Vì vậy với đề tài nghiên cứu này, thông qua một số câu hỏi phỏng vấn các giáo viên, nhà quản lý giáo dục và phụ huynh một số trường trong Quận 9 sẽ giúp ta đánh giá được chất lượng trườn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
-
CHÂU ĐOÀN HIẾU HẠNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC
TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9,
CHÂU ĐOÀN HIẾU HẠNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9,
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS PHAN NGỌC TRUNG
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ
TP HCM ngày … tháng … năm …
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
1 TS Lưu Thanh Tâm - Chủ tịch hội đồng
2 TS Nguyễn Hải Quang - Phản biện 1
3 TS Nguyễn Quang Trãi - Phản biện 2
4 TS Phạm Thị Hà - Ủy viên
5 TS Nguyễn Đình Luận - Ủy viên, Thư ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
TP HCM, ngày … tháng… năm 20 …
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Châu Đoàn Hiếu Hạnh Giới tính:Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 05/12/1980 Nơi sinh: Đồng Nai Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1184011053
I- TÊN ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Gồm 3 chương chính:
• Phần mở đầu
• Chương 1: Tổng quan về giáo dục mầm non
• Chương 2: Khảo sát thực trạng giáo dục mầm non Quận 9
• Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trên địa bàn Quận 9, TPHCM
• Kết luận
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 24/06/2012
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 31/12/2012 V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS PHAN NGỌC TRUNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Châu Đoàn Hiếu Hạnh
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp
đỡ của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn TS Phan Ngọc Trung, người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo để em hoàn thành luận văn này Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô và bạn bè trường Đại học KTCN Tp.HCM đã trao đổi chia sẽ đóng góp kinh nghiệm và kiến thức để tôi hoàn thiện luận văn Xin trân trọng cảm ơn các bậc phụ huynh, thầy cô giáo tại các trường mầm non trên địa bàn Q.9, phòng Giáo dục Quận 9 đã nhiệt tình hỗ trợ, góp ý và chia sẻ thông tin
để luận văn được hoàn thiện
Tác giả Luận văn
Châu Đoàn Hiếu Hạnh
Trang 4TÓM TẮT
Hiện nay, các trường mầm non trên địa bàn Tp.HCM xuất hiện ngày càng
nhiều với đầy đủ các loại hình công lập, dân lập, tư thục Để đánh giá hết chất lượng
của các trường là không dễ đối với các nhà quản lý giáo dục Vì vậy với đề tài
nghiên cứu này, thông qua một số câu hỏi phỏng vấn các giáo viên, nhà quản lý
giáo dục và phụ huynh một số trường trong Quận 9 sẽ giúp ta đánh giá được chất
lượng trường mầm non trên địa bàn đang ở mức độ nào để có những giải pháp nâng
cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu gởi trẻ của các bậc cha mẹ
Luận văn giúp ta có cái nhìn bao quát về giáo dục mầm non, bao gồm:
- Tổng quan về giáo dục và giáo dục mầm non
- Mục tiêu của giáo dục mầm non gồm những mục tiêu quan trọng: Phát
triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội, và thẩm mỹ
- Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục mầm non: Cơ sở vật chất, đội ngũ
quản lý & giáo viên giảng dạy, chương trình giảng dạy
Thông qua các số liệu thu thập được, tác giả đã nêu lên thực trạng giáo dục
mầm non cả nước nói chung và Tp.HCM nói riêng bằng các con số thống kê về
trường, số trẻ, cơ sở vật chất, trình độ giáo viên,…, số liệu thứ cấp của phòng giáo
dục Quận 9 và những số liệu sơ cấp về việc đánh giá chất lượng giáo dục mầm non
quận 9 qua phỏng vấn 200 đối tượng như : giáo viên, phụ huynh của một số trường
dân lập và công lập trên đại bàn
Kết quả khảo sát được đưa vào phân tích SPSS với các thông số : Độ tin cậy
Cronbach’s alpha, nhân tố EFA để sử dụng cho phân tích hồi quy Kết quả phân tích
hồi quy cho ta phương trình hồi quy như sau:
Y= 1.024 + 0,282 Cơ sở vật chất + 0.251 Đội ngũ quản lý & giáo viên
giảng + 0,177 Chương trình giảng dạy
Hệ số beta > 0 khẳng định các giả thuyết nêu ra trong mô hình nghiên cứu được
chấp nhận và được kiểm định phù hợp
Dựa trên những phân tích và đánh giá thực trạng nêu trên, tác giả đưa 3 nhóm giải pháp chủ đạo nhằm cải thiện chất lượng giáo dục mầm non trên đại bàn Quận 9 Tp.HCM:
Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất: Làm tốt công tác dự báo về phát triển kinh tế xã hội của địa phương để lập kế hoạch giáo dục được tốt, xây dựng và sửa chữa các trường mầm non xuống cấp Thành lập các trường mầm non công lập hoặc khuyến khích phát triển các trường mầm non ngoài công lập chất lượng cao có mức học phí phù hợp với chất lượng giáo dục Trang bị các phương tiện giáo dục phù hợp
Nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và giáo viên: bằng cách nâng cao đời sống của giáo viên trước, tiếp đến tạo điều kiện hỗ trợ cho giáo viên tham gia các khóa học nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận các phương pháp quản lý và giảng dạy hiện đại
Nâng cao chất lượng chương trình giảng dạy: Triển khai đồng bộ chương trình giáo dục bằng cách kết hợp giữa trường, phòng giáo dục và các cô giáo nhằm thực hiện tốt các mục tiêu đào tạo cần thiết cho trẻ mầm non Mạnh dạn áp dụng các phương pháp giảng dạy mới, từ đó rút ra phương pháp nào thích hợp cho trẻ nhất
Trang 5ABSTRACT
Currently, the pre-schools in the area HCMC appear more and more for a full
range of public, people-founded and private To fully assess the quality of the
school is not easy for management education So with this research, through some
interview questions teachers, educational administrators and parents some schools
