TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: 1 Xác định các nhân tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đối với ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh; 2 Đo lường sự tác động của mô
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn
cô cũng đã cho tôi thêm các lời khuyên cũng như hỗ trợ kịp thời cho những vướng mắc mà tôi gặp phải trong công việc sau thời gian học tập trên lớp
Và lời cảm ơn chân thành nhất, tôi xin phép gửi đến giáo viên hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cho tôi, thầy Nguyễn Ngọc Dương Trong suốt thời gian dài tập trung cho luận văn, thầy đã hướng dẫn chi tiết và rất tận tình để tôi hoàn tất luận văn này Với sự giúp đỡ của Thầy, tôi có thể hiểu sâu thêm về đề tài mình đang làm, định hướng đúng cái cần làm, cách xử lý và phân tích số liệu cũng như phân tích những gì tìm ra được
Lời cảm ơn không thể quên kể đến, bằng tất cả sự yêu mến và trân trọng đó
là giành cho gia đình và đồng nghiệp Công ty Sài Gòn Truyền thông, đã luôn sát cánh, động viên và hỗ trợ tốt tinh thần và công việc để tôi có thể hoàn tất luận văn này
Bằng tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người đã giúp đỡ tôi kể trên Và để đền đáp phần nào công ơn đó, tôi mong đề tài phần nào sẽ mang lại hữu ích cho thực tế công việc của ngành truyền thông
Trân trọng
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Mai
Trang 2TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: (1) Xác định các nhân tố trong mô
hình nhà lãnh đạo lý tưởng đối với ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh;
(2) Đo lường sự tác động của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đến sự thỏa mãn trong
công việc của các bộ công nhân viên đang làm việc trong ngành truyền thông
Đối tượng khảo sát là các cán bộ công nhân viên đang làm việc tại các đơn vị
Báo, Đài truyền hình và Công ty truyền thông trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Mẫu
được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước: Bước 1 gồm nghiên cứu
định tính và định lượng Nghiên cứu định tính thông qua phương pháp thảo luận
nhóm với 8 chuyên gia Kết quả của bước này nhằm điều chỉnh thang đo và mô
hình cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu định lượng sơ bộ được
thực hiện qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi với n=100 Kết quả của bước
này hình thành thang đo chính thức để sử dụng trong nghiên cứu định lượng ở bước
tiếp theo Bước 2 nghiên cứu định lượng thông qua việc phát bảng câu hỏi phỏng
vấn trực tiếp cho 230 người, dữ liệu thu thập được làm sạch và có 211 bảng được sử
dụng chính thức cho nghiên cứu Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS
16.0 với các bước kiểm tra độ tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá
EFA, kiểm định các giả định và phân tích hồi quy đa biến
Thang đo các biến độc lập dựa vào thang đo các thành phần trong mô hình
nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994) Theo kết quả thảo luận nhóm, đề tài
tìm được 7 thành phần độc lập , bao gồm : hấp dẫn, cống hiến, uy tín, thông minh,
nhạy cảm, mạnh mẽ và chuyên chế với 39 biến quan sát Kết quả kiểm định thang
đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, mô hình nhà lãnh đạo lý
tưởng của đề tài bao gồm 31 biến Thang đo sự thỏa mãn chung trong công việc
gồm 5 biến quan sát Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy có 4 nhân tố
trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng tác động cùng chiều đến sự thỏa mãn công
việc, đó là : uy tín, cống hiến, nhạy cảm, thông minh; còn ba thành phần: hấp dẫn,
mạnh mẽ, chuyên chế tác động không có ý nghĩa thống kê Trong đó, thành phần uy tín có mức tác động cao nhất và thành phần cống hiến có mức tác động thấp nhất
Nghiên cứu này giúp cho các nhà lãnh đạo hiểu rõ về các phẩm chất trong
mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của nhân viên Từ đó, nhà lãnh đạo có thể hiểu rõ yếu tố nào trong các nhân tố đó có tác động đến sự thỏa mãn của chính nhân viên, đồng thời có cách thức hoàn thiện bản thân hơn để có thể nâng cao sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
Trang 3ABSTRACT
This study was undertaken to: (1) Identify the factors in the model ideal
leader for media Ho Chi Minh City (2) Measure the impact of leadership models
ideal satisfaction in the work of the employees working in the media industry
Respondents are officers and employees working in the unit Newspapers,
television and media company in the province Ho Chi Minh City Samples were
selected by convenience sampling method
The study was carried out through two steps: Step 1 includes qualitative
research and quantitative Qualitative research methods through 8 focus group
discussions with experts The result of this step in order to adjust the scale and
patterns to suit the object of study Preliminary quantitative research is done through
direct interviews with questionnaires for n = 100 The result of this step formed the
official scales for use in quantitative research in the next step Step 2 quantitative
research through questionnaires directly interviewed 230 people, collected data
cleaning and £ 211 was officially used for the study Data were processed with
SPSS 16.0 statistical software for these tests Cronbach Alpha reliability, factor
analysis EFA discovery, testing assumptions and multivariate regression analysis
Scale is based on the independent variable scale components in the model of
the ideal leader Offermann (1994 ) As a result of group discussion topics found 7
independent components , including : attractive , dedication , charisma, intelligence,
sensitivity , and powerful tyranny with 39 observed variables The test results are
measured by a scale factor analysis EFA discover, model ideal leader of topics
including 31 variables Scale general satisfaction in the work of 5 observed
variables Results of linear regression analysis showed that four factors in the model
leader impact the ideal way to job satisfaction, namely: credibility, dedication,
sensitive , intelligent, while three components: attractive, strong, impact tyranny no
statistical significance In particular, the composition reputable high impact sectors
and dedication have the lowest level of impact
This study helps leaders understand the qualities of leadership model ideal affect employee satisfaction Since then, leaders have to understand what factors in the factors that have an impact on the satisfaction of employees, and there are ways
to improve ourselves than to be able to improve the satisfaction of the employee
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN I
LỜI CẢM ƠN II
TÓM TẮT III
ABSTRACT V
MỤC LỤC VII
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VIII
DANH MỤC CÁC BẢNG XIII
DANH MỤC CÁC HÌNH XIV
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1GIỚITHIỆULÝDOCHỌNĐỀTÀI 1
1.2MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2
1.3PHẠMVIVÀĐỐITƯỢNGNGHIÊNCỨU 3
1.4PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 3
1.5ÝNGHĨACỦANGHIÊNCỨU: 3
1.6KẾTCẤUCỦAĐỀTÀI: 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1LÝTHUYẾTVỀLÃNHĐẠO 5
2.1.1 Khái niệm lãnh đạo 5
2.1.2 Sự khác biệt giữa nhà lãnh đạo và nhà quản lý 6
2.1.3 Các tiếp cận chủ yếu trong nghiên cứu về lãnh đạo 7
2.1.4 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng 10
2.1.4.1 Nhà lãnh đạo lý tưởng (implicit leadership) và nhà lãnh đạo tường minh (explicit leadership) 10
2.1.4.2 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng 11
2.1.4.3 Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng 12
So sánh mô hình lý thuyết nhà lãnh đạo lý tưởng 13
2.2MÔHÌNHNHÀLÃNH ĐẠO LÝTƯỞNGNGÀNHTRUYỀNTHÔNG 15
2.2.1 Giới thiệu về ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh 15
2.2.2 Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh 16
2.2.2.1 Thành phần hấp dẫn 17
2.2.2.2 Thành phần uy tín 18
2.2.2.3 Thành phần cống hiến 18
2.2.2.4 Thành phần thông minh 19
2.2.2.5 Thành phần mạnh mẽ 19
2.2.2.6 Thành phần nhạy cảm 20
2.2.2.7 Thành phần chuyên chế/độc đoán 21
2.3SỰTHỎAMÃNTRONGCÔNGVIỆCCỦANHÂNVIÊN 22
2.4MỐILIÊNHỆGIỮAMÔHÌNHNHÀLÃNHĐẠOLÝTƯỞNGVÀSỰ THỎAMÃNCÔNGVIỆCCỦANHÂNVIÊN 25
2.5MÔHÌNHNGHIÊNCỨUVÀGIẢTHUYẾT 26
TÓM TẮT 27
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1THIẾTKẾNGHIÊNCỨU 28
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 28
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 29
3.2MÔTẢMẪUNGHIÊNCỨU 33
3.3 XÂYDỰNGVÀMÃHÓATHANGĐO 34
3.3.1 Thành phần “Hấp dẫn” 34
3.3.2 Thành phần “Cống hiến” 34
3.3.3 Thành phần “Thông minh” 34
3.3.4 Thành phần “Nhạy cảm” 35
3.3.5 Thành phần “Uy tín” 36
3.3.6 Thành phần “Mạnh mẽ” 36
Trang 53.3.7 Thành phần “Chuyên chế/Độc đoán” 36
3.3.8 “Sự thỏa mãn chung trong công việc” 37
TÓM TẮT 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1ĐÁNHGIÁSƠBỘTHANGĐO 39
4.1.1 Kết quả hệ số tin cậy Cronbach Alpha 41
4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 42
4.1.3 Đặt tên và giải thích nhân tố 44
4.2MÔHÌNHVÀGIẢTHUYẾTĐIỀUCHỈNH 44
4.3ĐOLƯỜNGẢNHHƯỞNGCỦACÁCBIẾNĐỘCLẬPVÀBIẾNPHỤ THUỘCTRONGMÔHÌNHNGHIÊNCỨU 45
4.3.1 Kiểm định hệ số tương quan (r) 45
4.3.2 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy tuyến tính 46
4.4PHÂNTÍCHHỒIQUYBỘI 47
4.5KIỂMĐỊNHGIẢTHUYẾT 49
TÓM TẮT 50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 51
5.1TÓMTẮTNỘIDUNGNGHIÊNCỨU 51
5.2TÓMTẮTKẾTQUẢNGHIÊNCỨU 52
5.3NHẬNXÉTVÀKẾTLUẬN 53
5.3.1 Nhân tố uy tín 53
5.3.2 Nhân tố nhạy cảm 53
5.3.3 Nhân tố thông minh 54
5.3.4 Nhân tố cống hiến 54
5.3.5 Các nhân tố “hấp dẫn”, “mạnh mẽ”, “độc đoán” 55
5.3.6 Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên 57
5.4KIẾNNGHỊNHẰMNÂNGCAOMỨCĐỘTHỎAMÃNCỦACBNVĐỐI VỚILÃNHĐẠONGÀNHTRUYỀNTHÔNGTẠITP.HỒCHÍMINH 57
5.4.1 Kiến nghị nhằm nâng cao sự cảm nhận về yếu tố “uy tín” của nhà lãnh đạo 57
5.4.2 Kiến nghị nhằm nâng cao sự cảm nhận về yếu tố “nhạy cảm” của nhà lãnh đạo 60
5.4.3 Kiến nghị nhằm nâng cao sự cảm nhận yếu tố “thông minh” của nhà lãnh đạo 62
5.4.4 Kiến nghị nhằm nâng cao sự cảm nhận về yếu tố “cống hiến” của nhà lãnh đạo 64
5.4.5 Kiến nghị về các thành phần mạnh mẽ, hấp dẫn và độc đoán: 65
5.5HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT CHO CÁC NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 67 5.5.1 Hạn chế: 67
5.5.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 MỤC LỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Mass communications Truyền thông đại chúng
EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
Charisma leadership Lãnh đạo hấp dẫn
Implicit leadership Nhà lãnh đạo lý tưởng
Explicit leadership Nhà lãnh đạo tường minh
VAA Vietnam Advertising Hiệp Hội Quảng cáo Việt Nam
Association
VTV, VTC, VOV Vietnam Television, Truyền hình VN,
Vietnam Television Cable, Truyền hình hình cáp VN, Voice of Vietnam Đài phát thanh Việt Nam Std Deviation Standard Deviation Độ lệch chuẩn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG 2.1: CÁC KHÁI NIỆM LÃNH ĐẠO 5
BẢNG 2.2: BẢNG ĐỐI CHIẾU HAI MÔ HÌNH NHÀ LÃNH ĐẠO LÝ TƯỞNG
CỦA OFFERMANN (1994) VÀ LING (2000) 13
BẢNG 2.3: CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC 22
BẢNG 2.4: THỐNG KÊ CÁC THANG ĐO SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC CỦA
SCOTT MACDONALD VÀ PETER MACINTYRE (1997) 24
BẢNG 4.1: BẢNG CƠ CẤU VỀ MẪU NGHIÊN CỨU 40
BẢNG 4.2: CRONBACH ALPHA CỦA CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 41
BẢNG 4.3: KẾT QUẢ MA TRẬN NHÂN TỐ VỚI PHÉP QUAY VARIMAX 43
BẢNG 4.5: KIỂM ĐỊNH ĐA CỘNG TUYẾN 46
BẢNG 4.6 : MÔ HÌNH TÓM TẮT SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ENTER 48
DANH MỤC CÁC HÌNH
HÌNH 3.1: QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 29 HÌNH 4.3: ĐỒ THỊ P-P PLOT 47 HÌNH 4.1: KẾT QUẢ HỒI QUY 48
Trang 8CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu lý do chọn đề tài
Như chúng ta đều biết, nhà lãnh đạo có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mỗi
doanh nghiệp Thật khó khăn khi lãnh đạo một doanh nghiệp trong thời bình, càng
khó hơn khi là người đứng đầu dẫn dắt doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng
chung của toàn cầu như hiện nay Vì thế, các lãnh đạo doanh nghiệp muốn quản lý
tốt đội ngũ nhân viên, đòi hỏi họ phải liên tục nâng cao trình độ nghiệp vụ và khả
năng lãnh đạo, linh hoạt trong phong cách lãnh đạo, biết nhìn người và dùng người,
tạo cho cấp dưới sự tin cậy, sự tận tâm phục vụ vì lợi ích chung Để lãnh đạo đội
ngũ nhân viên trẻ trung, giỏi giang, đầy năng lực…các vị lãnh đạo phải có bản lĩnh
Truyền thông (Communication) là quá trình truyền tải thông tin, bao hàm tất
cả mọi phương tiện truyền tải thông điệp, tính cách nhãn hiệu và hình ảnh đến công
chúng Bao gồm cả truyền thông gián tiếp (Abote The Line-ATL) hoặc truyền thông
đại chúng (mass communications); cả truyền thông trực tiếp (Below The Line-BTL)
