Với chức năng giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế
Trang 1-
TẠ THÀNH NHÂN
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ
CỦA CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS Phan Mỹ Hạnh
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Tạ Thành Nhân Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 21/11/1987 Nơi sinh: BR-VT
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV:
I- Tên đề tài:
Hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế của Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Thông qua đề tài nghiên cứu để góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận
về thuế, về thanh tra thuế đối với doanh nghiệp, từ đó vận dụng những vấn đề lý luận vào thực tiễn hoạt động thanh tra tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra thuế trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong những năm gần đây (2010 - 2012); Xác định những thành quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân tác động đến hiệu quả hoạt động thanh tra thuế tại địa phương này Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường và hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế phù hợp với thực tiễn tại Cục Thuế tỉnh BR-VT
III- Ngày giao nhiệm vụ: 07/8/2013
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 27/12/2013
V- Cán bộ hướng dẫn: TS.Phan Mỹ Hạnh
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn
tổ chức và cá nhân đã truyền đạt kiến thức, thảo luận, cung cấp các tài liệu cần thiết, cùng với những câu trả lời và giúp đỡ cho tôi hoàn thành bài luận văn này Đặc biệt tôi xin cảm ơn tới:
Cô TS Phan Mỹ Hạnh: Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường ĐH Công nghệ TP.HCM
Và tôi cũng xin cám ơn tất cả các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ,
hỗ trợ tôi trong thời gian qua
Trân trọng
Tạ Thành Nhân
Trang 4TÓM TẮT
Thanh tra thuế là một trong bốn chức năng quan trọng trong hoạt động quản trị
thuế Thanh tra thuế ngoài góp phần chống thất thu Ngân sách nhà nước còn giúp
cho cơ quan thuế thực hiện tốt hoạt động giám sát đối tượng nộp thuế nhằm góp
phần hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng trốn thuế, ẩn lậu thuế Tại Cục thuế tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu, hoạt động thanh tra vẫn còn có những hạn chế đòi hỏi phải
được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu
thực tiễn hiện nay Với mục tiêu đó, tác giả đánh giá thực trạng, nêu ra những hạn
chế và các nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động thanh tra tại Cục thuế
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Qua đó, tác giả nhận thấy phù hợp với thực trạng đang diễn
ra tại Cục thuế Từ đó, làm căn cứ để tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện hoạt động thanh tra thuế:
- Nhóm giải pháp ở tầm vĩ mô Trong đó, nêu rõ vai trò,sự ảnh hưởng của Hệ
thống chính sách, pháp luật của Nhà nước và của Tổng cục Thuế
- Nhóm giải pháp từ Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Nêu rõ từng nhóm giải
pháp cụ thể: giải pháp về cơ cấu tổ chức; giải pháp về nhân sự; giải pháp về ứng dụng
công nghệ thông tin; …
Tax Inspectorate is one of four important functions of tax administration activities Besides, the tax inspectors contribute to reduce losses Budget and helps to implement good tax authorities monitoring taxpayers to minimize tax evasion, tax evasion At the Tax Department of Ba Ria - Vung Tau province, inspection activities are still having difficulties that require to be researched to improve, innovate and further improvement to meet the demand of today's practices With that goal, the authors assess the current situation and outlined the limitations of inspection activities in the Tax Deparment of Ba Ria - Vung Tau Through that, the authors found those results reylect situations occurring at the Tax Department Basing on that the author proposed some solution to perfect the tax inspection activity:
- Group macro solution With that as stated, the effect of the policy system, and the law of the state and Taxation
- Solution from the Tax Department of Ba Ria – Vung Tau Indicate the specific groups of solution; solution to organizational strature staffing solution, solution for information technology applications;…
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Đặt vấn đề 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
Phương pháp nghiên cứu 3
Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 4
Kết cấu của Luận văn 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ 5
1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ 5
1.1.1 Khái niệm về thuế 5
1.1.2 Chức năng của thuế 6
1.1.2.1 Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập 6
1.1.2.2 Chức năng điều tiết 7
1.1.3 Vai trò của thuế 8
1.1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN 9
1.1.3.2 Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội 9
1.1.3.3 Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh 9
1.1.3.4 Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển 10
1.2 THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 10
1.2.1 Khái niệm 10
1.2.2 Mục tiêu của thanh tra thuế 12
1.2.2.1 Mục tiêu theo nghĩa hẹp 12
1.2.2.2 Mục tiêu theo nghĩa rộng 12
1.2.3 Vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế 13
1.2.4 Phân biệt giữa kiểm tra thuế và thanh tra thuế 14
1.2.4.1 Những điểm giống nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế: 14
1.2.4.2 Những điểm khác nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế: 15
1.2.5 Nhiệm vụ thanh tra thuế 16
1.2.6 Quy trình thanh tra thuế 16
1.2.7 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thanh tra thuế 17
1.2.8 Văn bản chính sách, pháp luật nhà nước về thanh tra hiện hành 19
1.2.9 Kinh nghiệm hoạt động thanh tra thuế ở một số nước có thể vận dụng tại Việt Nam 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 26
2.1 BỐI CẢNH KINH TẾ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 26
2.1.1 Tiềm lực kinh tế 26
2.1.2 Thu hút đầu tư 27
2.2 GIỚI THIỆU BỘ MÁY TỔ CHỨC TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 28
2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 28
2.2.2 Chức năng nhiệm vụ Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu & các phòng ban 30
2.2.2.1 Chức năng nhiệm vụ của Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 30
2.2.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng thuộc Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 30
2.2.3 Đối tượng nộp thuế tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 32
2.2.4 Kết quả thu thuế tại Cục thuế tỉnh BR-VT 34
2.2.4.1 Kết quả thu theo từng sắc thuế 34
2.2.4.2 Kết quả thu theo khu vực 36
2.2.4.3 Kết quả thu theo địa bàn 39
2.2.4.4 Kết quả thu thuế theo từng nhóm ngành tại Văn phòng Cục thuế 41
Bảng 2.7: Tỷ trọng số thu từng ngành trong tổng số thu 42
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 43
2.3.1 Tổ chức bộ máy thanh tra thuế 43
2.3.1.1 Phân cấp, chức năng và nhiệm vụ của hệ thống thanh tra các cấp 43
2.3.1.2 Tổ chức phòng thanh tra tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 43
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức nội bộ Phòng thanh tra thuế 44
2.3.1.3 Mối quan hệ giữa bộ phận thanh tra với các Cơ quan chức năng và các bộ phận khác tại Cục thuế 46
2.3.2 Chức năng nhiệm vụ Phòng thanh tra thuế 47
2.3.3 Quy trình, nghiệp vụ thanh tra thuế 48
Trang 62.3.4 Kết quả hoạt động thanh tra thuế của Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai
đoạn 2010- 2012 51
2.3.4.1 Thực hiện kế hoạch thanh tra 51
2.3.4.2 Kết quả truy thu thuế qua hoạt động thanh tra từ 2010 đến 2012 54
2.3.4.3 Kết quả thu truy thu theo nhóm ngành nghề qua thanh tra 58
2.3.4.4 Giải quyết khiếu nại tố cáo 59
2.3.5 Những hành vi vi phạm 61
2.3.5.1 Một vi phạm diễn ra theo đặc thù của ngành nghề 61
2.3.5.2 Một số hành vi nổi cộm 62
2.3.6 Đánh giá thực trạng quản trị thuế và thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 64
2.3.6.1 Ưu điểm 65
2.3.6.2 Hạn chế 65
2.3.6.3 Nguyên nhân của những hạn chế trên 70
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 75
3.1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2013 - 2020 CỦA TỈNH 75
3.2 ĐỊNH HƯỚNG CỦA CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU TRONG THỜI GIAN TỚI 77
3.3 MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP 79
3.3.1 Nhóm giải pháp ở tầm vĩ mô 79
3.3.1.1 Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước 79
3.3.1.2 Vai trò của Tổng Cục thuế: 85
3.3.2 Nhóm giải pháp cụ thể từ phía Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 85
3.3.2.1 Chuẩn hóa lập kế hoạch thanh tra 85
3.3.2.2 Tạo sự chủ động cho đoàn thanh tra 85
3.3.2.3 Tổ chức tốt công tác xử lý sau thanh tra 86
3.3.2.4 Về cơ cấu tổ chức 86
3.3.2.5 Về nguồn nhân lực 87
3.3.2.6 Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ 89
3.3.2.7 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền 90
3.3.2.8 Tăng cường phối hợp với cơ quan, đơn vị khác 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 94
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 05 tỉnh/thành phố có tổng số thu NSNN lớn nhất trên cả nước giai đoạn 2010-2012 Trang 27
Bảng 2.2
Tình hình biến động của các Doanh nghiệp đầu
tư, kinh doanh tại tỉnh BR-VT giai đoạn
2010-2012
Trang 32
Bảng 2.3 Kết quả thu theo từng sắc thuế của Cục thuế tỉnh
Bảng 2.4 Kết quả thu thuế theo khu vực của Cục thuế tỉnh
Bảng 2.5 Số thu thuế theo từng địa bàn giai đoạn
Bảng 2.6 Số thu theo từng nhóm ngành tại Văn Phòng Cục
Bảng 2.7 Tỷ trọng số thu từng ngành trong tổng số thu Trang 42