in District 9 will help us assess the quality of pre-schools in the area are extent to
improve the quality of solutions to meet the child care needs of parents
This thesis gives us a overview of early childhood education, including:
objectives: To develop physical, cognitive, language, emotional, social,
and aesthetic
management team & teachers, curriculum
Through the data collected, the authors raised the state of early childhood
education in general and HCM City in particular by the statistics on the number of
children, physical facilities, qualified teachers members, etc., secondary data of the
Education Department of District 9 and the primary data for assessing the quality of
early childhood education in District 9 by interviewing 200 subjects such as:
teacher, parent of a number of people and public schools in the area
Reliability Cronbach's alpha, factor EFA to use regression analysis Results of
regression analysis for the regression equation as follows:
Y = 1.024 + 0.282 Facilities + 0251 Team management & teachers + 0.177
socio-economic development of local educational planning is good, construction and repair of degraded kindergarten Establishment of pre-schools public or encouraging the development of non-public kindergartens high quality tuition in accordance with the quality of education Equipped with the appropriate educational facilities
lives of teachers before, to facilitate support for teachers to participate in advanced courses qualifications, access methods modern management and teaching
combination of education, education and the teachers to implement the necessary training objectives for preschool children Boldly apply new teaching methods, which draw the most appropriate method for children
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC MẦM NON 4
1.1 Tổng quan về giáo dục Việt Nam 4
1.2 Tính cấp thiết của giáo dục mầm non 4
1.2.1 Giáo dục mầm non là gì 4
1.2.2 Vai trò của giáo dục mầm non 5
1.2.3 Mục tiêu của giáo dục mầm non 6
1.3 Những tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục mầm non 7
1.3.1 Cơ sở vật chất 7
1.3.2 Đội ngũ quản lý và giáo viên giảng dạy 10
1.3.3 Chương trình giảng dạy 12
1.4 Một số nền giáo dục mầm non có chất lượng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 14
1.4.1 Một số nền giáo dục mầm non có chất lượng trên thế giới 14
1.4.2 Xu hướng phát triển từ các nước 18
1.5 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 20
1.5.1 Mô hình nghiên cứu 20
1.5.2 Các giả thuyết 21
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC MẦM NON QUẬN 9 23
2.1 Thực trạng giáo dục mầm non trên địa bàn quận 9, TP.HCM 23
2.2 Khảo sát về chất lượng giáo dục mầm non trên địa bàn quận 9, TP.HCM 28
2.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi và xây dựng thang đo 28
2.2.2 Phân tích và đánh giá thang đo 30
2.2.3 Phân tích hồi quy 36
2.2.4 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và sự phù hợp của mô hình 37
2.2.5 Phân tích các biến định tính và biến kết quả định lượng 39
2.3 Đánh giá thực trạng của giáo dục mầm non hiện nay 42
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9, TP.HCM 45
3.1 Quan điểm về chất lượng giáo dục 45
3.2 Một số định hướng phát triển giáo dục mầm non đến 2020 46
3.3 Mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non quận 9 48
3.3.1 Mục tiêu chung 48
3.3.2 Mục tiêu cụ thể 48
3.4 Một số giải pháp thực hiện 50
3.4.1 Cải thiện cơ sở vật chất trường mầm non 50
3.4.2 Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên mầm non 53
3.4.3 Triển khai đồng bộ chương trình giáo dục mầm non 54
3.4.4 Đổi mới phương pháp giảng dạy 55
3.5 Một số kiến nghị 58
3.5.1 Ủy Ban nhân dân Tp.HCM, Sở GDĐT Tp.HCM 58
3.5.2 Ủy Ban nhân dân quận 9 59
3.5.3 Phòng giáo dục 59
3.5.4 Các trường mầm non 60
KẾT LUẬN 61
1 Kết quả chính và đóng góp của đề tài nghiên cứu 61
2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 64
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số liệu mầm non quận 9 23
Bảng 2.2: Thống kê tình trạng trường lớp và học sinh đầu năm 2012-2013…… 25
Bảng 2.3: Số liệu về các chỉ tiêu của mầm non Quận 9 năm 2012-2013 26
Bảng 2.4: Thang đo nhóm cơ sở vật chất, Cronbach’s alpha=0.932 31
Bảng 2.5: Thang đo Đội ngũ quản lý và giáo viên giảng dạy, Cronbach’s alpha=0.924 32
Bảng 2.6: Thang đo nhóm Chương trình giảng dạy, Cronbach’s alpha=0.756 33
Bảng 2.7: Thang đo nhóm Chất lượng giáo dục mầm non, Cronbach’s alpha=0.681 33
Bảng 2.8: kết quả phân tích nhân tố 34
Bảng 2.9: Nhân tố của chất lượng giáo dục mầm non 36
Bảng 2.10: Kết quả phân tích hồi quy 37
Bảng 2.11: Sự khác nhau giữa hai hệ thống công lập và dân lập 39
Bảng 2.12 Sự khác nhau giữa hai đối tượng Phụ huynh và giáo viên 40
Bảng 2.13:Kiểm định sự khác nhau của các nhóm có thu nhập 42
Bảng 2.14: Kiểm định sự khác nhau của các nhóm có trình độ khác nhau 42
Bảng 3 1: Định hướng phát triển giáo dục mầm non đến 2020 46
Bảng 3 2 Số liệu trẻ em quận 9 đến năm học 2020-2021 51
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Hệ thống giáo dục theo Luật Giáo dục 2005 4
Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu 20
Hình 2.1: Số liệu giáo viên và trẻ em mầm non quận 9………24
Hình 2 2: Số liệu trường mầm non Quận 9 24
Hình 2 3:Biểu đồ thể hiện diện tích bình quân của trường mầm non 27
Hình 2 4: Biểu đồ số trẻ BQ / 1 lớp 28
Hình 3 1: Dự báo các tỉ lệ giáo dục mầm non đến 2020 47
Hình 3 2: Tỷ trọng trình độ giáo viên năm 2015 49
Hình 3 3: Biểu đồ trẻ em quận 9 gia tăng đến năm học 2020-2021 51
Hình 3 4: Quy trình các giải pháp nâng cao chất lượng GDMN 58
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu
1.1 Đặt vấn đề
Đã là cha mẹ, ai cũng lo lắng cho con cái, nhất là khi bé đến tuổi đi học nhà trẻ,