như: PR, Event, kích hoạt nhãn hiệu, POS, POSM…; và cả các loại truyền thông
mới (new communication) như internet, PR 2.0, blog, forum, mạng xã hội….Ngành
truyền thông là một loại hình dịch vụ đặc thù, đầy tính sáng tạo, đòi hỏi lực lượng
nhân sự phải có hiểu biết, kinh nghiệm cũng như sự tự tin, nhạy bén Sự khác biệt
giữa truyền thông và ngành khác tập trung ở đầu ra, xử lý thông tin và đầu vào của
quá trình hoạt động Sản phẩm vô hình mà ngành truyền thông tạo ra là các ý tưởng
và các hoạt động nhằm mục đích tác động đến ý thức và tinh thần con người, trong
khi ngành sản xuất vật chất lại tạo ra sản phẩm hữu hình phục vụ cho nhu cầu vật
chất Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của cả hai đều hướng tới phục vụ các cho đối
tượng khách hàng của mình Đôi khi tác động truyền thông thực hiện trước, làm tiền
đề cho sự ra đời thuận lợi của sản phẩm vật chất Do có sự khác biệt này, nhà lãnh
đạo trong ngành truyền thông thường có nét đặc thù hơn so với lãnh đạo trong các
ngành sản xuất, dịch vụ khác
Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đầu tiên đã được Offermann và cộng sự (1994) phát triển tại Mỹ, sau đó được kiểm định bởi Anusuiya S và cộng sự (2009) tại Malaysia Tiếp đó, Ling và cộng sự (2000) đã phát triển mô hình này tại Trung Quốc Tại Việt Nam, Trần Kim Dung (2005) có sử dụng mô hình của Ling và cộng
sự (2000) để kiểm định nhưng chưa tìm thấy các nghiên cứu kiểm định mô hình lãnh đạo của Offermann Riêng đối với ngành truyền thông vẫn chưa có đề tài hay nghiên cứu nào ứng dụng mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng để phục vụ cho ngành Vậy, nhà lãnh đạo lý tưởng trong ngành truyền thông tại thành phố Hồ Chí Minh có những phẩm chất nào? Những phẩm chất này có tác động như thế nào đến
sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên? Là một nhân viên đang làm việc trong ngành truyền thông, tác giả muốn đi tìm một mô hình thể hiện những nét đặc trưng của một nhà lãnh đạo lý tưởng trong ngành Với những lý do trên đây chính là động
lực để thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đến sự thỏa mãn của nhân viên ngành truyền thông tại thành phố Hồ Chí Minh” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
- Xác định các nhân tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đối với ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đo lường sự tác động của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của cán bộ công nhân viên đang làm việc trong ngành truyền thông
Để đáp ứng các mục tiêu này, nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Xác định các thành phần của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng trong ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Đo lường sự thỏa mãn của người lao động trong ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Dùng kỹ thuật phân tích hồi quy bội để kiểm định mối liên hệ giữa các biến độc lập trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và biến phụ thuộc là sự thỏa mãn trong
Trang 9công việc Xác định mức độ tác động của các biến độc lập đến sự thỏa mãn trong
công việc của nhân viên
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như khó khăn trong vấn đề khảo sát diện rộng nên
việc nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn, từ tháng 06/2013 đến tháng
12/2013 tại các cơ quan truyền thông thuộc địa bàn TP.Hồ Chí Minh
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
Đối tượng khảo sát bao gồm các cán bộ công nhân viên đang làm việc tại cơ quan
truyền thông, Báo chí, Đài truyền hình tại TP.Hồ Chí Minh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ : bằng phương pháp định tính và định lượng Nghiên cứu định
tính bằng kỹ thuật thảo luận nhóm chuyên gia với n=8 nhằm điều chỉnh và bổ sung
khái niệm, thang đo trong mô hình nghiên cứu Nghiên cứu định lượng sơ bộ bằng
kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp 100 người bằng bảng câu hỏi Bước này nhằm kiểm
định mức độ hợp lý của các khái niệm và thang đo nghiên cứu
Nghiên cứu chính thức: dùng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc
phát bảng câu hỏi phỏng vấn cho các đối tượng nghiên cứu Bảng câu hỏi gồm 2
phần: phần 1 khảo sát mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và khảo sát thang đo sự thỏa
mãn trong công việc, phần 2 là phần thông tin của đối tượng khảo sát
Mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Số liệu được xử lý bằng phần
mềm thống kê SPSS 16.0 với phương pháp xác định độ tin cậy Cronbach Alpha;
phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy bội
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu:
Đề tài mang lại một số ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn cho các lãnh đạo trong
ngành truyền thông, cụ thể như sau:
1.6 Kết cấu của đề tài:
Kết cấu của đề tài gồm 5 Chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và sự thỏa mãn của nhân viên để làm cơ sở của mô hình, giả thuyết và thang đo các thành phần nghiên cứu
Chương 3: Trình bày phương pháp để kiểm định thang đo, mô hình lý thuyết
và giả thuyết cho nghiên cứu
Chương 4: Trình bày phương pháp xử lý phân tích thông tin và các kết quả
có được từ nghiên cứu
Chương 5: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu của đề tài, đưa ra những kết luận
và một số góp ý làm giải pháp nâng cao đặc tính theo mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng nhằm tăng sự thỏa mãn công việc của nhân viên Đồng thời, trong chương này cũng nêu ra những mặt được và hạn chế của đề tài để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 10CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Giới thiệu
Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2 nêu lên các lý thuyết
về lãnh đạo, các kiểu tiếp cận về lãnh đạo, nhà lãnh đạo lý tưởng, mô hình nhà lãnh
đạo lý tưởng và sự thỏa mãn trong công việc, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Lý thuyết về lãnh đạo
2.1.1 Khái niệm lãnh đạo
Sau đây là một số khái niệm lãnh đạo được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu
trên thế giới:
Bảng 2.1 Các khái niệm lãnh đạo
Hemphill & Coons, 1957 “là cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các
hoạt động của nhóm để đạt tới những mục tiêu chung”
Tannenbaum, Weschler &
Masarik, 1961
“là sự ảnh hưởng (tác động) mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo thông qua quá trình thông tin để đạt tới những mục tiêu cụ thể”
Katz & Kahn, 1978 “là sự khởi xướng và duy trì cấu trúc trong sự mong
đợi và sự tương tác”
Rauch & Behling, 1984 “ là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của
nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu.”
House và các cộng sự, 1999 “Là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh
hưởng, thúc đẩy, và có thể làm cho mọi người góp phần vào sự hiệu quả và thành công của tổ chức họ”
Yukl, 2002 “Là quá trình ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu
và đồng ý về những công việc cần thực hiện và thực hiện nó như thế nào một cách hiệu quả, quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra”
Borra, Kunkel, 2002
“khả năng truyền cảm hứng và hướng dẫn những người khác theo hướng xây dựng và đạt được tầm nhìn chung”
(Nguồn: Theo tổng hợp của Mary B G và cộng sự, 2003)
Các khái niệm đều có điểm chung là giả định rằng nó bao hàm sự tương tác giữa hai hay nhiều người, đặc biệt nhấn mạnh rằng lãnh đạo là sự tác động tích cực của một người đến nhiều người khác trong cùng một tập thể bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm đạt mục tiêu chung
Nguyễn Trọng Điều (2003, trang 82) phát biểu rằng: “Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm người nhằm đạt được mục đích trong một tình huống nhất định” Khái niệm này được hình thành dựa trên việc tổng hợp các khái niệm về lãnh đạo được sử dụng phổ biến trên thế giới kết hợp với việc điều chỉnh cho phù hợp với môi trường lãnh đạo tại Việt Nam
Vì thế, đề tài chọn đây là khái niệm nền tảng để làm rõ hơn cho khái niệm nhà lãnh đạo lý tưởng được sử dụng trong đề tài này
2.1.2 Sự khác biệt giữa nhà lãnh đạo và nhà quản lý
Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm về lãnh đạo Trên thực tế, người ta hay đồng nhất lãnh đạo với quản lý và điều này được thấy rõ nhất trong nhận thức của người Việt Nam chúng ta Lãnh đạo và quản lý có các điểm khác biệt sau đây: Thứ nhất, nhà quản lý tác động đến con người thông qua tổ chức và bố trí nguồn nhân lực một cách khoa học, tạo ra cấu trúc tổ chức hợp lý, phân chia nhóm công việc phù hợp, bố trí nguồn lực hợp lý với kỹ năng và trình độ nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động doanh nghiệp đạt đến mục tiêu hiệu quả nhất Nhà lãnh đạo thì tập trung vào việc tạo sự liên kết, gắn bó chặt chẽ giữa con người trong tổ chức
Trang 11thông qua việc truyền thông để mọi thành viên hiểu về tầm nhìn, chiến lược và tạo
ra sự cam kết thực hiện một cách tự nguyện từ các thành viên
Thứ hai, để đảm bảo việc hoàn thành kế hoạch, nhà quản lý kiểm tra, giám
sát công việc thông qua các báo cáo, từ đó, tiến hành điều chỉnh sai lệch và khắc
phục sai sót nếu có Trong khi đó, nhà lãnh đạo hướng dẫn mọi người theo định
hướng mong muốn ngay từ đầu, trên cơ sở này, nhà lãnh đạo dùng yếu tố động viên,
thúc đẩy để mọi người thực hiện công việc một cách nhiệt tình và nghiêm chỉnh, tức
là khắc phục hiện tượng sai sót thông qua việc nghiên cứu đối tượng và phòng ngừa
trước khi công việc bắt đầu
Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 13): “Quản lý là thích ứng với sự phức
tạp, quản lý tốt đáp ứng những đòi hỏi và tạo ra mức độ cao của sự nhất quán với
những khía cạnh cốt lõi như chất lượng và năng lực lợi nhuận của sản phẩm Lãnh
đạo là thích ứng với sự thay đổi” Bên cạnh đó, “quản lý bao gồm hoạch định, tổ
chức, kiểm soát và giải quyết vấn đề”; “lãnh đạo là đưa ra các chỉ dẫn, bố trí lực
lượng lao động và động viên nhân viên”
Qua phân tích khái niệm, chúng ta có thể thấy rõ sự khác nhau về mặt ý
nghĩa, nội dung và chức năng của hai khái niệm này Tuy nhiên, trên thực tế, tùy
vào văn hóa, quy mô doanh nghiệp và cách thức tổ chức hoạt động, mà có đồng
nhất hay tách riêng hai chức năng quản lý và lãnh đạo trong nhận thức của những
người trong tổ chức
2.1.3 Các tiếp cận chủ yếu trong nghiên cứu về lãnh đạo
Kết quả của các nghiên cứu về lãnh đạo có sự khác nhau là do sự khác biệt
trong nhận thức và phương pháp tiếp cận của các nhà nghiên cứu Nhìn chung, có
năm cách tiếp cận : (1) Tiếp cận về quyền lực và sự ảnh hưởng ; (2) Tiếp cận về
phẩm chất ; (3) Tiếp cận về hành vi (phong cách) ; (4) Tiếp cận về tình huống; (5)
Tiếp cận về người lãnh đạo mới về chất
Tiếp cận về phẩm chất
Đây là cách tiếp cận được xem như nền tảng của nghiên cứu về lãnh đạo
Cách tiếp cận này chú trọng đến phẩm chất, đặc tính cá nhân của nhà lãnh đạo Các
nghiên cứu theo hướng phẩm chất trong giai đoạn gần đây chú trọng đến việc xem xét mối quan hệ của phẩm chất cụ thể với vai trò cụ thể của nhà lãnh đạo ở các cấp khác nhau Theo Nguyễn Hữu Lam (2007) cho rằng các phẩm chất của người lãnh đạo thành công, gồm : tài giỏi, thông minh, sáng tạo, quyết đoán, đáng tin cậy Các phẩm chất, kỹ năng này làm tăng khả năng thành công nhưng chúng còn phụ thuộc vào tình huống lãnh đạo cụ thể Ngoài ra, còn có các cách tiếp cận khác về phẩm chất nhà lãnh đạo như : Tiếp cận về người lãnh đạo “Trật hướng”, nghiên cứu về năng lực quản trị, nghiên cứu về động cơ quản lý
Cách tiếp cận về quyền lực và sự ảnh hưởng
Cách tiếp cận này đã giải thích hiệu quả lãnh đạo về mức độ quyền lực mà nhà lãnh đạo có, các dạng quyền lực và cách thức sử dụng chúng Quyền lực không chỉ dùng tác động người dưới quyền, mà còn có tầm quan trọng khi ảnh hưởng tới cấp trên, đồng sự và người ngoài tổ chức Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 53), gồm : quyền lực vị trí, quyền lực cá nhân và quyền lực chính trị Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 22) cho rằng quyền lực có năm cơ sở khác nhau, gồm: quyền trao phần thưởng, quyền trừng phạt, quyền hợp pháp, quyền chuyên môn và quyền tham chiếu Ngoài ra, còn có mô hình về quyền lực, các chiến lược và kỹ năng ảnh hưởng của người lãnh đạo là thành tựu nổi bật nhất về cách tiếp cận này
Tiếp cận theo hành vi
Kiểu tiếp cận này cho rằng hành vi của nhà lãnh đạo tác động đến các biến kết quả cuối cùng Cách tiếp cận này tập trung vào xem xét các hành vi mà nhà lãnh đạo trên cương vị công tác của mình và vai trò của nhà lãnh đạo Các nghiên cứu theo kiểu này cố gắng giải thích và phân biệt hành vi giữa nhà lãnh đạo thành công và không thành công Và những nghiên cứu gần đây xem xét sự tác động của giá trị và văn hóa dân tộc đến hành vi lãnh đạo Nguyễn Hữu Lam (2007), một vài nghiên cứu đặc trưng theo kiểu tiếp cận này, gồm: nghiên cứu của Kurt Lewin (1939) chỉ ra có
