1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hôn nhân nhóm ngôn ngữ Tày Thái ở Việt Nam

34 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó nhóm ngôn ngữ Tày – Thái bao gồm tám dân tộc: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái. Các dân tộc này có đặc điểm giống nhau về cấu trúc ngữ pháp, từ vị cơ bản, và hệ thống âm vị. Ở một mức độ nào đó, giữa các dân tộc này có một sự gần nhau về văn hóa và sự giao lưu tiếp xúc văn hóa. Tuy cùng nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, nhưng mỗi dân tộc cũng có những hình thức và quan niệm khác nhau về hôn nhân. Để hiểu rõ hơn, trong bài niên luận này, tôi xin được đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về hôn nhân của tám dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái, một nhóm ngôn ngữ có số dân đứng thứ hai (sau nhóm Việt Mường) ở Việt Nam. Do không có điều kiện đi khảo sát thực tế, nên bài viết của tôi chỉ là sự thống kê, tìm hiểu và tổng kết những kiến thức thông qua các tài liệu của những người đi trước để lại, phục vụ cho bài niên luận.

Trang 1

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó nhóm ngôn ngữ Tày – Thái baogồm tám dân tộc: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái Các dân tộcnày có đặc điểm giống nhau về cấu trúc ngữ pháp, từ vị cơ bản, và hệ thống âm vị.

Ở một mức độ nào đó, giữa các dân tộc này có một sự gần nhau về văn hóa và sựgiao lưu tiếp xúc văn hóa Tuy cùng nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, nhưng mỗi dântộc cũng có những hình thức và quan niệm khác nhau về hôn nhân Để hiểu rõ hơn,trong bài niên luận này, tôi xin được đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về hôn nhân củatám dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, một nhóm ngôn ngữ có số dânđứng thứ hai (sau nhóm Việt - Mường) ở Việt Nam Do không có điều kiện đi khảosát thực tế, nên bài viết của tôi chỉ là sự thống kê, tìm hiểu và tổng kết những kiếnthức thông qua các tài liệu của những người đi trước để lại, phục vụ cho bài niênluận

Để hoàn thành bài niên luận này, có một phần rất lớn sự hướng dẫn tận tìnhcủa thầy Phạm Văn Thành - giảng viên bộ môn Nhân học, các thầy cô khác trongkhoa và bạn bè của tôi Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, các bạn -những người đã giúp tôi hoàn thành bài niên luận này

Trang 2

1.2 Ý nghĩa.

Bài viết này tuy dưới hình thức là một bài niên luận nhưng nó vẫn có những

ý nghĩa trong thực tiễn và trong khoa học

1.2.1 Ý nghĩa thực tiễn.

Tày – Thái là một ngữ hệ lớn của Việt Nam nói riêng cũng như của khu vựcĐông Nam Á nói chung Ở Đông Nam Á, nhóm này có mặt ở các nước Thái Lan,Lào, Việt Nam, Mianma Tuy là một ngữ hệ lớn nhưng giữa các thành phần dântộc trong ngữ hệ có sự phát triển không đồng đều Trong tám dân tộc này, ngườiThái, người Tày và một bộ phận người Nùng có trình độ phát triển hơn hẳn, đồngthời các dân tộc này cũng là những dân tộc có số dân đông

Việc cưới xin của các dân tộc cũng phản ánh một phần về văn hóa và trình

độ nhận thức của mỗi dân tộc Từ đó có thể rút ra những nguyên nhân của sự pháttriển không đồng đều đó và để đưa ra những chiến lược phát triển đúng hướng chocác dân tộc

Phong tục cưới xin của các dân tộc còn phản ánh văn hóa của dân tộc Khinghiên cứu vấn đề này, cần rút ra những mặt tiến bộ và mặt hạn chế trong hônnhân Để từ đó tuyên truyền những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nướcđến từng dân tộc, thực hiện xóa bỏ những quan niệm lạc hậu, những hình thức tốnkém, rườm rà trong hôn nhân Đồng thời, trong thời kỳ hội nhập mạnh nhưng ngàynay, các dân tộc đang dân xích lại gần nhau hơn, nhưng nó cũng làm nhiều dân tộckhông còn giữ được bản sắc văn hóa của mình, vì vậy qua nghiên cứu vấn đề này

có thể đưa ra những phương sách để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc đang ngày

bị mai một

Trang 3

1.2.2 Ý nghĩa khoa học.

