Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC * Biện pháp 1: Giáo dục động cơ tự học cho học sinh gắn liền với * Biện
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
PHẠM QUANG BẢO
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––
PHẠM QUANG BẢO
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư -
Tiến sĩ Phạm Hồng Quang, trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học, các thầy giáo, cô giáo Khoa Tâm
lý giáo dục, Khoa đào tạo sau đại học thuộc trường Đại học sư phạm - Đại học Thái
Nguyên Các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và tham gia quản lý tôi trong quá
trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh
trường Văn hoá I - Bộ Công an, cùng bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều
kiện tốt nhất và đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong quá trình học tập
và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự quan tâm
chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được
Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục sơ đồ, bảng biểu
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA
HỌC SINH TRƯỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
22
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh trường
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
* Biện pháp 1: Giáo dục động cơ tự học cho học sinh gắn liền với
* Biện pháp 2: Tập huấn cho giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ năng,
* Biện pháp 3: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học
Trang 3* Biện pháp 4: Hoàn thiện các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện
thiết bị, tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả cho tự học 61
* Biện pháp 5: Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của học sinh 64
* Mối quan hệ giữa các biện pháp 67
3.3 Khảo nghiệm các biện pháp quản lý 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang
Sơ đồ 1 Các chức năng và thông tin trong quản lý 16
Sơ đồ 2 Bộ máy tổ chức của nhà trường 23
Bảng 2.1 Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học 26
Bảng 2.2 Việc lập kế hoạch và mức độ thực hiện kế hoạch tự học của học sinh 27
Bảng 2.3 Thời gian dành cho hoạt động tự học 29
Bảng 2.4 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên nhà trường về vai trò, ý nghĩa quản lý hoạt động tự học 33
Bảng 2.5 Các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh 35
Bảng 2.6 Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học 36
Bảng 2.7 Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung tự học 38
Bảng 2.8 Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học 39
Bảng 2.9 Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của học sinh 40
Bảng 2.10 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, đảm bảo trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tự học 42
Bảng 2.11 Các biện pháp tổ chức quản lý hoạt động tự học hiện nay 44
Bảng 2.12 Các biện pháp chỉ đạo quản lý hoạt động tự học 45
Bảng 2.13 Các biện pháp cán bộ quản lý và giáo viên đã tiến hành quản lý hoạt động tự học của học sinh 46
Bảng 2.14 Đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên về thực trạng hoạt động tự học 47
Bảng 2.15 Kết quả học tập của học sinh 48
Bảng 3 Mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý 70
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định: “Đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng xã hội công bằng văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [11, tr.6] Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn hiện
nay, cần phải xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, xứng đáng là công cụ của Đảng, đảm bảo giữ vững an ninh trật tự của tổ quốc
Chất lượng và sức mạnh của lực lượng CAND là tổng hợp của nhiều yếu tố tạo thành, trong đó phẩm chất và năng lực của cán bộ là vô cùng quan trọng Phẩm chất
và năng lực của người chiến sĩ Công an được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo, trong công tác và thực tiễn chiến đấu Tính độc lập, sáng tạo, năng động, thích ứng, thận trọng, khôn khéo, chính xác trong tư duy và hành động nghề nghiệp là phẩm chất, năng lực trực tiếp quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ Công an Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực tự học của học sinh, sinh viên ngay từ trong thời gian đào tạo tại các trường trong ngành
Là một trường trong lực lượng CAND, trường Văn hoá I được Bộ Công an giao nhiệm vụ đào tạo hoàn thiện văn hoá THPT, đồng thời hướng nghiệp theo ngành Công an cho học sinh người dân tộc thiểu số, tạo nguồn cán bộ cho Công an các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc Công tác đào tạo của trường không chỉ trang
bị cho học sinh kiến thức phổ thông mà còn rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật nghiêm ngặt của ngành theo điều lệnh CAND, xây dựng thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân cho mỗi học sinh Như vậy, năng lực tự học của học sinh vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của mọi học sinh đang học tập tại trường Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm của giáo viên, học sinh và toàn bộ lực lượng giáo dục trong nhà trường
Trang 5Nhận thức rõ tầm quan trọng của tự học, trong những năm qua nhà trường
luôn quan tâm đến quản lý hoạt động tự học của học sinh Tuy nhiên, chất lượng tự
học của học sinh còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội
và của ngành Nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng cử tuyển đầu vào thấp, học
sinh chưa có kỹ năng và phương pháp học tập khoa học, hợp lý Trong khi đó, việc
đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên còn chậm, chủ yếu vẫn là truyền thụ
kiến thức trong chương trình, chưa tập trung nhiều đến đổi mới phương pháp dạy
học Công tác quản lý hoạt động tự học chủ yếu vẫn là quản lý hành chính, chưa
thực sự có hình thức tổ chức và biện pháp quản lý phù hợp
Từ những tồn tại trên, việc tìm ra các biện pháp quản lý để nâng cao chất
lượng tự học của học sinh nhà trường là nhiệm vụ hết sức cấp thiết đối với trường
Văn hoá I trong giai đoạn hiện nay Do đó chúng tôi chọn đề tài: "Các biện pháp
quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tự học, đề xuất các biện pháp
quản lý hoạt động tự học nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh
trường Văn hoá I - Bộ Công an
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ
Công an
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh
trường Văn hoá I - Bộ Công an
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng và hiệu quả quá trình dạy học của trường Văn hoá I - Bộ Công an
phụ thuộc vào năng lực tự học của học sinh Nếu đề xuất được hệ thống các biện
pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh phù hợp với điều kiện hiện có của nhà
trường thì sẽ góp phần hình thành năng lực tự học của học sinh nói riêng, chất
lượng và hiệu quả quá trình dạy học nói chung
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của tự học và quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT 5.2 Khảo sát thực trạng hoạt động tự học, các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I -
Bộ Công an
6 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn quá trình quản lý hoạt động tự học của trường Văn hoá I - Bộ Công an với tư cách là một trường làm nhiệm vụ đào tạo văn hoá THPT trong lực lượng
CAND Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Văn hoá I - Bộ Công an
7 Phương pháp nghiên cứu 7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu và
các văn bản
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử vấn đề, phát hiện và khai thác những khía
cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát, điều tra bằng ankét về thực trạng hoạt động tự học và
quá trình quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều tra, các
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, tự học là vấn đề luôn được quan tâm
nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn Song ở mỗi giai đoạn lịch sử, vấn đề tự
học được đề cập đến ở những góc độ khác nhau
Thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN), Nhà giáo dục kiệt xuất của Trung
Hoa luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học Khi nói về
cách học, ông cho rằng cách học đúng là: “học và suy nghĩ phải phù hợp với nhau
và coi trọng cả hai”
Thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J A Komenxky (1592 -
1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài
năng” Năm 1657, ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” trong đó
nêu rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần
mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ” [8, tr.40]
Trong giai đoạn hiện đại, các nhà giáo dục học đi sâu nghiên cứu khoa học
giáo dục và đã khẳng định vai trò to lớn của tự học Trong tác phẩm “Tự học như
thế nào” của N A Rubakin (1862 - 1946) do Nguyễn Đình Khôi dịch, đã tập trung
trình bày nhiều vấn đề về các phương pháp tự học, các phương pháp sử dụng sách
Ở Việt Nam, hoạt động tự học chỉ thực sự được chú ý và quan tâm dưới nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc
Việt Nam là một tấm gương sáng về tinh thần tự học Tư tưởng của Người về giáo
dục đã được vận dụng, quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng Nghị quyết Hội
nghị lần thứ II - BCH TW Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp
dạy học… nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học” [12]
Từ quan điểm chỉ đạo trên, để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục,
nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tự học đã hoàn thành như: “Quá trình dạy
- Tự học” do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên và các tác giả, “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo, “Tổ chức dạy học cho học sinh dân tộc miền núi” của tác giả Phạm Hồng Quang v.v
Thời gian qua, dưới sự hướng dẫn của các thầy, cô giảng viên các trường đại học sư phạm, trường cán bộ quản lý giáo dục nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
vấn đề tự học đã hoàn thành như: "Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự
học của sinh viên Học viện Quân Y" của tác giả Quản Thành Minh,“Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT nội trú Đồ Sơn” của tác giả
Trịnh Khắc Hậu v.v
Như vậy, vấn đề tự học của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, hình thành ở người học kỹ năng tự học Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp
tổ chức, quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên
Tuy nhiên, về phương diện quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên trong lực lượng Công an thì hiện nay chưa có tác giả nào đề cập đến Do đó đề tài tập trung nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của hoạt động tự học, thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động tự học, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng
cao chất lượng tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an
1.2 Những vấn đề lý luận về tự học 1.2.1 Khái niệm tự học
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tự học, các tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về tự học:
"Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể" [35]
"Tự học là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công
việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội" [17, tr.1]
Trang 7Những quan điểm trên về tự học tuy khác nhau, nhưng đều chung bản chất đó
là sự tự giác và kiên trì cao; sự tích cực, độc lập và sáng tạo của người học trong
học tập Do đó, có thể khái quát chung: Tự học là hoạt động độc lập, chủ yếu mang
tính cá nhân của người học trong quá trình nhận thức, học tập để cải biến nhân
cách, nó vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của quá trình đào tạo
Hoạt động tự học được coi là hoạt động có tổ chức của người học, diễn ra dưới
các dạng khác nhau:
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của người dạy và những phương
tiện kỹ thuật trên lớp, trong đó người học phát huy hết những năng lực, phẩm chất
như nghe giảng, ghi chép bài, phân tích, khái quát hoá v.v để tiếp thu những tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người dạy định hướng cho
Ở dạng tự học này giáo viên đóng vai trò chủ đạo, do đó thông qua việc thiết
kế bài giảng, giáo viên phải tạo điều kiện phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của người dạy, lúc này người học
phải tự sắp xếp thời gian, điều kiện cơ sở vật chất để tự học, tự củng cố, tự đào sâu
những tri thức hoặc tự hình thành những kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu của nội dung
đã được hướng dẫn
Đây là dạng tự học diễn ra ngoài giờ lên lớp dưới sự quản lý của các lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường Các lực lượng trong nhà trường chủ yếu đóng
vai trò gián tiếp thông qua yêu cầu các nội dung tự học, còn lực lượng trực tiếp
quản lý hình thức tự học này chính là xã hội và gia đình học sinh
Đối với môi trường phổ thông dân tộc nội trú và trường có tính chất đặc thù
như trường Văn hoá I thì các lực lượng giáo dục trong nhà trường đóng vai trò quan
trọng trong việc quản lý hoạt động tự học của học sinh ngoài giờ lên lớp Bởi các
em được học tập trong môi trường tập trung dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của
các lực lượng giáo dục trong nhà trường
- Tự học độc lập nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết riêng, mở rộng tri thức ở bên ngoài Đây là dạng tự học ở mức độ cao nhất, đòi hỏi tính tự giác cao của người học nên biện pháp quản lý tốt nhất là quản lý nhiệm vụ học tập hay sản phẩm người học hoàn thành
Như vậy, phạm vi của tự học là rất rộng, đề tài không nghiên cứu các biện pháp quản lý dạng hoạt động tự học độc lập của học sinh mà chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trong và ngoài thời gian lên lớp, dưới sự tổ chức của nhà trường thông qua sự điều khiển trực tiếp hay gián tiếp của giáo viên
1.2.2 Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh dân tộc thiểu số
Qua nghiên cứu tài liệu của tác giả Phạm Hồng Quang và một số tác giả khác, chúng tôi rút ra một số đặc điểm tâm lý và hoạt động tự học của học sinh dân tộc nội trú như sau:
* Đặc điểm tâm lý trong học tập
Đặc điểm về nhận thức
Nhìn chung, các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính kiên trì v.v của học sinh chưa được chuẩn bị chu đáo Quá trình chuyển hoá nhiệm vụ, yêu cầu học tập cũng như cơ chế hình thành ở bản thân học sinh diễn ra chậm Tuy nhiên, bên cạnh đó nhận thức cảm tính của học sinh phát triển khá tốt: cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo, tuy còn thiếu tính hoàn thiện, cảm tính, mơ
hồ, không thấy được bản chất của sự vật hiện tượng Quá trình tri giác thường gắn với hành động trực tiếp, đối tượng tri giác chủ yếu là sự vật gần gũi
Khả năng tư duy kinh nghiệm của học sinh đạt mức cao so với trình độ chung của lứa tuổi, song khả năng tư duy lý luận còn thấp so với yêu cầu; trình độ các thao tác tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát nhiều khi thiếu toàn diện, hệ thống Tri thức, thói quen được hình thành bằng con đường kinh nghiệm ảnh hưởng đến quá trình tiến hành các thao tác trí tuệ của các em Tuy nhiên, trong thao tác tư duy thì khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát ở các em còn phát triển chậm, khả năng tư duy nói chung và khả năng tiến hành các thao tác trí óc nói riêng hình thành khó khăn
Trang 8Quá trình tư duy đối với các khái niệm khoa học và khái niệm thông thường
thì sự hiểu biết thuộc tính bản chất khái niệm và sự vận dụng các khái niệm đó vào
thực tế chỉ đạt mức gần trung bình Các em hay lầm lẫn giữa thuộc tính bản chất với
thuộc tính không bản chất của khái niệm
Những đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh chi phối mạnh mẽ các thuộc
tính tâm lý khác như: khả năng ghi nhớ có chủ định chậm được hình thành, khả
năng tự điều chỉnh ghi nhớ có ý thức của học sinh còn yếu Đặc biệt, về mặt ngôn
ngữ các em còn gặp khó khăn vì trước khi đi học các em thường dùng tiếng mẹ đẻ
Trong khi đó quá trình nhận thức, tiếp thu tri thức ở trường lại diễn ra bằng ngôn
ngữ tiếng Việt Như vậy, ở góc độ nhất định, sự giao thoa ngôn ngữ gây khó khăn
trong hoạt động nhận thức khi mà công cụ tư duy bị hạn chế Trong học tập các em
không biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học
tập Đa số học sinh chỉ cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi lặp lại y
nguyên, ngại đào sâu suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đề (học vẹt)
Trong lối sống, các em không thích gò bó, thường có những thói quen chưa tốt như
phong cách chậm chạp, thiếu ngăn nắp, ảnh hưởng đến công tác đào tạo khi các em
học tập tại trường
Đặc điểm nhu cầu
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, đi học là sự thay đổi căn bản, ở môi trường
này tâm lý các em có sự chuyển biến, ý thức mình là học sinh, là cán bộ tương lai
của địa phương, đất nước Đặc biệt, học sinh trường Văn hoá I khi được cử tuyển
vào trường các em đã thuộc biên chế của lực lượng Công an, bản thân các em xác
định học tập để phục vụ lâu dài trong lực lượng Công an Vì vậy, duy trì được nhu
cầu thích học, khẳng định vị trí mới cho học sinh trong môi trường nội quy kỷ luật
