1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận, chuyên ngành Kinh tế chính trị Tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp ở huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng (khóa luận)

108 822 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Các Mác đã chỉ ra rằng đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống đến ngày nay. Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Đặc biệt, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong việc sản xuất hàng nông sản. Để đẩy mạnh việc sản xuất mặt hàng này nhằm tranh thủ ngày càng tốt hơn lợi thế đó của nước ta so với một số nước trong khu vực và trên thế giới thì việc nhận thức tiềm năng đất đai, từ đó có phương hướng sử dụng đất hợp lí là một yêu cầu cấp thiết của thực tiễn. Phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan tâm hàng đầu. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đưa ra chủ trương đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóa VI) khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ và nền kinh tế hàng hóa được thừa nhận. Chính sách đất đai kể từ khi đổi mới đến nay do đó luôn thể hiện sự tích cực điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới, khuyến khích phát triển nông sản hàng hóa, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nêu bật chủ đề: Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, đất đai với tư cách là “tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước thống nhất quản lý” như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định, đang được sử dụng ngày một hiệu quả hơn; đem lại những thành công nhất định trong việc sản xuất nông nghiệp nói riêng và việc phát triển kinh tế xã hội nói chung. Việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cũng nằm trong xu thế chung của cả nước. Là một huyện nằm ở phía Đông Bắc thành phố Hải Phòng, được hình thành chủ yếu do sự bồi lắng phù sa ở các con sông, trước hết là sông Bạch Đằng, huyện Thủy Nguyên có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, đặc biệt là lương thực và thủy sản. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, cùng với những chính sách ưu đãi đối với nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, nhiều diện tích đất được khai phá và sử dụng hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của huyện nhà. Hiện nay, trên địa bàn huyện chỉ còn một diện tích nhỏ thuộc nhóm đất chưa sử dụng. Tuy nhiên, việc sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Thủy Nguyên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Việc sử dụng đất đai cho phát triển nông nghiệp nhìn một cách tổng quát vẫn còn thiếu đồng bộ, mang tính tự phát, đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết như: đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất để họ yên tâm canh tác trên mảnh đất của mình, là cơ sở có thể xác lập một nền sản xuất hàng hóa; vấn đề tập trung ruộng đất để xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn ; vấn đề thực thi chính sách pháp luật về đất đai… Việc nhận thức được tiềm năng đất nông nghiệp của địa phương, đề ra phương hướng sử dụng đất nông nghiệp một một cách hợp lý, hợp quy luật không chỉ trên phương diện lý luận và ma còn cả trên thực tiễn nêu trên sẽ làm cho việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa huyện Thủy Nguyên ngày càng hiệu quả hơn. Từ đó tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa, đem lại hiệu quả kinh tế, góp phần nâng cao đời sống cho người dân; trước hết là những người nông dân. Với mong muốn đó, em chọn đề tài: “Tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp ở huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” để nghiên cứu làm khóa luận, chuyên ngành Kinh tế chính trị.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia, là yếu tốquyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên tráiđất Các Mác đã chỉ ra rằng đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điềukiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sảnxuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không

có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất racủa cải vật chất để duy trì cuộc sống đến ngày nay

Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được.Đặc biệt, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong việc sản xuất hàng nông sản Đểđẩy mạnh việc sản xuất mặt hàng này nhằm tranh thủ ngày càng tốt hơn lợi thế đócủa nước ta so với một số nước trong khu vực và trên thế giới thì việc nhận thứctiềm năng đất đai, từ đó có phương hướng sử dụng đất hợp lí là một yêu cầu cấp

thiết của thực tiễn.

Phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước

ta quan tâm hàng đầu Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đưa ra chủ trương đổimới quản lý kinh tế nông nghiệp và Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóaVI) khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ và nền kinh tế hàng hóađược thừa nhận Chính sách đất đai kể từ khi đổi mới đến nay do đó luôn thểhiện sự tích cực điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới, khuyến khích pháttriển nông sản hàng hóa, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóalớn Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

IX đã nêu bật chủ đề: Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, đất đai với

Trang 2

nhất quản lý” như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã

quy định, đang được sử dụng ngày một hiệu quả hơn; đem lại những thànhcông nhất định trong việc sản xuất nông nghiệp nói riêng và việc phát triểnkinh tế - xã hội nói chung

Việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thànhphố Hải Phòng cũng nằm trong xu thế chung của cả nước Là một huyện nằm

ở phía Đông Bắc thành phố Hải Phòng, được hình thành chủ yếu do sự bồilắng phù sa ở các con sông, trước hết là sông Bạch Đằng, huyện Thủy Nguyên

có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, đặcbiệt là lương thực và thủy sản

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, cùng với những chính sách ưuđãi đối với nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, nhiều diện tích đất được khaiphá và sử dụng hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xãhội của địa phương cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn của huyện nhà Hiện nay, trên địa bàn huyện chỉ còn mộtdiện tích nhỏ thuộc nhóm đất chưa sử dụng

Tuy nhiên, việc sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Thủy Nguyên vẫn chưatương xứng với tiềm năng vốn có của nó Việc sử dụng đất đai cho phát triểnnông nghiệp nhìn một cách tổng quát vẫn còn thiếu đồng bộ, mang tính tự phát,đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết như: đảm bảo lợi ích của người sử dụngđất để họ yên tâm canh tác trên mảnh đất của mình, là cơ sở có thể xác lập mộtnền sản xuất hàng hóa; vấn đề tập trung ruộng đất để xây dựng một nền sản xuấtnông nghiệp hàng hóa lớn ; vấn đề thực thi chính sách pháp luật về đất đai…

Việc nhận thức được tiềm năng đất nông nghiệp của địa phương, đề raphương hướng sử dụng đất nông nghiệp một một cách hợp lý, hợp quy luậtkhông chỉ trên phương diện lý luận và ma còn cả trên thực tiễn nêu trên sẽ làmcho việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa huyện Thủy Nguyên ngày càng hiệu

Trang 3

quả hơn Từ đó tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng một nền nông nghiệphàng hóa, đem lại hiệu quả kinh tế, góp phần nâng cao đời sống cho ngườidân; trước hết là những người nông dân Với mong muốn đó, em chọn đề tài:

“Tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp ở huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” để nghiên cứu làm khóa luận, chuyên ngành Kinh tế chính trị.

2 Tình hình nghiên cứu

Là “tài sản quốc gia” và là một nguồn lực hết sức quan trọng để phát triểnkinh tế - xã hội Đất đai luôn là vấn đề mang tính thời sự Việc khai thác và sửdụng nguồn lực này là một trong những nội dung quan trọng của chiến lượccông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Vấn đề đất đai hiện nay

là vấn đề khá phức tạp, do tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của nó nên đã cónhiều công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ và nhiều góc độ khác nhau như:

Công trình “Kinh tế tài nguyên đất” của Ngô Đức Cát, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2000; “Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong sử dụng hợp

lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, của Hà Huy Thành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; “Sản xuất và đời sống của các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở Đồng bằng sông Cửu Long Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Đình Hương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

Ở góc độ quản lý kinh tế và kinh tế học có các công trình như: Luận án tiến

sĩ: “Các giải pháp kinh tế chủ yếu để khai thác sử dụng hợp lý đất đồi núi trọc ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam”, năm 1996, của Dương Ngọc Thí; Luận án tiến sĩ “Những giải pháp kinh tế tổng hợp nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả vùng đất bãi bồi, mặt nước hoang hóa vùng ven biển Thái Bình”, bảo vệ tại Viện kinh tế học, thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân

văn Quốc gia, năm 2002, của Phạm Ngọc Quân

Ở góc độ Kinh tế chính trị có các công trình đã được bảo vệ tại Học viện

Trang 4

địa tô chênh lệch của Mác - Ăngghen và một số vấn đề nông nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng”, năm 1995, của Nguyễn Văn Mân; Luận văn thạc sĩ “Khai thác nguồn lực đất đai để phát triển nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai”, năm 2000, của Bùi Thị Thuận; Luận văn thạc sĩ: “Khai thác tiềm năng đất đai nông nghiệp để phát triển kinh tế hàng hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, năm 2000, của Nguyễn Tiến Khôi; Luận văn thạc sĩ: “Giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân để phát triển kinh tế hàng hóa ở Quảng Bình”, năm 2002, của Lê Minh Tuynh và Luận văn thạc sĩ: “Sử dụng đất nông nghiệp ở tỉnh Sơn La hiện nay”,

năm 2004, của Hà Công Nghĩa

Bên cạnh đó, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí trong nước Về

cơ bản, các công trình nói trên đã đi vào phân tích, đánh giá thực trạng và đề ranhững giải pháp để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai nhằm đẩymạnh sản xuất nông nghiệp, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóanông thôn nhưng chủ yếu là ở tầm quốc gia và vùng kinh tế hoặc ở các địaphương khác Tuy nhiên, huyện Thủy Nguyên chưa có công trình khoa họcnào dưới góc độ Kinh tế chính trị nghiên cứu vấn đề này Do đó, em mạnh dạnnghiên cứu vấn đề này, với hy vọng góp phần công sức nhỏ bé của mình vàoviệc tìm ra các giải pháp để khai thác tiềm năng đất nông nghiệp trong việcphát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Thủy Nguyên

3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu, khóa luận chỉ ra những căn cứ đánh giáđúng tiềm năng về lượng và chất đất theo khả năng thích hợp với từng mụcđích sử dụng nhằm định hướng cho việc sử dụng quỹ đất đai hợp lí, hiệu quả

và phù hợp với phát triển kinh tế- xã hội của địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

Tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễn ở địaphương về vấn đề sử dụng đất đai để phát triển nông nghiệp ở huyện ThủyNguyên, thành phố Hải Phòng.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình đánh giá, phân bố nguồn lựcđất đai cho phát triển nông nghiệp ở huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiện trạng quỹ đất đang sử dụng và tiềm năng để khai thác quỹ đất đểphát triển lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp của huyện ThủyNguyên ( Hải Phòng) trong giai đoạn từ 2005 đến nay

5 Ý nghĩa của đề tài

Từ việc khảo sát tình hình đất đai ở địa phương, góp phần vào việctriển khai và thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước về sử dụng đất đai vào phát triển nông nghiệp trên cơ sở khai thác và sửdụng triệt để thế mạnh vốn có của địa phương, góp phần vào sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở thành phố Hải Phòng nóiriêng và của đất nước nói chung

Là một công trình có sự gắn kết giữa phân tích lý luận với tổng kết thựctiễn địa phương, khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việchoạch định các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở huyện ThủyNguyên trong những năm tới

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng

- Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử

- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học

Trang 6

- Phương pháp khác: phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tế, sosánh, khái quát vấn đề

7 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,khóa luận được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Tiềm năng đất đai nông nghiệp và những vấn đề lí luận Chương II: Thực trạng tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp ởhuyện Thủy Nguyên giai đoạn từ 2005 đến nay

Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu khai thác tiềm năng đấtđai cho phát triển nông nghiệp ở huyện Thủy Nguyên trong thời gian tới

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

Chương I

TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Tiềm năng đất đai nông nghiệp và những tiêu chí đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Đất đai nông nghiệp

Đất đai là một nguồn lực quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế

-xã hội, là một trong những thành phần chủ yếu của môi trường sống (đất,nước, không khí ), đồng thời là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các

cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Hội nghị lần thứ bảy BanChấp hành Trung ương khoá IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định:

“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,

là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước” [7, tr.61].

Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều có nền sản xuất xã hội với điểmxuất phát là sản xuất nông nghiệp, trong đó có Việt Nam - vốn là một quốc gia

có nền văn minh lúa nước đậm nét với hoạt động sản xuất nông nghiệp truyềnthống chủ yếu là canh tác lúa nước Cũng do đặc điểm này mà theo quan niệmthông thường, sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường được hiểu theo nghĩahẹp, đó là việc trồng lúa hay trồng cây hàng năm Đất nông nghiệp, vì vậy chỉhiểu được đơn thuần là ruộng đất, nương rẫy hoặc đất vườn Tuy nhiên, ở góc

độ tiếp cận chính thống về mặt quản lý nhà nước và các chương trình phát triểnkinh tế, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm đất nôngnghiệp cũng vì thế mà được mở rộng hơn về thành phần

Điều 42 Luật đất đai năm 1993 của Việt Nam quy định: “Đất nông

Trang 8

trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” [18, tr.30] Trên cơ sở khái niệm đó các văn bản pháp luật ngày càng đi

vào xác định một cách cụ thể hơn các hình thức đất đai thuộc nội hàm đất nôngnghiệp Theo quy định tại điều 13 Luật Đất đai năm 2003, nhóm đất nôngnghiệp bao gồm các loại đất:

- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chănnuôi, đất trồng cây hàng năm khác;

- Đất trồng cây lâu năm;

- Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ [19, tr.20]

Như vậy, đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuấtnông nghiệp Nông nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cácngành nông, lâm, ngư nghiệp và diêm nghiệp Nói cách khác, đây là nền nôngnghiệp toàn diện với trình độ sản xuất ngày càng được nâng lên theo sự pháttriển của lực lượng sản xuất Nó là kết quả của một quá trình mang tính lịchsử

Con người trong quá trình tiến hóa của mình đã biết tạo ra lương thực,thực phẩm thông qua việc trồng trọt, chăn nuôi trên những thửa đất thích hợp,biết khai thác rừng để lấy lâm sản phục vụ cuộc sống Trình độ phát triển củanhân loại ngày càng cao thì tính chất của các hoạt động ấy cũng biến đổi theo

và mang tính chủ động hơn, con người không chỉ khai thác mà còn biết tácđộng trở lại tự nhiên nhằm tái tạo tự nhiên, không chỉ sử dụng đất trồng trọtsẵn có mà còn mở rộng khai hoang để tăng diện tích; trồng thêm đồng cỏ để

Trang 9

chăn nuôi; trồng rừng để tái tạo nguồn động thực vật; khai thác sử dụng mặtnước tự nhiên để nuôi trồng thủy sản Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sảnxuất chủ yếu đóng vai trò là môi trường sinh trưởng và phát triển không thểthiếu được của cây trồng và vật nuôi Đất đai nông nghiệp rất đa dạng vềchủng loại và chất lượng, tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng vùng Chấtlượng của đất nông nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất của

ngành nông nghiệp Theo C.Mác “Mặc dù tính chất phì nhiêu ấy là một thuộc tính khách quan của đất, nhưng về mặt kinh tế thì bao giờ nó cũng bao hàm một mối quan hệ nhất định, mối quan hệ với trình độ phát triển nhất định của hóa học

và của cơ khí trong nông nghiệp và vì vậy mà nó thay đổi theo trình độ phát triển ấy” [20, tr.296]

Khi nói đất nông nghiệp, người ta nói đất được sử dụng chủ yếu vào sảnxuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì trên thực tế có trường hợp đất đai được sửdụng vào các mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất đaiđược sử dụng chủ yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới đượccoi là đất nông nghiệp nếu không là các loại đất khác (tùy vào việc sử dụng mụcđích nào là chính) Tuy nhiên để sử dụng đầy đủ, hợp lí ruộng đất, trên thực tếngười ta coi đất đai có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp màkhông cần có sự đầu tư lớn nào cả là đất nông nghiệp dù nó đã được đưa vào sảnxuất nông nghiệp hay chưa

Đất đai nông nghiệp là đất tươi xốp của vỏ Trái Đất có độ dày mỏngkhác nhau, có những đặc tính lí, hóa, sinh học khác nhau, từ đó có khả năngsản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp khác nhau Nguồn gốc của đất là đá mẹ.Dưới tác động của vòng đại tuần hoàn địa chất và tiểu tuần hoàn sinh vật, cácloại đất đá bị phá hủy và hình thành nên đất Trải qua thời gian cùng với sựtiến hóa và phát triển của giới sinh vật, chất hữu cơ của chúng đã tạo ra thành

Trang 10

vùng địa lí và sinh thái khác nhau hình thành nên các loại đất với độ phì nhiêukhác nhau bởi các yếu tố hình thành và hoạt động của con người.

Trong lịch sử, các quan hệ về đất đai chuyển dần từ quan hệ khai thác,chinh phục tự nhiên sang các quan hệ kinh tế - xã hội về sở hữu và sử dụng Vịthế quan trọng của đất đai làm cho quan hệ đất đai trở thành quan hệ phản ánhlợi ích giai cấp một cách rõ nét

1.1.1.2 Tiềm năng đất đai nông nghiệp

Tiềm năng là những nguồn lực tiềm tàng, là những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến

Từ cách hiểu đó ta thấy tiềm năng đất đai nông nghiệp là nguồn lực đấtđai, thế mạnh của đất nông nghiệp chưa được khai thác, chưa được biết đến vànếu có phương hướng sử dụng hợp lí sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Đối với đấtchưa sử dụng là khả năng áp dụng các biện pháp cải tạo và mức độ đầu tư đểbiến tiềm năng đó vào mở rộng sản xuất nông sản hàng hóa

1.1.2 Những tiêu chí cơ bản để đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp

1.1.2.1 Những tiêu chí cơ bản để đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp Một là, khả năng thích hợp của đất đai với cây trồng, vật nuôi.

Đánh giá mức độ thích hợp đất cho (land sutability): là quá trìh xácđịnh mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vịđất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dực trên so sánh yêu cầu sử dụng đất vớicác đơn vị đất

Thổ nhưỡng Việt Nam mang tính nội chí tuyến gió mùa, tính nhiệt đới

ẩm gió mùa thể hiện trong quá trình hình thành đất feralit đỏ vàng các loại Thổnhưỡng nước ta không những đa dạng về loại hình, phức tạp về tính chất mà còn

có sự phân hóa không gian địa đới và phi địa đới Tính chất của đất được thể

Trang 11

lượng đam, lân, kali có trong đất, tính đẹm, mức độ phân giải CHC, khả năngtrao đổi cation, độ dày của lớp đất và một số các chỉ tiêu khác.

Ở Việt Nam có 6 loại đất chính: nhóm đất cát biển, nhóm đất mặn,nhốm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám, nhóm đất đỏ Mỗi loại đất cótính chất không giống nhau, không có loại đất nào là hoàn toàn tốt và cần phảicải tạo, đầu tư hợp lí Mỗi loại đất sẽ phù hợp với tùng loại cây trồng nhấtđịnh, cho năng suất và hiệu quả cao

Đất phù sa phù hợp với các loại cây trồng ngắn ngày chủ yếu là: lúanước.Trung du và miền núi chủ yếu tập trung đất badan và feralit, phù sa cổ phùhợp với các loại cây công nghiệp như: chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều…và sựphân bố của các loại cây này còn phụ thuộc vào khí hậu mà chủ yếu là độ cao

Ngoài diện tích đất bề mặt , nước ta còn có một bộ phận lớn đất ngậpnước: các đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch, rừng ngâp mặn, các vũng, vịnh venbiển, hồ nước nhân tạo…với nhiều vai trò quan trọng khác nhau Đây là nơicung cấp nhiên liệu, thức ăn, giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồngen quý hiếm…ngoài ra nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nướcthải, điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), sản xuất nông nghiệp vàthủy sản, điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ổn định mạchnước ngầm cho nguồn sản xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, cứ trú củachim, giải trí, du lịch,….Nhiều nơi đã tăng hiệu quả sử dụng đất ngập nướctrong nuôi trồng thủy hải sản: nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, bánthâm canh và thâm canh công nghiệp như đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau,Bạc Liêu, Bến Tre, An Giang,…Như vậy đánh giá được đặc điểm và tính chấtcủa đất sẽ là cơ sở đề lựa chọn giống cây trồng vật nuôi phù hợp và cho năngsuất, sản lượng cao nhất

Hai là, khả năng mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cho

Trang 12

Đó là so sánh lợi nhuận có được và mức đầu tư cần thiết cho từng kiểu

sử dụng đất đai khác nhau Có những vùng đất chỉ thích hợp với chăn nuôigia sú, có những khu vực chỉ phù hợp cho trồng lúa Có những vùng phù hợpvới cả trồng cây lương thực và trồng màu nhưng nếu trồng màu sẽ mang lạihiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều với cùng một định mức đầu tư

Có thể nói nắm bắt được đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong phát triểnnông nghiệp nhất là nền nông nghiệp hàng hóa khi mà diện tích đất đai ngày càngthu hẹp, sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường về chất lượng, giá cả, mẫu mã

Ba là, nền tảng bền vững.

Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường không chỉ còn là chủtrương của Đảng, Nhà nước mà nó thực sự đã trở thành yêu cầu của bản thâncác chủ thể trong sản xuất nông nghiệp Nền tảng của phát triển bền vững làbảo vệ môi trường, môi trường đất, nước, không khí , cũng chính là bảo vệcuộc sống của chính con người Những hầm lượng chất kính thích, thuốc trừsâu, phân bón hóa học còn đọng lại trên đất làm cho đất ngày càng bi hoanghóa, bạc màu Dư lượng thuốc ấy còn theo thực phẩm vào con người gâynhững hậu quả nghiêm trọng, những căn bệnh ung thư, bệnh lạ mà không thểlường trước hết được

Việt Nam còn khoảng 9 triệu ha đất bị hoang hóa( chiếm khoảng 28% tổngdiện tích đât đai trên toàn quốc) trong đó có 5.06 triệu ha chưa sử dụng( quyếtđịnh 272/QD-Ttg ngày 27/2/2007) và 2 triệu ha đang sử dụng bị thoái hóa nặng

Diện tích đất chưa sử dụng cả nước tập trung chủ yếu ở các vùng ĐôngBắc (1.392.508ha), Tây Bắc(1.343.826 ha), duyên hải Nam Trung Bộ(1.010.101ha), Bắc Trung Bộ( 685.447 ha), Tây Nguyên( 519.579 ha) Tại 3 vùngcòn lại, diện tích đất chưa sử dụng chỉ chiếm 2,26% tổng diện tích chưa sử dụng

Rõ ràng từ thực tế trên cho thấy nếu có thể cải tạo được diện tích đấtchưa sử dụng trên, đặc biệt là ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc nước ta sẽ có thêm

Trang 13

diện tích để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi, tạo điều kiện cho phát triển nôngnghiệp mà lại góp phần bảo vệ môi trường sống của chính mình

Bốn là, vị trí của khu vực, vùng đất.

Vị trí của khu vực, vùng có diện tích đất chưa sử dụng cũng góp phầnđánh giá tiềm năng đất đai, trong đó có đất nông nghiệp

Ông cho rằng “…khi khai phá đất hoang ở một nước, người ta cũng có thể

đi từ những đất tốt hơn đến những đất xấu hơn, hoặc ngược lại” [20, tr.295] là bởi vì “Một khoảnh đất có thể ở vào một vị trí rất tốt nhưng đồng thời lại rất ít màu mỡ và ngược lại” [20, tr.295] Vị trí tốt của đất nông nghiệp được hiểu là

gần thị trường tiêu thụ hoặc ở nơi có hạ tầng giao thông phát triển, gần khu dân

cư, thuận tiện cho việc xây dựng hệ thống tưới tiêu, thậm chí có vị trí địa chínhtrị Do đó sẽ xác lập được ưu thế cho hoạt động sản xuất kinh doanh vì giảm đượcchi phí lưu thông nông sản hàng hóa Vị trí thuận lợi khác nhau của các mảnh đất

là một trong hai nguyên nhân chính hình thành nên địa tô chênh lệch I Tuynhiên, vị trí của đất đai có thuận lợi hay không đối với sản xuất nông nghiệp hànghóa chỉ có tính chất tương đối và mang tính lịch sử do sự tiến bộ của nền sản xuất

xã hội có tác dụng san bằng các chênh lệch về hiệu quả Sự phát triển của giaothông vận tải có thể làm thay đổi trật tự thuận lợi ấy

Năm là, khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật.

Vị trí thuận lợi, diện tích lớn song nếu khu vực, vùng đất đó gặp khókhăn cho việc áp dụng khoa học và công nghệ thì tiềm năng đất đai cũngkhông cao

Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam có diện tích đất chưa sử dụngvào loại lớn nhất nước ta, đất đai phần lớn là đất feralit màu mỡ rất thuận lợicho trồng cây công nghiệp và một số rau màu ôn đới Song do địa hình hiểmtrở, đối núi dốc, dễ xói mòn, giao thông vận tải khó khăn, dân cư thưa thớt nên

Trang 14

ta cũng có chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới song đó chưa thực sự thu hútđược người dân đi khai hoang, phát triển kinh tế

Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích đất chưa sử dụng không lớn nhưng

do có địa hình bằng phẳng, hệ thống tười tiêu thuận lợi nên những năm gầnđây nhờ sự quan tâm của các cấp chính quyền và nỗ lực của người dân địaphương mà diện tích đất chua, đất phèn đã giảm mạnh nhờ việc áp dụng tổnghợp các biện pháp thau chua rửa mặn kết hợp với bón phân, bón vôi

1.1.2.2 Tiềm năng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Về các nhóm đất chính ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đất đai có thể chia thành nhiều nhóm đất Mỗi loại đất, tùyvào nguồn gốc hình thành, cấu tạo hữu cơ, đặc điểm riêng mà phù hợp với câytrồng, vật nuôi khác nhau Việc đánh giá đúng đặc điểm cũng như tiềm năngđất đai có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế mà trước hết là tronglĩnh vực nông nghiệp

* Nhóm đất cát biển (533.44ha)

Được hình thành dọc ven biển, phần lớn là ven biển miền Trung Có thểchia thành 3 loại:

- Đất cồn cát trắng, vàng (Luvic Arenosols): 222.043ha

- Đất cồn cát đỏ (Rhodic Arenosols): 76.886ha

- Đất cát biển(Haplic Arenosols): 243.505ha

Hình thành trên các giồng cát biển, có địa hình cao nghiêng thoải vào trongđất liền, thành phần chủ yếu là cát mịn có lẫn thân lá cây mục trên mặt, có thànhphần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước kém, địa hình dốc nhẹ, dễ thoát nước Hàmlượng các chất dinh dưỡng đều nghèo, không bị nhiễm mặn, phèn Phù hợp đốivới việc trồng các loại cây trồng cạn, rau màu và cây ăn quả có giá trị nếu có khảnăng đầu tư tốt

* Nhóm đất mặn (971.356ha)

Trang 15

- Đất mặn sú, vẹt, đước (Gleyic Salic Fluvisols): 105.318ha

- Đất mặn nhiều (Hapli Salic Fluvisols): 133.288ha

- Đất mặn trung bình và ít (Molli Salic Fluvisols): 732.584ha

Đất mặn được hình thành và phát triển trên các trầm tích biển, sông biểnhỗn hợp và trầm tích biển đầm lầy, tuổi Holocence Đất chịu ảnh hưởng mặncủa nước biển do thủy triều hoặc mặn ngầm mao dẫn Đất có phản ứng trungtính đến kiềm yếu, hàm lượng Cl- và tổng số muối tan cao, đất bị nhiễm mặn từdưới sâu lên đến tầng mặt Hàm lượng chất hữu cơ tầng mặt khá và giảm theo

-*Nhóm đất phù sa (3.400.059ha)

- Đất phù sa trung tính ít chua (Eutric Fluvisols): 225.987ha

- Đất phù sa chua ( Distric Fluvisols): 1.665.892ha

- Đất phù sa glây (Gleyic fluvisols): 1.011.180ha

- Đất phù sa có tầng đốm gỉ (Cambic Fluvisols): 500.000ha

Đất được hình thành từ các trầm tích trẻ Aluviven của sông rạch lớn, có

Trang 16

thành phần cơ giới nặng Một phần diện tích đất phù sa đã được cung cấp nướcngọt ổn định rất thích hợp cho việc trồng lúa cao sản, thâm canh tăng vụ vàtrồng xen các loại hoa màu, cây ăn quả khác.

*Nhóm đất xám (19.970.642ha) chiếm đến gần 2/3 diện tích cả nước

- Đất xám bạc màu ( Haplic Acrisols): 1.791.021ha

- Đất xám có tầng loang lổ ( Plinthic Acrisols): 221.369ha

- Đất xám glây ( Gleyic Acrisols): 101.471ha

- Đất xám Feralit (Ferralic Acrisols) 14.789.500ha

- Đất xám mùn trên núi (Humic Acrisols): 3.139.285ha

*Nhóm đất đỏ (3.014.549ha)

- Đất nâu đỏ ( Rhodic Ferralsols): 2.425.288ha

Phát triển trên bazan, thường có tầng phong hóa dày, cấu trúc đoàn lạpviên rõ, độ xốp cao, dung trong thấp Có TPCG nặng, hàm lượng limon thấp,sét cao, phản ứng của đất chua, độ no bazơ thấp, nhưng có nhiều đặc điểm tốtnhư đất dày, tơi xốp, nhiều mùn

- Đất nâu vàng ( Xanthic Ferralsols): 429.059 ha

Đất có phản ứng chua, độ no bazơ thấp, nghèo mùn, đạm và kali tổng sốhơi nghèo, lân tổng số trung bình, riêng đất nâu vàng phát triển trên đá vôi thìkém tơi xốp hơn, rất chua (pH = 4,0 – 4,5) và có tầng đất không dày

- Đất mùn vàng đỏ trên núi ( Humic Ferralsols):118.247ha

Đất có phản ứng chua vừa đến ít chua, hàm lượng lân nghèo đến trungbình, kali tổng số trung bình khá, khả năng trao đổi cation thấp, CEC <16me/100g sét, nghèo cation kiềm trao đổi, tỉ lệ limon/sét < 0,2: Mức độ Feralityếu hơn đất nâu vàng và không điển hình

* Nhóm đất nhân tác

Đất nhân tác là đất có ảnh hưởng tác động của con người, bị xáo trộn doquá trình lập liếp phục vụ canh tác các loại cây trồng hoặc sử dụng cho các

Trang 17

mục đích khác, phân bố tập trung dọc theo các kênh rạch, các trục lộ giaothông lớn và các khu dân cư tập trung Đất nhân tác thường được sử dụng đểđào ao nuôi trồng thủy sản Đất có lớp phủ thổ nhưỡng dày hơn 150 cm

Dựa theo phương pháp “Đánh giá khả năng thích nghi đất đai” (Landsuitability evaluation) của tổ chức Lương nông thế giới (FAO) vào các năm

1976, 1983, 1996, khả năng thích nghi đất đai của nước ta có thể được phânchia theo 4 mức thuộc 2 nhóm: thích nghi và không thích nghi thông qua việc

đánh giá yêu cầu đất đai của các loại sử dụng đất (land use type - LUT), có

nghĩa là đánh giá mức độ đòi hỏi về các điều kiện tự nhiên của các loại sử

dụng đất Do điều kiện sinh thái tự nhiên khác biệt nhau , yêu cầu đất đai của

các loại sử dụng đất được phân lập riêng theo từng vùng Có 12 loại sử dụngđất có triển vọng đã được lựa chọn để phân tích Trong đó bao gồm:

Loại sử dụng đất trồng cây nông nghiệp, có 8 LUT:

Lúa 3 vụ có tưới (hoặc 2 vụ lúa + 1 vụ màu);

Lúa 2 vụ có tưới (hoặc 1 vụ lúa + 1 vụ màu);

Lúa 2 vụ có tưới + Cá đồng;

Lúa 1 - 2 vụ cao sản nhờ mưa;

Lúa 1 - 2 vụ nhờ mưa (hoặc 1 vụ lúa + 1 vụ màu);

Lúa 1 vụ nhờ mưa + Nuôi thủy sản nước lợ;

Khóm + Tôm sú;

Cây ăn quả, chuyên rau màu

Loại sử dụng đất nuôi trồng thủy sản, có 1 LUT:

Chuyên nuôi tôm (ở các dạng: quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh)

Loại sử dụng đất lâm nghiệp, có 2 LUT:

Rừng ngập mặn;

Rừng ngập mặn (+ Nuôi tôm quảng canh cải tiến)

Trang 18

Làm muối (+ Nuôi tôm quảng canh cải tiến).