ba loại phong cách lãnh đạo: độc đoán, dân chủ và tự do; mô hình của Trường Đại học Bang Ohio (1950) cho rằng cho dù có nhiều hành vi lãnh đạo khác nhau nhưng chung quy có 2 nhóm hành vi độc lập là quan tâm đến công việc và quan tâm đến
Trang 12con người; mô hình của trường Đại học Michigan (1950) đã làm rõ hai khái niệm là
định hướng nhiệm vụ và định hướng quan hệ Ngoài ra, có nghiên cứu hệ thống
quản lý của Rensis Likert khám phá thể thức quản lý đạt sản lượng cao được mô tả
trên đường liên tục từ hệ thống 1 đến 4 Sơ đồ mạng lưới lãnh đạo, tập trung hai
khái niệm : nhấn mạnh việc thi hành bổn phận và nhấn mạnh tới sự phát triển các
mối quan hệ cá nhân
Tiếp cận theo ngẫu nhiên/tình huống
Theo cách tiếp cận này cho rằng không có phong cách lãnh đạo nào thành công
cho mọi tình huống Sự thành công của phong cách lãnh đạo áp dụng khi nó phù
hợp giữa phong cách lãnh đạo và tình huống áp dụng Theo Nguyễn Hữu Lam
(2007) cho rằng nhà lãnh đạo có thể lựa chọn một trong bảy hành vi lãnh đạo giữa
hai thái cực độc đoán và dân chủ Ngoài ra, có thuyết đường dẫn mục tiêu cho rằng
động viên nhân viên là con đường lãnh đạo hiệu quả Thuyết ngẫu nhiên cho rằng
có hai định hướng lãnh đạo : định hướng nhiệm vụ và định hướng quan hệ
Tiếp cận người lãnh đạo mới về chất
Cách tiếp cận này tập trung vào những năm 1970 đến 1990, khi thế giới đầy biến
động với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hóa diễn
ra mạnh mẽ Có hai quan điểm khác nhau để diễn đạt cho kiểu tiếp cận này là lãnh
đạo hấp dẫn và lãnh đạo mới về chất Tiêu biểu là thuyết lãnh đạo hấp dẫn của Max
Weber , nhà lãnh đạo hấp dẫn là một dạng ảnh hưởng không dựa trên quyền lực vị
trí hoặc truyền thống mà dựa trên nhận thức của người dưới quyền về người lãnh
đạo là : người lãnh đạo được phú cho những phẩm chất đặc biệt Theo Nguyễn Hữu
Lam (2007, trang 24), thuyết hấp dẫn trên giả định sức hấp dẫn phụ thuộc vào một
số yếu tố mang tính suy diễn của người dưới quyền đối với nhà lãnh đạo của mình
Nhà lãnh đạo mới về chất có tính bao quát hơn nhà lãnh đạo hấp dẫn, nhà lãnh đạo
mới về chất là không chỉ hấp dẫn, lôi cuốn người dưới quyền mà còn ảnh hưởng
mạnh mẽ tới họ và đưa họ đến mục tiêu cao cả hơn
2.1.4 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
2.1.4.1 Nhà lãnh đạo lý tưởng (implicit leadership) và nhà lãnh đạo tường minh (explicit leadership)
Michael H.Hugos (trích từ www.advice.cio.com, [Accessed 05 January 2012]) phát biểu rằng có hai loại lãnh đạo, một là kiểu phụ thuộc vào mệnh lệnh và
sự giám sát, loại khác là kiểu phụ thuộc vào mức độ huấn luyện và sự tín nhiệm Một loại ước tính mức độ kiểm soát, một loại ước tính khả năng đáp ứng công việc Kiểu lãnh đạo tường minh là kiểu lãnh đạo mà người có quyền chỉ thị cho mọi người làm việc và giám sát để đảm bảo mọi thứ diễn ra như được ra lệnh Đó là
sự lãnh đạo được cấu tạo nên bởi sự quan sát sâu rộng, ban hành mệnh lệnh, và can thiệp cá nhân vào rất nhiều chi tiết Người ta cần loại lãnh đạo này khi con người không biết phải làm gì Do sự chuẩn xác và dứt khoát, lãnh đạo tường minh luôn trông chờ mọi người lắng nghe và hành sự cẩn thận như được ra lệnh Với kiểu lãnh đạo này, Michael cũng cho rằng theo kinh nghiệm của ông thì kiểu lãnh đạo này chỉ
có tác dụng trong thời gian ngắn khoảng dưới 12 tháng Lãnh đạo kiểu này làm việc rất cần mẫn nhưng chỉ nhận được càng lúc càng ít phản hồi Mọi người trở nên lơ đễnh, thiếu suy nghĩ cho bản thân và không làm gì trừ khi được ra lệnh Như vậy là không phải sự uyển chuyển Lãnh đạo tường minh cũng như phúc lợi xã hội, nó cướp đi động cơ và sự chủ động của con người
Kiểu lãnh đạo còn lại là lãnh đạo lý tưởng (implicit leadership) Phong cách này được hình thành ở các lãnh đạo ít theo đuổi danh vọng, tìm kiếm sự đồng thuận,
và cống hiến tất cả cho người khác Họ rất rõ những gì bản thân muốn nhưng lại không nói mình sẽ đạt được bằng cách nào Họ dạy người của mình rất kĩ càng và chuyên cần rồi để mọi người tự do thực hiện những gì được yêu cầu Mọi người được tin tưởng để tự giải quyết vấn đề theo cách của họ Sự uyển chuyển là một cách làm việc, không phải là mốt thời trang Và lãnh đạo tiềm ẩn là tinh thần lãnh đạo tốt nhất cho các tổ chức về lâu dài Nó khởi đầu bằng việc định mức các mục tiêu rõ ràng và ổn định Các mục tiêu có ý nghĩa chính là tuyên bố của các dự tính,
Trang 13mô tả những gì mà tổ chức hướng tới Điều này không bao giờ thay đổi cho dù tổ
chức có gặp sự thay đổi mọi lúc mọi nơi
Một doanh nghiệp năng động là một doanh nghiệp có thể ứng biến tốt với sự
thay đổi của điều kiện môi trường bên ngoài Đối với môi trường kinh doanh cạnh
tranh năng động và không ngừng phát triển như hiện nay, nhân viên và doanh
nghiệp làm việc với nhau theo kiểu hợp tác Vì thế, nhân viên sẽ tự tìm cho mình
cách làm cho hiệu quả nhất mà không phải đợi chỉ đạo từ phía cấp trên Và điều này
cũng có thể thấy rõ nhận xét về sự cần thiết của kiểu lãnh đạo lý tưởng trong môi
trường kinh doanh năng động của Michael ở trên là hợp lý
2.1.4.2 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
Theo Tiffany K (1999), lý thuyết lãnh đạo lý tưởng giả định rằng có sự tồn
tại một cấu trúc khái niệm về lãnh đạo trong suy nghĩ của nhân viên Vì thế, việc
tìm ra những đánh giá của nhân viên về nhà lãnh đạo của mình chịu ảnh hưởng lớn
bởi lý thuyết lãnh đạo lý tưởng Đặc trưng của nhà lãnh đạo lý tưởng được tìm ra
dựa trên đặc điểm, phẩm chất cá nhân mà một nhân viên mong đợi có được từ nhà
lãnh đạo Các đặc điểm này cũng đại diện cho tiềm năng, xu hướng hành vi của một
con người và chúng tồn tại trong cấu trúc nhận thức của một con người Vì vậy, có
thể nói, mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng hình thành dựa trên nền tảng của cách tiếp
cận lãnh đạo về phẩm chất Trong nghiên cứu của Offermann và cộng sự (1994) đã
có bước đột phá khi nghiên cứu và chỉ ra được 08 nhân tố trong mô hình nhà lãnh
đạo lý tưởng theo nền văn hóa Mỹ Penny (2008) cho rằng kết quả mô hình nhà lãnh
đạo lý tưởng đã cung cấp một cấu trúc khái niệm nhằm phát triển cho các lý thuyết
lãnh đạo tường minh (explicit leadership) của hàng loạt các nghiên cứu về lãnh đạo
ở các nước khác sau đó, bao gồm Irac, Malaysia, Trung Quốc
Những thập kỷ sau đó, các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều nghiên cứu tập
trung khái quát, làm rõ và phát triển lý thuyết lãnh đạo lý tưởng trên nhiều khía
cạnh khác nhau của môi trường, đặc biệt là môi trường văn hóa, xã hội Chẳng hạn,
Anusuiya S và cộng sự (2009) cho rằng văn hóa có vai trò quan trọng ảnh hưởng
đến các đặc tính của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng Nghiên cứu hành vi lãnh đạo ở
Iraq và tìm thấy sự khác nhau trong cấu trúc các nhân tố của các đối tượng mẫu khảo sát giữa Iraq, Châu Âu và Mỹ Tiffany K (1999) cho rằng sự khác biệt văn hóa không chỉ tồn tại trong mục tiêu và giới hạn quyền lực của nhà lãnh đạo mà còn tồn tại trong phong cách lãnh đạo Với đại đa số các nghiên cứu trên đây đều cho thấy, đối với mỗi nền văn hóa khác nhau của các đối tượng mẫu khảo sát ở các quốc gia khác nhau thì sẽ tìm thấy các thành phần cấu thành nên mô hình lý thuyết lãnh đạo lý tưởng khác nhau Kết quả nghiên cứu của Ling và cộng sự (1989) cho rằng nếu có sự khác biệt này, sẽ làm tiền đề cho các cuộc thi tìm hiểu về hành vi lãnh đạo của Trung Quốc sau đó Cho đến tháng 12 năm 2000, nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã chứng minh cho lời phát biểu trên của Ling bằng việc cho ra kết quả nghiên cứu của mô hình lãnh đạo lý tưởng Trung Quốc gồm 04 nhân tố hoàn toàn khác so với mô hình lý thuyết của Offermann và cộng sự (1994) mà họ dựa vào, 04 nhân tố bao gồm: đạo đức cá nhân, hiệu quả mục tiêu, năng lực giao tiếp và đa tài
2.1.4.3 Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
a Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann và cộng sự (1994)
Trong cuộc khảo sát các nhân viên văn phòng đang làm việc tại Mỹ, Offermann (1994) đã có kết luận về mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng với 8 thành phần cơ bản, bao gồm : hấp dẫn, uy tín, cống hiến, thông minh, nam tính, mạnh mẽ, nhạy cảm và độc đoán Tám thành phần này được giải thích bởi 41 biến quan sát thể hiện vừa năng lực vừa phẩm chất đạo đức của nhà lãnh đạo Trong đó, thành phần hấp dẫn bao gồm 4 biến quan sát: ăn mặc đẹp, thu hút, ăn mặc lịch sự và nổi bậc trước đám đông vì sự ưu tú của nhà lãnh đạo; thành phần uy tín với 5 biến quan sát: nghị lực, có uy tín, truyền cảm hứng, nhiệt tình, năng động; thành phần cống hiến gồm 4 biến: cống hiến, tích cực theo hướng có mục đích, chăm chỉ, định hướng công việc theo mục tiêu ; thành phần thông minh với 6 biến quan sát : có trí tuệ, có học vấn, thông minh, thông thái, am tường mọi việc, khéo léo ; thành phần nam tính
có 2 biến quan sát : là nam giới và nam tính; thành phần nhạy cảm gồm có tám biến quan sát : biết thông cảm, dễ xúc động, có lòng thương xót, chân thành, trái tim
Trang 14nồng ấm, biết khoan dung, hiểu người khác và biết giúp đỡ; thành phần sức mạnh
với hai biến giải thích là có sức khỏe và dũng cảm; thành phần chuyên chế được
giải thích bởi 10 biến quan sát : độc đoán, huênh hoang, có sức ảnh hưởng lớn, khó
chịu, lôi kéo người khác, thèm khát quyền lực, kiêu ngạo, nói to tiếng, ích kỷ và đòi
hỏi khắt khe với công việc người khác
b Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Ling và cộng sự
(2000):
Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Ling và cộng sự (2000) gồm 4 thành
phần: đạo đức cá nhân, hiệu quả mục tiêu, năng lực giao tiếp và tính tháo vát Trong
đó, đạo đức cá nhân thể hiện qua các phẩm chất như trung thực, liêm khiết, kỷ luật
tự giác cao…; hiệu quả mục tiêu thể hiện qua các phẩm chất: có tầm nhìn xa trộng
rộng, kiên định, thạo việc, sắp xếp công việc khoa học…; năng lực giao tiếp thể
hiện qua: có kỹ năng giao tiếp xã hội, có sức thu hút, chín chắn…; tính tháo vát thể
hiện qua các phẩm chất như đa tài, hiểu biết tâm lý, có nhiều sở thích…
So sánh mô hình lý thuyết nhà lãnh đạo lý tưởng
Nhằm mục đích chọn ra mô hình tham khảo để kiểm định trong môi trường ngành
truyền thông , đề tài chọn ra hai mô hình nghiên cứu lớn về nhà lãnh đạo lý tưởng:
một là của tác giả của Offermann và cộng sự (1994), hai là của tác giả Ling và cộng
sự (2000) Bảng đối chiếu bên dưới thể hiện cho việc phân biệt nội dung so sánh hai
Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Ling và cộng sự (2000)
Môi trường văn hóa của đối
Các tiếp cận về lãnh đạo của
-Khảo sát sơ bộ với các nhà lãnh đạo
-Khảo sát chính thức với các nhân viên
Điểm nhấn mạnh của mô hình
Về năng lực và đạo đức cá nhân của nhà lãnh đạo
Nhấn mạnh đạo đức cá nhân của nhà lãnh đạo
Tính tham khảo của đề tài cho các nghiên cứu khác
Có tính tham khảo rộng tại nhiều quốc gia như Mexico, Malaysia, Iraq, Mỹ…
Được tham khảo rộng rãi tại Trung Quốc
Các thành phần của mô hình Mô hình gồm 8 thành phần:
hấp dẫn, uy tín, nam tính, nhạy cảm, cống hiến, độc đoán, mạnh mẽ và thông minh
Mô hình gồm 4 thành phần : đạo đức cá nhân, hiệu quả mục tiêu, năng lực giao tiếp
và tính tháo vát
Nhìn chung, mô hình của Ling nhấn mạnh vào phẩm chất đạo đức, còn mô hình của Offermann lại chú trọng đến hiệu quả và năng lực cá nhân Xét về văn hóa xã hội nói chung và văn hóa doanh nghiệp nói riêng của Việt Nam hiện nay, khi đánh giá một đối tượng nào đó, đều xem trọng đến cả hai khía cạnh vừa năng lực vừa phẩm chất đạo đức Tuy nhiên, để chọn ra người tài theo văn hóa Á Đông, đạo đức được chú trọng nhiều hơn
Dựa vào so sánh trên, có thể thấy mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann có ưu điểm hơn mô hình của Ling với các điểm sau : mô hình của Offermann có tính tham khảo rộng rãi và đã được sử dụng để kiểm định trên các nền văn hóa khác nhau, trong khi mô hình của Ling chỉ dùng tham khảo chủ yếu ở Trung Quốc Bên cạnh đó, các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann bao gồm khía cạnh đạo đức và năng lực cá nhân, điều này đủ để diễn đạt phẩm chất nhà lãnh đạo Ngoài ra, tại Việt Nam có Trần Kim Dung (2006) đã sử dụng mô hình của Ling kiểm định trong đề tài nghiên cứu về đặc điểm của nhà lãnh đạo ảnh hưởng đến danh tiếng của họ; trong khi đó, mô hình
Trang 15của Offermann vẫn chưa được sử dụng cho các đề tài nghiên cứu tại Việt Nam,
đặc biệt là ngành truyền thông Do đó, đề tài này chọn mô hình nhà lãnh đạo lý
tưởng của Offermann (1994) để kiểm định phẩm chất của nhà lãnh đạo trong
ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng ngành truyền thông
2.2.1 Giới thiệu về ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Từ năm 2000 đến nay, các ngành công nghệ thông tin, thiết kế sáng tạo, marketing
và truyền thông được xem là ngành “hot” tại Việt Nam Phương tiện truyền thông
tại Việt Nam có đủ bốn loại hình báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử Việt Nam
hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay hàng loạt trang tin điện
tử đã ra đời được xem là kênh truyền thông chiếm ưu thế nhất hiện nay Theo thống
kê của Sở thông tin truyền thông TP.Hồ Chí Minh (trích từ www.saga.vn/ [Truy
cập ngày 05 tháng 01 năm 2012]), tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó
có 178 báo và 528 tạp chí, có 67 đài phát thanh – truyền hình, gồm 3 đài phát thanh
truyền hình trung ương (VTV, VTC, VOV) và 64 đài phát thanh – truyền hình ở các
địa phương; 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài
và hàng ngàn trang thông tin điện tử xã hội khác
Theo nguồn thống kê của trang web điện tử Saga, loại hình quảng cáo chiếm
tỉ lệ lớn nhất trong các phương thức truyền thông, riêng quảng cáo trên tivi vẫn tăng
trưởng đến 75%, trên báo chí tăng 45%, ngoài trời tăng 49% năm 2011 Năm 2010,
ngành công nghiệp quảng cáo Việt Nam đạt doanh thu gần 1 tỷ USD Hiện có hơn
7.000 công ty quảng cáo, truyền thông, PR, tổ chức sự kiện với gần 100.000 lao
động, trong đó hơn 70% là những bạn trẻ tuổi dưới 30 tuổi Truyền thông là ngành
có cầu nhân lực cao nhất hiện nay Mức lương trung bình của người lao động ngành
quảng cáo từ 500 - 1.000 USD/tháng
Hiện nay, thị phần truyền thông tại Việt Nam đa số do các công ty nước
ngoài quản lý, với khoảng gần 30 đơn vị quảng cáo, chiếm 80% thị trường trong
nước, gồm JW Thompson, Mc Can, Sattchi, Densu với doanh số mỗi năm lên tới
5-7 tỷ USD, trong khi Đất Việt - công ty quảng cáo Việt Nam lớn nhất, mỗi năm
doanh số cũng chỉ khoảng 10-15 triệu USD Số lượng công ty truyền thông từ năm
2000 đến năm 2008 liên tục gia tăng, riêng doanh thu quảng cáo đạt mức tăng trưởng trung bình từ 30-35%/năm Tuy nhiên, so với các nước cùng khu vực như Thái Lan, Singapore, Indonesia, doanh thu quảng cáo của nước ta vẫn thấp hơn 2 đến 3 lần (theo ông Đỗ Kim Dũng phát biểu trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online)
Từ năm 2009 đến nay, doanh thu quảng cáo của nước ta liên tục giảm mạnh do chịu ảnh hưởng khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu Các công ty truyền thông trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ và làm đại lý cho các tập đoàn truyền thông nước ngoài hay các cơ quan thông tin được sự bảo trợ của nhà nước Sự chệnh lệch quá lớn cả về quy mô hoạt động, tiềm lực tài chính, năng lực sáng tạo, tính chuyên nghiệp giữa doanh nghiệp nước ngoài và các công ty quảng cáo trong nước khá rõ ràng
Chịu ảnh hưởng bởi khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, các hoạt động truyền thông từ năm 2009 tại Việt Nam liên tục cắt giảm Điều này là do các doanh nghiệp tập trung vào việc bán sản phẩm trực tiếp hơn là các hoạt động quảng bá rầm
rộ như trước đây Hoạt động truyền thông bị cắt giảm kéo theo tình trạng cắt giảm nhân sự hàng loạt đang diễn ra trong ngành khiến cho căng thẳng trong vấn đề giải quyết việc làm Nhân viên làm việc tại các công ty truyền thông có những đặc điểm sau: trẻ tuổi, năng động, học các chuyên ngành marketing hay quản trị kinh doanh, ngoại ngữ tốt và giao tiếp tốt Các công ty thường chọn người đã có kinh nghiệm làm việc từ các công ty truyền thông khác để làm việc Mọi người làm việc dựa trên
sự yêu thích và thể hiện khả năng của mình hơn là việc trọng lương thưởng và chế
Trang 16và hành động thường mang tính thông thoáng, mới lạ và độc đáo hơn lãnh đạo các
ngành khác
Theo kết quả thảo luận nhóm, tám thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý
tưởng của Offermann (1994) được điều chỉnh còn 7 thành phần, bao gồm : hấp dẫn,
cống hiến, nhạy cảm, mạnh mẽ, thông minh, uy tín và độc đoán Thành phần nam
tính được gộp vào thành phần mạnh mẽ theo sự nhất quán của tám nhà lãnh đạo
ngành truyền thông trong kết quả thảo luận nhóm Lý giải cho việc gọp 2 thành
phần này, các chuyên gia cho rằng tên thành phần mạnh mẽ đã đủ diễn đạt và mang
nghĩa bao hàm cho thành phần nam tính Nếu để thành phần nam tính độc lập, nó sẽ
bị trùng lấp Hai biến giải thích cho thành phần nam tính “là phái nam” và “mạnh
mẽ” Trong đó, biến “là phái nam” được các chuyên gia đánh giá không đủ để giải
thích cho sự mềm dẻo, uyển chuyển trong xử lý công việc của lãnh đạo là nữ giới
Nếu thay thế điều này bằng sự khéo léo sẽ gây ra sự trùng lấp với “khéo léo” thuộc
thành phần thông minh Biến thứ hai là “mạnh mẽ” được chuyển sang thành phần
mạnh mẽ để giải thích rõ ràng và đầy đủ hơn
2.2.2.1 Thành phần hấp dẫn
Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 44), sức thu hút/ hấp dẫn là việc tạo ra
một sự hấp dẫn mãnh liệt về xúc cảm đối với người dưới quyền Đối với các nhà
nghiên cứu thì sức thu hút này còn chưa rõ ràng, nhưng có thể kể ra vài đặc tính
biểu hiện của nó như: sức quyến rũ, sự nhiệt tình, khả năng thuyết phục, khả năng
gây ấn tượng…
Có nhiều thuyết nói về lãnh đạo hấp dẫn Theo Nguyễn Hữu Lam (2007,
trang 169-173) cho rằng một số đặc điểm thể hiện cho sự thu hút/hấp dẫn của nhà
lãnh đạo như : người dưới quyền tin rằng những niềm tin của nhà lãnh đạo là đúng
đắn, những tình cảm yêu thương, quý trọng của cấp dưới đối với lãnh đạo, người
lãnh đạo luôn làm gương cho người dưới quyền bằng những hành động mẫu mực
của mình…Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, 174-175) cho rằng: sức hấp dẫn luôn
được gán cho những người lãnh đạo biết hy sinh vì lợi ích của người dưới quyền, sự
tự tin trong giao tiếp và thông tin của nhà lãnh đạo cũng góp phần tăng sức thu hút của họ trước cấp dưới
Thu hút vừa được tạo ra từ phong thái bên ngoài, hay có thể tạo ra từ tiếng tăm và năng lực có sẵn của nhà lãnh đạo được Sức thu hút có thể làm tăng sự nể phục và tuân theo của cấp dưới dành cho nhà lãnh đạo Vì thế, nhà lãnh đạo cần xem đây là đặc điểm nền tảng mình cần có cũng như trau dồi nó tạo động lực tăng mức độ tín nhiệm và nể phục từ nhân viên
2.2.2.2 Thành phần uy tín
Trần Kim Dung (2005) cho rằng: uy tín là một khái niệm rộng và chưa được
đo lường một cách rõ ràng “20 năm sau quan sát của Tsui, uy tín lãnh đạo vẫn còn là hiện tượng hầu như chưa được khám phá” Uy tín cá nhân được định nghĩa là ‘‘sự xác định về nhận thức thể hiện sự kết hợp tổng hợp các phẩm chất cá nhân và các thành tựu nổi bật chứng tỏ hành vi, hình ảnh được thể hiện qua một số giai đoạn thời gian được quan sát trực tiếp hoặc được báo cáo từ nguồn thông tin thu thập được” Để làm rõ cho khái niệm này, Trần Kim Dung (2005) đã phát biểu rằng “uy tín lãnh đạo
là sự xác định về nhận thức của mọi người về người lãnh đạo, có tác dụng làm giảm những bất trắc liên quan đến các hành vi tương lai được mong đợi của vị lãnh đạo đó”
Uy tín là yếu tố khá quan trọng và cần thiết cho nhà lãnh đạo Uy tín là sức mạnh có khả năng chi phối, chinh phục người khác bằng sự tin cậy và tín nhiệm Trong bất kỳ mối quan hệ xã hội, uy tín giúp cho mối quan hệ giữa các bên trở nên bền vững hơn Khi nói đến uy tín, người ta sẽ nghĩ ngay đến việc giữ lời hứa và làm đúng với điều mình nói Đặc biệt, với những giao dịch kinh doanh lớn, uy tín là điều kiện quan trọng trong các quyết định lựa chọn đối tác kinh doanh Những người không có uy tín, hay phá vỡ thỏa thuận để theo đuổi lợi nhuận trước mắt, sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi thương trường Vì vậy, có thể khẳng định rằng uy tín là phần quan trọng và cần thiết đối với phẩm chất một nhà lãnh đạo
2.2.2.3 Thành phần cống hiến
Cống hiến là đóng góp những phần to lớn nhất của cá nhân vào sự nghiệp chung của một tổ chức hay tập thể Theo Offermann (1994), một nhà lãnh đạo được
Trang 17cho là có cống hiến trong công việc khi họ làm việc một cách chăm chỉ và tích cực
Bên cạnh đó, nhà lãnh đạo phải dành nhiều thời gian và toàn bộ tâm trí cho công
việc, đặt công việc lên trên lợi ích cá nhân và sắp xếp công việc theo định hướng
mục tiêu rõ ràng
Vì sao lãnh đạo phải cống hiến cho công việc nhiều như vậy? Câu trả lời có
thể vì mục tiêu hiệu quả công việc sẽ mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần cho bản
thân nhà lãnh đạo Hay cũng có thể do sở thích của nhà lãnh đạo mà không bị chi
phối bởi lợi ích cá nhân nào khác Cho dù vì bất kỳ mục tiêu nào thì cống hiến giúp
mang lại hiệu quả cao nhất cho công việc Cống hiến là một đặc tính tốt và cần thiết
cho nhà lãnh đạo để cấp dưới có thể noi gương và học hỏi
2.2.2.4 Thành phần thông minh
Trí thông minh không phải là một năng lực đơn độc, nó là sức mạnh tổng
hợp của nhiều loại năng lực Theo điều tra tâm lý và quan điểm của các nhà tâm lý
học Trung Quốc, trí thông minh bao gồm khả năng quan sát, khả năng của trí nhớ,
sức suy nghĩ, óc tưởng tượng, kỹ năng thực hành và sáng tạo Nguyễn Hữu Lam
(2007, trang 69) cho rằng thông minh là một trong những phẩm chất được lặp lại
trong nhiều nghiên cứu có tương quan chặt chẽ với vai trò của nhà lãnh đạo
Theo tổng kết của Nguyễn Thế Tuấn Anh (2012), để trở thành một nhà lãnh
đạo, trí thông minh là một trong những phẩm chất cần có nhưng không bắt buộc
phải có quá nhiều Với kết luận này, trí thông minh được cho rằng chỉ cần ở mức
trung bình trở lên là đủ Đây là lý do vì sao người Việt hay nhìn nhận sai về lãnh
đạo, hay đòi hỏi lãnh đạo phải là người thông minh nhất, IQ cao nhất, chuyên môn
phải giỏi nhất song thực tế lãnh đạo giỏi không cần những điều này Thông minh
mang tính bẩm sinh nhưng phải kết hợp với sự liều lĩnh mới cho kết quả tốt nhất
Một người thông minh sẽ giải quyết vấn đề nhanh và đúng hướng hơn những người
không thông minh Thông minh giúp người đó tiết kiệm nhiều thời gian và chi phí
2.2.2.5 Thành phần mạnh mẽ
Sức mạnh bao gồm sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần Sức mạnh thể
chất đo lường thể lực của một con người mạnh hay yếu Sức mạnh tinh thần biểu
hiện ở sự liều lĩnh, can đảm trong cuộc sống Giải thích này trùng khớp với kết quả giải thích về thành phần sức mạnh trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994)
Thời gian trước đây, các nhà lãnh đạo đa số là nam giới Nhưng càng về giai đoạn sau này, nữ giới cũng tham gia lãnh đạo trong nhiều lĩnh vực then chốt của đất nước Theo bài viết của Hà Nam, (trích từ www.vov.vn) cho rằng “gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam luôn có một Phó Chủ tịch nước là nữ Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25% Tỷ lệ đại biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ quan dân cử ở địa phương, như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 20,1% lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1%” Điều này đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương Sức mạnh thể chất có thể phụ nữ không bằng nam giới, tuy nhiên, sự tinh tế, khéo léo và uyển chuyển của nữ giới thường có phần trội hơn so với nam giới Một lãnh đạo có sức khỏe bền bĩ, có đầy dũng cảm khi đứng trước sóng gió của thương trường, người đó sẽ là chỗ dựa vững chắc để giúp tạo lòng tin và sức mạnh cho cả doanh nghiệp Vì vậy, sức mạnh của nhà lãnh đạo là phẩm chất không thể thiếu có tác động tích cực xây dựng nên một nhà lãnh đạo đầy tài năng và hoàn hảo
2.2.2.6 Thành phần nhạy cảm Nhạy cảm là việc nhận biết nhanh và tinh bằng giác quan và cảm tính Theo
mô hình của trường Đại học Ohio trích trong Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 105), nhạy cảm thuộc nhóm hành vi quan tâm tới con người Nhà lãnh đạo nhạy cảm được thể hiện qua: sự quan tâm đến người khác thông qua sự gần gũi, gắn bó, lắng nghe ý kiến nhân viên, hỗ trợ, giúp đỡ người dưới quyền ngày càng tiến bộ Theo nhiều nghiên cứu cho rằng, mặc dù phong cách quan tâm tới con người có mối tương quan thuận đến sự thỏa mãn người lao động, song việc quan tâm quá nhiều tới cả công việc và con người không phải luôn tạo ra kết quả tốt nhất
Trang 18Trong mối quan hệ giữa người với người, việc hiểu và thông cảm lẫn nhau sẽ
giúp duy trì mối quan hệ được lâu dài và bền vững Một nhà lãnh đạo quá nhạy cảm
sẽ gây ra tính cách ủy mị và thiếu quyết đoán Tuy nhiên, một người thiếu nhạy cảm
lại tạo ra môi trường làm việc căng thẳng và bất đồng Nhà lãnh đạo là cầu nối giữa
người với người, người với công việc trong một tổ chức Khi họ thể hiện sự nhạy
cảm ở mức độ hợp lý và đúng lúc, sự thỏa mãn sẽ nâng cao Thuộc những con
người Á Đông xem trọng cảm xúc nên thành phần nhạy cảm đóng vai trò rất quan
trọng khi xem xét phẩm chất đạo đức của một con người
2.2.2.7 Thành phần chuyên chế/độc đoán
Độc đoán là giải quyết việc gì đó theo ý riêng của mình, để đạt được những
điều mong muốn của bản thân bất chấp ảnh hưởng của người khác Theo Nguyễn
Hữu Lam (2007, trang 102), với kiểu lãnh đạo độc đoán, người lãnh đạo tập trung
mọi kiến thức, thông tin, quan hệ và mọi quyền lực trong tay mình Các quyết định
được đề ra nghiêm ngặt và buộc người dưới quyền phải thực thi mà không được
phản kháng
Công việc theo phong cách độc đoán được giải quyết một chiều theo hướng