Hôn nhân là một đề tài đã được rất nhiều người nghiên cứu Các bài nghiêncứu về hôn nhân dưới nhiều hình thức khác nhau Nhưng phần lớn hôn nhân đượccác nhà nghiên cứu viết vào cùng với văn hóa Trong bài niên luận này, các hìnhthức và quan niệm về hôn nhân của các dân tộc thuộc nhóm Tày – Thái sẽ đượctổng hợp lại Từ đó rút ra những điểm giống và khác nhau, những mặt tiến bộ vàhạn chế trong quan niệm cũng như trong cách thức tổ chức cưới xin

Thông qua phong tục cưới xin của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái, ta

có thể hiểu biết thêm về những đặc trưng văn hóa các tộc người này Góp phần làm

rõ hơn văn hóa của các dân tộc này Cung cấp, sưu tầm thêm những tư liệu quantrọng cho những người nghiên cứu sau và mở ra những hướng nghiên cứu mới.Đây là một nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành dân tộc học hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Như đã nói, hôn nhân là một vấn đề đã được nhiều người nghiên cứu Cónhững sách đi sâu nghiên cứu vấn đề này thì chủ yếu tập chung vào một số dân tộclớn như Tày, Nùng, Thái Còn các dân tộc nhỏ thì thường ít chú ý và thường đượcviết lồng vào các bài viết tổng quát như “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” củaViện Dân tộc học (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam) do Nhà xuất bản khoa học

xã hội xuất bản năm 1978; “Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam” do Khổng Diễn chủbiên (Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2002) Trong quyển “Các dântộc Tày Nùng ở Việt Nam” (một dự án do Viện Dân tộc thuộc Viện Khoa học Xãhội Việt Nam công bố năm 1992) cũng ít nhiều đề cập đến vấn đề này…và rấtnhiều bài viết đã được đăng trên các tạp chí Vì vậy, thông qua tài liệu trên, bài

Trang 4

viết này của tôi chỉ muốn đi vào nghiên cứu về vấn đề cưới xin của các dân tộc, đểthông kê, tìm hiểu, tổng kết và hệ thống những kiến thức dân tộc học.

PHẦN HAI – NỘI DUNG CHÍNH

1 Tổng quan về nhóm các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái ở Việt Nam

2 Quan niệm về hôn nhân của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái

3 Quan niệm về một gia đình , một lứa đôi hạnh phúc của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái

4 Quy tắc hôn nhân

5 Các bước trong hôn nhân

6 Tín ngưỡng – kiêng kỵ trong cưới hỏi

PHẦN BA – KẾT LUẬN

Trang 5

PHẦN HAI – NỘI DUNG CHÍNH

1 Tổng quan về nhóm các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái ở Việt Nam.

Bảng1 Các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày - Thái1

STT Dân tộc Tên gọi khác Dân số Nơi cư trú

03 Lào Lào Bốc, Lào Nọi 11.611 Huyện Điện Biên, Phong Thổ (Lai

Châu), Sông Mã (Sơn La), Than Uyên (Lào Cai)

04 Lự Lữ, Nhuồn, Duồn 4.964 huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh

Lai Châu

05 Nùng Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lòi,

Phần Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài

856.412 Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái

Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai.

06 Sán Chay Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan,

Hờn Bận

147.315 Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc

Giang, Quảng Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, Phú Thọ.

