--ssss se sssss+ 36 2.3.2 Những ưu điểm và tồn tại của kiểm soát nội bộ trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố 2.4 DANH GIÁ KIỂM SOÁT
Trang 1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI
BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
1.1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ -cccccccc+vee 1
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của các lý thuyết kiểm soát nội bộ 1
1.1.2 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ theo COSO s-ccsccsrrerrsces 3
1.1.3 Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 3
In cố na 10
1.2NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10
1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại 10
1.2.2.2 Chức năng trung gian thanh toán . c5 ssssssssss sx 13
1.2.3 Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mạii - 14
1.2.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 15 1.3KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGAN
1.3.1 Mục tiêu kiểm soát nội bộ trong hoạt động Ngân hàng thương mại 16 1.3.2 _ Nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động Ngân hàng 17 1.3.2.1 Ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý nghiệp vụ 18 1.3.2.2 Bảo vệ ngân hàng trước những thất thoát tài sản có thể tránh L8 1.3.2.3 Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh - «+ 18 1.3.3 Những điểm đặc biệt trong thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng 18 1.3.4 Hệ thống các nguyên tắc về giám sát ngân hàng của ủy ban Basle 19 1.3.4.1 Các thành phần của Khung kiểm soát nội bộ theo Báo cáo Basle 19 1.3.4.2 Hệ thống các nguyên tắc theo Khung kiểm soát nội bộ ngân hàng
1.3.5 Kiểm soát nội bộ trong một số hoạt động chủ yếu của NHTM 23
1.3.5.3 Kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng ngân hàng và quản
lý rủi ro ngân hàng , s- ss vn 9111912139381 9111 0110111611181, 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ
Trang 22.3 NHUNG UU DIEM VA TON TAI CUA KIEM SOAT NOI BO TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MAI CO PHAN TREN
2.3.1 Đối tượng, mục đích, và phương pháp khảo sất ssss se sssss+ 36
2.3.2 Những ưu điểm và tồn tại của kiểm soát nội bộ trong hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố
2.4 DANH GIÁ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN -ccc.-zcrz 49
CHƯƠNG 3: MOT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT
NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 52
3.2MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 53
3.2.1 Nhóm giải pháp thứ nhất: Giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát 53
3.2.1.3 Về phía các ngân hàng thương mại cổ phần 2-2 sz= 58 3.2.2 Nhóm giải pháp thứ hai: Nhận dạng rủi ro và thiết lập các thủ tục kiểm soát hữu hiệu nhằm ngăn ngừa rủi ro và hạn chế các sai phạm trong hoạt
3.2.2.1 Các giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
trong việc ngăn ngừa, kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng 60 3.2.2.2 Giải pháp thực hiện quy trình kiểm soát tín dụng chặt chế nhằm
3.2.3.1 Các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống báo cáo tín dụng và hiệu
3.2.3.2 Các giải pháp nâng cao tính hiệu quả của hệ thống trao đổi thông tin
3.2.4 Nhóm giải pháp thứ tư: Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động giám
3.2.4.1 Định kỳ đánh giá một số vấn đề trọng yếU -.-. <<-<<s+ 72 3.2.4.2 Tăng cường cơ chế giấm sát và kiểm tra thông qua vai trò của ban giám sát cũng như ban kiểm toán, kiểm soát nội bộ và thực hiện nghiêm túc việc kiểm toán độc lập hàng năm - 5 «+ 73 3.2.4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng, hiện quả của bộ máy kiểm toán nội
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TÁT TRONG LUẬN VĂN
Ngân hàng thương mại cổ phần á châu
American Institute of Certified Public Accountants
Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
Back Office — Bộ phận tất toán, kiểm tra, hạch toán
Credit Information Center — Trung tâm thông tin tín dụng
Committee of Sponsoring Organizations — ủy ban tổ chức đồng bảo trợ
Control Objectives for Information and related Technology
Electronic Brokerage System — Hệ thống khớp lệnh điện tử
Financial Executive Institute — Hiệp hội quản trị viên tài chính
Eront Office — Bộ phận kinh doanh giao dịch
Institute of Internal Auditor — Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ
Kiểm soát nội bộ
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông - Oricombank
Return ơn asset ratio — Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
Return on equity ratio - Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
Return ơn revenue rafio — Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
Securities and Exchange Commission
DANH MUC CAC BANG
Bang 2.1: Thị phần huy động v6n cia hé thong NHTM .ccscsscsssssssssesesessersseeeeees 31 Bảng 2.2: Ước tính thực hiện một số chỉ tiêu trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn
Bảng 2.3: Ty trong thu lãi cho vay trên tổng thu nhập 39
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam 29
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
= Phu luc 1: Các loại rủi ro trong nghiệp vụ tín dụng ngân hàng
"Phụ lục 2: Giới thiệu sơ lược vẻ Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông và Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
"= Phụ lục 3: Dư nợ tín dụng — Huy động vốn — Doanh số cho vay
