Đảng ta khẳng định rằng, để đi lên chủ nghĩa xã hội nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ. Điều đó hoàn toàn đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam. Sự khẳng định này là hết sức cần thiết, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mà đất nước ta cùng với nhân loại bước vào thế kỷ XXI
Trang 1Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên nền tảng
lý luận hình thái kinh tế-xã hội của
chủ nghĩa c.mác lênin
1 Mở đầu
Ngay từ khi vừa thành lập, Đảng ta đã khẳng định con đờng đi lên của cách mạng Việt Nam là “làm t sản dân quyền cách mạng và thổ địa chủ nghĩa
để đi tới xã hội cộng sản”1 Đảng ta đã lấy việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản làm mục tiêu phấn đấu và quyết tâm xây dựng thành công mục tiêu đó Sau khi xác định mục tiêu vấn đề quan trọng đặt ra là phải có học thuyết, lý luận phù hợp với mục tiêu để làm cơ sở cho việc xác định con đờng, hoạch định đờng lối chủ trơng để xây dựng đất nớc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nớc Việt Nam theo con đờng xã hội chủ nghĩa, trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh”
Đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan theo đúng quy luật tiến hoá của lịch sử Tuy nhiên, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nớc kinh tế kém phát triển nh nớc ta là quá trình phấn đấu đầy khó khăn gian khổ, cha có tiền lệ trong lịch sử, song Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam vẫn kiên định con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội trong suốt hơn 70 năm qua Đảng
ta khẳng định rằng, để đi lên chủ nghĩa xã hội nhất định phải trải qua một thời
kỳ quá độ Điều đó hoàn toàn đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin
và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam Sự khẳng định này là hết sức cần thiết, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mà đất nớc ta cùng với nhân loại bớc vào thế kỷ XXI, trên thế giới có những diễn biến rất nhanh chóng và phức tạp, trong nớc chúng ta cũng đang đứng trớc nhiều nguy cơ và thách thức mới
Qua nghiên cứu các hình thái kinh tế-xã hội theo quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin cho chúng ta thấy rằng việc lựa chọn con đờng bớc đi của đất nớc do Đảng và nhân dân ta là con đờng duy nhất
đúng phù hợp với nguyên lý của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin Trong phạm vi nghiên cứu tác giả muốn làm rõ lý luận về hình thái kinh tế và việc lựa chon con đờng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hợp quy luật phát triển của lịch sử
2 Nội dung cơ bản
1 Đảng cộng sản Việt Nam.Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội 1998, tr 2
Trang 2Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin là một trong những nội dung quan trọng trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, mang tính khái quát cao, làm cơ sở vận dụng vào việc xác định con đờng của mỗi đất
n-ớc, mỗi dân tộc Trong phạm vi nghiên cứu vấn đề này bản thân chỉ bàn về lý luận học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin với việc lựa chon con đờng, hớng đi của đất nớc Việt Nam
2.1 Lý luận về học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông âu sụp đổ học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế-xã hội đã trở thành đối tợng của sự phê phán và bác bỏ của nhiều thế lực, từ những nhà t tởng t sản và cả những ngời trớc đây một thời đã từng đợc coi là Mat-xít Từ việc bác bỏ học thuyết Mác, những ngời này đi đến bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen
Học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế-xã hội, có thể nói là “hòn đá tảng” của quan niệm duy vật lịch sử, không thể có chủ nghĩa duy vật lịch sử nếu không có có học thuyết hình thái kinh tế-xã hội Học thuyết đó có ý nghĩa
to lớn và có giá trị bền vững cho đến ngày nay, nó vẫn là cách tiếp cận khoa học chủ yếu với mọi thời đại mà không có cách tiếp cận nào có thể thay thế đ-ợc
Với sự ra đời của học thuyết về hình thái kinh tế- xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã vạch ra thực chất sự tồn tại và phát triển của các xã hội trong kết cấu khách quan của chúng Học thuyết của Mác về hình thái kinh tế- xã hội không chỉ xác định các yếu tố, kết cấu của chúng, mà còn xem xét xã hội trong quá trình vận động biến đổi, phát triển không ngừng C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế- xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”2 Nh vậy, sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội vừa mang tính giai đoạn, vừa mang tính liên tục trong tổng thể quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội, nó mang tính khách quan, vốn có, không ai có thể áp đặt
đ-ợc sự phát triển đó C.Mác đi nghiên cứu xã hội bằng chính nội tại của xã hội
mà trớc hết từ nền sản xuất vật chất Nh chúng ta đều biết sự tồn tại của xã hội luôn phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất vật chất Mác khẳng định:
“Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con ngời, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: ngời ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch
2 C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, Tập 23, tr 21.
Trang 3sử” Nhng muốn sống đợc thì trớc hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Nh vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những t liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng nh hàng nghìn năm về trớc, ngời ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con ngời”3
C.Mác đã chỉ ra rằng quan hệ sản xuất, phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất, là tiêu chuẩn quan trọng nhất, chỉ rõ tính chất các kiểu xã hội khác nhau Quan hệ sản xuất cũng là cái cơ bản quyết
định tất cả mọi quan hệ khác của xã hội Lênin viết: “Trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, ông đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế, bằng cách
là trong tất cả mọi quan hệ xã hội, ông đã đã làm nổi bật riêng nhng quan hệ sản xuất, coi đó là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác”4
Mặt khác, từ điều kiện kinh tế- xã hội, C.Mác thấy rằng năng xuất lao
động đợc tạo ra cho xã hội trớc hết phải từ lực lợng sản xuất Ông viết: “Giai cấp t sản, trong quá trình thống trị giai cấp cha đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lợng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lợng sản xuất của tất cả các thế hệ trớc kia gộp lại”5 Có thể nói rằng điều kiện kinh tế- xã hội mà trực tiếp là nền sản xuất vật chất xã hội và đấu tranh giai cấp là những yếu tố trực tiếp chi phối đến sự phân công lao động xã hội Khi lực lợng sản xuất phát
triển mạnh sẽ có sự phân công lao động xã hội, có ngời lao động chân tay, có
ngời lao động trí óc, tạo ra các quan hệ xã hội, mà trớc hết là quan hệ về kinh
tế C.Mác viết: “Trớc hết con ngời cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trớc khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trớc khi có thể
hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học v.v ”6 Vì vậy, không có con đờng nào khác muốn nghiên cứu, mổ xẻ một xã hội nào đó phải xuất phát từ nền sản xuất vật chất, từ các quan hệ kinh tế Ph.Ăngghen đã đa ra nguyên tắc phơng pháp luận cơ bản cho việc nghiên cứu giới tự nhiên và lịch sử: “Bằng chứng phải đợc rút ra từ bản thân lịch sử Bây giờ thì bất cứ ở đâu, vấn đề không còn
là tởng tợng ra những mối liên hệ từ trong đầu óc, mà là phát hiện ra chúng từ những sự thực”7
3 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 3, tr 39- tr 40.
4 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát xcơva, 1974, Tập 1, tr 159
5 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 4, tr 603.
6 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995, Tập 19, tr 166.
7 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, t 21, tr 449.
Trang 4Trong lý luận về hình thái kinh tế-xã hội C.Mác coi bên cạnh các quan
hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các hình thái kinh tế-xã hội khác nhau C.Mác còn vạch ra mối quan hệ có tính chất cơ bản để xác định diện mạo của các hình thái kinh tế-xã hội; đó là mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng
C.Mác đã trình bày rõ cấu trúc của hình thái kinh tế-xã hội và cơ chế vận động của nó trong lời tựa cuốn Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị thì về sau Ph.Ăngghen đã tóm tắc lại một lần nữa quan niệm về hình thái kinh tế-xã hội của C.Mác và nhấn mạnh rằng cái cơ sở để cắt nghĩa đợc lịch sử là cả phơng thức sản xuất lẫn cơ cấu xã hội Ph.Ăngghen viết: “trong mỗi thời
đại lịch sử, phơng thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phơng thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa đợc lịch sử
đó”8
Khi nghiên cứu các quy luật phát triển của xã hội nói chung và chủ nghĩa t bản nói riêng, C.Mác đã dự báo và đa ra các kết luận khoa học là sẽ xuất hiện một hình thái kinh tế xã hội mới- hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa; đó cũng là hệ quả tất yếu của tiến trình chung của lịch sử nhân loại
“Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lợng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay- đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó- mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lợng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các lực lợng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại, một cuộc cách mạng xã hội”9 Trong những thời kỳ cách mạng, khi cơ sở kinh tế thay
đổi, thì sớm hay muộn toàn bộ kiến trúc thợng tầng đồ sộ cũng phải thay đổi theo C.Mác kết luận rằng: hình thái kinh tế- xã hội t bản chủ nghĩa nhất định
sẽ đợc thay thế bằng hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa Từ đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đi đến kết luận: hình thái kinh tế- xã hội t bản chủ nghĩa nhất định sẽ đợc thay thế bằng hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa, và sự thay thế này cũng là quá trình lịch sử tự nhiên Sự thay thế đó thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa mà hai tiền đề vật chất quan trọng nhất của nó là sự phát triển của lực lợng sản xuất và sự trởng thành của giai cấp vô sản, tác động vào quá trình đó, thúc đẩy quá trình đó sớm thu
8 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, t 21, tr 523
9 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15.
