1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp

59 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM --- NGUYỄN ANH TUẤN HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

-

NGUYỄN ANH TUẤN

HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU

ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số ngành: 60340102

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.TRẦN ANH DŨNG

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 02 năm 2014

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tôi chân thành biết ơn và xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và các anh chị, cô chú liên quan đến ngành đánh bắt hải sản xa bờ đã vui vẻ cung cấp thông tin khảo sát, các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã

được chỉ rõ nguồn gốc giúp cho việc thực hiện hoàn thành Luận văn này

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Anh Tuấn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy TS.Trần Anh Dũng, người

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề cương, tìm

kiếm tài liệu, chỉ dẫn giới thiệu tham quan khảo sát các nơi có ngư dân sống về nghề

đánh bắt cá cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành biết ơn quý thầy cô Trường Đại học C ô n g ng h ệ Thành

phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong chương trình

cao học

Xin chân thành cảm ơn các anh chị, cô chú chủ tàu cá, đại diện tàu cá, ngư

phủ; Sở Nông nghiệp và Phát riển nông thôn TP.HCM, Sở Tài Chính TP.HCM,

Ban Quản lý Trung tâm Thủy sản thành phố nơi tôi công tác, Cảng cá Nhật Lệ

tỉnh Quảng Bình, Cảng cá Hòn Rớ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa,

Cảng cá Tắc Cậu tỉnh Kiên Giang, Cảng cá Trần Văn Chiểu, Trần Đề tỉnh Sóc

Trăng, Cảng cá Cát Lở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Cảng cá Mỹ Tho, tỉnh Tiền

Giang; Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố Hồ

Chí Minh, Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Kiên

Giang; Công ty TNHH Chế biến Thủy hải sản Lộc Biển, thành phố Đà Nẳng,

Công ty TNHH Chế biến Thủy hải sản Hải Vương, Công ty TNHH Thủy hải

sản Hải Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa…

Cuối cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình các anh chị, cô chú và bạn bè

đã giúp đỡ, động viên tinh thần cho tôi, giúp tôi kiên trì hoàn tất bài Luận văn có ý

nghĩa giai đoạn hiện nay và sau này

Học viên thực hiện Luận văn

Nguồn lợi thủy hải sản phong phú, đa dạng ẩn chứa trong lòng biển, là nguồn mưu sinh từ ngàn đời nay của ngư dân Nhưng cũng chính biển là nơi thử thách vô cùng khắc nghiệt, thậm chí cướp đi mạng sống biết bao người khi cuồng phong, bão tố nổi lên Nên, mỗi con tàu khi rời bến ra khơi mang theo niềm hy vọng, sự mến thương, nỗi nhớ nhung và cả những lo toan của biết bao người thân trên đất liền Cơ cực và mất mát, nhiều khi phải trả giá bằng mạng sống, nhưng từ bao đời nay, nỗi khát khao vươn ra khơi của ngư dân tồn tại hiển nhiên như không khí để thở, như một phần máu thịt không thể tách rời

"Thuyền là nhà, biển cả là quê hương", " Thuyền lưới là vũ khí, ngư dân là chiến sỹ", "Cát vàng, sóng xanh, buồm nâu, máu đỏ", "Tất cả vì miền Nam ruột thịt", " Vững tay chèo, chắc tay súng"! Đó là những khẩu hiệu khắc trên đá, trên đảo, trên các

bờ biển thời chiến mà ngư dân các làng chài xứ biển đã thuộc lòng Những khẩu hiệu trên thể hiện lòng yêu nước, yêu biển cháy bỏng, quyết tâm đánh giặc bảo vệ biển trời

Tổ quốc của nhân dân nói chung và ngư dân nói riêng

Sau khi nghiên cứu các lý thuyết, sự hạn chế về nghiên cứu tới các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân Tác giả chọn mô hình nghiên cứu sự gắn

bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bó trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn sự gắn bó của một người - Maslach và cộng sự (2001), kết hợp lý thuyết động viên để đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân, đề tài này tập trung

nghiên cứu sáu yếu tố sau: 1 Khen thưởng và phúc lợi, 2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà

quả lý, 3 Môi trường làm việc 4 Công bằng về chính sách, 5 Công bằng về hỗ trợ, 6

Đặc điểm công việc

Trang 3

Giải pháp nâng cao hoạt đông bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ

- Duy trì và tăng cường khen thưởng phúc lợi nâng cao sự gắn bó và khả năng

bám biển của ngư dân

- Tăng cường sự hỗ trợ của nhà quản lý, định hướng phát triển nghề cá để ngư

dân gắn bó và bám biển lâu dài

- Môi trường làm việc, ngư trường đánh bắt được ổn định về an ninh chính trị

và thiên tai giúp ngư dân thuận lợi gắn bó và bám biển lâu dài

- Hội nghề cá Việt Nam quan tâm có đề xuất kiến nghị kịp thời đến cơ quan

chức năng để hỗ trợ ngư dân an tâm bám biển

- Kiến nghị Chính phủ cụ thể hóa chủ trương quy hoạch, định hướng phát triển

nghề cá đánh bắt xa bờ đi vào thực tiển có hiệu quả để ngư dân an tâm ra khơi bám

biển

Hoạt động bám biển = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * Hỗ trợ của nhà tổ

chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về chính sách +

B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc

ABSTRACT

Vietnam has the map shaped like S, along with the East Sea large and wide , since many generations passed, hundreds of thousands of fishermen who live along the coast of provinces and cities in the nation they have locked their lives with distant islands, with the sea on boats for catching fish and sea products

Sources of sea products and aquatic products are abundant, diverse, they are hidden

in the sea beds , are also the source of livelihood for hundreds of generations until now

of fishermen However, the sea itself is an extremely harsh challenge , even it takes away the lives of so many people when storms, tempests arise Therefore, each boat and ship each time it leaves the harbor for the open sea bringing along with it the hope, love, nostalgia and worrying of so many people on the mainland

Destitute life and loss , at times the price was paid even with human lives , however for many generations until now, the desire to reach out to the open sea of fishermen exist evidently as the air for breathing , as parts of blood and flesh of the body that they cannot be separable

" Boat is home , sea is home country ", " Boat and fish-net are weapon, fishermen are fighting soldiers ", " Yellow sand , blue waves , brown sail , red blood "," All for the blood- related South ", " Firm is the arms for rowers , firm is the hands on gun"! Those are slogans that were carved on the stones and rocks, on the islands, on the coast in the war time that fishermen already memorized The above slogans show their patriotism, passionate love of the sea that is burning, the determination to fight against the enemy defending sea and skies of the Fatherland of the people in general and of fishermen in particular

After studying the theories , the limitations on research to the factors that to stick

to run the sea of fishermen The author selects the model of research on other connections starting from documents on exhaustion in which is the description of the locking to work as clear contrast of exhaustion that erodes the locking of a man to sea work - Maslach and his partners (2001), combining the theory of encouragement in

Trang 4

order to put forward a model of study on factors that to stick to run the sea of

fishermen , this paper concentrates on the study of six factors as follows: 1 Rewards

and welfare, 2 Supports from Organizers , Managers , 3 The working environment 4

Justice on Policy , 5 Justice in supporting , 6 The working features

Solutions to enhance to work closely with the sea of fishermen who have boats

that catching fish distant from shore

-Maintain and strengthen the rewards/ bonus and benefits and enhance the

connection the locking to job and ability to stay close to the sea of fishermen ;

-Strengthen the support from managers, orienting to develop the fishery so that

fishermen locked to stack to the sea on long term basis ;

-Working environment, fishing ground for catching are stabilized concerning

political security and natural calamity in order to help fishermen to be convenient in

long term locking and sticking to the sea

-Propose to Vietnam Fisheries Society to pay attention to and also proposing to

functional agencies to support them in time

-Propose to The Vietnamese Government should concretize the policy on planning

and directing fishing boats and ships that operate far from shore in an effective way so

that fishermen could have peace in mind to go out to the sea attached to the sea

The factors that to stick to run the sea = B0 + B1 * working environment

+ B2 * Supports from Organizers, Managers + B3 *rewards and welfare

+ B4 * Justice on Policy + B5 * justice in distribution + B6 * working features PHỤ LỤC LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT v

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii

DANH MỤC CÁC BẢNG xiii

DANH MỤC CÁC HÌNH xiv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan nghiên cứu và điểm mới của đề tài 1

2 Lý do và tính cấp thiết chọn đề tài 2

3 Mục tiêu, nôi dung và phương pháp nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Kết cấu của luận văn 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BÁM BIỂN, ĐÁNH BẮT XA BỜ ………15

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 15

1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa về sự gắn bó 15

1.1.2 Lý thuyết động viên 17

1.1.2.1 Thuyết động viên 17

1.1.2.2.Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow 18

1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của người lao động 19

Trang 5

1.2.1 Khen thưởng và phúc lợi 20

1.2.2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quản lý 21

1.2.3 Môi trường làm việc 22

1.2.4 Công bằng về chính sách 22

1.2.5 Công bằng về phân phối 23

1.2.6 Đặc điểm công việc 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC XA BỜ Ở VIỆT NAM – CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ 24

2.1 Thực trạng về các đoàn tàu cá khai thác xa bờ ở Việt Nam 24

2.2 Thông tin nhân khẩu học của những người tham gia khảo sát 33

2.3 Tinh lọc thang đo 38

2.3.1 Kiểm định đánh giá độ tin cậy của thang đo 38

2.3.2 Phân tích nhân tố EFA 39

2.3.3 Phân tích nhân tố đối với biến độc lập 40

2.3.4 Phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc 43

2.4 Phân tích hồi quy tuyến tính 45

2.5 Kiểm định giả thuyết 47

2.6 Kiểm định sự khác biệt theo các đặc tính cá nhân đến hoạt động bám biển của ngư dân 49

2.6.1 Khác biệt về giới tính 49

2.6.2 Khác biệt về độ tuổi 49

2.6.3 Khác biệt về vị trí công tác 50

2.6.4 Khác biệt về thâm niên 50

2.7 Thống kê mô tả cho các biến quan sát của từng yếu tố 51

2.8 Kết luận 52

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU ĐÁNH BẮT XA BỜ 55

3.1 Định hướng dài hạn phát triển nghề cá khai thác xa bờ ở Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020 55

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ 56

3.2.1 Duy trì và tăng cường khen thưởng phúc lợi nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư dân 56

3.2.2 Tăng cường sự hỗ trợ của nhà quản lý, định hướng phát triển nghề cá để ngư dân gắn bó và bám biển lâu dài 57

3.2.2.1 Giải pháp nâng cao trọng tải phương tiện, trang hiết bị hiện đại, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật đánh bắt 57

3.2.2.2 Hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc phục vụ tàu đánh bắt xa bờ 58 3.2.2.3 Quan tâm hỗ trợ đồng bộ các tỉnh giáp biển giúp ngư dân ra khơi bám biển 59

3.2.2.4 Nâng cao chất lượng dịch vụ của các Cảng cá, Khu chế biến Thủy hải sản 60

3.2.2.5 Nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến thủy hải sản công nghệ cao 61 3.2.2.6 Phát triển nguồn nhân lực 62

3.2.2.7 Môi trường làm việc, ngư trường đánh bắt được ổn định về an ninh chính trị và thiên tai giúp ngư dân thuận lợi gắn bó và bám biển lâu dài 63

3.3 Kiến nghị 66

3.3.1 Kiến nghị Hội nghề cá Việt Nam 66

Trang 6

3.3.2.1.Tổ chức lại khai thác chế biến Thủy hải sản trên biển khơi 66

3.3.2.2.Chính sách quan tâm đến ngư dân sống bằng nghề biển 67

3.3.2.3.Tổ chức lại dịch vụ, hậu cần phục vụ khai thác hải sản 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tài liệu tham khảo

2 Văn bản pháp luật

3 Mạng Internet

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Tham khảo nghiên cứu định tính