= _ Phụ lục 4: Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 41 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong
mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân đều chứa đựng v tiểm ẩn nhiều rủi ro Rủi
ro của hoạt động kinh doanh đã làm cho nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó
khăn có thể dẫn đến bị phá sản Vấn để đặt ra cho các doanh nghiệp là làm sao hạn
chế được rủi ro ở một giới hạn nhất định, điều đó không những làm cho doanh
nghiệp đứng vững được trên thương trường mà cồn có điều kiện để phát triển Vì vậy
việc thiết lập một cơ chế kiểm soát nội bộ hữu hiệu nhằm giảm thiểu và kiểm soát
rủi ro là rất cần thiết ở bất kỳ một doanh nghiệp nào
Đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại hoạt động trong
lĩnh vực tiền tệ —tín dụng, khả năng tiểm ẩn rủi ro càng lớn có thể làm ảnh hưởng
đến hoạt động của ngân hàng và cả nền kinh tế Do đó, nếu như hệ thống ngân hàng
được ví như “huyết mạch” của nên kinh tế thì cơ chế kiểm soát nội bộ được ví như
“thần kinh trung ương” của một ngân hàng thương mại
Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới —
WTO, đối với ngành ngân hàng Việt Nam việc hội nhập quốc tế sẽ mở ra nhiều cơ
hội để trao đổi, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạch định chính sách tiên tệ, để ra
biện pháp phòng ngừa rủiro nhưng thách thức đối với ngành ngân hàng là không
ít; Hệ thống ngân hàng Việt Nam phải chịu tác động mạnh của thị trường tài chính
thế giới, nhất là tỷ giá, lãi suất, dự trữ ngoại tệ, Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế sẽ
làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro hệ thống ngân hàng, trong khi cơ chế quản lý
của các ngân hàng nói chung chưa hoàn thiện, nhất là về thanh tra, giám sát Vì vậy,
việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động kinh doanh của cắc
NHTM Việt Nam nói chung và của NHTM cổ phần nói riêng là một yêu cầu bức
thiết và quan trọng để đảm bảo được các mục tiêu về kiểm soát nội bộ và giám sát
hiệu quả các hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại
2 Đối tượng và phạm vì nghiên cứu
Chí Minh, mà hoạt động đáng quan tâm là hoạt động tín dụng, vì hoạt động tín dụng được cơi là hoạt động chủ yếu, hoạt động tạo ra thu nhập với một tỷ trọng rất cao trong tổng thu nhập của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn
3 Mục tiêu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu với các mục đích như sau:
- _ Hệ thống hoá các lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng
- _ Khảo sát, đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các hoạt động chủ yếu tại ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là hoạt động tín dụng
- Trên cơ sở phân tích các ưu điểm và những vấn để tồn tại trong hệ thống kiểm soát nội bộ, tác giả để xuất một số các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mà chủ yếu là hoạt động tín dụng
4 Phương pháp luận nghiên cứu
- _ Nghiên cứu các lý thuyết và các thông lệ quốc tế về kiểm soát nội bộ
- _ Các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước có liên quan
- _ Nghiên cứu thực trạng kiểm soát nội bộ trong hoạt động kinh doanh của các
NHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở:
» - Sử dụng Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ để khảo sát thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông, Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
» Nghiên cứu tài liệu về quy trình kiểm soát hoạt động tín dụng, và các tài liệu khác có liên quan của một số Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa
`
bàn
Trang 5cổ phân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
hàng, Kiểm toán, Kế toán, tạp chí Kinh tế phát triển của các chuyên gia
trong lĩnh vực ngân hàng -tiên tệ, lĩnh vực kiểm toán 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong 03 Kiểm soát nội bộ (KSNBP) là công cụ chủ yếu để nhà quan lý thực hiện chức
- CHUONG 1: NHONG VAN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT chỗ được xem là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ được coi là một bộ
Khái niệm KSNB bất đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ XX trong các tài liệu về kiểm toán Năm 1929, KSNB được đề cập chinh thitc trong Federal Reserve Bulletin! như là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán
- CHUGNG 2: THUC TRANG HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
CAC NGAN HANG THUONG MAI CO PHAN TREN DIA BÀN THÀNH
- CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIEM khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động với một ý nghĩa rất đơn giản:
SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN các biện pháp nhằm bảo vệ tiên không bị nhân viên biển thủ
HÀNG THƯƠNG MAI TREN DIA BAN THANH PHO H6 CHi MINH Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và tổ chức nghề nghiệp kiểm toần
nội bộ đã xuất bản hàng loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn có liên quan đến việc tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán Các ấn phẩm này cũng đưa ra định nghĩa và các yếu tố của KSNB, kỹ thuật đánh giá các bộ phận của KSNB Đến giữa thập niên 1970, KSNB được quan tâm nhiều trong lnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, mà trọng tâm là cách thức cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ và tiếp cận KSNB trong kiểm toán Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977 được ban hành, cũng như các báo cáo của Cohen Commission và FEI đều để cập việc hoàn thiện hệ thống kế toán và hệ thống KSNB