mẫu giáo Khi đó bé còn rất nhỏ, lại quen được mọi người trong gia đình chơi đùa, chăm sóc hàng ngày Khi bước vào một môi trường mới, bạn bè, thầy cô đều lạ, đối với một đứa trẻ mới lên hai quả là một điều không dễ dàng chút nào
Ngày nay có rất nhiều trường mầm non dành cho các bé, công lập có, bán công
có, tư thục có và cả trường quốc tế cũng có mặt tại Việt Nam Do vậy các phụ huynh rất hoang mang không biết chọn trường cho con mình như thế nào là tốt nhất
và phù hợp với điều kiện của gia đình mình nhất
Với đề tài: ”Giải pháp nâng cao chất lượng các trường mầm non trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm giúp cho các trường biết được mức
độ hài lòng của phụ huynh về chất lượng trường, và nắm được những điểm bất cập
để cải thiện điều kiện trường được tốt hơn
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các trường mầm non trên địa bàn Tp.HCM xuất hiện ngày càng nhiều với đầy đủ các loại hình Để đánh giá hết chất lượng của các trường là không
dễ đối với các nhà quản lý giáo dục Vì vậy với đề tài nghiên cứu trên, thông qua một số câu hỏi phỏng vấn các đối tượng như giáo viên, giám hiệu và phụ huynh một
số trường trong quận 9 sẽ giúp ta biết chất lượng trường mầm non trên địa bàn đang
ở mức độ nào để có những giải pháp cải thiện hữu hiệu hơn
2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu đề tài
Như đã đề cập trên đây, giải pháp nâng cao chất lượng các trường mầm non trên địa bàn Quận 9, TP.HCM có tầm quan trọng đặc biệt đối với các trường mầm
Trang 9như có rất nhiều trường mầm non Vì vậy với khảo sát này sẽ giúp cho ta hiểu được
phụ huynh đánh giá chất lượng của trường tới mức độ nào, ngoài ra cũng một phần
nào đó giúp cho các trường hiểu rõ chất lượng trường mình Cụ thể là:
- Kiểm định các yếu tố cơ sở vật chất của trường mầm non
- Kiểm định được trình độ giáo viên mầm non trường mầm non như thế
nào
- Chương trình của trường bé đang học đã tốt và phù hợp với bé chưa
Ngoài ra, so sánh sự khác nhau về chất lượng giữa các trường công lập và
dân lập
Từ kết quả phân tích, tác giả sẽ đưa ra các giải cho các trường mầm non trên địa bàn
quận 9,TP HCM
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung của đề tài này là thông qua thực trạng về chất lượng mầm non và
khảo sát thực tế để nắm bắt được mức độ về chất lượng mầm non của của các
trường mầm non trên địa bàn quận 9, TP.HCM, sau đó nêu lên những giải pháp
tương ứng cho từng hệ thống trường còn yếu kém trong chất lượng
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp luận
Với đề tài trên, tôi sừ dụng phương pháp suy diễn là chính Nghĩa là sử dụng
đặc điểm, mục tiêu của giáo dục mầm non và đặc biệt các các tiêu chí cơ bản cấu
thành nên chất lượng, sau đó áp dụng vào trong thực tiễn của đề tài để xác định chất
lượng các trường mầm non hiện nay, từ đó có các giải pháp cụ thể cho từ trường
hợp
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, tôi vừa sử dụng phương pháp định tính lẫn định
lượng
Định lượng: Nghiên cứu của đề tài này được tập trung tại quận 9, TP.HCM thông
qua phương pháp phỏng vấn để thu thập số liệu sơ cấp, sau đó phân tích định lượng bằng cách sử dụng thống kê mô tả để đánh giá chất lượng các trường mầm non
Định tính: Nhưng trước khi có bảng câu hỏi phòng vấn thì ta phải phân tích định
tích bằng cách đánh giá thực trạng của giáo dục mầm non, thu thập số liệu thứ cấp
từ các nguồn cung cấp đáng tin cậy
3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Qua đề tài này giúp ta đánh giá đúng về chất lượng giáo dục mầm non cả nước, cũng như chất lượng giáo dục mầm non Quận 9, TPHCM Từ những kết quả nghiên cứu ta sẽ biết được các yếu tố nào cấu thành nên chất lượng mầm non, và cũng biết được yếu tố nào được đánh giá yếu kém nhất hiện nay Sau khi nắm rõ những tồn tại của mình và ta học hỏi thêm những tiến bộ của các nước phát triển rồi
đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm cải tạo, thay đổi yếu điểm đó tốt hơn, hoàn
thiện hơn giúp chất lượng giáo dục của ta có thể sánh bằng với các nước trong khu vực có nền giáo dục tiên tiến
4 Kết cấu luận văn
Bố cục của luận văn gồm các phần như sau:
Phần mở đầu Chương 1: Tổng quan về giáo dục mầm non
Chương 2: Khảo sát thực trạng giáo dục mầm non Quận 9 Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trên địa bàn Quận 9, TPHCM
Kết luận
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC MẦM NON
1.1 Tổng quan về giáo dục Việt Nam
Luật Giáo dục năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 Theo Luật này thì các
cấp học và trình độ đào tạo của Hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
- Giáo dục mầm non: bao gồm nhà trẻ và mẫu giáo;
- Giáo dục phổ thông: bao gồm tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
Giáo dục nghề nghiệp: bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
- Giáo dục đại học và sau đại học: (gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình
độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ [11, Điều 4]
Hình 1.1: Hệ thống giáo dục theo Luật Giáo dục 2005
1.2 Tính cấp thiết của giáo dục mầm non
Trung cấp nghề
Trung học cơ sở
Sơ cấp nghề
1.2.2 Vai trò của giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non có vai trò rất quan trọng, thể hiện ở các điểm sau:
- Trẻ em trong độ tuổi mầm non là thời kì phát triển đặc biệt của bộ não, nó
đặt nền móng cho việc học tập về sau cho mỗi con người (nghiên cứu mới đây của một số nhà khoa học châu Mỹ-Latinh, công bố trong Hội thảo quốc
tế về Giáo dục mầm non tại Mexico đã cho rằng thời kì mầm non bộ não của trẻ có thể phát triển tới 80% sự hoàn thiện)
- Tuy không phải là trực tiếp, nhưng kết quả khả quan ở giáo dục mầm non sẽ
có ảnh hưởng tích cực, góp phần thực hiện một số mục tiêu có tính quốc gia