của ngành là một trong những nhu cầu thiết yếu để giáo dục học sinh, đặc biệt là về
ý thức tập thể và kỷ luật học tập Vấn đề là tổ chức học tập làm sao cho hiệu quả,
phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thú của học sinh Tuy nhiên, việc hình thành
và phát triển nhu cầu cho học sinh cần gắn liền với cải tiến nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức học tập thích hợp, để nâng cao kết quả học tập
Đặc điểm giao tiếp
Học sinh dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng mạnh của giao tiếp cộng đồng Trong quá trình học tập tại trường, không gian nội trú là môi trường giao tiếp sư phạm mới, có ý nghĩa lớn đối với các em Khi được giao tiếp trong môi trường mới
đa dạng, phong phú về các hình thức tổ chức học tập, thời gian tiếp xúc của học sinh với các lực lượng giáo dục trong nhà trường nhiều hơn so với các môi trường khác Tuy nhiên, tính tích cực trong giao tiếp của học sinh chưa cao, khả năng giao
tiếp, nhận thức và nhu cầu còn có mâu thuẫn
Từ những đặc điểm trên, đòi hỏi hình thức tổ chức tự học cũng như quản lý hoạt động tự học của học sinh phải đổi mới cho phù hợp với nhu cầu đúng đắn của học sinh
* Đặc điểm hoạt động tự học của học sinh dân tộc nội trú
Trong môi trường nội trú, thời gian dành cho học tập và sinh hoạt ngoài giờ chính khoá chiếm phần lớn thời gian đào tạo Trong các dạng hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khoá như vui chơi, văn hoá văn nghệ, thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ, tham quan, học tập ngoại khoá thì hoạt động tự học nhằm củng cố, bổ sung, nâng cao, mở rộng kiến thức đã học, phát triển hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh Như vậy, môi trường tự học hoàn toàn thuận lợi dưới sự quản lý,
tổ chức điều khiển thống nhất ở các địa điểm nhất định
Hình thức tự học trong môi trường nội trú đa dạng, phong phú, học sinh có thể
tự học một mình, học trao đổi nhóm với bạn hay với giáo viên, học có giáo viên hướng dẫn chung và riêng; thời gian dành cho tự học trong ngày nhiều, được phân chia theo thời gian cụ thể Đối với học sinh trường Văn hoá I, thời gian học tập trong ngày được thực hiện theo quy định của lực lượng Công an Theo đó thời gian dành cho hoạt động học tập hàng ngày của học sinh được quy định: buổi sáng từ 7 giờ đến 11 giờ, buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ, buổi tối từ 19 giờ đến 21 giờ Như vậy, ngoài thời gian nghỉ, thời gian dành cho sinh hoạt cá nhân và các hoạt động tập thể thì thời gian trong ngày dành cho nhiệm vụ học tập là 9 giờ Trong đó
từ 4 đến 5 giờ dành cho học tập chính khoá trên lớp theo chương trình, còn 4 đến 5 giờ dành cho tự học ngoài giờ lên lớp vào buổi chiều và buổi tối
Trang 9Thời gian dành cho học tập trong ngày nhiều, nhưng do còn bị chi phối bởi
cách học, kế hoạch học, động cơ học tập nên mức độ thực hiện nội dung công việc
còn hạn chế Phần lớn học sinh chỉ chú ý đến những bài học, bài tập mà giáo viên sẽ
kiểm tra ngày hôm sau
Sự nỗ lực của bản thân học sinh trong tự học chưa cao, khi gặp khó khăn trong
học tập (một bài tập khó, một vấn đề chưa hiểu…) hầu hết các em bỏ qua, chỉ một số ít
hỏi thầy, hỏi bạn hoặc tự mày mò, tiếp tục suy nghĩ tìm tài liệu để giải quyết vấn đề
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số
Hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số nói chung và hoạt động tự học
của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an nói riêng không tách rời các điều kiện
tác động, bao gồm hai yếu tố chính là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
* Yếu tố khách quan là các yếu tố tác động từ bên ngoài vào chủ thể đó là
người học, bao gồm:
- Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, thông tư,
hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an v.v có liên quan tới quá trình
giáo dục đào tạo của thầy và trò nhà trường
- Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường, mà đối với học sinh THPT đó
chính là nội dung chương trình, sách giáo khoa Đối với học sinh trường Văn hoá I,
ngoài chương trình THPT còn chương trình đào tạo hướng nghiệp theo ngành Công
an Ngoài nội dung chương trình đào tạo thì phương pháp dạy học của giáo viên là
yếu tố ảnh hưởng lớn tới năng lực và hiệu quả tự học của học sinh
- Các điều kiện cơ sở vật chất như ký túc xá, phòng học, thư viện, hệ thống
mạng Internet, phương tiện thiết bị, sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo v.v
phục vụ cho dạy học
- Thời gian dành cho tự học: Hoạt động tự học đòi hỏi phải có quỹ thời gian
phù hợp, nên học sinh phải bố trí kế hoạch thật khoa học để đảm bảo quá trình tự
học đạt hiệu quả
- Tổ chức quản lý học sinh tự học: Hoạt động tự học là hoạt động mang tính tự
giác, độc lập cao nhưng không thể tách rời công tác tổ chức quản lý để học sinh
nâng cao tính tích cực, tự giác học tập
- Sự tác động của gia đình như sự quan tâm của bố mẹ, truyền thống học tập của gia đình v.v
* Yếu tố chủ quan là các yếu tố bên trong quyết định trực tiếp đến kết quả của
hoạt động tự học Trong quá trình tự học, yếu tố nội lực của cá nhân người học là yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học Sự trợ giúp của yếu tố ngoại lực chỉ có tác dụng hỗ trợ, kích thích các yếu tố nội lực phát
triển Nội lực của học sinh bao gồm:
- Những yếu tố với tư cách là thành phần cấu trúc của hoạt động tự học đó là nhận thức về tự học, động cơ tự học, thái độ tự học, kỹ năng tự học
- Yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học với tư cách là tiềm năng tự học của học sinh như yếu tố bẩm sinh, di truyền và một số kỹ năng tự học
- Yếu tố sức khoẻ cá nhân: Hoạt động tự học là hoạt động căng thẳng, mất nhiều năng lượng thần kinh Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có sức khoẻ tốt thì mới đảm bảo cho hoạt động tự học đạt hiệu quả
Tóm lại: Có nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động tự học, trong đó các yếu tố chủ quan đóng vai trò cốt lõi, các yếu tố khách quan đóng vai trò chi phối Nắm được các yếu tố chi phối hoạt động tự học sẽ giúp quản lý tốt hoạt động tự học của học sinh Rèn luyện, bồi dưỡng các kỹ năng tự học cùng với việc xác định mục đích, động cơ tự học, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học là cần thiết; điều quan trọng là học sinh phải có các kỹ năng tự học đó là: đọc sách, ghi chép, hệ thống hoá, khái quát hoá, tự kiểm tra đánh giá v.v Để tự học đạt kết quả thì học sinh phải có tri thức, có tư duy khoa học, biến động cơ tự học thành kết quả và tự tin vào bản thân, từ đó bồi dưỡng và phát triển hứng thú học tập, duy trì tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy khoa học trong hoạt động tự học
1.2.4 Vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách học sinh
Tự học là cốt lõi của việc học, hễ có học là có tự học, không ai có thể học hộ người khác Khi nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người dạy Trò học, cốt lõi là tự học cách học, cách tư duy; thầy dạy, cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy Tác động dạy của thầy là vô cùng quan trọng nhưng vẫn chỉ
là ngoại lực hỗ trợ cho học sinh tự phát triển, còn tự học mới là nhân tố quan trọng,
là nội lực quyết định sự phát triển của học sinh
Trang 10Triết học Mác - Lê Nin khẳng định tự học trong quá trình giáo dục là yếu tố
quan trọng đóng vai trò nguyên nhân bên trong, động lực thực sự của việc học sinh
tự giác học tập
Tâm lý học cũng chỉ ra rằng sự phát triển của con người phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó giáo dục và hoạt động của cá nhân là quan trọng nhất Hoạt động của cá
nhân là yếu tố đóng vai trò trực tiếp quyết định năng lực và phẩm chất của con người
Đánh giá về vai trò, tầm quan trọng của tự học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
dạy: “Về cách học tập phải lấy tự học làm cốt” Quá trình tự học như thế có thể
hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, là sự biến đổi
bản thân trở nên có thêm giá trị bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lấy giá trị bên
ngoài, là một hành trình nội tại được “cắm mốc” bởi kiến thức, phương pháp tư duy
và thực hiện tự phê bình để tự hiểu bản thân mình
Các lý luận trên không có nghĩa là xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của giáo viên
trong quá trình dạy học mà giáo viên đóng vai trò chủ đạo, kích thích, động viên,
dẫn đường cho học sinh học tập có hiệu quả và đúng cách Thông qua tự học giúp
học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai; giúp
học sinh không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn học trong
trường, đồng thời giúp học sinh rèn luyện nhân cách, hình thành nền nếp làm việc
khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán và hứng thú học tập;
không ngừng làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình, giúp họ tránh
được lạc hậu trước sự “bùng nổ thông tin” trong thời đại hiện nay
Tự học đối với học sinh trường Văn hoá I còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng
nhằm giúp các em rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán
độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật
của ngành Công an, xây dựng thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện
bản thân để có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn chiến đấu sau này
Từ những phân tích trên có thể thấy tự học đóng vai trò quyết định đến sự hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh, bởi nhân cách người học sinh chính là
phẩm chất và năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo tại nhà
trường phổ thông
1.3 Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tự học của học sinh 1.3.1 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và bản chất quản lý
* Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn Có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận, có những cách định nghĩa khác nhau:
“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [20, tr.33]
“Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế v.v bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường
và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [16, tr.7]
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt mục tiêu
Quản lý được hiểu ở những góc độ khác nhau, song vẫn được thống nhất: là
hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý
* Khái niệm về quản lý giáo dục
Có nhiều nghiên cứu về quản lý giáo dục, hiện nay các ý kiến cơ bản đồng nhất nhau về khái niệm quản lý giáo dục:
“Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở cấp độ khác
Trang 11nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường, các cơ sở giáo dục
khác) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trên cơ sở
nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như quy
luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ thiếu niên và thanh
niên" [23, tr.10]
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội
chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ
thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất" [33, tr.35]
Từ những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục ta có thể khái quát: quản lý
giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc
vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những
mục tiêu đề ra
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục thành hai loại:
- Quản lý hệ thống giáo dục: Quản lý giáo dục được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong
phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố)
- Quản lý nhà trường: Quản lý giáo dục ở tầm vi mô trong một đơn vị, một cơ
sở giáo dục
* Khái niệm quản lý nhà trường
Nhà trường vừa là khách thể chính của mọi cấp quản lý từ Trung ương đến địa
phương, vừa là một hệ thống độc lập trong xã hội Chất lượng của giáo dục và đào
tạo chủ yếu do các nhà trường chịu trách nhiệm Vì vậy, khi nói đến quản lý giáo
dục phải nghĩ đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống các nhà trường Các nhà
nghiên cứu về quản lý đã đưa ra một số khái niệm về quản lý nhà trường như sau:
“Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để
tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và
với từng học sinh" [21, tr.61]
“Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục" [33, tr.71]
Như vậy, quản lý nhà trường là một chuỗi hoạt động quản lý mang tính tổ
chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu dự kiến
Xét về lý luận và thực tiễn thì quản lý nhà trường gồm hai loại:
Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường Đây là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn
và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, bao gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động như: quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học của giáo viên, quản lý hoạt động học tập của học sinh, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, quản lý tài chính v.v
* Bản chất quản lý
Bản chất quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu chung Trong giáo dục đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục
Toàn bộ quá trình quản lý được thực hiện thông qua các chức năng quản lý đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá Các chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong khoảng thời gian, không gian xác định Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý, được coi là mạch máu lưu thông giữa các bộ phận đảm bảo cho toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý Mối liên hệ giữa các chức năng và thông tin trong quản lý được biểu diễn theo sơ đồ 1
Trang 12Sơ đồ 1 Các chức năng và thông tin trong quản lý
Lập kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
Chỉ đạo
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý quá trình dạy học là quản lý hệ thống bao gồm các nhân tố: mục đích, nội
dung, phương pháp, phương tiện, hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò v.v
Các nhân tố cấu trúc này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau
nhằm tạo ra chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học Trong các nhân tố trên, hoạt
động dạy của thầy và hoạt động học của trò là nhân tố trung tâm của quá trình dạy
học bởi các hoạt động khác của nhà trường đều hướng vào hai hoạt động trọng tâm
này Do vậy, trọng tâm của quản lý nhà trường chính là quản lý quá trình dạy học và
giáo dục, đó chính là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy và hoạt
động học tập, rèn luyện của người trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình thống nhất, theo tác giả Đặng Quốc Bảo:
10 yếu tố hạt nhân hình thành và phát triển quá trình đào tạo thì mối quan hệ
giữa dạy và học có tác động qua lại lẫn nhau, thầy dạy là truyền thụ kiến thức
(sản phẩm có sẵn) và tổ chức điều khiển các hoạt động nhận thức của học sinh
nhằm hình thành cho học sinh năng lực, phương pháp và ý chí học tập Người
học khai phá kiến thức, tự đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ nhận thức và
nắm chắc kiến thức Người thầy phải giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận
thức của học sinh với tư cách là người tổ chức và kiểm tra, chất lượng dạy học sẽ
đạt hiệu quả cao khi hoạt động dạy của người thầy và hoạt động học của người
trò có sự cộng hưởng lẫn nhau
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất và biện chứng của yếu tố ngoại lực bao gồm các hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức của thầy với những yếu tố nội lực bao gồm các hoạt động lĩnh hội, tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo của trò nhằm đạt mục đích cuối cùng và đúng nghĩa của dạy học Quá trình dạy học tối ưu chính là thực hiện được sự thống nhất biện chứng, trong đó dạy chỉ đạo học, học vừa được chỉ đạo vừa tự chỉ đạo Chất lượng giáo dục được thể hiện rõ nét nhất ở sự tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập thông qua phương pháp dạy học của giáo viên, biến quá trình dạy học của giáo viên thành quá trình tự học của học sinh, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Như vậy, quản lý quá trình dạy học chính là hệ thống tác động sư phạm có
mục đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm huy động, lôi kéo, phối hợp sức lực, trí tuệ của các lực lượng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả của mục tiêu đào tạo
1.3.3 Quản lý hoạt động tự học
Quản lý hoạt động tự học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản
lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng, là bộ phận cấu thành nên hệ thống quản lý quá trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường Quản lý hoạt động tự học của học sinh bao gồm hai quá trình cơ bản là quản lý hoạt động tự học trong giờ lên lớp và quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp, được tiến hành trên cả hai phương diện ở trường và ở nhà Tuy nhiên đối với trường THPT dân tộc nội trú nói chung và trường Văn hoá I nói riêng thì công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh được diễn ra hoàn toàn trong môi trường nhà trường
Quản lý hoạt động tự học là sự tác động của chủ thể quản lý đến quá trình tự học của học sinh làm cho học sinh tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự
cố gắng nỗ lực của chính mình Quản lý hoạt động tự học của học sinh có liên quan chặt chẽ với quá trình tổ chức dạy học của giáo viên