07 Tày Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí 1.477.514 Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên,

Hà Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình.

08 Thái Tày, Tày Khao (Thái Trắng), Tày

Đăm (Thái Đen), Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc

1.328.725 Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Cào

Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An

Theo các nhà Dân tộc học, hệ ngôn ngữ là một nhóm các ngôn ngữ có cùngnguồn gốc với nhau Quan hệ đó được xác định bởi những đặc điểm giống nhau vềngữ pháp, hệ thống từ vị cơ bản, thanh điệu và ngữ âm…

Trang 6

Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái ở Việt Nam bao gồm 8 dân tộc: Bố Y, Giáy,Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày và Thái cùng nói một hệ ngôn ngữ Tày – Thái Cácdân tộc này có cùng một nguồn gốc xa xôi Trong lịch sử di cư, họ trở thành nhữngdân tộc khác nhau Tuy nhiên, ngoài ngôn ngữ, xét về một khía cạnh nào đó, cácdân tộc này cũng có những nét giống nhau về văn hóa.

Ở Việt Nam, nhóm ngôn ngữ này chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các dântộc thiểu số có mặt tại Việt Nam Trong đó lớn nhất là người Tày (1.477.514 người

- là dân tộc có số dân lớn nhất trong số các dân tộc thiểu số), sau đó là người Thái(1.328.725 người – là dân tộc có số dân đứng thứ 2 trong số các dân tộc thiểu số ),Nùng (856.412 người), Sán Chay (147.315 người), Giáy (49.098 người), Lào(11.611 người), Lự (4.964 người), cuối cùng là Bố Y (1.864 người) Nhóm nàythường phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc (Đông Bắc và Tây Bắc), một số phân

bố ở Thanh Hóa và Nghệ An và mỗi một dân tộc lại có nhiều nhóm nhỏ có tên gọikhác nhau Lịch sử xuất hiện tại Việt Nam cũng không giống nhau Trong đó ngườiTày và người Thái xuất hiện sớm hơn, có lịch sử phát triển gần tương đương ngườiKinh Các dân tộc còn lại vào Việt Nam muộn hơn, chỉ khoảng 2 đến 300 năm trởlại đây Phần lớn đều di cư từ Trung Quốc

Các dân tộc này có trình độ phát triển không đều Những dân tộc có số dânđông có trình độ phát triển cao hơn (người Tày, Nùng, Thái) Tuy nhiên, còn một

bộ phận nhỏ ở các vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí còn lạc hậu Các dân tộc cònlại, phần lớn còn trong tình trạng còn lạc hậu…

Ta có thể điểm qua một số dân tộc như sau:

1.1 Dân tộc Bố Y.

Là dân tộc có số dân nhỏ nhất trong nhóm Tày – Thái, di cư từ Trung Quốcsang cách đây khoảng 150 năm. Kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy, biết trồng bông

Trang 7

dệt vải Bên cạnh đó mỗi gia đình thường có một mảnh vườn

để trồng rau Ngoài nuôi gia súc, gia cầm họ còn nuôi cá ruộng

và biết làm nhiều nghề thủ công như dệt, rèn, gốm, đục đá,chạm bạc, đan lát, làm đồ gỗ Đồng bào ăn bột ngô là chính(giống như mèn mén của người Mông) Trang phục gần giốngvới người Mông, một số lại giống người Hán (như nhóm Tu Dí–nhóm này nói ngôn ngữ Hán)

Người Bố Y ở nhà đất, trình tường lợp gianh hay ngói,

có nhà lợp gỗ miếng Nhà có 3 gian, có sàn gác trên quá giang

là chỗ để lương thực và là chỗ ngủ của những người con traichưa vợ

1.2 Dân tộc Giáy.

Người Giáy từ Trung quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm.Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những triền ruộng bậcthang Bên cạnh đó họ còn làm thêm nương rẫy trồng ngô, lúa, các loại cây có củ

và rau xanh Chăn nuôi theo lối thả rông Có một số nghề thủ công nhưng chưaphát triển

