tuyển tập đề thi văn lớp 12 có đáp án và lời giải chính xác chi tiết rõ ràng .Đề thi số 1Câu 1: Vài nét ngắn gọn về bài thơ “Tâm tư trong tù” của nhà thơ Tố HữuCâu 2: Phân tích bốn dòn thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt hành” của tác giả Thâm TâmCâu 3: Phân tích bức chân dung vua bù nhìn Khải Định trong truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc.Bài làmCâu 1: Vài nét ngắn gọn về bài thơ “Tâm tư trong tù” của nhà thơ Tố HữuBài thơ “Tâm tư trong tù của nhà thơ Tố Hữu được sáng tác tại xà lim số 1 lao Thừa Thiên tháng 4 năm 1939. Đó cũng chính là những ngày đầu tác giả bị thực dân Pháp bắt giam.Bài thơ với thể thơ tự do, bố cục chặt chẽ, sáng tạo theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, hệ thống ngôn từ chọn lọc, bút pháp đối lập và rất nhiều động từ, điệp từ được nhắc đi nhắc lại, giọng thơ tha thiết, sôi nổi phù hợp với tâm trạng của nhân vật trữ tình
Trang 1Đề thi số 1 Câu 1: Vài nét ngắn gọn về bài thơ “Tâm tư trong tù” của nhà thơ Tố Hữu
Câu 2: Phân tích bốn dòn thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt
hành” của tác giả Thâm Tâm
Câu 3: Phân tích bức chân dung vua bù nhìn Khải Định trong truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc
Bài làm
Câu 1: Vài nét ngắn gọn về bài thơ “Tâm tư trong tù” của nhà thơ Tố Hữu
Bài thơ “Tâm tư trong tù của nhà thơ Tố Hữu được sáng tác tại xà lim
số 1 lao Thừa Thiên tháng 4 năm 1939 Đó cũng chính là những ngày đầu tác giả bị thực dân Pháp bắt giam
Bài thơ với thể thơ tự do, bố cục chặt chẽ, sáng tạo theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình, hệ thống ngôn từ chọn lọc, bút pháp đối lập và rất nhiều động từ, điệp từ được nhắc đi nhắc lại, giọng thơ tha thiết, sôi nổi phù hợp với tâm trạng của nhân vật trữ tình
“Tâm tư trong tù” thể hiện chân thực niềm khát khao tự do cháy bỏng.Cùng với đó là những suy nghĩ, những vận động của người thanh niên cộng sản lúc bị giam cầm Qua bài thơ người đọc cũng hiểu được tình cảm Cách
Trang 2mạng chân thành, bản lĩnh, ý chí sắt đá của người thanh niên cộng sản Tố Hữu với sự nghiệp Cách mạng của Đảng.
Câu 2: Phân tích bốn dòng thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt hành” của tác giả Thâm Tâm:
Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng sâu thẳm nhất tâm hồn của con người Và phải chăng cũng chính bởi những vần thơ xúc động của mình, nhà thơ Thâm Tâm của chúng ta đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc tự đáy con tim, tự sâu thẳm tâm hồn mình Đọc bài thơ “Tống Biệt Hành” của ông ta phần nào cảm nhận được điều đó mà bốn câu thơ mở đầu bài thơ tác giả đã gói trọn tất cả những cảm xúc nhớ thương lưu luyến trước kẻ ở người đi:
Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong
Với một dấu ấn phong cách nghệ thuật đặc sắc, nhà thơ Thâm Tâm đã đem đến cho người đọc những vần thơ tuyệt đẹp, giàu ý nghĩa Bằng chất giọng cứng cáp, chất thơ gồ ghề lãm liệt, phảng phất hơi thơ cổ, đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại, thơ Thâm Tâm đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc mà bài thơ “Tống biệt hành” của ông đã thể hiện rõ nhất điều ấy Có thể nói bốn câu thơ mở đầu bài thơ chính là những dòng thơ hay nhất, tiêu biểu nhất Nó như gói trọn tất cả những cảm xúc nhớthương của kẻ ở người đi qua khung cảnh tiễn đưa đầy lưu luyến Cảnh tiễn
Trang 3đưa ấy có cả thời gian, không gian, địa điểm nhưng dường như nó đượm chút mơ hồ, khó hiểu khiến cho khung cảnh tiễn đưa càng thêm lưu luyến.