Năm 1979, Ủy ban chứng khoán Hoa Ky (SEC) da tién xa hon Cohen Commission va FEI trong viéc dua ra điều luật bắt buộc các nhà quản trị báo cáo về
! Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ - tiền thân của chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ
Trang 6hệ thống KSNB, điều này cho thấy trách nhiệm của các nhà quản trị trong việc duy
trì một hệ thống kiểm soát nội bộ trong tổ chức Và cũng trong năm 1979, Hiệp hội
kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) thành lập ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm
soát nội bộ để hướng dẫn việc thiết lập và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Năm 1980, AICPA đã ban hành chuẩn mực vẻ đánh giá KSNB của kiểm toán
viên độc lập
Năm 1982, AICPA ban hành và sửa đổi hướng dẫn về trách nhiệm của kiểm toán
viên độc lập trong việc nghiên cứu và đánh giá KSNB khi kiểm toán báo cáo tài
chính
Năm 1983, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) cting ban hành chuẩn mực,
hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ vẻ bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên
liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá hệ thống KSNB
Năm 1985, Hội đồng Quốc gia về chống gian lận báo cáo tài chính, thường được
gọi là Ủy ban Treadway?, được thành lập nhằm khảo sát các nguyên nhân dẫn đến
việc gian lận báo cáo tài chính và tìm cách khắc phục Năm 1987, báo cáo của Hội
đồng có liên quan đến nhiêu tổ chức nghề nghiệp, đã đưa ra hàng loạt các vấn để về
KSNE, nhấn mạnh vai trò của môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, và các
vấn để có liên quan đến các ủy ban kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ
Và Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ COSO? thuộc Hội đồng quốc gia vé chống gian lận
báo cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, cụ thể là:
- _ Thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cẩu của các
đối tượng khác nhau
- _ Công bố đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá
hệ thống kiểm soát của họ và tìm giải pháp để hoàn thiện
? Ủy ban Treadway là Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính (National Commission
on Financial Reporting), dugc liên kết trách nhiệm bởi Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA),
Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA) American Accounting Associafion, Hiệp hội quản trị viên tài chính (FED,
Accountant; được thành lập, khảo sắt các nguyên nhân dẫn đến việc gian lận báo cáo tài chính và fìm cách
khắc phục
3 COSO — Committee of Sponsoring Organizations — là một ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về
Báo cáo COSO năm 1992 chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập một cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB Trên cơ sở Báo cáo COSO 1992, hàng loạt các nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời, chẳng hạn như:
- _ Phát triển theo hướng quản trị: năm 2001, COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp trên cơ sở Báo cáo COSO 1992
- _ Phát triển theo hướng công nghệ thông tin: năm 1996, báo cáo COBTT nhấn mạnh kiểm soát trong môi trường máy tính
- Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo cáo Basle 1998 của Ủy ban Basle° các Ngân hàng Trung ương đã công bố khuôn khổ KSNB trong ngân hàng Báo cáo Basle 1998 không đưa ra những lý luận mới mà là
sự vận dụng các lý luận cơ bản của COSO vào các ngân hàng
- _ Phát triển theo hướng quốc gia: COSO 1992 là một báo cáo của Hoa Kỳ, vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, điển hình như Báo cáo COCO 1995 của Canada, Báo cáo Turnbull 1999 của Anh Các báo cáo này không có sự khác biệt lớn so với Báo cáo COSO 1992
1.1.2 Định nghĩa về kiểm soát nội bộ theo COSO Theo báo cáo COSO 1992, KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- _ Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
- _ Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính
- _ Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định
1.1.3 Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ
4 Uy ban Basle về giám sát hoạt động Ngân hang (The Basel Committee on Banking Supervision) là một ủy Trung ương của nhớm G10, năm 1975 Ủy ban này bao gồm đại điện cao cấp của các cơ quan giám sát
Bản, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, và Hoa Kỳ nhằm nghiên cứu các hoạt
động giám sát và xây dựng các văn bản pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng Ủy ban tổ chức họp thường niên
Trang 7Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các
đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu
của từng nơi nhưng bất kỳ hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng phải bao gồm những
bộ phận cơ bản Theo quan điểm phổ biến hiện nay, kiểm soát nội bộ bao gồm năm
bộ phận: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát, Thông tin,
truyền thông; và Giám sát
1.1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ảnh sắc thái chung của một tổ chức, chi phối ý thức
kiểm soát của mọi thành viên trong tổ chức, và là nên tảng đối với các bộ phận khác
của KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu cho tổ chức Các nhân tố