Phụ lục 2: Khảo sát tàu cá đánh bắt hải sản xa bờ

Phụ lục 3: Số tàu cá, sản lượng, trị giá Thủy hải sản xuất khẩu

Phụ lục 4: Thông tin mẫu nghiên cứu

Phụ lục 5: Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo (lần1)

Phụ lục 6: Phân tích nhân tố (EFA) đối với biến độc lập

Phụ lục 7: Phân tích nhân tố (EFA) đối với biến phụ thuộc

Phụ lục 8: Kiểm định thang đo sau khi phân tích nhân tố đối với biến độc lập

(lần 2)

Phụ lục 9: Phân tích hồi quy

Phụ lục 10: Phân tích hồi quy sau khi loại biến

Phụ lục 11: Phân tích biệt số

Phụ lục 12: Kiểm định sự khác biệt về độ tuổi với hoạt động bám biển

Phụ lục 13: Khác biệt về vị trí công tác

Phụ lục 14: Kiểm định sự khác biệt về thâm niên nghề cá đối với hoạt động

bám biển của ngư dân

Phụ lục 15: Thống kê mô tả 03 biến độc lập ảnh hưởng nhiều đến hoạt động bám biển của ngư dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- CBTHS: Chế biến Thủy hải sản

- DN: doanh nghiệp

- DNCBTHS: Doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản

- GTGT: Giá trị gia tăng

- MMTB: Máy móc thiết bị

- NK: Nhập khẩu

- TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

- Vasep: Hiệp hội nghề cá Việt Nam

- XK: Xuất khẩu

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 : Bảng 1.1:

Bảng 2.1:

Tổng hợp các thang đo được mã hóa Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân Kết quả hệ số tương quan của các thang đo

12

20

39

Trang 8

Quy trình nghiên cứu

Tháp nhu cầu của Maslow

Tàu nước ngoài bắn cháy tàu cá của ta trong lãnh hải việt Nam

Tàu cá sau khi đánh bắt về

Đánh bắt với mắt lưới nhỏ

Biểu đồ đại diện tàu cá

Biểu đồ về giới tính

Biểu đồ về công suất tàu cá

Biểu đồ về ngư trường khai thác

Biểu đồ cảng cá thương xuyên cặp bến

Biểu đồ tàu chuyển hàng về cặp cảng

Biểu đồ về thâm niên nghề cá

1 Tổng quan nghiên cứu và điểm mới của đề tài

Quốc gia biển đầu tiên được biết đến trong lịch sử là Phoenicia ở Tây Nam Á Quốc gia biển tiếp theo là Hy Lạp cổ đại, sau đó là La Mã Tiếp theo La Mã là người Viking ở Bắc Âu Từ thời trung đại trở đi là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, hiện nay là Mỹ Ở Châu Á, Nhật Bản từng là quốc gia biển trong giai đoạn từ sau chiến tranh Nhật-Nga đến 1945

Quốc gia biển thì không nhiều, nhưng nghề biển ở Châu Á thì nhiều hơn Vì thế khi nào thì mới có thể nói rằng châu Á có tiềm năng về các đoàn tàu khai thác

xa bờ ở khu vực Châu Á? Nói cách khác cần có tiêu chí phân biệt sự tồn tại của những yếu tố về nghề khai thác hải sản xa bờ khu vực Châu Á

Tiêu chí định lượng này cũng đã được các nhà nghiên cứu Nhật Bản sử dụng khi định nghĩa “làng chài” Sakurada Katsunori (1953) định nghĩa làng chài là “làng

cư trú của những người theo ngư nghiệp , hoặc là làng cư trú bao gồm cả những người theo ngư nghiệp và những người sinh sống trong mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với những người theo ngư nghiệp” Takeuchi Toshimi (1958) định nghĩa

làng chài là “xã hội làng xóm được tạo nên bởi những người sinh sống chủ yếu bằng

nghề thủy sản” [dẫn theo Chu Xuân Giao 2008: 401] Theo hướng này, Yabuuchi Yoshihiko (1958) và Takakuwa Morihumi (1976) đưa ra tiêu chuẩn là một làng sẽ được coi là làng chài nếu tổng số nhân khẩu lao động theo ngư nghiệp trong làng là 20% (trở lên) [dẫn theo Chu Xuân Giao 2008: 402] Cần chú ý là tỷ lệ 20% lao động ngư nghiệp này chắc là phải cộng thêm với số nhân khẩu phụ thuộc (cha mẹ,

vợ con) mà họ nuôi sống nữa mới đạt đến tiêu chuẩn “sinh sống chủ yếu bằng nghề thủy sản”

Tổng số tàu cá trên thế giới ước tính khoảng 4,36 triệu chiếc (năm 2010), trong đó, Châu Á đóng góp khoảng 3,18 triệu phương tiện (chiếm 73% tổng số tàu thuyền), tiếp theo là Châu Phi (11%) Châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê (8%),

Trang 9

có khoảng 3,23 triệu phương tiện đánh bắt cá biển (chiếm 74% số tàu thuyền),

phương tiện đánh bắt cá nội địa khoảng 1,13 triệu Điều này chứng tỏ số tàu tham

gia khai thác nguồn lợi thủy sản nội địa là khá lớn, chiếm 26% Theo thống kê, số

tàu khai thác thủy sản nội địa ở Châu Phi chiếm 42%, Châu Á (26%), Mỹ La tinh và

Ca-ri-bê (21%) Trên phạm vi toàn cầu, có khoảng 60% số lượng phương tiện được

trang bị động cơ (năm 2010) và 69% số tàu đánh bắt hải sản được trang bị động cơ,

và 36% số phương tiện đánh bắt thủy sản nội địa được lắp máy

Việt Nam hiện có 27.988 chiếc tàu cá có công suất từ 90cv trở lên vươn ra xa

biển khơi đánh bắt hải sản, với bờ biển dài 3.260 km của 28 tỉnh thành trong cả

nước giáp biển Nhiều năm qua, nhận thấy tầm quan trọng cũng như dự báo về

những khó khăn của nghề đi biển, từ Chính phủ cho đến các địa phương và toàn xã

hội đã có những chính sách, những động thái tiếp sức, khuyến khách ngư dân vươn

khơi bám biển Trước những khó khăn của lao động nghề đi biển, cho nên đề tài

nghiên cứu hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ, nghiên

cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển để đưa ra một số giải pháp và

kiến nghị, trong đó có hỗ trợ về vốn đóng mới phương tiện, lắp thiết bị hiện đại cho

tàu, tặng ngư dân lưới cụ, chính sách phúc lợi xã hội và khen thưởng…

2 Lý do và tính cấp thiết chọn đề tài

Hoạt động khai thác hải sản được hình thành từ rất sớm, gắn liện với lịch sử

của xã hội, nhưng nghề khai thác hải sản của Việt Nam đến cuối những năm 80 của

thế kỷ trước vẫn là nghề khai thác thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ

Thủy hải sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát

triển đất nước Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đây là

cơ hội lớn để mở rộng thị trường và cạnh tranh bình đẳng với các nước xuất khẩu

cùng các mặt hàng hải sản Sản phẩm hải sản của nước ta nhìn chung đã đáp ứng

được các yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và an toàn thực

phẩm của các nước trong khu vực và trên thế giới Khoa học, Công nghệ ngày càng

phát triển nhanh và mạnh, đã và đang tạo cơ hội cho việc áp dụng vào hoạt động

nghiên cứu nguồn lợi, dự báo ngư trường, dò tìm đàn cá và trang bị các công cụ hỗ trợ cho hoạt động khai thác hải sản, thực hiện cơ giới hóa các khâu trong sản xuất

Vì thế phát triển thủy sản được triển khai rộng khắp từ những vùng ven biển đến các hải đảo xa xôi và bao quát cả vùng biển đặc quyền kinh tế trên biển, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự an ninh và chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Việt Nam tham gia vào Công ước Luật biển 1982, Công ước có hiệu lực năm 1994 Hiện nay, việc khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ thiếu kiểm soát đang khiến nguồn lợi này dần cạn kiệt, một số loài hải sản trở nên khan hiếm Để khai thác thủy sản ven bờ, nhiều ngư dân vẫn sử dụng những công cụ đánh bắt không đúng quy định về kích thước mắt lưới, có nơi còn sử dụng các phương tiện khai thác hủy diệt (chất nổ, xung điện, chất độc) Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là bảo vệ tài nguyên tự nhiên có giá trị kinh tế cao nhưng với cường độ khai thác như hiện nay thì khả năng tái tạo của nguồn lợi thủy sản là khó khăn, đe dọa sự sinh tồn của nhiều loài thủy sản, nguồn lợi này trở nên cạn kiệt Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số ngày càng nhanh, trong khi nguồn lợi thủy sản ven bờ có hạn khiến việc giải quyết công ăn việc làm

và thu nhập cho bà con ngư dân cũng là vấn đề nan giải Do đó, giải pháp cho tình hình trên là phát triển loại hình đánh bắt xa bờ vừa giúp bảo vệ tài nguyên thủy sản ven bờ vừa giúp phát triển kinh tế

Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng ra Quyết định số 834/QĐ-BNN-TCTS ngày 17/4/2012 phân bổ bổ sung 157 tàu cá được lắp đặt thiết

bị kết nối vệ tinh thuộc Dự án MOVIMAR cho 18 tỉnh ven biển gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà mau, Kiên Giang và lực lượng Bộ đội Biên phòng Hiện đã cung cấp cho 3.000 tàu

cá được lắp đặt thiết bị kết nối vệ tinh cho các địa phương có biển Tuy nhiên, đánh bắt xa bờ còn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn cần tháo gỡ

Một là: khai thác thủy sản vẫn là khâu yếu nhất trong ba trụ cột là khai thác,

nuôi trồng và chế biến Đánh bắt xa bờ chỉ đóng góp khoảng 20% tổng kim ngạch

Trang 10

xa bờ của Việt Nam còn thua thế giới, các nước trong khu vực Cụ thể là các điều

kiện cơ sở hạ tầng như cảng cá, chợ cá, tàu thuyền, nơi tránh trú bão đều hạn chế

Trong khi việc đánh bắt xa bờ của các nước đã bỏ qua tàu gỗ, thay bằng tàu sắt, tàu

bằng vật liệu composite cùng với thiết bị hiện đại để vươn ra đại dương thì Việt

Nam vẫn ra khơi bằng tàu gỗ rất nhiều và công nghệ đánh bắt chậm thay đổi

Hai là: số lượng tàu đánh bắt xa bờ có thể nhiều lên nhưng chất lượng chưa

được cải thiện tương ứng Việt Nam đã có nhiều chính sách cho vay đóng tàu đánh

bắt xa bờ nhưng cách quản lý không đáp ứng yêu cầu Việc đánh bắt xa bờ đòi hỏi

đầu tư công nghệ cao, cải tiến liên tục và có chiến lược phát triển cụ thể

Để có được những đội tàu đánh bắt xa bờ ngang tầm khu vực và thế giới Việt

Nam nên chọn lọc, xem xét học hỏi kinh nghiệm, thu hút đầu tư và hợp tác với các

nước bên ngoài như Nga, Tây Ban Nha Ngoài ra, việc hỗ trợ ngư dân bám biển là

vô cùng cần thiết để giúp ngư dân yên tâm đi biển Việc tổ chức bộ máy quản lý nhà

nước về thủy sản nói chung, nghề cá nói riêng cũng hết sức quan trọng Tăng cường

lực lượng kiểm ngư để kiểm soát tàu cá trong nước và nước ngoài là hết sức cần

thiết Tiếp theo là các giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân theo định hướng hạn

chế đánh bắt gần bờ, ưu tiên cho đánh bắt xa bờ Việc tổ chức cộng đồng đánh cá là

rất quan trọng đối với nghề cá, thông qua tổ chức cộng đồng mới có thể thực hiện

tốt nhất các hoạt động về tiêu chuẩn hóa, về quản lý, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi

Hiện nay, cơn sốt khan hiếm lao động nói chung và lao động cho nghề cá lan

rộng ở nhiều vùng biển Mỗi chuyến biển, chủ tàu bỏ ra hàng trăm triệu đồng chi

phí ban đầu; còn lao động cũng mong đánh được tôm, cá Vậy nhưng, trong năm

2013 lại thêm một năm thất bát của nghề biển, có thể nói là năm mất mùa nhất trong

vòng 50 năm qua, nên nhiều ngư dân và chủ tàu lâm vào cảnh khó khăn Theo nhiều

ngư dân, cứ hễ thu nhập của các chuyến biển giảm sút là ngay lập tức có nhiều bạn

thuyền lại dịch chuyển đi nơi khác, làm những công việc khác Mặt khác tiền công

của lao động biển thường phụ thuộc vào từng chuyến biển, nên chủ tàu khó chắc

chuyện ổn định thu nhập cho các lao động, do đó sợi dây liên kết giữa họ khó bền

Nếu nhà nước hỗ trợ ngư dân vốn liếng, đóng tàu lớn, làm ăn lớn, nâng cao thu nhập… cho lao động nghề biển thì họ mới yên tâm bám biển

3 Mục tiêu, nôi dung và phương pháp nghiên cứu

- Mục tiêu của đề tài

Thứ nhất: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư

dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam

Thứ hai: đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động bám biển

của ngư dân

Thứ ba: kiểm tra xem có sự khác biệt về sự gắn bó và khả năng bám biển

của ngư dân theo một vài đặc tính riêng của gia đình sống về nghề cá (giới tính, độ tuổi, thâm niên trong nghề, vị trí công tác, trình độ)

Để thực hiện bốn mục tiêu này, đề tài nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau: Hoạt động bám biển của ngư dân (có tàu) đánh bắt xa bờ ở Việt Nam như thế nào?

