nước ta ngàycàng tăng và đội ngũ này đang có sự biến đổi mạnh mẽ về số lượng cũng như cơ cấu nóichung
Tuy vậy, hiện nay đội ngũ trí thức mới ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập cần khắc phục
Về số lượng, so với các nước trong khu vực, và nhất là so với yêu cầu đòi hỏi của thựctiễn phát triển đất nước, thì trí thức nước ta ngày còn ít, cần đào tạo nhiều hơn nữa
Về chất lượng, nhìn tổng thể đội ngũ trí thức nước ta chưa mạnh Trong khi đó công tácquản lý chưa tạo đủ điều kiện để phát huy hết khả năng hiện có của trí thức Tình trạnglãng phí chất xám, chảy chất xám còn khá nhiều
Đặc biệt, cơ cấu đội ngũ trí thức nước ta còn nhiều bất hợp lý, nhất là cơ cấu ngànhkhoa học, vùng lãnh thổ, độ tuổi…
Hiện nay, việc tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (Khoá V) về đổimới quản lý hoạt động văn hoá nghệ thuật, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (Khoá VI) vềkhoa học và công nghệ trong thời kỳ đổi mới, Nghị quyết 02 của Ban chấp hành trung
Trang 15ương (Khoá VIII) về phát triển giáo dục - đào tạo và về khoa học và công nghệ… sẽ tácđộng trực tiếp và tích cực hơn nữa đến việc xây dựng đội ngũ và phát huy vai trò của tríthức nước ta.
Trí thức giáo dục - đào tạo là một lực lượng xã hội, một nhóm xã hội nghề nghiệp đặc
thù, một đội ngũ chuyên nghiệp của trí thức Việt Nam
Khái niệm giáo dục - đào tạo được hiểu từ tổng hợp nghĩa của hai từ giáo dục và đào
tạo.
Giáo dục theo nghĩa rộng "là tất cả các hoạt động hướng vào sự phát triển và rèn luyện
năng lực (bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…) và phẩm chất (bao gồm niềm tin, tư cách,đạo đức…) ở con người có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tíchcực đối với xã hội mà mình sống" [25, 13] Còn theo nghĩa hẹp, giáo dục dùng để chỉ cáchoạt động hướng vào việc hình thành và rèn luyện phẩm chất con người - quan niệm nàymuốn nhấn mạnh đến khía cạnh giáo dục niềm tin, giáo dục đạo đức, truyền thống…
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt các kiến thức, kỹ
năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công mộthoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết [25, 14] Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệthống những kiến thức, kỹ năng để mỗi người có thể thực hiện tốt nghề nghiệp hay nhiệm
vụ của mình
Có nhiều lực lượng, bộ phận tham gia hoạt động trong ngành Giáo dục - Đào tạo, trong
đó có đội ngũ trí thức của ngành Trí thức làm công tác giáo dục - đào tạo là một bộ
phận của trí thức Việt Nam Đó là những người trí thức hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; có chức năng chủ yếu là trực tiếp truyền bá tri thức văn hoá,
Trang 16rèn luyện nhân cách cho người học nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Giáo dục - đào tạo Việt Nam, hay gọi tắt là giáo dục Việt Nam là một hệ thống giáodục quốc dân, bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, GDĐH
GDĐH nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao, có phẩm chất chính trị,
đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệptương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổquốc
Trí thức GDĐH là trí thức làm công tác giáo dục - đào tạo nhưng trực tiếp thực thi
nhiệm cụ ở bậc GDĐH
Do vậy, để hiểu rõ hơn về trí thức GDĐH cần lưu ý thêm đến một số vấn đề thuộcGDĐH
GDĐH có hai cấp học là đại học và sau đại học Cấp đại học đào tạo trình độ đại học
và cao đẳng Người học ở cấp này được gọi là sinh viên Đào tạo trình độ cao đẳng nhằm
trang bị cho sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về mộtngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngànhđược đào tạo Đào tạo trình độ đại học nhằm trang bị cho sinh viên nắm vững kiến thứcchuyên môn và kỹ năng thực hành một nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn
đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo
Cấp sau đại học đào tạo trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ Người học được đào tạo Thạc sĩ gọi là học viên, được đào tạo Tiến sĩ gọi là nghiên cứu sinh Đào tạo trình độ Thạc sĩ
nhằm trang bị cho học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả
Trang 17năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên nghành được đào tạo Đào tạotrình độ Tiến sĩ nhằm trang bị cho nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thựchành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, giải quyết những vấn đề khoa học - côngnghệ và hướng dẫn hoạt động chuyên môn.
GDĐH chủ yếu được thực hiện ở các trường đại học và cao đẳng, ngoài ra còn có thểthực hiện ở một số cơ sở khác nữa
Người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong hệ thống giáo dục nói chung được gọi lànhà giáo Những nhà giáo ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục
nghề nghiệp gọi chung là giáo viên, riêng ở GDĐH được gọi là giảng viên.
Từ những vấn đề nêu trên về GDĐH, có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý sau:
- Cũng như giáo dục - đào tạo nói chung, hoạt động trong GDĐH gồm nhiều lực lượngkhác nhau, nhưng trong đó đặc biệt cần đến bộ phận có học vấn cao là trí thức và tươngđương
- Trí thức nói chung, như đã nói, ngày nay, tiêu chí bằng cấp, ít nhất có trình độ cửnhân, thì ở đội ngũ trí thức GDĐH tiêu chí này cần nhưng chưa đủ Do đặc điểm GDĐH,trí thức GDĐH thường phải có trình độ sau đại học
- Trí thức GDĐH đại đa số là nhà giáo - giảng viên (tất nhiên tuỳ theo vị trí công tác
mà việc giảng dạy với mức độ ít hay nhiều ở từng giảng viên) Do vậy, nhiều khi có thểcoi các từ sau như đồng nghĩa trí thức GDĐH, giảng viên nhà giáo trong GDĐH …
- Sau nữa, có thể tóm lại rằng, cũng như trí thức làm công tác giáo dục - đào tạo, trí
thức GDĐH là một bộ phận, đặc thù của trí thức Việt Nam Đó là những cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý tham gia trực tiếp vào quá trình GDĐH nhằm
Trang 18đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước.