chính thuộc về môi trường kiểm soát gồm:
¢ Tinh chính trực và giá trị đạo đức
Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc vào tính chính
trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến các quá
trình kiểm soát, Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng
những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản
không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp Các nhà
quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần
phải phổ biến những quy định đến mợi thành viên bằng các thể thức thích hợp
Để nâng cao tính chính trực và sự tôn trợng các giá trị đạo đức còn phải loại trừ
hoặc giảm thiểu những sức ép hoặc điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những
hành vi thiếu trung thực, chẳng hạn gian lận báo cáo tài chính có thể xuất phát từ
việc nhân viên bị ép buộc phải thực hiện những mục tiêu phi thực tế của nhà quản lý
Những hành động không đúng cũng có thể phát sinh khi quyền lợi của nhà quản lý
lại gắn chặt với số liệu báo cáo về thu nhập như các khoản thưởng trên lợi nhuận,
nghĩa là khi có phát sinh mâu thuẫn quyền lợi
“+ Đảm bảo năng lực
Đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và hiểu biết cần thiết để thực
hiện được nhiệm vụ của mình, nếu không chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm vụ được
giao không hữu hiệu và hiệu quả Do đó, nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân
viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao, và phải giám sát và huấn luyện họ đây đủ và thường xuyên
% Hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán
Ủy ban kiểm toán là ủy ban gồm một số thành viên trong và ngoài Hội đồng quản trị nhưng không tham gia vào việc điều hành đơn vị ủy ban kiểm toán có thể
có những đóng góp quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị, thông qua việc giấm sát sự tuân thủ pháp luật, giám sát việc lập báo cáo tài chính, giữ sự độc lập của kiểm toán nội bộ Do có các chức năng quan trọng trên, nên sự hữu hiệu của ủy ban Kiểm toán và Hội đồng Quản trị có ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát
Các nhân tố được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng Quản trị hoặc
Ủy ban Kiểm toán gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên trong Hội đồng Quản trị hoặc Ủy ban Kiểm toán, và mối quan hệ của họ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý Triết lý quản lý thể hiện quan điểm và nhận thức của nhà quản lý; Phong cách lãnh đạo thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của nhà quản lý khi điều hành đơn Nếu nhà quản lý cấp cao cho rằng KSNB là quan trọng thì những thành viên khác trong tổ chức cũng sẽ cảm nhận được điều đó và sẽ theo đó mà tận tâm xây dựng hệ thống KSNB Tỉnh thần này biểu hiện ra thành những quy định đạo đức ứng
xử trong đơn vị, chẳng hạn như việc thiết lập bộ phận kiểm toán nội bộ trong đơn vị thể hiện sự quan tâm của nhà quản lý đến KSNB
Ngược lại, nếu các thành viên trong tổ chức cho rằng KSNB không quan trọng, điều này có ngiña là nhà quản lý chưa quan tâm đúng mức đến KSNB Và KSNE chỉ
là hình thức chứ không có ý nghĩa thực sự, dẫn đến mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị không còn đạt được như mong muốn
* Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức thực chất là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị Cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều
Trang 8hành, kiểm soát và giám sắt các hoạt động; góp phần rất lớn trong việc đạt được các
mục tiêu của tổ chức
Xây dựng cơ cấu tổ chức phải xác định được các vị trí then chốt với quyền hạn,
trách nhiệm và các thể thức báo cáo cho phù hợp Cơ cấu tổ chức của một đơn vị
thường được mô tả qua sơ đồ tổ chức, trong đó phản ảnh các mối quan hệ về quyền
hạn, trách nhiệm và báo cáo
4% Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm
Phân định quyền hạn và trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ
chức; là cụ thể hoá về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạt
động của đơn vị, giúp cho mỗi thành viên phải hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và
từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người khác trong việc hoàn
thành mục tiêu Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hoá bằng văn
bản những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với
nhau
‹* Chính sách nhân sự
Chính sách nhân sự bao gồm sự tuyển dụng, huấn luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa
thải, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên
Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm
soát thông qua tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm
bảo về năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức Thí dụ, một chính sách
tuyển dụng dành ưu tiên cho những cá nhân có trình độ, kinh nghiệm, chính trực và
hạnh kiểm tốt sẽ là sự đảm bảo không những về năng lực mà còn về phẩm chất của
đội ngũ nhân viên
Mỗi cá nhân trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong KSNB Vì vậy, nhà lãnh
đạo cần thiết lập các chương trình động viên khuyến khích bằng các hình thức khen
thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động cụ thể Đồng thời, các
hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi vi phạm cũng cần được các nhà lãnh
đạo quan tâm
1.1.3.2 Đánh giá rủi ro