Ăn: ăn cơm tẻ Gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ lên như

đồ xôi Nước luộc gạo dùng làm đồ uống Cách chế biến món ăn, nhất là ăn trongngày lễ, ngày tết chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Hán

Mặc: Trước kia phụ nữ mặc váy xoè giống như váy của người Hmông Ngàynay họ mặc quần màu chàm đen có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ

tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vảikhác màu Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc Vai khoáctúi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc Nam giới mặc quần lá toạ,

áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực

Trang 8

Ở: Nhà sàn là nhà ở truyền thống Hiện nay, kiểu nhà sàn vẫn phổ biến trong

bộ phận người Giáy ở Hà Giang, còn bộ phận ở Lao Cai và Lai Châu ở nhà đấtnhưng phía trước nhà vẫn là sàn phơi Nhà thường có 3 gian, bàn thờ đặt ở giangiữa

1.3 Dân tộc Lào.

Người Lào có nguồn gốc di cư từ Lào sang Người Lào làm ruộng nước với

kỹ thuật dẫn thuỷ nhập điền hợp lý Ngoài ra họ còn làm nương, chăn nuôi gia súc,gia cầm Tiểu thủ công nghiệp gia đình của dân tộc đặc biệt phát triển Họ làm gốmbằng bàn xoay với các sản phẩm như chum vại, vò, ché, nồi với chất lượng tốt.Nghề dệt thổ cẩm tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, thể hiện thẩm mỹ tinh tế.Nghề rèn, nghề chạm bạc cũng góp phần thu nhập đáng kể cho nhiều gia đình.Hái lượm còn có vai trò nhất định đối với đời sống kinh tế của người Lào

Ăn: Người Lào ăn nếp là chính Về thực phẩm họ ưa ăn các món chế biến từcá; đặc biệt có món Pàđẹc (cá ướp) rất nổi tiếng

Mặc: Phụ nữ Lào mặc váy thắt ngang ngực, buông ngang tầm bắp chân Gấuváy thêu hoa văn màu tươi sáng rực rỡ áo nữ ngắn, để hở phần ngực trên Chiếctrâm bạc cài tóc hay khăn piêu đội đầu của phụ nữ Lào cũng được chạm khắc hoặcthêu thùa khéo léo Nam phục Lào có nhiều nét tương đồng với người Thái

Ở: Họ ở nhà sàn, lòng rộng, thoáng đãng, cột kèo được chạm khắc tinh vi.Mái nhà thường kéo dài tạo nên hiên để đặt khung cửi và các công cụ làm vải

Phương tiện vận chuyển: Người Lào quen gùi, gánh đôi dậu, đặc biệt giỏi đithuyền trên sông, ở một số nơi họ còn sử dụng ngựa thồ

1.4 Dân tộc Lự.

Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) ít nhất cũng trước thế

kỷ XI - XII Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiềuruộng đồng Vào thế kỷ chiến tranh người Lự phải phân tán đi khắp nơi, một bộ

Trang 9

phận nhỏ chạy lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ, Sìn Hồ Người Lự sáng tạo ra

hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thuỷ nhập điền Ruộng trồng lúa nếptheo kỹ thuật cấy mạ hai lần Có nơi đã biết dùng phân xanh, rác rưởi và phânchuồng để bón ruộng Họ làm nương phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày do tiếp thu

từ người Hmông Nghề dệt phát triển Dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa vănđẹp Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng Hái lượm, săn bắt, đặc biệt đánh cá ởsuối là hoạt động thường xuyên

Ăn: Người Lự ăn xôi, ưa thích các món chế biến từ cá, trong đó có món nộmchua với thịt cá tươi Lợn, trâu, bò chỉ mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán

Mặc: Nữ mặc áo chàm, xẻ ngực Váy nữ bằng vải chàm đen, có thêu dệtthành hai phần trang trí, dễ cảm giác như váy có hai tầng ghép lại Cổ đeo vòngđược nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc Ðầu đội khăn cuốn nghiêng vềphía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc Nhuộmrăng đen Ðeo vòng tay bằng bạc, bằng đồng

Nam mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dâyvải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái Quần từ đầu gối trở xuống cóthêu hoa văn Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen.Ðàn ông thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là tập quán trang trí

Ở: Người Lự cư trú ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ, Ðiện Biên (Lai Châu).Nhà sàn 4 mái, mái kéo dài che làm hiên sàn nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm

ra vải Trong nhà có chăn, đệm, màn, rèm; bếp ở giữa nhà

Phương tiện vận chuyển: Gùi, trâu kéo, ngựa thồ

1.5 Dân tộc Nùng.

Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đâykhoảng 200-300 năm Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ởnhững vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải

Trang 10

sống bằng nương rẫy là chính Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rauxanh

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy

dó, làm ngói âm dương Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghềphụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhucầu của gia đình là chính Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt),một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn) Ở xã Phúc Sen (huyện QuảngHoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có ngườibiết làm nghề rèn

Chợ ở vùng người Nùng phát triển Người ta thường đi chợ phiên để trao đổimua bán các sản phẩm Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợhát giao duyên

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính Ngô được xay thành bột đểnấu cháo đặc như bánh đúc Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào,nấu, ít khi luộc Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằngvải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí Nam giới mặc

áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên náchphải, thường chỉ dài quá hông

Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thương sống xen kẽvới người Tày Phần lớn ở nhà sàn Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tườnghoặc xây bằng gạch mộc Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểupháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống làkhiêng, vác, gánh, mang, xách Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng

xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển

Trang 11

1.6 Dân tộc Sán Chay.

Người Sán Chay từ Trung Quốc di cư sang cách đây khoảng 400 năm Là cưdân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo nhưng nương rẫy vẫn có vai trò to lớntrong đời sống kinh tế và phương thức canh tác theo lối chọc lỗ, tra hạt vẫn tồn tạiđến ngày nay Ðánh cá có vị trí quan trọng Với chiếc vợt ôm và chiếc giỏ có homviệc đánh cá đã cung cấp thêm nguồn thực phẩm giàu đạm, góp phần cải thiện bữaăn

Ăn: Người Sán Chay ăn cơm tẻ là chính Rượu cũng được dùng nhiều, nhất

là trong ngày tết, ngày lễ Ðàn ông thường hút thuốc lào Phụ nữ ăn trầu

Mặc: Phụ nữ mặc váy chàm và áo dài có trang trí hoa văn ở hò áo và lưng

áo Thường ngày, chỉ dùng một thắt lưng chàm nhưng trong ngày tết, ngày lễ họdùng 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hay nhiễu với nhiều màu khác nhau

Ở: Người Sán Chay cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta Họ sống trên nhàsàn giống nhà của người Tày cùng địa phương

Phương tiện vận chuyển: Người Sán Chay thường đeo chiếc túi lưới ở saulưng theo kiểu đeo ba lô

1.7 Dân tộc Tày.

Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷthứ nhất trước Công nguyên Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thốnglàm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện phápthuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng Họ cótập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mớidùng dậu gánh thóc về nhà Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu,cây ăn quả Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôithả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình được chú

Trang 12

ý Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo Chợ làmột hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đìnhnào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loạibánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán,bánh trôi, bánh khảo Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến vàcốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộmchàm, hầu như không thêu thùa, trang trí Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánhngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút,nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnhđầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở MaiChâu (Hoà Bình)

Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vìkèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ Xungquanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vàodậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồngkềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo Ngoài ra, họ còn dùng,mảng để chuyên chở

1.8 Dân tộc Thái.

Người Thái có cội nguồn ở vùng Ðông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa củangười Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa

Trang 13

nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương,phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trêncác cánh đồng thung lũng Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụlúa tẻ Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặcbiệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi làlương ăn truyền thống Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi Trênmâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá

hành có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng gọi chung là chéo Hễ có

thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng

non (nặm pịa) Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính

làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi,

đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua,đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng hay uống rượu cần, cất rượu.Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm trengâm, khô nỏ Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanhnhư trước khi ăn

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạchình bướm, nhện, ve sầu chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp vớichiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây

xà tích bạc ở bên hông Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểuchui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vảitrang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng Nữ Thái Ðen đội khănpiêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ Nam người Tháimặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người TháiTrắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải Màu quần áo phổ

Trang 14

biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng Ngày lễ mặc áo đen dài,

xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót Bình thường cuốnkhăn đen theo kiểu mỏ rìu Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay

Ở: ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu

mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần

vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp,hẹp lòng, gần giống nhà người Mường

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dâyđeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếngtrong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én

2 Quan niệm về hôn nhân của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái.

Mỗi dân tộc có một quan niệm riêng về hôn nhâ Nhưng chung quy lại, quanniện hôn nhân đó chủ yếu xoay quanh việc xây dựng gia đình, duy trì và phát triểnnòi giống, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc Ở một số khác là tăng thêm laođộng trong gia đình

Trong xã hội người Tày, do chế độ phụ quyền đã thống trị từ lâu, lại đượccác quan hệ phong kiến củng cố, vì vậy hôn nhân ít khi được thuận theo ý của đôitrai gái mà phải theo ý của bố mẹ Do vậy, hôn nhân nhằm mục đích được quy đinhbởi xã hội gia đình Ơ đây nổi bật lên là lòng mong muốn được duy trì huyết thống

và kế thừa tài sản Hôn nhân đã trở thành việc hệ trọng của gia đình, gia tộc

Còn ở người Thái trước ngày giải phóng,

3 Quan niệm về một gia đình, một lứa đôi hạnh phúc của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái.

4 Nguyên tắc hôn nhân.

Trang 15

Hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân Nguyêntắc này cũng phổ biến ở các dân tộc Tuy nhiên, do tư tưởng trọng nam khinh nữnên ngày xưa, con trai nhà có thế lực có thể được lấy nhiều vợ Hiện nay, ở nhữngvùng sâu, vùng xa, một số gia đình không có con trai, người chồng vấn có thể lấythêm vợ.

Trong xã hội cũ, người Tày cũng có nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.Nhưng vì nền đạo lý phong kiến trọng nam khinh nữ nên nguyên tắc này ít nhiều bị

vi phạm Người không có con trai thường có ý định cưới vợ lẽ và người phụ nữbuộc phải thừa nhận việc đó là chính đáng Không những thế mà còn có nhiệm vụtìm hỏi vợ lẽ cho chồng Nhưng phần lớn, hiện tượng này chỉ rơi vào các tầng lớptrên của xã hội, nhất là những kẻ quyền thế Còn trong nông dân lao động thìthường nhận con của anh em trai minh về nuôi, và phải coi như con đẻ Bất đắc dĩmới phải nhận con nuôi họ khác

Người Lào có hình thức hôn nhân thuận chiều, con trai bên chị em gái đượckhuyến khích lấy con gái bên

5 Các bước trong hôn nhân.

Hầu hết các dân tộc nhóm Tày – Thái đều tiến hành các bước trong hôn nhânrất phức tạp và tốn kém

Chọn mờ (chọn người làm mối), nghi lễ mờ miệng (dạm ngõ, hỏi thăm); nghi lễ kháo tiếng (đặt vấn đề); nghi

lễ ti nòm (ăn hỏi); và nghi lễ ti cháu (lễ cưới).