Như vậy, quản lý hoạt động tự học là một hệ thống các tác động sư phạm có
mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của học sinh nhằm thúc đẩy học sinh tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân
Trang 13Nội dung quản lý hoạt động tự học của học sinh bao gồm nhiều hoạt động
như: quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học; xây dựng và thực hiện kế hoạch tự
học; xây dựng nội dung tự học; bồi dưỡng phương pháp tự học; xây dựng kế hoạch
kiểm tra đánh giá kết quả tự học; các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học
* Quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học
Mọi hoạt động của con người đều có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ,
động cơ hoạt động là lực đẩy giúp chủ thể vượt khó khăn để đạt được mục đích đã
định Hoạt động tự học của học sinh THPT phải được xây dựng bởi động cơ tự học,
mà động cơ tự học lại được hình thành từ nhu cầu bản chất của vấn đề giáo dục,
trong đó hình thành nhu cầu, động cơ tự học cho học sinh là yếu tố quyết định
* Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách
hợp lý dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện
được đảm bảo nhằm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từng môn học Có kế
hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập một cách khoa học, năng
động, sáng tạo và hiệu quả hơn
* Quản lý việc xây dựng nội dung tự học
Nội dung tự học là hệ thống kiến thức học tập có tính bắt buộc phải hoàn
thành và hệ thống kiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung học tập mà
thầy cô giảng trên lớp
* Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học
Tự học phải được xác định bắt đầu từ mục đích, động cơ học tập đúng đắn,
qua đó hình thành cách học, biện pháp học, kỹ thuật học v.v mà có thể gọi là kỹ
năng tự học Do vậy, người học cần phải được hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện
kỹ năng tự học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, từ đó mới có
thể xây dựng được phương pháp tự học Xây dựng phương pháp tự học của bản thân
theo một kế hoạch hợp lý, là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệu quả
học tập cao hơn Mỗi học sinh cần phải xác định và chọn cho mình phương pháp tự
học phù hợp; giáo viên, cha mẹ học sinh cần phải hướng dẫn và tạo điều kiện đảm
bảo để học sinh xây dựng kế hoạch tự học và lựa chọn phương pháp tự học phù hợp
* Quản lý việc xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả tự học
Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học sinh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học và thực hiện kế hoạch tự học theo những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ học tập nhằm phát hiện những sai lệch giúp học sinh điều chỉnh kế hoạch tự học Kiểm tra đánh giá kết quả tự học là chức năng nhiệm vụ của giáo viên
và cán bộ quản lý thông qua hiệu suất đào tạo của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh
* Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học
Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập trên lớp, thời gian dành cho tự học; sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thiết bị đồ dùng để thầy và trò cùng tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học
Trong quản lý hoạt động tự học của học sinh cần phải phối hợp quản lý chặt chẽ tất cả các nội dung trong mối quan hệ thống nhất Đồng thời cần phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để quản lý hoạt động tự học trong và ngoài giờ lên lớp nhằm đảm bảo thời gian tự học của học sinh
1.3.4 Biện pháp quản lý hoạt động tự học
Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể
Biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, các hình thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thể của hệ quản lý, làm cho hệ vận hành phát triển đạt được mục tiêu mà chủ thể quản
lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan
Biện pháp quản lý hoạt động tự học: là tổ hợp các phương pháp, các cách
thức tiến hành của lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tác động đến toàn
bộ quá trình tự học của học sinh nhằm thúc đẩy học sinh tự giác, tích cực, chủ động
tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân học sinh
Để quản lý tốt hoạt động tự học của học sinh có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng có thể chia thành ba nhóm biện pháp chính:
Trang 14- Biện pháp quản lý có tính chất hành chính, quy chế: Căn cứ điều lệ trường
THPT, điều lệnh CAND, quy chế quản lý giáo dục học sinh các trường CAND, quy
định quản lý việc dạy học trên lớp của giáo viên và việc học tập của học sinh
- Biện pháp quản lý có tính chất đặc thù: Thông qua việc soạn bài trước khi
lên lớp, giáo viên thiết kế các tình huống để tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, thu hút học sinh vào hoạt động tự học ngay
trong các giờ lên lớp Thông qua việc giao nội dung lý thuyết, bài tập để học sinh tự
học ngoài giờ lên lớp
- Biện pháp quản lý mang tính chất kích thích hoạt động của cá nhân: Tổ chức
các hoạt động thi đua giữa cá nhân, nhóm, tập thể lớp và trong toàn trường Động
viên, khen thưởng kịp thời những cá nhân có thành tích cao trong học tập, những
tập thể có phong trào tự quản tốt trong học tập để kích thích hứng thú và hình thành
ý thức tự học trong học sinh
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tự học là hoạt động độc lập, chủ yếu mang tính cá nhân của người học trong quá trình nhận thức, học tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của quá trình đào tạo
Quản lý hoạt động tự học thực chất là một hệ thống các tác động sư phạm có mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của học sinh nhằm thúc đẩy học sinh tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân
Tự học có vai trò quan trọng, quyết định đến kết quả học tập của người học, đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người học Để tạo điều kiện thuận lợi cho tự học đạt kết quả, người cán bộ quản lý cần chú trọng đến việc quản lý kế hoạch, nội dung, phương pháp dạy học của giáo viên, quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài liệu học tập và tham khảo cho người dạy và người học, đồng thời quản
lý các hoạt động đảm bảo cho thời gian tự học đạt hiệu quả
Để tăng cường quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT dân tộc nội trú nói chung và hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I nói riêng, cần tập trung vào các nội dung: Nhận thức về vai trò và chức năng tự học, kế hoạch tổ chức hoạt động tự học cho học sinh, thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng dạy - tự học, cải tiến việc kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của học sinh, tạo môi trường thuận lợi phục vụ cho học sinh tự học, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin và huy động tối đa các lực lượng cùng tham gia quản lý hoạt động tự học của học sinh
Trang 15CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
2.1 Khái quát về trường Văn hoá I - Bộ Công an
* Đặc điểm về môi trường dạy học
Trường Văn hoá I - Bộ Công an tiền thân là trường Hạ sỹ quan Công an III
được thành lập ngày 30/7/1976 theo Quyết định số 2581/NV- QĐ của Bộ trưởng Bộ
Nội vụ (nay là Bộ Công an) trên cơ sở hợp nhất trường đào tạo cán bộ Công an Tây
Bắc với trường đào tạo cán bộ Công an Việt Bắc Trải qua 33 năm xây dựng và
trưởng thành, nhà trường đã đào tạo được gần 6000 học sinh thuộc 26 dân tộc thiểu
số, tạo nguồn cán bộ cho Công an các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, góp phần
xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ
và từng bước hiện đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa Với những thành tích trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nhà trường đã
được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen, cờ và huân chương cao quý
như: Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương Quân công hạng ba, Huân
chương bảo vệ Tổ quốc hạng nhất
Chức năng, nhiệm vụ hiện nay của trường là đào tạo hoàn thiện văn hoá THPT
cho học sinh người dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, con các
liệt sĩ CAND và con các liệt sĩ trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Đồng thời hướng nghiệp theo ngành Công an để học sinh theo học tiếp trong Học
viện An ninh nhân dân và Trung cấp An ninh nhân dân
Mục tiêu đào tạo của trường nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những
hiểu biết thông thường về kỹ thuật Đồng thời giáo dục để học sinh yên tâm học tập
và phục vụ lâu dài trong lực lượng CAND