Có cuộc chia ly nào mà không thấm đẫm những lưu luyến, bâng khuâng:
Chia ly bao cảnh thương đauNgười đi có hiểu nỗi đau lòng người
Song có lẽ chỉ có cuộc chia ly trong thơ Thâm Tâm là không chỉ thấm đượm lưu luyến bâng khuâng khó hiểu của thời đại mà bốn dòng thơ mở đầubài thơ “Tống biệt hành” đã cho ta thấy rõ điều đó Bằng khả năng sáng tạo đầy tài hoa nhà thơ đã tạo nên một câu thơ với bảy âm tiết toàn là vần bằng gieo vào long người đọc ấn tượng sâu sắc “Đưa người ta không đưa qua sông” Câu thơ với những hình ảnh, từ ngữ chọn lọc, giàu khả năng gợi hình tượng và hết sức độc đáo, nó đã tạo nên âm điệu dư ba, âm vang cho cả bài thơ Bên cạnh đó trong câu thơ tác giả còn sử dụng phủ định từ “không” để khẳng định Với phủ định từ “không” – “không đưa qua sông” tác giả đã giúp cho người đọc hiểu được cuộc chia ly ấy không diễn ra trên bến song nhưng nỗi nhớ thương lưu luyến đã cồn cào như những con sóng dâng lên trong long kẻ đi người ở Chính phủ định từ ấy cũng góp phần làm nên nét đặc sắc trong thơ Thâm Tâm Một lần nữa, nét đặc sắc ấy lại được thể hiện qua câu thơ thứ hai bài thơ với một câu hỏi tu từ sinh động: “Sao có tiếng sóng ở trong lòng” Hình ảnh “sóng lòng” được nhà thơ sử dụng trong câu thơ thật sáng tạo “Sóng lòng” – đó là tiếng sóng ở trong lòng chứ không phải sóng ở lòng sông Đó là một con sóng đặc biệt, con sóng chỉ tâm trạng
Trang 4Trong thơ xưa các thi nhân cũng đã nhiều lần mượn hình ảnh con sóng để gửi tâm trạng, nỗi lòng, như Huy Cận đã gửi nỗi lòng qua:
Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Hay có một nhà thơ cũng đã từng gửi nỗi lòng của mình:
Biết không cô hỡi biết không
Chèo cô còn quẫy, sóng lòng còn xao
Đó là những hiện thực có thật gợi lên tâm trạng Nhưng nay trong thơ Thâm Tâm, nhà thơ cũng dùng hình ảnh “con sóng” để gửi tâm trạng nhưng đây là con sóng trừu tượng, con sóng của nội tâm, con sóng lòng” Nó khiến cho câu thơ trở nên mơ hồ, khó hiểu và hết sức ấn tượng với người đọc:”sao
có tiếng sóng ở trong lòng” Câu thơ đọc lên nghe như một nghịch lý, bởi lẽ không có sông mà lại có song Nhưng tiếng sóng ở đây là tiếng “sóng lòng” của nhân vật trữ tình, tiếng sóng của những nhớ thương thổn thức, của những lưu luyến bâng khuâng
“Chất thơ chưa chắc đã là nghệ thuật nhưng đã là nghệ thuật thì khôngthể thiếu chất thơ” Phải chăng chính chất thơ gồ ghề lẫm liệt, phảng phất hơi thơ cổ kia mà nhà thơ Thâm Tâm đã tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo của riêng ông Phong cách độc đáo ấy cũng phần nào được thể hiện qua câu thơ thứ ba bài thơ:
“Bóng chiều không thắm không vàng vọt”
Để miêu tả khung cảnh của buổi tiễn đưa, nhà thơ đã liên tiếp dùng hai phủ định từ “không” trong một câu thơ Những phủ định từ ấy lại được đặt bên cạnh những tính từ chỉ màu sắc: “thắm”; “vàng vọt” khiến cho câu thơ có khả năng gợi hình tượng rất cao Phải chăng bằng cách dùng từ ấy tácgiả đã khẳng định buổi chiều tiễn đưa này là một buổi hoàng hôn bình
Trang 5thường như bao buổi hoàng hôn khác Nhưng cách miêu tả đặc sắc cùng với ngòi bút tài hoa của nhà thơ trong cách dùng từ và những phủ định từ đầy sáng tạo, tác giả đã tạo nên một buổi chiều tiễn đưa đầy ấn tượng Đọc câu thơ thứ tư của bài thơ ta càng thấy rõ hơn điều đó qua cách sử dụng từ ngữ rất độc đáo của tác giả:
“ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”
Xưa nay khi nhắc tới hoàng hôn người ta thường gợi nên nỗi buồn, nỗi chống vắng, cô đơn Cũng dung “hoàng hôn” để diễn tả nỗi buồn nhưng có
lẽ nỗi buồn trong thơ của Thâm Tâm là da diết hơn cả Không hề nói tới nỗi buồn nhưng nhà thơ dường như gieo vào lòng người đọc những nỗi buồn thương da diết qua cách sử dụng từ ngữ hết sức độc đáo Nhà thơ đã sử dụnghai từ “trong” trong một câu thơ với hai ý nghĩa sắc thái khác nhau Có lẽ từ
“trong” thứ nhất là từ chỉ vị trí và từ “trong” thứ hai là một tính từ biểu hiện của ánh mắt Nhà thơ muốn khẳng định có một ánh mắt trong trẻo, thánh thiện đang dõi theo người đi với đầy những nhớ thương lưu luyến Với câu thơ thứ tư, một lần nữa nhà thơ dùng câu hỏi tu từ để khẳng định nỗi buồn của cuộc chia ly