Trang 5đợc kết quả C.Mác viết: “Các quan hệ sản xuất t sản là hình thức đối kháng cuối cùng của quá trình sản xuất xã hội, đối kháng không phải với ý nghĩa là
đối kháng cá nhân, mà với ý nghĩa là đối kháng nảy sinh từ những điều kiện sinh hoạt xã hội của các cá nhân; nhng những lực lợng sản xuất phát triển trong lòng xã hội t sản đồng thời cũng tạo ra những điều kiện vật chất để giải quyết đối kháng ấy Cho nên với hình thái xã hội t sản, thời kỳ tiền sử của xã hội loài ngời đang kết thúc”10
Nh vậy, hình thái kinh tế xã hội t bản chủ nghĩa là hình thái kinh tế- xã hội cuối cùng trong lịch sử có quan hệ sản xuất với hình thức đối kháng trong sản xuất xã hội; còn chiếm hữu t nhân, còn áp bức bóc lột, và chính sự phát triển của lực lợng sản xuất trong lòng xã hội t bản sẽ tạo điều kiện vật chất để xoá bỏ quan hệ sản xuất, thiết lập quan hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa Nói cách khác, C.Mác đã dự báo rằng hình thái kinh tế-xã hội t bản chủ nghĩa nhất định sẽ bị diệt vong do chính sự phát triển ngày càng cao của lực lợng sản xuất ở ngay trong lòng xã hội đó và sự diệt vong là không thể tránh khỏi Mặt khác, chính giai cấp t sản đã tạo ra những cơ sở vật chất để tự thủ tiêu mình Đó là phát hiện thiên tài của C.Mác Xã hội cũ cha mất đi khi tiền đề vật chất của nó cha mất đi, xã hội mới cha ra đời khi tiền đề vật chất của nó cha xuất hiện C.Mác viết: “Không một hình thái xã hội nào diệt vong trớc khi tất cả những lực lợng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo
địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn cha phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trớc khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó cha chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ”11
Từ cơ sở lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen và thực tiễn lịch sử loài
ng-ời, chúng ta có thể xác định hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lợng sản xuất và với một kiến trúc thợng tầng tơng ứng đợc xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen đã cung cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật, khoa học cho việc phân kỳ lịch sử, giúp cho con ngời hiểu đợc lôgíc khách quan của quá trình tiến hoá xã hội và vạch ra sự thống nhất của lịch sử trong cái muôn vẻ của các sự kiện ở các nớc khác nhau Xã hội vận động theo quy luật khách quan không phụ thuộc vào ý muốn con ngời Mỗi hình thái kinh
tế-10 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 16.