Bảng 2.8 Số lượng doanh nghiệp đang chịu sự quản lý của Văn phòng Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
năm 2010 – 2012
Trang 51
Bảng 2.9 Tỷ lệ kế hoạch thanh tra trên tổng số lượng DN
Bảng 2.10 Tỷ lệ % kế hoạch đăng ký trên kế hoạch được
Bảng 2.11 Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra thuế Trang 52 Bảng 2.12 Số thuế truy thu bình quân trên 1 đối tượng nộp
Bảng 2.13 Kết quả truy thu thuế giai đoạn 2010-2012 qua
Bảng 2.14 So sánh tỷ lệ % giữa các năm theo loại hình
Bảng 2.15 Tỷ lệ % số thuế truy thu theo loại hình doanh
Bảng 2.16 Kết quả truy thu giai đoạn 2010-2012 qua hoạt
động thanh tra theo từng sắc thuế Trang 56 Bảng 2.17 Kết quả truy thu theo từng nhóm ngành và tỷ
trọng số truy thu mỗi nhóm ngành trên tổng truy Trang 58
Trang 7thu từ 2010-2012
Bảng 2.18 % tỷ lệ so sánh kết quả thu truy thu theo nhóm
ngành nghề qua thanh tra giai đoạn 2010 - 2012 Trang 58
Bảng 2.19 Tỷ lệ số vụ vi phạm qua thanh tra Trang 59
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức nội bộ Phòng thanh tra thuế Trang 44
Sơ đồ 2.3 Mối liên hệ của 03 Tổ trong Phòng thanh tra thuế Trang 45
Sơ đồ 2.4 Quy trình thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa -
PHẦN MỞ ĐẦU Đặt vấn đề
Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với
sự phát triển nền kinh tế nước ta mà còn đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của NSNN là bảo đảm nguồn tài chính để thực hiện các chức năng nhà nước công quyền, duy trì sự tồn tại của thể chế chính trị, là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, bảo đảm công bằng xã hội, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, an ninh, quốc phòng… Như ta đã biết Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN và có tác động rất lớn đến nền kinh tế Do đó, để thực hiện những vai trò trên thì Nhà nước phải thực hiện tốt việc thu thuế và quản trị thuế mà hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế trong giai đoạn hiện nay
Với chức năng giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống Xã hội, Thanh tra, Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng
cơ bản của hoạt động quản trị thuế, là một hoạt động quản trị hữu hiệu nhằm ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát và kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm của họ Vì vậy, việc nâng cấp, cải thiện hoạt động quản trị này là vô cùng quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Lý do chọn đề tài
Từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, mô hình quản lý thuế theo cơ chế “Tự kê khai,
tự nộp thuế” được triển khai trên cả nước Theo cơ chế này, người nộp thuế tự tính,
tự kê khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp Luật thuế Quy định trên nhằm nâng cao tính chủ động của Doanh nghiệp trong quá trình chấp hành thuế Tuy nhiên, quy định này cũng tạo
Trang 8điều kiện thuận lợi để không ít doanh nghiệp cố tình kê khai sai, gian lận thuế, trốn
thuế
Do vậy, qua kết quả hoạt động quản lý, chống thất thu ngân sách các năm qua
cho thấy, vẫn còn một bộ phận không nhỏ người nộp thuế chưa tự giác tính đúng,
tính đủ số thuế phải nộp, chây ỳ trong việc nộp các khoản nợ đọng thuế Một số
doanh nghiệp, hộ kinh doanh cố tình gian lận thuế với hành vi thủ đoạn ngày càng
tinh vi và phức tạp, các tổ chức cá nhân liên quan chưa thật sự chủ động phối hợp
trong việc cung cấp thông tin, chia sẻ trách nhiệm với cơ quan thuế để thu thuế
Chính vì vậy cần phải tăng cường hoạt động quản trị ngành thuế thông qua thanh
tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách của cơ quan thuế
Hoạt động thanh tra chống thất thu thuế trong giai đoạn cải cách hệ thống thuế
hiện nay là một trong những chức năng quan trọng của ngành thuế, ngoài mục tiêu
góp phần đẩy lùi tệ nạn trốn thuế, gian lận thuế, còn nhằm mục đích tuyên truyền
đến các đối tượng nộp thuế chính sách pháp luật về thuế, nâng cao ý thức tự giác
tuân thủ pháp luật về thuế, từ đó góp phần cải cách thủ tục hành chính về thuế, nâng
cao hiệu quả quản trị thuế theo hướng an toàn hiệu quả
Đây là biện pháp quan trọng góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước, hoàn
thành chỉ tiêu kế hoạch được giao, góp phần tích cực vào việc tạo sự công bằng xã
hội trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, giúp phát hiện những hành vi
vi phạm thuế của người nộp thuế cũng như cơ quan thuế để từ đó có biện pháp xử lý
kịp thời, nghiêm minh Tuy nhiên, tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu, hoạt động
thanh tra vẫn còn có những hạn chế đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi
mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra Với sự cấp thiết đó,
tôi chọn đề tài “HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ CỦA CỤC
THUẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU” làm luận văn thạc sỹ
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Mục tiêu chung:
Thông qua đề tài nghiên cứu để góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận
về thuế, về thanh tra thuế đối với doanh nghiệp, từ đó vận dụng những vấn đề lý luận vào thực tiễn hoạt động thanh tra tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Mục tiêu cụ thể:
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra thuế trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong những năm gần đây (2010 - 2012); Xác định những thành quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân tác động đến hiệu quả hoạt động thanh tra thuế tại địa phương này
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường và hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế phù hợp với thực tiễn tại Cục Thuế tỉnh BR-VT Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra thuế, tránh thất thu cho Ngân sách Nhà nước, từ đó phát huy tính tự giác chấp hành và tự chịu trách nhiệm của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai, tính và nộp thuế đúng theo quy định của Pháp luật thuế và tạo sự công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi cả nước, Bà Rịa-Vũng Tàu là tỉnh có số thu NSNN lớn nằm trong tốp 5 toàn quốc Trong tổng số thu NSNN thì số thu chủ yếu từ các doanh nghiệp lớn kê khai nộp thuế tại Cục thuế Do vậy, luận văn chọn hoạt động thanh tra tại Cục thuế tỉnh BR-VT trong giai đoạn từ năm 2010-2012 làm đối tượng và phạm
vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thực tiễn trong quá trình áp dụng các chính sách pháp luật về thuế, luận văn sử dụng phương pháp định tính nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo năm của Cục thuế
và Phòng Thanh tra thuộc Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Báo cáo tinh hình Kinh tế - Xã hội của Sở Kế hoạch và Đầu tư
Trang 9Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Với mục đích hướng tới giảm thiểu thất thu cho NSNN và cải thiện hệ thống
quản trị thuế - đặc biệt là hoạt động thanh tra thuế Vì vậy, các quốc gia trên thế giới
và Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và đã có nhiều nghiên cứu, vận dụng
thực tiễn từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế
Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về thuế và hoạt động thanh tra thuế
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Cục
thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ 1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm về thuế
Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế chỉ mới nhìn nhận từ những khía cạnh mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì
thuế được quan niệm rất đơn giản: “ Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá”
Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và
Bryan Lower, đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế cho rằng: “Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”
Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn sách “Economics“ của hai nhà kinh tế Mỹ là Makkollhell và Bruy, dựa trên cơ sở
đối giá như sau: “thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt – Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật
mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định
Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được
áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jeze đưa ra trong giáo trình Tài chính công Dựa vào định nghĩa này và
Trang 10các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với
giai đoạn hiện nay như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và
pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không
mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để
trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng
1.1.2 Chức năng của thuế
1.1.2.1 Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng
phân phối thu nhập
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ
của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm
vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật
thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách nhà nước từ đó mới đáp ứng được
nhu cầu chi ngày càng tăng phụ thuộc vào các công việc Nhà nước đảm nhiệm Để
huy động vật chất của mình, Nhà nước có thể xử dụng nhiều hình thức khác nhau
như: phát hành thêm tiền, phát hành trái phiếu để vay trong nước và ngoài nước;
bán một phần tài sản quốc gia; thu thuế… Trong các hình thức nêu trên thì thuế là
công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng nhất Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có
công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Người ta gọi
công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế Đây
là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng nhà nước, trong