Đọc bốn dòng thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt hành” của nhà thơ ThâmTâm ta thấy được với những hình ảnh ngôn từ quen thuộc, khả năng diễn đạtsáng tạo, tài hoa kết hợp với khả năng am hiểu sâu sắc tâm lý nhân vật, nhà thơ đã diễn tả thành công một khung cảnh tiễn đưa đầy lưu luyến Cảnh tiễn đưa ấy phút chốc cứ như mơ như thực Nó làm nên không khí bâng khuâng khó hiểu của thời đại Chính điều này đã làm cho những vần thơ của Thâm Tâm để lại trong lòng người đọc những ấn tượng vô cùng độc đáo
Trang 6Khi đọc những dòng thơ mở đầu bài thơ “Tống biệt hành”, có người
đã nhận xét: “Chính bằng cách sử dụng những phủ định từ và những từ để hỏi “sao”, “sao” để khẳng định, nhà thơ Thâm Tâm đã tạo ra được trong những dòng thơ của ông chút âm vang, vừa mơ hồ, vừa tinh tế, làm nên những cảm xúc khó quên trong long người đọc
“Thơ là xuất khẩu từ trong lòng người ta” Có lẽ chính vì thế mà qua những dòng thơ mở đầu bài thơ ngắn gọn ấy người đọc như nhận thấy được tấm lòng của nhà thơ cũng như ngưng đọng lại ở bốn dòng thơ ấy Đó là nỗi nhớ thương lưu luyến ngập tràn Và cùng với thời gian, Thâm Tâm luôn sống mãi trong thi nhân Việt Nam, trong lòng người đọc và vẻ đẹp của những trang nam nhi hiện đại trong buổi ra đi lịch sử này cũng nhờ đó mà đẹp mãi trong mỗi trái tim người đọc và trở thành những bài ca bất tử
(không bao giờ quên)
Câu 3: Phân tích bức chân dung vua bù nhìn Khải Định trong truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc
Ai đó đã từng nói: “Nghệ thuật có thể tạo ra trong tâm trí chúng ta tất
cả, làm sống lại tất cả” Phải chăng cũng chính bởi nghệ thuật ấy mà nhà vănNguyễn Ái Quốc của chúng ta đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận sâu sắc, những ấn tượng khó phai mờ qua truyện ngắn “Vi hành” của mình Bằng ngòi bút tài hoa của tác giả, truyện ngắn đã khắc hoạ thành công bức chân dung vua bù nhìn Khải Định Qua bức chân dung ấy ta cũng phần nào thấy được nghệ thuật khắc hoạ chân dung nhân vật đặc sắc của tác giả
Nguyễn Ái Quốc
Trang 7Là người đặt nền móng mở đường cho nền văn học Cách mạng Việt Nam, văn chương Hồ Chí Minh có sự kết hợp sâu sắc mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại Có lẽ truyện ngắn “Vi hành” chính là một ví dụ tiêu biểu Ra đời năm
1923 đúng vào dịp vua Khải Định được đưa sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa được tổ chức ở Macxay “Vi hành” mang vý nghĩa vô cùng to lớn
Nó đã vạch trần bộ mặt bù nhìn của vua Khải Định cũng như sự lừa bịp giả dối của thực dân Pháp trước nhân dân tiến bộ Pháp và nó cũng phơi bày bộ mặt thật của xã hội Pháp đương thời Đọc “Vi hành” ta thấy hiện lên rất rõ bức chân dung vua bù nhìn Khải Định qua tình huống truyện đặc sắc, qua những góc nhìn khác nhau của người dân Pháp, của nhân vật “tôi”
Một tác phẩm văn học sẽ chết nếu nó không để lại những ấn tượng sâusắc trong lòng người đọc Và truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc sẽkhông bao giờ chết bởi nó luôn mang đến cho người đọc những suy nghĩ, cảm nhận mới mẻ Đặc biệt là cảm nhận sâu sắc về bức chân dung vua bù nhìn Khải Định được nhà văn khắc hoạ trong truyện ngắn Bức chân dung ấytrước hết được dựng lên qua nghệ thuật tạo tình huống đặc sắc của tác giả với tình huống nhầm lẫn chết người hết sức sinh động: Trên chuyến xe điện ngầm ở ngoại ô Pari có một đôi trai gái người Pháp đã nhầm nhân vật “tôi”
là vua Khải Định vi hành Hơn thế nữa họ lại tưởng người ngồi trước mặt không biết tiếng Pháp Vì thế rất tự nhiên họ đưa ra những lời bình phẩm về
vị quốc vương An Nam: “Hắn đấy”, “Đâu phải”, “Đúng mà! Anh đã bảo là chính hắn đấy…” Qua những lời đối thoại rất ngắn của họ ta thấy bức chân dung vua bù nhìn Khải Định dần được hiện ra cùng với thái độ coi thường, khinh bỉ của nhân dân tiến bộ Pháp với Khải Định
Trang 8Với nghệ thuật tạo tình huống đặc sắc, nhà văn Nguyễn Ái Quốc đã tạo ra được một tình huống truyện độc đáo, có sức lôi cuốn với người đọc
Nó không chỉ cho ta thấy được thái độ của người Pháp đối với kẻ bù nhìn,