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân?

Phạm vi và đối tượng khảo sát

Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động

bám biển của ngư dân hiện có tàu đánh bắt xa bờ ở Việt Nam

Đối tượng khảo sát gồm: Ngư dân tham gia đánh bắt xa bờ chủ yếu là Chủ tàu

và một số Cảng cá, Doanh nghiệp Chế biến Thủy hải sản có tàu cá

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu thông qua việc khảo sát 920 ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ (bao gồm hộ cá thể, cảng cá, doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản có tàu cá)

Trang 11

Dữ liệu thu thập được xử lý bằng SPSS cùng với các công cụ thống kê mô tả,

kiểm định trung bình, kiểm định thang đo với Cronbach Alpha, phân tích nhân tố

khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính

Phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu này là

phương pháp phân tích nhân tố và hồi quy tuyến tính

Cách thức thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi cá nhân đại diện Người được

khảo sát đã được tiếp cận và giới thiệu tóm tắt về mục đích của nghiên cứu cũng như

lợi ích của nó Để người được khảo sát dễ trả lời, cuộc khảo sát cũng được tiến hành

gửi bảng câu hỏi qua email, bưu điện nhờ bến, cảng cá gửi trực tiếp chủ tàu và trực tiếp

khảo sát tại bến cá, cảng - chợ cá, doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản có tàu cá

- Thiết kế câu hỏi, thang đo

Nghiên cứu định tính

Đây là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, được thực hiện để điều chỉnh thang đo và

bổ sung các biến quan sát Phương pháp này được thực hiện bằng cách phỏng vấn

sâu (n=10) theo một nội dung đã được chuẩn bị trước (xem phụ lục 1)

Các thông tin cần thu thập: Xác định xem người được phỏng vấn hiểu về nhu

cầu của ngư dân công việc đánh bắt ngoài khơi đối với biển thế nào? Theo họ, yếu

tố nào làm cho ngư dân gắn bó và tạo động lực bám biển để giữ lấy công việc

nhiều hơn? Kiểm tra xem người được hỏi có hiểu đúng ý câu hỏi hay không? Có

điều gì mà bảng câu hỏi chưa được đề cập đến, cần bổ sung gì trong nội dung các

câu hỏi? ngôn ngữ trình bày trong bảng câu hỏi có phù hợp hay chưa?

Đối tượng phỏng vấn: Dựa vào mối quan hệ cảng cá, ngư dân, doanh

nghiệp CBTHS phỏng vấn 08 ngư dân, 01 lãnh đạo phòng quản lý tàu cá cập

cảng, 01 lãnh đạo phòng phụ trách thu mua (xem phụ lục 1)

Kết quả nghiên cứu sơ bộ này là cơ sở hoàn chỉnh câu hỏi sau khi phỏng vấn 10 nhân vật am hiểu về nghề cá giúp cho việc thiết kế bảng câu hỏi để đưa vào nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu định lượng

Đây là giai đoạn nghiên cứu chính thức với phương pháp thu thập thông tin bằng cách gửi phiếu, điền thông Tin thông qua bảng câu hỏi khảo sát Dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 Sau khi mã hoá và làm sạch

dữ liệu, sẽ trải qua các bước sau:

Đầu tiên là đánh giá độ tin cậy các thang đo: Độ tin cậy của các thang đo được đánh giá bằng hệ số Cronbachalpha, qua đó các biến không phù hợp sẽ bị loại bỏ nếu hệ số tương quan biến–tổng (Correcteditem–total correlation) nhỏ hơn 0.3 và thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy nếu hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0.6 Tiếp theo, phương pháp phân tích nhân tố EFA được dùng để kiểm định giá trị khái niệm của thang đo Các biến có trọng số thấp (<0.5) sẽ bị loại và thang đo chỉ chấp nhận khi tổng phương sai trích >0,5 Các dữ liệu quan sát đủ điều kiện về độ tin cậy và giá trị hợp lệ được sử dụng để kiểm tra mô hình nghiên cứu lý thuyết Trong nghiên cứu này, hồi quy bội được dùng để ước tính và đánh giá ảnh hưởng của đặc điểm công việc, khen thưởng và phúc lợi, nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, quản lý, nhận thức về sự công bằng về chính sách, nhận thức về sự công bằng về phân phối đối với sự gắn bó của người lao động đối với công việc, để họ bám giữ việc lâu dài

Nghiên cứu cũng tiến hành kiểm định trung bình tổng thể để xem liệu có khác biệt giữa những độ tuổi, công suất tàu hay thâm niên nghề cá của ngư dân về mức

độ ảnh hưởng của những nhân tố đó đến mức độ gắn bó của người lao động hay không Tiếp theo là phân tích nhân tố để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các biến thành phần Các biến có hệ số tải nhân tố (factorloading) nhỏ hơn 0,5

sẽ bị loại Thang đo sẽ được chấp nhận khi tổng phương sai trích lớn hơn hoặc bằng 50% vàeigenvalue có giá trị lớn hơn 1 Sau đó tiến hành kiểm định các giả thuyết

Trang 12

của mô hình và mức độ phù hợp tổng thể của mô hình Mô hình hồi quy đa biến và

kiểm định với mức ý nghĩa 5%

Cuối cùng kiểm định T-test và phân tích ANOVA (Analysisofvariance) nhằm

tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của một vài nhóm cụ thể đối với hoạt động

bám biển của ngư dân Nghiên cứu sẽ so sánh kết quả giữa các mức độ đồng ý của

mỗi nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó và khả năng bám biển của ngư dân đối với

biển để tìm hiểu xem có bất kỳ khoảng trống nào giữa mong đợi của ngư dân đến

sự gắn bó và khả năng bám biển hay không Căn cứ vào kết quả đó, nghiên cứu sẽ rút

ra kết luận về những yếu tố Chính phủ nên quan tâm nhiều hơn để nâng cao mức độ

gắn bó và khả năng bám biển của ngư dân

Quy trình nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lý thuyết, pháp lý

về liên quan hoạt động bám biển

Khảo sát phỏng vấn bảng câu hỏi

Phỏng vấn bằng câu hỏi

Thu thập thông tin

Hình 1: Quy trình nghiên cứu

Dựa vào tình hình thực tế của tàu cá

Giai đoạn 1 Nghiên cứu

Trang 13

Phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu này, khảo sát được thực hiện theo phương pháp thuận tiện

tổng số bản câu hỏi phát ra là 920 trên tổng số 28.424 chiếc tàu đánh bắt hải sản xa

bờ đã được đăng ký hoạt động , mẫu khảo sát gồm 31 câu hỏi được trả lời hoàn

chỉnh, đựơc kiểm tra về độ tin cậy và khả năng dùng được 800 phiếu của 800 đại diện

tàu cá Kích thước mẫu này được coi là đạt yêu cầu trong nghiên cứu khoa học xã

hội (n ≥ 50 + 8 × m, m là số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1989) và đáp

ứng các yêu cầu của SPSS trong xử lý dữ liệu

Thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi

Bản câu hỏi (Phụ lục 2) được thiết kế dựa trên nền tảng lý thuyết đã nêu.Các

câu hỏi được xây dựng dưới dạng các câu hỏi nhiều lựa chọn Thang đo năm điểm

Likert đã được sử dụng cho các câu hỏi

Thành phần của thang đo

Tất cả các biến quan sát trong các thành phần đều sử dụng thang đo Likert 5

điểm,với sự lựa chọn từ 1 đến 5, người được hỏi có quyền chọn 1 trong 5 bậc thang

đo mà họ cảm nhận được, như sau:

Hoạt động bám biển của ngư dân: Một thang đo năm mục được thiết kế cho

nghiên cứu này để đo lường mức độ hoạt động của người lao động với công việc,

với tổ chức Các mục được liệt kê để đánh giá sự hiện diện về mặt tâm lý của

cho hoạt động bám biển của ngư dân: “Một trong những điều tâm đắc và thú vị nhất đối với tôi là việc tham gia vào những điều xảy ra trong tổ chức, trong công việc nhiều rủi ro mang nhiều ý nghĩa này ”

Khen thưởng và phúc lợi: Được đo bởi thang đo bốn mục thiết kế cho nghiên

cứu này Những người tham gia được yêu cầu chỉ ra mức độ đồng ý khi họ nhận

được kết quả khác nhau từ việc họ làm tốt công việc của mình

Nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, nhà quản lý: Được đo bằng năm mục

của khảo sát nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, quản lý với những đặc tính kiểm soát, quản lý về mức độ an toàn phương tiện, trang thiết bị, dịch vụ tiếp ứng ngoài khơi xa đất liền, cảng – chợ cá nơi cập bến sau thời gian khai thác, mua bán hải sản, nhà máy chế biến thủy hải sản thu mua từ các tàu đánh bắt hải sản tiêu thụ

xuất khẩu và nội địa để giúp ngư dân giảm bớt tổn thất, tăng thu nhập

Công bằng về chính sách: Được đo bởi thang đo bốn mục được sử dụng để đo

sự công bằng về thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư Những người tham gia yêu cầu chỉ ra mức độ đồng ý khi họ nhận được kết quả khác nhau khi nhận được sự công bằng tích cực từ phía chính quyền về thủ tục chính sách ưu đãi đầu tư ngành nghề

mà họ xem là chưa tốt

Công bằng về phân phối: Được đo bởi thang đo năm mục được sử dụng để đo

sự công bằng về phân phối thu nhập, Chính phủ giảm thuế nghề cá nhiều hơn các nghề khác, cảm nhận của ngư dân được chia sẽ công việc ngoài khơi nhiều rủi ro.Tạo động lực gắn bó, tăng khả năng bám biển giữ công ăn việc làm,ngoài ra còn

có ý nghĩa bảo vệ vùng biển tổ quốc

Đặc điểm công việc: Được đo bởi bốn mục mỗi mục tương ứng với một đặc

tính công việc cốt lõi công việc của họ là truyền thống, đánh bắt hải sản ở biển khơi mang về bán làm thực phẩm chủ yếu cho con người