từ trên xuống Ưu điểm của phong cách này là giúp công việc giải quyết nhanh
chóng và không tốn nhiều thời gian Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 103), lãnh
đạo kiểu này thường “không quan tâm đến ý kiến người dưới quyền, quyết định dựa
trên thông tin mình có sẵn nên hình thức lãnh đạo này không tận dụng được sáng
tạo và kinh nghiệm của cấp dưới”
Phong cách lãnh đạo độc đoán bản thân nó không phải là phong cách tốt hay
xấu Nhược điểm của nó là làm cho nhân viên bị cô lập và ít được hỗ trợ Hiệu quả
làm việc của nhân viên cao hơn khi có mặt lãnh đạo, khi được lãnh đạo chỉ việc
Không khí làm việc luôn căng thẳng, gây hấn Điều này có thể tạo nên sự đồng
thuận giả tạo của nhân viên với nhà lãnh đạo của mình
Ngành truyền thông có cách làm việc khá thông thoáng về thời gian nên kiểu
lãnh đạo dân chủ được áp dụng khá rộng rãi hơn là hình thức độc đoán Mối quan
hệ giữa cấp trên và cấp dưới là phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau Do đó, phong cách độc
đoán thường mang cảm giác khó chịu cho cấp dưới Nhân viên thường bất tuân khi thực hiện công việc Chính vì thế, có thể thấy độc đoán thường có mối tương quan nghịch chiều với sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên ngành truyền thông
2.3 Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
Theo Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) cho rằng “sự thỏa mãn công việc là mức
độ người nhân viên yêu thích công việc của họ Đó là thái độ dựa trên nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc” Nói về sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên, có hai khía cạnh là sự thỏa mãn chung và sự thỏa mãn theo các yêu tố thành phần trong công việc
• Sự thỏa mãn chung trong công việc
Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) tổng kết các định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc như bảng 2.3:
Bảng 2.3 Các định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc
Spector (1997) Việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc
của họ như thế nào
Kreitner và Kinicki (2007)
Chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình
Ellickson và Logsdon (2001)
Là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ
Vroom (1964) Là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với
công việc trong một tổ chức
Locke (1976) Là việc người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của
họ
Quinn & Staines (1979)
Là phản ứng tích cực đối với công việc,
Weiss (1967) Là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi
của người lao động
(Nguồn : Nguyễn Thị Kim Ánh, 2010)
Trang 19James L.Price (1997) cho rằng không có một định nghĩa rõ ràng về sự thỏa
mãn công việc Để hiểu được điều này, chỉ có thể đặt ra một câu hỏi là: Người ta
cảm thấy như thế nào về các công việc khác nhau? Và câu trả lời sẽ xếp thứ tự từ
thỏa mãn cao đến thấp Tác giả này cũng đưa ra được 18 biến quan sát với các mức
độ khác nhau về sự thỏa mãn chung trong công việc
Thang đo về sự thỏa mãn chung trong công việc
Theo Võ Thị Thiện Hải & Phạm Đức Kỳ (2009), có 03 biến đánh giá mức độ
hài lòng chung của nhân viên: (a) Nói chung, tôi cảm thấy hài lòng với công việc;
(b) Về tổng thể, tôi không thích công việc mình đang làm; (c) Về tổng thể, tôi thích
làm việc ở đây Độ tin cậy của thang đo được chứng minh thông qua rất nhiều
nghiên cứu, các nghiên cứu đều chỉ ra thang đo này có hệ số tương quan cao đối với
các biến công việc Theo tổng kết của Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) tìm thấy sự thỏa
mãn chung trong công việc gồm 4 biến quan sát: (1) Hài lòng khi làm việc ở Công
ty, (2) Giới thiệu với mọi người đây là nơi tốt nhất để làm việc, (3) Rất tự hào khi
làm việc ở Công ty, (4) Coi công ty như mái nhà thứ hai của mình
Sự thỏa mãn theo yếu tố thành phần công việc
Theo Nguyễn Thị Kim Ánh (2010), mức độ thỏa mãn thành phần hay khía
cạnh công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh
khác nhau trong công việc (bao gồm bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng
tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và tiền lương) của họ
Thang đo sự thỏa mãn thành phần trong công việc:
Bảng 2.4 Thống kê các thang đo sự thỏa mãn công việc của Scott Macdonald
và Peter MacIntyre (1997)
Tác giả Cross (1973)
Hackman &
Oldham (1975)
Khaleque &
Rahman (1987)
Scarpello &
Campbell (1983)
Smith et al
1969)
Yuzuk (1961)
Đặc điểm chính
- Môi trường làm việc -Lương -Thăng tiến -Bản chất công việc -Người giám sát -Đồng nghiệp
-Bảo đảm công việc -Lương -Địa vị xã hội -Sự giám sát -Sự phát triển
-Đồng nghiệp -Giờ giấc -Môi trường công việc -Sự công nhận -Sự bảo đảm -Đam mê nghề nghiệp -Quyền tự chủ -Quyền lợi -Thăng tiến -Giám sát
-Tính chất công việc -Kiểm soát công việc -Chất lượng môi trường công việc -Giám sát -Đồng nghiệp -Khen thưởng
-Công việc -Lương -Thăng tiến
- Giám sát -Đồng nghiệp
-Giao tiếp -Giờ giấc làm việc -Đồng nghiệp của nhân viên -Sự công nhận -Điều kiện làm việc -Nhân tố đánh giá khác Mẫu 431 công
nhân từ 4 nhà máy
658 công nhân ở 7 khu công nghiệp
và tổ chức dịch vụ
185 công nhân
từ 2 công ty nghiên cứu và phát triển
65 công nhân 1560 nhân
viên từ nhà máy đay ở Bangladesh
267 sinh viên, 80 nông dân, 80 nhân viên nam tại ngân hàng
(Nguồn : Scott Macdonald và Peter MacIntyre (1997))
Scott Macdonald và Peter MacIntyre (1997) cho rằng chỉ số mô tả công việc JDI, trong đó, thang đo về mức độ thỏa mãn theo yếu tố thành phần là chỉ số phổ biến được thế giới sử dụng trong nhiều nghiên cứu Theo chỉ số này, có 05 khía cạnh của thang đo: bản chất công việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương Tại Việt Nam, tác giả Trần Kim Dung (2005) đã bổ sung thêm 2
Trang 20thành phần là phúc lợi và môi trường làm việc Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) đánh
giá mức độ thỏa mãn của nhân viên gồm 07 thành phần: cơ hội đào tạo, mối quan
hệ cấp trên-cấp dưới, lương và thu nhập, đồng nghiệp, lãnh đạo, niềm tin và cơ hội
thăng tiến
Ý nghĩa của sự thỏa mãn thành phần trong công việc giúp cho nhà nghiên
cứu biết được khả năng tác động của từng thành phần cấu thành nên môi trường
công việc ít, nhiều hay không tác động đến sự thỏa mãn của người lao động Sự
thỏa mãn chung trong công việc nhằm thể hiện trạng thái cảm xúc chung của nhân
viên như hứng thú, phấn khởi, tự hào, hài lòng chung đối với công việc mình đang
làm Kết quả đo lường sự thỏa mãn chung giúp cho nhà nhiên cứu có thể thấy được
mức độ tác động của các yếu tố độc lập đến đánh giá tổng quan trong công việc của
người lao động Mục tiêu nghiên cứu sự thỏa mãn chung trong công việc nhằm mục
đích hướng đến điều chỉnh các yếu tố độc lập, còn mục tiêu nghiên cứu sự thỏa mãn
thành phần nhằm thay đổi mức độ của yếu tố phụ thuộc Đề tài này nhằm mục đích
xem xét mức độ tác động của các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
nên “sự thỏa mãn chung trong công việc” là phù hợp hơn để chọn làm biến phụ
thuộc trong mô hình nghiên cứu đề nghị
2.4 Mối liên hệ giữa mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và sự thỏa mãn công việc
của nhân viên
Kết quả nghiên cứu của Thomas W.Nichols (2008) đã chứng minh mối quan hệ
nhân quả giữa mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và hiệu quả lãnh đạo (trong đó có yếu
tố sự thỏa mãn công việc của nhân viên) Đối tượng khảo sát trong nghiên cứu về
mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann và cộng sự (1994), Ling và cộng sự
(2000) cũng như các quốc gia khác là các nhân viên Như đã trình bày ở trên, mô
hình nhà lãnh đạo lý tưởng được đánh giá và hình thành dựa trên giả định rằng có
một cấu trúc khái niệm đã tồn tại bên trong nhận thức của các nhân viên về lãnh
đạo Vì vậy, có thể thấy được sự thỏa mãn công việc là yếu tố kết quả tác động của
hành vi nhà lãnh đạo theo các phẩm chất trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng Với
những minh chứng này đã chứng minh sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
2.5 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
Mô hình nghiên cứu đề nghị gồm 7 biến độc lập thuộc mô hình nhà lãnh đạo
lý tưởng tác động đến biến phụ thuộc là “sự thỏa mãn chung trong công việc”
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu Các giả thuyết của đề tài nghiên cứu
H1: Mức độ hấp dẫn của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
H2: Mức độ cống hiến của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
H3: Mức độ uy tín của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Hấp dẫn Cống hiến
Uy tín Nhạy cảm Thông minh
Sự thỏa mãn chung trong công việc
H3(+) H4(+)
H1(+)
Trang 21H4: Mức độ nhạy cảm của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa
mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại
TP.Hồ Chí Minh
H5: Mức độ thông minh của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa
mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại
TP.Hồ Chí Minh
H6: Mức độ mạnh mẽ của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa
mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại
TP.Hồ Chí Minh
H7: Mức độ độc đoán của nhà lãnh đạo tương quan ngược chiều với mức độ thỏa
mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại
TP.Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Chương này trình bày các lý thuyết hình thành khái niệm mô hình nhà lãnh
đạo lý tưởng Bằng việc so sánh hai mô hình của Offermann và Ling, đề tài giải
thích và chọn mô hình của Offermann (1994) làm mô hình tham khảo để kiểm định
trong ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh Qua khảo sát sơ bộ, cho thấy rằng
hầu như không có sự khác biệt về thành phần cũng như thang đo trong mô hình nhà
lãnh đạo lý tưởng khi áp dụng kiểm định trong ngành truyền thông tại
TP.Hồ Chí Minh Thông quan mô hình nghiên cứu đề nghị, bảy giả thuyết tương
ứng thể hiện mối quan hệ giả định của 7 thành phần độc lập gồm: uy tín, nhạy cảm,
thông minh, cống hiến, mạnh mẽ, hấp dẫn và độc đoán đến biến phụ thuộc “sự thỏa
mãn trong công việc của nhân viên”
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Giới thiệu
Từ cơ sở lý thuyết, mô hình và giả thuyết nghiên cứu của Chương 2, Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xây dựng, đánh giá thang đo và kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu
chính thức Đối tượng được khảo sát của nghiên cứu là các cán bộ công nhân viên
đang làm việc trong ngành truyền thông Đối tượng khảo sát chủ yếu là phóng viên Báo chí và nhân viên phòng quảng cáo, phòng tổ chức sự kiện tại các công ty truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh Bước này được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 8 năm
2013
Nghiên cứu chính thức thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi Nghiên cứu này được thực hiện vào tháng 09 năm 2013 nhằm mục đích thu thập thông tin để kiểm định thang đo, giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Trang 223.1.2 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 : Quy trình nghiên cứu
(Nguồn : Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang, 2008)
Cơ sở lý thuyết Thang đo
nháp 1
Thảo luận nhóm, n=8
Điều chỉnh lại thang
đo và thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
Điều chỉnh giả thuyết
Thang đo và mô hình hoàn chỉnh
Định lượng chính thức (phỏng vấn trực tiếp, n=230)
Cronbach Alpha và EFA
Loại các biến có hệ số tương quan biến-tổng nhỏ
Kiểm tra hệ số alpha Loại các biến có trọng số EFA nhỏ
Kiểm tra yếu tố và phương sai trích được
Hồi quy bội: kiểm định mô hình và mối quan
hệ giữa các biến
Điều chỉnh nội dung thang đo phù hợp với đối tượng phỏng vấn
Điều chỉnh
Thang đo nháp 2
Nghiên cứu định lượng sơ bộ (n=100)
Mục tiêu
nghiên cứu
Bước 1 : Xây dựng thang đo
Quy trình xây dựng thang đo dựa vào qui trình của Nguyễn Đình Thọ - Nguyễn Thị Mai Trang (2008, trang 179) Thang đo của nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết
và thang đo mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994) và sự thỏa mãn công việc của nhân viên của Scott Macdonald và Peter MacIntyre (1997)
Bước 2 : Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính là bước đầu nhằm khám phá, bổ sung và điều chỉnh các khái niệm và thang đo trong mô hình nghiên cứu Bước này được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm 8 nhà lãnh đạo thuộc các đơn vị truyền thông, báo, đài truyền hình thuộc khu vực trung tâm của TP.Hồ Chí Minh (chi tiết về tên và chức vụ nêu
rõ trong phụ lục 1 – dàn bài thảo luận nhóm, trang E) Cuộc thảo luận được thực hiện trong 1 giờ với các câu hỏi mở được đặt ra nhằm khai thác và làm rõ các thang