Về vùng đất chuyên canh

Quy hoạch nông nghiệp là quy hoạch tổng thể, nó bao gồm tổng hợpnhiều nội dung hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội và môitrường có liên quan đến vấn đề phát triển con người trong các lĩnh vực hoạtđộng ở khu vực nông nghiệp và nông thôn

Quy hoạch vùng chuyên canh là việc bố trí về mặt không gian và thờigian cho vùng trên cơ sở các nguồn lực thực tế của vùng để có thể hướng tớicác mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của vùng

Để triển khai chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt(VietGAP) cho các sản phẩm nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhmột số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến sản phẩm nông nghiệp cho cácvùng chuyên canh sản xuất rau, quả, trà an toàn của 16 tỉnh, thành phố (giaiđoạn 2009 - 2015)

Với nội dung này, các tỉnh thành trong cả nước đã triển khai chươngtrình lập dự án nông nghiệp về quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp an toàn.Theo đó, khi các vùng chuyên canh sản xuất rau, quả, trà an toàn được hìnhthành, nhà nước sẽ hỗ trợ giống và cơ sở hạ tầng cho các vùng chuyên canhnày Để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, Cục Trồng trọt cũng liên kết với doanhnghiệp và nông dân để bao tiêu sản phẩm

Hiện nay cả nước đã hình thành các vùng chuyên canh nông nghiệp antoàn như: vùng trà an toàn tại Lâm Đồng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Sơn La;vùng chuyên canh rau an toàn tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Vĩnh Phúc…

Về diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp

Cho đến nay nước ta vẫn là nước nông nghiệp Sản xuất và xuất khẩunông sản, trong đó có xuất khẩu gạo vẫn là một thế mạnh Nhưng tốc độ đô thịhóa nhanh như hiện nay không ai dám đảm bảo thế mạnh ấy sẽ được bảo tồn

Trang 19

Cùng với nguy cơ về biến đổi khí hậu, việc thu hẹp đất nông nghiệp do đô thịhóa vô tổ chức đã trở thành một nguy cơ nhãn tiền, không chỉ là mất an ninhlương thực mà còn đe dọa đến cuộc sống hàng chục triệu nông dân, sẽ gâynhững bất ổn xã hội khó lường.

Nghị quyết 26 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệpnông dân và nông thôn đặt “tam nông” là vấn đề chiến lược hệ trọng của đấtnước và là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị Quyết tâm chính trịnày phải được đi vào cuộc sống, trong đó có một việc không thể không làm làquy hoạch lại việc sử dụng đất một cách khoa học

Theo báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ2001-2010 của Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường): Năm

2010 đất nông nghiệp của cả nước có 26.226.000 ha, trong đó đất sản xuấtnông nghiệp là 10.126.000 ha, tăng 556.000 ha so với năm 2000 Diện tích đấtsản xuất nông nghiệp không những không giảm mà còn cao hơn chỉ tiêu đượcgiao Đây là cố gắng lớn của các địa phương trong việc duy trì, bảo vệ và pháttriển quỹ đất

Riêng đất trồng lúa nước thời kỳ 2001-2010, chỉ tiêu Quốc hội duyệtcho phép giảm 407.000 ha, kết quả thực hiện trong 10 năm chỉ giảm 270.000

ha Như vậy, nhìn chung diện tích lúa nước của cả nước vẫn đáp ứng yêu cầu

an ninh lương thực Song tại một số địa phương tốc độ giảm diện tích đất trồnglúa tương đối nhanh, như các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ,Đồng bằng sông Cửu Long do chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp và

đô thị, hoặc chuyển sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả

Đất trồng lúa nước tuy có giảm nhưng năng suất lúa của Việt Nam vẫntiếp tục tăng Như vậy, công tác quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất trong 10 năm vừa qua ngày càng đi vào thực chất, góp phần tích cực

Trang 20

và có hiệu quả rõ nét Tuy vậy, chất lượng dự báo nhu cầu quỹ đất cho pháttriển các ngành, các lĩnh vực khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa sátthực tế, dẫn tới tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa quỹ đất

Một số địa phương chưa thực hiện đúng chủ trương sử dụng tiết kiệmđất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa nước, nên vẫn còn tình trạng quy hoạch

sử dụng đất phi nông nghiệp trên đất sản xuất nông nghiệp có năng suất cao,thậm chí trên đất chuyên thâm canh lúa nước, trong khi ở địa phương vẫn cònnhiều quỹ đất khác Việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp, khu đôthị nhiều nơi còn dàn trải, có không ít địa phương tỷ lệ lấp đầy còn dưới 60%song vẫn đề nghị mở thêm nhiều khu, cụm công nghiệp khác

Vì vậy, trong giai đoạn tới Nhà nước cần phải có các giải pháp đầu tư vềthủy lợi để có thể khai thác 250-300 nghìn ha đất chưa sử dụng cho mục đíchtrồng lúa, để bổ sung diện tích đất lúa phải chuyển sang các mục đích phi nôngnghiệp; đồng thời đẩy mạnh đầu tư thâm canh chuyển đổi cơ cấu giống lúa,nâng cao hệ số sử dụng đất trồng lúa từ 1,82 lên 1,92 lần và đưa năng suất lúađạt 62 tạ/ha Phấn đấu đến năm 2030, sản lượng lương thực của nước ta có thểđạt 46-49 triệu tấn, trong đó có 43-44 triệu tấn lúa, bảo đảm đủ lương thực cho110-115 triệu dân với mức bình quân trên 350kg/người/năm

1.1.3.Những đặc điểm của tiềm năng đất đai nông nghiệp

1.1.3.1 Đất nông nghiệp là sản phẩm của tự nhiên.

Là một dạng tài nguyên thiên nhiên, đất nông nghiệp cũng như đất đai nóichung được hình thành do quá trình phong hóa các loại đá dưới sự tác động củacác yếu tố tự nhiên như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, sinh vật,… phổ biến là quátrình phong hóa hóa học, quá trình phong hóa vật lý chỉ diễn ra ở những vùng khôhạn kéo dài Ở Việt Nam, điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa kết hợp với địahình có mạng lưới sông suối dày đặc chia cắt đã thúc đẩy quá trình phong hóahóa học diễn ra mạnh mẽ Nhìn chung các loại đá gốc tham gia quá trình phong

Trang 21

hóa ở nước ta có độ tuổi khác nhau, thuộc cả nguyên đại Cổ sinh (kỷ đệ nhất) vàTrung sinh (kỷ đệ nhị) Do đó sản phẩm phong hóa của chúng tức là đất đai cũng

có sự khác nhau về tính chất và cơ bản đuợc hình thành trong nguyên đại Tânsinh (kỷ đệ tam và đệ tứ)

Tuy nhiên, lực lượng tự nhiên dù có chứa đựng khả năng phục vụ cuộcsống tốt đến đâu đi nữa cũng chỉ phát huy hiệu quả khi có sự tác động của hoạtđộng có mục đích của con người Tác động lâu dài của con người biểu hiệndưới hàng loạt các hoạt động sản xuất đã biến hệ thống tự nhiên thuần túythành một hệ thống tự nhiên - kỹ thuật Đất đai được sử dụng vào mục đíchphát triển nông nghiệp, ngoài những đặc tính tự nhiên của nó thuận lợi choviệc canh tác thì nhất thiết phải có hoạt động khai khẩn của con người để biếnnhững mảnh đất hoang thành đất trồng trọt Quá trình khai khẩn có thể diễn ra

ở các mức độ thuận lợi hay khó khăn khác nhau tùy theo các điều kiện tự nhiêncủa khu vực đó quy định nhưng đều có sự kết tinh lao động của con người Vì

vậy C.Mác khẳng định rằng: “Tuy có những thuộc tính như nhau nhưng một đám đất được canh tác có giá trị hơn là một đám đất bỏ hoang” [20, tr.248].

Trong giai đoạn tiền kỹ thuật của xã hội loài người, sự chinh phục tựnhiên không phải dễ dàng Nếu trong giai đoạn hiện nay với tầm hiểu biết sâurộng về thế giới tự nhiên, với sự hỗ trợ của nhiều phương tiện kỹ thuật hiệnđại, con người vẫn rất vất vả khi đối mặt với những thách thức của thiên nhiên,thì trước đây bám trụ được với thiên nhiên để sinh tồn còn khó khăn gấp bội.Điều đó cho thấy xã hội loài người phát triển cho đến ngày nay là kết quả củarất nhiều công sức đổ vào công cuộc chinh phục tự nhiên mà điển hình là sứclao động kết tinh vào đất đai để nó trở thành đất nông nghiệp tạo ra lương thựcthực phẩm nuôi sống con người

Thậm chí, đất đai của một đất nước, một dân tộc có thể phải trải qua các

Trang 22

Như vậy đất đai không chỉ đơn thuần là sản phẩm của tự nhiên, mang nhữngtính chất tự nhiên mà đất đai, theo đúng nghĩa của nó, tức là có thể phục vụ đượccho cuộc sống của con người, còn in đậm những dấu ấn của con người trong suốtchiều dài lịch sử khai thác và sử dụng.

Ở Việt Nam hiện nay, những hoạt động mở rộng diện tích đất nông nghiệpthông qua các chương trình khai hoang, phục hóa đi đôi với cải tạo đất đai, thựchiện thâm canh ruộng đất nhằm nâng cao năng lực sản xuất của đất nông nghiệptiếp tục phản ánh sự kết tinh lao động của con người vào đất đai nhưng với hàmlượng ngày càng cao theo trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật Nếu chỉ làsản phẩm tự nhiên thuần túy, thì đất đai không có giá trị C.Mác khẳng định:

“Thác nước, cũng như đất đai nói chung, cũng như mọi lực lượng tự nhiên, không có giá trị nào cả, vì không có một lao động nào được vật hóa ở trong nó;

do đó, nó cũng không có giá cả” [20, tr.290] Ông cho rằng cái giá cả mà chủ đất

sẽ thu được khi bán thác nước chẳng qua chỉ là địa tô đã tư bản hóa

Đất đai là thành phần quan trọng của môi trường sống, nó vừa là sảnphẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động Đất đai vốn là sản phẩm tựnhiên, không ai làm ra đất đai và không ai có quyền chiếm hữu đất đai choriêng mình, vì như C.Mác đã nói người ta chỉ có thể chiếm hữu cái người talàm ra mà thôi Nhưng đất canh tác còn là sản phẩm của lao động, vì chính conngười khai phá đất đai và trải qua nhiều thế hệ canh tác mà làm cho đất đaingày một tốt hơn, do đó nó trở thành đối tượng sở hữu Đất đai là sự kết tinhsức lao động và các yếu tố tự nhiên để nuôi dưỡng cây trồng, vật nuôi

Đất nông nghiệp không giống với những lực lượng tự nhiên khác ở chỗ nó

có sự kết tinh sức lao động của con người, do đó đất nông nghiệp có giá trị Giáđất về thực chất chính là địa tô do đất đai mang lại trong một số năm nhất định

Vì vậy, đất đai là một dạng hàng hóa đặc biệt - hàng hóa về quyền sử dụng đất

Trang 23

Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sởhữu Như vậy về mặt chiếm hữu, đất đai thuộc sở hữu của toàn dân vì đất đai làtài sản của cả dân tộc, để có được tài sản này đã biết bao thế hệ người Việt Namphải đổ mồ hôi và xương máu để cải tạo và gìn giữ Việc tư hữu hoá đất đai sẽcản trở những chương trình, mục tiêu quy hoạch lớn phục vụ cho quốc kế dânsinh và dẫn đến phân hoá giai cấp Do đó việc không chấp nhận chế độ tư hữuđất đai chính là xuất phát từ lợi ích chung của toàn dân tộc Tuy nhiên đểkhuyến khích việc đầu tư thâm canh ruộng đất, nâng cao năng suất nông nghiệp,quyền sử dụng được trao cho các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.