Để đi đến một cặp hôn nhân xuất phát điểm của các đôi thường bắt đầu từnhững nguồn gốc sau:

Tình yêu đôi lứa là mội xuất phát điểm lý tưởng của một cuộc hôn nhân.Đây là hiện tượng phổ biến ở các dân tộc trên thế giới, các dân tộc nhóm Tày –

Trang 16

Thái cũng không nằm ngoài Tuy nhiên, vẫn có những sự khác biệt trong đó Tùytheo từng dân tộc mà mức độ tự do tìm hiểu trong tình yêu để đi tới hôn nhân có sựkhác nhau

Ở người Thái, trước hôn nhân, nam nữ đến tuổi thành hôn được tự do tìmhiểu

Người Tày cũng vậy, trong các dịp hội hè, đình đám, tết nhất, trong các chợphiên, thường gặp gỡ nhau, tổ chức hát lượn (hát ví) tỏ tình với nhau…Nhiềutrường hợp về sau đã trở thành vợ chồng, nhưng phải được sự đồng ý của cha mẹ

và số mệnh tương hợp Ở một số nơi còn có tục chọc sàn, nam nữ có tục ngủ chung

và tâm tình trước hôn nhân

Riêng ở người Nùng, tuy cũng được tự do tìm hiều, con trai thường tặng quàcho các cô gái bằng những đồ vật do mình làm ra như đòn gánh, giỏ đựng con

bông “hắp lỳ”, con sợi “cỏm lót”, còn các cô gái thường tặng các chàng trai áo, túi

thêu tự làm Nhưng quyền quyết định trong hôn nhân lại do bố mẹ quyết định, giađình xem có môn đăng hộ đối hay không

Nam nữ người Giáy cũng được tự do tìm hiểu và có tục kéo vợ

Trang 17

Do xây dựng trên cơ sở tư hữu tài sản, quan hệ hôn nhân của người Tàymang tính chất mua bán rõ rệt Người ta thường không sao dứt ra được những toantính lợi hại về cơ sở kinh tế và địa vị xã hội, nghĩa là xem xét có môn đăng hộ đốihay không Nhà gái bao giờ cũng mong muốn và tự hào vì con mình đã được gả,làm ăn ở gia đình tương đối khấm khá và nhà trai cũng lấy làm vinh hạnh khi được

cô dân lắm của hồi môn Tính chất mua bán của hôn nhân thường lộ ra trở nêncông khai trong cuộc mà cả giữa đại diện nhà trai và nhà gái Người con gái được

đánh giá bằng các khoản tiền bạc, rượu, thịt, tặng phẩm…Thành ngữ “khai lục

nhình” (bán con gái) rất phổ biến trong người Tày một lân nữa chứng tỏ tính chất

đó

Cưới xin bằng hình thức mua bán là một

Hiện tượng hôn nhân mang tính chất mua bán tương đối phổ biến không chỉriêng các dân tộc nhóm Tày - Thái tuy nhiên hiện nay, do điều kiện kinh tế pháttriển, hiện tượng này cũng đã ít phổ biển

Sau khi đã có được đối tượng cho cuộc hôn nhân, người ta bắt dầu tiến hành

lễ đám cưới chính thức Mỗi dân tộc có một nghi thức ăn hỏi khác nhau Nhữngnghi thức này thể hiện rõ nhất những nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc Cácnghi lễ đám cưới của các dân tộc nhóm Tày – Thái đều mang nhiều nét chung

5.2.1 Ở hai dân tộc Tày và Nùng.

Trong số các dân tộc thuộc nhóm Tày – Thái, có hai dân tộc có những nétvăn hóa rất gần nhau Tục lệ cưới xin của họ gần như là giống nhau Trước đây,các nhà dân tộc học còn xếp họ thành một dân tộc, đó là 2 dân tộc Tày và Nùng Vìvậy khi nghiên cứu về nghi lễ cưới xin, có thể gộp chung hai dân tộc này làm một

Ngày đăng: 05/08/2016, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w