11 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15-16
Trang 6xã hội đợc coi nh một cơ thể xã hội phát triển theo quy luật vốn có của nó Sự thay thế kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế-xã hội là qua trình tiến hoá bao hàm những bớc nhảy vọt đã tạo nên sự tiến bộ trong lịch sử loài ngời
Sự thay thế một hình thái kinh xã hội này bằng một hình thái kinh tế-xã hội khác thờng đợc thực hiện thông qua cách mạng tế-xã hội Nguyên nhân sâu xa là mâu thuẩn giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất, khi quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lợng sản xuất Qua nghiên cứu xã hội nói chung và xã hội t bản nói riêng Mác đã đi đến kết luận khoa học rằng sẽ xuất hiện một hình thái kinh tế-xã hội mới là hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa và sự thay thế đó là quá trình lịch sử tự nhiên
Thực tiễn lịch sử phát triển của xã hội loài ngời đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế- xã hội từ thấp đến cao, từ cộng sản nguyên thuỷ đến cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội, đó là một quá trình lịch
sử tự nhiên lâu dài, điều đó không phải do ý muốn chủ quan của bất cứ một ai, hay một lực lợng chính trị, một lực lợng siêu nhiên nào, mà nó là quy luật khách quan của sự vận động, phát triển của xã hội loài ngời Cho tới nay hình thái kinh tế- xã hội phát triển cao nhất là hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa, mở đầu bằng cuộc cách mạng tháng mời Nga, nó đã mở ra một thời
đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, xét đến cùng nó là một quá trình lịch sử tự nhiên, thể hiện tính quy luật chung của sự phát triển của xã hội loài ngời từ thấp đến cao
Nh vậy, nếu xem xét ở phạm vi lịch sử toàn nhân loại thì lịch sử xã hội loài ngời đã phát triển qua một số hình thái kinh tế-xã hội nhất định Song do
đặc điểm về lịch sử, về không gian và thời gian, không phải quốc gia nào cũng phải trải qua tất cả các hình thái kinh tế-xã hội có tính tuần tự từ thấp đến cao theo một sơ đồ chung Thực tế lịch sử chứng tỏ có nhiều quốc gia trong những
điều kiện lịch sử nhất định đã phát triển tuần tự qua các hình thái kinh tế-xã hội, đồng thời một số quốc gia khác lại phát triển theo con đờng bỏ qua một hoặc vài hình thái kinh tế-xã hội Trong điều kiện lịch sử nhất định Lênin đã nêu lên khả năng “không trải qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa” để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội đối với các nớc lạc hậu Trong những điều kiện nhất định, con đờng phát triển của các dân tộc tiền t bản chủ nghĩa không nhất thiết phải diễn ra một cách tuần tự nh lịch sử toàn nhân loại mà có thể bỏ qua một hay vài hình thái kinh tế-xã hội với những điều kiện lịch sử cho phép
Trang 7Qua nghiên cứu học thuyết Mác-Lênin chỉ ra rằng: đối với nhân loại thì con đờng lịch sử tự nhiên để đi lên chủ nghĩa xã hội là con đờng phát triển tuần tự qua tất cả các giai đoạn của các hình thái kinh tế-xã hội đã có Do coi chủ nghĩa t bản ở thế kỷ XIX đang đạt tới đỉnh cao của sự phát triển của nó nên C.Mác hy vọng từ các nớc Tây Âu sẽ đồng loạt ra đời các nớc xã hội chủ nghĩa Đến giai đoạn chủ nghĩa t bản chuyễn sang chủ nghĩa đế quốc Lênin phát hiện ra sự phát triển không đều về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa đế quốc Do đó khẳng định: chủ nghĩa xã hội có thể thắng trớc hết là trong một
số ít nớc t bản chủ nghĩa hoặc thậm chí chỉ trong một nớc t bản chủ nghĩa, lý luật của Lênin đã đợc chứng minh qua thực tiễn của cách mạng Tháng Mời Nga và một số nớc thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
Nh vậy, quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra bằng con đờng phát triển tuần tự mà còn bao hàm cả sự bỏ qua trong những điều kiện lịch sử nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế-xã hội nhất định Thực tế lịch sử xã hội loài ngời đã chứng minh một số quốc gia trong quá trình phát triển đã bỏ qua một vài hình thái kinh tế- xã hội để phát triển đến hình thái kinh tế- xã hội cao hơn nh: Có quốc gia chuyển từ cộng
đồng nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ, nhng có quốc gia khác lại chuyển ngay sang chế độ phong kiến Chẳng hạn nh ngời thổ dân châu úc, châu Mỹ đi từ xã hội nô lệ lên thẳng chủ nghĩa t bản; nớc Nga, Ba Lan, Đức từ hình thái kinh tế- xã hội cộng sản nguyên thuỷ tiến lên hình thái kinh tế- xã hội phong kiến bỏ qua hình thái kinh tế- xã hội chiếm hữu nô lệ; nhiều nớc châu Âu chủ nghĩa t bản ra đời từ trong lòng của xã hội phong kiến, còn ở Mỹ