dù đó là một bậc đế vương mà nó còn cho ta thấy sức mạnh của văn chương trong công tác tuyên truyền Chính những tình huống truyện độc đáo ấy đã làm nên chiều sâu của tác phẩm, góp phần khẳng định sự già dặn trong phong cách nghệ thuật của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc, cho ta thấy được chất trí tuệ toả sang trong mỗi sáng tác văn học của Người Và cũng chính tình huống truyện đặc sắc ấy đã phần nào giới thiệu, hé mở với mỗi chúng ta về bức chân dung vua bù nhìn Khải Định
Nghệ thuật chính là chìa khoá để mở vào thành công của mọi tác phẩm văn học Và phải chăng góp phần làm nên thành công của truyện ngắn
“Vi hành” chính là nghệ thuật khắc hoạ chân dung nhân vật tinh tế, đặc sắc của nhà văn Qua ngòi bút tài hoa của Người bức chân dung vua bù nhìn Khải Định được khắc hoạ rõ nét qua nhiều góc nhìn khác nhau Cũng chính bởi ngòi bút tài hoa ấy, cả bat rang truyện không có từ nào nhắc đến tên Khải |Định mà ta vẫn cảm thấy hắn hiện lên bằng xương bằng thịt rất rõ rangqua cái nhìn của nhân dân Pháp và nhân vật “tôi” Mà ta cảm nhận rõ hơn cảbức chân dung vua bù nhìn Khải Định dưới cái nhìn của đôi trai gái người Pháp Hắn hiện lên với vẻ bề ngoài lạ mắt: “Chẳng phải vẫn cái mũi tẹt ấy, vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh ấy đấy à?” Có lúc hắn đeo lên người hắn đủ cả bộ lụa là, hạt cườm” Qua tài năng kể chuyện cuat Nguyễn Ái Quốc ta thấy sự xuất hiện của vị quốc vương An Nam thật nực cười Nó càng làm tăng trí tò mò của người dân Pháp, làm tăng sức hấp dẫn của tác phẩm Chân dung vua bù nhìn Khải Định còn được thể hiện qua tính cách đáng ngờ của hắn Hàng loạt những câu hỏi tu từ của đôi trai gái lien
Trang 9tiếp được đặt ra chứa đầy hoài nghi: “Hay là hắn đã đem tất cả các thứ đó đến tiệm cầm đồ rôi”; Hắn đến đây làm gì nhỉ trong đường xe điện ngầm này, và tụi các ông quan bà kiếc đi theo thì đâu cả?” Những câu hỏi tu từ ngắn gọn ấy đã khiến cho người đọc khó tin vào tư cách cảu một đấng quân vương như Khải Định Chính điều đó đã làm hiện lên trong tâm trí người đọc chân dung một ông vua bù nhìn hèn nhát, lén lút, ăn chơi, trác tang Hắn
ăn chơi đến mức khi trở về nước hắn mới gửi ngân phiếu sang trả nợ Qua những chi tiết ấy ta thấy được tài năng xây dựng tính cách nhân vật của tác giả Cũng chính bằng tài năng ấy mà bức chân dung vua bù nhìn Khải Định được hiện lên thật độc đáo, sinh động trong truyện ngắn Với ngòi bút kể chuyện khách quan, lời dẫn truyện độc đáo, dí dỏm, lời bình sắc sảo qua tài năng dẫn dắt truyện tài hoa của cây bút truyện ngắn bậc thầy Nguyễn Ái Quốc, bức chân dung Khải Định hiện lên giống như một thằng hề không hơnkhông kém Và thực sự hắn đã trở thành một kẻ bù nhìn, một con rối trong tay thực dân Pháp Kể chuyện về nhân vật mà làm toát lên được bản chất củanhân vật cũng như mục đích sáng tác tác phẩm cũng lad một nét nghệ thuật độc đáo, đặc sắc không phải ai cũng làm được của nhà hoạt động chính trị Nguyễn Ái Quốc Bức chân dung vua bù nhìn Khải Định được hiện lên qua nét nghệ thuật độc đáo, đặc sắc ấy
“Văn học chính là tấm gương phản ánh hiện thực” Và bằng truyện ngắn “Vi hành" của mình nhà văn Nguyễn Ái Quốc đã phản ánh một cách chính xác, chân thực hiện thực của đất nước ta dưới ách đô hộ của thực dân Pháp Qua hiện thực ấy ta thấy hiện lên bức chân dung vua bù nhìn Khải Định qua cái nhìn và suy nghĩ của nhân vật “tôi” bằng lối văn viết thư hết sức linh hoạt trong kết cấu sau khi miêu tả thành công bức chân dung về vua
bù nhìn Khải Định qua con mắt của đôi trai gái người Pháp Đến đây nhà
Trang 10văn Nguyễn Ái Quốc lại một lần nữa thể hiện sự già dặn của một ngòi bút châm biếm bậc thầy khi tác giả đưa bạn đọc đến với sự liên tưởng về những câu chuyện đã được nghe thời thơ ấu Đây chính là sức mạnh của lối văn viết thư Để khiến cho bức chân dung vua bù nhìn Khải Định càng được tái hiện rõ, với khả năng liên tưởng rộng của mình, tác giả nhớ lại ngày còn nhỏ, nhớ chuyện xưa vua chúa vi hành mà Người đã từng được nghe: “Tôi nhớ chuyện vua Thuấn, vì muốn đích than tai nghe mắt thấy dân có bằng lòng mình không nên cải trang làm dân cày đi dò la khắp xứ Lại nhớ chuyệnvua Pie nước Nga….” Họ vi hành là mong muốn đời sống của dân chúng tốthơn Và tác giả lại so sánh với vua bù nhìn Khải Định “Ngày nay còn