Tính đặc thù của trí thức GDĐH được thể hiện thông qua việc trình bày sau đây về quátrình hình thành và phát triển, đặc điểm và vai trò của đội ngũ này
1.1.2 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam
Đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam được hình thành và phát triển khá sớm trong lịch sử
dân tộc Nếu coi Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, thìcũng có thể coi đội ngũ này được hình thành từ khi đó Do phạm vi nghiên cứu của đề tài,luận án chỉ đề cập một cách khái quát đến quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ
trí thức GDĐH từ khi thành lập nước Việt Nam độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng tám (1945) với sự ra đời của Nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà Nhà nước của những người lao động, đã làm thay đổi căn bản bản
chất xã hội ta Nền giáo dục của một nước Việt Nam độc lập cũng ra đời, trong đó cóGDĐH Các trường đại học và cao đẳng từ thời Pháp thuộc (như trường Đại học Y-Dược, Cao đẳng Khoa học, Cao đẳng Mỹ thuật, Cao đẳng Thú y…) được tiếp tục mở cửatrên cơ sở cải tổ lại, đồng thời mở thêm một số trường mới (Đại học Văn Khoa…) Bước
đầu chúng ta đã tập hợp được một đội ngũ giảng viên đại học là nguời Việt Nam Phần
lớn trong số đó là những trí thức yêu nước, có nhiệt tình và uy tín khoa học như: TạQuang Bửu, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Nguỵ Như Kon Tum… Đó là những trí thức đã
có công góp phần đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nền đại học Việt Nam Chuẩn
bị cho sự nghiệp "kiến quốc" của dân tộc sau này
Trang 19Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự hình thành và phát triển của một
nền giáo dục Việt Nam độc lập, là chủ trương thực hiện giảng daỵ bằng tiếng Việt ở tất
cả các cấp học, trong đó có bậc đại học Ngôn ngữ của một dân tộc (tiếng nói và chữ viết)
là công cụ để giao tiếp, truyền đạt thông tin, trao đổi tình cảm, tư tưởng, nguyện vọng và
để giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, trình độ giác ngộ cho mọi người Dân tộc có ngônngữ riêng sẽ đem lại thuận lợi lớn cho sự phát triển Nhận thức được tầm quan trọngtrong giáo dục, ý nghĩa độc lập trong ngôn ngữ, nên ngay từ rất sớm (1932) trong chươngtrình hành động, Đảng Cộng sản Đông Dương đã khẳng định: "Hết thảy con cái các nhàlao động phải được học tập cho đến 16 tuổi bằng tiếng mẹ đẻ…" [42, 106]
Sau Cách mạng Tháng Tám, việc giảng dạy đại học bằng tiếng Việt được thực hiện,song gặp rất nhiều khó khăn về các thuật ngữ khoa học Việc biên soạn các cuốn từ điển,giáo trình giảng dạy bằng tiếng Việt là yêu cầu bức thiết đối với giáo dục nói chung vàGDĐH nói riêng Trách nhiệm lớn lao đó đã được nhiều trí thức, các nhà khoa học, nhàgiáo khắc phục mọi khó khăn để xây dựng và hoàn thành Vì vậy, việc giảng dạy bằngtiếng Việt được chính thức thực hiện từ năm 1950 trở đi [57, 191] Thành tựu trên được
cố Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đánh giá: "Đây làmột thành tựu bước đầu phá tan mọi hoài nghi của những người quen giảng dạy, học tậpbằng tiếng Pháp" [96, 15] Đồng thời, đó cũng là sự khẳng định bước đầu về quá trìnhtrưởng thành của trí thức GDĐH Việt Nam
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các trường đại học và cao đẳng được củng cố
và tổ chức lại cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu của cuộc kháng chiến Sự thích
nghi, tính năng động thể hiện rất rõ trong phương thức đào tạo Ví dụ, Đại học Y - Dược
đã thực hiện phương thức đào tạo phục vụ kháng chiến, được Giáo sư Bác sĩ Hồ Đắc Di
Trang 20tổng kết: Học - đi chiến dịch - về tổng kết - lại đi chiến dịch Đó là sự chứng minh sinhđộng, có sức thuyết phục lớn về tính đúng đắn của phương châm giáo dục: lý thuyết gắnvới thực tiễn, học đi đôi với hành…
Sau Đại hội Giáo dục toàn quốc tháng 7 năm 1951, GDĐH đã có những thay đổi rất
quan trọng Ba trung tâm đào tạo đại học lớn được hình thành: một trung tâm ở Việt Bắc
với trường Đại học Y và Ban quân dược; một trung tâm ở khu IV cũ (Thanh Hoá) có cáctrường Dự bị đại học và Sư phạm cao cấp; một trung tâm được đặt ở Nam Ninh - TrungQuốc gọi là Khu học xá trung ương với các trường Khoa học cơ bản và Sư phạm cao cấp,
"Đó là những trường đại học và cao đẳng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà,dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt" [28, 192] Ba trung tâm này đã tập hợp được một bộ phậnquan trọng những trí thức yêu nước - vốn quý ban đầu, để sản sinh ra lớp cán bộ có trình
độ đại học đầu tiên do chính người Việt Nam đào tạo Nhiều thầy giáo, những cán bộquản lý đại học thuở ban đầu này, đến nay vẫn được lưu danh trong lịch sử phát triển đạihọc Việt Nam như: Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Nguỵ Như Kon Tum, Nguyễn Xiển,Nguyễn Thạc Cát, Nguyễn Cảnh Toàn…
Nhận thức vai trò của đội ngũ trí thức nói chung và trí thức GDĐH Việt Nam nói riêngtrong sự nghiệp "kiến quốc", ngay từ năm 1951, ở thời điểm quyết định của cuộc kháng
chiến, Đảng và Nhà nước đã gửi một đoàn gồm 21 lưu học sinh đầu tiên sang Liên Xô
học tập Từ đó trở đi, nhiều đoàn học sinh được tiếp tục cử đi các nước Liên Xô, Cộnghoà dân chủ Đức, Trung Quốc, Bun ga ri… học tập, nghiên cứu Đó là những nhân tố đểsau này về nước xây dựng đội ngũ trí thức nói chung và trí thức GDĐH nói riêng
Từ năm 1954, ở miền Bắc nền giáo dục Việt Nam thực sự được phát triển có hàng
trăm ngành học với đội ngũ giảng viên khoảng 8.400 người trong đó 8,9% có trình độ
Trang 21Phó Tiến sĩ, Tiến sĩ (cũ) Lực lượng này phần lớn đã được trưởng thành qua khói lửa đấutranh cách mạng của dân tộc để bảo vệ và xây dựng đất nước Một số trong họ có trình độchuyên môn cao, nhất là những người được đào tạo cơ bản ở nước ngoài (chủ yếu ở Liên
Xô và Đông Âu trước đây) Ở miền Nam, đến năm học 1974 - 1945 có 4 viện đại học
công lập, 4 viện đại học cộng đồng công lập đào tạo 2 năm, 11 viện đại học tư [28, 193],với khoảng 1300 "giáo chức" (khi giải phóng còn ở lại) [57, 335]
Đồng thời với sự phát triển về số lượng, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
cũng được chú ý Thông qua hợp tác quốc tế về đào tạo đại học và sau đại học (cử cán bộ
đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài; mời các chuyên gia giỏi sang giúp đỡ trong công tácđào tạo và nghiên cứu khoa học); cùng với sự nỗ lực của từng cá nhân cũng như tập thểnhà giáo trong học tập, nghiên cứu, mà trình độ của đội ngũ giảng viên được nâng lênnhiều Hàng trăm giáo trình giảng dạy, tài liệu nghiên cứu về KHTN và KHKT là đượcdịch của các nước XHCN (chủ yếu là của Liên Xô trước đây) Các giáo trình về KHXHnhư văn, sử, địa về Việt Nam đều do đội ngũ thầy giáo giàu kinh nghiệm biên soạn (như
bộ sách Văn của trường đại học Sư phạm Hà Nội, trường đại học Tổng hợp Hà Nội; bộgiáo trình "Lịch sử Việt Nam " của trường đại học Tổng hợp Hà Nội…) Vấn đề có ý
nghĩa lớn là công tác nghiên cứu khoa học trong các trường đại học đã bắt đầu trở thành
phong trào của cả thầy và trò Đó chính là nội lực quan trọng để nâng cao năng lực giảngdạy, nghiên cứu của nhà giáo - nhà khoa học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và của khoa học, nhiều trường đại học mới được
hình thành, trên cơ sở phát triển các khoa, ngành chuyên môn, xây dựng các ngành,chuyên ngành khoa học mới Thông qua đó đội ngũ trí thức GDĐH cũng được phát triển
nhanh chóng (xem phụ lục: Bảng số 1).