Bộ máy tổ chức của nhà trường hiện nay thực hiện theo Quyết định số 106 -
QĐ/BNV (X14), ngày 01/4/1989 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc chuyển trường
Trung cấp An ninh nhân dân I thành trường Văn hoá I
Sơ đồ 2 Bộ máy tổ chức của nhà trường
* Tình hình đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên của nhà trường hiện nay gồm 55 giáo viên: 100% có trình
độ đại học trở lên, trong đó: 9,1% có trình độ thạc sĩ; 16,35% đang đào tạo trình độ thạc sĩ; 100% có nghiệp sư phạm từ bậc 2 trở lên, trong đó 87,3% có trình độ sư phạm bậc đại học
Giáo viên của nhà trường đều được đào tạo trong ngành Công an hoặc đã được bồi dưỡng nghiệp vụ Công an, phẩm chất đạo đức tốt, tư tưởng chính trị vững vàng, yên tâm công tác, yêu ngành, yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác
BAN GIÁM HIỆU
HỘI ĐỒNG GIÁO DỤC
HỘI ĐỒNG KHCN
HỘI ĐỒNG
TĐ, KT, KL
Trang 16Luôn xác định dạy tốt là lương tâm, trách nhiệm; không ngừng học tập, nghiên cứu
về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh Thường xuyên tham gia học tập thực tế, nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến
kinh nghiệm nhằm ứng dụng vào công tác giáo dục đào tạo của nhà trường Trong
những năm gần đây chất lượng dạy học có chiều hướng ổn định và nâng cao, tỷ lệ
giáo viên đạt dạy giỏi cấp trường hàng năm đều tăng; trong các năm học, giáo viên
thi dạy giỏi cấp thành phố và cấp tỉnh Thái Nguyên 100% đạt loại giỏi
* Tình hình học sinh
Học sinh của nhà trường được cử tuyển từ 22 tỉnh miền núi biên giới phía Bắc,
gồm 26 dân tộc thiểu số khác nhau và học sinh người dân tộc Kinh là con các liệt sĩ
CAND, con các liệt sĩ trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm (số học sinh
dân tộc Kinh không thuộc đối tượng cử tuyển, phải thi vào Học viện An ninh nhân
dân sau khi tốt nghiệp THPT, nếu không đỗ Học viện An ninh nhân dân được xét cử
tuyển vào Trung cấp An ninh nhân dân)
Hàng năm, Bộ Công an giao chỉ tiêu tuyển sinh cho nhà trường từ 100 đến 120
học sinh Nhà trường phối hợp với Công an các tỉnh xét tuyển học sinh đảm bảo
đúng tiêu chuẩn, địa bàn Tuy nhiên, do yêu cầu công tác đảm bảo an ninh trật tự
các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc; trong 5 năm gần đây quy mô đào tạo của nhà
trường được Bộ Công an nâng lên, mỗi năm nhà trường được giao tuyển sinh từ 180
đến 220 học sinh, nhưng đối tượng tuyển sinh không mở rộng
Học sinh được tuyển vào trường đều có phẩm chất đạo đức tốt, lý lịch căn bản,
rõ ràng, các em đều xác định rõ mục đích vào trường học tập là để công tác và phục
vụ lâu dài trong lực lượng Công an Các em luôn có ý thức phấn đấu tu dưỡng và
rèn luyện theo 6 điều Bác Hồ dạy CAND, sống đoàn kết, thân ái, thương yêu đùm
bọc lẫn nhau Chấp hành nghiêm túc điều lệnh CAND, nội quy, quy định của nhà
trường Tích cực tham gia các hoạt động của ngành và nhà trường, chăm chỉ cần cù
trong lao động
Tuy nhiên học sinh của nhà trường vẫn còn một số điểm hạn chế, đó là:
- Việc xét tuyển học sinh vào trường hàng năm chủ yếu căn cứ theo tiêu chuẩn chính trị, địa bàn và thành phần dân tộc nên chất lượng đầu vào của học sinh thấp,
có học sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở nhưng chưa đọc thông, viết thạo
- Đối tượng tuyển sinh là học sinh người dân tộc thiểu số sống ở những vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức của các em chậm hơn so với học sinh người dân tộc Kinh cùng lứa tuổi và học sinh sống ở các vùng thị xã, thị trấn
- Do học sinh thuộc nhiều thành phần dân tộc, giữa các dân tộc có sự chênh lệnh về nhận thức
2.2 Thực trạng tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an
Để nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an một cách khách quan, chúng tôi đã nghiên cứu các nội quy, quy định, các văn bản hướng dẫn của ngành, nhà trường; các báo cáo sơ kết, tổng kết của nhà trường Đồng thời tiến hành quan sát hoạt động tự học của học sinh, kết hợp trao đổi với cán bộ quản lý, giáo viên để có những nhận xét sơ bộ về hoạt động tự học của học sinh Trên cơ sở nhận xét sơ bộ về hoạt động tự học của học sinh, chúng tôi đã thiết
kế mẫu phiếu số 1 và tổ chức trưng cầu ý kiến đối với 100 học sinh thuộc 01 lớp 10,
01 lớp 11, 01 lớp 12 (10A1: 37, 11A1: 31, 12A1: 32) Kết hợp phỏng vấn một số học sinh, xử lý các số liệu thu được để đánh giá thực trạng hoạt động tự học của học sinh nhà trường
2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học
Học sinh muốn tự học đạt kết quả thì phải có nhận thức đúng, đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của tự học, từ đó các em định hướng đúng cho hoạt động tự học và ý thức về hoạt động tự học của bản thân
Để xác định thực trạng nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học, chúng tôi dùng mẫu phiếu số 1 (câu 1) với 10 câu hỏi Học sinh đánh giá về vai trò,
ý nghĩa của tự học bằng cách cho điểm theo thang điểm từ 1 đến 10 tùy theo mức
độ nhận thức, kết quả được thể hiện trong bảng 2.1
Trang 17Bảng 2.1 Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học
TB
Thứ bậc
Kết quả bảng 2.1 cho thấy học sinh của nhà trường nhận thức về vai trò, ý
nghĩa của tự học ở các mức độ khác nhau Trong đó, tự học nhằm phát huy tính tự
giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập; rèn luyện cách học tập, làm việc, tư
duy khoa học được học sinh đánh giá quan trọng hàng đầu Đối với vai trò, ý nghĩa
chiều sâu như hình thành và phát triển nhân cách; tự biến đổi và tự hoàn thiện nhân
cách học sinh đánh giá thấp
Qua phỏng vấn trực tiếp một số học sinh thì mức độ nhận thức của các em về
vai trò, ý nghĩa của tự học cũng ở những mức độ khác nhau:
Học sinh Nông Văn Toàn - Lớp 12A5 cho rằng: “Tự học có vai trò rất quan
trọng trong việc củng cố kiến thức đã học, mở rộng thêm tri thức mới bổ trợ cho
những bài học trên lớp Tự học còn giúp hình thành, hoàn thiện thói quen tư duy
độc lập, sáng tạo trong học tập và công tác sau này”
Học sinh Bàn Huy Dũng - Lớp 10A7 thì cho rằng: “Tự học có vai trò quan trọng
trong việc giúp bản thân hiểu bài và có kết quả cao trong các bài kiểm tra và kỳ thi”
Như vậy, học sinh của nhà trường đều nhận thức được vai trò, ý nghĩa của tự học đối với bản thân Nhưng phần lớn các em mới chỉ nhận thức được vai trò, ý nghĩa của tự học đối với hiệu quả học tập trước mắt mà không thấy được hiệu quả lâu dài của tự học trong hình thành và phát triển nhân cách, cũng như tự biến đổi và
tự hoàn thiện nhân cách
2.2.2 Thực trạng lập kế hoạch tự học, sử dụng thời gian tự học của học sinh
Hoạt động tự học chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi học sinh biết cách quản
lý việc tự học của mình thông qua việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học, nghĩa là lượng hoá được thời gian tự học tương ứng với từng nhiệm vụ học tập
Trang 18độ thực hiện thấp nhất (55%) Như vậy, giữa việc lập kế hoạch tự học và mức độ
thực hiện các loại kế hoạch tự học ở học sinh hoàn toàn tỷ lệ thuận với nhau và tỷ lệ
thuận với mức độ nhận thức của học sinh ở lứa tuổi THPT
Việc lập kế hoạch rất quan trọng để giúp học sinh định hướng các nội dung
công việc cần hoàn thành, nhưng nhận thức của học sinh đối với việc lập kế hoạch
tự học còn rất đơn giản, hầu hết các em hiểu qua loa Từ đó ảnh hưởng đến việc xây
dựng kế hoạch tự học và hoàn thành nội dung công việc theo kế hoạch
Qua phỏng vấn học sinh Lang Thanh Quý - Lớp 12A3, em cho rằng: “Việc lập
kế hoạch tự học là việc quy định thời gian học tập cho từng môn học, từng nội dung
học trong thời gian tự học do nhà trường quy định, hàng ngày em tự học theo thời
khoá biểu của ngày hôm sau”
Qua nghiên cứu trực tiếp hồ sơ học tập của học sinh các lớp được khảo sát thì
chỉ những học sinh khá, giỏi mới có kế hoạch tự học mà phần lớn các em cũng chỉ
có kế hoạch học tập theo ngày Còn lại phần lớn học sinh không có kế hoạch tự học,
các em quan niệm kế hoạch tự học là thời khoá biểu và thực hiện thời khoá biểu là
thực hiện kế hoạch tự học
Đây là mâu thuẫn giữa nhận thức và thực tiễn trong công tác lập kế hoạch tự
học và thực hiện kế hoạch tự học của học sinh Từ đó đặt ra cho nhà trường phải có
những biện pháp quản lý công tác xây dựng kế hoạch học tập của học sinh
* Sử dụng thời gian tự học
Căn cứ quy định của Bộ Công an, nhà trường quy định thời gian tự học ngoài
giờ của học sinh:
- Buổi chiều từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút
- Buổi tối từ 19 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút
- Ngoài thời gian tự học theo quy định, các em có thể tự học trong thời gian
sinh hoạt văn hoá thể thao, buổi chiều thứ bảy và cả ngày chủ nhật
Khảo sát về việc thực hiện thời gian tự học hàng ngày trong học sinh, kết quả
thể hiện trong bảng 2.3