và tính toàn cầu về các lĩnh vực giáo dục-kinh tế-xã hội như: nâng cao kết quả học tập khi trẻ vào tiểu học, phát triển trí tuệ, thể chất, tình cảm, xóa đói giảm nghèo
- Nếu ngay từ mầm non, trẻ được phòng ngừa, tăng cường khả năng đề kháng
đối với một số bệnh tật, khiếm khuyết thì sẽ giảm chi phí rất nhiều so với sau
này, nhất là có thể tránh cho trẻ phải chịu thiệt thòi suốt đời vì một di chứng nào đó mà lẽ ra có thể can thiệp khi còn ấu thơ
Trang 11- Giúp cho trẻ em có thể được hưởng phúc lợi xã hội, giảm nguy cơ trẻ phải
lâm vào hoàn cảnh sống cực kì nghèo khổ hoặc bị tử vong với những căn
bệnh có thể phòng ngừa được
- Chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non là thực hiện cam kết quốc tế của hầu hết
các nước đối với Công ước về Quyền trẻ em (Việt Nam là một trong những
nước đầu tiên kí cam kết này)
1.2.3 Mục tiêu của giáo dục mầm non
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ em vào lớp một (Điều 22 - Luật giáo dục, 2005)
1.2.3.1 Phát triển thể chất
- Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối Cân nặng và chiều cao nằm trong
kênh A
- Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế
- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết
định hướng trong không gian
- Thực hiện được một số vận động của đôi tay một cách khéo léo
- Có một số thói quen, kỷ năng tốt về giữ gìn sức khỏe, vệ sinhcá nhân, vệ sinh
môi trường và biết cách đảm bảo sự an toàn
1.2.3.2 Phát triển nhận thức
- Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi những sự vật hiện tượng xung quanh
- Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý và ghi nhớ có chủ
định Nhận ra một số mối liên hệ đơn giản của các sự vật, hiện tượng xung
quanh
- Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, môi trường tự nhiên và xã hội
1.2.3.3 Phát triển ngôn ngữ
- Nghe và hiểu được lời nói trong giao tiếp
- Có khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng để thể hiện ý muốn, cảm xúc, tình cảm của mình và của người khác
- Có một số biểu tượng về việc đọc và việc viết để vào học lớp 1
1.2.3.4 Phát triển tình cảm – xã hội
- Mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin, lễ phép trong giao tiếp
- Nhận ra một số trạng thái cảm xúc và thể hiện tình cảm phù hợp với các đối tượng và hoàn cảnh cụ thể
- Thực hiện một số quy định đơn giản trong sinh hoạt Có ý thức tự phục vụ, kiên trì thực hiện công việc được giao
- Yêu quý gia đình, trường lớp mầm non và nơi sinh sống
- Quan tâm, chia sẻ, hợp tác với những người gần gũi
- Quan tâm chăm sóc vật nuôi, cây trồng và bảo vệ môi trường
1.3 Những tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục mầm non
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non là công cụ để trường mầm non tự đánh giá nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục; để công khai với xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục của nhà trường; để cơ quan có thẩm quyền đánh giá, công nhận nhà trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
1.3.1 Cơ sở vật chất
Trang 12- Nhà trường có diện tích, khuôn viên và các công trình đảm bảo yêu cầu về
thiết kế theo quy định của Điều lệ trường mầm non
• Có đủ diện tích đất sử dụng theo quy định, các công trình của nhà
trường được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố;
• Có biển tên trường, khuôn viên có tường, rào bao quanh;
• Có nguồn nước sạch và hệ thống cống rãnh hợp vệ sinh
- Nhà trường có sân, vườn và khu vực cho trẻ chơi đảm bảo yêu cầu
• Diện tích sân chơi được quy hoạch, thiết kế phù hợp, có cây xanh, được
cắt tỉa đẹp, tạo bóng mát sân trường;
• Có vườn cây dành riêng cho trẻ chăm sóc, giúp trẻ khám phá, học tập;
• Khu vực trẻ chơi ngoài trời được lát gạch, láng xi măng hoặc trồng
thảm cỏ; có ít nhất 5 loại đồ chơi ngoài trời đảm bảo an toàn, phù hợp
với trẻ
-Nhà trường có phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ và hiên chơi đảm bảo yêu
cầu
• Phòng sinh hoạt chung (có thể dùng làm nơi ăn, ngủ cho trẻ) đảm bảo
diện tích trung bình 1,5 - 1,8m2 cho một trẻ, đủ ánh sáng tự nhiên và
thoáng, nền láng xi măng, lát gạch hoặc gỗ màu sáng không trơn trượt;
có đủ bàn ghế cho giáo viên và trẻ, tranh ảnh, hoa, cây cảnh trang trí
đẹp, phù hợp; có đủ đồ dùng, thiết bị theo quy định của Bộ Giáo dục và
Đào tạo
• Phòng ngủ đảm bảo diện tích trung bình 1,2 -1,5m2 cho một trẻ, yên tĩnh,
thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, có đủ các đồ dùng phục vụ trẻ
ngủ;
• Hiên chơi (vừa có thể là nơi trẻ ăn trưa) đảm bảo diện tích trung bình
0,5- 0,7m2 cho một trẻ, chiều rộng không dưới 2,1m; có lan can bao
quanh cao 0,8 -1m; khoảng cách giữa các thanh gióng đứng không lớn hơn 0,1m
-Nhà trường có phòng giáo dục thể chất, phòng giáo dục nghệ thuật, nhà vệ sinh, bếp ăn theo quy định của Điều lệ trường mầm non
• Phòng giáo dục thể chất, phòng giáo dục nghệ thuật có diện tích tối thiểu
là 60m2,thoáng mát, đủ ánh sáng, có đủ trang bị, thiết bị phục vụ dạy và học;
• Có bếp ăn được xây dựng theo quy trình vận hành một chiều, đồ dùng nhà bếp đầy đủ, đảm bảo vệ sinh; có kho thực phẩm bảo đảm vệ sinh
an toàn thực phẩm; có tủ lạnh lưu mẫu thức ăn;
• Có nhà vệ sinh cho trẻ, nhà vệ sinh cho cán bộ, giáo viên, nhân viên
đảm bảo yêu cầu và thuận tiện cho sử dụng
-Nhà trường có khối phòng hành chính quản trị đảm bảo yêu cầu
• Văn phòng trường có diện tích tối thiểu 30m2, có bàn ghế họp và tủ văn phòng, có các biểu bảng theo quy định; phòng hiệu trưởng, phó hiệu trưởng có diện tích tối thiểu 15m2, có đầy đủ các phương tiện làm việc
và bàn ghế tiếp khách; phòng hành chính quản trị có diện tích tối thiểu 15m2, có máy vi tính và các phương tiện làm việc;