Trang 14

Bảng 1: Tổng hợp các thang đo được mã hóa

1/ Khen thưởng ngư dân có thành tích bám biển ktpl1

2/ Chăm lo gia đình ngư dân có người hy sinh bám biển ktpl2

3/ Có chính sách quan tâm gia đình truyền thống gắn bó với biển ktpl3

1/ Trang thiết bị dò tìm luồng cá, dự báo thời tiết hiện đại httcql1

2/ Hỗ trợ giá dầu, bảo hiểm tài sản và con người ra khơi đánh bắt httcql2

3/ Đào tạokỹ thuật đánh bắt cung ứng lao động cho tàu cá httcql3

4/ Đăng ký, đăng kiểm an toàn kỹ thuật phương tiện nhanh chóng đảm

1/ Môi trường làm việc trên biển nguy hiểm mtlv1

2/ Thời tiết không thuận lợi cho tàu ra khơi mtlv2

4/ Ngư trường đánh bắt nhiều hải sản phải đi xa hơn, rủi ro nhiều hơn mtlv4

1/ Chính sách hỗ trợ đầu tư phương tiện, MMTB đánh bắt phù hợp cbcs1

2/ Chính sách hỗ trợ đến ngư dân được thực hiện công bằng cbcs2

4/ Chính sách khuyến khích khai thác, chế biến, xuất khẩu phù hợp cbcs4

1/ Miễn giảm thuế tàu đánh bắt hải sản xa bờ cbpp1 2/ Miễn giảm thuế doanh nghiệp thu mua nguyên liệu hải sản từ tàu

3/ Miễn giảm thuế XK đối với mặt hàng hải sản đánh bắt xa bờ cbpp3 4/ Miễn giảm thuế cảng chợ cá, khu chế biến THS tập trung cbpp45/ Miễn giảm phí bảo hiểm y tế cho ngư dân cbpp5

1/ Nghề đánh bắt hải sản xa bờ là nghề truyền thống ddcv1 2/ Công việc đánh bắt xa bờ là ở ngoài biển khơi ddcv2 3/ Nghề đánh bắt xa bờ ngư dân thường ở ngoài khơi ddcv3 4/ Tàu đánh bắt xa bờ mang lại thực phẩm cho con người ddcv4

1/Tôi (chúng tôi) gắn bó với nghề cá truyền thống lâu đời gbbb1 2/ Tôi (chúng tôi) rất tự hào là ngư dân của nước Việt Nam gbbb2 3/ Tôi (chúng tôi) sống bằng nghề cá cũng làm giàu như bao nghề khác gbbb3 4/ Tôi (chúng tôi) đoàn kết thành đội tàu ra khơi bám biển gbbb4 5/ Tôi (chúng tôi) cam kết sẽ gắn bó và bám vùng biển Việt Nam lâu dài gbbb5

5 Kết cấu của luận văn

Phần mở đầu: nêu lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và nội

dung phương pháp nghiên cứu một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, khai thác xa bờ ở khu vực Châu Á, các doanh nghiệp chế biến thủy hải sản ở Việt Nam, các cảng cá ở Việt Nam, một số văn bản pháp lý

Trang 15

Chương 1: Cơ sở lý luận hoạt động bám biển của ngư dân

Chương 2: Thực trạng hoạt động bám biển của ngư dân ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư

dân có tàu đánh bắt xa bờ ở Việt Nam

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BÁM BIỂN, ĐÁNH BẮT XA BỜ

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa về sự gắn bó

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều sự quan tâm đến sự gắn bó của người lao động đối với tổ chức Nhiều người đã tuyên bố rằng sự gắn bó của người lao động dự báo kết quả lao động, thành công của tổ chức và các kết quả tài chính (Bates, 2004; Baumruk, 2004; Richman, 2006) Đồng thời, có báo cáo cho rằng sự gắn bó của người lao động đang suy giảm và có một sự không gắn bó sâu sắc trong người lao động ngày nay (Bates, 2004; Richman, 2006)

Khái niệm về sự gắn bó của người lao động đóng một vai trò trung tâm trong bối cảnh kinh doanh toàn cầu khi tổ chức cố gắng để tối ưu hóa sức mạnh trí tuệ vốn có trong lực lượng lao động đa dạng hiện nay Sự gắn bó của người lao động đại diện cho một nguồn lực bền vững có khả năng thúc đẩy cho sự thành công và lợi thế cạnh tranh của tổ chức Các tổ chức tích cực theo đuổi mức độ gắn bó nhiều hơn của người lao động để tăng năng suất, khơi dậy nguồn năng lượng tích cực trong văn hóa doanh nghiệp cũng như để nâng cao danh tiếng của tổ chức trong ngành và trong cộng đồng hoạt động kinh doanh rộng lớn hơn

Sự gắn bó của người lao động (employee engagement) đã trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến (Robinson và cộng sự, 2004) Tuy nhiên, hầu hết những gì đã được viết về sự gắn bó của người lao động chỉ có thể được tìm thấy trong các tạp chí thực hành nơi mà cơ sở của nó ở trong thực tế hơn là lý thuyết

và nghiên cứu thực nghiệm Theo ghi nhận của Robinson và cộng sự (2004), đã có chút ngạc nhiên khi nghiên cứu và thực nghiệm về một chủ đề mà đã trở nên khá phổ biến Kết quả là, sự gắn bó của người lao động có diện mạo hơi khác

Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, sự gắn bó của người lao động còn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và các định nghĩa và cách đo lường thường giống như những thuật ngữ nổi tiếng như sự tận tâm đối với tổ chức (Organizational

Trang 16

(Organizational citizenship behavior) (Robinson và cộng sự, 2004) Thông thường,

sự gắn bó của người lao động được định nghĩa là sự gắn bó về cảm xúc và trí tuệ đối

với tổ chức (Baumruk, 2004; Richman, 2006; Shaw, 2005) hoặc những nỗ lực tự phát

của người lao động trong công việc của họ (Frank và cộng sự, 2004)

Trong các tài liệu học thuật, nhiều định nghĩa đã được cung cấp Kahn (1990,

trang 694) định nghĩa sự gắn bó cá nhân là “sự tự khai thác bản thân của chính các

thành viên trong tổ chức trong công việc của họ; trong sự gắn bó, người lao động sử

dụng và thể hiện bản thân qua vật chất, nhận thức và tình cảm trong công việc” Cá

nhân không có sự gắn bó thường có xu hướng “tách rời bản thân và công việc; trong

việc không gắn bó, người lao động rút ra và bảo vệ bản thân qua vật chất, nhận thức và

tình cảm trong công việc” Như vậy, theo Kahn (1990, 1992), sự gắn bó có nghĩa là sự

hiện diện của tâm lý khi nắm giữ và thực hiện vai trò tổ chức

Rothbard (2001, trang 656) cũng xác định sự gắn bó như sự hiện diện tâm lý

nhưng đi xa hơn khi nói rằng nó bao gồm hai thành phần quan trọng: sự chú tâm và

sự say mê Sự chú tâm đề cập đến việc “có nhận thức và dành thời gian để suy nghĩ

về một vai trò nào đó”, trong khi sự say mê có nghĩa là “hăng say trong một vai trò

và đề cập đến cường độ tập trung của một người vào một vai trò nào đó”

Những nhà nghiên cứu về sự kiệt sức (burnout) xác định sự gắn bó như là sự

đối lập hoặc sự tương phản tuyệt đối của sự kiệt sức (Maslach và cộng sự, 2001)

Theo Maslach và cộng sự (2001), sự gắn bó được đặc trưng bởi năng lượng, sự

tham gia và hiệu quả làm việc, đối lập trực tiếp với ba chiều của sự kiệt sức đó là

hoài nghi, kiệt sức và không hiệu quả Nghiên cứu về sự kiệt sức và sự gắn bó đã

tìm thấy rằng các chiều cốt lõi của sự kiệt sức (mệt mỏi và hoài nghi) và sự gắn bó

(đầy sinh lực và sự cống hiến) là đối lập với nhau (Gonzalez-Roma và cộng sự,

2006)

Schaufeil và cộng sự (2002, trang 74) định nghĩa sự gắn bó như là “một trạng

thái tâm lý liên quan đến công việc, tích cực và sẵn sàng làm việc được đặc trưng

bởi sự cống hiến, năng lượng và sự say mê” Họ còn cho rằng sự gắn bó không phải là

cảm lan tỏa và liên tục, không tập trung vào bất kỳ đối tượng, cá nhân, sự kiện hoặc hành vi cụ thể nào” (trang 74)

Sự gắn bó cũng khác với sự tham gia trong công việc (Job involvement) Theo May và cộng sự (2004), sự tham gia trong công việc là kết quả của sự đánh giá về mặt nhận thức về khả năng đáp ứng nhu cầu của công việc và gắn liền với hình ảnh của chính mình Sự gắn bó phải thấy được người lao động thực hiện các công việc của họ Hơn nữa, sự gắn bó liên quan đến việc chủ động sử dụng cảm xúc và hành vi để bổ sung cho nhận thức May và cộng sự (2004, trang 12) cũng cho rằng “sự gắn bó có thể được dùng như một tiền đề cho sự tham gia trong công việc, trong đó các cá nhân có sự gắn bó nhiều hơn trong vai trò của mình sẽ đồng nhất với công việc của họ”

Tóm lại, Sự tận tâm của nhà nước cũng liên quan đến hoạt động ở chỗ nó đề cập đến thái độ của ngư dân và sự ràng buộc đối với đất nước của họ Sự gắn bó không phải là một thái độ, nó là mức độ mà một cá nhân chú ý và say mê trong việc thể hiện vai trò của họ Và trong khi hành vi công dân trong cả nước liên quan đến hành vi tự nguyện và phi chính thức trong việc giúp ngư nghiệp mang tính chất bảo

vệ tổ quốc vùng biển tiêu điểm của sự gắn bó là việc thể hiện vai trò chính thức của một người chứ không phải là phụ giúp hay hành vi tự nguyện

Trang 17

được xây dựng trên cơ sở lý thuyết tâm lý học, lý thuyết của Herzberg (1976) được

xây dựng trên cơ sở kiến thức thực tế của người lao động Trên cơ sở khảo sát,

Herberg đã chia thành hai mức độ: mức độ thứ nhất, làm việc một cách bình

thường: nếu những biện pháp là nhân tố duy trì không được thỏa mãn, nhân viên sẽ

bất mãn và làm việc kém hăng hái Nhân tố duy trì là thỏa mãn những nhu cầu bậc

thấp; mức độ thứ hai, làm việc một cách hăng hái khi được động viên bằng những

biện pháp gọi là nhân tố động viên: nếu không có, họ vẫn làm việc một cách bình

thường Nhân tố động viên là thỏa mãn những nhu cầu bậc bậc cao và duy trì sự

thỏa mãn Việc động viên người lao động đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng đồng

thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên, không thể chú trọng một

nhân tố nào cả

1.1.2.2 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow

Trong hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu

của Abraham Maslow là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn A Maslow

cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con

người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng

Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:

Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu đảm bảo cho

con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu

cầu của cơ thể khác

Những nhu cầu an toàn và an ninh: là các nhu cầu như an toàn, không bị đe

doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ…

Những nhu cầu xã hội: là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã

hội…

Những nhu cầu tự trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác,

được người khác tôn trọng, địa vị…

Những nhu cầu tự thể hiện: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng

Hình 1.1 : Tháp nhu cầu của Maslow

1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của người lao động

Trong nghiên cứu thực nghiệm để kiểm tra mô hình của Kahn (1990), May và cộng sự (2004) thấy rằng sự có ý nghĩa, sự an toàn và sự sẵn sang liên quan đáng kể đến sự gắn bó Họ cũng thấy rằng việc làm thú vị hóa công việc và vai trò phù hợp

là những yếu tố dự báo tích cực của sự có ý nghĩa; khen thưởng, đồng nghiệp và động viên khuyến khích của người giám sát là những yếu tố dự báo tích cực về sự

an toàn trong khi tuân thủ các quy tắc của đồng nghiệp và sự tự ý thức là những yếu

tố dự báo tiêu cực Nguồn lực có sẵn là một yếu tố dự báo tích cực của sự sẵn sàng

về mặt tâm lý trong khi sự tham gia vào các hoạt động bên ngoài là một yếu tố dự báo tiêu cực