Điều 5 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định” [19, tr.13].

Việc giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cùng với việc mở rộng cácquyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp và góp vốnbằng giá trị quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh đã phát huy tác dụng tolớn trong việc khuyến khích các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp tập trung đầu

tư vào đất đai, bảo vệ, khai thác và sử dụng đất một cách hợp lý, có hiệu quả.Nói cách khác, sự kết tinh sức lao động vào đất đai nông nghiệp ngày càngtăng dẫn đến việc tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội

1.1.3.2 Đất nông nghiệp có vị trí cố định và gắn liền với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, thủy văn từng vùng nhất định và do đó mỗi vùng đất chỉ thích hợp với từng loại cây, con nhất định

Đất nông nghiệp cũng như đất đai nói chung cấu thành nên bề mặt của tráiđất, chúng có vị trí cố định, không thể di chuyển được theo ý muốn của conngười Con người muốn sử dụng đất sản xuất lương thực, thực phẩm phục vụ chocuộc sống thì phải định cư tại những vùng đất thuận lợi cho việc phát triển nông

Trang 24

Điều này giải thích tại sao các nền văn minh cổ xưa trên thế giới thường đượchình thành ở những vùng hạ lưu các con sông lớn, là những nơi có điều kiệnthuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, tiêu biểu như các nền văn minh sôngNil ở Ai Cập, sông Ấn, sông Hằng ở Ấn Độ, sông Hoàng Hà ở Trung Quốc Ởcác vùng đất trù phú dễ canh tác, ít bị thiên tai sẽ hình thành nên những điểmquần cư và ngày càng được mở rộng dần ra các khu vực xung quanh

Ở các khu vực khác nhau trên thế giới, các điều kiện tự nhiên có sựkhác biệt Đặc điểm này cũng quy định tính đa dạng của nguồn động thực vật

và năng suất cây trồng, vật nuôi của các châu lục, các quốc gia hay các vùngkhác nhau trong mỗi quốc gia Trong nền sản xuất hàng hóa những điều kiệnnày rất quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành các vùng nông nghiệp chuyênmôn hóa, thúc đẩy sản xuất đi vào chiều sâu mang tính chất chuyên canh.Ngoài ra , địa hình của đất nông nghiệp còn là những nhân tố kinh tế quan

trọng Theo C.Mác thì vị trí của các khoảnh đất “… có ý nghĩa quyết định trong trường hợp các đất di dân khai khẩn và nói chung có ý nghĩa quyết định đối với trình tự theo đó các khoảnh đất có thể lần lượt được canh tác” [20,

tr.295] Vì vậy, muốn khai thác tiềm năng đất đai nông nghiệp nhằm đem lạihiệu quả kinh tế cao phải nghiên cứu, nắm được điều kiện tự nhiên của từngvùng, từ đó bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp

1.1.3.3 Đất nông nghiệp có giới hạn về mặt số lượng và không đồng nhất về mặt chất lượng

Về mặt số lượng, đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên thiên nhiên có

giới hạn vì nó chỉ là một bộ phận của đất đai cấu thành vỏ trái đất Trong mộtquốc gia thì nó là một bộ phận của đất đai bị giới hạn bởi ranh giới lãnh thổcủa quốc gia đó Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại một cách kháchquan, con người chỉ có thể sử dụng đất phục vụ cho những mục đích khác

Trang 25

nhau của mình chứ không thể tạo ra nó Trái đất mặc dù có diện tích rất lớnnhưng diện tích đó cũng chỉ là một con số hữu hạn.

Theo V.I.Lênin, có hai loại độc quyền trong nông nghiệp đó là độcquyền kinh doanh ruộng đất và độc quyền sở hữu ruộng đất Sự giới hạn vềmặt số lượng của đất nông nghiệp gắn với độc quyền kinh doanh ruộng đất

trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Ông viết: “Kết luận duy nhất rút ra một cách logic từ tình trạng ruộng đất có hạn là toàn bộ ruộng đất sẽ bị bọn phéc -

mi - ê chiếm giữ” [16, tr.141] Điều này hoàn toàn tương tự việc độc quyền

kinh doanh những lực lượng tự nhiên có hạn khác như C.Mác đã nhận thấy:

“Số chủ xưởng đã chiếm hữu được những thác nước gạt số chủ xưởng không chiếm hữu được thác nước ra ngoài, không để cho họ lợi dụng lực lượng tự nhiên ấy, vì đất đai - đặc biệt là đất đai có sẵn sức nước - là có hạn” [20, tr.

287] Trong chủ nghĩa xã hội, sự giới hạn đó cũng đặt ra những đòi hỏi về giảipháp sử dụng đất đai phải đảm bảo sự phát triển bền vững và giải quyết hàihòa các mối quan hệ xã hội nảy sinh trên cơ sở lợi ích do đất đai mang lại

Sự giới hạn của đất nông nghiệp ngoài những tính chất khách quan do tựnhiên quy định đóng vai trò chủ yếu, còn có sự ảnh hưởng nhất định bởi mặt

xã hội, biểu hiện ở các chính sách phát triển nông nghiệp, ở định hướngchuyển dịch cơ cấu kinh tế của các khu vực, quốc gia hay vùng lãnh thổ

Khoảng trên 30% diện tích lãnh thổ Việt Nam được sử dụng trực tiếpcho sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng, tính bình quân theo đầu người vàoloại thấp của thế giới Ở Việt Nam, trong lĩnh vực nông nghiệp luôn diễn ra haiquá trình trái ngược nhau Một mặt, có những cố gắng rất lớn để mở rộng diệntích khai hoang, làm tăng thêm quỹ đất Mặt khác, xảy ra quá trình ngược lại:đất trồng lúa và cây lương thực không ngừng giảm, đặt biệt là ở những đồngbằng châu thổ có đất phì nhiêu Ở những vùng ven biển có độ cao thấp, đặc

Trang 26

việc tàn phá rừng đã làm mặn xâm nhập sâu vào đất liền, giảm diện tích trồngtrọt và hạn chế năng suất cây trồng Ở các vùng ven biển miền Trung đangdiễn ra hiện tượng cát bay, cát lấn đất rất rõ rệt Cát lấn dần vào đất liền, lấp đi

nhiều diện tích đất trồng trọt, tại một số vùng ven biển đang xảy ra hiện tượng

sạt lở đất Có rất nhiều nguyên nhân gây hại môi trường đất và làm thoái hóachất lượng (độ phì nhiêu) của đất nhưng các nguyên nhân chính về mặt tựnhiên là địa hình dốc, lượng mưa lớn tập trung Địa hình đồi núi chiếm khoảnghơn 3/4 diện tích tự nhiên của toàn lãnh thổ Việt Nam Các dãy núi đồ sộ nhất

và các đỉnh núi cao nhất đều phân bố ở phía Tây và Tây Bắc, núi thấp dần vềphía Đông và thường kết thúc bằng một dải đất thấp ven biển Các thung lũngthường hẹp, sâu là kết quả của hoạt động xâm thực mạnh của sông suối Do tácđộng của ngoại lực vào mùa mưa lũ, các hiện tượng đá đổ, trượt đất, lũ quét…diễn ra phổ biến

Nguyên nhân chính về mặt xã hội là tập quán canh tác lạc hậu đốt nươnglàm rẫy và phá rừng vì lợi ích trước mắt đã làm cho đất đai của nước ta đứngtrước sự uy hiếp nghiêm trọng Đó là chưa kể đến hậu quả của việc phá rừng

để làm đất nông nghiệp theo chủ trương tự túc lương thực với quy mô tỉnh,huyện, xã (trước năm 1990) đã làm cho rất nhiều diện tích đất dốc có rừng bịphá đi để sản xuất nhưng sau đó không được sử dụng bền vững nên lại trởthành đất hoang trọc

Đất nông nghiệp có giới hạn về mặt tuyệt đối, còn về mặt tương đối tínhtheo đầu người thì ngày càng bị thu hẹp dần vì sự tăng trưởng mọi mặt củakinh tế - xã hội và sự gia tăng tự nhiên của dân số Đặc biệt với tốc độ pháttriển công nghiệp, đô thị và nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng như hiện nay đãdẫn đến một diện tích rất lớn đất nông nghiệp bị chiếm dụng

Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người ở nước ta liên tục giảm trongsuốt thời kỳ từ năm 1980 đến năm 1990 (từ 1290 m2 xuống còn 1056m2) và mới

Trang 27

phục hồi dần trong thời kỳ 1991 - 2000 lên mức 1081m2 (năm 2000), dự kiếnkhoảng 30 năm, sau khi dân số phát triển ổn định thì chỉ còn ở mức khoảng 770m2.