Trang 22Những năm 1965 - 1975 là thời kỳ sôi động của GDĐH Trong chiến tranh, vì sự đánh
phá ác liệt của đế quốc Mỹ, nhiều trường đã phải đi sơ tán với những trang thiết bị dạy,học và nghiên cứu gọn nhẹ Đội ngũ giáo viên biến động mạnh Nhiều giáo viên, sinhviên đã tạm thời gác bút nghiên lên đường ra trận, nhất là trong những thời điểm quyếtđịnh của cuộc chiến tranh Trong bối cảnh đó đã hình thành nên một bộ phận giáo viên -chiến sĩ, góp phần tích cực vào thắng lợi của cuộc kháng chiến
Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học, cao đẳng vẫn luônđược phát triển, đạt hiệu quả cao; đã đào tạo đựơc đội ngũ cán bộ khoa học công nghệkhoảng 261.000 người, trong đó có hơn 81.000 người có trình độ đại học và 1.358 người
có trình độ trên đại học [66] Đó là lực lượng "giàu lòng yêu nước, yêu CNXH, có tinhthần hăng hái, làm việc tận tuỵ, bước đầu có những cống hiến tốt" [66]
Thực tiễn trên cho phép rút ra một kinh nghiệm: khi cách mạng chuyển giai đoạn thìphải được chuẩn bị trước một bước về nguồn nhân lực Đó không chỉ là trách nhiệm màcòn đặt ra yêu cầu phát triển đón trước của GDĐH Đây là một bài học được rút ra từ lịchsử
Từ năm 1975, đất nước thống nhất, GDĐH bước sang giai đoạn phát triển mới trên
phạm vi cả nước Đến nay cả nước có 153 trường đại học, cao đẳng gồm: 2 Đại học
Quốc gia, 3 đại học vùng, 148 trường đại học, cao đẳng, viện đại học, học viện (không kểcác trường thuộc khối an ninh, quốc phòng), 3 trường Dự bị Đại học Dân tộc, 2 trườngCán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo [85]
Cùng với sự phát triển của hệ thống các trường đại học, cao đẳng thì đội ngũ trí thứcGDĐH được phát triển mạnh mẽ Chỉ tính riêng đội ngũ giảng viên của 153 trường đại
Trang 23học và cao đẳng đã có 30.309 người (xem phụ lục:Bảng số 2) Trong đó 37,2% là có
trình độ trên đại học, 5,2% có chức danh Giáo sư, Phó giáo sư
Trong công cuộc đổi mới, GDĐH Việt Nam đang được củng cố lại không chỉ ở hệ
thống trường lớp, cơ cấu đào tạo, cơ cấu ngành nghề, mà cả ở việc chuẩn hoá trình độ độingũ trí thức, nhất là lực lượng giảng viên và cán bộ quản lý… nhằm đáp ứng yêu cầu củanền giáo dục hiện đại, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệpCNH, HĐH đất nước
Như vậy, có thể khẳng định: cùng với sự phát triển của đất nước thì đội ngũ trí thức
GDĐH cũng lớn mạnh không ngừng ( xem phụ lục: Biểu đồ 2) Điều đó không chỉ được
thể hiện ở sự phát triển về số lượng, ở số người có trình độ trên đại học, có chức danh nhàgiáo, mà được thể hiện chủ yếu ở năng lực giảng dạy, nghiên cứu và phẩm chất chính trị,đạo đức… của họ trong việc đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời của nhândân, đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực trình độ cao cho sự phát triển đất nướctrong từng thời kỳ lịch sử Hiện nay, đối với những ngành khoa học "mũi nhọn" như điện
tử, công nghệ thông tin, vật liệu mới… trí thức GDĐH cũng đã có được những chuyên
gia giỏi có học hàm, học vị cao giảng dạy Sự trưởng thành của đội ngũ GDĐH gắn
liền với sự phát triển của nền giáo dục quốc dân và của đội ngũ trí thức Việt Nam
Có được kết quả trên, trước hết là do đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhànước ta trong việc xác định đúng vị trí, vai trò của giáo dục nói chung, của GDĐH và độingũ GDĐH nói riêng, đối với việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước
Đó còn là sự nỗ lực của bản thân người trí thức nhà giáo, trong việc khắc phục khó khăn
để phấn đấu vươn lên…
1.1.3 Đặc điểm và vai trò của trí thức GDĐH
Trang 24a) Đặc điểm của trí thức GDĐH Việt Nam
Trí thức GDĐH là một bộ phận của đội ngũ trí thức Việt Nam nên cũng có đầy đủnhững tố chất của người trí thức Việt Nam, như lao động trí tuệ sáng tạo, có tinh thần yêunước, ý thức dân tộc cao, cần cù thông minh, năng động và nhạy bén với sự phát triển củathời đại… Ngoài ra, do tính đặc thù của lĩnh vực hoạt động, nên đội ngũ này có một sốđặc điểm đáng lưu ý sau đây:
- Trí thức GDĐH là những người trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao
nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân Thông qua 2 cấp đào tạo là đại học ( trình độ
cao đẳng, đại học) và sau đại học (trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ), đội ngũ trí thức GDĐHtrực tiếp tham gia vào việc chuẩn bị nguồn nhân lực trình độ cao, xây dựng đội ngũchuyên gia, những nhà khoa học, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng lao độngcủa nền kinh tế - xã hội; thoả mãn yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo địnhhướng XHCN
Đào tạo cán bộ, đào tạo trí thức mới nhằm bảo đảm cho sự vận động và phát triển ổn
định của đội ngũ trí thức, là một trong những chức năng cơ bản của GDĐH Sự phát triểnmạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã làm cho trí tuệ conngười trở thành tài nguyên quý giá; đồng thời cũng làm tăng tính chất quyết lịêt của sựcạnh tranh trên thị trường này Bởi vậy, trong thời đại ngày nay, mặt bằng dân trí cùngvới những đỉnh cao về trí tuệ, là điều kiện quyết định để mỗi quốc gia tồn tại, phát triểnbền vững và đạt được lợi thế trong cạnh tranh có tính chất toàn cầu Vì vậy, giáo dục
đang trở thành nhân tố đóng vai trò nền tảng và động lực cho sự phát triển đất nước.