có những ông hoàng, ông chúa để tiện việc riêng và vì lí do không cao thượng bằng, cũng vi hành đấy” Với lối văn viết thư, với thế mạnh của sự lien hệ tạt ngang thoải mái, Người đã nói với cô em họ những suy nghĩ của mình về mục đích chuyến vi hành của Khải Định Và bức chân dung vua bù nhìn Khải Định cũng được khắc hoạ qua những câu hỏi tu từ được đặt ra mang những ý nghĩa lớn lao: “ Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alechxăng đệ nhất có được sung sướng, có được quyền uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam dưới quyền ngự trị của ngài hay không” Câu hỏi tu từ đã nhắc tới một thực tế, một vấn đề nấp dưới chiêu bài khai hoá văn minh cho các nước thuộc địa của thực dân Pháp Chúng đã xâm lược nước ta, chúng biến nước ta thành nơi tiêu thụ hang hoá ế thừa Dưới ách cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam phải gánh chịu trăm ngàn thứ thuế Ấy là chưa kể đến chúng còn áp đặt bắt buộc chính sách tiêu thụ thuốc phiện, rượu cồn đối với nhân dân ta Như vậy bằng câu hỏi tu từ ấy tác giả đã vạch rõ thực tế củađất nước ta vẫn còn đang chìm trong nỗi đau nô lệ Nó cho ta thấy rõ vị trí, vai trò bù nhìn của vua Khải Định, góp phần làm nên bức chân dung của
Trang 11hắn Song có lẽ đến câu hỏi tu từ thứ hai ta càng hiểu ró hơn điều đó: “Phải chăng ngài muốn học sử dụng (theo kiểu Pháp) cái liềm của nhà nông cùng cái búa của thày thợ để sau cuộc ngao du đem về chút ấm no mà đám “dân” bất hạnh của ngài tới nay hoàn toàn chẳng biết đến!” Có thể nói câu hỏi tu
từ này là một con dao hai lưỡi Nó đã vạch trần sự thực về một nước Pháp cónền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nó lại vừa chỉ rõ cho nhân dân tiến bộ Pháphiểu được đời sống khốn cùng của nhân dân Việt Nam dưới ách cai trị, bóc lột tàn nhẫn của thực dân Pháp Và đến câu hỏi tu từ thứ ba ta càng thâý rõ hơn bộ mặt thật của thực dân Pháp, của xã hội Pháp: “Hay là chán cảnh làm một ông vua to, bây giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của các cậu công tửbé” Bằng giọng văn lúc mỉa mai, khi cười cợt dí dỏm cùng những câu hỏi tu
từ đặc sắc với những dẫn chứng chính xác về bản chất của cái gọi là mục tiêu khai hoá văn minh cho các nước thuộc địa mà thực dân Pháp vẫn rêu rao, tác giả đã vạch trần sự gian ác, xảo trá - bộ mặt thật của thực dân Pháp .Không những vậy mà nó còn đập tan chiêu bài giả dối về việc khai hoá văn minh cho các nước thuộc địa mà thực dân Pháp thường rêu rao Chính từ đó
mà chuyến vi hành của Khải Định bỗng trở nên mỉa mai, nực cười dưới cái nhìn cũng như sự đánh giá sắc sảo của tác giả
Với những lời kể khách quan, lời bình sắc sảo cùng những chi tiết chọn lọc, sự liên tưởng sáng tạo cùng giọng văn linh hoạt của lối viết thư dưới cái nhìn của người dân Pháp và của nhân vật tôi, chân dung Khải Định hiện lên giống như một thằng hề, một con rối rẻ tiền, một kẻ bù nhìn trong tay thực dân Pháp Qua những câu văn ta cũng thấy được tài năng xây dựng chân dung nhân vật tinh tế, đặc sắc của nhà văn Phải chăng cũng chính câu văn đã vạch trần dã tâm xâm lược nước ta của thực dân Pháp, giúo cho nhân dân tiến bộ Pháp hiểu rõ hơn việc làm bẩn thỉu của thực dân Pháp ở Đông
Trang 12Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đạp tan chiêu bài giả dối về
“khai hoá văn minh” cho các nước thuộc địa mà thực dân Pháp vẫn rêu rao
Nó cũng vạch rõ cho mọi người thấy thực tế nấp sau chiêu bài ấy là một cuộc cướp nước bẩn thỉu Và bức chân dung về vua bù nhìn Khải Định vẫn nổi bật lên qua những câu văn của truyện ngắn
Là một tác phẩm được sáng tác với mục đích chính trị, “Vi hành” là truyện ngắn lấp lánh nhiều tầng ý nghĩa lớn lao Nó chính là một kiệt tác vănchương với những giá trị to lớn về nhiều mặt Cùng với bức chân dung về vua bù nhìn Khải Định, “Vi hành” luôn sống mãi trong lòng người đọc bởi sức lôi cuốn kỳ diệu của nó
Trang 13Đề thi số 2 Câu 1: Nêu đặc điểm nghệ thuật thơ Aragông
Câu 2: Chỉ rõ hai câu văn trong tác phẩm :”Người lái đò sông Đà” có khả năng gợi hình tượng
Câu 3: “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao là tác phẩm mang giá trị hiện thực lớn lao Hãy phân tích.