Về mặt chất lượng, đất nông nghiệp không đồng nhất trong thời gian và

không gian Sự không đồng nhất không chỉ thể hiện quy mô một quốc gia, mộtvùng kinh tế mới mà ngay trong một vùng kinh tế nhỏ Đất đai ở những vị trínhất định chịu sự chi phối của các điều kiện tự nhiên của khu vực, dẫn đến cácđặc tính tự nhiên cấu thành nên chất lượng của đất đai có sự khác nhau, do đóchất lượng của đất sẽ không đồng nhất giữa các vùng, các khu vực khác nhau.Địa hình và khí hậu tạo ra cái nền cơ bản mà sự sống về sau tận dụng và chịuảnh hưởng sâu sắc Chất lượng của đất đai trong trường hợp chịu ảnh hưởngcủa các yếu tố tự nhiên biểu hiện ở độ phì tự nhiên của nó, là dung lượng khácnhau về các chất dinh dưỡng cần thiết cho sinh vật Ngoài sự khác nhau về vịtrí thuận lợi, sự khác nhau về độ phì tự nhiên cũng là một nguyên nhân chínhhình thành địa tô chênh lệch I

Ở Việt Nam, điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm biến động thất thường, cácdạng địa hình luôn thay đổi và được cấu tạo bởi nhiều loại đá mẹ khác nhau làmcho đất đai có nhiều chủng loại và phân bố xen kẽ nhau một cách phức tạp Sựkhác biệt về chủng loại đất thể hiện ở sự khác nhau về cấu trúc, độ phì… của từngloại đất nhất định

Loại đất điển hình ở vùng đồi núi là đất Feralit đỏ vàng, hình thành trênnhiều lớp vỏ phong hóa của đá trầm tích, đá mắc ma, có độ phì khá, ít chua,được sử dụng rộng rãi để phát triển trồng trọt, làm ruộng bậc thang

Trên các bậc thềm phù sa cổ ven các châu thổ hoặc đồng bằng tồn tạidạng đất Feralit nâu hoặc xám, có độ phì kém, dễ bạc màu, cấu trúc tầng mặtthô do sét bị rửa trôi, dễ bị đá ong hóa Đây là loại đất điển hình ở vùng Trung

du Bắc bộ và Đông Nam Bộ

Trang 28

Ở vùng đồng bằng, tùy theo vị trí phân bố gần hay xa sông, gần biển hay

xa biển mà đất được chia thành hai nhóm chính: nhóm đất phù sa ngọt và nhómđất phù sa mặn Đất phù sa được sử dụng chủ yếu trong nông nghiệp để trồng lúanước, có đặc điểm giàu chất hữu cơ, đạm nitrát Tất nhiên những đặc tính này có

sự thay đổi giữa các loại đất thuộc châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long

Ngoài ra còn có các loại đất như đất Sialit nhiễm mặn, tồn tại ở các đồngbằng ven biển, có thành phần cơ giới nặng; đất phèn ở một số tỉnh Tây Nam

Bộ có tính chất mặn, chua, muốn sử dụng được phải có biện pháp xử lý thíchhợp; đất đỏ Bazan phân bố ở một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có độphì lớn, có khả năng giữ độ ẩm cao; đất cát tơi và một số loại đất khác

Mặt khác, sự tác động của con người trong quá trình sử dụng đất đaicũng là một nhân tố làm cho chất lượng của đất giữa các khu vực có sự khôngđồng nhất Sự tác động thể hiện tập trung ở hoạt động sản xuất nông nghiệpcủa con người Trình độ lao động là một nhân tố quan trọng tác động đến độ

phì của đất C.Mác cho rằng: “Bằng những phương tiện hóa học (chẳng hạn như dùng các loại phân lỏng đối với những nơi đất sét rắn chắc, hoặc bằng cách đốt những thửa đất sét nặng), hay những phương tiện cơ khí (như dùng loại cày đặc biệt đối với đất nặng), người ta có thể loại bỏ những trở ngại làm cho một thửa đất cũng màu mỡ bằng một thửa đất khác trở nên thực tế kém màu mỡ hơn” [20, tr.296].

Việc đầu tư có mục đích của con người vào những thửa đất nhất định đểcải tạo nó sẽ làm cho thửa đất ấy trở nên màu mỡ hơn những thửa đất cùng loạinhưng không được đầu tư Ngoài ra, chất lượng của một thửa đất được đầu tư cảitạo liên tiếp cũng không đồng nhất nếu xét theo trình tự thời gian Chất lượng đấtđược nâng dần lên phản ánh hiệu quả của quá trình thâm canh trên thửa đất ấy.Sản lượng thu được trên một đơn vị diện tích do đó cũng tăng lên lần lượt saumỗi lần đầu tư Đây là cơ sở để hình thành địa tô chênh lệch II vì thâm canh

Trang 29

ruộng đất đưa đến việc tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, tăng khốilượng sản phẩm Nó cũng là một xu thế tất yếu trong phát triển nông nghiệp vìđất nông nghiệp có giới hạn về mặt diện tích, sự phát triển theo lối quảng canh,

mở rộng diện tích có nhiều trở ngại

Sự tác động của con người, mặt khác, nếu diễn ra không hợp lý sẽ ảnhhưởng xấu đến chất lượng của đất nông nghiệp Ở nước ta, tình hình khai thác tàinguyên đất một cách thiếu khoa học đã và đang là một thách thức lớn đối với sựphát triển bền vững, nhất là ở các vùng trung du và miền núi với kiểu canh tác đốtnương làm rẫy mang tính chất du canh du cư Tập quán canh tác chỉ hướng vàotận dụng độ màu mỡ tự nhiên của đất đai, không chú ý đến việc cải tạo đã dẫnđến hậu quả hàng loạt diện tích đất đã trở nên bạc màu Đến thời điểm 1994, đã

có hơn 13 triệu ha đất trống đồi trọc, trong đó diện tích bị xói mòn trơ sỏi đá vàokhoảng 1,2 triệu ha, số lượng các chất dinh dưỡng bị rửa trôi hàng năm rất lớn,đạt đến 120 - 170 tấn/ha/năm

Ngoài ra, sự phát triển công nghiệp thiếu tính quy hoạch, sự bùng nổ củacác phương tiện giao thông gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, ảnh hưởngxấu đến hệ sinh thái, làm thay đổi khí hậu, thời tiết dẫn đến chất lượng đất đai

bị biến đổi Với những ảnh hưởng xấu như trên thì hiển nhiên chất lượng đấtđai bị biến đổi theo hướng tiêu cực, làm giảm hiệu quả sản xuất nông nghiệp

1.1.3.4 Chất lượng đất đai phụ thuộc vào sự tác động của con người và

sự tiến bộ khoa học kĩ thuật

Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách vừa là tưliệu lao động vừa là đối tượng lao động, vì vậy nó là tư liệu sản xuất của ngànhnông nghiệp Về phương diện lịch sử có thể khẳng định rằng đất nông nghiệpđược sử dụng trước hết với tư cách là tư liệu lao động, sau đó tư cách đốitượng lao động của nó mới được xác lập

Trang 30

Lần đầu tiên con người chỉ sử dụng đất nông nghiệp như một tư liệu laođộng, có nghĩa là dùng đất nông nghiệp, thực tế là dùng các chất dinh dưỡng cótrong đất như các chất hữu cơ, chất khoáng… để làm phương tiện chuyển tải laođộng đến cây trồng, tác động đến cây trồng để thúc đẩy nó sinh trưởng và pháttriển Hoạt động có mục đích này có sự gắn bó mật thiết với các quy luật tựnhiên Lúc này tư cách là đối tượng lao động của đất nông nghiệp xuất hiện

Việc trở thành đối tượng lao động của đất nông nghiệp còn do nhu cầungày càng cao về chất lượng và chủng loại sản phẩm nông nghiệp của conngười quy định Trong thực tế, việc áp dụng khoa học kỹ thuật để tác động làchủ yếu Ngoài ra, việc khai thác hợp lý đất đai dựa vào điều kiện sinh thái củađất, tôn trọng quy luật tự nhiên cũng rất quan trọng Trong những trường hợptrên, đất nông nghiệp trở thành đối tượng lao động, là chủ thể tiếp nhận nhữnghoạt động cải tạo có mục đích của con người

Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất của ngành nông nghiệp, hơn nữa còn

là một dạng tư liệu sản xuất đặc biệt thể hiện ở một số điểm cơ bản:

Trước hết, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất hữu hạn Trong khi những

tư liệu sản xuất khác của nền sản xuất xã hội được tạo ra ngày càng nhiều theonhu cầu và trình độ sản xuất, thì đất đai là tư liệu sản xuất có hạn, cũng giống

như thác nước mà C.Mác đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: “Ở nơi nào không có điều kiện tự nhiên ấy thì dù có bỏ ra một số tư bản nhất định người ta cũng vẫn không thể tạo ra điều kiện ấy được” [20, tr.287]

Ngoài ra, các tư liệu sản xuất thông thường sẽ bị hao mòn hữu hình và

vô hình sau một thời gian sử dụng còn đất đai nếu được sử dụng một cách hợp

lý, tuân thủ các quy luật tự nhiên thì độ phì của đất sẽ tăng lên Chính nhờ đặcđiểm này nên đất đai tuy bị giới hạn về mặt số lượng, loài người vẫn có thểtruyền cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác quỹ đất đai của xã hội với chấtlượng ngày càng tăng lên, để tiếp tục sản xuất và nuôi sống con người Theo

Trang 31

C.Mác: “Nếu sức sản xuất phát triển một cách nhanh chóng, tất thảy máy móc

cũ cũng cần phải được thay thế bằng những máy móc khác có lợi hơn, nghĩa

là những máy móc cũ phải bị hoàn toàn vứt bỏ Trái lại, nếu được xử lý một cách thích đáng thì đất sẽ tốt mãi lên Ưu thế của đất là những khoản đầu tư liên tiếp có thể đem lại lợi nhuận mà không làm thiệt đến những khoản đầu tư trước” [20, tr.484].