Một mô hình sự gắn bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả

sự gắn bó trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức, trong đó lưu ý rằng sự kiệt sức liên quan đến việc xói mòn của sự gắn bó với công việc của một người (Maslach và cộng sự, 2001) Theo Maslach và cộng sự (2001), sáu lĩnh

Trang 18

vực của đời sống - công việc dẫn đến sự kiệt sức và sự gắn bó là khối lượng công

việc, sự kiểm soát, khen thưởng và ghi nhận, cộng đồng và hỗ trợ xã hội, nhận thức về

sự công bằng, và giá trị Họ cho rằng sự gắn bó với công việc được liên kết với một

khối lượng công việc có thể chịu đựng được, ý thức về sự lựa chọn và kiểm soát,

ghi nhận và khen thưởng thích hợp, một cộng đồng làm việc có sự hỗ trợ, công bằng

và công lý, và công việc có ý nghĩa và giá trị Giống như sự kiệt sức, sự gắn bó dự

kiến được mong muốn là sẽ làm trung gian liên kết giữa sáu yếu tố đời sống công

việc và những kết quả làm việc khác nhau

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân

Sau khi nghiên cứu các lý thuyết, sự hạn chế về nghiên cứu tới các yếu tố ảnh

hưởng đến sự gắn và khả năng bám biển của ngư dân Tác giả chọn mô hình nghiên

cứu sự gắn bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bó

trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn sự gắn bó

của một người - Maslach và cộng sự (2001), kết hợp khái niệm về khả năng thực

hiện của triết học để đưa ra mô hình nghiên cứu hoạt động bám biển của ngư dân,

đề tài này tập trung nghiên cứu sáu yếu tố sau: 1 Môi trường làm việc, 2 Hỗ trợ

của nhà tổ chức, nhà quả lý, 3 Khen thưởng và phúc lợi 4 Công bằng về chính

sách, 5 Công bằng về phân phối, 6 Đặc điểm công việc

Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân

1.2.1 Khen thưởng và phúc lợi

Cũng trong điều kiện của lý thuyết trao đổi xã hội, khi người lao động tin rằng

nhà tổ chức, nhà quản lý của họ và lo lắng cho họ, họ có khả năng đáp lại bằng cách

cố gắng thực hiện nghĩa vụ của mình đối với tổ chức bằng cách ngày càng trở nên

gắn bó hơn, làm cho họ tăng thêm khả năng bám biển để có việc làm nuôi sống gia

đình Nếu được Nhà nước có chính sách quan tâm chăm lo những người thân của

Hoạt động bám biển của ngư dân = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * hỗ

trợ của nhà tổ chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về

chính sách + B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc

họ, khi ra khơi đánh bắt gặp chuyện rủi ro, thì họ cũng an tâm hơn khi làm việc ở môi trường khó khăn và huy hiểm

1.2.2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quản lý

Đảm bảo các tàu đánh bắt hải sản luôn ở trạng thái an toàn, có đầy đủ các trang thiết bị an toàn cho người và tàu (phao cứu sinh, thiết bị thông tin liên lạc, ); mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên; khai báo với chính quyền và Đồn Biên phòng nơi cư trú về hô hiệu và tần số liên lạc của tàu

Tàu thuyền khi ra, vào cảng, bến đậu phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khai báo; phải thông báo cụ thể ngư trường đang hoạt động (vị trí, tọa độ) cho cơ quan quản lý thủy sản và thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết trong quá trình hoạt động trên biển

Phương tiện đánh bắt thủy hải sản đóng bằng gỗ từ thời xa xưa, đến nay chỉ phù hợp đối với các con tàu đánh bắt gần bờ, gỗ dùng để đóng tàu ngày càng hiếm,

kỹ thuật đóng tàu sắt lớn an toàn, giá thành thấp so với tàu gỗ Đăng ký cấp số phương tiện tàu đánh bắt thủy hải sản để Nhà nước theo dõi, quản lý và đăng kiểm

an toàn kỹ thuật theo Quy phạm của Cục Đăng kiểm Việt Nam

Dịch vụ hậu cần nghề cá: Trong nỗ lực nâng cao hiệu quả nghề khai thác hải

sản, chính quyền địa phương cùng với bà con ngư dân đã cho ra đời nhiều loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển như dịch vụ cứu nạn cứu hộ, vận chuyển sản phẩm… có nhiệm vụ chuyên chở sản phẩm từ biển vào bờ để giao cho các nhà máy chế biến Dịch vụ bao tiêu tiêu thụ sản phẩm trực tiếp và môi giới trong mua bán sản phẩm tại các Cảng cá trong nước Dịch vụ cung ứng nhiên liệu tham gia vận chuyển xăng dầu, nước đá từ đất liền ra biển cung cấp cho các tàu đang hoạt động

xa bờ Dịch vụ sửa chữa nhanh là lực lượng có tay nghề sửa máy nổ, vá lưới, sửa tàu hư hỏng…

Doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản (DNCBTHS): là nơi tiếp nhận nguyên

liêu sau thu hoạch khai thác thủy hải sản, trong đó nghề đánh bắt hải sản cung cấp

Trang 19

lợi nhuận với ngư dân Tàu đánh bắt xa bờ quyết định sản lượng nguyên liệu,

Doanh nghiệp chế biến hải sản quyết định lợi nhuận cho danh nghiệp của họ và cho

tàu đánh bắt hải sản Ngành chế biến Thủy hải sản thay đổi máy móc thiết bị sản

xuất sạch, công nghệ tiên tiến để đáp ứng với thị trường và quy chuẩn quốc gia cho

ngành chế biến Thủy hải sản tại Việt Nam

Cảng - Chợ cá địa phương kết hợp với khu CBTHS: là nơi tập trung cho tàu

đánh bắt ngoài khơi hoặc tàu trung chuyển về cập bến lên hải sản, chợ giao dịch

mua bán giữa ngư dân với doanh nghiệp chế biến, thương lái các chợ lậu cận, cung

cấp dịch vụ tiện ích hỗ trợ doanh nghiệp và ngư dân Khu chế biến thủy sản giống

như một khu công nghiệp chuyên ngành Thủy hải sản, hệ thố hạ tầng kỹ thuật, trạm

xữ lý nước thải tập trung…

1.2.3 Môi trường làm việc

Môi trường làm việc là ở ngoài biển khơi, ngư dân lên tàu ra đến ngư trường

ngoài xa đánh bắt hải sản, khối lượng công việc ngoài khơi đơn độc, nhiều khó khăn

và nguy hiểm Nghề cá là nghể nhiều rủi ro, thách thức nhưng rất thú vị khi trúng vụ

và đòi hỏi ngư dân phải yêu nghề, yêu biển Mỗi chuyến ra khơi từ hơn một tháng

sau đó quay về đất liền thăm gia đình, công việc nặng nhọc, khó khăn hàng ngày

của ngư dânđã trở nên bình thường như bao nghề khác Rừng vàng biển bạc, ngư

trường gần bờ ngày cạn kiệt do khai thác quá mức, ngư trường xa bờ là mục tiêu

của Chính phủ xây dựng chiến lược biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030,

định hướng cho ngư dân phát triển ngành đánh bắt hải sản xa bờ là rất phù hợp với

ngư dân

1.2.4 Công bằng về chính sách

Chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư được cụ thể hóa đúng đường lối chủ

trương của Đảng và Nhà nước, đúng địa chỉ, đúng nội dung của ngành, xử lý

nghiêm khi có tiêu cực xảy ra và công bằng đối với ngư dân vùng biển Sự công

bằng là một trong các điều kiện gắn bó của Maslach và cộng sự (2001), khi người

lao động có nhận thức về sự công bằng trong tổ chức cao, có nhiều khả năng họ

cảm thấy có nghĩa vụ đáp lại công bằng đó trong cách thức họ thực hiện vai trò của

họ bằng cách gắn bó nhiều hơn, tạo động lực làm tăng thêm khả năng bám biển vì cuộc sống và bảo vệ tổ quốc

1.2.5 Công bằng về phân phối

Khi chính sách phân phối của Chính phủ liên quan đến ngành đánh bắt xa bờ

sẽ tạo cho ngư dân, nhà kinh doanh hải sản do ngư dân đánh bắt nhận thức được qua thuế suất Thuế Giá trị gia tăng (GTGT), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNCN) Khoản thu nhập từ giảm miễn thuế họ có thể sang sẻ nhau về lợi nhuận để tàu đánh bắt ra khơi liên tục mang về hải sản cho nhà máy chế biến không ngừng xuất khẩu mang ngoại tệ về cho đất nước Từ việc giảm miễn thuế giúp cho ngư dân nhận thức được sự quan tâm của Chính phủ thể hiện bằng vật chất, họ sẽ có ý thức làm gì để gắn bó với nghề cá lâu dài và cố gắng bám biển vùng lãnh hải của Việt Nam

1.2.6 Đặc điểm công việc

Nghề đánh bắt xa bờ là nghề truyền thống, công việc đánh bắt là ở ngoài biển khơi, sản phẩm của công việc này là mang về cho người dân hải sản giàu chất dinh dưỡng Do đó có nhiều ngư dân làm việc trên biển khơi hơn nữa đời người vì yêu nghề, yêu biển, yêu quê hương đất nước nơi sinh ra, lớn lên với nghề cá cha truyền con nối

Tóm tắt Chương 1

Chương 1 đã đưa ra một số khái niệm về sự gắn bó, các lý thuyết liên quan đến nhu cầu cá nhân, thuyết động viên, thuyết mong đợi, thuyết về sự công bằng Theo mô hình Maslach và cộng sự (2001), sáu lĩnh vực của đời sống - công việc dẫn đến sự kiệt sức và sự gắn bó là khối lượng công việc, sự kiểm soát, khen thưởng và ghi nhận, cộng đồng và hỗ trợ xã hội, nhận thức về sự công bằng và giá trị

Trang 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC XA BỜ Ở VIỆT NAM – CÁC YẾU TỐ

ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN

CÓ TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ

2.1 Thực trạng về các đoàn tàu cá khai thác xa bờ ở Việt Nam

Hoạt động khai thác hải sản được hình thành từ rất sớm, gắn liền với lịch sử

của xã hội, nhưng nghề khai thác hải sản của Việt Nam đến cuối những năm 80 của

thế kỷ trước vẫn là nghề khai thác thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ

Đến năm 1985, cả nước có 29.203 tàu thuyền máy với tổng công suất là

456.796 cv, bình quân 19 cv/chiếc; gần 30.000 tàu thuyền thủ công

Tuy nhiên, từ năm 1991 tới nay, số lượng tàu thuyền máy tăng nhanh, số

thuyền thủ công giảm dần Nhất là từ sau năm 1997, khi có chủ trương phát triển

khai thác xa bờ và ổn định khai thác vùng ven bờ, thời điểm bắt đầu triển khai

chương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa bờ, tỷ trọng tàu thuyền

công suất lớn trên 90 CV tăng đáng kể

Tính đến 31 tháng 12 năm 2011, cả nước có gần 130 ngàn tàu cá các loại,

trong đó loại tàu cá lắp máy < 20 CV là 65 ngàn chiếc (50%), lắp máy từ 20 ≤

50CV có 28 ngàn chiếc (21,84%), từ 50 ≤ 90 CV có 9,5 ngàn chiếc (7,3%) và lắp

máy từ 90CV trở lên có 27.224 chiếc (20,84%), tăng 55,23% so với năm 2009

Trong năm 2011, tàu thuyền được đóng mới đã có những bước cải tiến, hoàn

thiện về mặt chất lượng cũng như độ an toàn của con tàu Nhiều tàu đóng mới trang

bị công suất trên 1.000 CV như tàu lưới kéo của các tỉnh Quảng Bình, Quảng ngãi,

Bình Định, Kiên Giang, Bến Tre, Bà Rịa Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận, cá

biệt có tàu làm nghề câu mực của thành phố Đà Nẵng cũng đã trang bị máy có công

suất 1000 CV (xem phụ lục 3)

