Trước những hành động leo thang chiến tranh của Mỹ, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế lo ngại nếu Việt Nam không “kiềm chế”, cứ tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ rất có thể sẽ
Trang 1Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Văn Thái
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO KIỀM CHẾ VÀ ĐÁNH
THẮNG ĐẾ QUỐC MỸ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG
1.1 Yêu cầu khách quan kiềm chế và đánh thắng đế quốc
1.3 Đảng chỉ đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ
trên chiến trường chính miền Nam (1965 - 1968) 54
Chương 2 KIỀM CHẾ VÀ ĐÁNH THẮNG ĐẾ QUỐC MỸ TRÊN
CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH MIỀN NAM (1969 -1973) 85
2.2 Đảng chủ trương kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ
2.3 Chỉ đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài “Đảng lãnh đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến
trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973” được tiếp cận nghiên
cứu dưới góc độ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN
Nội dung chính của luận án sẽ tập trung làm rõ yêu cầu khách quan, chủ
trương và sự chỉ đạo của Đảng về kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên
chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973, qua hai giai đoạn
1965 - 1968 và 1969 - 1973; trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá, nhận xét
ưu, khuyết điểm trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, làm rõ nguyên nhân và đúc rút những kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Những vấn đề luận giải trong luận án được dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về chiến tranh cách mạng; các báo cáo, tổng kết của Trung ương, của các bộ ngành, địa phương về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố
Đây là công trình khoa học độc lập của tác giả, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố, các luận văn, luận án đã bảo vệ
2 Lý do lựa chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (Chiến tranh Việt Nam - theo cách gọi của phương Tây) được cho là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất của thế kỷ hai mươi Trong đó, thời kỳ từ 1965 đến 1973 chiến tranh diễn ra với cường độ cao nhất Từ năm 1965, đế quốc Mỹ tăng cường và mở rộng chiến tranh, lần lượt thực hiện chiến lược “chiến tranh
cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam và tiến hành chiến tranh
phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam Vận mệnh dân tộc Việt Nam đứng trước sự mất còn, có tiếp tục đánh Mỹ hay không? Bằng cách nào để đánh
Trang 6Mỹ và thắng Mỹ? Trong điều kiện so sánh lực lượng chênh lệch, trên thế giới có những đánh giá khác nhau về sức mạnh của Mỹ, nhìn chung là đánh giá quá cao dẫn đến tâm lý sợ Mỹ Trước những hành động leo thang chiến tranh của Mỹ, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế lo ngại nếu Việt Nam không “kiềm chế”, cứ tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ rất có thể sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh thế giới mới.
Với bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần độc lập tự chủ, trên cơ sở sự phân tích đánh giá tình hình khách quan, khoa học, ĐCSVN đã đề ra quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ đồng thời chủ trương kiềm chế và đánh thắng Mỹ
trên chiến trường chính miền Nam và chỉ đạo cả nước đánh thắng đế quốc Mỹ
xâm lược theo chủ trương đó
Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra về cuộc “chiến tranh Việt Nam”, trong
đó, đáng chú ý nhất là: “vì sao Việt Nam thắng Mỹ?” “ĐCSVN có vai trò như thế nào?” Ngay từ những năm chiến tranh chưa kết thúc, nhất là sau này và đến hiện nay, vấn đề này đã và đang được nghiên cứu nhưng chưa được trả lời đầy
đủ và thấu đáo, còn có nhiều ý kiến, quan điểm khác biệt, nhất là từ phía Mỹ Trong các cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây, nhiều học giả nước ngoài trong đó có Hoa Kỳ, vẫn bày tỏ việc thiếu thông tin và hiểu biết về chiến tranh Việt Nam, dữ liệu mà họ cần để giải thích cho nhân dân Mỹ (và thế giới) về nguồn gốc, tính chất của chiến tranh, về thắng và thua, về nghệ thuật quân sự và vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong cuộc chiến tranh này
Với những người quan tâm đến lịch sử trong giới trẻ Mỹ thì câu hỏi của
họ về cuộc chiến tranh Việt Nam là: Tại sao Mỹ can thiệp vào Việt Nam? Tại sao Mỹ thua? Tại sao không đưa quân nhiều hơn nữa, không tấn công bằng lục quân ra miền Bắc Việt Nam để dứt điểm?