tiến trình phát triển của xã hội Về mặt lịch sử chức năng huy động tập trung nguồn
lực tài chính là chức năng đầu tiên phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế Thông
qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ
tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và
hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước
tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân Do đó, các chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi
tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế
ngày càng được nâng cao Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế
1.1.2.2 Chức năng điều tiết Điều tiết kinh tế
Chức năng điều tiết vĩ mô của nền kinh tế của thuế tự động xuất hiện trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế, nhưng phải đến những năm đầu thế kỷ XX thì chức năng này mới nhận thức đầy đủ, sử dụng rộng rãi và gắn liền với vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội bằng nhiều biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ
mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh, mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể trong việc xác định phạm vi hoạt động kinh doanh của mình Dựa trên cơ sở xác định mục tiêu và đối tượng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể, Nhà nước điều chỉnh thuế để tạo ra những thay đổi trong nền kinh tế quốc dân theo hướng mong muốn bao gồm: điều chỉnh chu kỳ kinh tế; cơ cấu nghành, khu vực và từng vùng lãnh thổ; lưu thông tiền tệ, giá cả; tiền lương; phân phối thu nhập; các mối quan hệ kinh tế đối ngoại; bảo vệ môi trường…Như vậy, nội dung điều chỉnh của thuế đối với nền kinh tế quốc dân rất rộng, nó bao hàm hầu hết các quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Điều tiết tiêu dùng
Trang 11Nhà nước hướng dẫn tiêu dùng có thể bằng nhiều biện pháp kể cả hành chính,
xã hội và kinh tế Tuy nhiên, giải pháp hữu hiệu nhất có thể áp dụng trong một đất
nước cởi mở, dân chủ theo nền kinh tế thị trường là áp dụng chính sách thuế Việc
áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu (NK), thuế giá trị gia
tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)…sẽ làm giảm cầu với những hàng hoá
dịch vụ mà nhà nước cho là cần hạn chế hoặc nên ưu đãi Thông qua việc điều chỉnh
mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu gây nên áp lực tăng giá hàng nhập
khẩu làm giảm khả năng cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nước, từ đó điều
chỉnh khối lượng hàng hoá đưa ra, đưa vào thị trường để thực hiện bảo hộ nền sản
xuất trong nước và bảo vệ lợi ích thị trường nội địa
Điều tiết xã hội
Hệ thống chính sách thuế trong nền kinh tế thị trường hội nhập được áp dụng
thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư
trong và ngoài nước nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi
và nghĩa vụ đối với mọi thể nhân, pháp nhân Sự phân hoá giàu nghèo trong một
nền kinh tế hội nhập sẽ có nguy cơ diễn ra cao hơn Điều này do một bộ phận người
lao động có điều kiện thích nghi với các ngành nghề chiếm ưu thế trong giai đoạn
hội nhập Nhưng ngược lại cũng có một bộ phận người lao động bị thải ra ngoài vì
không đáp ứng kịp các yêu cầu của hội nhập Sự phân hoá này về lâu dài vẫn duy trì
và mở rộng cho dù thu nhập tuyệt đối của toàn xã hội được nâng cao Trong bối
cảnh đó, thuế, đặc biệt là các loại thuế thu nhập giữ vai trò quan trọng trong việc
thực hiện công bằng và làm giảm khoản cách phân hoá giàu nghèo
Thuế cũng được dùng để điều tiết thất nghiệp Khi nền kinh tế có thất nghiệp
cao thì cùng với việc mở rộng các khoản chi tiêu Chính phủ, thuế cần phải được cắt
giảm để tăng tổng cầu và việc làm
1.1.3 Vai trò của thuế
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những
điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự
thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai
trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuế được thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
1.1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN
NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất và ổn định nhất trong tổng số thu nhằm phục vụ cho chi tiêu công cộng
1.1.3.2 Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Sự phát triển
về mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nổ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập
về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và gây ra bất ổn xã hội Chính vì vậy, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này
Việc điều hoà thu nhập được thực hiện thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là
là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền và thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ Bên cạnh đó, các sắc thuế trực thu, đặc biệt
là thuế TNCN với việc sử dụng thuế suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập đảm bảo công bằng xã hội
1.1.3.3 Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Vai trò này xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực
tế Để đảm bảo thu được thuế và thự hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững
Trang 12số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh
doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù
và các phương thức hạch toán riêng có Từ đó qua công tác thu thuế cơ quan thuế
cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra,
kiểm soát sau này Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm
tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện
tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống Kinh tế - Xã hội
1.1.3.4 Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của
NSNN, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát
triển Theo quan điểm công bằng thì bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước họ được quyền thụ hưởng và cung
ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh của mình Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất
nước, mà Nhà nước có thể dùng thuế để tác động tạo thuận lợi hơn cho hoạt động
kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển
nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn
Vì vậy, để đảm bảo cho các chức năng, vai trò của thuế được thực hiện và các
chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội
thì công tác quản trị thuế là quan trọng nhất
1.2 THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
1.2.1 Khái niệm
Có nhiều quan niệm hiểu về thanh tra, kiểm tra thuế Sau đây là một số khái
niệm cơ bản được trích dẫn từ các tài liệu chính thống khi định nghĩa về thanh tra,
kiểm tra thuế:
Theo từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là "xem xét
tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Trung tâm
ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam biên soạn, kiểm tra là "xem xét thực chất, thực tế"
Theo từ điển Luật học, kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật,
thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét " Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, ''Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá'' Theo giáo sư Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế”, kiểm tra thuế là ''hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai''
Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung
là thuế)
Về khái niệm thanh tra, theo từ điển tiếng Việt: "thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp", thanh tra là ''loại hình đặc biệt của kiểm tra'' Theo Luật Thanh tra 2004 thì Thanh tra là " việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý" Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính thì thanh tra thuế là ''hoạt động kiểm tra của
tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật''
Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa
vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống Kinh tế - Xã hội
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là một trong các chức năng cơ bản của cơ quan quản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm
Trang 13cho người nộp thuế luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ
đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế
1.2.2 Mục tiêu của thanh tra thuế
1.2.2.1 Mục tiêu theo nghĩa hẹp
Mục tiêu của thanh tra thuế là nhằm đảm bảo chắc chắn rằng tiền thuế được
tính toán đúng, phát hiện ra và ngăn ngừa những hành vi trốn thuế Thanh tra thuế
đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của Cơ quan thuế, đó là
thu đủ các loại thuế quy định trong luật trên cơ sở khuyến khích sự tuân thủ tự
nguyện của đối tượng nộp thuế và duy trì sự tin tưởng của công chúng vào tính
thống nhất của chính sách thuế
1.2.2.2 Mục tiêu theo nghĩa rộng
Thanh tra thuế là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, do bản chất của
Nhà nước quy định Trong xã hội chủ nghĩa, thanh tra thuế nhằm mục đích phục vụ
lợi ích của Nhà nước và lợi ích của Nhân dân
Mục đích của thanh tra được ghi rõ trong Điều 2 của Luật thanh tra: “Mục
đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,
pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục;
phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức,
cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”
Thanh tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước về
thuế nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành, bảo đảm cho hoạt
động của tổ chức, cá nhân tuân thủ đúng quy định của Luật thuế
Như vậy, mục đích của thanh tra thuế là:
Góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật
Hoạt động thanh tra thuế có thể nói là nơi cung cấp các căn cứ, bằng chứng cụ
thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động đang diễn ra trong thực
tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp
Chống thất thu thuế
Họat động thanh tra thuế là công cụ hữu hiệu trong việc chống thất thu thuế hiện nay Giúp nhà nước thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình Đồng thời chống thất thu thuế hiệu quả sẽ giúp cho một quốc gia trong việc tạo môi trường kinh tế, xã hội ổn định, thúc đẩy sản xuất phát triển
Phòng ngừa hành vi vi phạm thuế
Thanh tra thuế nhằm xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Tứ đó, có thể phòng ngừa các hành vi vi phạm có thể xảy ra Phòng ngừa hành vi vi phạm chính sách, pháp luật thuế cũng là mục đích quan trọng của hoạt động thanh tra
Xử lý vi phạm về thuế
Sau khi xác định được các hành vi vi phạm cụ thể Đoàn thanh tra sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử lý và răng đe các hành vi vi phạm đó của người nộp thuế
Tóm lại, hoạt động thanh tra thuế ngoài chống thất thu thuế còn nhằm giúp các đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật
về công tác quản trị thu thuế đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành Thông qua công tác thanh tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực Đồng thời, hướng dẫn, giúp đỡ đối tượng nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế; nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ
1.2.3 Vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản trị thuế:
Thứ nhất: Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế góp phần hoàn thiện cơ chế,
Trang 14chuyển đổi và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới nên không trách khỏi
những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy thanh tra, kiểm tra thuế là nơi cung cấp
các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt
động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách
cho phù hợp
Thứ hai: Thanh tra, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành
vi vi phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên
quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác
minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Theo đó,
vừa phòng ngừa các hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra; vừa sử dụng các biện
pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử lý và răn đe
hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế
Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế
là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thể phát sinh
trong việc thực hiện pháp luật thuế
Thứ ba: Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc
cải cách thủ tục hành chính thuế
Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thực
hiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra phát hiện những
người nộp thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp
thời chấn chỉnh Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù
hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế
1.2.4 Phân biệt giữa kiểm tra thuế và thanh tra thuế
1.2.4.1 Những điểm giống nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế:
+ Về mục đích: Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
thuế
+ Về cách thức tiến hành: Xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phân
tích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật về thuế
+ Về nội dung: đều xem xét doanh thu, chi phí, lợi nhuận
+ Về phương pháp: đều phải phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý
dữ liệu, tính toán lại và xác minh
1.2.4.2 Những điểm khác nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế:
+ Về đối tượng: Thanh tra áp dụng cho các đối tượng có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, hoặc để giải quyết khiếu nại tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ Trưởng Bộ Tài chính Ngược lại, kiểm tra thuế chỉ kiểm tra phạm vi hẹp, thực hiện kiểm tra theo chuyên
đề đã có kế hoạch lập ra sẵn Kiểm tra những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết mà không cần đòi hỏi các biện pháp nghiệp vụ để xác minh tài liệu, chứng cứ mà vẫn có những kết luận, đánh giá đúng đắn, chính xác Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì phải kiến nghị tổ chức thanh tra + Về biện pháp áp dụng: thanh tra được áp dụng các biện pháp mạnh hơn (tạm giữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất dấu tang vật, tài liệu theo quy định của Luật quản
lý thuế) Ngược lại, kiểm tra không được phép tạm giữ tang vật, khám xét mà chỉ được yêu cầu cung cấp tài liệu, hồ sơ có liên quan và chỉ được xem trong thời gian kiểm tra
+ Về phạm vi nội dung: Thanh tra áp dụng phương pháp phân tích, so sánh, thu thập và đối chiếu chéo thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như hải quan, bộ thương mại, nhà cung cấp lớn của ĐTNT còn kiểm tra đơn giản hơn, chỉ kiểm tra tờ khai thuế tháng, quý, năm theo phương pháp thủ công ví dụ như so sánh, đối chiếu
dữ liệu trên tờ khai thuế với dữ liệu trên hệ thống máy tính của cơ quan thuế, kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ khai thuế, đối chiếu số liệu giữa các trang của từng tờ khai và giữa các tờ khai khác nhau,
+ Về thời gian: thanh tra thường là không quá 30 ngày, kiểm tra thường không quá 5 ngày
+ Về cách thức tiến hành: Theo Quyết định 460/QĐ-TCT ngày 05/5/2009 về quy trình thanh tra thuế thì thanh tra thuế chỉ thực hiện thanh tra tại trụ sở NNT
Trang 15Ngược lại, kiểm tra thuế có cả hai phương thức tiến hành là kiểm tra hồ sơ khai thuế
ngay tại Cơ quan thuế và kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Do có sự khác nhau về đối tượng; nội dung; biện pháp, hình thức áp dụng và
thời gian, cộng với thực trạng tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nguồn thu lớn
(nguồn thu ngoài dầu) là từ Phòng Thanh tra thuế số 1 & 2 nên đề tài chọn hoạt
động thanh tra tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để đi sâu vào phân tích
1.2.5 Nhiệm vụ thanh tra thuế
- Thanh tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về thuế
- Thanh tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp
luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế Kịp thời phát hiện,
ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối
với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thể phát sinh trong việc thực hiện pháp luật
thuế
- Chống thất thu cho ngân sách nhà nước
- Thanh tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục
hành chính thuế
1.2.6 Quy trình thanh tra thuế
Lập kế hoạch thanh tra
Bước 1 Thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về người nộp thuế
Bước 2 Đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra
Bước 3 Trình, duyệt kế hoạch thanh tra thuế năm
Bước 4 Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra
Tổ chức thanh tra tại trụ sở người nộp thuế
Bước 1 Chuẩn bị thanh tra
Bước 2 Công bố Quyết định thanh tra thuế
Bước 3 Phân công công việc và lập nhật ký thanh tra thuế
Bước 4 Thực hiện thanh tra theo các nội dung trong Quyết định thanh tra
Bước 5 Thay đổi, bổ sung nội dung thanh tra hoặc gia hạn thời gian thanh tra
Bước 6 Lập Biên bản thanh tra thuế
Bước 7 Công bố công khai Biên bản thanh tra
Xử lý kết quả sau thanh tra
Bước 1 Báo cáo kết quả thanh tra; dự thảo kết luận thanh tra; dự thảo Quyết định xử lý truy thu thuế; dự thảo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế để báo cáo Lãnh đạo bộ phận thanh tra trình Thủ trưởng Cơ quan Thuế
Bước 2 Thủ trưởng Cơ quan Thuế phải ký kết luận thanh tra; Quyết định xử
lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Bước 3 Kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính về thuế Trường hợp không phải xử lý truy thu về thuế; không phải xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì Thủ trưởng Cơ quan Thuế chỉ ký kết luận thanh tra thuế
Bước 4 Kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính về thuế được giao trực tiếp cho người nộp thuế hoặc bằng thư bảo đảm có hồi báo cho Cơ quan Thuế biết người nhận các văn bản nêu trên Bước 5 Chậm nhất là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Thủ trưởng Cơ quan Thuế
ký kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, Trưởng đoàn thanh tra phải nhập xong các tài liệu nêu trên vào
hệ thống cơ sở dữ liệu hỗ trợ thanh tra thuế của ngành
Tổng hợp báo cáo và lưu giữ tài liệu thanh tra thuế
Đối với hồ sơ thanh tra thuế (gồm: Quyết định thanh tra; Biên bản công bố Quyết định thanh tra; Biên bản xác nhận số liệu; Biên bản tổng hợp kết quả thanh tra; Kết luận thanh tra; Quyết định xử lý truy thu thuế; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế; Nhật ký thanh tra và các tài liệu khác liên quan) được lưu giữ trong thời hạn 5 năm kể từ năm thực hiện thanh tra Đối với các báo cáo tổng hợp được lưu giữ trong thời hạn là 05 năm, kể từ năm báo cáo
1.2.7 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thanh tra thuế
Hiệu quả công tác thanh tra thuế không chỉ được xem xét, đánh giá đơn thuần
ở khía cạnh vật chất (hiệu quả kinh tế) mà còn được xem xét, đánh giá dưới giác độ hiệu quả xã hội, chính trị Vì vậy, các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác thanh tra
Trang 16thuế được chia 2 nhóm là:
Về định lượng:
- Công tác quản trị: Thể hiện qua việc thực hiện kế hoạch thanh tra hàng
năm Đánh giá tiêu chí này cần xem xét sự phù hợp của quá trình lập kế hoạch
thanh tra trong năm xem có lựa chọn đúng đối tượng, không trùng lấp với cấp trên;
tỷ lệ thực hiện kế hoạch so với các năm trước Đồng thời, xem có đạt được số lượng
cuộc thanh tra theo kế hoạch với số tiền thuế truy thu trung bình trên 1 cuộc thanh