KSNE được thiết lập nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức đặt ra, tất cả các hoạt động diễn ra trong đơn vị đều có thể phát sinh những rủi ro và khó có thể kiểm soát tất cả Vì vậy, các nhà quản lý phải thận trọng khi xác định và phân tích những nhân
tố đe dọa đến mục tiêu của đơn vị
Việc phân tích đánh giá rủi ro nhằm thu hẹp vào những rủi ro chủ yếu Việc nhận dạng rủi ro chủ yếu hết sức quan trọng, không chỉ liên quan đến những đe dọa của rủi ro mà còn liên quan đến sự phân chia trách nhiệm và nguồn lực đối phó rủi
ro
Đánh giá rủi ro bao gồm quá trình nhận dạng và phân tích các rủi ro một cách thích hợp để đạt được mục tiêu của tổ chức và xác định biện pháp xử lý phù hợp 4» Nhận dạng rủi ro
Rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn đơn vị hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể Để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng các phương tiện dự báo, phân tích các dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động
s* Phân tích và đánh giá rủi ro Phân tích và đánh giá rủi ro là đánh giá tầm quan trọng của rủi ro, tác hại mà rủi
TO gây ra và khả năng xảy ra rủi ro
Rủi ro rất khó định lượng nên đây là một công việc khá phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau, tuy nhiên cần phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống, xây dựng tiêu chí đánh giá rủi ro, sắp xếp thứ tự ưu tiên của rủi ro, dựa vào đó nhà quản lý sẽ phân bổ nguồn lực để đối phó rủi ro
1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện nhằm giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hay
có thể gặp phải Một số các hoạt động kiểm soát nhằm đạt mục tiêu của tổ chức như sau:
¢ Phân chia trách nhiệm Phân chia trách nhiệm là không có phép một thành viên nắm giữ mợi mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc; không cho kiêm nhiệm các chức
Trang 9năng phê chuẩn, thực hiện, ghi chép nghiệp vụ và bảo quản tài sản Tuy nhiên, nếu
việc thông đồng giữa các nhân viên xảy ra thì điều này sẽ làm giảm hoặc phá hủy sự
hữu hiệu của KSNB
Mục đích của việc phân chia trách nhiệm nhằm để các nhân viên kiểm soát lẫn
nhau; nếu có sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng; đồng thời giảm cơ hội
cho bất kỳ thành viên nào trơng quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể gây ra và giấu
diém những sai phạm của mình
% Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ
Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ là kiểm tra tính xác thực,
đây đủ và việc phê chuẩn của nghiệp vụ nhằm có được thông tin đáng tin cậy
Khi kiểm soát quá trình xử lý thông tin, cần bảo đảm rằng phải kiểm soát chặt
chế hệ thống chứng từ, sổ sách; việc phê chuẩn các loại nghiệp vụ phải đúng đắn
% Kiểm soát vật chất
Kiểm soát vật chất được thực hiện cho các loại sổ sách và tài sản, kể cả những ấn
chỉ đã được đánh số trước nhưng chưa sử dụng; cũng như cần hạn chế sự tiếp cận với
các chương trình tin học và những hồ sơ đữ liệu
Chẳng hạn, tài sản có thể được kiểm soát bằng cách sử dụng tủ sắt, khóa, tường
Tào, lực lượng bảo vệ và chỉ những người được ủy quyền mới được phép tiếp cận
tài sản của đơn vị
Định kỳ, cần phải so sánh, đối chiếu giữa số sách kế toán và tài sản hiện có Nếu
có bất kỳ chênh lệch nào cũng cần phải điều tra và xem xét nguyên nhân, nhờ đó sẽ
phát hiện được những yếu kém về các thủ tục bảo vệ tài sản và sổ sách có liên quan
+ Kiểm tra
Kiểm tra được tiến hành bởi các cá nhân hoặc bộ phận khác độc lập với các cá
nhân hoặc bộ phận đang thực hiện nghiệp vụ Nhu cầu phải kiểm tra độc lập xuất
phát từ hệ thống kiểm soát nội bộ thường có khuynh hướng giảm sút tính hữu hiệu
trừ khi có một cơ chế thường xuyên kiểm tra soát xét lại Chẳng hạn, nhân viên có
thể quên hoặc vô ý không tuân thủ các thủ tục, hoặc bất cẩn trong công việc và cần
có người quan sát để đánh giá việc thực hiện công việc của họ
Vấn đề cần lưu ý trong kiểm tra là người kiểm tra phải độc lập với đối tượng được kiểm tra Sự hữu hiệu của hoạt động này sẽ mất đi nếu người thực hiện thẩm tra lại là nhân viên cấp dưới của người đã thực hiện nghiệp vụ, hoặc không độc lập
vì bất kỳ lý do gì
s* Phân tích soát xét việc thực hiện Xem xét lại những việc đã được thực hiện bằng cách so sánh số thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán, kỳ trước, và các đữ liệu khác có liên quan như những thong tin không có tính chất tài chính; đồng thời còn xem xét trong mối liên hệ với tổng thể để đánh giá quá trình thực hiện
Soát xét lại quá trình thực hiện giúp cho nhà quản lý biết được một cách tổng quất là mọi thành viên có fheo đuổi mục tiêu của đơn vị một cách hữu hiệu và hiệu quả hay không? Nhờ thường xuyên nghiên cứu về những vấn đề bất thường xảy ra trong quá trình thực hiện, nhà quản lý có thể thay đổi kịp thời chiến lược hoặc kế hoạch, hoặc có những điều chỉnh thích hợp
1.1.3.4 Thông tỉn và truyền thông Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm cả bên trong và bên ngoài đơn vị
+ Thông tin Điều kiện đầu tiên đảm bảo thông tin thích hợp và đáng tin cậy là thông tin phải được ghi chép kịp thời, phân loại đúng đắn các nghiệp vụ và sự kiện, được chuyển đi đưới những biểu mẫu và lộ trình bảo đảm nhân viên thực hiện chức năng trong KSNB Do đó, hệ thống KSNB đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ phải lập các chứng từ đầy đủ