Bài làm Câu 1: Đặc điểm nghệ thuật thơ Aragông:
- Thơ Aragông là cả một vườn thơ về Enxa với đề tài phong phú, đa dạng Thơ ông có âm điệu phong phú, có đề tài đa dạng về Tổ quốc,
về nhân dân, về kẻ thù Hình tượng Enxa là một nguồn cảm hứng lớn trong những tập thơ tình của Aragông Ông đã đưa đôi bàn tay, ánh mắt, mái tóc Enxa thành một hình tượng nghệ thuật trong thơ mình
- Thơ Aragông có sự sáng tạo độc đáo về nghệ thuật Thơ ông không hề
có dấu chấm, cách ngắt dòng cũng rất tự do Ông muốn xoá nhoà ranhgiới giữa thơ và văn xuôi Vì thế có những câu thơ của Aragông kéo dài chưa từng có Đặc biệt trong thơ Aragông phép lặp tu từ được lặp
đi lặp lại nhiều lần với hình thức hết sức đa dạng, linh hoạt làm nên một phong cách riêng trong thơ |Aragông
-Câu 2: Hai câu văn trong tác phẩm: “Người lái đò sông Đà” có khả năng gợi hình tượng:
1 Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá
xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc
Trang 14nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy.
2 Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu
3
Câu 3: “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao là tác phẩm mang giá trị hiện thực lớn lao Hãy phân tích.
“Chao ôi! Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ
có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” Nhà văn Nam Cao của chúng ta đã từng thốt lên như vậy Đó cũng chính là quan điểm nghệ thuật của ông và suốt cuộc đời cầm bút của mình ông đã luôn
đi theo quan điểm ấy Có lẽ cũng chính quan điểm đó đã giúp cho nhà văn làm nên thành công của truyện ngắn “Đôi mắt” - một tác phẩm văn học mang giá trị hiện thực lớn lao
Có thể nói thế giới vĩnh hằng là nơi hội tụ giá trị của các tác phẩm vănhọc Thiên nhiên tạo hoá vạn vật có thể đổi thay nhưng những giá trị ấy của văn học luôn trường tồn theo thời gian năm tháng để làm nên thành công của mọi tác phẩm văn học và neo lại trong long bạn đọc những ấn tượng khó phai mờ Hãy dõi theo từng trang viết của nhà văn Nam Cao khi ông viết truyện ngắn “Đôi mắt” ta mới thấy rõ giá trị của văn học –
đó là giá trị hiện thực lớn lao Nói ‘Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao là tácphẩm văn học mang giá trị hiện thực lớn lao bởi lẽ nó đã tái hiện thành công một chặng đường đấu tranh tư tưởng của các nhà văn tiểu tư sản những ngày đầu đi theo Cách mạng Không những vậy mà nó còn lên án
Trang 15hiện thực về cái nhìn sai lệch cũng như lối sống xa rời quần chúng của một số nhà văn tiểu tư sản chậm tiến thời bấy giờ đồng thời nó cũng khẳng định vai trò, vị trí của nhân dân lao động trong sự nghiệp kháng chiến cũng như trong văn học.
“ Giá trị hiện thực chính là một trong hai cội nguồn cảm hứng sáng táccủa các tác phẩm văn học có ý nghĩa” Ra đời trong hiện thực đấu tranh Cách mạng sôi nổi, khi mà vấn đề “nhận đường”, “dọn đường” đang diễn
ra khá sâu sắc cho các nhà văn, “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao mang giá trị hiện thực lớn lao Mà trước hết là hiện thực về con đường đấu tranh tư tưởng của các nhà văn tiểu tư sản những ngày đầu đi theo Cách mạng
Trước Cách mạng tháng Tám, trong văn học hình ảnh người nông dâncòn rất mờ nhạt Trong thời kỳ tổng khởi nghĩa, Đảng ta đã kêu gọi toàn dân tham gia kháng chiến và yêu cầu các nhà văn xây dựng một nền văn học mới, nền văn học kháng chiến, lấy nhân dân làm đối tượng sáng tác Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, những vấn đề mới của quần chúng nhân dân bộc lộ ra trong cuộc sống lại khiến cho các nhà văn nhiều khi rất phân vân, họ băn khoăn nghi ngờ sức mạnh của quần chúng
“Đôi mắt” đã nói lên những băn khoăn ấy bằng giá trị hiện thực lớn lao Hiện thực ấy đã được tác giả phản ánh trong tác phẩm thông qua hai cái nhìn đối lập của hai nhân vật Hoàng và Độ về người nông dân và nhân dân tham gia kháng chiến Hoàng rất coi thường người nông dân, đặc biệt
là những người nông dân nơi gia đình anh sơ tán Anh nói về họ bằng giọng tức tối và bất bình Dưới con mắt của vợ chồng anh, những người nông dân chỉ là những kẻ tệ bạc: “Có mấy người cứ còm cọm làm như trâu, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, ở thì chui rúc thế nào xong