tra là nhiều hay ít
- Số thuế truy thu tăng hay giảm so với phân tích ban đầu trước khi ra quyết
định thanh tra Trong quá trình lập kế hoạch thanh tra, phân tích hồ sơ doanh nghiệp
ta đã thấy được những khoản nào có thể chắc chắn thu được và thu được khoản bao
nhiêu %, khi kết thúc thanh tra ta so sánh số truy thu dự kiến với thực tế sẽ biết
được phần nào đó sự hiệu quả của cuộc thanh tra
- Số vụ việc khiếu nại tố cáo giảm hay tăng so với những năm trước đó
Trong năm nếu số vụ việc khiếu nại tố cáo tăng so với những năm trước thì chứng
tỏ hoạt động thanh tra chưa hoàn thành và ngược lại Từ đó, ta đánh giá được hiệu
quả của hoạt động thanh tra thuế
- Số vụ vi phạm được phát hiện qua thanh tra: So sánh số lượng vụ vi phạm
tăng hay giảm so với những năm trước Nếu tăng thì ta đánh giá được sự chấp hành
pháp luật của DN thấp, đồng thời thấy được hoạt động thanh tra kém chất lượng,
không hiệu quả nên chưa mang tính răn đe cao và ngược lại
- Chi phí của cuộc thanh tra: Đây cũng là yếu tố khá quan trọng trong việc
đánh giá hiệu quả hoạt động thanh tra thuế Tùy trường hợp, tùy đơn vị mà cơ quan
thuế xác định thời gian thanh tra tại đơn vị, có trường hợp đúng thời gian, trường
hợp sớm hơn hoặc phải gia hạn thêm thời gian nhưng để xác định hiệu quả về chi
phí của một cuộc thanh tra cần tiết giảm thời gian, giảm lượng thanh tra viên
nhưng vẫn đảm bảo số thu đạt hoặc vượt so với dự kiến ban đầu
Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên song thực tế đa
số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác thanh tra
Bên cạnh việc tính toán các chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chính xác hơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với những năm cũ để đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâu công tác
Các tiêu chí định tính:
Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của công tác thanh tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệu quả có tính xã hội, chính trị như:
- Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế Tiêu chí này có thể đo
lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng thanh tra qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được thanh tra Qua từng đợt thanh tra hàng năm thống kê lại xem những DN có dấu hiệu tái phạm, mức độ tái phạm tăng hay giảm, xem hành vi vi phạm có chiều hướng tăng và phức tạp hơn trước hay giảm
so với trước, từ đó làm cơ sở đánh giá hoạt động thanh tra có góp phần hạn chế sai phạm và ý thức chấp hành của doanh nghiệp hay không
- Tác dụng trong việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế Có thể
đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và xử phạt hành chính thuế
- Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản
lý thuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động thanh tra thuế Có thể đánh giá tác
dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trong thanh tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theo hình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử lý
Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra được đánh giá theo kỳ (quý, năm) và được chia theo sắc thuế; theo hình thức thanh tra; theo loại đối tượng nộp thuế và từng nội dung thanh tra tương ứng
1.2.8 Văn bản chính sách, pháp luật nhà nước về thanh tra hiện hành
Việc thanh tra thuế hiện nay được thực hiện theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc Hội và được hướng dẫn bởi Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị định
Trang 1785/NĐ.CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012
của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số
78/2006/QH11 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế quy
định rõ từng trường hợp thanh tra, trách nhiệm, quyền hạn của đối tượng được
thanh tra và cơ quan thanh tra
Quy trình thanh tra thuế ban hành kèm theo Quyết định 460/QĐ-TCT ngày
05/05/2009 quy định chi tiết từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thanh tra và xử lý kết
quả sau thanh tra
1.2.9 Kinh nghiệm hoạt động thanh tra thuế ở một số nước có thể vận dụng
tại Việt Nam
Kinh nghiệm nước ngoài:
Hoạt động thanh tra thuế của Mỹ
Hệ thống thuế Mỹ chia thành hai cấp độ là thuế liên bang (thuế trung ương) và
thuế bang (thuế địa phương) Chính sách thuế cũng như quản trị thuế liên bang và
thuế bang hoàn toàn độc lập, tách biệt Chính sách thuế liên bang do Quốc hội ban
hành Cục thu nội địa Mỹ chịu trách nhiệm thực thi trong toàn nước Mỹ Là một cơ
quan độc lập trực thuộc Bộ Ngân Khố Mỹ chịu trách nhiệm quản lý các sắc thuế
liên bang Trong hoạt động quản trị thuế, Cục thu nội địa Mỹ có mục tiêu "Lấy đối
tượng nộp thuế là trung tâm"
Hoạt động thanh tra của Cục thu nội địa được chia làm nhiều cấp độ, trong đó
chú trọng tới việc nghiên cứu mô hình, nghiên cứu xu hướng phát triển các ngành
công nghiệp cũng như xu hướng gia tăng của đối tượng nộp thuế để lựa chọn hoạt
động thanh tra kiểm tra
Để tiến hành hoạt động thanh tra có kết quả hàng năm Cục nội địa thực hiện
hoạt động đánh giá rủi ro để lựa chọn đối tượng được thanh tra Đây là bước tất yếu
cần phải thực hiện để tiến hành hoạt động thanh tra và dựa trên các tiêu chí : Tiêu
chí 1: Đảm bảo tính công bằng Tiêu chí 2: Tính điểm DIF là hệ thống tính điểm
dựa trên phương pháp phân tích thống kê sử dụng nhiều biến số có liên quan đến
nhau (Ví dụ: thu nhập, quy mô tài sản, và một số đặc tính của tờ khai) để ra các kết
quả logic là số thuế phải nộp sẽ dao động trong khoảng bao nhiêu Tiêu chí 3:
Chương trình ưu tiên thanh tra để chú trọng vào thanh tra đối với những đối tượng
có nhiều nghi ngờ Tiêu chí 4: Kết quả chương trình nghiên cứu quốc gia sau đó đối
chiếu với các thông tin lưu trữ về đối tượng nộp thuế để từ đó phân tích và phân loại các nghi vấn để ra các quyết định kiểm tra, thanh tra theo nguồn lực cán bộ hiện có Chương trình thanh tra: Là chương trình phổ biến nhất và huy động nhiều cán
bộ nhất Hoạt động thanh tra được thực hiện dưới hai hình thức: Thư từ trao đổi :
Trong trường hợp vấn đề nghi vấn, cần kiểm tra đơn giản và phạm vi hẹp, có thể
đưa ra kết luận trong vài giờ, không cần xem kỹ số sách chứng từ Thanh tra trực tiếp: Trong trường hợp vấn đề phức tạp, phạm vi kiểm tra rộng, có thể mất vài tuần
Nhằm sử dụng nguồn lực cán bộ có hiệu quả hơn, các cán bộ được huy động thanh tra trực tiếp phải ở trình độ cao hơn các cán bộ thực hiện kiểm tra qua thư từ trao đổi
Để hỗ trợ cho hoạt động thanh tra thuế, tại cục thu nội địa Mỹ còn hình thành ban điều tra hình sự chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm về thuế mang tính hình
sự, cưỡng chế thuế và điều tra các vụ việc liên quan đến rửa tiền và làm tiền giả, Ban cưỡng chế thu nợ về thuế của các đối tượng nộp thuế
Trang 18Hoạt động thanh tra thuế của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc hoạt động quản lý thuế được giao cho Cơ quan dịch vụ thuế
quốc gia (Tổng cục thuế) Hàn Quốc trực thuộc Bộ tài chính với cơ cấu quản lý thuế
của Hàn Quốc bao gồm 3 cấp: cấp 1: Các vụ và các phòng chịu sự quản lý trực tiếp
của cơ quan thuế vụ quốc gia, cấp 2: Cơ quan thuế vùng dưới sự giám sát của cơ
quan dịch vụ thuế quốc gia có trách nhiệm trực tiếp xử lý tính thuế đối với một số
đối tượng nộp thuế trong những trường hợp đặc biệt, hướng dẫn và quản lý toàn bộ
các hoạt động của cơ quan thuế quận huyện, cấp 3: Cơ quan thuế quận huyện
Hoạt động thanh tra thuế được xây dựng xuyên suốt từ Tổng cục Thuế đến các
cơ quan thuế quận huyện Tại cơ quan thuế vùng đã xây dựng các phòng kiểm tra,
thanh tra với chức năng chuyên biệt như sau: Phòng thanh tra và quản lý chịu trách
nhiệm về kế hoạch thanh tra, thu thập, xử lý các thông tin liên quan đến việc trốn
thuế Phòng các cán bộ thanh tra chịu trách nhiệm tiến hành thanh tra và xác định
thuế Phòng các cán bộ thanh tra đặc biệt chịu trách triệm về phân tích những thông
tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm
Ở Hàn Quốc hệ thống tự tính tự nộp thuế đã áp dụng đối với hầu hết các loại
thuế Mỗi đối tượng nộp thuế phải tự nộp tờ khai thuế và trả đủ số thuế đó một cách
tự nguyện thì được coi là trung thực nên chính sách cơ bản của Hoạt động thanh tra
ở Hàn Quốc là thanh tra những đối tượng thuế không trung thực thực hiện trên
nguyên tắc không thanh tra hai lần đối với đối tượng nộp thuế về cùng một loại thuế
của cùng năm tính thuế
Hoạt động thanh tra thuế của Anh
Khi chuyển sang cơ chế tự khai tự nộp, Luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và
quyền hạn cơ quan thuế được quyền thanh tra bất kỳ một đối tượng nộp thuế nào
mà không cần phải nêu lý do Cơ quan thuế phải tiến hành bắt đầu việc thanh tra
trong vòng 12 tháng kể từ ngày hết hạn nộp tờ khai Sau 12 tháng, cơ quan thuế chỉ
thanh tra khi có thông tin từ các nguồn khác về việc cần phải tiến hành thanh tra
Khi nhận được thông báo thanh tra doanh nghiệp không có quyền từ chối
thanh tra và phải cung cấp sổ sách tài liệu và trả lời các câu hỏi có liên quan Cơ
quan thuế không được xuống doanh nghiệp yêu cầu doanh nghiệp cung cấp sổ sách tài liệu kế toán mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm gửi sổ sách tài liệu lên cơ quan thuế và đến cơ quan thuế giải trình khi có thông báo của cơ quan thuế đến làm việc liên quan tới nội dung thanh tra Khi doanh nghiệp thấy việc thanh tra kéo dài hoặc gây phiền hà cho doanh nghiệp thì có quyền đề nghị Uỷ ban giải quyết khiếu nại xem xét dừng cuộc thanh tra Khi xem xét nếu thấy đề nghị của doanh nghiệp là hợp lý Uỷ ban giải quyết khiếu nại quyết định trong vòng 30 ngày sau cơ quan thuế phải kết thúc thanh tra