Yêu cầu chất lượng của thông tin là thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện Thông fin được cung cấp thông qua hệ thống thông tin Hệ thống thông tin thích hợp phải tạo ra các báo cáo về hoạt động, tài chính, những vấn
đề tuân thủ hỗ trợ cho việc điền hành và kiểm soát những hoạt động
% Truyền thông
Trang 10Truyền thông là một phân của hệ thống thông tin nhưng được nêu ra để nhấn
mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin Truyền thông hữu hiệu là việc cung cấp
thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới hoặc từ cấp dưới lên cấp trên hoặc ngang hàng
giữa các bộ phận, thông tin xuyên suốt toàn bộ tổ chức
Mọi thành viên của tổ chức phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp nhận đầy đủ và
chính xác các chỉ thị từ cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với các thành viên khác và sử
dụng được những phương tiện truyền thông trong đơn vị Điều này được thực hiện
nhờ việc tổ chức các kênh thông tin hữu hiệu trong nội bộ
Ngoài ra, cũng cần có sự truyền thông hiệu quả từ bên ngoài tổ chức; chẳng hạn,
thông tin từ Nhà nước, cổ đông, khách hàng cũng cần được tiếp nhận và ghi nhận
một cách trung thực và đây đủ, nhờ đó đơn vị mới có thể có những phản ứng kịp
thời
1.1.3.5 Giám sát
Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng hoạt động của hệ
thống kiểm soát, được thực hiện thường xuyên, định kỳ, hoặc kết hợp cả hai
* Giám sát thường xuyên
Giám sát thường xuyên KSNB thiết lập cho những hoạt động thông thường và lặp
lại của tổ chức; bao gồm cả những hoạt động giám sát, quản lý thường xuyên công
việc hàng ngày của các nhân viên trong tổ chức
Hoạt động giám sát thường xuyên nhắm vào tất cả các yếu tố của kiểm soát nội
bộ, cung cấp các thông tin phản hồi về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ
% Giám sát định kỳ
Phạm vi và tần số giám sát định kỳ phụ thuộc vào mức độ rủi ro được kiểm soát
và tính hiệu lực của các thủ tục giám sát thường xuyên Giám sát định kỳ đánh giá
sự hữu hiệu của hệ thống KSNB
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng thương
mại
Trong lịch sử, ngành ngân hàng xuất hiện sớm ở Châu Âu, đặc biệt vào khoảng thế kỷ XIV đến thế ký XVIII khi những yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa phát sinh và phát triển tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực kinh doanh
Hoạt động của các ngân hàng sơ khai chủ yếu là bảo quản, giữ hộ tiền và đổi tiền hưởng hoa hồng Với sự phát triển của nghiệp vụ nhận tiền gởi và bảo quản vàng bạc cũng với việc sử dụng rộng rãi các phương tiện thanh toán thay thế cho tiền đã tạo nên lượng dự trữ tiển tệ ngày càng lớn, hình thành nguồn vốn, thúc đẩy các ngân hàng sơ khai mở rộng thêm hoạt động để sinh lời bằng cách cho vay, làm các địch
vụ thanh toán, và nhận chuyển tiền đó là sự kiện quan trọng nhất làm chuyển biến những tổ chức kinh doanh mang tính dịch vụ tiền tệ đơn thuần thành những tổ chức ngân hàng thực thụ
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn vốn tiền tệ trong hoạt động cho vay, các ngân hàng không chỉ tạo tín dụng trong phạm vi các khoản tiền khách hàng gởi, mà còn
mở rộng quan hệ tín dụng ngân hàng bằng việc đi vay để cho vay
Thời kỳ đầu, các ngân hàng đều có quyền tạo ra những tờ giấy bạc có hiệu lực pháp lý như nhau trong lưu thông Tình trạng được phát hành tiền ngân hàng bị lạm dụng Trong nền kinh tế của mỗi nước lúc bấy giờ có nhiều ngân hàng, mỗi ngân hàng phát hành giấy bạc của mình, làm cho trong nước có nhiều giấy bạc khác nhau, gây cần trở việc giao lưu và phát triển kinh tế Các Nhà nước bắt đầu can thiệp vào hoạt động ngân hàng để hạn chế việc phát hành, giới hạn quyên phát hành tiên về cho một số ngân hàng và cuối cùng là một ngân hàng duy nhất vào cuối thế kỷ XVII, những ngân hàng còn lại chỉ còn một quyền đó là vay và cho vay tiền tệ Như vậy, sau khi Chính phủ giới hạn quyền phát hành tiền về một ngân hàng vào cuối thế kỷ XVIII, khoảng cách giữa các ngân hàng bắt đầu phát sinh, đó là việc chỉ
có một ngân hàng duy nhất được phát hành tiền, trong khi những ngân hàng còn lại thì không Từ đó, hệ thống ngân hàng được phân chia thành hai loại: (1) Ngân hàng độc quyền phát hành tiền, gọi là Ngân hàng trung ương, hoàn toàn biệt lập với công chúng, mợi hoạt động đêu thông qua những định chế trung gian và Chính phủ để lan
ra công chúng: và (2) Ngân hàng thương mại làm nhiệm vụ những “trung gian tài chính” giữa những người cho vay và những người vay tiền trong nền kinh tế
Trang 11Ở Việt Nam, lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liên với
lịch sử phát triển của từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng Đất nước Căn
cứ vào những biến đổi quan trợng về tình hình và nhiệm vụ cách mạng cũng như về
chức năng, nhiệm vụ, và tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quá trình phát
triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có thể được chia làm bốn thời kỳ như sau:
(1) Thời kỳ năm 1951 - 1954; Trong thời kỳ này, Ngân hàng quốc gia Việt Nam
được thành lập và hoạt động tương đối độc lập trong hệ thống tài chính, thực hiên
trọng trách do Đảng và Nhà nước là: Phát hành giấy bạc ngân hàng, thu hồi giấy bạc
tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi,
thống nhất quản lý thu chi ngân sách; Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản
xuất, lưu thông hàng hoá, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền
tệ với địch
(2) Thời kỳ 1955 - 1975: Ngân hàng Quốc gia đã thực hiện những nhiệm vụ cơ bản
sau:
- Củng cố thị trường tiên tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tao
điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế
- Phát triển công tấc tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh
khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược: xây dựng nên kinh tế xã hội chủ nghĩa Miễn Bắc và giải phóng Miễn
Nam
(3) Thời kỳ 1975 - 19§5: Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh
giải phóng và thống nhất nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân hàng mới của
chính quyền cách mạng; tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả
nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam, Theo đó, Ngân
hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hoà (ở miền Nam) đã
được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng
thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền mới của
nước CHXHCN Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở cả hai miền Nam - Bắc vào
năm 1978 Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn
hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh
tiên tệ theo nguyên tắc thị trường Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng - chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80, và kéo dài cho tới ngày nay
(4) Thời kỳ 19§6_ đến nay: Thực hiện tách dân chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tién tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã được hình thành và hoàn thiện dần - Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp - Trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch rồi:
- _ Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương - là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền; Là ngân hàng của các ngân hàng và là Ngân hàng của Nhà nước; NHTW là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2
- _ Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín đụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện”
1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 1.2.2.1 Chức năng trung gian tín dụng Hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên chức năng trung gian tài chính là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng
Với chức năng này, NHTM làm cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn; thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành nên quỹ cho vay, đáp ứng mọi nhu cầu về vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cho các doanh nghiệp, cá nhân và ngay cả với ngân sách nhà nước
Trang 12Với chức năng này, NHTM đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho
vay
1.2.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
NHTM thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài
khoản tiền gởi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản
tiền gởi của khách hàng các khoản thu nhập theo lệnh của chủ tài khoản Với chức
năng này, NHTM không chỉ là người thủ quỹ, bảo quản tiền cho khách hàng mà còn
thực hiện thanh toán chuyển khoản, bù trừ giữa các khách hàng theo sự ủy nhiệm
của họ Qua đó, tạo điều kiện cho sự ra đời của tiền ghi sổ (bút tệ) cùng với các
phương tiện thanh toán như séc, giấy nhờ thu, thư tín dụng
Thực hiện chức năng này NHTM đã trực tiếp tiết kiệm một khoản chỉ phí lưu
thông cho xã hội như chỉ phí in ấn phẩm, bảo quản, vận chuyển tiền,
1.2.2.3 Chức năng tạo ra tiền ngân hàng
Quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và
thanh toán trong hệ thống ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chế với hệ thống Ngân
hàng Trung ương Đó là khả năng biến mức tiền gởi ban đầu tại một ngân hàng đầu
tiên nhận tiền gởi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các
nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều ngân hàng
Với chức năng này hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện
thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chỉ trả xã hội
1.2.3 Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Thực hiện các hoạt
động kinh doanh ở các lĩnh vực chủ yếu như hoạt động huy động vốn, hoạt động tín
dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác cung cấp các dịch vụ tài chính đa
dạng cho khách hàng
1.2.3.1 Huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của NHTM nhằm giải
quyết nguồn vốn để ngân hàng hoạt động Để huy động vốn, NHTM có thể thu hút
từ nhiều nguồn khác nhau, bằng các hình thức khác nhau như nhận tiền gởi, phát
hành các công cụ nợ, hoặc có thể vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, vay Ngân hàng Trung ương
1.2.3.2 Tín dụng và đầu tư Day là hoạt động kinh doanh mang lại phần lớn thu nhập, tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Hoạt động này đã thể hiện vai trò trung gian của NHTM; từ nguồn vốn tiền tệ tập trung qua hoạt động huy động vốn, NHTM cho vay và đầu tư để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế Hoạt động này bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, và hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh liên kết
1.2.3.3 Các hoạt động kinh doanh khác Bao gồm:
- _ Dịch vụ thanh toán: trong nước và quốc tế
- _ Dịch vụ trên thị trường chứng khoán như môi giới, bảo lãnh, phát hành chứng khoán
- _ Hoạt động kinh doanh ngoại hối