Tài năng con người thường bộc lộ và được phát triển sớm giai đoạn giáo dục phổthông, qua những học sinh năng khiếu… Nhưng để tài năng đó phát triển thành nhân tài
Trang 25của đất nước thì cần phải được đào tạo, bồi dưỡng một cách chu đáo ở GDĐH, đặc biệt làtrong môi trường khoa học ở bậc sau đại học Trí thức GDĐH, nhất là những giảng viên
có trình độ chuyên môn cao, có chức danh Giáo sư, Phó giáo sư, là những người trực tiếp
đào luyện tài năng, góp phần quan trọng bồi dưỡng và phát triển những "tinh hoa trí tuệ"
của đất nước
Việc chú trọng đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là động lực, là chìa khoá để phát triểnđang trở thành nhận thức và hành động phổ biến của các quốc gia, dân tộc trong thời đạingày nay Con người trong nền văn minh trí tuệ là con người được giáo dục cẩn thận về
cả năng lực và phẩm chất Con người không chỉ có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp màcòn phải năng động và dễ thích nghi với sự biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế; ngoài
ra cũng phải là những con người được giáo dục đầy đủ về phẩm chất đạo đức, lối sống;sống có văn hóa, có lý tưởng, có bản lĩnh và mang tính nhân văn cao cả…
Để có nguồn lực con người như vậy, phải chuẩn bị kỹ ở tất cả các cấp học, bậc học.Với tư cách là một bộ phận trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo ở bậc học cao nhất,
đội ngũ trí thức GDĐH có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định chất lượng và
hiệu quả đào tạo Có nhiều thầy giỏi thì mới đào luyện được nhiều trò giỏi Để có được
một lực lượng lao động có trình độ cao, đội ngũ trí thức giỏi, là những nhân tài thực sựcho đất nước, trí thức GDĐH phải có trình độ trên đại học, hơn nữa, phải có chức danhkhoa học (Giảng viên, Giảng viên chính, Giáo sư, Phó giáo sư)
Mục đích cao nhất mà đội ngũ trí thức GDĐH hướng tới là đảm bảo một nền tảng vữngchắc để phát triển nhân lực trình độ cao, những đỉnh cao trí tuệ và xây dựng nhân cáchngười lao động mới nhằm tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bềnvững Do đó, để thiết kế được chương trình, nội dung đào tạo mới, đổi mới được phương
Trang 26pháp đào tạo theo hướng phát triển cá tính sáng tạo, năng lực tự học, tư duy độc lập tronghọc tập và nghiên cứu của sinh viên…, người giảng viên đại học cần phải phấn đấu để cóđược trình độ cao hơn hẳn mặt bằng đào tạo vì phải thường xuyên tiếp cận tri thức mới,nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp.
- Trí thức GDĐH đại biểu cho hầu hết các ngành khoa học hiện có của quốc gia.
Khoa học ngày nay đang phát triển với tốc độ rất nhanh, thường xuyên có những ngành
và chuyên ngành khoa học mới xuất hiện Nhưng tựu chung, theo quan điểm củaUNESCO và thực tiễn ở Việt Nam , với khoảng 600 ngành khoa học chuyên sâu, có thểphân thành 6 nhóm khoa học: KHTN, KHKT,KHXH và NV, Khoa học Y - Dược, Khoahọc Nông nghiệp, Khoa học Quân sự Trong thực tế, ở một số văn bản lớn của Đảng vàNhà nước ta, sự phân loại khoa học khái quát hơn thành: KHTN, KHKT, KHXH và NV,GDĐH Việt Nam với 153 trường đại học và cao đẳng, có đội ngũ trí thức nhà giáo ở tất
cả các nhóm ngành và ngành khoa học chuyên sâu này, kể cả những khoa học mũi nhọnnhư điện tử, tin học, viễn thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới, hoá dầu…
Giáo dục đại học là một ngành sản xuất đặc biệt Nó có nhiệm vụ đào tạo ra những
người lao động mới, có trình độ từ cao đẳng trở lên, nắm vững kỹ năng nghề nghiệp, đápứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy nó phải "đi trước một bước"
so với sự phát triển của kinh tế, xã hội Điều đó chứng tỏ vai trò chủ động chuẩn bị nguồnnhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của GDĐH, được thể hiện ở việc hình thành các
bộ môn khoa học, ngành học mới có tính chất đón trước, định hướng cho sự phát triển.Bởi vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức GDĐH, nhất là những nhà khoa học,nhà giáo có trình độ cao ở các ngành, chuyên ngành khoa học trong các trường đại học,
có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của khoa học, cũng như phát triển nguồn nhân
Trang 27lực trình độ cao của đất nước Đó thực sự là những "máy cái" để tạo ra những trí thứcmới, những nhà khoa học tương lai cho đất nước.
Tiềm năng của đội ngũ trí thức GDĐH rất lớn Tỉ lệ những người có trình độ trên đạihọc cao hơn nhiều so với các bộ phận khác của đội ngũ trí thức cả nước Hầu hết các đạibiểu ưu tú, những chuyên gia giỏi, cán bộ đầu đàn trong các ngành khoa học trong nướcđều là những người đang tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho sinhviên và nghiên cứu sinh ở các trường đại học, cao đẳng, ở các viện nghiên cứu có chứcnăng đào tạo, hoặc đã từng là giảng viên, hiện đang công tác ở các lĩnh vực khác nhưngvẫn tham gia vào quá trình đào tạo ở bậc đại học và sau đại học Tên tuổi những thầygiáo, những nhà khoa học như Tạ Quang Bửu, Đặng Thai Mai, Tôn Thất Tùng, NguyễnĐình Tứ, Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuỵ, Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu… vẫn luôn được nhắcđến trên giảng đường ở các trường đại học, cao đẳng trong cả nước Đó thực sự là nhữngnhà khoa học tài năng, những con chim đầu đàn của GDĐH nói riêng và khoa học ViệtNam nói chung
- Đối tượng tác động chủ yếu của người trí thức GDĐH là những sinh viên, học viên
cao học và nghiên cứu sinh Trong đó, tuyệt đại bộ phận là thanh niên - lực lượng trẻ
khoẻ rất năng động và nhiệt tình, có khả năng tiếp nhận tri thức mới, nhanh, nhạy trướcđời sống hiện thực
Nhiệm vụ của người trí thức GDĐH là bằng lao động sáng tạo của mình (thông quahoạt động giảng dạy cà nghiên cứu khoa học của bản thân), bằng phẩm chất và năng lực
của nhà giáo… để tác động vào các đối tượng trên nhằm đào tạo ra những người lao
động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt… đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Trang 28Sản phẩm lao động sáng tạo của người trí thức GDĐH là nhân cách, năng lực và phẩmchất, là trí tuệ của những sinh viên - những trí thức trẻ tương lai Sự phát triển của khoahọc và công nghệ ngày càng làm tăng hàm lượng "chất xám", hàm lượng "trí tuệ" trongmột đơn vị sản phẩm, kể cả trong hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục Người trí thứcđại học phải sử dụng một cách có hiệu quả những thành tựu khoa học và công nghệ mớivào hoạt động nghề nghiệp, để tác động vào đối tượng nhằm khơi dậy tiềm năng cá nhân,năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, từng bước đưa họ vào môi trường hoạt độngkhoa học, hoạt động lao động sản xuất, hoạt động xã hội, bắt kịp với tiến bộ khoa học -công nghệ hiện đại.
Lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức GDĐH liên quan trực tiếp đến con người; đến
việc khai thác và phát huy năng lực nội sinh của từng cá nhân (cả trí thức nhà giáo lẫnsinh viên) trong việc tiếp thu tri thức, tiếp cận chân lý và khả năng tự học, tự nghiên cứucũng như trong việc xây dựng và phát triển nhân cách cá nhân… Do đó, kết quả của laođộng này rất khó xác định được một cách cụ thể theo định lượng Không thể chỉ đánh giátrình độ đội ngũ trí thức một cách đơn giản thông qua bằng cấp của họ, mặc dù bằng cấp
là điều kiện cần cho lao động sáng tạo Lao động sáng tạo của người trí thức GDĐH đượcđánh giá chủ yếu gián tiếp thông qua những giá trị khoa học của bài giảng (lượng thôngtin, phương pháp tiếp cận, sự nhận thức, tiếp thu của sinh viên…), giá trị của những phátminh khoa học cũng như chất lượng "sản phẩm" mà họ tạo ra… Tất cả những cái đókhông thể chỉ đơn thuần đánh giá bằng những con số cụ thể Hơn nữa, có khi phải vàinăm, thậm trí hàng chục năm sau, những phát minh khoa học (nhất là khoa học cơ bản,khoa học giáo dục), chất lượng "sản phẩm" (tiềm năng của sinh viên) mới có kết quả, mớiđược phát huy tác dụng và "nở rộ" khi có điều kiện
Trang 29Đặc điểm này còn cho thấy vai trò chủ chốt của trí thức GDĐH trong đào tạo trí thức
Việt Nam Số lượng và chất lượng trí thức mà nước nhà phụ thuộc rất lớn vào kết quảcủa nền giáo dục quốc dân mà trực tiếp là GDĐH
- Trí thức GDĐH vừa là nhà giáo, vừa là nhà khoa học, nhà chính trị Trong họ hội
đủ năng lực, phẩm chất của nhà giáo, nhà khoa học và nhà chính trị Họ đồng thời thựchiện hai nhiệm vụ: đào tạo nhân lực trình độ cao và bồi dưỡng nhân tài, đào tạo đội ngũtrí thức mới cho đất nước, vừa thực hiện công tác nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triểnkhai và ứng dụng công nghệ mới… đáp ứng yêu cầu phát triể GDĐH và nền kinh tế - xãhội của đất nước
Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn xã hội, mang tính chất xã hội hoá rất cao Đội
ngũ trí thức của ngành, trước hết, phải là nhà giáo dục, nghĩa là phải có trình độ nhất
định về sư phạm, nắm được những nguyên tắc cơ bản của giáo dục học, tâm lý học, đặc
điểm của đối tượng giáo dục và phương thức tiến hành giáo dục…
Khác với giáo dục phổ thông, GDĐH là một bậc học khác cả về mục tiêu, nội dung vàphương pháp Giáo dục phổ thông nhằm dạy cho học sinh còn ở tuổi vị thành niên nhữngkiến thức phổ thông cơ bản về thế giới, về đất nước Việt Nam … Đó là những kiến thứckhông thể thiếu của thanh niên trước khi vào đời Còn GDĐH có đối tượng là sinh viên -những thanh niên được chọn lựa qua các kỳ thi Ở trường đại học, sinh viên phải học mộtlượng kiến thức tổng hợp rộng và sâu hơn ở phổ thông Tiếp đó học chủ yếu kiến thứcchuyên ngành và những bộ môn khoa học có liên quan để trở thành những chuyên gia củacác ngành đó Phương pháp giáo dục ở đại học cũng khác Cách dạy, cách học chủ yếutheo phương pháp phát huy tính tích cực của người học Thầy gợi ý để trò suy nghĩ, thầynêu tình huống để trò thảo luận, thầy giới thiệu sách, tài liệu (ngoài giáo trình) để trò
Trang 30tham khảo sâu rộng hơn, giúp cho họ nắm vững kiến thức cơ bản trong giáo trình, hiểuđược những vấn đề liên quan đến bài học, có khả năng hiện thực hoá những kiến thức đãhọc… Điều đó đòi hỏi người thầy phải chuẩn bị kỹ về nội dung và sáng tạo trong phươngpháp, thầy càng gợi ý, hướng dẫn, kích thích trò tìm tòi khám phá thì kết quả việc dạy vàhọc càng cao Để làm được điều đó, người thầy phải có phẩm chất năng lực của một nhànghiên cứu khoa học Vì trên thực tế phải thường xuyên tham gia nghiên cứu khoa học,nắm bắt kịp thời thông tin khoa học mới Giảng dạy và nghiên cứu khoa học vì thế luôn
là hai nhiệm vụ chủ yếu của người giảng viên đại học Hai nhiệm vụ đó có quan hệ mậtthiết với nhau, tạo điều kiện và bổ sung cho nhau
Giảng viên đại học không chỉ là trí thức, mà còn là trí thức nhà giáo, do đó rèn luyệnphẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống… phải rất được coi trọng; phải thực sự là tấmgương sáng cho những trí thức trẻ tương lai noi theo
Hơn bất cứ lĩnh vực nào khác, giáo dục - đào tạo đòi hỏi và rất cần ở người giáo viên
sự nêu gương Chính năng lực và cả phẩm chất của nhà giáo có sực lôi cuốn, khích lệ rất
lớn đối với sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu
Trí thức GDĐH không chỉ là nhà giáo, nhà khoa học mà còn là nhà chính trị Hoạtđộng giáo dục - đào tạo nói chung và GDĐH nói riêng là một bộ phận trong đường lốichính trị của Đảng, nhằm đưa nước ta từng bước lên CNXH…
Như trên đã nêu, trí thức GDĐH là một nhóm xã hội - nghề nghiệp đặc thù một đội ngũchuyên nghiệp có trình độ chuyên môn cao, lao động của họ có tính chất độc lập sáng tạocao Năng lực, phẩm chất nhân cách và dạng hoạt động của họ phản ánh đầy đủ nhữngmối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của người trí thức, với tính cách là những cánhân Đó là những yếu tố giúp chúng ta nhận biết về người trí thức nói chung Mặt khác,
Trang 31là nhà giáo, nhà khoa học, nhà chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, họ có nhiệm
vụ phối hợp chặt chẽ với các thành viên khác, các bộ phận khác trực tiếp tham gia vào sựnghiệp đào tạo những người lao động mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Bởivậy, đòi hỏi tính tập thể, ý thức cộng đồng cao ở người trí thức GDĐH Sản phẩm củaGDĐH là kết quả hoạt động tập thể của cả đội ngũ trí thức GDĐH và các bộ phận liênquan Đánh giá hiệu quả hoạt động GDĐH phải căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó nănglực, phẩm chất của đội ngũ trí thức GDĐH là yếu tố quan trọng nhất
Cũng như vậy, khi đánh giá chất lượng đội ngũ trí thức GDĐH, không chỉ căn cứ vàonăng lực phẩm chất, trình độ … của từng cá nhân mà còn phải căn cứ vào khả năng phốihợp của họ đối với đồng nghiệp trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trongtoàn trường, toàn ngành
Giáo dục đại học là lĩnh vực hoạt động đặc biệt, đối tượng của nó là thanh niên - sinhviên, những người có trình độ học vấn, trình độ nhận thức nhất định và có độ nhạy cảm
về những vấn đề chính trị - xã hội Để định hướng đúng đắn cho các hoạt động chính trịcủa sinh viên, huy động sức mạnh của lực lượng này trong việc thực hiện đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện mục tiêu chính trị của nhà trường…., thì
người trí thức GDĐH phải có bản lĩnh chính trị vững vàng.