đo cũng như các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Các chuyên gia sẽ thảo luận, bàn bạc và phỏng vấn viên sẽ ghi nhận, đúc kết câu trả lời cuối cùng cho từng biến quan sát Trước khi các nội dung chính được nêu ra, phỏng vấn viên trình bày rõ đặc điểm của nhà lãnh đạo cũng như sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý Tiếp đó, các thành phần và thang đo lường khái niệm được gợi ý rõ và cụ thể Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng bao gồm 7 thành phần: hấp dẫn, uy tín, thông minh, nhạy cảm, mạnh mẽ, cống hiến và độc đoán Thành phần nam tính với một biến được loại bỏ và một biến chuyển sang giải thích cho thành phần mạnh mẽ Điều này được các chuyên gia lý giải rằng “nam giới” là biểu tượng cho sự mạnh mẽ và khỏe mạnh, do đó, biến “có sức khỏe” của thành phần “mạnh mẽ” có nghĩa rộng và phù hợp hơn để có thể giải thích thay cho biến
“là phái nam” của thành phần nam giới trong ngành truyền thông Thảo luận về thành phần “Hấp dẫn”, các chuyên gia cho rằng “hấp dẫn” đến từ hai khía cạnh, một
là hấp dẫn từ vẻ bề ngoài, hai là hấp dẫn thể hiện từ năng lực vượt trội của nhà lãnh đạo Họ cho rằng, các nhà lãnh đạo ngành truyền thông có phong cách ăn mặc vừa trang trọng vừa độc đáo và đẹp Về thành phần “Cống hiến”, nhà lãnh đạo thể hiện qua các làm việc chăm chỉ và đặc biệt là biết sắp xếp công việc theo đúng mục tiêu
Trang 23chung của tổ chức Nói về sự cống hiến, điều này gây nhiều tranh luận khi phân biệt
giữa cách thức cống hiến giữa nhà lãnh đạo và sự cống hiến cho công việc của một
nhân viên thông thường Sự thông minh của nhà lãnh đạo được các chuyên gia cho
rằng các phầm chất thể hiện sự thông minh có được từ học hỏi của các nhà lãnh đạo
ngành truyền thông mạnh hơn các yếu tố thông minh bẩm sinh Điều này là do các
lãnh đạo trong ngành có cơ hội và điều kiện tiếp xúc rộng cả trong và ngoài nước
nên có thể học hỏi nhiều cách thức kinh doanh hay của các nước phát triển, đặc biệt
là công nghệ truyền thông của Mỹ, Anh, Pháp và Singapore Bàn luận về sự nhạy
cảm, nhà lãnh đạo cho rằng ít có điều kiện để thể hiện Trong đó, yếu tố “biết hài
hước đúng lúc” được khẳng định bởi đại đa số các chuyên gia, vì đây là nét đặc
trưng khi nhắc đến những người làm ngành truyền thông Về các thành phần uy tín,
mạnh mẽ và độc đoán, các chuyên gia đồng ý với các phẩm chất theo thang đo trong
mô hình của Offermann (1994) Về sự thỏa mãn chung trong công việc của nhân
viên, các chuyên gia nhận xét rằng có hai chiều hướng, một là ghét, hai là rất hài
lòng Trong đó, yếu tố “xem công ty như mái nhà thứ hai” và “rất vui mừng khi
chọn công ty này làm việc” được bổ sung vì nó thể hiện khác hơn cung bậc cảm xúc
của các nhân viên đang làm việc trong ngành Nhìn chung, để bàn về các phẩm chất
của một nhà lãnh đạo, các chuyên gia thống nhất còn nhiều hơn các đặc tính được
thống nhất trong phần thảo luận này, tuy nhiên, trong khuôn khổ của mô hình
nghiên cứu này, các phẩm chất diễn đạt trên là đủ và cần thiết
Bước 3 : Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Bước này nhằm mục đích xem xét sự hợp lý của các khái niệm trong mô
hình nghiên cứu trước khi thang đo được dùng trong nghiên cứu chính thức Sau khi
thang đo được hiệu chỉnh từ kết quả thảo luận nhóm, bảng câu hỏi được phát đến
trực tiếp cho đối tượng khảo sát Các bảng trả lời sau khi thu thập được làm sạch
bằng việc loại bỏ các bảng trả lời thiếu và sai 100 câu trả lời sau khi hiệu chỉnh
được đưa vào phần mềm thống kê SPSS 16.0 đề kiểm tra độ tin cậy Cronbach
Alpha Kết quả kiểm định cho thấy, các thành phần và thang đo đều đạt yêu cầu dựa
theo tiêu chí hệ số Cronbach Alpha của cả thang đo lớn hơn 0.5 và tương quan
biến-tổng lờn hơn 0.3 Vì vậy, các thành phần và thang đo này tiếp tục được sử dụng trong phần phân tích định lượng ở bước tiếp theo
Bước 4 : Nghiên cứu định lượng chính thức
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp cho 211 cán bộ công nhân viên ngành truyền thông Mục đích của bước này nhằm kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch và loại bỏ những câu trả lời điền thiếu thông tin Số liệu thu thập được xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Theo Nguyễn Đình Thọ-Nguyễn Thị Mai Trang (2008, trang 180), biến quan sát nào có hệ số Cronbach alpha <0.5 hay tương quan biến tổng (Corrected item total correlation) < 0.3 sẽ bị loại Với phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) yêu cầu phải lớn hơn 0.5; các biến quan sát có hệ số truyền tải (factors loading) <0.5 và khác biệt hệ số tải giữa hai nhân tố <0.3 sẽ bị loại Điểm dừng Eigenvalue >1 và tổng phương sai trích (Cumulative % Extraction Sums of Squared Loading) >50%) Dữ liệu phân tích nhân tố EFA dùng phương pháp trích
Principal Component Analysis với phép quay Varimax Các thang đo và khái niệm
sau khi được chọn từ kết quả phân tích nhân tố khám phá, bước phân tích hồi quy được thực hiện cuối cùng nhằm tìm ra phương trình hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu Phương trình hồi quy chấp nhận các biến có mức ý nghĩa Sig nhỏ hơn 0.05, hệ số beta thể hiện mức
độ tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc Trước khi tiến hành phân tích hồi quy, bước kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến và mối quan hệ tuyến tính giữa các biến trong mô hình để chứng minh mô hình hồi quy là phù hợp Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến dựa vào hệ số phóng đại phương sai VIF với điều kiện VIF<5 thì khẳng định không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra Nhằm tìm hiểu mối tương quan tuyến tính giữa các biến trong mô hình, đề tài sử dụng hệ số tương quan tuyến tính pearson correlation với r> 0.2 đến 1 sẽ thể hiện mức độ tương quan tăng dần
Trang 24giữa các biến Nếu r<0.2 thể hiện biến đó không có hoặc có rất ít tương quan với
biến phụ thuộc và biến này sẽ bị loại, không đưa vào phân tích hồi quy
Kết quả kiểm định Cronbach Alpha cho thấy 40 biến đều đạt yêu cầu về hệ
số tin cậy Kết quả phân tích nhân tố khám phá đã loại bỏ 8 biến quan sát do không
đạt tiêu chí quy định của phân tích Kiểm định tương quan tuyến tính thông qua hệ
số tương quan đã loại bỏ thành phần mạnh mẽ vì hệ số tương quan tất thấp Sáu
biến độc lập được đưa vào phân tích hồi quy và cho kết quả có bốn thành phần có
tác động đến sự thỏa mãn trong công việc, đó là : uy tín, nhạy cảm, thông minh và
cống hiến, tương ứng với bốn giả thuyết H2, H3, H4, H5 được chấp nhận
3.2 Mô tả mẫu nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là các nhân viên đang làm việc tại các công ty truyền
thông, báo chí thuộc các quận trung tâm như Quận 1, 3, 5, 10, Tân Bình, TP.Hồ Chí
Minh Mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Để có kết quả nhanh
chóng và chính xác, các bảng câu hỏi phỏng vấn được phát trực tiếp cho các nhân
viên tại các cơ quan truyền thông vào giờ nghỉ trưa Đây là thời gian thuận tiện để
các đối tượng khảo sát có đủ thời gian và tập trung cao độ để trả lời Số lượng bảng
câu hỏi phát và thu thập trực tiếp đạt 128 bảng Để có đủ số liệu thuận tiện cho việc
phân tích, các câu hỏi được chuyển thêm và thu thập bằng phỏng vấn bằng bảng câu
hỏi 102 bảng câu trả lời thu thập được từ hình thức khảo sát này Nguyễn Đình Thọ
và Nguyễn Thị Mai Trang (2008) cho rằng “chưa có nghiên cứu nào nói rõ kích
thước mẫu như thế nào là đủ”, có thể lấy kích thước mẫu tối thiểu là 5 mẫu cho một
biến quan sát Tùy thuộc vào phương pháp ước lượng để chọn mẫu Số lượng mẫu
tối thiểu cho phương pháp ước lượng ML từ 100-150 Đề tài này chọn 5 mẫu cho
một biến quan sát Vậy, theo bảng câu hỏi khảo sát chính thức, đề tài có 39 biến
quan sát, nên cần 39x5=195 mẫu Các câu trả lời được thu thập từ hai nguồn trực
tiếp và qua mạng internet với 230 bảng trả lời Các câu hỏi được hiệu chỉnh còn lại
211 bảng hoàn chỉnh được sử dụng chính thức trong phân tích thống kê bằng phần
mềm SPSS 16.0
3.3 Xây dựng và mã hóa thang đo
Dựa vào mô hình nghiên cứu đề nghị, thang đo các khái niệm nghiên cứu được xây dựng theo thang đo Likert 7 điểm, trong đó, mức 1: hoàn toàn phản đối, mức 2: phản đối, mức 3: hơi phản đối, mức 4: không phản đối cũng không đồng ý, mức 5: hơi đồng ý, mức 6: đồng ý, mức 7: hoàn toàn đồng ý Thang đo được mã hóa cụ thể như sau:
3.3.1 Thành phần “Hấp dẫn”
Thành phần “hấp dẫn” Theo ký hiệu là HD với bốn biến quan sát, ký hiệu lần lượt
là HD1 đến HD4, các biến này dùng để đo lường các yếu tố nói lên mức độ hấp dẫn của nhà lãnh đạo lý tưởng Sau khi thảo luận nhóm các chuyên gia, thang đo thành phần này được giữ nguyên theo thang đo gốc của Offermann và cộng sự (1994)
Thang đo thành phần hấp dẫn
HD1 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn ăn mặc trang trọng HD2 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn ăn mặc đẹp HD3 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn thu hút người khác bằng sự ưu tú của mình
HD4 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn thu hút người khác bằng phong cách bên ngoài
3.3.2 Thành phần “Cống hiến”
Thành phần cống hiến được mã hóa là CH với bốn biến quan sát lần lượt từ CH1 đến CH4 đo lường các yếu tố nói lên mức độ cống hiến của nhà lãnh đạo Dựa trên thang gốc của Offermann(1994) về thành phần cống hiến, thang đo thành phần
“cống hiến” của mô hình nghiên cứu được giữ nguyên sau kết quả thảo luận nhóm chuyên gia
Thang đo thành phần cống hiến
CH1 : Nhà lãnh đạo của tôi làm việc rất chăm chỉ CH2 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn hướng đến để đạt được mục tiêu công việc CH3 : Nhà lãnh đạo của tôi có động cơ để làm việc một cách tận tụy CH4 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn cống hiến hết mình vì công việc
3.3.3 Thành phần “Thông minh”
Thành phần “thông minh” được ký hiệu là TM gồm bảy biến được ký hiệu từ TM1 đến TM7 dùng để đo lường các yếu tố nói lên mức độ bản lĩnh của nhà lãnh đạo
Trang 25Thang đo thành phần này giữ nguyên thang đo gốc của Offemann (1994) Sau khi
thảo luận nhóm, kết quả bổ sung một biến quan sát mới “có khả năng sáng tạo”
Biến quan sát mới này thể hiện đặc trưng cho đặc điểm cần thiết khi làm việc trong
ngành truyền thông
Thang đo thành phần thông minh
TM1 : Nhà lãnh đạo của tôi là người có học vấn
TM2 : Nhà lãnh đạo của tôi là người thông minh
TM3 : Nhà lãnh đạo của tôi có hiểu biết rộng
TM4 : Nhà lãnh đạo của tôi là người khéo léo
TM5 : Nhà lãnh đạo của tôi là người thông thông thái
TM6 : Nhà lãnh đạo của tôi là người có trí tuệ
TM7 : Nhà lãnh đạo của tôi là người biết sáng tạo
3.3.4 Thành phần “Nhạy cảm”
Thang đo thành phần “Nhạy cảm” được ký hiệu NC được giải thích bởi tám biến
quan sát, ký hiệu từ NC1 đến NC8 dùng để đo lường mức độ nhạy cảm của nhà lãnh
đạo Thang đo dựa vào thang đo gốc về thành phần nhạy cảm của Offermann
(1994) Kết quả thảo luận nhóm bổ sung thêm 1 biến quan sát mới “biết hài hước
đúng lúc” Biến này thể hiện nét đặc trưng của các lãnh đạo ngành truyền thông như
là một cách thức giảm áp lực công việc
Thang đo thành phần nhạy cảm
NC1 : Nhà lãnh đạo của tôi là người dễ xúc động
NC2 : Nhà lãnh đạo của tôi biết thông cảm cho người khác
NC3 : Nhà lãnh đạo của tôi hay thương xót người khác
NC4 : Nhà lãnh đạo của tôi có trái tim nhân hậu
NC5 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn chân thành với mọi người
NC6 : Nhà lãnh đạo của tôi rất khoan dung
NC7 : Nhà lãnh đạo của tôi biết giúp đỡ người khác
NC8 : Nhà lãnh đạo của tôi biết hài hước đúng lúc
3.3.5 Thành phần “Uy tín”
Thang đo thành phần “Uy tín” được ký hiệu YT được giải thích bởi năm biến quan sát, ký hiệu từ YT1 đến YT5 Thang đo dựa vào thang đo gốc về thành phần “Uy tín” của Offermann (1994) với bốn biến quan sát được giữ nguyên là “có nghị lực”,
“làm đúng với điều mình nói”, “nhiệt tình”, “năng động” Theo kết quả thảo luận nhóm, biến “truyền cảm hứng” được thay đổi thành “được sự tín nhiệm của cấp dưới”
Thang đo thành phần uy tín
YT1 Nhà lãnh đạo của tôi có nghị lực trong cuộc sống YT2 Nhà lãnh đạo của tôi luôn làm đúng với điều mình nói YT3 Nhà lãnh đạo của tôi rất nhiệt tình trong công việc YT4 Nhà lãnh đạo của tôi rất năng động
YT5 Nhà lãnh đạo của tôi được sự tín nhiệm của cấp dưới
3.3.6 Thành phần “Mạnh mẽ”
Thang đo thành phần “Mạnh mẽ” được ký hiệu MM được giải thích bởi ba biến quan sát, ký hiệu từ MM1 đến MM3 dùng để đo lường mức độ mạnh mẽ của nhà lãnh đạo Thang đo dựa vào thang đo gốc về thành phần “mạnh mẽ” của Offermann (1994) với 2 biến “có đủ sức khỏe” và “dũng cảm” Theo kết quả thảo luận nhóm, một biến quan sát mới được bổ sung “có thể vượt qua khó khăn một cách nhanh chóng”
Trang 26Thang đo thành phần độc đoán
CC1 : Nhà lãnh đạo của tôi là người độc đoán
CC2 : Nhà lãnh đạo của tôi là người huênh hoang
CC3 : Nhà lãnh đạo của tôi thường áp đặt người khác theo suy nghĩ của mình
CC4 : Nhà lãnh đạo của tôi thường khó chịu với người khác
CC5 : Nhà lãnh đạo của tôi là người rất khao khát quyền lực
CC6 : Nhà lãnh đạo của tôi là người kiêu ngạo
CC7 : Nhà lãnh đạo của tôi thường nói lớn tiếng
CC8 : Nhà lãnh đạo của tôi là người ích kỷ