- _ Dịch vụ ủy thác và làm đại lý -_ Dịch vụ bảo lãnh
1.2.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn; là loại hình kinh doanh đặc thù Chất liệu kinh doanh chủ yếu của loại hình này là quyển sử dụng các khoản tiền tệ NHTM có những đặc điểm trong hoạt động kinh doanh sau: Ngân hàng vừa là người “cung cấp” đồng vốn, đồng thời cũng là người “tiêu thụ” đồng vốn của khách hàng Tất cả những hoạt dong “mua, bin” này thường thông qua một số công cụ và nghiệp vụ ngân hàng Ngân hàng kinh doanh tiền tệ chủ yếu không phải bằng vốn tự có, mà chủ yếu bằng vốn của những người gởi tiền qua vai trò trung gian tài chính, làm môi giới cho các nhà đầu tư và những người có tích lũy Thực hiện chức năng trung gian của mình, NHTM nằm trong tay một bộ phận lớn nhất của cải xã hội dưới dạng giá trị, nhưng không có quyền sở hữu chúng, mà chỉ
có quyền sử dụng với những điều kiện ràng buộc, đòi hỏi NHTM phải chịu trách nhiệm vật chất đối với những người chủ sở hữu thực của các tài sản này và sử dụng tài sản vốn đúng với điều kiện ràng buộc sao cho có hiệu quả nhất
Trang 13Là một doanh nghiệp đặc thù, hàng hoá mà các NHTM kinh doanh là tiền và các
giấy tờ có giá - một loại hàng đặc biệt bao gồm tiền tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá
quý, chứng khoán
Hoạt động của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hoạt
động thanh toán của mỗi quốc gia Điều này xuất phát từ việc ngân hàng thực hiện
ba chức năng cơ bản là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, và tạo tiền Các
ngân hàng đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ nên kinh tế vào
quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn
trong nên kinh tế, là một trong các chủ thể tham gia vào quá trình cung ứng tiền,
NHTM tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế,
Hoạt động của NHTM hết sức đa dạng, phong phú với phạm vi rộng lớn Điều
này thể hiện ở nguồn vốn của ngân hàng rất lớn, có nhiều chỉ nhánh, số lượng khách
hàng lớn, nghiệp vụ đa dạng nên hoạt động của ngân hàng liên quan trực tiếp đến
toàn xã hội từ các doanh nghiệp đến các tổ chức xã hội, các tầng lớp dân cư Tính xã
hội hóa của hoạt động ngân hàng ngày càng cao
1.3 KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CUA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Mục tiêu kiểm soát nội bộ trong hoạt động Ngân hàng thương
mại
KSNB là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và toàn
thể các nhân viên trong tổ chức Đây không đơn thuần là một thủ tục hay một chính
sách được thực thi tại một thời điểm nhất định mà là một quá trình có tính liên tục ở
mọi cấp của Ngân hàng
Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc có trách nhiệm tạo ra môi trường thuận lợi
nhằm làm cho KSNB hoạt động hữu hiệu và giấm sát thường xuyên hoạt động này;
bất cứ nhân viên nào của Ngân hàng đều phải tham gia vào quá trình này Điều này
nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây:
- _ Sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động
- Sutin cay, day đủ, và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị
- _ Sự tuân thủ luật pháp và các quy định có liên quan
Với mục tiêu thứ nhất, nhà quản lý ngân hàng mong muốn là chính sách mà họ đưa ra phải được đảm bảo về tính hiệu lực và hiệu quả nghĩa là đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng, kể cả nguồn nhân lực một cách tối ưu; đảm bảo
sự trung thực và độ tin cậy của các thông tin hoạt động của ngân hàng việc bảo vệ tài sản và thông tin của ngân hàng: đảm bảo việc bảo quản tài sản; thực hiện thành công các chính sách, hoàn thành các mục tiêu hoạt động của ngân hàng
Mục tiêu thứ hai, các nhà quản lý ngân hàng mong muốn là các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày theo đúng quy định của pháp luật Đây là một vấn
đề thuộc trách nhiệm của các nhà quản lý Nếu thông tin tài chính không trung thực, nhà quản lý có thể phải chịu trách nhiệm trước nhà nước hoặc các bên thứ ba về các tổn thất gây ra cho họ
Mục tiêu thứ ba, các nhà quản lý ngân hàng mong muốn là mợi hoạt động của ngân hàng phải được đảm bảo tuân thủ theo luật pháp và các quy định hiện hành Tính tuân thủ mà các nhà quản lý đòi hỏi ở đây bao gồm hai vấn đề lớn là tuân thủ luật pháp, quy định của nhà nước cũng như là chấp hành các chính sách thủ tục của đơn vị
Để thực hiện ba mục tiêu quản trị trên, về cơ bản các nhà quản lý cần phải thiết lập, thực hiện thường xuyên kiểm tra và đánh giá các chính sách, tiêu chuẩn và thủ tục này có thực hiện được những mục tiêu mong muốn hay không Như vậy quá trình thực hiện kiểm soát nội bộ được thực hiện qua các chính sách, tiêu chuẩn, và thủ tục được các nhà quản lý thiết lập tại đơn vị
Việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ vừa nêu không chỉ phụ thuộc vào nhà quản lý, mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi Hội đồng quản trị và các nhân viên khác trong đơn vị Hội đồng quản trị có thể tác động đến các chính sách và quan điểm kiểm soát cuả nhà quản lý Các nhân viên trong đơn vị chính là người thực hiện các thủ tục kiểm soát hàng ngày
Kiểm soát nội bộ được nhà quản lý thiết lập để điều hành mọi nhân viên, mọi loại hoạt động, và kiểm soát nội bộ không chỉ giới hạn trong chức năng tài chính và
kế toán mà phải kiểm soát mợi chức năng khác như về hành chính, quản lý sản xuất như vậy kiểm soát nội bộ không thể là hệ thống kỹ thuật đơn thuần, cũng