Bài học kinh nghiệm rút ra có thể vận dụng tại Việt Nam Thứ nhất, về mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra thuế Hoạt
động thanh tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ chức chủ yếu được thực hiện ở cấp trung gian (Cục thuế tỉnh) Tại các quốc gia có tổ chức bộ phận thanh tra cấp trung ương thì chủ yếu là thực hiện công tác chỉ đạo, hỗ trợ thanh tra Các phòng thanh tra tại cơ quan thuế được tổ chức với chức năng chuyên biệt, chỉ thực hiện một giai đoạn của hoạt động thanh tra như: Phòng thanh tra chịu trách nhiệm thu thập, xử lý phân tích rủi ro, lập kế hoạch thanh tra; Phòng Thanh tra thực hiện thanh tra và xác định thuế Phòng thanh tra đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích ở những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm (Hàn Quốc, Anh)
Thứ hai, hầu hết các cơ quan thuế các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn
thuế và bộ phận điều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương Còn tại Việt Nam, Cơ quan thuế chưa có thẩm quyền này, mà thẩm quyền này là của Cơ quan Công an Ở Việt nam, khi có bằng chứng cụ thể về hành vi trốn thuế Cơ quan Thuế phải tập hợp hồ sơ có liên quan và chuyển cho Cơ quan Công an để xử lý những công việc tiếp theo
Thứ ba, về công tác nhân sự Các nước đều có yêu cầu cao đối với việc tuyển
chọn thanh tra viên Người được tuyển chọn thường phải đào tạo qua Đại học Riêng Anh yêu cầu phải có 2 bằng đại học (1 bằng đại học Kinh tế hoặc đại học Thuế và 1 bằng đại học Luật) Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần phải có gồm:
Trang 19- Có kiến thức chuyên sâu về thuế
- Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và quốc tế và mối liên
kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế
- Có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế
- Có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc
- Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy tính (bao gồm kiến thức cơ bản về
hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng chuyên
ngành sử dụng cho thanh tra)
- Có khả năng giao tiếp ngoại ngữ
Ngoài việc tuyển chọn các nước còn chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng
viên chức thuế Nhiều trung tâm được đầu tư hiện đại xếp hạng quốc tế hoặc khu
vực như Trung tâm đào tạo của Nhật Bản, Malaysia, Pháp thanh tra viên khi mới
được tuyển dụng đều được dự các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ và đào tạo cơ bản
Tại Việt Nam, việc tuyển dụng hoàn thành sau khi thí sinh trải qua một kỳ thi
riêng của Ngành thuế và đạt kết quả Thế nên việc xem xét hồ sơ về bằng cấp, về kỹ
năng của từng ứng viên còn hạn chế, có những trường hợp còn chưa học hết Đại
học như Trung cấp, Cao đẳng
Thứ tư, về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra Nhóm các
nước phát triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế cao
và tại cấp trung ương thường thành lập bộ phận “Thanh tra máy tính” (Thanh tra tin
học, thanh tra thuế bằng máy tính) Thanh tra máy tính được thực hiện thông qua hệ
thống ứng dụng tin học hỗ trợ công tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử
dụng hệ thống dữ liệu của ĐTNT để xác định rõ số liệu thực về sổ sách kế toán và
các giao dịch điện tử Hiện tại, ở Việt Nam chỉ có một số Cục thuế lớn trong cả
nước mới có điều kiện thực hiện theo phương pháp này như Cục thuế TP.Hồ Chí
Minh, TP.Hà Nội…, còn tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chưa thể thực hiện
theo phương thức trên vì chưa có Trung tâm tích hợp dữ liệu
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương này, Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về thuế, thanh tra thuế và sự cần thiết phải thanh tra thuế, đưa ra các tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác thanh tra thuế, những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong công tác thanh tra thuế Luận văn cũng đã đề cập đến kinh nghiệm thanh tra tại một số nước,
để từ đó đối chiếu với điều kiện của Việt Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng
Các vấn đề nêu trên đã giúp chúng ta khái quát được những vấn đề lý thuyết cơ bản và là nền tảng cho việc phát triển nội dung ở các chương tiếp theo của toàn luận văn
Trang 20CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI CỤC
THUẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
2.1 BỐI CẢNH KINH TẾ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
2.1.1 Tiềm lực kinh tế
Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hoạt động kinh
tế của Tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí Trên thềm lục địa Đông Nam
Bộ tỉ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát hiện
các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam), Rồng, Đại
Hùng, Rạng Đông Đương nhiên xuất khẩu dầu đóng góp một phần quan trọng
trong GDP của Bà Rịa - Vũng Tàu Bà Rịa - Vũng Tàu là nơi hội tụ nhiều tiềm năng
để phát triển như: có 93% tổng trữ lượng dầu mỏ và 16% tổng trữ lượng khí thiên
nhiên của cả nước, được Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển
quốc gia và quốc tế hiện đại, nằm trong vùng trọng điểm của Chương trình du lịch
quốc gia
Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa - Vũng Tàu còn là một trong những
trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước Trung tâm
điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của
cả nước (trên 4000 MW trên tổng số gần 10.000 MW của cả nước) Công nghiệp
nặng có: sản xuất phân đạm urê (800.000 tấn năm), sản xuất polyetylen (100.000
tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép (hiện tại tỉnh có hàng chục nhà máy lớn
đang hoạt động gồm VinaKyoei, Pomina, Thép miền Nam (South Steel),
Bluescopes, Thép Việt, Thép Tấm (Flat Steel), Nhà máy thép SMC và Posco
Vietnam đưa vào sử dụng nhà máy thép cán nguội
Về du lịch, Bà Rịa - Vũng Tàu thu hút khá nhiều dự án FDI Trong thời gian
qua, Chính phủ đã cấp phép và đang thẩm định một số dự án du lịch lớn như:
Saigon Atlantis (300 triệu USD), Công viên giải trí Bàu Trũng và Bể cá ngầm
Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên bách thú Safari Xuyên Mộc (200 triệu
USD) và đặc biệt là dự án phức hợp Casino nghỉ dưỡng Ho Tram Strip với số vốn
đầu tư lên đến 4 tỷ đô la Mỹ
Về Cảng Biển, Bà Rịa - Vũng Tàu đã trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam bộ Tính đến đầu năm 2011, Tỉnh có 21 cảng biển, với tổng công suất khoảng 45 triệu tấn/năm, trong đó có 3 cảng quốc tế tiếp nhận tàu chở container có trọng tải trên 50.000 tấn chạy thẳng sang Mỹ và châu Mỹ Dự báo đến năm 2015, lượng hàng qua hệ thống cảng BR-VT sẽ đạt trên 60 triệu tấn và đến năm 2020, con số này sẽ là 120 triệu tấn
Bà Rịa - vũng tàu có khoản 15 KCN (KCN Phú Mỹ I, KCN Đông Xuyên, KCN Mỹ Xuân A, KCN Mỹ Xuân A2, KCN Mỹ Xuân B1- CONAC, KCN Cái Mép, KCN Phú Mỹ II ), 01 Tổ hợp hóa Dầu Long Sơn, ngoài ra đã quy hoạch 29 cụm công nghiệp tại các huyện, thành phố trong tỉnh
2.1.2 Thu hút đầu tư
Năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 295 dự án nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 28,07 tỷ USD Trong đó, có 118 dự án trong KCN với tổng vốn đầu tư hơn 11,14 tỷ USD và 177 dự án ngoài KCN với tổng vốn đầu tư gần 17
tỷ USD Vốn đầu tư thực hiện đến nay đạt gần 6,43 tỷ USD, chiếm 22,9% trong tổng vốn đăng ký đầu tư
Trong những năm gần đây Tỉnh luôn đứng trong tốp những địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất tại Việt Nam Nằm ở vị trí thứ 3 về việc đóng góp ngân sách nhà nước, sau TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội
Bảng 2.1: 05 Tỉnh/Thành phố có Tổng số thu NSNN lớn nhất trên cà nước giai
đoạn 2010 – 2012 (Nguồn: Phòng TH-NV-DT, Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Trang 212.2 GIỚI THIỆU BỘ MÁY TỔ CHỨC TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA -
VŨNG TÀU
2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trước đây bộ máy quản lý ở cấp Cục thuế, Chi cục Thuế được tổ chức dựa
trên nguyên tắc quản lý theo đối tượng là chủ yếu kết hợp theo sắc thuế và theo
chức năng như:
+ Cục thuế thành lập các phòng quản lý theo nhóm đối tượng phân công theo
tính chất và đặc điểm ngành nghề như: Phòng quản lý doanh nghiệp nhà nước
ngành công nghiệp, xây dựng và giao thông; phòng quản lý doanh nghiệp ngành lưu
thông, phân phối, dịch vụ; Ngoài ra, còn thành lập các phòng theo từng sắc thuế
như: Phòng nghiệp vụ thuế nông nghiệp; phòng thuế trước bạ và thu khác; Phòng
thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Chi cục Thuế cũng thành lập các tổ, đội quản lý đối tượng nộp thuế theo qui
mô kết hợp theo sắc thuế và chức năng
Sau một quá trình lâu dài thay đổi cho phù hợp với thực tiễn đặt ra, đến tháng
5/2007, bộ máy của các Cục thuế đã được tổ chức chủ yếu theo mô hình chức năng
thống nhất trên toàn quốc (theo Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ, Quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục thuế
trực thuộc Tổng cục Thuế) là việc tổ chức trong đó cơ cấu bao gồm các bộ phận
(phòng, ban, tổ) theo đó mỗi bộ phận một chức năng quản lý thuế cơ bản đối với
hầu hết các loại thuế và đối với hầu hết các đối tượng nộp thuế theo thẩm quyền
được phân công Đến tháng 9/2009, tiếp tục triển khai tổ chức bộ máy theo Quyết
định số 115/2009/QĐ-TTg, theo Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính, cơ cấu tổ chức của Cục thuế vẫn tiếp tục giữ nguyên mô
hình quản lý chủ yếu theo chức năng Cụ thể, mô hình tổ chức tại Cục thuế tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu như sau:
29
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
(Nguồn Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