• Phòng Y tế có diện tích tối thiểu 10m2, có các trang thiết bị y tế và đồ dùng theo dõi sức khoẻ trẻ, có biểu bảng thông báo các biện pháp tích cực can thiệp chữa bệnh và chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng, trẻ béo phì,
có bảng kế hoạch theo dõi tiêm phòng và khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ, có tranh ảnh tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ, phòng bệnh cho trẻ;
• Phòng bảo vệ, thường trực có diện tích tối thiểu 6 - 8m2
, có bàn ghế,
đồng hồ, bảng, sổ theo dõi khách; phòng dành cho nhân viên có diện
tích tối thiểu 16m2, có tủ để đồ dùng cá nhân; khu để xe cho cán bộ,
Trang 13-Nhà trường có các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo quy định về Tiêu chuẩn kỹ
thuật Đồ dùng – Đồ chơi – Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
• Có đủ thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo quy định và sử dụng có hiệu quả
trong chăm sóc, giáo dục trẻ;
• Các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi ngoài danh mục quy định phải đảm bảo
tính giáo dục, an toàn, phù hợp với trẻ;
• Hằng năm, có kế hoạch bảo quản, sửa chữa, thay thế, bổ sung, nâng
cấp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
1.3.2 Đội ngũ quản lý và giáo viên giảng dạy
-Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng đạt các yêu cầu theo quy định của Điều lệ trường
mầm non và có đủ năng lực để triển khai các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ
• Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng có thời gian công tác liên tục trong giáo
dục mầm non ít nhất là 5 năm đối với hiệu trưởng và 3 năm đối với phó
hiệu trưởng; có bằng trung cấp sư phạm mầm non trở lên, đã qua lớp
bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý giáo dục;
• Có năng lực quản lý và tổ chức các hoạt động của nhà trường, nắm
vững Chương trình Giáo dục mầm non; có khả năng ứng dụng công
nghệ thông tin vào công tác quản lý và chỉ đạo chuyên môn;
• Có phẩm chất đạo đức tốt, được giáo viên, cán bộ, nhân viên trong
trường và nhân dân địa phương tín nhiệm
-Giáo viên của nhà trường đủ số lượng, đạt các yêu cầu về trình độ đào tạo theo
quy định của Điều lệ trường mầm non, có hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ dân tộc
phù hợp với địa bàn công tác, có kiến thức cơ bản về giáo dục hoà nhập trẻ khuyết
tật
• Có đủ số lượng giáo viên theo quy định;
• 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn, trong đó có ít nhất 30% giáo viên trên chuẩn về trình độ đào tạo;
• Có hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ dân tộc phù hợp với địa bàn công tác và có kiến thức cơ bản về giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật
-Giáo viên thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục trẻ theo quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo
• Thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục trẻ theo Chương trình Giáo dục mầm non;
• Quản lý trẻ về mọi mặt trong thời gian trẻ ở nhà trường;
• Quan tâm đến trẻ, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ; bảo
vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ
-Giáo viên thực hiện nghiêm túc việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; vận dụng sáng tạo, có hiệu quả các phương pháp giáo dục và
ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động giáo dục
• Thực hiện nghiêm túc chương trình bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng
hè, bồi dưỡng chuyên đề và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
• Vận dụng sáng tạo, có hiệu quả các phương pháp giáo dục trong việc tổ chức hoạt động vui chơi, học tập cho trẻ; khai thác các tình huống trong cuộc sống để tổ chức hoạt động giáo dục trẻ một cách phù hợp; tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi, khám phá, khuyến khích trẻ sáng tạo;
• Sử dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động chuyên môn và trong chăm sóc, giáo dục trẻ
- Nhân viên của nhà trường đạt các yêu cầu theo quy định của Điều lệ trường mầm non
• Có đủ số lượng nhân viên theo quy định;
Trang 14• Nhân viên y tế học đường và kế toán có trình độ trung cấp trở lên theo
đúng chuyên môn; nhân viên thủ quỹ, văn thư, bảo vệ và các nhân viên
khác được bồi dưỡng về nghiệp vụ theo công việc được giao; nhân viên
nấu ăn có chứng chỉ nghề nấu ăn;
• Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định
- Cán bộ, giáo viên và nhân viên của nhà trường được đánh giá xếp loại hằng
năm
• Có ít nhất 50% cán bộ, giáo viên, nhân viên đạt danh hiệu lao động tiên
tiến và có ít nhất 1 người đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua từ cấp cơ sở trở
lên;
• Có ít nhất 50% giáo viên được xếp loại khá trở lên, không có giáo viên
bị xếp loại kém, theo quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm
non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;
• Không có cán bộ, giáo viên, nhân viên bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo
trở lên
- Cán bộ, giáo viên và nhân viên được đảm bảo các quyền lợi theo quy định của
pháp luật
• Được đảm bảo các điều kiện để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ;
• Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
được hưởng lương, phụ cấp và các chế độ khác khi đi học để nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định;
• Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; được hưởng mọi quyền lợi về vật
chất, tinh thần theo quy định của pháp luật
1.3.3 Chương trình giảng dạy
- Giúp trẻ có sự phát triển về thể chất theo mục tiêu của Chương trình Giáo
• Chiều cao, cân nặng, phát triển bình thường theo độ tuổi;
• Thực hiện được các vận động cơ bản, có khả năng phối hợp các giác quan và vận động, có kỹ năng khéo léo phù hợp với độ tuổi;