Nhiều tàu xa bờ đóng mới, cải hoán hoặc sửa chữa đã sử dụng vật liệu

composite bọc xung quanh tàu nâng độ cứng vững, kín nước đảm bảo an toàn khi

tàu hoạt động trên biển

Công tác bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản ngày càng được quan tâm, nhiều tàu đã trang bị hầm bảo quản sản phẩm bằng công nghệ xốp thổi (Polyurethan) thay cho xốp ghép truyền thống

Sự hiện diện dân sự của lực lượng tàu thuyền và ngư dân trên các vùng biển đã góp phần giữ vững chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc Trước những năm của thập niên 90 của thế kỷ trước tàu thuyền nước ngoài thường xuyên xâm phạm vùng biển Việt Nam để khai thác trộm thủy sản, nhất là vùng biển Vịnh Bắc

Bộ và vùng biển Tây Nam Bộ

Ngày nay, khi đội tàu khai thác xa bờ phát triển, có mặt thường xuyên trên khắp vùng đặc quyền kinh tế, tình trạng tàu thuyền nước ngoài vị phạm vùng biển Việt Nam khai thác trộm thủy sản giảm đáng kể

Hệ thống hậu cần dịch vụ hậu cần nghề cá đang từng bước được hoàn thành và

Hình 2.1: Tàu nước ngoài bắn cháy tàu cá của ta trong lãnh hải Việt Nam

Trang 21

và dịch vụ nghề cá tại tuyến khơi xa, tuyến đảo, tuyến ven bờ từng bước được hình

thành, gắn với các trung tâm dịch vụ nghề cá đã bước đầu được hình thành

Hình 2.2: Tàu cá sau khi đánh bắt về neo đậu

Theo số liệu từ Cục thống kê vào năm 2005, sản lượng hải sản cho phép khai

thác ngoài khơi của nước ta ước tính khoảng 1,1 triệu tấn/năm, còn sản lượng cho

phép khai thác gần bờ khoảng 0,6 triệu tấn/năm Nhưng đến năm 2012 sản lượng

hải sản đạt 2.418,7 triệu tấn/ năm, khai thác gần bờ cạn kiệt, Chính phủ có đề án

khuyến khích khai thác xa bờ hiệu quả cho ngư dân

Nhìn chung nguồn lợi thủy sản ven bờ bị lạm thác trong khi nguồn lợi thủy

sản xa bờ còn lớn chưa khai thác hết được Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là phải

chuyển sang đánh bắt xa bờ Chương trình này không những đem lại lợi nhuận kinh

tế cao mà còn góp phần bảo vệ nguồn lợi hải sản phục vụ phát triển kinh tế lâu dài

Mặt khác, chương trình còn hứa hẹn sẽ góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho

hàng ngàn người lao động, cải thiện đời sống người dân

Chương trình đánh bắt hải sản xa bờ được phát động kể từ năm 1997 và được

giao cho Bộ Thủy Sản phối hợp với Quỹ Hỗ Trợ Phát Triển và Ngân Hàng Phát

Triển và Đầu Tư Việt Nam thực hiện Chương trình được triển khai tại 29 tỉnh,

thành phố với tổng vốn tín dụng ưu đãi được cấp lên đến gần 1.400 tỉ đồng Mục

tiêu tới năm 2008 sẽ thu hồi toàn bộ vốn đầu tư và lãi suất hằng năm

Phát triển đánh bắt hải sản xa bờ nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học biển, đảm bảo nguồn hải sản cho việc đánh bắt lâu dài, phát triển bền vững kinh tế thủy sản Việt Nam, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn người lao động, cung cấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản, tăng GDP cho quốc gia,…

Nguồn lợi có dấu hiệu tổn thương: Theo thống kê của Cục Khai thác và Bảo

vệ Nguồn lợi Thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến năm 2011, cả nước có 128.449 tàu cá, tăng gấp gần 3 lần so với năm 1990 và gấp 1,6 lần so với năm 2000; tổng công suất máy tàu là 7,22 triệu mã lực (CV) với sản lượng khai thác hải sản 2,2 triệu tấn, tăng 4,6 lần so với năm 2001 Mặc dù vậy, công tác quản lý tàu

cá, nghề khai thác hải sản thời gian qua không kiểm soát được; tổ chức sản xuất trên biển mang tính nhỏ lẻ, phân tán và chưa có sự liên kết hợp tác chặt chẽ trong tổ chức sản xuất; công nghệ khai thác, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch trên tàu còn lạc hậu khá xa so với các nước trong khu vực Đó là chưa kể đến tình trạng cạnh tranh trong khai thác ngày càng tăng, đánh bắt bất hợp pháp vẫn diễn ra đã làm suy giảm nguồn lợi hải sản vùng ven biển Mặt khác, chúng ta còn thiếu thông tin về nguồn lợi và cơ sở dữ liệu nghề cá để phục vụ cho công tác quản lý, quy hoạch khai thác hải sản; đầu tư cơ sở hạ tầng còn dàn trải và thiếu đồng bộ, hệ thống tổ chức quản lý khai thác và thực thi pháp luật chưa được kiện toàn

Theo thông tin từ Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hiện nay sản lượng khai thác của chúng ta vẫn đang ở ngưỡng cho phép với khoảng 2,2 triệu tấn/năm nhưng nguồn lợi hải sản đã có dấu hiệu tổn thương khi lượng cá nổi nhỏ đã khai thác vượt giới hạn 25 - 30% làm mất dần khả năng tái tạo, phục hồi mật độ quần thể, ảnh hưởng đến nguồn lợi cá nổi lớn do thiếu thức ăn (là cá nổi nhỏ) Trong khi đó, hải sản tầng đáy cũng bị khai thác ở mức độ cao, vượt giới hạn cho phép từ 30 - 35%, trong đó có nhiều giống loài hải sản có vòng đời dài như cá mú,

cá hồng có nguy cơ tuyệt chủng

“Tình trạng khai thác bằng chất nổ, xung điện, hóa chất độc hại, đánh bắt cá con, các loài đang trong thời kỳ đi đẻ (mực, cá, ghẹ có trứng); đánh bắt bằng mắt

Trang 22

mạnh Tỷ lệ cá tạp, cá chưa trưởng thành trong các mẻ lưới ngày càng cao, chiếm

khoảng 40 - 80% sản lượng đánh bắt tùy theo từng loại nghề, đặc biệt là tàu lưới

kéo ”, thực trạng về nguồn cá tái tạo hiện nay đáng lo ngại

Hình 2.3: Đánh bắt với mắt lưới kích thước nhỏ

Theo cơ cấu nghề khai thác hải sản, hiện cả nước có 40 loại nghề khai thác hải

sản, được xếp vào 7 họ nghề chủ yếu nhưng nghề lưới kéo vẫn chiếm tỷ trọng khá

lớn trong cơ cấu nghề với trên 18%; nghề lưới vây 4,9%; nghề câu 17,5% Trong

hơn một thập kỷ qua, đã có sự thay đổi và cải tiến các loại nghề như lưới kéo, lưới

rê, lưới vây trong nước và du nhập một số nghề khác như câu cá mú, cá hồng từ

Hồng Kông; câu cá ngừ đại dương từ Đài Loan, Nhật Bản; đặc biệt là lưới kéo đáy,

lưới vây sử dụng đò ngang, công nghệ bảo quản cá ngừ bằng nước biển Mặc dù

vậy do trình độ học vấn thấp, trong đó có đến 8,4% mù chữ và 55,2% tốt nghiệp

tiểu học (số liệu 2011), điều kiện kinh tế khó khăn nên việc đào tạo nghề, hướng

dẫn kỹ thuật mới cho lao động trực tiếp khai thác còn bị hạn chế

“Trình độ của lao động đa phần được đào tạo theo kiểu “cha truyền con nối”;

đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng hầu hết ít qua đào tạo chính quy, thiếu các kiến

thức cơ bản để sử dụng được các thiết bị hàng hải khai thác hiện đại Học vấn thấp,

phong tục tập quán khai thác khác nhau nên công tác chuyển giao, áp dụng tiến bộ

kỹ thuật để nâng cao năng suất khai thác là rất khó”

Chương trình đánh bắt hải sản xa bờ được Thủ tướng giao Bộ Thủy sản thực hiện Dự án triển khai từ năm 1997 tại 29 tỉnh, thành phố với tổng số vốn tín dụng

ưu đãi đã giải ngân hơn 1.340 tỷ đồng

Theo Bộ Thủy sản, tàu khai thác hải sản xa bờ đã hỗ trợ các đoàn tàu nhỏ hơn

ra khai thác ở các vùng biển Vịnh Bắc bộ, DK 1, các vùng biển Đông và Tây Nam

Bộ Nhưng thực tế, hiệu quả kinh tế của chương trình này lại thấp Nhiều dự án chỉ đánh bắt ở những ngư trường truyền thống gần bờ, chưa vươn ra khơi Hơn 1.300 tàu đánh bắt hải sản đã được hoán cải và đóng mới bằng vốn vay của nhà nước Nhưng có tới 520 tàu hoạt động không hiệu quả, 250 phương tiện không đi biển nằm phơi sương

Tại văn bản ra ngày 5/7/2005, Bộ Thủy sản thừa nhận đã lựa chọn chủ dự án đầu tư nhiều trường hợp không đúng đối tượng; lập, thẩm định xem duyệt các dự án đầu tư không chặt chẽ, không đủ các điều kiện theo quy định Khi triển khai dự án, tại nhiều địa phương, chủ đầu tư được tập trung ưu tiên là các Hợp tác xã Hầu hết

số này được thành lập sau khi Chính phủ có chủ trương cho vay vốn ưu đãi, nhằm xin tiếp nhận tiền đầu tư

Việc lựa chọn, xét duyệt các hộ ngư dân là chủ đầu tư dự án cũng trong tình trạng tương tự Tại tỉnh Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bình Định nhiều ngư dân được xét duyệt cho vay vốn trong khi không hề có kinh nghiệm đi biển Ở nhiều địa phương, cả giáo viên, viên chức không đủ điều kiện cũng có tên trong danh sách Điều này đã khiến dự án không được giao vào tay người có năng lực quản lý, gây thất thoát và lãng phí lớn Phần lớn các Hợp tác xã, hộ ngư dân đã làm ăn không hiệu quả, thua lỗ, phải giải thể hay chuyển đổi cho chủ đầu tư khác

Hầu hết dự án do cán bộ thủy sản địa phương lập hoặc do đơn vị tư vấn lập theo khuôn mẫu có sẵn, sao chép giống nhau Tại Thanh Hoá, toàn bộ các dự án đều

Trang 23

giống nhau, dù phương án kinh doanh của mỗi người vay khác nhau Ở Bình Định,

trong 35 dự án đầu tư lập năm 1998 nội dung được sao chép từ dự án lập năm 1997

Việc lập và thẩm quyền phê duyệt dự án chỉ mang tính hình thức Sở thủy sản

và một số cơ quan chức năng khác trong thành phần hội đồng thẩm định của địa

phương vừa lập dự án đầu tư, sau đó lại thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh,

thành phố phê duyệt dự án là vừa "đá bóng, vừa thổi còi", vi phạm quy chế quản lý

đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước

18 trong 64 hồ sơ dự án được thẩm định ở Đà Nẵng không có đơn hoặc phiếu

đăng ký của chủ dự án, biên bản họp thẩm định dự án không có đủ các thành phần

tham dự theo quy định Năm 1997, tỉnh phê duyệt tổng mức đầu tư của 8 dự án cao

hơn 400 triệu đồng so với kết quả thẩm định Còn tại Cà Mau, phần lớn hồ sơ không

có giấy phép hành nghề, không có xác nhận của chính quyền địa phương, đảm bảo

ngư dân vay vốn để thực hiện dự án Đặc biệt, tại Quảng Ninh, việc thẩm định, phê

duyệt các dự án chỉ căn cứ hồ sơ được lập, các chỉ tiêu trong dự án được thẩm định,

phê duyệt không được kiểm tra, xem xét thực tế

Nhiều trường hợp nâng giá vật tư, lập khống hợp đồng cung cấp thiết bị để rút

tiền dự án đã xuất hiện Theo Bộ Thủy sản, thiết kế và dự toán độc lập và phê duyệt

làm cơ sở thi công đóng tàu không chính xác về khối lượng và đơn giá vật tư, vật

liệu làm tăng giá trị của con tàu so với giá trị thực tế 48 tàu đánh cá của Thanh

Hoá đã lập dự toán tính sai, tăng chi phí 3,9 tỷ đồng Cũng tại địa phương này, 4 cơ

sở đóng tàu bòn rút 6,8 tỷ đồng từ việc đóng 95 tàu Các con tàu bị rút ngắn chiều

dài 1 - 2,5 m, giảm chiều cao mạn 0,2 - 0,3 m, các chi tiết cấu kiện đều bị cắt xén

chiều dày Dù vậy, chúng vẫn được chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản nghiệm thu,

xác nhận hoàn thành đúng thiết kế, đảm bảo chất lượng để chủ dự án được giải ngân

vay vốn Tương tự, ở Quảng Trị, số tiền sai phạm phải thu hồi từ 15 dự án đóng tàu

hơn 2,1 tỷ đồng Trong khi đó, tại Nghệ An, các chủ dự án đã rút tiền chi sai nguyên

tắc 2,4 tỷ đồng…Ở Đà Nẵng, nhiều chủ dự án đã tự ý sửa đổi mẫu vỏ tàu, thay đổi

thiết bị so với thiết kế Vì lẽ đó, sau khi hoàn thành xong, phương tiện không sử

nhà nước Việc kiểm tra, giám sát thiết kế, giám sát đăng kiểm trong quá trình đóng tàu không chặt chẽ, công tác đăng ký, quản lý tàu đánh cá xa bờ còn nhiều yếu kém

và bấtcập Cục và chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản không nắm được cụ thể số lượng tàu đăng ký, đăng kiểm hằng năm.Tình trạng phương tiện đăng ký tạm thời chưa đăng ký chính thức là khá lớn Không ít tàu đi biển không có giấy phép, không

Về hướng xử lý những tồn tại trên, Bộ Thủy sản cho biết đã phối hợp với các

bộ, ngành và địa phương thành lập hội đồng phân loại, định giá và bán đấu giá đối với các dự án đóng tàu hiện đang thực hiện không hiệu quả Theo đó, các chủ đầu tư đánh bắt có hiệu quả và trả được một phần nợ vay cho Nhà nước được đề nghị tiếp tục xử lý đồng bộ các biện pháp như gia hạn nợ, giản nợ, ngân hàng thương mại cho vay vốn bổ sung vốn Tính đến nay, hơn 1.300 tỷ đồng của Nhà nước rót cho chương trình đánh bắt xa bờ, có đến trên 80% rơi vào diện khó đòi bởi những con tàu "ma" và cơ chế quản lý vốn lỏng lẻo

Như vậy, trong khi triển khai dự án đánh bắt thủy sản xa bờ của Bộ đã và đang tồn tại nhiều vấn đề Nhưng không phải mọi dự án đầu tư của chương trình tại các tỉnh đều không thành công Điển hình như ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trong vòng 7 năm từ khi chương trình bắt đầu (từ cuối năm 1997), Bà Rịa – Vũng Tàu đã thẩm định và trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt 83 dự án đóng mới 83 chiếc tàu công suất từ 450 CV/ chiếc trở lên, trị giá 75,169 tỷ đồng Bên cạnh đó, bằng nguồn vốn

tự có, bà con ngư dân trong tỉnh còn đầu tư gần 1.500 tỷ đồng để đóng mới 1.117

Trang 24

tàu thuyền đánh bắt hải sản công suất lớn, nâng tổng số tàu thuyền có khả năng

đánh bắt xa bờ của tỉnh lên 2.131 chiếc với tổng công suất hơn 483.000 CV

Do làm ăn đạt hiệu quả, hiện nay các hộ vay vốn trong chương trình đã trả nợ

được 30 tỷ đồng, chiếm 40% tổng vốn được vay (trong khi đó tỷ lệ này ở các tỉnh

khác như Tiền Giang, Kiên Giang, Bình Thuận… chỉ đạt từ 10 đến 15% tổng vốn

vay) Sản lượng đánh bắt hải sản cao không những mang lại lợi nhuận cho bà con

ngư dân mà còn thúc đẩy ngành chế biến hải sản đạt kim ngạch xuất khẩu năm sau

cao hơn năm trước Nếu như năm 2005 tổng sản lượng khai thác 1.987,9 ngàn tấn,

trong đó khai thác hải sản từ biển chiếm 1.791,1 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu của

ngành chế biến chỉ đạt 2.732,5 triệu USD thì năm Năm 2012 tổng sản lương khai

thác 2.622,2 ngàn tấn, trong đó khai thác hải sản từ biển chiếm 2.418,7 ngàn tấn,

kim ngạch xuất khẩu của ngành chế biến chỉ đạt 6.088,5 triệu USD thì năm 2012 đã

tăng lên về sản lượng 744,6 ngàn tấn (41%), về giá trị xuất khẩu 3.356 triệu USD

(122,8%)

Rõ ràng là chương trình đánh bắt xa bờ của Nhà nước đã đạt được những kết

quả khả quan, được bà con ngư dân trong tỉnh hưởng ứng tích cực Nhờ chương

trình này mà nhiều hộ ngư dân trong tỉnh giờ đây đã có trong tay vài ba cặp tàu

công suất lớn, trang bị máy tầm ngư, máy đo độ sâu, thiết bị thông tin liên lạc trên

biển với đất liền và giữa các con tàu với nhau Chương trình này còn mang ý nghĩa

chiến lược về các mặt kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng, vừa bảo vệ được

nguồn hải sản ven bờ và khai thác tốt hơn tiềm năng tài nguyên vùng biển khơi của

Tổ quốc

Tuy nhiên, những thành công nhỏ lẻ của dự án tại một số tỉnh cũng không thể

giữ chương trình có thể tiếp tục trước những thất bại kéo dài ở một số tỉnh Do đó,

đầu năm 2006, chính phủ đã quyết định tạm dừng việc thực hiện chương trình đầu

tư đánh bắt xa bờ để kiểm điểm, đánh giá lại hiệu quả kinh tế (xem Phụ lục 3 số

lượng, công suất tàu 28 tỉnh trong nước (loại bỏ tỉnh Long An không thuộc biển),

sản lượng thủy hải sản, giá trị xuất khẩu thủy hải sản cả nước đến năm 2012) Qua

khảo sát tàu cá, dùng phương pháp thống kê mô tả ta có một số thông tin dưới đây

2.2 Thông tin nhân khẩu học của những người tham gia khảo sát

Trong nghiên cứu này, khảo sát được thực hiện theo phương pháp thuận tiện tổng số bản câu hỏi phát ra là 920 trên tổng số 27.988 chiếc tàu đánh bắt hải sản xa

bờ đã được đăng ký hoạt động, mẫu khảo sát gồm 59 câu hỏi được trả lời hoàn chỉnh, được kiểm tra về độ tin cậy và khả năng dùng được 800 phiếu thông tin khảo sát tàu

cá Kích thước mẫu này được coi là đạt yêucầu trong nghiên cứu khoa học xã hội (n ≥ 50 + 8 × m, m là số biến độc lập)(Tabachnick và Fidell, 1989) và đáp ứng các yêu cầu của SPSS trong xử lý dữ liệu

Xem phụ lục 4: Tóm tắt những thông tin nhân khẩu học của những người

tham gia khảo sát

Mẫu đưa vào phân tích chính thức có cơ cấu như sau:

Đại diện tàu cá: trong 8 0 0 người tham gia khảo sát, có 65người là đại diện

tổ chức chiếm 8 , 1 %, có 4 thuyền trưởng đ ạ i d i ệ n c h o c h ủ t à u c h i ế m 0 , 5 % còn lại là 731chủ tàu chiếm 91,4%

Về giới tính: Kết quả khảo sát cho thấy có 789 nam và 11nữ tham gia trả lời

Hình 2.4: Biểu đồ đại diện tàu cá

tàu cá

Trang 25

Về công suất tàu cá : Kết quả khảo sát cho thấy công suất tàu từ 90 đến 200 cv

có 738 chiếc, tỷ lệ 92,3%, công suất từ 201 đến dưới 400 cv có 44 chiếc, tỷ lệ5,5%,

công suất từ 400cv trở lên có 18 chiếc, tỷ lệ 2,3%

Hình 2.5: Biểu đồ về giới tính

Hình 2.6: Biểu đồ về công suất tàu cá

Ngư trường thường xuyên đánh bắt: Trong 800 tàu đánh bắt có 634 chiếc thường

xuyên đánh bắt tại ngư trường địa phương, tỷ lệ 79,3%, còn lại 166 chiếc thường xuyên đánh bắt nơi khác, tỷ lệ 20.8%

Cảng cá thường xuyên cặp bến: Trong 800 tàu cá có 629 chiếc thường xuyên về

cảng cá địa phương, tỷ lệ 78,6%, còn lại 171 chiếc thường đi nơi khác, tỷ lệ 21,4%

Hình 2.7: Biểu đồ về ngư trường thường xuyên khai thác

Hình 2.8: Biểu đồ về cảng cá thường xuyên cặp bến

Trang 26

Tàu chuyển hàng về cặp cảng: Kết quả khảo sát cho thấy tàu chuyển hàng về cặp

cảng1 lần/3 tháng có 5 chiếc, tỷ lệ 0,6%, có 14 chiếc cập cảng 2 lần/ 3 tháng,còn lại

cặp cảng từ 3 lần trở lên / 3 tháng có 781 chiếc, tỷ lệ 97,6%%

Thâm niên nghề cá: có 39 người thâm niên dưới 10 năm tham gia phỏng vấn

chiếm 4,9%, từ 10 năm đến 20 năm có 660 người chiếm 82,5%, trên 20 năm có 101

người chiếm 12,6%

Hình 2.9: Biểu đồ tàu chuyển hàng về cặp cảng

Hình 2.10: Biểu đồ thâm niên nghề

Về độ tuổi: với 800 người tham gia trả lờip hỏng vấn thì số lượng lớn nhất là ở

độ tuổi từ 36 đến dưới 45tuổi,có 643 người chiếm80,4%.Tiếp theo là độ tuổi từ 18 đến 35,có 40 người chiếm 5%, còn lại độ tuổi trên 46 có 117 người chiếm 14,6% Như vậy, đa phần người tham gia trả lời phỏng vấn trong nghiên cứu này thuộc độ tuổi trung niên

Về trình độ: Theo kết quả khảo sát, số lượng lớn nhất là những người có trình độ

trung học phổ thông, có 579 người chiếm 72,4%, số lượng có trình độ nhỏ hơn lớp 9

là 72 người chiếm 9%, còn lại có từ trung học trở lên có 149 người chiếm tỷ lệ 18,6%