CỤC TRƯỞNG
Bộ phận quản lý theo chức năng
Phòng truyền
Phòng Quản
lý thu
nợ thuế
Phòng
Kê khai
và Kế toán
Phòng Kiểm tra thuế 1
& 2
Phòng tra thuế
1 & 2
Phòng Tổng hợp – Nghiệp
vụ - Dự toán
Phòng Quản lý các khoản thu từ
đất
Phòng Thuế thu nhập cá nhân
Phòng Tin Bộ phận quản lý nội bộ Phòng
Kiểm tra nội
bộ
Phòng
Tổ chức cán bộ
Phòng Hành chính- Tài vụ-
Ấn chỉ
Trang 222.2.2 Chức năng nhiệm vụ Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu & các phòng
ban
2.2.2.1 Chức năng nhiệm vụ của Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra các Chi cục thuế thực hiện các chức năng quản
trị thuế trên địa bàn tỉnh
- Trực tiếp quản lý thuế đối với các doanh nghiệp lớn và vừa, có phạm vi kinh
doanh liên quan đến nhiều huyện, thị, thành phố; các doanh nghiệp thuộc diện phải
hoàn thuế GTGT, quản lý những nguồn thu lớn, quan trọng, gồm các sắc thuế: Thuế
giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập
cá nhân theo phương pháp khấu trừ tại nguồn; các khoản phí, lệ phí của các tổ chức,
doanh nghiệp thuộc tỉnh quản lý
2.2.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng thuộc Cục thuế tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu
- Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính
sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý
- Phòng Kê khai và kế toán thuế
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý
hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý
- Phòng Quản lý nợ
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế,
đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt trong phạm vi
quản lý
- Phòng Kiểm tra thuế số 1 & 2
Giúp Cục trưởng Cục Thuế kiểm tra, giám sát kê khai thuế; chịu trách nhiệm
thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của
Cục Thuế
- Phòng Thanh tra thuế số 1 & 2
Giúp Cục trưởng Cục Thuế triển khai thực hiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý
- Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán
Giúp Cục trưởng Cục thuế trong việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế; xây dựng và thực hiện dự toán thu Ngân sách Nhà nước thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý
- Phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức triển khai thực hiện thống nhất chính sách thuế thu nhập cá nhân; kiểm tra, giám sát kê khai thuế thu nhập cá nhân; tổ chức thực hiện dự toán thu thuế thu nhập cá nhân đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục thuế
- Phòng Quản lý đất
Phòng Quản lý các khoản thu từ đất thuộc Cục Thuế có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức thực hiện công tác quản lý các khoản thu từ đất trên địa bàn Cục Thuế quản lý
- Phòng Kiểm tra nội bộ
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi quản lý của Cục trưởng Cục Thuế
- Phòng Tổ chức cán bộ
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục Thuế
Trang 23- Phòng Hành chính - Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các công tác
hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ
bản, quản trị, quản lý ấn chỉ thuế trong toàn Cục Thuế
- Phòng Tin học
Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị
tin học ngành thuế; triển khai các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác
quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ thuế trong việc sử dụng ứng dụng
tin học trong công tác quản lý
2.2.3 Đối tượng nộp thuế tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Bảng 2.2: Tình hình biến động của các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh
tại tỉnh BR-VT giai đoạn 2012-2013
* Số DN ngưng hoạt động bao gồm: giải thể, phá sản, bỏ địa chỉ kinh doanh,
TNHH Cổ phần
DN
tư nhân
Hợp tác
xã
DN liên doanh nước ngoài
Tổng cộng
Năm 2012, địa bàn tỉnh có hơn 7.157 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế đang hoạt động sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, tình hình kinh tế năm 2012, 2013 găp nhiều khó khăn thách thức do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới và trong nước; số doanh nghiệp giải thể, bỏ trốn cả năm 2013 tăng 16% so với năm trước, theo thống kê có khoản 668 doanh nghiệp ngưng hoạt động (bao gồm: giải thể, phá sản, bỏ địa chỉ kinh doanh, chờ làm thủ tục giải thể, ) ; doanh thu của các ngành SXKD đều giảm sút; hàng hoá tồn kho tăng cao, có trên 48% doanh nghiệp trên địa bàn kinh doanh
lỗ hoặc không phát sinh doanh thu; số doanh nghiệp nợ thuế tăng cao; tình hình mua bán, chuyển nhượng bất động sản, ô tô, xe máy trầm lắng, số tổ chức phát sinh nộp tiền sử dụng đất ít hơn các năm trước,
Tuy nhiên, 11 tháng đầu năm 2013 số lượng doanh nghiệp thành lập mới cũng tăng cao (1063 doanh nghiệp), tăng hơn so với số doanh nghiệp thành lập mới năm
2012 là 13% (1063 DN/937 DN) Điều này cho thấy nhìn nhận của các doanh nghiệp về tình hình kinh tế tại Việt Nam cũng như tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ hồi phục và tăng trưởng trong thời gian tới, đó cũng là điều kiện để thu hút đầu tư vào Tỉnh
Đến năm tháng 11/2013, địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 8.252 Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm hợp tác xã)
Đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước, quá trình sắp xếp đổi mới đến năm
2013 vẫn còn 65 doanh nghiệp, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, kinh doanh đa ngành, ngày càng có tầm vóc về vốn, thị trường, chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý điều hành
Đối với loại hình doanh nghiệp Ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư nhân, TNHH, Cổ phần, liên doanh với nước ngoài) tổng số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh có 7.926 doanh nghiệp Đây là khu vực phát triển nhanh về
số lượng, đa dạng về ngành nghề, ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát huy nội lực và hội nhập
Trang 24Đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hiện có trên 261
doanh nghiệp thuộc 32 quốc gia và vùng lãnh thổ Đây là loại hình phát triển nhanh
về qui mô và đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, thể hiện sự thành công
trong việc cải thiện môi trường đầu tư và thu hút đầu tư tại Bà Rịa - Vũng Tàu Các
nước và vùng lãnh thổ đang dẫn đầu đầu tư tại Bà Rịa - Vũng Tàu là Đài Loan,
Trung Quốc, Hàn quốc, Nhật Bản, các nước ASEAN, EU, Mỹ Hầu hết các nhà
đầu tư nước ngoài triển khai thực hiện dự án nghiêm túc, đạt được những kết quả tốt
và có kế hoạch đầu tư mở rộng dự án, được Chính phủ Việt Nam và tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu đánh giá cao
2.2.4 Kết quả thu thuế tại Cục thuế tỉnh BR-VT
2.2.4.1 Kết quả thu theo từng sắc thuế
35
Nguồn: Phòng TH-NV-DT, Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bảng 2.3 Kết quả thu theo từng sắc thuế của Cục thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2010 - 2012
Đvt: Triệu đồng.
STT Loại thuế Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tỷ lệ % năm 2011/2010
Tỷ lệ % năm 2012/2010
Tỷ lệ % năm 2012/2011
1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 2.872.768 4.128.592 5.130.504 143,7% 178,6% 124,3%
2 Thuế tài nguyên 708.598 604.704 235.280 85,3% 33,2% 38,9%
3 Thuế giá trị gia tăng 6.937.234 10.919.460 10.103.820 157,4% 145,6% 92,5%
4 Thuế tiêu thụ đặc biệt 361.752 570.705 627.032 157,8% 173,3% 109,9%
5 Thuế môn bài 24.160 52.120 27.607 215,7% 114,3% 53,0%
6 Thuế thu nhập cá nhân 1.698.200 2.520.368 2.634.748 148,4% 155,1% 104,5%
7 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1.808 1.931 1.246 106,8% 68,9% 64,5%
8 Thuế nhà, đất (Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp) 24.456 27.737 26.066 113,4% 106,6% 94,0%
9 Phí xăng dầu (Thuế bảo vệ môi trường) 510.406 538.364 543.393 105,5% 106,5% 100,9%
10 Lệ phí trước bạ 216.819 260.512 240.814 120,2% 111,1% 92,4% Tổng cộng 13.356.201 19.624.493 19.570.510 146,9% 146,5% 99,7%
Trang 252.2.4.2 Kết quả thu theo khu vực
Bảng 2.4 Kết quả thu thuế theo khu vực của Cục thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2010 - 2012
Nguồn: Phòng TH-NV-DT, Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Đvt: Triệu đồng
STT Thu theo khu vực Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tỷ lệ % năm 2011/2010
Tỷ lệ % năm 2012/2010
Tỷ lệ % năm 2012/2011
1 Khu vực DNNN Địa phương 330.000 478.668 626.000 145,1% 189,7% 130,8%
2 Khu vực DNNN Trung ương 3.500.000 2.910.506 5.062.000 83,2% 144,6% 173,9%
3 Khu vực DN có vốn ĐTNN 9.230.000 10.832.530 13.820.000 117,4% 149,7% 127,6%
4 Khu vực NQD 1.485.000 3.054.494 3.140.000 205,7% 211,4% 102,8%
Tổng cộng 14.545.000 17.276.198 22.648.000 118,8% 155,7% 131,1%
Qua bảng tổng hợp kết quả thu thuế theo từng sắc thuế (Bảng 2.3) về tổng thể
ta thấy kết quả thu thuế năm 2011 lớn hơn so năm 2010 và 2012 Số thu năm 2012
ít hơn so với 2011 là do năm 2012, tình hình phát triển kinh tế của Tỉnh còn nhiều khó khăn, lạm phát ở mức cao, dẫn đến số doanh nghiệp giải thể, bỏ trốn cả năm tăng 16% so với năm trước (775 DN/668 DN); doanh thu của các ngành SXKD đều giảm sút; hàng hoá tồn kho tăng cao, có trên 48% (khoản 4.471 DN) doanh nghiệp trên địa bàn kinh doanh lỗ hoặc không phát sinh doanh thu; số doanh nghiệp nợ thuế tăng cao; tình hình mua bán, chuyển nhượng bất động sản, ô tô, xe máy trầm lắng, số tổ chức phát sinh nộp tiền sử dụng đất ít hơn các năm trước, Cộng với việc thực hiện chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế làm ảnh hưởng giảm số thu năm
2012