Trang 16thôi…” Trong suy nghĩ của Hoàng, người nông dân là những người tò
mò hiếu kỳ: “Anh mới đến chơi mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nomrồi Ngày mai thế nào chuyện anh đến chơi tôi cũng chạy khắp làng…” Đối với Hoàng họ là những người vừa ngố, vừa nhặng xị, nhiêu khê Đếnđàn bà chửa mà cũng cho là có lựu đạn giắt trong quần Đó là những người dốt nát mà còn ra vẻ ta đây Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đủ thứ: “Toàn là những người ngu độn, lỗ mãng, ích kỉ, tham lam, bần tiện cả, cha con, anh em ruột cũng chẳng tốt với nhau…” Qua đoạn văn ngắn, ngôn ngữ kể chuyện linh hoạt, đôi chút có chỗ phóng đại với những hư cấu nghệ thuật đặc sắc, giọng điệu mỉa mai, châm biếm cùng những chi tiết chọn lọc rất “đắt” và những lời bình sắc sảo tác giả
đã thể hiện thành công cái nhìn coi thường người nông dân của Hoàng Không chỉ có cái nhìn sai lệch về những người nông dân mà với người dân tham gia kháng chiến Hoàng cũng có cái nhìn hết sức sai lệch với thái độ khinh miệt Anh gọi họ bằng những đại từ mỉa mai, khinh miệt:
“Các ông uỷ ban, “các bố tự vệ”, “các bà phụ nữ”, “các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới lại càng nhố nhăng” Hoàng coi thường những người nhân dân làm kháng chiến vì theo anh họ là những kẻ ít học, có những cáingố không chịu được: “Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn Nhiều ôngcầm đến một khẩu súng kiểu lạ không biết bắn thế nào…” Hoàng bi quan, không tin vào sức mạnh của quần chúng Anh nghi ngờ khả năng làm Cách mạng của nhân dân: “Thì cứ để họ đánh Tây đi! Nhưng tai hại
là người ta lại cứ muốn cho họ làm uỷ ban nọ, uỷ ban kia nữa thế mới chết người ta chứ! Nói ví dụ ngay như cái thằng chủ tịch uỷ ban phố tôi
ở Hà Nội Lúc chưa đánh nhau, nó là một anh hàng cháo lòng Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh chứ biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm
Trang 17uỷ ban” Với những lời kể, lời bình sắc sảo qua một hệ thống ngôn ngữ
kể chuyện khách quan với những chi tiết chọn lọc có khả năng khái quát cao, tác giả đã nói lên cái nhìn sai lệch của nhân vật Hoàng về người nông dân và nhân dân kháng chiến Phải chăng cũng từ đó mà nhà văn muốn nói lên những băn khoăn trăn trở của cả một thế hệ các nhà văn tiểu tư sản đang trong bước chuyển mình đi theo Cách mạng Có thể nói rằng thể hiện thành công những băn khoăn ấy là nhà văn Nam Cao đã nóilên một chặng đường đấu tranh tư tưởng của các nhà văn tiểu tư sản thời bấy giờ Có lẽ giá trị hiện thực lớn lao của truyện ngắn “Đôi mắt” chính
là ở chỗ đó
Có người nói: “Mỗi tác phẩm văn học là một cuộc đời” Câu nói tuy giản dị, ngắn gọn nhưng cô đọng, súc tích mà hàm chứa ý nghĩa sâu sa Phải chăng câu nói ấy đã khẳng định một cách sâu sắc khả năng phản ánhhiện thực của một tác phẩm văn học Mà một tác phẩm văn học mang giá trị hiện thực sâu sắc luôn sống mãi trong lòng người đọc tựa hồ như những gì xảy ra ngay trước mắt họ Và ở trong truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao ta thấy đó là một tác phẩm mang giá trị hiện thực lớn lao Từ cái nhìn sai lệch của nhân vật Hoàng về người nông dân và nhân dân kháng chiến tác giả đã lên án hiện thực về cách sống xa rời quần chúng của các nhà văn tiểu tư sản chậm tiến thời bấy giờ Đó cũng chính là giá trị hiện thực lớn lao của tác phẩm
Suốt một đời cầm bút, nhà văn Nam Cao luôn suy nghĩ về sống và viết Khi mới bắt đầu sáng tác, ông chịu nhiều ảnh hưởng của khuynh hướng lãng mạn Sau đó ông đã tự tìm đến với con đường nghệ thuật “Vị nhân sinh” Và trong những sáng tác của mình, ông đã nói rõ quan điểm của ông về một tác phẩm văn học chân chính Đó là “nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca
Trang 18tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn” Phải chăng truyện ngắn Đôi mắt chính là một ví dụ tiêu biểu - một tác phẩm mang giá trị hiện thực lớn lao Đó là khi nhà văn khẳng định vaitrò, vị trí, sức mạnh của nhân dân trong xã hội mới Nó thể hiện một hiện thực mới trong văn học.