Trong tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, kẻ thù đang tập trung mũi nhọntấn công vào sự nghiệp xây dựng CNXH của cả dân tộc, nhất là tấn công vào giới thanhniên - trí thức Bởi vậy, nâng cao bản lĩnh chính trị của nhà giáo sẽ góp phần quan trọng
để giữ vững sự ổn định và tính định hướng XHCN của nền đại học Việt Nam Công tácchính trị tư tưởng trong các trường đại học, cao đẳng không chỉ là trách nhiệm của Đảng
uỷ, phòng công tác chính trị, mà của toàn thể cán bộ, giáo viên trong trường, trong đó
Trang 32phòng công tác chính trị, đoàn thanh niên, bộ môn Mác - Lênin với đội ngũ trí thức cóbản lĩnh chính trị vững vàng làm nòng cốt.
Vì vậy, có thể nêu khái quát một số tiêu chuẩn cơ bản của người trí thức GDĐH là:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức và lối sống trong sáng Đây là một
trong những tiêu chuẩn cơ bản đầu tiên người trí thức GDĐH Phẩm chất chính trị của
nhà giáo được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao Người cho rằng: "… có chuyênmôn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi đến mấy dạy trẻ con cũng hỏng" [53,492] Người phê phán tư tưởng "bàng quan" chính trị trong đội ngũ giáo viên, và nêu rõ:
"Nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ khôngtốt" [53, 492] Như vậy, trong khi rất coi trọng chuyên môn Bác Hồ cũng rất coi trọngchính trị Hai mặt đó được Người xem xét trong mối quan hệ thống nhất biện chứng HồChí Minh còn khẳng định: "… có tài mà không có đức là hỏng, có đức mà chỉ i tờ thì dạythế nào?" [53, 492]
Mỗi đối tượng có yêu cầu và mức độ rèn luyện bản lĩnh chính trị khác nhau Đối vớingười giảng viên thì điều quan trọng không chỉ có nhận thức chính trị đúng mà còn phải
có khả năng xử lý được những tình huống chính trị (ở mức độ nhất định) Bởi vì đứngtrước đối tượng giáo dục thanh niên - sinh viên rất nhạy cảm với cái mới, với sự biếnđộng của đời sống chính trị - xã hội, thì việc định hướng nhận thức chính trị - xã hội cho
họ là rất cần thiết Cũng như vậy, người giảng viên không chỉ tuân thủ theo những qui tắcđạo đức thông thường, mà còn phải ở mức độ mẫu mực để sinh viên noi theo và ngườiđời kính trọng…
- Trí thức GDĐH là người có bản lĩnh khoa học Điều đó được thể hiện ở trình độ
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tư duy khoa học… Đó là những điều kiện
Trang 33cần để người trí thức phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu, phấn đấu vươn lên tiếp cậntri thức khoa học tiên tiến của nhân loại Để có được bản lĩnh khoa học đó, thì vấn đềquan trọng là sự nỗ lực của bản thân trí thức nhà giáo; sự tự phấn đấu nâng cao năng lựcsáng tạo thông qua hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học Năng lực sáng tạo, tiềmnăng trí tuệ của người trí thức nhà giáo thể hiện qua chất lượng bài giảng, chất lượng vàhiệu quả các công trình khoa học, khả năng xử lý tình huống trong hoạt động đào tạo vànghiên cứu; ở tấn suất xuất hiện những luận giải khoa học có hiệu quả Ngoài ra còn biểuhiện ở nhu cầu nâng cao trình độ, năng lực khám phá cái mới của người trí thức nhà giáo;
và ở cả hệ "sản phẩm" - những sinh viên giỏi…
- Trí thức GDĐH phải có năng lực sư phạm Đó là khả năng truyền thụ tri thức
(chuyên môn, nghề nghiệp…) cho người học Có được năng lực sư phạm phải thông quahọc tập, nghiên cứu một loại nội dung thuộc khoa học giáo dục như: giáo dục học, lý luậndạy học, phương pháp nghiên cứu khoa học… Ngoài ra còn phải rèn luyện, tích luỹ các
kỹ năng sư phạm (thao tác sư phạm, kỹ thuật tổ chức sư phạm…), bảo đảm cho ngườihọc nhận được những thông tin cần thiết một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Năng lực sư phạm là yếu tố cấu thành cơ bản tạo nên tư chất người giáo viên Đối vớimột cán bộ nghiên cứu có thể chỉ cần đề cao yếu tố trình độ chuyên môn, khả năng tư duysáng tạo… để có thể nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ có hiệu quả Song, đốivới nhà giáo, người giảng viên có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo những người lao động mới
có tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu pháttriển của xã hội, thì một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với họ, là phải có khảnăng truyền đạt tri thức với hiệu suất cao, có khả năng lôi cuốn, thuyết phục động viên,
Trang 34cũng như "uy quyền" đối với người học… Đó chính là tư chất nhà giáo mà không phảingười trí thức nào cũng có.