từ hình thái kinh tế- xã hội chiếm hữu nô lệ tiến lên hình thái kinh tế- xã hội t bản chủ nghĩa không trải qua chế độ phong kiến Việt Nam trong tiến trình phát triển lịch sử đã bỏ qua hình thái kinh tế- xã hội chiếm hữu nô lệ tiến lên hình thái kinh tế- xã hội phong kiến
Từ thực tiễn lịch sử đó, C.Mác đã nêu lên những t tởng và khả năng phát triển “rút ngắn” trong những điều kiện lịch sử nhất định Khi nghiên cứu tình hình cách mạng ở một số nớc Phơng đông, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thấy đợc khả năng quá độ từ một nớc lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội C.Mác khẳng
định cách mạng sẽ nổ ra ở Phơng đông mà nơi đó tập trung nhiều mâu thuẫn nhất Bằng sự phân tích những mâu thuẫn trong lòng xã hội t bản, đó là mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất thống trị, các ông đã đề cập nhiều đến khả năng quá độ nổ ra cách mạng vô sản trớc tiên ở các nớc t bản
Trang 8phát triển và nổ ra đồng loạt Nhng do điều kiện hoàn cảnh thế giới có nhiều thay đổi bởi quy luật phát triển không đều về kinh tế của chủ nghĩa t bản, cùng với bản chất bóc lột nặng nề giai cấp vô sản, do đó phong trào đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp vô sản phát triển lên cao, nó sẽ tác động đến nhiều nớc, C.Mác cũng dự báo rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra ở các nớc t bản có nền kinh tế kém phát triển Tuy nhiên trong điều kiện bối cảnh đó C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo khả năng cách mạng vô sản nổ ra đồng loạt trên phạm vi ở tất cả các nớc t bản phát triển
Kế thừa, bổ sung và phát triển lý luận Mác trong điều kiện lịch sử mới, khi chủ nghĩa t bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Bằng thiên tài của mình Lênin đã khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi ở một
số nớc, thậm chí có thể giành thắng lợi ở một nớc thuộc mắt khâu yếu nhất trong dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc Dự báo thiên tài này của Lênin không mâu thuẫn với nhận định của C.Mác và Ph.Ăngghen trớc đây về khả năng giành thắng lợi của giai cấp vô sản Trên thực tế, nó đã trở thành hiện thực, Lênin đã lãnh đạo giai cấp vô sản Nga làm cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mời giành thắng lợi, mở đầu một thời đại mới Thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản tiến lên chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, mà giai
đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bảo vệ
và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra ở một vài, thậm chí ở một nớc thuộc địa mà ở đó tập trung những mâu thuẫn chủ yếu của thời đại, điều đó cũng đợc chứng minh bằng thực tiễn cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam
Cùng với việc khẳng định thắng lợi của cách mạng vô sản có thể nổ ra ở các nớc lạc hậu chậm phát triển, Lênin còn chỉ ra tính đa dạng của các hình thức quá độ với các nhịp điệu và mức độ khác nhau trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Ngời viết: “Tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội, song các dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không hoàn toàn giống nhau Mỗi dân tộc sẽ đa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của xã hội với những mức độ khác nhau”12
Tiến trình lịch sử của một dân tộc, một quốc gia cụ thể có thể có những hình thức, bớc đi khác nhau, bởi vì mỗi quốc gia cụ thể thờng xuyên bị những
12 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1981, tập 30, tr 159- tr 160
Trang 9yếu tố bên trong, bên ngoài tác động chi phối cũng không giống nhau, nh hoàn cảnh địa lý, truyền thống văn hoá, tâm lý dân tộc, quan hệ hợp tác giao
l-u với các dân tộc khác Tất cả các yếl-u tố đó có thể góp phần kìm hãm, hoặc thúc đẩy sự phát triển của mỗi dân tộc cũng khác nhau theo một hớng đi nhất