• Có khả năng làm được một số việc tự phục vụ trong ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, có kỹ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe phù hợp với độ tuổi;
- Giúp trẻ có sự phát triển về nhận thức theo mục tiêu của Chương trình Giáo dục mầm non
• Thích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh;
• Có sự nhạy cảm, có khả năng quan sát, ghi nhớ, so sánh, phán đoán, phát hiện và giải quyết vấn đề phù hợp với độ tuổi;
• Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh và một số khái niệm phù hợp với độ tuổi
- Trẻ có sự phát triển về ngôn ngữ theo mục tiêu của Chương trình Giáo dục mầm non
• Nghe và hiểu được các lời nói giao tiếp phù hợp với độ tuổi;
• Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng lời nói hoặc cử chỉ phù hợp với độ tuổi;
• Biết sử dụng lời nói để giao tiếp; có một số kỹ năng ban đầu về đọc và viết phù hợp với độ tuổi
- Trẻ chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động văn nghệ, có một số kỹ năng
cơ bản và có khả năng cảm nhận, thể hiện cảm xúc về âm nhạc và tạo hình
• Chủ động, tích cực, hứng thú tham gia các hoạt động văn nghệ phù hợp với độ tuổi;
• Có một số kỹ năng cơ bản về âm nhạc và tạo hình phù hợp với độ tuổi;
Trang 15• Có khả năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc trong các hoạt động âm
nhạc và tạo hình phù hợp với độ tuổi
- Trẻ tự tin, biết bày tỏ cảm xúc và ý kiến cá nhân, đoàn kết với bạn bè, mạnh
dạn trong giao tiếp, lễ phép với người lớn
• Tự tin, biết bày tỏ cảm xúc và ý kiến cá nhân phù hợp với độ tuổi;
• Thân thiện, chia sẻ, hợp tác với bạn bè trong các hoạt động sinh hoạt,
vui chơi, học tập phù hợp với độ tuổi;
• Mạnh dạn trong giao tiếp với những người xung quanh, lễ phép với
người lớn phù hợp với độ tuổi
- Trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường; giữ gìn vệ sinh cá nhân; quan tâm
chăm sóc, bảo vệ cây xanh, vật nuôi; có ý thức chấp hành quy định về an toàn
giao thông
• Có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường lớp học, gia đình và những nơi
công cộng, có nền nếp, thói quen vệ sinh cá nhân phù hợp với độ tuổi;
• Quan tâm, thích được chăm sóc, bảo vệ cây xanh và vật nuôi;
• Có ý thức chấp hành những quy định về an toàn giao thông đã được
hướng dẫn phù hợp với độ tuổi
1.4 Một số nền giáo dục mầm non có chất lượng trên thế giới và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam
1.4.1 Một số nền giáo dục mầm non có chất lượng trên thế giới
- New Zealand:
Là một trong những nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới và thường
xuyên lọt vào top các nước có nền giáo dục tốt nhất thế giới Chương trình giảng
dạy của New Zealand được đánh giá là tài liệu giáo dục mầm non hàng đầu thế giới
và vẫn được coi là giáo trình có giá trị quốc tế
Chương trình giáo dục mầm non của New Zealand được xây dựng trên nguyên tắc thúc đẩy học sinh học tập và phát triển toàn diện, giáo dục mầm non gắn kết tích cực với việc tăng tính chuẩn bị cho việc học lớp 1, giảm tình trạng học lại
và giảm nguy cơ phải học lớp đặc biệt
Mục tiêu lớn của giáo dục mầm non New Zealand là giúp trẻ tự tin vào bản thân, khoẻ mạnh về thể chất và tâm hồn, có khả năng giao tiếp và tôn trọng tri thức Trẻ mầm non ở New Zealand có những kỹ năng học như được tự tìm điều mình quan tâm; biết chuyên tâm vào công việc của mình; biết đối mặt với khó khăn và tìm cách giải quyết ở mức độ nhất định; trẻ cần học cách thể hiện ý tưởng và chịu trách nhiệm với ý tưởng của mình
- Thụy Điển:
Là nước có nền giáo dục tiên tiến mà Mỹ muốn nghiên cứu và học tập Mẫu giáo và Tiểu học của Thụy Điển là tập trung vào rèn luyện các kỹ năng giao tiếp xã hội, tập cho học sinh biết cách sống hòa hợp với người khác, ý thức được trách nhiệm của bản thân mình trong mọi sinh hoạt tập thể hơn là học kiến thức Họ cho rằng có ích gì khi chỉ dạy cho trẻ em biết đọc biết viết, biết nhiều thứ để rồi cuối cùng chúng hành xử để bị vào tù Tỉ lệ phạm tội và bị tống giam ở Thụy Điển thấp hơn ở Mỹ khá nhiều Tuy ít chú trọng về dạy kiến thức ở mấy năm đầu cho học sinh, nhưng lên bậc Trung học phổ thông thì học sinh Thụy Điển đã chứng tỏ vượt trội hơn về học lực so với học sinh ở nhiều nước công nghiệp hoá cao nhất trong
đó có Mỹ
- GDMN của hai nước Malaysia và Philippines:
Mục tiêu là đều hướng đến việc chuẩn bị nền tảng cho trẻ vào học lớp 1, xem
đây là một giải pháp hữu hiệu để đạt tỷ lệ nhập học lớp 1 cao Đây là 2 nước rất đáng để chúng ta quan tâm vì sự phát triển của họ có những nét tương đồng với
chung ta nên tác giả xem xét kỹ đến một số chỉ tiêu của họ để làm nền tản cho việc
đưa ra các giải pháp cho chương III
Về cơ cấu tổ chức quản lí GDMN, ở Philippines, GDMN do Bộ Giáo dục quản lí (thông qua Vụ GDMN) Ở Malaysia, ngoài Bộ Giáo dục quản lí GDMN còn
Trang 16có các Bộ, ngành khác Ở các địa phương có các sở giáo dục, các phòng giáo dục và
các bộ phận quản lí các cụm trường
Về mạng lưới GDMN, cả hai nước đều có 2 loại hình trường: công lập và tư
thục, tỷ lệ trường công cao hơn trường tư Malaysia có khoảng 21.300 cơ sở giáo
dục, chăm sóc trẻ từ 4- 6 tuổi (tư thục chiếm 26%)
Philippines có khoảng 64.264 trường công lập và 20.794 trung tâm mẫu giáo
(tư thục chiếm 25%)
Hai nước không có trường mầm non độc lập mà chỉ có lớp mẫu giáo 5, 6 tuổi
gắn với trường tiểu học (công lập) Hệ tư thục có các trung tâm chăm sóc trẻ, trong
đó có các lớp mẫu giáo 5, 6 tuổi
Hiện nay, tỷ lệ trẻ 5-6 tuổi đến lớp mẫu giáo của Philippines đạt 79%,
Malaysia là 67%
Tỷ lệ trẻ/lớp là 25 trẻ/2 giáo viên (Malaysia) và 30 trẻ/lớp/2 giáo viên
(Philippines) Lớp học chỉ tổ chức 1 buổi/ngày
Cả hai nước đều có chính sách miễn học phí và hỗ trợ bữa ăn trưa tại trường
đối với trẻ mẫu giáo học tại các trường công lập Riêng Malaysia, trường công ưu