Lao động của nhà giáo là loại lao động đặc biệt Đó là hoạt động tổng hợp của cả nhâncách, nhân phẩm, trí tuệ và tâm hồn của nhà giáo Tác động lớn nhất, sâu nhất đến ngườihọc chính là sự tổng hoà, sự thăng hoa nhiều mặt của trí tuệ, trong đó có phương pháp sưphạm của người thầy giáo Hiệu quả của giáo dục khó đo ngay tức khắc, nhưng ấn tượngcủa nó lại rất lâu bền, có khi trở thành một thứ vốn liếng quý giá trong hành trang làmngười của nhiều người Năng lực sư phạm là một trong những tiêu trí chủ yếu để xác địnhngười giáo viên giỏi
- Hoạt động giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng rất cần những con người có tâm huyết với nghề Trong hoạt động nghề nghiệp, muốn trở thành người lao động giỏi,
cống hiến được nhiều sức lực hữu ích cho xã hội thì bản thân họ phải yêu nghề Càng yêungười bao nhiêu lại càng yêu nghề bấy nhiêu Đó chính là điểm đặc trưng trong lao độngcủa nhà giáo Giáo viên là những người trực tiếp gợi mở, đặt dấu ấn trong tâm hồn lớp trẻ
về tình yêu Tổ quốc, yêu CNXH, tình yêu con người, gia đình, cộng đồng… Dạy họcchính vì thế, là nghề được cả xã hội tôn vinh Yêu nghề là một yếu tố tạo động lực rất lớncho hoạt động sáng tạo và sự phấn đấu vươn lên của mỗi người trí thức nhà giáo
Ngày nay, trong cơ chế thị trường, một số thang giá trị của xã hội có sự thay đổi, songnhìn chung, nghề thầy giáo vẫn được đặt ở vị thế xứng đáng Tuy vậy, trong cuộc sống,một số người gặp khó khăn đã bỏ nghề daỵ học, có những người giỏi không muốn là nhàgiáo… đó là một thực tế Đại đa số khi đã yêu nghề thì họ có thể vượt qua được những
khó khăn, thử thách của cuộc sống đời thường Khi đó chất trí thức, chất nhà giáo lại
càng được toả sáng, lan rộng hơn, có tác dụng nêu gương vượt khó cho đông đảo học
Trang 35sinh, sinh viên Như vậy, có thể nói, chất lượng đội ngũ nhà giáo còn phụ thuộc vào cảtình cảm nghề nghiệp của người thầy.
b) Vai trò của trí thức GDĐH đối với sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay
- Trí thức GDĐH có vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn lực con người cho sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước Nhu cầu về nhân lực cho CNH, HĐH rất cần (năm 1998 tỷ
lệ lao động qua đào tạo rất thấp, mới đạt 17,8%) [29, 31], có những nhu cầu đòi hỏi rấtcao và nghiêm ngặt về trình độ, tác phong và tính kỷ luật trong lao động Người lao độngtrong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phải được trang bị một cách cơbản về hệ thống những kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng thích nghithị trường lao động…
Trí thức GDĐH trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực chất lượng cao, bồidưỡng và phát triển nhân tài - lực lượng giữ vai trò quyết định nhất trong việc thực hiệnchuyển giao và đổi mới công nghệ, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hoá dân tộc,tiếp thu có hiệu quả những giá trị văn hoá tiên tiến trên thế giới Nghị quyết Hội nghịTrung ương lần thứ 2 (Khoá VIII) của Đảng đã nêu rõ: "… lấy phát triển giáo dục, đàotạo và khoa học công nghệ làm yếu tố cơ bản, coi đó là khâu đột phá" để bước vào tươnglai Thế giới ngày nay coi giáo dục là con đường cơ bản để gìn giữ và phát triển văn hoádân tộc, để tránh tụt hậu và phát triển đi lên Giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng gópphần quan trọng vào sự phát triển tiềm năng trí tuệ của con người, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực Biến những tri thức, phát minh khoa học thành những giá trị thực tiễn
Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay đang đặt ra yêu cầu rất lớn trong việc khaithác và sử dụng các nguồn lực, trong đó "nguồn lực con người là quý báu nhất" "Đó lànguồn lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt…" [15, 9]
Trang 36Nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những người được giáo dục và đào tạo chu đáotrong nhà trường hiện đại, được rèn luyện trong môi trường xã hội lành mạnh Thông quahoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, trí thức GDĐH đã đào tạo được những lớpngười lao động mới, hữu ích cho sự phát triển xã hội Đó là những người có năng lực làmchủ những công nghệ tiên tiến, có khả năng đổi mới và hiện đại hoá những công nghệtruyền thống; từng bước sáng tạo những công nghệ mới, hiện đại phù hợp với con người,điều kiện và môi trường Việt Nam.
- Trí thức GDĐH là lực lượng trực tiếp thực hiện các mục tiêu giáo dục - đào tạo,
từng bước nâng cao trình độ dân trí, tạo đỉnh cao trí tuệ, phát triển nhân tài cho đất nước Mặt bằng dân trí của một quốc gia không chỉ được xác định ở mức độ phổ cập giáo
dục hay trình độ phổ cập (cấp học), mà là tổng hợp của việc phổ cập giáo dục cho mọingười nhằm nâng cao mặt bằng học vấn của nhân dân, nâng cao trình độ hiểu biết, trình
độ nhận thức của mọi người dân về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… đáp ứng nhu cầuphát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai
Bởi vậy, nâng cao dân trí được hiểu theo nghĩa rộng và đầy đủ, là làm cho mỗi cá
nhân, với tư cách là một thành viên trong xã hội, được nâng cao vốn hiểu biết của mình, được trang bị những kiến thức cần thiết cho cuộc sống; tạo điều kiện cho mỗi
cá nhân trong cộng đồng có khả năng tìm được việc làm và lao động với hiệu suất cao… Chính trong quá trình hoạt động lao động sản xuất, hoạt động sáng tạo, mà con
người không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình Như vậy, dân trí không chỉ là trình
độ học vấn, mà còn là sự hiểu biết, sự nhận thức của người dân đối với những vấn đề xãhội, là thái độ của họ trong việc sáng tạo ra những giá trị văn hoá, vật chất và tinh thầncho xã hội
Trang 37Với ý nghĩa như trên, nhiệm vụ của GDĐH không chỉ là đào tạo nghề là dạy chữ màquan trọng hơn là dạy "đạo" làm người Vì vậy, trí thức GDĐH đóng vai trò tích cựctrong việc nâng cao mặt bằng dân trí của nhân dân, nâng cao trí thức chung của dân tộc.Đỉnh cao trí tuệ, tài năng của con người không phải tự nhiên có được Đó thực sự làmột quá trình tìm kiếm, phát hiện, bồi dưỡng lâu dài và có hệ thống Nói đến tài năngthường người ta quan tâm nhiều đến năng khiếu cá nhân Đó là yếu tố rất quan trọng đểphát triển tài năng Năng khiếu thường xuất hiện sớm, nên việc phát hiện, bồi dưỡng, đàotạo có được tài năng và trở thành nhân tài là yếu tố rất quan trọng Trường đại học là mộttrong những trung tâm trí tuệ, là cơ sở chủ yếu đào tạo nhân tài cho đất nước Trí thứcGDĐH, đặc biệt là đội ngũ giảng viên có trình độ cao, những Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến
sĩ giàu kinh nghiệm và tâm huyết nghề nghiệp có vai trò to lớn trong việc bồi dưỡng nhântài, phát triển tài năng cho đất nước
- Trí thức GDĐH góp phần nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ quốc gia Nước
ta tiến hành CNH, HĐH trong điều kiện có nhiều cơ hội và thách thức to lớn Cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ mới đang diễn ra rất mạnh mẽ, mở ra môi trường thuận lợicho các nước đi lên Sự phát triển của một quốc gia là quá trình vận dộng biện chứnggiữa phát huy năng lực nội sinh của dân tộc với việc khai thác các nguồn lực thời đại.Năng lực nội sinh của một dân tộc gồm nhiều yếu tố: con người, tài nguyên thiênnhiên, điều kiện địa lý, bản chất xã hội… Đối với nước ta, như đã nói, "khi nguồn lực tàichính và nguồn lực vật chất còn hẹp" thì việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam, trítuệ Việt Nam, truyền thống dân tộc Việt Nam có ý nghĩa quyết định đối với sự thànhcông của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 38Tiềm lực khoa học - công nghệ của một quốc gia gồm nhiều yếu tố: Con người, kỹthuật, tổ chức v.v… trong đó con người với tiềm năng trí tuệ của họ giữ vai trò quyếtđịnh Nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ, trước hết và chủ yếu là nâng cao năng lựctrí tuệ của đội ngũ trí thức để làm chủ được những công nghệ tiên tiến của thế giới, khaithác nó một cách hợp lý và hữu ích vào việc tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xã hội;từng bước xây dựng một nền khoa học - công nghệ Việt Nam hiện đại.