CC9 : Nhà lãnh đạo của tôi luôn đòi hỏi khắt khe với công việc người khác
3.3.8 “Sự thỏa mãn chung trong công việc”
Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên được ký hiệu là SAS gồm năm biến
quan sát SAS1 đến SAS5 nhằm đo lường các yếu tố nói lên lức độ thỏa mãn công
việc nói chung của nhân viên Tổng kết từ thang đo của Brayfield và Rothe (1951);
Nguyễn Thị Kim Ánh (2010), thang đo sự thỏa mãn chung trong công việc của đề
tài gồm năm biến quan sát giải thích phù hợp cho sự thỏa mãn của nhân viên đang
làm việc trong ngành truyền thông
Thang đo thành phần Sự thỏa mãn công việc của nhân viên
SAS1 : Công việc hiện tại phù hợp với sở thích cá nhân
SAS2 : Xem công ty như mái nhà thứ hai
àm việc SAS4 : Vui mừng khi chọn công ty này làm việc
SAS5 : Nhìn chung, tôi cảm thấy hài lòng với công việc tại công ty
Các biến thuộc về đặc điểm cá nhân, bao gồm: giới tính được quan tâm nhiều nhất,
trong đó, nữ chiếm đại đa số với gần 66%, bởi vì nam giới có mức độ cảm xúc
mạnh hơn nam giới trong cách cảm nhận về các phẩm chất của nhà lãnh đạo Ngoài
ra, bộ phần làm việc và qui mô doanh nghiệp cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả khảo
sát Với những bộ phận khác nhau, các yêu cầu về công việc sẽ có cách đánh giá
khác nhau và cách nhìn nhận về lãnh đạo sẽ khác nhau theo từng bộ phận Qui mô
doanh nghiệp càng lớn, các yêu cầu về năng lực và đạo đức càng cao Do đó, nó ảnh hưởng đến kết quả đánh giá và nhu cầu về các phầm chất nhà lãnh đạo sẽ khác biệt với doanh nghiệp nhỏ Điều này cũng khác biệt doanh nghiệp Nhà Nước và đơn vị
tư nhân
Tóm tắt
Chương này trình bày hai phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong đề tài Nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Kết quả thảo luận nhóm loại bỏ thành phần nam tính, mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của
đề tài còn 7 thành phần với ba mươi hai biến quan sát đóng vai trò là biến độc lập được đưa vào phân tích tác động đến thành phần “sự thỏa mãn trong công việc” với
5 biến quan sát
Trang 27CHƯƠNG 4:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Giới thiệu
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô
hình nghiên cứu Nội dung Chương 4 bao gồm các phần sau: (1) Đánh giá sơ bộ
thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha, (2) Phân tích nhân tố khám phá EFA
để có kết quả rút trích nhân tố độc lập của mô hình nghiên cứu, (3) Mô hình và giả
thuyết điều chỉnh theo kết quả phân tích thống kê, (4) Kiểm định các yếu tố của mô
hình nghiên cứu, (5) Kiểm định giả thuyết nghiên cứu qua kỹ thuật phân tích hồi
quy bội
4.1 Đánh giá sơ bộ thang đo
Thang đo mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng dựa vào thang đo của Offermann
(1994) Thang đo mới được hình thành sau kết quả thảo luận nhóm sẽ được sử dụng
trong bảng câu hỏi phỏng vấn nghiên cứu định lượng chính thức
Các biến quan sát được mã hóa trùng tên với khái niệm chính của nó cộng
thêm số thứ tự được xếp của biến quan sát trong khái niệm nghiên cứu Chẳng hạn
thành phần cống hiến được mã hóa là CH và biến quan sát “làm việc rất chăm chỉ”
xếp thứ tự đầu tiên nên được mã hóa thành trong CH1 trong dữ liệu phân tích Mẫu
được thu thập cho nghiên cứu định lượng bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện
Bảng tổng hợp về mẫu khảo sát trong bảng 4.1 :
Bảng 4.1 Bảng cơ cấu về mẫu nghiên cứu
PHÂN BỐ THEO ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN
Khác(giao nhận, kỹ thuật, truyền hình) 12 5.62%
4 Trình độ học vấn
PHÂN BỐ THEO ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP
6 Loại hình
sở hữu của Cty
Cơ quan báo đài trực thuộc nhà nước 44 20.71%
7 Qui mô Cty
Trang 284.1.1 Kết quả hệ số tin cậy Cronbach Alpha
Bảng 4.2 Cronbach Alpha của các khái niệm nghiên cứu
Biến quan sát Trung bình
thang đo nếu
loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Tương quan biến-tổng
Alpha nếu loại biến
4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Kết quả của phương pháp nhân tố được đánh giá qua hệ số KMO, hệ số truyền tải, sự khác biệt giữa hai nhân tố trở lên, Eigenvalue và tổng phương sai trích
Trang 29Bảng 4.3: Kết quả ma trận nhân tố với phép quay varimax
4.1.3 Đặt tên và giải thích nhân tố
Các biến quan sát sau khi được xử lý và loại bỏ phù hợp, các biến có hệ số truyền tải (factor loading) lớn nằm cùng trong một nhân tố sẽ là các biến giải thích cho chính nhân tố đó Kết quả sau khi phân tích nhân tố, có 07 nhân tố được rút trích và tên các nhân tố được giữ nguyên
4.2 Mô hình và giả thuyết điều chỉnh
Với mô hình ban đầu của Offermann và cộng sự (1994), các khái niệm và thang đo được phân tích trong buổi thảo luận nhóm tập trung của các chuyên gia là lãnh đạo ngành truyền thông 8 thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng được điều chỉnh còn 7 thành phần, bao gồm : uy tín, nhạy cảm, thông minh, cống hiến, mạnh mẽ, hấp dẫn và độc đoán Trong kết quả nghiên cứu định lượng bằng kỹ thuật phát bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp, các biến đều đạt độ tin cậy theo yêu cầu Ba mươi hai biến quan sát được rút trích thành 7 nhân tố theo đúng tên và thang đo nháp 2 Dựa vào kết quả phân tích nhân tố, mô hình và giả thuyết nghiên cứu được giữ nguyên với biến độc lập là bảy thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng tác động đến biến phụ thuộc là “sự thỏa mãn chung trong công việc”
Trang 304.3 Đo lường ảnh hưởng của các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình
Trước khi phân tích hồi quy, việc kiểm định mối quan hệ tương quan giữa
biến phụ thuộc và các biến độc lập, giữa các biến độc lập với nhau là điều cần thiết
Hệ số tương quan giữa các biến lớn chứng tỏ mối quan tương quan giữa chúng càng
cao và phân tích hồi quy mới phù hợp Hệ số tương quan Pearson Correlation thể
hiện mối quan hệ tương quan tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập,
cũng như mối quan hệ giữa các biến độc lập với nhau Gía trị tuyệt đối của hệ số
tương quan nằm trong khoảng -1 đến 1 Gía trị này càng gần đến 1 thể hiện mối
quan hệ tuyến tính càng cao, /r/ > 0.8 thể hiện mối quan hệ tuyến tính rất mạnh,
/r/ <0.2 thể hiện mối tương quan tuyến tính rất yếu hay không có tương quan Theo
kết quả phân tích cho thấy, mối quan hệ giữa các biến uy tín, nhạy cảm, thông minh,
cống hiến, mạnh mẽ, hấp dẫn, độc đoán và biến “sự thỏa mãn trong công việc của
nhân viên” có mối tương quan tương đối chặt chẽ Trong đó, biến uy tín và nhạy
cảm có mối tương quan mạnh nhất với sự thỏa mãn (hệ số tương quan pearson đạt
0.652), thấp nhất là thành phần mạnh mẽ với hệ số tương quan peason đạt 0.041
Thành phần mạnh mẽ có hệ số tương quan nhỏ 0.2 nên nó không có mối tương quan
đến biến phụ thuộc Vì vậy, thành phần này được loại bỏ
4.3.2 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy tuyến tính
Trong kỹ thuật phân tích hồi quy, việc kiểm định các giả định là cần thiết cho việc chấp nhận và diễn giải kết quả hồi quy để từ kết quả quan sát được có từ mẫu, ta sẽ
có thể kết luận suy rộng ra cho một tổng thể Nếu việc kiểm định các giả định bị vi phạm thì các kết quả ước lượng của mẫu không còn giá trị Vì vậy, để kết quả của phân tích có ý nghĩa suy rộng từ mẫu sang tổng thể, đề tài tiếp tục thực hiện bước kiểm định các giả định của mô hình hồi quy
Để không có hiện tượng đa cộng tuyến, ta tiến hành các kiểm định sau
thực hiện bước phân tích hồi quy tuyến tính, mô hình phải đảm bảo không có hiện tượng đa cộng tuyến, tức là phải có quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Vì “đa cộng tuyến khiến cho đánh giá của chúng ta về tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc có thể bị sai lệch” (Hoàng Trọng-Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008, trang 372)
Kiểm định không có hiện tượng đa cộng tuyến được nhận biết qua hệ số tương quan r và hệ số hiệu chỉnh R2
khá nhỏ, hệ số phóng đại phương sai VIF của các nhân tố từ 1.01 đến 2.1 (<5) nên đạt yêu cầu Có thể kết luận rằng không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra
Bảng 4.5: Kiểm định đa cộng tuyến
Mô hình
Hệ số hồi qui chưa chuẩn hóa
Hệ số chuẩn hóa
t
Mức ý nghĩa (Sig.)
Thống kê đa cộng tuyến
Trang 31Trong các biến trên không có hiện tượng đa cộng tuyến vì giá trị VIF nằm
trong khoảng nhỏ Tuy nhiên, ta thấy rằng, trong 6 biến độc lập trên, chỉ có 4 biến là
“nhạy cảm”, “uy tín”, “thông minh” và “cống hiến” có tác động có ý nghĩa thống kê
đến “sự thỏa mãn công việc” Hai nhân tố “hấp dẫn” và “độc đoán” không có tác
động mang ý nghĩa thống kê Từ đây cũng có thể khẳng định lại rằng hệ số hiệu
chỉnh trên chỉ ra rằng 56.1% phương sai của sự thỏa mãn trong công việc được giải
thích bởi 4 biến “nhạy cảm”, “uy tín”, “thông minh” và “cống hiến” trong mô hình
nhà lãnh đạo lý tưởng ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Phương sai phần dư không đổi
Phương sai phần dư thay đổi có thể không làm cho hệ số ước lượng hồi quy
không chênh lệch nhưng kết quả hồi quy không phải là đúng nhất vì nó chưa phải là
kết quả phù hợp nhất Với điều này làm cho việc kiểm định giả thuyết không còn
chất lượng nữa
Theo đồ thị phân tán Scatterplot (Phụ lục 3) ta thấy phần dư phân tán ngẫu
nhiên xung quanh đường đi qua tung độ 0 và không tạo ra một hình dáng cụ thể
nào Vậy, ta có thể khẳng định không có hiện tượng phương sai phần dư thay đổi
Phần dư có phân phối chuẩn
Qua biểu đồ Histogram (Phụ lục 3) ta thấy đường cong phân phối chuẩn
chồng lên trên biểu đồ tần số và được xem như phần dư phân phối gần chuẩn và giả
định phần dư có phân phối chuẩn không bị vi phạm
Hình 4.3 Đồ thị P-P plot
Theo biểu đồ P-P Plot (Phụ lục 3) ta thấy các điểm quan sát phân phối dọc
theo đường thẳng kỳ vọng nên có thể khẳng định một lần nữa về giải định phần dư
có phân phối chuẩn
4.4 Phân tích hồi quy bội
a Biến phụ thuộc: SAS
Phân tích hồi quy được thực hiện với 06 biến độc lập, bao gồm các biến: hấp dẫn, cống hiến, thông minh, uy tín, nhạy cảm, độc đoán và một biến phụ thuộc là “sự thỏa mãn trong công việc” Phương pháp enter được dùng để thực hiện phân tích mối quan hệ này Các biến có mức ý nghĩa < 0.05 thì được chọn Kết quả mô hình hồi quy được tóm tắt qua bảng 4.12:
Bảng 4.6 : Mô hình tóm tắt sử dụng phương pháp Enter
Model Summary b
Mô hình R R2
R2
hiệu chỉnh Ứơc lượng độ lệch chẩn Durbin-Watson
a Biến độc lập: HD, CH, NC, YT, TM, CC
b Biến phụ thuộc: SAS
Từ kết quả ta thấy rằng hệ số hiệu chỉnh R2=.561 tức là có khoảng 56.1% phương sai “sự thỏa mãn trong công việc” được giải thích bởi các biến độc lập Hằng số B nhỏ, không có ý nghĩa thống kê nên ta không đưa vào phương trình hồi quy
Vậy, phương trình hồi quy tuyến tính chuẩn hóa thể hiện mối quan hệ giữa mức độ thỏa mãn trong công việc với các yếu tố của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng như sau:
Sự thỏa mãn = 0.346 uy tín + 0.249 nhạy cảm + 0.182 thông minh + 0.154 cống hiến
Hình 4.1: Kết quả hồi quy
Sự thỏa mãn trong công việc
0.182(Sig=.0
0.154(Sig=.006)
Trang 32Giải thích phương trình hồi quy
- Khi các điều kiện khác không đổi, mức độ đánh giá yếu tố nhạy cảm của nhà
lãnh đạo lý tưởng tăng 1 đơn vị lệch chuẩn thì sự thỏa mãn của nhân viên
tăng 0.249 đơn vị lệch chuẩn
- Khi các điều kiện khác không đổi, mức độ đánh giá yếu tố uy tín của nhà
lãnh đạo lý tưởng tăng 1 đơn vị lệch chuẩn thì sự thỏa mãn của nhân viên
tăng 0.346 đơn vị lệch chuẩn
- Khi các điều kiện khác không đổi, mức độ đánh giá yếu tố thông minh của
nhà lãnh đạo lý tưởng tăng 1 đơn vị lệch chuẩn thì sự thỏa mãn của nhân
viên tăng 0.182 đơn vị lệch chuẩn
- Khi các điều kiện khác không đổi, mức độ đánh giá yếu tố bản cống hiến của
nhà lãnh đạo lý tưởng tăng 1 đơn vị lệch chuẩn thì sự thỏa mãn của nhân
viên tăng 0.154 đơn vị lệch chuẩn
4.5 Kiểm định giả thuyết
Giả thuyết H1:
Hệ số B = -.004, sig = 928 (>.05) giả thuyết H1 bị loại: Vì vậy, mức độ hấp
dẫn của nhà lãnh đạo không có mối tương quan với mức độ thỏa mãn chung trong
công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Giả thuyết H2:
Với hệ số B = 0.143, sig = 006, giả thuyết H2 được chấp nhận: Mức độ
cống hiến của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa mãn chung
trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Giả thuyết H3:
Với hệ số B = 0.377, sig = 000, giả thuyết H3 được chấp nhận: Mức độ uy
tín của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa mãn chung trong công
việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Giả thuyết H4:
Với hệ số B = 0.239, Sig = 000, giả thuyết H4 được chấp nhận: Mức độ nhạy cảm của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Giả thuyết H5:
Với hệ số B = 0.169, Sig = 001, giả thuyết H5 được chấp nhận: Mức độ thông minh của nhà lãnh đạo tương quan cùng chiều với mức độ thỏa mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Giả thuyết H6:
Thành phần mạnh mẽ có hệ số tương quan Pearson Correlation r = 0.041 thể hiện không có mối tương quan giữa với thành phần mạnh mẽ và biến phụ thuộc, giả thuyết H6 bị loại Vì vậy, Mức độ mạnh mẽ của nhà lãnh đạo không có mối tương quan với mức độ thỏa mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Giả thuyết H7:
Hệ số beta = 0.021, Sig = 732, giả thuyết H7 bị loại Như vậy, mức độ độc đoán của nhà lãnh đạo không có mối tương quan với mức độ thỏa mãn chung trong công việc theo cảm nhận của CBNV ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Trang 33CHƯƠNG 5:
KẾT LUẬN
Giới thiệu
Chương này trình bày tóm tắt các nội dung, kết quả và kết luận về nghiên cứu Dựa
trên cơ sở lý thuyết, sau khi sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định
lượng, kết quả phân tích hồi quy đưa ra phương trình hồi quy thể hiện mối quan hệ
giữa các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và sự thỏa mãn trong công
việc của nhân viên
Phần này trình bày 4 nội dung: (1) Tóm tắt nội dung nghiên cứu, (2) Tóm tắt
kết quả nghiên cứu, (3) Nhận xét, kết luận và giải pháp hoàn thiện, (4) Hạn chế của
đề tài và hướng đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo
5.1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu
Để kiểm định mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng trong ngành truyền thông tại
TP.Hồ Chí Minh, đề tài trước tiên so sánh sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý
Dựa vào việc phân biệt giữa nhà lãnh đạo tường minh và nhà lãnh đạo lý tưởng, đề
tài tiếp tục làm rõ cho khái niệm nhà lãnh đạo lý tưởng được sử dụng trong nghiên
cứu này
Với nhiều nghiên cứu về mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng trên thế giới, đề tài
lựa chọn 2 mô hình tiêu biểu của Offermann và cộng sự (1994) và của Ling và cộng
sự (2000) để so sánh Đề tài chọn mô hình của Offermann (1994) dùng để kiểm
định mô hình nghiên cứu trong ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Để giải thích biến phụ thuộc của mô hình, đề tài đã sử dụng các định nghĩa
về sự thỏa mãn thành phần và sự thỏa chung trong công việc Đề tài chỉ tập trung
kiểm định mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng nên chọn biến phụ thuộc là “sự thỏa
chung trong công việc của nhân viên” với 5 biến quan sát
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước:
Nghiên cứu sơ bộ: bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo luận nhóm 8 chuyên gia Nghiên cứu này
nhằm điều chỉnh mô hình ban đầu cho phù hợp với ngành truyền thông Kết quả mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng từ 8 nhân tố còn lại 7 nhân tố: hấp dẫn, cống hiến, thông minh, mạnh mẽ, uy tín, nhạy cảm và độc đoán Thành phần “nam tính” được loại
bỏ Nghiên cứu định lượng sơ bộ bằng kỹ thuật phát bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp cho 100 người Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha cho thấy các thang đo 7 thành phần trong nghiên cứu định tính đạt độ tin cậy
Nghiên cứu chính thức: bằng phương pháp định lượng thông qua việc phát bảng
câu hỏi phỏng vấn cho đối tượng cán bộ nhân viên làm việc trong ngành truyền thông với n=230 Dữ liệu được thu thập và xử lý qua phần mềm thống kê SPSS 16.0 Sau khi dữ liệu được làm sạch, được đưa vào kiểm tra độ tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định sự hội tụ của các biến thành phần khái niệm Cuối cùng, đề tài thực hiện các bước kiểm định mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và các giả thuyết nghiên cứu, cũng như phân tích hồi quy để kiểm định mô hình lý thuyết
5.2 Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Về thang đo các thành phần khái niệm
Bốn mươi biến thuộc thang đo 7 thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng được kiểm tra độ tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Trong đó, 8 biến gồm “thu hút người khác bằng phong cách bên ngoài” của thành phần “hấp dẫn”, biến “cống hiến hết mình vì công việc” của thành phần
“cống hiến”, biến “thông minh” và “có trí tuệ” của thành phần “thông minh”, biến
“dễ xúc động” và “có trái tim nhân hậu” của thành phần nhạy cảm, biến “kiêu ngạo”
và “ích kỷ” của thành phần độc đoán bị loại do khác biệt giữa hai nhân tố <0.3 Thang đo các thành phần mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng gồm tổng cộng 31 biến quan sát Thang đo“sự thỏa mãn trong công việc” gồm 5 biến quan sát được giữ nguyên theo kết quả thảo luận nhóm chuyên gia
Trang 34Về mô hình nghiên cứu
Dựa kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, mô hình nghiên cứu với 07
biến độc lập: uy tín, nhạy cảm, thông minh, cống hiến, mạnh mẽ, hấp dẫn, độc đoán
tác động đến “sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên”
Về kết quả nghiên cứu : Mô hình nghiên cứu đề nghị thể hiện sự tác động
của các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đến sự thỏa mãn trong
công việc của nhân viên Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có bốn nhân tố tác
động đến sự thỏa mãn công việc là “nhạy cảm”, “uy tín”, “thông minh”, “cống
hiến” tương đương với 4 giả thuyết H2, H3, H4, H5 được chấp nhận Trong đó, thứ
tự tác động từ cao đến thấp gồm: uy tín, nhạy cảm, thông minh và cống hiến
5.3 Nhận xét và kết luận
5.3.1 Nhân tố uy tín
Uy tín là thành phần quan trọng nhất có tác động cùng chiều đến sự thỏa mãn
trong công việc Theo kết quả thống kê, đây là thành phần được đánh giá cao nhất
với mức độ đồng ý chiếm đến 79% Trong đó, “nhiệt tình trong công việc” được
đánh giá cao nhất là 79.2% Điều này thể hiện rằng các lãnh đạo ngành truyền thông
làm việc với lòng đam mê và yêu thích công việc Tuy nhiên, “nghị lực trong cuộc
sống” của họ lại được đánh giá thấp nhất với tỉ lệ đồng ý là 68.6% Hầu hết các nhà
lãnh đạo luôn mang trong mình sứ mệnh to lớn của tổ chức nên họ thường thể hiện
là người mạnh mẽ và vững chãi trước công chúng
5.3.2 Nhân tố nhạy cảm
Mức độ nhạy cảm của nhà lãnh đạo hiện đang được đánh giá chưa cao Đây
là thành phần có tác động mạnh đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
ngành truyền thông Theo kết quả thống kê, mức độ nhạy cảm của nhà lãnh đạo
ngành truyền thông được nhân viên đánh giá khá thấp, với tỉ lệ không đồng ý chiếm
60% Trong đó, “dễ xúc động” chiếm cao nhất với 62% tỉ lệ đồng ý; 58% là tỉ lệ
đồng ý thấp nhất dành cho yếu tố “biết giúp đỡ người khác” của nhà lãnh đạo
Hiện nay, các nhân viên ngành truyền thông đang rất mong đợi ở lãnh đạo
của mình sẽ hỗ trợ và giúp đỡ hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống Tuy
nhiên, thực tế thì các nhà lãnh đạo đang tập trung cho việc xử lý khủng hoảng doanh nghiệp nên quên đi những chính sách nhằm thúc đẩy nhân viên như quan tâm, giúp
đỡ, chính sách hỗ trợ và thưởng phạt hợp lý Trong tình hình khủng hoảng như hiện nay, lãnh đạo tập trung cho các giải pháp nhằm đưa doanh nghiệp hoạt động ổn định, nhân viên lại có mối quan tâm về quyền lợi cá nhân bị ảnh hưởng Do vậy, nó tạo ra điểm đánh giá thấp từ phía nhân viên cho sự nhạy cảm của nhà lãnh đạo
5.3.3 Nhân tố thông minh
Thông minh được xem là yếu tố xếp vị trí quan trọng thứ ba tác động đến sự thỏa mãn chung trong công việc của nhân viên Theo kết qủa thống kê, sự thông minh của nhà lãnh đạo được đánh giá ở mức trung bình với tỉ lệ đồng ý chiếm 51% Trong đó, yếu tố “có học vấn” chiếm tỉ lệ đồng ý cao nhất 53%, “thông thái” chiếm
tỉ lệ đồng ý thấp nhất 43%
Tại Việt Nam, ngành truyền thông là ngành mới được đầu tư đào tạo kiến thức chuyên môn từ hai đến ba năm gần đây Các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp truyền thông được đào tạo kỹ năng chuyên sâu tại các quốc gia phát triển khác cũng như tích lũy nhiều kinh nghiệm trên thương trường Do đó, học vấn của lãnh đạo trong ngành được đánh giá cao là điều dễ thấy Tuy nhiên, do đặc trưng ngành nghề nên cách xử lý tình huống linh động, hợp thời điểm thường được các nhà lãnh đạo áp dụng hơn là cách thức xử lý theo nguyên tắc thiên về học thuật
5.3.4 Nhân tố cống hiến
Nói về sự cống hiến, các nhân viên ngành truyền thông đánh giá lãnh đạo của họ hiện nay có mức độ cống hiến chưa cao Lãnh đạo cũng được cho là đang tập trung vào các công việc mang tầm tổng quan hơn là làm các công việc mang tính chất chức năng thuần túy
Mức độ cống hiến cho công việc của lãnh đạo có tỉ lệ đồng ý chiếm hơn 50% Trong đó, yếu tố được đánh giá cao nhất là “sắp xếp công việc theo đúng mục tiêu” với 51.2% số người đồng ý, yếu tố “làm việc chăm chỉ” được đánh giá thấp nhất với 48% số người đồng ý
Trang 355.3.5 Các nhân tố “hấp dẫn”, “mạnh mẽ”, “độc đoán”
Đây là ba nhân tố không có tác động đến sự thỏa mãn công việc nhưng lại có
điểm đánh giá khá cao Trong đó, các nhà lãnh đạo ngành truyền thông được xem là
ăn mặc đẹp và khá trang trọng Họ là người có nhiều sức khỏe để sẵn sàng tham gia
các công việc đầy áp lực và đòi hỏi thời gian gấp rút Đặc biệt nhất, họ hoàn toàn
không phải là một nhà lãnh đạo ích kỷ nhưng lại thích áp đặt quyền lực của mình
lên người khác
Về sự hấp dẫn của nhà lãnh đạo, theo kết quả mô tả thống kê, số người đồng
ý rằng lãnh đạo của mình có đặc tính này chiếm 49.15%, trong đó yếu tố “ăn mặc
trang trọng” được đánh giá cao nhất với 58.3%; yếu tố “thu hút người khác bằng sự
ưu tú” chiếm tỉ lệ đồng ý thấp nhất 45.5% Truyền thông bao gồm các công việc
mang tính chất xã hội, kết hợp với việc chịu ảnh hưởng của xu hướng thời trang
nước ngoài tạo nên phong cách ăn mặc vừa đủ trang trọng và cũng không kém phần
tinh tế của lãnh đạo ngành Việc thể hiện sự hấp dẫn này ít hay nhiều sẽ giúp thể
hiện phong thái riêng cho nhà lãnh đạo mà không có tác động đến sự thỏa mãn
trong công việc của các nhân viên
Sự mạnh mẽ là một thành phần được đánh giá khá cao trong số các thành
phần thuộc mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng, với mức độ đồng ý chiếm đến 79%
Trong đó, 79.8% là mức độ đồng ý cao nhất dành cho yếu tố “có đủ sức khỏe” và
thấp nhất là yếu tố “có thể vượt qua khó khăn nhanh chóng” với tỉ lệ đồng ý 69%
Trong ngành truyền thông, công việc thường tập trung nhiều vào ngoài giờ hành
chính và ngày Lễ, do đó, các công việc sẽ được thực hiện liên tục trong ngày đến
khi hoàn tất Các nhà lãnh đạo là người chịu trách nhiệm giám sát tiến độ thực hiện
nên cần phải có đủ sức khỏe là điều kiện thiết yếu Với trách nhiệm của một nhà
lãnh đạo buộc họ phải có đủ sự dũng cảm để có thể lãnh đạo một tập thể nhiều
người, phải biết chấp nhận khó khăn để vượt qua khó khăn nhanh chóng Đây là yếu
tố không thể thiếu trong phẩm chất của nhà lãnh đạo Là một đặc tính cần có của
hầu hết các nhà lãnh đạo nên trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của ngành truyền
thông, yếu tố mạnh mẽ không thể hiện sự tác động của nó đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
Nói về sự độc đoán của nhà lãnh đạo, có 62% đồng ý lãnh đạo của mình là người “đòi hỏi khắt khe trong công việc người khác”, 48% số người đồng ý lãnh đạo của mình là người “ích kỷ” Các nhân viên ngành truyền thông cho rằng lãnh đạo của mình luôn đòi hỏi cao trong công việc Mỗi công việc được thực hiện tốt sẽ mang lại uy tín lâu dài cho doanh nghiệp đó, nên việc áp dụng kỷ luật nghiêm khắt trong quá trình thực hiện để công việc được đi đúng hướng và hiệu quả nhất Bởi vì những yêu cầu và biểu hiện độc đoán của nhà lãnh đạo này là cần thiết và giúp mang lại hiệu quả chung cho công việc nên việc duy trì mức độ độc đoán của nhà lãnh đạo ngành truyền thông hiện nay là hợp lý và không làm giảm đi mức độ thỏa mãn trong công việc của nhân viên
Theo kết quả phân tích hồi quy bội, ba thành phần mạnh mẽ, hấp dẫn, độc đoán không có tác động có ý nghĩa thống kê đến sự thỏa mãn trong công việc Nguyên nhân điều này có thể lý giải dựa vào thực tế ngành truyền thông Về sự hấp dẫn của nhà lãnh đạo, đối với các nhân viên truyền thông, ngành này đòi hỏi các lãnh đạo, quản lý và nhân viên đều phải thường xuyên tiếp xúc và giao dịch với đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, vì thế, việc ăn mặc đẹp và trang trọng là điều kiện cần không thể thiếu đối với người làm công tác truyền thông Do đó, việc hấp dẫn cũng như nổi bậc của nhà lãnh đạo ngành truyền thông là điều kiện căn bản mà bắt buộc các lãnh đạo phải tuân thủ theo nguyên tắc chung về thẩm mỹ của ngành Việc thể hiện yếu tố này tốt hay chưa tốt sẽ ảnh hưởng đến mức độ tự tin và thành công của nhà lãnh đạo và cũng tương đương là nó không ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên Về sự mạnh mẽ, đây là yếu tố cũng được xem như là nền tảng của bất kỳ nhà lãnh đạo nào trong việc thể hiện chức quyền và uy thế của một nhà lãnh đạo Riêng đối với ngành truyền thông, tất cả mọi người bất kỳ giới tính nào cũng luôn tự tin, mạnh mẽ và đầy nghị lực để có thể chịu áp lực cao trong công việc Và đối với sự độc đoán, nhà lãnh đạo ngành truyền thông luôn thường là người cuối cùng ra các quyết định thực hiện các dự án truyền thông và chịu trách