Hình 2.11: Biểu đồ về độ tuổi

Hình 2.12: Biểu đồ về trình độ

Trang 27

2.3 Tinh lọc thang đo

Phần này bao gồm hai bước, bước đầu tiên là xác định độ tin cậy của mỗi thang

đo bằng cách sử dụng Cronbach Alpha để đảm bảo sự thống nhất giữa các mục,

phân tích nhân tố cũng được đưa vào bước này để đánh giá tính đơn chiều của mỗi

thang đo Ở bước thứ hai là phân tích nhân tố khám phá được tiến hành để kiểm tra

tính hội tụ và sự tương quan của tất cả các biến quan sát có đủ điều kiện qua đánh

giá độ tin cậy và đánh giá tính đơn chiều

2.3.1 Kiểm định đánh giá độ tin cậy của thang đo

Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê dùng để kiểm tra sự

chặt chẽ và tương quan giữa các biến quan sát Điều này liên quan đến hai khía cạnh

là tương quan giữa bản thân các biến và tương quan của các điểm số của từng biến

với điểm số toàn bộ các biến của mỗi người trả lời Phương pháp này cho phép

người phân tích loại bỏ những biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong mô

hình nghiên cứu vì nếu không chúng ta không thể biết được chính xác độ biến thiên

cũng như độ lỗi của các biến Theo đó, chỉ những biến có hệ số tương quan tổng

biến phù hợp (Corrected Item-Total Correlation) lớn hơn 0.3 và có hệ số Alpha lớn

hơn 0.6 mới được xem là chấp nhận được và thích hợp đưa vào những bước phân

tích tiếp theo Cũng theo nhiều nhà nghiên cứu, nếu Cronbach’s Alpha đạt từ 0.8

trở lên đến gần 1 thì thang đo thường là tốt, từ 0.7 đến gần 0,8 là sử dụng được

Cũng có nhà đề nghị rằng Cronbach alpha từ 0,6 trở lên là có thể sử dụng được

trong trường hợp khái niệm đang đo lường là mới hoặc mới với người trả lời trong

bối cảnh nghiên cứu (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995)

Bảng 2.1: Kết quả hệ số tương quan của các thang đo

02 Hỗ trợ của nhà tổ chức, quản lý 825

Kết quả cho thấy hệ số hệ số tương quan tin cậy của các nhóm yếu tố đều đạt

từ 0,722 trở lên và các biến quan sát trong từng nhóm có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3, tuy nhiên biến quan sát cbpp5 có hệ số biến tổng = 0,277 (<0,3) ta vẫn

sử dụng được do cronbach’s Alpha nếu loại biến quan sát 0,754 và cronbach’s Alpha tổng đạt tới điểm cắt 0,722 (>0,7), nên thang đo của các yếu tố “môi trường làm việc”, “hỗ trợ của nhà tổ chức, quản lý”, “khen thưởng và húc lợi”, “công bằng về chính sách”, “công bằng về phân phối”, “đặc điểm công việc” và nhóm yếu tố “sự

gắn bó và khả năng” đạt được độ tin cậy và tiếp tục đưa vào phân tích nhân tố (xem

phụ lục 5)

2.3.2 Phân tích nhân tố EFA

Phương pháp EFA được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu để đánh giá sơ bộ các thang đo lường Khi phân tích nhân tố khám phá, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến một số tiêu chí sau:

Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin): là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số của KMO lớn (giữa 0,5 và 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu như trị số này nhỏ hơn 0,5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với các dữ liệu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn

Trang 28

Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity): dùng để xem xét ma trận

tương quan có phải là ma trận đơn vị, là ma trận có các thành phần (hệ số tương

quan giữa các biến) bằng không và đường chéo (hệ số tương quan với chính nó)

bằng 1 Nếu kiểm định Bartlett có Sig <0,05, chúng ta từ chối giả thuyết Ho (ma

trận tương quan là ma trận đơn vị) nghĩa là các biến có quan hệ với nhau (Nguyễn

Đình Thọ, 2011)

Hệ số tải nhân tố (factor loading) >0,5 Nếu biến quan sát có hệ số tải nhân tố

<0,5sẽ bị loại (Nguyễn Đình Thọ, 2011)

Tổng phương sai trích TVE (Total Variance Explained): tổng này thể hiện các

nhân tố trích được bao nhiêu phần trăm của các biến đo lường Tổng này phải đạt từ

50% trở lên và tiêu chí eigenvalue tối thiểu phải bằng 1 (≥1) thì mô hình EFA phù

hợp (Nguyễn Đình Thọ, 2011)

Khác biệt hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố > 0,3 để

đảm bảogiá trị phân biệt giữa các nhân tố (Nguyễn Đình Thọ, 2011)

2.3.3 Phân tích nhân tố đối với biến độc lập

26 biến quan sát của thang đo được đưa vào phân tích nhân tố theo phương

pháp trích PrincipalComponent với phép quay Varimax Các biến có hệ số tải nhân

tố (factorloadings) nhỏ hơn 0,5 hoặc có hệ số tải nhân tố giữa các nhân tố gần bằng

nhau sẽ bị loại Phân tích nhân tố lần đầu c á c b i ế n quan sát đ ề u đ ạ t

Kết quả là có 6 nhân tố được trích ra với tổng phương sai trích được là

70,993%, cho biết 6 nhân tố này giải thích được 70,993% biến thiên của dữ liệu Hệ

số KMO = 0,665 (>0,5) là đạt yêu cầu Hệ số tải nhân số của tất cả các nhân tố đều

lớn hơn 0,5 Mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett = 0,000 (<0,05) nên ở độ tin cậy

95% các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể Vì vậy, kết quả EFA

là phù hợp (Xem phụ lục 6)

Kết quả phân tích nhân tố cho thấy có 28 biến quan sát được gom thành 6

nhóm nhân tố Các hệ số tải nhân tố của mỗi biến quan sát đều lớn hơn 0,5 Hệ số

Cronbach alpha của từng nhóm nhân tố được tính lại và cho kết quả phù hợp Sáu nhân tố trên được thể hiện như sau:

Nhân tố thứ nhất: được đặt tên là “khen thưởng và phúc lợi” bao gồm các

quan sát sau:

1/ Khen thưởng ngư dân có thành tích bám biển ktpl1 2/ Chăm lo gia đình ngư dân có người hy sinh bám biển ktpl2 3/ Có chính sách quan tâm gia đình truyền thống gắn bó với biển ktpl3 4/ Sớm triển khai nông thôn mới giáp biển ktpl4

Nhân tố thứ hai: được đặt tên là “hỗ trợ của nhà tổ chức, quản lý” bao gồm

các biến quan sát sau:

1/ Trang thiết bị dò tìm luồng cá, dự báo thời tiết hiện đại httcql1

2/ Hỗ trợ giá dầu, bảo hiểm tài sản và con người ra khơi đánh bắt httcql2

3/ Đào tạokỹ thuật đánh bắt cung ứng lao động cho tàu cá httcql3

4/ Đăng ký, đăng kiểm an toàn kỹ thuật phương tiện nhanh chóng đảm bảo ra khơi

1/ Chính sách hỗ trợ đầu tư phương tiện, MMTB đánh bắt phù hợp cbcs1

2/ Chính sách hỗ trợ đến ngư dân được thực hiện công bằng cbcs2

Trang 29

4/ Chính sách khuyến khích khai thác, chế biến, xuất khẩu phù hợp cbcs4

Nhân tố thứ tư: được đặt tên là “đặc điểm công việc” bao gồm các quan sát

sau:

1/ Miễn giảm phí bảo hiểm y tế cho ngư dân cbpp5

2/ Nghề đánh bắt hải sản xa bờ là nghề truyền thống ddcv1

3/ Công việc đánh bắt xa bờ là ở ngoài biển khơi ddcv2

Nhân tố thứ năm: được đặt tên là “môi trường làm việc” bao gồm các biến

quan sát sau:

1/ Môi trường làm việc của Anh/chị trên biển nguy hiểm mtlv1

2/ Thời tiết không thuận lợi cho tàu ra khơi mtlv2

3/ Ngư trường bất ổn về an ninh chính trị mtlv3

4/ Ngư trường đánh bắt nhiều hải sản phải đi xa hơn, rủi ro nhiều hơn mtlv4

Nhân tố thứ sáu: được đặt tên là “công bằng về phân phối” bao gồm các

quan sát như sau:

1/ Miễn giảm thuế tàu đánh bắt hải sản xa bờ cbpp1

2/ Miễn giảm thuế doanh nghiệp thu mua nguyên liệu hải sản từ tàu

đánh bắt xa bờ

cbpp2

3/ Miễn giảm thuế XK đối với mặt hàng hải sản đánh bắt xa bờ cbpp3

4/ Miễn giảm thuế cảng chợ cá, khu chế biến THS tập trung cbpp4

Nhân tố thứ bảy: bao gồm các quan sátđược đặt tên là “sản phẩm hải sản”

bao gồm các quan sát như sau:

1/ Nghề đánh bắt xa bờ thường gặp nhiều rủi ro ddcv3 2/ Tàu đánh bắt xa bờ mang lại thực phẩm cho con người ddcv4

2.3.4 Phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc

Khi đưa 5 biến quan sát của thang đo sự gắn bó và khả năng vào phân tích nhân tố thì chỉ có một nhân tố được rút ra với đầy đủ 5 biến này Các hệ số tải nhân

tố đều lớn hơn 0,5 Thang đo khả năng hoạt bám biển của ngư dân có phương sai trích bằng 68,034% cho thấy 68, 03 4% biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi nhân tố trên Kiểm định Bartlett có Sig=0.000(<0,05) nên ở độ tin cậy 95% các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và hệ số KMO=0,688 (>0,5) nên

phân tích nhân tố là phù hợp (Xem phụ lục 6)

Vì 05 biến quan sát này đều nói lên mức độ gắn bó và khả năng của n g ư

d ân đối với biển nên được đặt tên là “hoạt động bám biển của ngư dân” Nhân

tố này bao gồm các biến quan sát sau:

1/Tôi (chúng tôi) gắn bó với nghề cá truyền thống lâu đời hđbb1

2/ Tôi (chúng tôi) rất tự hào là ngư dân của nước Việt Nam hđbb2

3/ Tôi (chúng tôi) sống bằng nghề cá cũng làm giàu như bao nghề khác hđbb3

4/ Tôi (chúng tôi) đoàn kết thành đội tàu ra khơi bám biển hđbb4

5/ Tôi (chúng tôi) cam kết sẽ gắn bó và bám vùng biển Việt Nam lâu dài hđbb5

Như vậy, sau khi tiến hành phân tích nhân tố ta thấy 6 nhân tố mô hình ban

đầu đã được sắp xếp lại 7 nhân tố mô hình thứ hai với các giả thuyết trên cơ sở mô

hình đầu tiên, như sau:

Ngày đăng: 04/08/2016, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Quy trình nghiên cứu - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 1 Quy trình nghiên cứu (Trang 12)
Bảng 1: Tổng hợp các thang đo được mã hóa - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Tổng hợp các thang đo được mã hóa (Trang 14)
Hình 2.1:   Tàu nước ngoài bắn cháy  tàu cá của ta trong lãnh hải Việt Nam - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.1 Tàu nước ngoài bắn cháy tàu cá của ta trong lãnh hải Việt Nam (Trang 20)
Hình 2.4: Biểu đồ đại diện tàu cá - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.4 Biểu đồ đại diện tàu cá (Trang 24)
Hình 2.6: Biểu đồ về công suất tàu cá - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.6 Biểu đồ về công suất tàu cá (Trang 25)
Hình 2.7: Biểu đồ về ngư trường thường xuyên khai thác - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.7 Biểu đồ về ngư trường thường xuyên khai thác (Trang 25)
Hình 2.5: Biểu đồ về giới tính - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.5 Biểu đồ về giới tính (Trang 25)
Hình 2.9: Biểu đồ tàu chuyển hàng về cặp cảng - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.9 Biểu đồ tàu chuyển hàng về cặp cảng (Trang 26)
Hình 2.10: Biểu đồ thâm niên nghề - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.10 Biểu đồ thâm niên nghề (Trang 26)
Hình 2.12: Biểu đồ về trình độ - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 2.12 Biểu đồ về trình độ (Trang 26)
Hình nghiên cứu vì nếu không chúng ta không thể biết được chính xác độ biến thiên - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình nghi ên cứu vì nếu không chúng ta không thể biết được chính xác độ biến thiên (Trang 27)
Hình 3.1 : Trung tâm Thủy sản TP.HCM đang triển khai đầu tư tại - Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Hình 3.1 Trung tâm Thủy sản TP.HCM đang triển khai đầu tư tại (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w