tiên con em gia đình có thu nhập thấp
Cả hai nước đang hướng tới phổ cập giáo dục trẻ 5- 6 tuổi Malaysia phấn
đấu đến năm 2012 sẽ thu hút 87% trẻ 6 tuổi đến lớp mẫu giáo Philippines phấn đấu
2015 sẽ thu hút 100% trẻ 5 tuổi đến trường
Malaysia đã đưa ra 7 giải pháp nhằm tăng cường số lượng trẻ đến trường và
nâng cao chất lượng giáo dục: (1) Thành lập một Hội đồng quốc gia trong Bộ Giáo
dục để giám sát hoạt động của tất cả các trường; (2) Phổ biến chuẩn chương trình
GDMN mới được xây dựng năm 2010; (3) Hỗ trợ công bằng đối với tất các các trẻ:
trẻ tại bán đảo được Chính phủ hỗ trợ 1,8 R/ngày; Trẻ ở vùng đảo: 2,05 R/ngày; (4)
Tăng cường số lượng và chất lượng đào tạo giáo viên; (5) Tăng cường số lượng lớp
mầm non cho trẻ 4 tuổi (10.000 lớp); (6) Tăng cường phối hợp giữa trường công và
trường tư để tăng số lượng trẻ đến trường: mỗi đơn vị mở trường được cấp 10.000
R; cấp 150R/tháng/trẻ trong 10 tháng; cung cấp khóa học đào tạo miễn phí cho giáo
viên và cán bộ quản lí trường tư thục (7) Phát triển hệ thống thông tin quốc gia: đưa vào hệ thống quốc gia các thông tin như địa điểm trường, lớp, học sinh, nhân sự của trường…
Về các điều kiện đảm bảo chất lượng GDMN, đối với trường công lập, Nhà nước đảm bảo đầu tư đầy đủ phòng học, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, học liệu Các lớp mẫu giáo công lập đều nằm trong trường phổ thông Ngân sách chi cho giáo dục của Malaysia đứng thứ 2, sau quốc phòng
Chương trình giáo dục mẫu giáo do Bộ Giáo dục xây dựng và là chương trình quốc gia Chương trình quốc gia của Philippines là chương trình khung Các
sở có trách nhiệm tự xây dựng chương trình chi tiết và triển khai trên địa bàn mình quản lí Môi trường giáo dục đầy đủ các phương tiện học tập, vui chơi và có phân chia các góc hoạt động Trẻ hoạt động và học tập tập trung vào phát triển các kĩ năng nhận biết chữ cái, đọc viết các chữ cái và các từ đơn giản quen thuộc, khả năng tính toán trong phạm vi 20 (Ở Việt Nam trẻ học tính toán đơn giản trong phạm
vi 10)
Yêu cầu về trình độ giáo viên trong các trường công lập là cử nhân Sau đó,
họ học tiếp 1 năm để có chứng chỉ sư phạm về tâm lý giáo dục trẻ em để dạy mầm non và tiểu học (Malaysia) hoặc học thêm 18 đơn vị học trình về chuyên ngành mầm non (Philippines) (ở Việt Nam trình độ chuẩn là trung cấp) Giáo viên được
đào tạo và bồi dưỡng miễn phí và đảm bảo có việc làm trong các trường công lập
Nhà nước hỗ trợ các trường tư thục đào tạo và bồi dưỡng giáo viên
Mỗi lớp học mẫu giáo bố trí 2 giáo viên (1 giáo viên chính và 1 trợ giảng) Ở Malaysia tuyển giáo viên trợ giảng có bằng tốt nghiệp phổ thông hoặc cao đẳng, sau
đó được bồi dưỡng 4 kỳ (2 kỳ/năm, 2 tuần/kỳ) Giống như Việt Nam, giáo viên mẫu
Trang 17Không có chế độ riêng cho giáo viên mầm non; Chưa có chuẩn riêng đánh
giá giáo viên mầm non Việc đánh giá giáo viên thực hiện theo đánh giá công chức
Hiện nay, Bộ Giáo dục Malaysia đang xây dựng quy trình đánh giá giáo viên chuẩn
của tất cả các cấp học
Có thể thấy rằng, giáo dục mầm non Malaysia và PhiLippines đều tập trung
ưu tiên miễn phí cho trẻ 5, 6 tuổi, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Vấn đề này được
nhiều bộ, ngành quan tâm Tuy nhiên, cả hai nước đều chưa quan tâm việc giáo dục,
chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi và việc mở trường ở những khu công nghiệp, chế xuất có
nhiều công nhân nữ Giống như Việt Nam, cả 2 nước đều có 2 loại hình giáo dục
mầm non là công lập và tư thục Tại Malaysia, trường công ưu tiên con em gia đình
có thu nhập thấp Đây là một vấn đề cần suy ngẫm Chương trình học của trẻ mẫu
giáo là 1 buổi/ngày (Chương trình GDMN của Việt Nam học hai buổi/ngày)
Chương trình GDMN của hai nước đều được thực hiện dựa trên việc tổ chức các
hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp chủ đề Chương trình quan tâm tới việc làm
quen với chữ, kĩ năng tiền đọc, viết và tính toán Một đặc điểm của hai nước mà
chúng tôi nhận thấy là nhà trường luôn coi trọng tiếng Anh Ở Malaysia, tiếng Anh
là một môn học và một số môn học được dạy bằng Tiếng Anh
Ở Philippines, tiếng Anh được xem là tiếng phổ thông trong trường học Cả
hai nước đều dạy tiếng Anh cho trẻ từ lứa tuổi mầm non Trình độ đào tạo chuẩn
của giáo viên mầm non là cử nhân, được học qua chương trình sư phạm; Việc đào
tạo giáo viên thực hiện miễn phí Tại Philippines, các trường học cũng đang thực
hiện việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
1.4.2 Xu hướng phát triển từ các nước
Hiện nay những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới luôn ưu tiên quan
tâm cho giáo dục mầm non, giáo dục mầm non ở những nước đó được coi là mối
quan tâm số một của toàn xã hội
Ở Phần Lan chính phủ nước này đã dùng 1/3 tổng ngân sách chi cho giáo dục
để đầu tư cho giáo dục mầm non Các loại hình giáo dục mầm non ở nước này phát
triển đa dạng Ở đó khi một trường mầm non được mở ra phải có sự kiểm định chặt chẽ của nhà nước về cơ sở vật chất ,chất lượng giáo viên…
Ở Pháp công tác xã hội hóa giáo dục mầm non được đẩy mạnh, người ta coi
việc đưa trẻ đến trường mầm non là việc bắt buộc đối với bậc phụ huynh Chính vì vậy mà trẻ em trong độ tuổi mầm non ở Pháp bắt buộc phải đăng kí để được chăm sóc ở 1 cơ sở giáo dục mầm non nào đó Hàng năm chính phủ Pháp đều xây dựng một đề án nào đó cho phát triển giáo dục mầm non ở đất nước này
Ở Singapore trẻ em đuợc ưu tiên trong mọi vấn đề Họ quy định ngặt nghèo đối với giáo viên mầm non ví dụ như phải đạt trình độ chuẩn mới được làm giáo
viên, độ tuổi của giáo viên cũng phải theo quy định hàng tháng bắt buộc phải có sự giao lưu giữa giáo viên và phụ huynh, ở các trường tư thục khi phụ huynh không