Bảng 2.3 Thời gian dành cho hoạt động tự học
TT Thời gian dành cho hoạt động tự học
Mức độ (%)
Thường xuyên
Không
Kết quả bảng 2.3 cho thấy 85% học sinh sử dụng thời gian tự học khi chuẩn bị kiểm tra và thi, 78% theo quy định của nhà trường ở mức độ thường xuyên Bên cạnh đó, 10% học sinh không bao giờ chấp hành thời gian tự học theo quy định mà thường xuyên học bài vào đêm khuya, ảnh hưởng tới hoạt động chung của học sinh tại ký túc xá nhà trường
Quan sát hoạt động học tập của học sinh trên giảng đường vào các buổi chiều
và buổi tối thì thấy: học sinh chấp hành tương đối tốt về thời gian quy định, đến thời gian tự học, các em tập trung trên giảng đường Trong thời gian tự học đảm bảo duy quân số; nhưng thực tế trong thời gian tự học một số em còn ngủ hoặc làm việc riêng như nói chuyện, chơi cờ, nghe nhạc v.v gây mất trật tự, ảnh hưởng chung đến chất lượng các giờ tự học
2.2.3 Thực trạng nội dung tự học của học sinh
Nội dung tự học của học sinh sẽ quyết định đến kết quả học tập của các em Bởi khi các em xác định được cần phải học cái gì và hoàn thành nội dung tự học theo mình
đề ra nghĩa là các em đã có kế hoạch tự học và thực hiện được kế hoạch tự học Khảo sát thực trạng các nội dung tự học của học sinh thu được kết quả: 21% học theo yêu cầu giáo viên hướng dẫn; 6% học nguyên văn theo sách giáo khoa; 38% kết hợp học theo yêu cầu giáo viên hướng dẫn và học nguyên văn theo sách giáo khoa; 65% kết hợp học theo yêu cầu giáo viên hướng dẫn, học nguyên văn theo sách giáo khoa và các tài liệu nâng cao, tài liệu tham khảo
Trang 19Như vậy, 65% học sinh đã xác định nội dung tự học tốt khi biết kết hợp học
theo yêu cầu giáo viên hướng dẫn, học nguyên văn theo sách giáo khoa và các tài
liệu nâng cao, tài liệu tham khảo Bên cạnh đó còn 21% học sinh chỉ học theo yêu
cầu giáo viên hướng dẫn, 6% chỉ học nguyên văn theo sách giáo khoa không biết
nghiên cứu thêm các tài liệu tham khảo hay các tài liệu nâng cao để mở rộng, đào
sâu kiến thức
2.2.4 Thực trạng sử dụng các phương pháp tự học của học sinh
Phương pháp tự học quyết định tới kết quả học tập của học sinh Qua khảo sát
thực trạng việc sử dụng phương pháp tự học thì 68% học sinh có phương pháp tự
học khoa học khi biết kết hợp nhiều phương pháp học tập khác nhau để đạt được
mục tiêu học tập Nhưng bên cạnh đó còn nhiều học sinh chưa có phương pháp học
tập khoa học, hợp lý; việc tự học của các em mới chỉ dừng lại ở những phương pháp
đơn lẻ để hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể trước mắt, chưa biết kết hợp giữa các
phương pháp tự học để mở rộng, đào sâu kiến thức nâng cao hiệu quả học tập: 14%
lập kế hoạch tự học và thực hiện theo kế hoạch tự học; 19% xác định mục tiêu tự
học; 8% tự đào sâu suy nghĩ để đạt được mục tiêu; 15% thực hiện trao đổi cùng
nhóm bạn để hoàn thành nhiệm vụ; 13% hỏi thầy, hỏi bạn để hoàn thành nhiệm vụ
khi gặp khó khăn; 17% kết hợp các phương pháp ghi nhớ, tư duy, vận dụng để giải
quyết nhiệm vụ học tập
Từ các kết quả phân tích trên có thể rút ra nhận xét về thực trạng hoạt động tự
học của học sinh như sau: Nhận thức về vai trò của tự học trong học sinh chưa toàn
diện, năng lực tự học của học sinh còn hạn chế, các em chưa có kế hoạch tự học
hoặc có kế hoạch tự học nhưng việc thực hiện kế hoạch chưa triệt để Nội dung tự
học của học sinh chưa mở rộng, vẫn bó gọn trong vở ghi, sách giáo khoa, chưa biết
mở rộng các vấn đề Phương pháp tự học chưa khoa học, chưa khai thác được
những lợi thế của môi trường nội trú, năng lực vận dụng thực hành của học sinh
tự học của học sinh Công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá đã được nhà trường quan tâm thực hiện nghiêm túc:
* Công tác lập kế hoạch
- Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an
và điều kiện thực tế của nhà trường Ban giám hiệu chỉ đạo phòng Đào tạo dự thảo
kế hoạch công tác năm học của nhà trường trong từng năm học Kế hoạch dự thảo được lãnh đạo các phòng, bộ môn thảo luận, đóng góp ý kiến bổ sung trong giao ban lãnh đạo nhà trường với lãnh đạo các đơn vị Sau khi kế hoạch được thông qua, Hiệu trưởng nhà trường duyệt để thực hiện
- Căn cứ kế hoạch công tác của nhà trường, các phòng, bộ môn lập kế hoạch chi tiết để thực hiện Các cá nhân căn cứ chương trình, kế hoạch của đơn
vị, căn cứ nhiệm vụ được giao xây dựng kế hoạch công tác Kế hoạch chi tiết của các phòng, bộ môn được báo cáo Ban giám hiệu nhà trường; kế hoạch cá nhân được báo cáo lãnh đạo phòng, bộ môn để làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát thực hiện
- Công tác lập kế hoạch của nhà trường luôn được quan tâm chú trọng, do đó tạo sự thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện Tuy nhiên, trên thực tế công tác lập kế hoạch của các phòng, bộ môn trong những năm qua đôi lúc còn chậm tiến độ, một
số kế hoạch chưa sát với thực tế của nhà trường nên khi triển khai thực hiện còn nhiều vướng mắc phải điều chỉnh mới phù hợp Công tác lập kế hoạch của một số giáo viên còn nặng hình thức, thủ tục, hiệu quả thực thi không cao
Trang 20* Công tác tổ chức
- Hiệu trưởng nhà trường triển khai kế hoạch tới toàn thể cán bộ quản lý, giáo
viên trong Hội nghị triển khai công tác năm học
- Xây dựng quy chế phối hợp giữa các đơn vị và từng cá nhân, sắp xếp bố trí
cán bộ theo chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị để triển khai thực hiện Trong quá
trình thực hiện, những vướng mắc đều được thông qua Hội nghị giao ban cán bộ
lãnh đạo để bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp
* Công tác chỉ đạo
- Hiệu trưởng nhà trường ra các quyết định quản lý để chỉ đạo, điều hành kế
hoạch Duy trì quan hệ phối hợp của các đơn vị và cá nhân để đảm bảo cho toàn bộ
hệ thống quản lý đạt hiệu quả
- Trong quá trình chỉ đạo thực hiện, Hiệu trưởng thiết lập các kênh thông tin
phản hồi theo nhiều hướng khác nhau để ra các quyết định quản lý điều chỉnh, uốn
nắn kịp thời
- Nhà trường luôn phát huy quyền dân chủ, tính năng động sáng tạo của mọi
cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm phát huy cao nhất nội lực trong thực hiện chức
năng chỉ đạo
* Công tác kiểm tra đánh giá
- Mục đích của kiểm tra đánh giá là tìm hiểu việc thực hiện kế hoạch, đồng
thời kiểm tra lại các quyết định quản lý đã ban hành Từ đó có biện pháp điều chỉnh
những sai lệch, bổ sung kịp thời kế hoạch hoặc ra các quyết định để cho bộ máy
quản lý vận hành có hiệu quả
- Ban giám hiệu chỉ đạo, giao cho phòng Đào tạo dự thảo các chương trình, kế
hoạch, các nội quy, quy chế; đồng thời giúp Ban giám hiệu kiểm tra đôn đốc việc
thực hiện kế hoạch Phân cấp cho lãnh đạo phòng Đào tạo thường xuyên kiểm tra
việc thực hiện các kế hoạch
Trong những năm qua, nhà trường thực hiện tương đối tốt chức năng quản lý
Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, trong đó đội ngũ giáo viên mặc dù được đào
tạo cơ bản, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý, đặc biệt là với
đối tượng học sinh đặc thù như của nhà trường, nên hiệu quả công tác quản lý hoạt
động tự học của học sinh chưa cao
Để đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh chúng tôi thiết kế mẫu phiếu số 2, trưng cầu ý kiến của 10 cán bộ quản lý (Ban giám hiệu; lãnh đạo phòng Đào tạo; lãnh đạo bộ môn KHXH, bộ môn KHTN) và 40 giáo viên đang trực tiếp làm công tác giảng dạy, chủ nhiệm lớp
2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên nhà trường về vai trò, ý nghĩa của quản lý hoạt động tự học
Khảo sát thực trạng mức độ nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò và ý nghĩa của công tác quản lý hoạt động tự học theo mẫu phiếu số 2 (câu 1)
Với mỗi vai trò, ý nghĩa chúng tôi khảo sát ở 3 mức độ (M1: rất quan trọng; M2:
tương đối quan trọng; M3: không quan trọng) Kết quả được phản ánh cụ thể trong
bảng 2.4
Bảng 2.4 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên nhà trường
về vai trò, ý nghĩa quản lý hoạt động tự học
2
Giúp học sinh phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập
Trang 21Cán bộ quản lý và giáo viên của nhà trường đều nhận thức đúng đắn về vai trò,
ý nghĩa của công tác quản lý hoạt động tự học Trong đó, giúp học sinh phát huy
được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập được đánh giá ở mức
độ rất quan trọng cao nhất (80% cán bộ quản lý và 87,5% giáo viên); đối với các vai
trò khác như hình thành tính kỷ luật tự giác, thói quen và nền nếp học tập; hình
thành và phát triển nhân cách học sinh cũng được 80% cán bộ quản lý và giáo viên
thống nhất ở mức độ rất quan trọng
Tuy nhiên, còn 30% cán bộ quản lý và 35% giáo viên đánh giá vai trò, ý nghĩa
của quản lý hoạt động tự học trong việc tự biến đổi và tự hoàn thiện nhân cách học