Việc sử dụng hợp lí đất đai, làm cho màu mỡ đất đai ngày càng tăng lênchính là cơ sở khách quan hình thành lợi nhuận siêu ngạch, bởi vì giá cả nôngsản được xác định chi phí sản xuất xã hội để làm ra sản phẩm trên loại đấtxấu, nhờ đó, chủ sở hữu đất thu được địa tô chênh lệch II

Như vậy, sức sản xuất của loại tư liệu sản xuất này không ngừngnâng cao theo trình độ kỹ thuật và sự phát triển của lực lượng sản xuất

C.Mác cho rằng: “Trong nông nghiệp, người ta có thể đầu tư liên tiếp một cách có hiệu quả, vì bản thân ruộng đất phát sinh tác dụng như một công

cụ sản xuất” [20, tr.484] Ông phê phán lí lẽ nông cạn của học giả tư sản

Tuyếc - Gô với “quy luật ruộng đất ngày càng mất dần màu mỡ” với nộidung: khi đầu tư thêm vào ruộng đất vượt quá mức độ nhất định thì sảnlượng sẽ giảm xuống, có nghĩa là bất cứ sự đầu tư thêm nào vào ruộng đấtvượt quá mức độ nhất định đều thu hoạch ít hơn so với lần đầu tư trước.Mục đích của lý luận này nhằm che đậy mâu thuẫn của chế độ tư bản, chorằng nguyên nhân gây nên sự bần cùng hóa nhân dân lao động là do yếu tố

tự nhiên, do “quy luật ruộng đất ngày càng mất dần màu mỡ”

V.I.Lênin cũng vạch ra sai lầm của lý luận này là đã vứt bỏ cái chủ yếunhất, tức là sự nâng cao trình độ kỹ thuật và sự phát triển của lực lượng sảnxuất Ông cho rằng trong trường hợp kỹ thuật cải tiến không ngừng, năng suấtlao động không ngừng nâng cao thì việc đầu tư thêm không bao giờ làm cho

Trang 32

ruộng đất ngày càng mất dần màu mỡ Chỉ có trong trường hợp kỹ thuật khôngđổi, đầu tư thêm mới đem lại thu nhập ít

Nếu sử dụng không hợp lí đất nông nghiệp sẽ không tạo nên độ màu mỡ màcòn làm chúng ngày càng khô cằn hơn.Thực tế này đang diễn ra khá phổ biến ởtrung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên Ở những vùng đất này, con người chỉlợi dụng độ màu mỡ tự nhiên vốn có của đất nông nghiệp để canh tác, không chú ýđến cải tạo, bồi dưỡng đất nên một diện tích đất nhanh chóng trở nên kiệt quệ

Những đặc điểm kinh tế nói trên của đất nông nghiệp đòi hỏi phải cóphương châm canh tác hóa đất đai, mặt khác khi giải quyết các quan hệ đất đaiphải tính đến một cách toàn diện giá trị kinh tế của đất một cách đầy đủ, hợp lí,hiệu quả và không ngừng nâng cao độ màu mỡ của đất đai

1.2.Vai trò của tiềm năng đất đai nông nghiệp

1.2.1 Tiềm năng đất nông nghiệp cho phép khai thác, bổ sung đưa vào

sử dụng cho các mục đích sản xuất nông nghiệp

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sốngcủa con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp Đặc điểmđất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân bố sản xuất cuả ngành nôngnghiệp Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầudùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất…

Mỗi loại đất phù hợp với những loại cây trồng, cơ cấu mùa vụ khácnhau Vì vậy, cần nắm được đặc điểm của từng loại đất để đề ra phươnghướng, giải pháp và mô hình sử dụng đất đai phù hợp Trong đó một số loạiđất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng cũng có những loại đất cầnđược cải tạo Cho nên, cần nắm vững đặc điểm từng loại đất, lựa chọn cơ cấucây trồng, cơ cấu mùa vụ thích hợp nhất để nâng cao hiệu quả kinh tế trongquá trình sử dụng đất

Trang 33

Thế nhưng có một thực tế là diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp.Quá trình đô thị hóa, việc chuyển đổi sử dụng đất sang lĩnh vực phi nôngnghiệp, hay đất bạc màu không thể sử dụng và một phần không nhỏ đất bị bỏhoang đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nông nghiệp Trong khi diệntích đất chỉ có hạn Như đã trình bày ở trên, đất đai mỗi quốc gia bị giới hạnbởi biên giới lãnh thổ, chúng ta càng không thể sản sinh ra đất để đáp ứng hếtnhu cầu đất phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, cho cu trú khi mà dân số cứngày một gia tăng Đất đai cũng không thể tự nó tạo ra độ màu mỡ để conngười chỉ việc đến khai thác và thu hoạch sản phẩm Chính bởi tầm quan trọng

đó mà chúng ta cần sử dụng có hiệu quả diện tích đất, trong đó có đất nôngnghiệp hiện có; đồng thời phải phát hiện tiềm năng và đưa vào sử dụng nhữngvùng đất chưa được khai phá, chưa được biết đến, thậm chí cả những vùng đấtkhai thác chưa hiệu quả, mở cho nó một hướng đi mới

Nhờ có những diện tích đất mới được đưa vào sử dụng chẳng nhữnggiảm bớt những áp lực về đất cư trú và sản xuất mà còn là điều kiện để bổsung, sử dụng cho mục đích mới Nếu như trước đây, con người chỉ có diệntích để trồng lúa nhằm mục đích chính là duy trì sự sống thì ngày nay với diệntích mới được đưa vào sử dụng con người có điều kiện đê trồng rau quả, trồngcây công nghiệp, từ chăn nuôi nhỏ lẻ phát triển lên chăn nuôi trang trại, từmảnh vườn cây ăn quả hình thành vùng chuyên canh, vùng đặc sản phục vụtốt hơn cho cuộc sống của mình

1.2.2 Tiềm năng đất nông nghiệp là điều kiện cho việc áp dụng các biện pháp cải tạo, đầu tư đưa phần diện tích chưa sử dụng vào mở rộng sản xuất nông nghiệp

Đất nông nghiệp có vai trò qua trọng đối với phát triển kinh tế nhưng khôngphải mọi diện tích đất chưa khai phá đều có thể sử dụng và đưa vào sử dụng Đất

Trang 34

quan một quá trình lâu dài, tốn nhiều thời gian, công sức và tiền của Cho nên,tiềm năng đất nông nghiệp chỉ là điều kiện cho việc áp dụng các biện pháp cải tạo,đầu tư phần diện tích đất chưa sử dụng vào mở rộng sản xuất nông nghiệp.

Tiềm năng đất nông nghiệp có thể có các yếu tố thuận lợi nhưng cũng cóthể còn những yếu tố bất lợi Vậy thì với những yếu tố bất lợi đó, chúng ta cầncải tạo và để những yếu tố thuận lợi thành có ích thì con người không thểkhông đầu tư

Ở đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất phèn, đất mặn khá lớn (2.5triệu ha) có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp nên cần được cải tạo bằng biệnpháp thau chua rửa mặn, xây dựng hệ thống bờ bao kênh rạch thoát nước vào mùa

lũ vừa giữ nước ngọt vào mùa cạn Đồng thời đầu tư lượng phân bón lớn, phân lân,cải tạo đất và chọn giống cây trồng thích hợp với đất phèn, đất mặn của vùng

Tây Bắc cũng là một vùng có diện tích đất chưa sử dụng lớn Khó khănlớn nhất trong canh tác nông nghiệp ở đây là đất bị xói mòn, rửa trôi Do vậycần áp dụng các biện pháp cơ bản sau: canh tác theo đường đồng mức, trồngtrong hố, trồng trong rãnh, tạo bồn, phủ đất, xới xáo, làm cỏ, sắp xếp cơ cấu câytrồng Các loại cây thường sử dụng để cải tạo đất hoặc trồng xen với các loạicây trồng khác như: đậu triều, đậu bướm, muồng, hàn the, trinh nữ, quỳ dại

1.2.3 Tiềm năng đất nông nghiệp cho phép tận dụng ưu thế của tự

nhiên cho phát triển nông nghiệp

Đất nông nghiệp là sản phẩm của tự nhiên, là quà tặng của “ đá mẹ” Cóthể nói đất đai có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của con người và sảnxuất, nhất là nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu diễn ratrên mặt đất Điếu đó không có nghĩa là phủ nhận vai trò của khoa học kĩ thuật

vì hiện nay con người đã có kĩ thuật nuôi trồng trong ống nghiệm Song, diệntích này là quá nhỏ bé và kinh phí nuôi trồng tốn kém nên nó chưa thể là giải

Trang 35

hiệu quả hơn Nông nghiệp vãn phải dựa vào tự nhiên, chịu tác động của tựnhiên và đất là một yếu tố không thể thiếu trong tiến trình ấy.

Tiềm năng đất nông nghiệp của nước ta là còn khá lớn Trong điều kiệnkinh tế nước nhà còn gặp nhiều khó khăn trong khi chúng ta lại có đội ngũnhững người nông dân cần cù, có kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, nếukhai phá và tận dụng được diện tích này sẽ tạo điều kiện cho nông nghiệp pháttriển nói riêng và kinh tế nói chung, hứa hẹn những thành tựu nhất là nhậnthức đúng và con đường đi thích hợp

Việt Nam là một trong những nước có đặc điểm đa dạng sinh học cao,hiện nay còn tồn tại khoảng 13.000 loài thực vật bậc cao; hàng nghìn loài thựcvật bậc thấp và hàng vạn loài động vật có xương sống, không xương sống phân

bố trên các hệ sinh thái từ biển Đông, thềm lục địa cho đến vùng đồng bằng,trung du và miền núi Đây chính là cơ sở, tiềm năng vô cùng quan trọng vềmặt tự nhiên để thúc đẩy việc sử dụng đất nông nghiệp một cách đa dạng, đặcbiệt đối với việc phát triển hệ thống trang trại, là mô hình đòi hỏi phải có sựgắn kết với tính đa dạng sinh học để thu được hiệu quả kinh tế cao Các nguồngen động, thực vật, vi sinh vật dù là hoang dại hay đã được thuần hóa để trởthành cây trồng, vật nuôi đều mang tính chất quyết định đến sự sinh trưởng vàphát triển của chúng Nhờ sự đa dạng của các hệ sinh thái, sự phong phú củacác nguồn gen, cùng với sự giàu có về kinh nghiệm truyền thống trong việckhai thác sử dụng các nguồn tài nguyên sinh học của cộng đồng dân cư, đất đai

sẽ được sử dụng một cách thích hợp, phát huy một cách có hiệu quả tiềm năngsẵn có trong tự nhiên

Trang 36

1.3 Những điều kiện cơ bản để khai thác tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp

1.3.1 Đánh giá từng loại đất, khu vực, vùng đất

Đánh giá đất đai là nền tảng quy hoạch sử dụng đất trong tương lai.Đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích nghi của đất đai bao gồm các yếu

tố về tự nhiên và kinh tế - xã hội, các yếu tố đó phát triển theo thời gian cùngvới sự phát triển của đất nước luôn mang theo sự phát triển đó thì các yếu tố vềđất đai, cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp dần dần lạc hậu, điều đó đòi hỏicần đánh giá lại khả năng thích nghi đất đai, đặc biệt là khả năng thích nghiđịnh lượng về kinh tế là điều kiện tối ưu và cần thiết để đảm bảo phát triểnnông nghiệp bền vững, lâu dài và theo kịp sự phát triển của thời đại

Hiện nay trên thế giới có các hệ thống đánh giá đất đai như hệ thống đánhgiá của FAO (1976), hệ thống đánh giá đất ở Trung Quốc, hệ thông đánh giá đất

ở Ấn Độ Về quan điểm phương thức đánh giá đất đai

- Đánh giá đất đai theo Muzillli( 1985): Hướng nghiên cứu này là kiềmchế tối đa việc ảnh hưởng của môi trường do sản xuất Những nhân tố chính làlượng mưa không thường xuyên, tuyết, độ chua của đất, độ phì thấp của đất

Từ đó cần cải tạo như giữ lượng nước còn lại cho sản xuất trồng trọt,bảo vệđất, điều chỉnh độ PH hứu dụng, nhu cầu bón vôi và bón hợp lí