Các trường đại học là những trung tâm khoa học, nơi tập trung những cán bộ của cácngành khoa học Hầu hết họ là những người có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghềnghiệp vững Đó không chỉ là cơ sở đào tạo nhân lực kỹ thuật cao, bồi dưỡng và pháttriển tài năng - yếu tố quyết định của tiềm lực công nghệ hiện đại, mà còn là trung tâmnghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ mới,những công nghệ mũi nhọn; là nơi phát huy, phát triển truyền thống và bản sắc văn hoádân tộc (văn hoá theo nghĩa rộng), nơi trực tiếp tạo ra nội sinh của dân tộc
Trí thức GDĐH, không chỉ là lực lượng xung kích trực tiếp xây dựng nền đại học ViệtNam tiên tiến; góp phần quan trọng vào việc chấn hưng nền giáo dục nước nhà, từng
bước hội nhập với sự phát triển chung của thế giới; mà còn trực tiếp tạo ra nguồn nhân
lực mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần tăng cường tiềm lực công nghệ
quốc gia, định hướng cho sự phát triển của khoa học - công nghệ; đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao của kinh tế - xã hội và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
- Trí thức GDĐH có vai trò quan trọng trong việc " xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [18] Theo nghĩa rộng, văn hoá được coi là
tất cả những giá trị tinh thần của đời sống xã hội, là trình độ văn minh của một dân tộc Ởđây, nói văn hoá theo nghĩa là một trong những nhân tố cơ bản, bảo đảm cho sự tồn tại và
Trang 39phát triển của xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Trong công cuộc kiến thiết nước nhà
có 4 vấn đề cũng phải chú ý đến, cũng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xãhội, văn hoá" [49, 431]… Giáo dục - đào tạo là một bộ phận của văn hoá phi vật thể Tríthức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, thông qua dạy và học lại tham gia vàoviệc bảo tồn và phát triể văn hoá vật thể nói riêng và văn hoá nói chung
Trí thức GDĐH đã khơi dậy được tiềm năng con người Việt Nam trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Mục tiêu cao nhất của giáo dục là ngày càng nâng cao chấtlượng cuộc sống của con người Đó không chỉ có ý nghĩa hiện thực mà còn có giá trịnhân văn cao "Con người Việt Nam là sự kết tinh của nền văn hoá Việt Nam" [19, 11].Trên ý nghĩa đó, trí thức GDĐH trực tiếp tham gia vào việc nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, phát triển nhân tài, những "tinh hoa văn hoá" của dân tộc, yếu tố có vai trò quantrọng đối với sự trường tồn của dân tộc Việt Nam , văn hoá Việt Nam
Trí thức GDĐH, nhất là đội ngũ giảng viên các môn KHXH và NV không chỉ có chứcnăng nhận thức và giải thích đúng đắn thế giới khách quan, mà quan trọng hơn là đã trang
bị cho sinh viên - những tri thức mới, sáng tạo những giá trị văn hoá mới… đưa lại cho
họ lòng tin khoa học về một xã hội tương lai tốt đẹp GDĐH trang bị cho sinh viên nhữnggiá trị truyền thống văn hoá của dân tộc: đạo lý làm người, văn hoá làm người, ý thứctrách nhiệm và nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu CNXH; giáo dục đạo đức, lốisống, nếp sống văn hoá, lịch sử dân tộc, bản sắc dân tộc… Thông qua đó, từng bước nhâncách của con người lao động mới, có trí tuệ được hình thành và phát triển
Trí thức GDĐH trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng những trí thức tài năng thuộc lĩnh vực vănhoá Đây là lực lượng giữ vị trí chủ chốt trong việc góp phần xây dựng nền văn hoá, gìngiữ bản sắc dân tộc trong văn hoá… là trách nhiệm của toàn xã hội, "là sự nghiệp của
Trang 40toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó đội ngũ trí thức đóng vai trò quan trọng"[19, 33].
- Trí thức GDĐH tham gia vào việc phát triển kinh tế Thực tế cho thấy giáo dục có
chức năng kinh tế Giáo dục - đào tạo nói chung và GDĐH nói riêng, tạo ra lớp người laođộng mới có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức đáp ứngđược nhu cầu ngày càng cao của kinh tế Đó là lực lượng quyết định việc nâng cao năngsuất lao động Vì vậy, có thể nói GDĐH là loại "dịch vụ sản xuất" đặc biệt, là ngành siêukinh tế Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, mà đỉnh cao
là công nghệ thông tin, thì vị trí và vai trò của trí thức, trí tuệ của con người được đánhgiá rất cao, có ý nghĩa quyết định ưu thế cạnh tranh về kinh tế Trí thức GDĐH là lực
lượng trực tiếp góp phần làm tăng hàm lượng chất xám , tiềm năng trí tuệ của quốc
gia - yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững của dân tộc.
Mặt khác, thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, đội ngũ trí thức GDĐH đã thựchiện đổi mới công nghệ, tạo bước nhảy vọt về năng suất và chất lượng sản phẩm, bảođảm sự tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng và ổn định Về góc độ này, trí thứcGDĐH đã trực tiếp tham gia phát triển nền kinh tế của đất nước Ngoài ra, cũng thôngqua hoạt động đó, đội ngũ nhà giáo nâng cao được chất lượng đào tạo, góp phần tăng thunhập cho cá nhân, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và gia đình…
1.2 QUAN NIỆM VỀ CƠ CẤU VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA TRÍ THỨC GDĐH
1.2.1 Sự phân chia cơ cấu trí thức GDĐH
Trong xã hội con người không chỉ mang tính cá nhân mà còn mang dấu ấn cộng đồng
do tham dự hoặc liên quan trực tiếp đến những cộng đồng xã hội khác nhau