sinh chỉ ở mức tương đối quan trọng Đặc biệt còn 12,5% giáo viên đánh giá vai trò
không quan trọng của biện pháp giúp học sinh rèn luyện được cách học tập, làm
việc, tư duy khoa học suốt đời
2.3.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh
* Quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh
Căn cứ quy định của ngành Công an, hàng năm các trường Công an phải tổ
chức cho học sinh mới nhập học hoạt động đầu khoá 02 tuần, trước khi học chính
khoá Nhà trường đã xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động đầu khoá cho học
sinh bao gồm các nội dung: giáo dục truyền thống lực lượng CAND và nhà trường;
6 điều Bác Hồ dạy CAND, điều lệnh CAND; các chỉ thị, nghị quyết, quy chế quản
lý giáo dục học sinh; nội quy, quy định của nhà trường; đồng thời hướng dẫn học
sinh phương pháp học tập
Nhà trường triển khai chương trình, kế hoạch tới các phòng, bộ môn để tổ
chức thực hiện Phòng Đào tạo sắp xếp lịch hoạt động đầu khoá đối với từng lớp;
những vướng mắc trong triển khai thực hiện được lãnh đạo các phòng, bộ môn phản
ánh thông qua phòng Đào tạo để báo cáo Ban giám hiệu điều chỉnh
Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên phải nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị nội dung,
giáo án đầy đủ trước khi lên lớp, đồng thời phải thực hiện đầy đủ nội dung chương
trình theo kế hoạch Việc kiểm tra, giám sát được giao cho phòng Đào tạo, kết thúc
hoạt động đầu khoá học sinh phải viết bản thu hoạch về nhận thức
Nhìn chung công tác quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh trong những năm qua nhà trường làm tương đối tốt, đúng quy trình Tuy nhiên, bên cạnh đó còn hạn chế đó là một số biện pháp đã làm nhưng chưa được duy trì thường xuyên, triệt để
Khảo sát về thực trạng các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ
tự học cho học sinh Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về được thể hiện trong bảng 2.5
Bảng 2.5 Các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh
TT
Các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dƣỡng động cơ tự học
Mức độ (%)
Thường xuyên
Chưa thường xuyên
Chưa thực hiện
từ khi nhập học
Kết quả bảng 2.5 cho thấy: 100% cán bộ quản lý và giáo viên của nhà trường đều thống nhất nhà trường đã thường xuyên tổ chức cho học sinh học tập nội quy, quy chế ngay từ khi nhập học Tuy nhiên, biện pháp tổ chức cho học sinh tham phòng truyền thống thì 100% cán bộ quản lý và 65% giáo viên đánh giá nhà trường chưa tiến hành thường xuyên
Trang 22* Quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học
Để giúp học sinh sử dụng thời gian tự học hiệu quả, nhà trường đã giao cho
lãnh đạo bộ môn KHTN và bộ môn KHXH hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch
tự học ngay trong thời gian hoạt động đầu khoá, chỉ đạo giáo viên kiểm tra thường
xuyên việc xây dựng kế hoạch tự học; kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch tự
học của học sinh thông qua kiểm tra giờ tự học cũng như trong giờ lên lớp
Thực tế triển khai còn tồn tại đó là: việc hướng dẫn học sinh xây dựng kế
hoạch tự học mới chỉ chú trọng trong thời gian hoạt động đầu khoá; công tác kiểm
tra chưa tiến hành thường xuyên, dẫn đến khả năng xây dựng và thực hiện kế hoạch
tự học của học sinh còn hạn chế; một số học sinh chưa biết hoặc còn lúng túng trong
việc xây dựng kế hoạch tự học Việc điều chỉnh bổ sung kế hoạch tự học của học
sinh còn thiếu tính linh hoạt
Khảo sát các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học,
thu được kết quả trong bảng 2.6
Bảng 2.6 Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học
Chưa thường xuyên
Chưa thực hiện
Việc quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học chỉ được thống
nhất cao đối với kế hoạch tự học cho học kỳ và kế hoạch tự học cho cả năm học; đối
với kế hoạch tự học cho tháng và kế hoạch tự học cho tuần thì chưa thực sự được
chú trọng Đặc biệt đối với loại kế hoạch tự học cho tuần thì 60% cán bộ quản lý và
50% giáo viên đánh giá tiến hành chưa thường xuyên Việc quản lý hướng dẫn học sinh bổ sung và điều chỉnh kế hoạch tự học được 60% cán bộ quản lý và 45% giáo viên quan tâm ở mức độ thường xuyên Tuy nhiên, vẫn còn 20% cán bộ quản lý và 45% giáo viên chưa thường xuyên quan tâm; 20% cán bộ quản lý và 10% giáo viên chưa thực hiện
Đây là vấn đề cần được khắc phục, bởi khả năng lập kế hoạch của học sinh còn nhiều hạn chế, phần lớn học sinh chưa có kế hoạch tự học hoặc kế hoạch tự học của các em lập ra chỉ mang tính chất thủ tục hành chính, không khả thi nên rất khó khăn trong thực hiện, dẫn đến hiệu quả tự học không cao Thực tế cho thấy phần lớn học sinh chỉ có thói quen học theo thời khoá biểu hoặc chỉ tập trung học khi có bài kiểm tra, chuẩn bị cho kỳ thi
* Quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung tự học
Việc xác định nội dung tự học quyết định tới việc hoàn thành nhiệm vụ tự học, trong những năm qua nhà trường thường xuyên quan tâm quản lý hướng dẫn học sinh các nội dung tự học thông qua việc giao cho Bộ môn KHTN xây dựng kế hoạch hướng dẫn học sinh các nội dung tự học để triển khai trong nhà trường
Để thực hiện kế hoạch, nhà trường đã quan tâm mua sắm bổ sung thường xuyên các danh mục sách báo, tài liệu cho thư viện để giáo viên tăng cường nghiên cứu bổ sung nội dung mới trong các bài giảng, học sinh có nhiều tư liệu để đọc, nghiên cứu
Trong giảng dạy giáo viên đã quan tâm đến đổi mới phương pháp, tăng cường thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh tự học Trong các giờ lên lớp giáo viên đã chú ý giao các nội dung tự học cho học sinh, thông qua việc giảng bài
và giao bài tập tự học ngoài giờ
Bên cạnh đó, nhà trường đã xây dựng kế hoạch và tổ chức tham quan học tập ngoại khoá tại các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của đất nước, qua đó nhằm
bổ sung kiến thức thực tế cho học sinh
Khảo sát các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung tự học, thu được kết quả trong bảng 2.7
Trang 23Bảng 2.7 Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung tự học
Cán bộ quản lý và giáo viên thống nhất cao đánh giá nội dung giới thiệu sách
tham khảo, bài tập; giao bài tập thực hành, chuẩn bị nội dung thảo luận cho học sinh
là thường xuyên Đối với biện pháp hướng dẫn học sinh tập thiết kế bài học, làm
báo cáo thuyết trình trên lớp thì 100% cán bộ quản lý và 52,5% giáo viên đánh giá
mức độ thực hiện chưa thường xuyên
* Quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
Chất lượng tự học phụ thuộc nhiều vào phương pháp tự học của học sinh
Nhận thức được vấn đề này, nhà trường đã quan tâm chỉ đạo bồi dưỡng phương
pháp tự học cho học sinh Ban hành kế hoạch hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy
học và kế hoạch hướng dẫn đổi mới phương pháp tự học nhằm phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn của học sinh Tổ
chức triển khai đồng bộ trong giáo viên và học sinh nhà trường, qua đó tạo chuyển
biến mạnh về nhận thức trong giáo viên và học sinh, đồng thời phát huy năng lực tổ
chức điều hành trong công tác dạy học của giáo viên, giúp học sinh rèn luyện việc
tự nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lý thông tin, nâng cao
năng lực tiếp thu nội dung bài học
Khảo sát các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, thu
được kết quả trong bảng 2.8
Bảng 2.8 Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
TT
Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
đổi, thảo luận về phương pháp học tập bộ môn
Qua kết quả khảo sát thì 60% cán bộ quản lý và 75% giáo viên đánh giá mức
độ thường xuyên đối với biện pháp hướng dẫn học sinh các kỹ năng tự học như: ghi chép, đọc, vận dụng kiến thức, tìm kiếm tư liệu v.v Đánh giá về việc vận phương pháp dạy học tích cực thì giữa cán bộ quản lý và giáo viên chưa có sự thống nhất khi 80% giáo viên đánh giá việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực được tiến hành thường xuyên, nhưng 60% cán bộ quản lý đánh giá chưa tiến hành thường xuyên Đối với biện pháp tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận về phương pháp học tập bộ môn thì 40% cán bộ quản lý và 67,5% giáo viên đánh giá chưa tiến hành thường xuyên
Thực tiễn dạy học, giáo viên đã tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học, thông qua đó hướng dẫn và bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh Tuy nhiên việc đổi mới phương pháp dạy học trong giáo viên chưa thường xuyên, mới chỉ được chú trọng trong các giờ thao giảng, còn trong các giờ hàng ngày giáo viên mới chỉ chú ý đến việc truyền thụ nội dung kiến thức của tiết học Đây là thực trạng chung trong giáo dục phổ thông hiện nay khi chương trình quá nặng, giáo viên đang