định Có thể nói, tình trạng chiến tranh hay hoà bình của một dân tộc rất có thể làm gián đoạn hoặc phá vỡ tiến trình phát triển tự nhiên, hoặc sẽ tạo điều kiện để ổn định, phát triển của lịch sử mỗi dân tộc Hơn nữa, các quá trình của lịch sử của xã hội loài ngời diễn ra không đều, thờng xuất hiện những trung tâm phát triển mạnh về sản xuất vật chất, kỹ thuật, về văn hoá, tiến bộ xã hội Chính những trung tâm ấy phát triển mạnh làm lan toả, quan hệ giao lu, đua tranh phát triển giữa các dân tộc có trình độ phát triển khác nhau Đó là cơ sở thúc đẩy tiến bộ, làm xuất hiện khả năng một số nớc tận dụng đợc cơ hội thuận lợi có thể bỏ qua một hình thái kinh tế- xã hội nào đó để rút ngắn mà không phải lặp lại tuần tự các quá trình phát triển của lịch sử Chính qua nghiên cứu sâu sắc thực tiễn của lịch sử, Lênin đã đặt vấn đề khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội của các nớc lạc hậu, bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa cũng trở lên hiện thực Ngời viết: “Không nghi ngờ gì nữa, ở một nớc trong đó những ngời sản xuất tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân c, chỉ có thể thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nớc t bản phát triển”13
Để thực hiện đợc nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin chỉ ra giai cấp vô sản ở các nớc đó phải biết áp dụng sách lợc và đờng lối chính trị và những điều kiện tiền t bản chủ nghĩa, phải có sự giúp đỡ tích cực của các nớc tiên tiến và giai cấp vô sản ở nớc đó Với các điều kiện đó các nớc lạc hậu vẫn
có thể tiến tới chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa Theo Lênin sự
bỏ qua ấy vẫn là hợp với quy luật tự nhiên trong tiến trình phát triển, chứ không phải là sự áp đặt chủ quan hay là ý muốn, thích hay không thích của bất
cứ quốc gia nào, bởi vì, sự phát triển “rút ngắn” đã trở thành hiện thực trong lịch sử Vì vậy, sự “rút ngắn” chẳng những không mâu thuẫn với tinh thần của
sự phát triển mang tính tự nhiên lịch sử mà còn là biểu hiện sinh động của quá trình lịch sử tự nhiên Chỉ trừ khi ngời ta “rút ngắn” một cách duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan thì lúc đó sự phát triển rút ngắn mới trở lên đối lập với quá trình lịch sử tự nhiên Trong thực tiễn đã có một số quốc gia, dân tộc
đã bỏ qua nh Nga, Ba Lan, Mỹ,…
13 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 43, tr 68- tr 69
Trang 10Trên con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam là một quốc gia cha trải qua thời kỳ phát triển t bản chủ nghĩa Sau cách mạng Tháng Tám thành công Đảng ta và nhân dân ta đã chon con đờng bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính nớc ta cũng là một quốc gia nằm trong tiến trình lịch sử tự nhiên của xã hội loài ngời Vừa mang tính quy luật chung, mà ở Việt Nam còn mang tính quy luật đặc thù, đó là chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển, cha trải qua thời kỳ phát triển t bản chủ nghĩa Song, đó là con đờng hiện thực, phù hợp với quy luật phát triển chung của tiến trình lịch sử nhân loại Bởi vậy, sự lựa chọn con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa của
Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn và hợp quy luật khách quan
2.2 Nhận thức về con đờng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản nhằm xoá bỏ ách thống trị của t bản chủ nghĩa, thực hiện lý tởng giải phóng giai cấp và giải phóng toàn thể xã hội loài ngời Do đó, chủ nghĩa xã hội là một chủ nghĩa nhân đạo hiện thực Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội kiểu mới thuộc hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa mà việc xây dựng và hoàn thiện nó sẽ là một quá trình lịch sử lâu dài, để từng bớc đạt tới mục tiêu giải phóng con ngời toàn diện
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định:
“Con đờng đi lên của nớc ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa”14 Nh vậy, Đảng ta khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội, nớc ta nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ, điều đó hoàn toàn đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin và phù hợp với thực tiễn nớc ta Theo nguyên lý chung, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội thờng có hai dạng cơ bản, đó
là, từ chủ nghĩa t bản đi lên chủ nghĩa xã hội và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa Nh vậy, nớc ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội thuộc hình thức thứ hai Qua nghiên cứu chúng ta thấy rằng nớc ta tuy có những nét chung của hình thức quá độ bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, nhng
n-ớc ta lại có những đặc điểm riêng do điều kiện đặc thù của lịch sử cách mạng nớc ta Đó là, nớc ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ là phổ biến, trình độ lực lợng sản xuất thấp, từ quan hệ sản xuất tiền t bản Điều
đó chỉ ra cho chúng ta phải xây dựng một phơng thức sản xuất mới, có nền
14 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội 2001, tr 84