Như chúng ta đều biết trước Cách mạng tháng Tám, hình ảnh người nông dân hiện lên rất mờ nhạt, họ hiện lên trong văn học như những dân đen, con đỏ rất đáng thương Nhưng trong xã hội mới thì người dân đã vươn lên làm chủ và trở thành đối tượng của nền văn học chân chính Đọc truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao ta thấy rất rõ người nông dân đã thực sự trở thành đối tượng của nền văn học khi nhà văn khẳng định vai trò, sức mạnh của nông dân trong sự nghiệp kháng chiến cũng như trong xã hội mới Giá trị hiện thực của tác phẩm cũng là ở chỗ
đó Điều này được thể hiện rõ qua cái nhìn của nhân vật Độ về người nông dân và nhân dân kháng chiến - một cái nhìn hoàn toàn đối lập với nhân vật Hoàng Với Độ, “người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái
bí mật đối với chúng ta” Lúc đầu, anh còn nghi ngờ sức mạnh của quần chúng nhưng đến thời kỳ tổng khởi nghĩa thì Độ đã ngã ngửa người: “Té
ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm Cách mạng hăng hái lắm Những người nông dân ấyhoj làm được rất nhiều việc: vác tre, làm uỷ ban, làm Cách mạng…” Những chi tiết không nhiềunhưng dưới ngòi bút văn xuôi tài hoa của nhà văn Nam Cao, người đọc như thấy rất rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng trong sự nghiệp kháng chiến thông qua cái nhìn của Độ Phải chăng khẳng định vai trò, sức mạnh của quần chúng là nhà văn Nam Cao đã nói lên giá trị hiện thực lớnlao của truyện ngắn “Đôi mắt”
Trang 19Có nhà phê bình văn học đã từng nói: “Văn học là tấm gương phản ánh lịch sử” Đọc truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao ta như thấy lại hình ảnh lịch sử của dân tộc những ngày đầu kháng chiến với tinh thần đoàn kết, yêu lao động, yêu Cách mạng, yêu nước căm thù giặc của quần chúng nhân dân - đối tượng của nền văn học với vai trò to lớn
Đó chính là giá trị hiện thực lớn lao của tác phẩm Cùng với gái trị lớn lao ấy, truyện ngắn “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao luôn sống mãi với thời gian và in đậm trong mỗi trái tim người đọc
Trang 20Đề thi số 3 Câu 1: Vài nét ngắn gọn về tác giả Nguyễn Đình Thi và bài thơ “Đất nước”
Câu 2: Phân tích vẻ đẹp mùa thu đất nước qua bốn khổ thơ đầu bài thơ “Đất nước” của tác giả Nguyễn Đình Thi
Bài làm Câu 1: Vài nét ngắn gọn về tác giả Nguyễn Đình Thi:
Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924 tại Luông Phabăng (Lào) quê gốc ở
Hà Nội
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư kí hội văn hoá cứu quốc Từ 1958 – 1989 làm tổng thư kí hội nhà văn Việt Nam Từ năm 1995, ông là chủ tịch uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài: viết văn, làm thơ, sang tác nhạc, viết kịch và viết phê bình văn học, lĩnh vực nào cũng có nhiều thành công đáng kể Ông đã được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I – 1996)
Bài thơ “Đất nước”:
- Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt Nó là sự tập hợp của hai bài thơ “sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “đêm mít tinh” (1949) và có thêm một phần sửa đổi để trở thành “Đất nước” Vì thế bài thơ được sáng tác trong một khoảng thời gian rất dài (từ 1948 – 1955) nhưng lại có sự thống nhất rất logic về mặt nội dung
- Bài thơ được kết cấu theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình khi quêhương được giải phóng Với bút pháp hiện thực xen lãng mạn với những liên tưởng đẹp, được diễn đạt qua hình ảnh thơ chân thực, giản
Trang 21dị, có nhiều sáng tạo trong cách dùng điệp ngữ, điệp từ và những so sánh liên tưởng.
- Bài thơ ngập tràn tâm trạng xốn xang của nhân vật trữ tình khi quê hương được giải phóng Qua bài thơ ta cũng thấy được sự mới mẻ, tinh tế trong cảm nhận của nhân vật trữ tình về đất nước trong mối quan hệ truyền thống xưa và nay
Câu 2: Phân tích vẻ đẹp mùa thu đất nước qua bốn khổ thơ đầu bài thơ “Đất nước” của tác giả Nguyễn Đình Thi
“Hà nội mùa thu, mùa thu Hà Nội, mùa hoa sữa nồng thơm từng góc phố, mùa cốm xanh…” Câu hát vang lên thật ngọt ngào sâu lắng, gợi lại trong tôi nhứng hình ảnh tuyệt đẹp của mùa thu – mùa của thiên nhiên tạohoá, mùa của đất trời Và mùa thu đất nước với vẻ đẹp của nó cũng đã được nhà thơ Nguyễn Đình Thi tái hiện qua bài thơ “Đất nước” của ông Đọc bài thơ ta như cảm nhận rất rõ vẻ đẹp mùa thu đất nước qua bốn khổ thơ đầu bài thơ
Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, bài thơ là sự tập hợp của hai bài thơ
“sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “đêm mít tinh” (1949) và
có thêm một phần sửa đổi để trở thành “Đất nước” Vì thế bài thơ được sáng tác trong một khoảng thời gian rất dài (từ 1948 – 1955) nhưng lại có
sự thống nhất rất logic về mặt nội dung Bài thơ được kết cấu theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình khi quê hương được giải phóng Với bút pháp hiện thực xen lãng mạn với những liên tưởng đẹp, được diễn đạt qua hình ảnh thơ chân thực, giản dị, có nhiều sáng tạo trong cách dùng điệp ngữ, điệp từ và những so sánh liên tưởng, bài thơ ngập tràn tâm trạng xốn xang của nhân vật trữ tình khi quê hương được giải phóng Qua