- Đánh giá đất đai theo Cook, Dichkinson, Rudra và Wall(1985): Quanđiểm này là sử dụng kĩ thuật tin học để tính toán sự xói mòn đất và sự phân bốthủy văn Từ đó cho được những mô hình để quản lí đất một cách thực tế và cóchiến lược bảo vệ đất

- Đánh giá đất đai theo Wu và Cheng 1985): Đánh giá đất đai về mặtkinh tế được thực hiện theo sự phân tích chi phí lợi nhuận, trên cơ sở đầu tư củaNhà nước cho bảo vệ tài nguyên nước và đất và chương trình kiểm soát lũ

Trang 37

- Đánh giá đất đai theo Driessen (1986): Ông cho rằng phương thức đánhgiá đất đai định lượng là phương tiện quan trọng có thể cho phép đề xuất sự pháttriển chiến lược tôt hơn mà mục đích là phát triển nông nghiệp bền vững

- Đánh giá đất đai theo Edward (1994): Đây là phương pháp cho thấy có

sự đóng góp một giải pháp để cải thiện trong quản trị đất đai có được về mặt kĩthuật từ các trạm nghiên cứu hệ thống canh tác bảo vệ tự nhiên

- Đánh giá đất đai theo Machinv và Navas( 1995): Ông đã khẳng định ởvùng nghiên cứu Zaragoza ở Tây Ban Nha có hệ thống nông nghiệp rất yếu.Nước là một nhân tố chính ảnh hưởng đến canh tác

Đánh giá đất đai là cơ sở và nền tảng cho quy hoạch sử dụng đất, đánhgiá đất đai bên cạnh việc liên quan đến các yếu tố thuận lợi và bất lợi của môitrường, kết quả này còn cung cấp rất nhiều thông tin liên quan đến tính chấtđất đai và những tác động của con người đến việc sử dụng đất Nhằm khai tháctài nguyên thiên nhiên một cách hợp lí, đáp ứng được nhu cầu thực tế trong sửdụng đất đai kèm theo sự phát triển của xã hội thì việc đánh giá đất đai, xâydựng các chất lượng đất đai, đồng thời đánh giá được khả năng thích nghi củamột số cơ cấu cây trồng là rất cần thiết cho sự phát triển của nông nghiệp

Để đánh giá thích nghi hiện tại nhằm đảm bảo đủ cơ sở đáp ứng cho quyhoạch sử dụng đất đai thích hợp trong vừng nghiên cứu thì cần thiết nghiêncứu, đánh giá cao hơn mức nghiên cứu những vấn đề sau: Cần xác định lạichất lượng đất đai đưa ra yêu cầu sử dụng đất đai cho các kiểu sử dụng đất đaithích hợp chính trong vùng nghiên cứu Trên cơ sở các kết quả đánh giá thíchnghi tiến hành bố trí thí nghiệm về kiểu sử dụng đất để kiểm chứng mức độthích nghi xem phù hợp chưa Đồng thời kiểm tra kiểu sử dụng đất đai trên cácđơn vị đất đai đã được phân hạng để so sánh sự khác biệt, tìm ra nguyên nhân,

từ đó đưa ra hướng khắc phục phù hợp với tình hình thực tế

Trang 38

1.3.2 Quy hoạch, phân bổ đất

Khi đã đánh giá được từng loại đất cũng như từng khu vực thì công tácquy hoạch, phân bổ có một ý nghĩa quan trọng, là bước đệm gần nhất quyếtđịnh việc sử dụng đất có hiệu quả hay không

Điều 3 Luật Đất đai ghi rõ: “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh định nguồn tài nguyên đất đai cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường theo vùng kinh tế, xã hội và đơn vị hành chính trong một thời gian xác định trên cơ sở tiềm năng đất đai

và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực”

Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thểhiện đồng thời 3 tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng vàquản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất, thông qua việcphân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất đai như tư liệu sản xuất, nhằm nângcao hiệu quả sản xuất của xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường

Như vậy về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thànhcác quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để manglại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan

hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đíchnâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

Điều 18, điều 1, điều 13 Luật đất đai 1993 cho ta biết đất đai của nhànước ta là do người dân làm chủ, nhân dân có quyền quýết định sử dụng đất.Nhưng do tầm quan trọng của đất đai, nhà nước đứng ra làm người đại diện chonhân dân thống nhất quản lý đất đai và có quyển quyết định và định đoạt việc sửdụng đất đai đúng mục đích và có hiệu quả Nó cũng đặt ra yêu cầu phải quản lý

đất đai theo qui hoạch Mặt khác, điều 19 luật đất đai cũng đã khẳng định: “ căn

cứ để quyết định giao đất là qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ

Trang 39

quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt” Tức là việc giao đất cho các đối tượng

sử dụng là phải dựa trên qui hoạch và phù hợp với qui hoạch

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quantrọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tựnhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗivùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướngcho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết chomình; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đấtđai; làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảmbảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hóa - xã hội

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của Nhànước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phíđất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọngquỹ đất nông lâm nghiệp; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấnchiếm huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫnđến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậuquả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địaphương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường

Với ảnh hưởng như thế, muốn quy hoạch đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sựphối hợp chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong tất cả cácgiai đoạn của quá trình quy hoạch, từ khâu thu thập thông tin, lập ra quyhoach, lấy ý kiến về quy hoach, phê duyệt đến công bố công khai và tổ chứctriển khai quy hoạch trên cơ sở những thủ tục, thể chế pháp lí quy định rõ ràng

Cần lưu ý việc lập quy hoạch tuy nhằm định hướng cho hoạt động sửdụng đất, không thể dựa trên việc tự ý sử dụng đất nhưng không thể thoát khỏiảnh hưởng bởi nhu cầu, ý chí chung của người sử dụng Quy hoạch phải mang

Trang 40

quyền không thể không chú trọng đến sự cân bằng hài hòa về pháp lí, chính trị

và kinh tế trong mối quan hệ giữa các chủ thể

1.3.3.Các nguồn lực để đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp

1.3.3.1 Những nhân tố điều kiện tự nhiên

Khi sử dụng đất nông nghiệp, ngoài bề mặt không gian (diện tích trồngtrọt) cần lưu ý đến việc thích ứng môi trường tự nhiên và quy luật sinh thái tựnhiên của đất cũng như cái yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh sáng,lượng mưa, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất

* Yếu tố khí hậu

Các điều kiện tự nhiên mà chủ yếu là khí hậu với những diễn biến của

thời tiết như mưa, nắng, bão lụt, hạn hán… tác động trực tiếp đến quá trình sử

dụng đất đai phát triển nông nghiệp Trong thực tế, những vùng đất nôngnghiệp trù phú thường có khí hậu ôn hòa, ít xảy ra những biến động thấtthường hoặc khắc nghiệt về thời tiết, đặc biệt luôn có nguồn nước tưới dồi dào.Ngược lại, những vùng có khí hậu khắc nghiệt thường trở nên hoang hóa, có

hệ sinh vật kém phát triển mà các hoang mạc trên thế giới là trường hợp điểnhình Ngay cả trong điều kiện có sự hỗ trợ đắc lực của khoa học, kỹ thuật,người sản xuất nông nghiệp vẫn không hoàn toàn làm chủ được quá trình sảnxuất, mà phải thường xuyên chịu tác động bởi những diễn biến thất thường củacác điều kiện tự nhiên, trong đó yếu tố thời tiết bất lợi và sâu bệnh có nhữngảnh hưởng nặng nề nhất

* Yếu tố thổ nhưỡng và địa hình

Bên cạnh đó, đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình cũng là nhân tố quantrọng ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp, nhất là nền sản xuấthàng hóa nông sản, những vùng đất đai tương đối màu mỡ và có địa hình bằngphẳng (như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long) là những

Ngày đăng: 04/08/2016, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Đức Cát (2000), Kinh tế tài nguyên đất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tài nguyên đất
Tác giả: Ngô Đức Cát
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
3. Chính phủ (2004), Nghị định số 180/2004/NĐ - CP của Chính phủ về thi hành Luật đất đai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 180/2004/NĐ - CP của Chính phủ về thi hành Luật đất đai
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4.Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH huyện Thuỷ Nguyên đến năm 2020 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấphành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp "hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH huyện Thuỷ Nguyên đến năm 2020 5. Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
9. Hội khoa học kinh tế Việt Nam (2000), Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam
Tác giả: Hội khoa học kinh tế Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
10. Lâm Quang Huyên (1995), Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
Tác giả: Lâm Quang Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
11. Nguyễn Đình Hương (1999), Sản xuất và đời sống của các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở đồng bằng sông Cửu Long - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất và đời sống của các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở đồng bằng sông Cửu Long - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
13. Nguyễn Đình Kháng, Vũ Văn Phúc (2000), Một số vấn đề lý luận của Mác và Lênin về địa tô, ruộng đất, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận của Mác và Lênin về địa tô, ruộng đất
Tác giả: Nguyễn Đình Kháng, Vũ Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Nguyễn Tiến Khôi (2000), Khai thác tiềm năng đất đai nông nghiệp để phát triển kinh tế hàng hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Khoa học Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác tiềm năng đất đai nông nghiệp để phát triển kinh tế hàng hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Tiến Khôi
Năm: 2000
15. V.I .Lênin (1976), Toàn tập, Tập 3, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I .Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1976
16. V.I .Lênin (1975), Toàn tập, Tập 5, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I .Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1975
17. V.I .Lênin (1980), Toàn tập, Tập 27, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I .Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980
18. Luật đất đai năm 1993 (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 1993
Tác giả: Luật đất đai năm 1993
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
19. Luật đất đai năm 2003 (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 2003
Tác giả: Luật đất đai năm 2003
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 25, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
2. Chính phủ (2003), Báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2020 Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Chỉ thị số 50 - CT - TW của Ban Bí Thư Khác
12. C.Mác, Ph.Ăngnghen, tuyển tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội , 1980 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2-1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Thuỷ Nguyên thời kỳ 2004 – 2010 - khóa luận, chuyên ngành Kinh tế chính trị Tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp ở huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng (khóa luận)
Bảng 2 1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Thuỷ Nguyên thời kỳ 2004 – 2010 (Trang 51)
Bảng 2-6:  Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu của Thuỷ Nguyên thời kỳ 2005-2010 - khóa luận, chuyên ngành Kinh tế chính trị Tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp ở huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng (khóa luận)
Bảng 2 6: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu của Thuỷ Nguyên thời kỳ 2005-2010 (Trang 63)
Bảng 2-7: Giá trị GDP ngành nông lâm ngư nghiệp 2000-2010 - khóa luận, chuyên ngành Kinh tế chính trị Tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp ở huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng (khóa luận)
Bảng 2 7: Giá trị GDP ngành nông lâm ngư nghiệp 2000-2010 (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w