Trong đó, sắc thuế có số thu lớn nhất là thuế Giá trị gia tăng, năm 2011 tăng 57,4% so với năm 2010 và năm 2012 tăng 45,6% so với năm 2010 Tiếp đến là thuế Thu nhập doanh nghiệp và thuế Thu nhập cá nhân tăng qua từng năm Thuế Tài nguyên năm 2012 giảm so với 2011 và 2010 là do trước đây các doanh nghiệp khai thác tài nguyên là nước mặt và nước ngầm để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh như: khai thác nước tưới cỏ sân Golf, khai thác nước trong quá trình chế biến
mủ Cao su, khai thác nước để làm mát máy và làm nguội Thép trong quá trình sản xuất Thép…nhưng do chưa nắm rõ Luật thuế tài nguyên nên chưa kê khai nộp thuế, đến năm 2010 và 2011 mới kê khai bổ sung nên số thuế tăng đột biến trong 2 năm nói trên Còn lại, Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế nhà đất (nay là Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Phí xăng dầu (nay là Thuế bảo vệ môi trường); Lệ phí trước bạ đều tăng giảm nhưng không đáng kể
Qua kết quả thu thuế theo từng khu vực của Cục thuế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012 và tỷ lệ so sánh số thuế thu theo khu vực (Bảng 2.4), nhìn chung số thu từng khu vực tăng qua các năm Trong đó, Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực có số thu lớn nhất, sau đó là Khu vực doanh nghiệp Nhà nước Trung ương, Khu vực doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
và Khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa phương
Trang 26+ Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Năm 2011 tăng 17,4% so với năm 2010 là do số nộp của Liên doanh
Vietsovpetro tăng hơn so với năm 2010 là 1.152.530 triệu đồng và Dự án Đường
ống Nam Côn Sơn nộp bổ sung Quyết toán 2010 là 415.000 triệu đồng
Năm 2012 tăng 27,6% so với năm 2011 là do Số tiền khí lãi ghi thu, ghi chi
tăng 1.751.000 triệu đồng và các khoản thu thuế từ nhà thầu phụ
+ Khu vực Doanh nghiệp nhà nước Trung ương
Năm 2011 giảm 584.494 triệu đồng chỉ bằng 83,2% so với năm 2010 là do các
nguồn thu lớn giảm như: sản lượng khí ẩm sụt giảm, chỉ bằng 65% so với năm 2010
(342/527,3 triệu m3); Thuế TNDN năm 2011 của Tổng công ty Khí chỉ đạt 410 tỷ
đồng, giảm 105 tỷ đồng do đơn vị được hưởng ưu đãi miễn giảm đối với một số dự
án mở rộng; Giảm 120 tỷ đồng thuế GTGT từ Công ty Kinh doanh sản phẩm khí –
Chi nhánh của Tổng công ty Khí, do đơn vị chuyển trụ sở về TP HCM kể từ tháng
01/2011; giảm do thay đổi thành phần kinh tế từ DNNN sang DN ngoài quốc doanh
của một số DN…
Năm 2012 bằng 173,9% so với năm 2011 là do: năm 2012 có phát sinh thuế
GTGT bán dầu thô cho Nhà máy Dung Quất (818 tỷ đồng); thuế TNDN của Tổng
công ty Khí cũng tăng 850 tỷ đồng so với năm 2011;…
+ Khu vực Ngoài quốc doanh
Năm 2011 tăng 1.569.494 triệu đồng và bằng 205,7% so với năm 2010 là do
các DN có số nộp lớn khối dịch vụ dầu khí thuộc thành phần kinh tế hỗn hợp có vốn
Nhà nước chiếm trên 51% (trước đây thuộc DNNN), đến đầu năm 2011 thay đổi
tăng vốn cổ phần huy động ngoài nhà nước theo quy định nên thuộc doanh nghiệp
NQD dẫn đến số thu khu vực DNNN giảm và số thu khu vực NQD năm 2011 tăng
cao (như Công ty CP Dịch vụ Lắp đặt, Vận hành và Bảo dưỡng công trình dầu khí
biển PTSC, Công ty CP Cơ khí hàng hải PTSC, ), Ngoài ra số thuế thu từ khu vực
NQD cũng tăng 40% so với năm trước
Năm 2012 có tăng hơn so với năm 2011 nhưng không đáng kể (85.506 triệu
đồng) do khu vực này đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ, ảnh hưởng nhiều bởi suy
giảm kinh tế, ngoài ra do thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế theo Nghị quyết số 13/NQ-CP; mặt khác thuế TNDN từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển QSD đất cũng giảm so với năm trước (8/52 tỷ đồng)… do đó số thu khu vực chỉ tăng 2,8% so với năm 2011
+ Khu vực Doanh nghiệp nhà nước địa phương
Số thu năm 2011 tăng 45,1% so với năm 2010 do thu từ Nhà máy đạm Phú Mỹ
- chi nhánh của Tổng công ty Phân bón và Hoá chất Dầu khí đạt khoản 148.668 tỷ đồng
Số thu năm 2012 đạt khá, tăng so với năm 2011 (tăng 30,8%) do Nhà máy đạm Phú Mỹ - chi nhánh của Tổng công ty Phân bón và Hoá chất Dầu khí nộp 75.332 triệu đồng), ngoài ra còn do có số nộp 72.000 triệu đồng của Công ty CP Chế tạo giàn khoan dầu khí
2.2.4.3 Kết quả thu theo địa bàn Bảng 2.5: Số thu thuế theo từng địa bàn giai đoạn 2010 - 2012
Trang 27CCT Long Điền 85.944 115.734 106.760
Nguồn: Phòng TH-NV-DT, Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Qua thống kê theo số thu từng địa bàn từ năm 2010 đến năm 2012 thì số thu tại
Văn phòng Cục thuế là lớn nhất so với các Chi cục thuế các huyện Đó cũng là cơ
sở cho tác giả lựa chọn hoạt động thanh tra tại Văn phòng Cục thuế làm đối tượng
phân tích trong luận văn này
41
2.2.4.4 Kết quả thu thuế theo từng nhóm ngành tại Văn phòng Cục thuế Bảng 2.6 : Số thu theo từng nhóm ngành tại Văn Phòng Cục thuế giai đoạn 2010 - 2012
Nguồn: Phòng TH-NV-DT, Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nhóm nghành Số thu 2010 Số thu 2011 Số thu 2012
% Số thu 2011/Số thu 2010
% Số thu 2012/Số thu
2010
% Số thu 2012/Số thu
Trang 28Bảng 2.7: Tỷ trọng số thu từng ngành trong tổng số thu
Từ các bảng 2.6, 2.7 ta thấy được số thu từ nhóm ngành Công nghiệp và xây
dựng lớn nhất, chiếm 83,47% trên tổng số thu trong năm 2010, 84,31% trong năm
2011 và 82,52% năm 2012 Tiếp đến là nhóm ngành dịch vụ cũng chiếm từ 9-11%
trong tổng số thu và nhóm ngành Nông - Lâm - Thủy sản chiếm trên 6% trên tổng
thu Nhìn chung, tất cả các nhóm ngành đều tăng trưởng qua các năm
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
2.3.1 Tổ chức bộ máy thanh tra thuế 2.3.1.1 Phân cấp, chức năng và nhiệm vụ của hệ thống thanh tra các cấp Trung ương:
Thanh tra Tổng cục Thuế tổ chức phân tích đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, xác định các lĩnh vực rủi ro, chỉ đạo cơ quan thuế các cấp thực hiện thanh tra thuế; trực tiếp hoặc hỗ trợ các Cục thuế thanh tra các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, doanh nghiệp có quy mô kinh doanh đa dạng, phức tạp, công ty đa quốc gia
Cục thuế
Phòng thanh tra Cục thuế tổ chức thực hiện công tác thanh tra thuế theo chương trình kế hoạch thanh tra của Cục Thuế; thanh tra các trường hợp do phòng Kiểm tra thuế, các Chi cục đề nghị và chuyển hồ sơ; hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế cấp trên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Chi cục Thuế
Đội thanh tra thuế tổ chức thực hiện công tác thanh tra thuế theo chương trình
kế hoạch thanh tra của Chi cục Thuế; thanh tra các trường hợp do Đội Kiểm tra thuế
và các Đội khác đề nghị và chuyển hồ sơ; hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế cấp trên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tuy nhiên, theo quy định của Tổng cục Thuế thì những Chi cục Thuế nào thực hiện thu thuế hàng năm từ 300 tỷ đồng trở lên trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế trên 1.000 doanh nghiệp thì mới được phép thành lập Đội thanh tra thuế
Hiện tại, Chi cục Thuế TP Vũng Tàu chưa có đội thanh tra thuế
2.3.1.2 Tổ chức phòng thanh tra tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện có 02 phòng thanh tra thuế với 32 cán
bộ, công chức Về trình độ, trong 32 cán bộ, công chức có 01: trình độ thạc sĩ; còn
Trang 29lại 31 cán bộ trình độ đại học, cao đẳng Về thâm niên công tác, đa số cán bộ, công
chức công tác tại Cục thuế trên 05 năm
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức nội bộ Phòng thanh tra thuế
Tổ lập kế hoạch thanh tra
Tổ lập kế hoạch thanh tra bao gồm 4 thành viên Hàng năm được Trưởng
phòng giao nhiệm vụ tổng hợp, phân tích và lập kế hoạch thanh tra hàng năm cho
Cục thuế như: Tổng hợp số liệu từng doanh nghiệp xem trước đây đã thanh tra hay
chưa, đã thanh tra những sắc thuế nào (hạn chế) hay là toàn bộ; sau đó lựa chọn
những doanh nghiệp chưa thanh tra hoặc đã thanh tra từ 3-5 năm đưa vào phân tích
theo hệ thống các tiêu chí (phân loại doanh nghiệp theo loại hình kinh tế, so sánh
biến động giữa thuế TNDN/doanh thu giữa các năm, tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh/doanh thu ) đã được Tổng Tổng cục Thuế xây dựng sẵn nhằm lọc ra
những doanh nghiệp đủ điều kiện để đưa vào diện thanh tra, tiếp theo trình Trưởng
phòng và Cục trưởng duyệt để gửi Tổng cục Thuế xem xét, quyết định cuối cùng
Các thành viên trong tổ ngoài thời gian lập kế hoạch thanh tra được Trưởng
phòng phân công tham gia vào hoạt động thanh tra
Đoàn thanh tra
Căn cứ theo kế hoạch thanh tra được duyệt và quy trình kèm theo Quyết định
460/QĐ-TCT đoàn thanh tra tiến hành thanh tra đơn vị theo đúng quy trình thanh
tra từ khâu ra quyết định đến kết luận thanh tra
TRƯỞNG PHÒNG
TỔ LẬP KẾ HOẠCH
THANH TRA (kiêm
thành viên đòan thanh tra)
TỔ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO (kiêm thành viên đoàn thanh tra)
CÁC ĐOÀN THANH TRA
Tổ giải quyết khiếu nại tố cáo
Sau khi ra biên bản kết luận thanh tra, nếu đối tượng được thanh tra không châp nhận, đồng ý với kết luận của Đoàn thanh tra thì đối tượng được thanh tra có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan thuế về quyết định, hành vi của trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh tra thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật Khi đó, Tổ giải quyết khiếu nại tố cáo sẽ được Trưởng phòng thanh tra chỉ định thành lập (Tổ này chỉ được thành lập khi có khiếu nại tố cáo xảy ra) Tổ tiến hành làm việc trực tiếp với đơn vị nhằm thu thập thông tin chi tiết về vụ việc Nếu xảy ra sai phạm một mặt Tổ báo cáo Lãnh đạo phòng, mặt khác
Tổ chuyển đầy đủ hồ sơ cho Phòng kiểm tra nội bộ để xử lý các bước tiếp theo
Sơ đồ 2.3: Mối liên hệ của 03 Tổ trong Phòng thanh tra thuế
Kế hoạch không
Gây mất thời gian
TỔ LẬP KẾ HOẠCH THANH TRA
CÁC ĐOÀN THANH TRA
TỔ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TRƯỞNG PHÒNG THANH TRA