đồng ý về 1 giáo viên nào đó có thể kiến nghị lên hiệu trưởng và giáo viên đó có
thể bị đuổi việc
So với chương trình của Mỹ, chương trình học của Việt Nam đặt nặng việc tiếp thụ thật nhiều kiến thức tổng quát, ít chú trọng đến nâng cao phong cách con người, khả năng giao tiếp và sáng tạo, cũng như phát triển những khả năng quan trọng khác như sự chủ động, tự tin, khả năng suy nghĩ độc lập, tìm tòi, khám phá, v.v Nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt nam cũng đã tham gia ký Công
ước bảo vệ quyền trẻ em Trong rất nhiều quyền lợi của trẻ em được đề cập đến có 1 điều rất quan trọng là trẻ em có quyền có 1 môi trường lành mạnh để chơi và học để
có thể phát huy hết khả năng vốn có của trẻ Môi trường được coi là lành mạnh nhất
để trẻ có thể chơi mà học,học mà chơi không đâu khác đó chỉ có thể là trường mầm
non “Ngôi nhà tuổi thơ của các em”
1.4.3 Bài học rút ra cho Việt Nam từ mô hình GGMN của các nước
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi trọng GDMN và xem như là ưu tiên số 1 trong hệ thống giáo dục Việt Nam cũng cần đánh giá lại tầm quan trọng của giáo dục mầm non, nên xem đây là bậc học cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống giáo dục để có chính sách quan tâm đầu tư đúng mực;
Trang 18Chương trình đào tạo nên chú trọng đến nâng cao nhân cách con người, biết
yêu thường đồng loại, khả năng giao tiếp và sáng tạo, cũng như phát triển những
khả năng quan trọng khác như sự chủ động, tự tin, khả năng suy nghĩ độc lập, tìm
tòi, khám phá, v.v
Công tác xã hội hóa giáo dục mầm non cần được đẩy mạnh, coi việc đưa trẻ
đến trường mầm non là việc bắt buộc đối với bậc phụ huynh Hàng năm chính phủ
cần xây dựng một đề án nào cho phát triển giáo dục mầm non để có mức chi ngân
sách hợp lý cho việc này
Đội ngũ giáo viên mầm non cần được đào tạo bài bản, chọn lọc kỹ có chuẩn
hóa Cần có qui định riêng cho giáo viên mầm non để có chế độ chính sách phù
hợp, đặc thù riêng giống như cách làm của Singapore và một số nước tiên tiến khác
1.5 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
1.5.1 Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết là QUY ĐỊNH về
tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non (Ban hành kèm theo
Thông tư số: 07/2011/TT-BGDĐT vào Ngày 17 tháng 02 năm 2011 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Theo quy định trên có 3 yếu tố được xem là chính trong việc đánh giá chất
lượng giáo dục mầm non: Cơ sở vật chất, đội ngũ quản lý & giáo viên giảng dạy,
chương trình giảng dạy
Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu
Cơ sở vật chất
Đội ngũ quản lý & giáo viên giảng dạy
Chương trình giảng dạy
Chất lượng giáo dục mầm non
1.5.2 Các giả thuyết
Như ta đã biết các yếu tố hình thành nên chất lượng giáo dục mầm non là:
Cơ sở vật chất, đội ngũ quản lý và giáo viên, chương trình giảng dạy Các giả thuyết
mô hình được đề xuất như sau : H1 : yếu tố cơ sở vật chất tốt hay xấu sẽ tương quan cùng chiều với chất lượng giáo dục mầm non
H2 : Yếu tố đội ngũ quản lý và giáo viên tốt hay hay xấu tương quan cùng chiều với chất lượng giáo dục mầm non
H3 : Yếu tố chương trình giảng dạy tốt hay xấu tương quan cùng chiều với chất lượng giáo dục mầm non
Trang 19KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 giúp ta nắm khái quát về giáo dục mầm non gồm các vấn đề sau:
Một là tổng quan về giáo dục
Hai là nắm được tính cấp thiết của giáo dục mầm non bao gồm định nghĩa
giáo dục mầm non là gì ? Mục tiêu của giáo dục mầm non gồm những mục tiêu
quan trọng: Phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội, và thẩm
mỹ
Thứ ba là tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục mầm non có 3 yếu tố quan
trọng: Cơ sở vật chất, đội ngũ quản lý & giáo viên giảng dạy, chương trình giảng
dạy
Từ hiểu biết về tiêu chí chất lượng giáo dục mầm non ta sẽ xây dựng được
mô hình nghiên cứu cũng như các giả thuyết cụ thể trong phần thứ 4
Phần năm là nêu lên một số xu hướng phát triển nền giáo dục mầm non tiên
tiến trên thế giới để Việt Nam rút ra những bài học trong việc phát triển giáo dục
mầm non trong thời gian tới
Tóm lại, những vấn đề nêu ra ở Chương I sẽ làm cơ sở lý luận để hoàn thành
Chương II tiếp theo
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC MẦM NON QUẬN 9 2.1 Thực trạng giáo dục mầm non trên địa bàn Quận 9, TP.HCM
Quận 9 có diện tích 114 km2 với dân số là 255.036 Quận 9 nằm về phía đông
TP HCM, cách trung tâm thành phố khoảng 7 km theo đường xa lộ Hà Nội, phía
đông giáp huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai lấy sông Đồng nai làm ranh giới tự
nhiên, phía Tây giáp quận Thủ Đức, lấy ranh giới phía Nam giáp quận 2 và sông
Đồng Nai, phía bắc giáp Thành phố Biên Hòa Tỉnh Đồng Nai
Địa bàn quận 9 vốn là vùng sâu vùng xa nông thôn của huyện Thủ Đức cũ, là vùng oanh kích tự do của quân đội Mỹ và Sài Gòn trước kia, nên còn yếu kém nhiều về mọi mặt so với các quận huyện khác của Thành phố Sau nhiều năm cố gắng, địa bàn quận 9 hiện nay có 13 phường là: Phước Long A, Phước Long B, Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B, Long Trường, Trường Thạnh, Phước Bình, Tân Phú, Hiệp Phú, Long Thạnh Mỹ, Long Bình, Long Phước, Phú Hữu Quá trình phát triển trường, giáo viên mầm non quận 9 cũng song hành với quá trình phát triển kinh tế xã hội
Bảng 2.1 : Số liệu mầm non Quận 9
Trang 20Hình 2.1: Số liệu giáo viên và trẻ em mầm non quận 9
Hình 2.2: Số liệu trường mầm non Quận 9
Đến năm học 2012-2013 Quận 9 có 21 trường mầm non công lập và dân lập
(không tính nhóm trẻ) phân bổ đều trên địa bàn bao gồm 14 trường công lập và trên
07 trường dân lập và tư thục
Giáo dục mầm non tại Quận 9 năm nay thể hiện qua các số liệu thống kê sau:
Bảng 2.2: Thống kê tình trạng trường lớp và học sinh đầu năm 2012-2013