Ở Việt Nam, sau khi giành toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, đã có những công trình nghiên cứu tổng kết, những công trình lịch sử dựng lại khá toàn diện về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và
Trang 7quá trình đánh thắng Mỹ trong những năm 1965 - 1973 nói riêng Các công trình này đã đề cập khá đầy đủ các khía cạnh, các vấn đề của chiến tranh, nhưng có một vấn đề chưa được nghiên cứu có tính chất hệ thống chuyên sâu đó là sự lãnh đạo của Đảng về kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam trong những năm 1965 - 1973 Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu vấn đề này có kết quả sẽ góp phần lý giải rõ hơn cho câu hỏi “Vì sao Việt Nam thắng Mỹ?”, đồng thời góp phần làm đầy đủ hơn về lịch sử Đảng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Mặt khác, cũng thông qua nghiên cứu đúc rút những kinh nghiệm về nhận định sức mạnh của Mỹ, cách đánh và cách thắng
Mỹ trong chiến tranh để suy ngẫm và tiếp tục vận dụng vào thực hiện công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo kiềm chế và
đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973” làm luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973; trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ yêu cầu khách quan cần kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam
Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và chỉ đạo của Đảng kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973
Đánh giá những thành công, hạn chế và rút ra kinh nghiệm từ thực tiễn Đảng lãnh đạo kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng về kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án nghiên cứu bối cảnh quốc tế, âm mưu thủ đoạn
của Mỹ trong thực hiện hai chiến lược “chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” từ đó làm nổi bật trọng tâm nghiên cứu là chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam
Về thời gian: Từ đầu năm 1965 đến tháng 1-1973, khi Hiệp định Paris được
ký kết Tuy nhiên, để bảo đảm tính hệ thống và đạt được mục đích nghiên cứu, luận án có đề cập một số sự kiện trước và sau khoảng thời gian nói trên
Về không gian: Trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam và phạm vi Đông Dương.
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của ĐCSVN về chiến tranh cách mạng, chiến tranh và quân đội, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc
* Cơ sở thực tiễn
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở thực tiễn là các báo cáo, tổng kết của Trung ương, của các bộ ngành địa phương; các đề tài khoa học, luận văn, luận án; các sách chuyên khảo, tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nói chung, giai đoạn 1965 - 1973 nói riêng
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của luận án là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, đồng thời sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, tổng kết lịch sử
Trang 96 Những đóng góp mới của luận án
Luận án cung cấp một số tư liệu mới về âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ ra miền Bắc và Đông Dương trong những năm 1965 - 1973
Khái quát và hệ thống hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về kiềm chế, đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973
Luận án đưa ra nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế; đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam
7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu luận án góp phần khẳng định bản lĩnh chính trị, tinh thần độc lập, tự chủ và sự sáng tạo của ĐCSVN ở thời kỳ khó khăn, quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ - nguyên nhân chủ yếu quyết định nhất đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Góp phần tổng kết một thời kỳ lịch sử oanh liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Luận án có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo giảng dạy, nghiên cứu và học tập về lịch sử Đảng trong các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội
8 Kết cấu của luận án
Luận án kết cấu gồm: phần Mở đầu, Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
có liên quan đến đề tài, 03 chương (08 tiết), Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 10TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
“ĐẢNG LÃNH ĐẠO KIỀM CHẾ VÀ ĐÁNH THẮNG ĐẾ QUỐC MỸ
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH MIỀN NAM
TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1973”
1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam (ở Mỹ có khoảng hơn 30 nghìn cuốn sách và bài báo) Có thể phân chia thành các nhóm tác giả như sau:
*Nhóm quan chức: Gồm những quan chức quan trọng trong bộ máy lập
pháp, hành pháp và cơ quan thuộc cỗ máy chiến tranh của Mỹ tham gia viết
về chiến tranh Việt Nam Đa số các tác giả thuộc nhóm này thường xuất bản sách sau khi chiến tranh đã kết thúc hoặc sau khi đã nghỉ hưu Nhiều tác phẩm đề cập cuộc chiến tranh ở Việt Nam dưới những góc độ khác nhau trong đó có Tổng thống Johnson, Tổng thống Nixon, Cố vấn tổng thống Clifford, Cựu ngoại trưởng Kissinger, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mc Namara, cựu đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Nolting, Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, Tư lệnh quân Mỹ ở Việt Nam Westmoreland, tướng Mỹ đến Việt Nam với nhiều chức vụ cao cấp khác nhau Taylor
Tiêu biểu các cuốn sách ở nhóm tác giả này là: Tường trình của một
quân nhân (A Soldier Reports) của William C Westmoreland [189]; Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam, (In Retropect: The Tragedy and Lesson of Vietnam) [142] và Cuộc tranh cãi không dứt, (Argument without end) Robert S McNamara [143]; Hồi ký Richard Nixon (The Memoirs of Richard Nixon) của Richard Nixon[144];
Các tác phẩm của nhóm này phản ánh nhiều vấn đề khác nhau Có sự thổi phồng, có sự nghiền ngẫm, day dứt về câu hỏi tại sao Mỹ thua trong cuộc chiến tranh? Nội dung sách của nhóm tác giả này cũng cho thấy những âm mưu, thủ đoạn, tính toán xảo quyệt của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc cũng như
sự bất lực, lúng túng, mâu thuẫn của bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ khi
Trang 11tiến hành chiến tranh ở Việt Nam Đó là những mâu thuẫn trong nội bộ Lầu Năm Góc, Nhà Trắng, giữa các tướng lĩnh về việc muốn mở rộng và tăng cường quy mô cuộc chiến với hậu quả của nó Có tác giả cũng đề cập, phân tích việc Mỹ luôn phải “nhảy theo vũ điệu chiến lược Bắc Việt”, luôn bị hạn chế chiến tranh trong khuôn khổ MNVN.
*Nhóm các nhà khoa học: Đa số họ là giáo sư ở các trường đại học,
những nhà nghiên cứu lịch sử, luật gia Trong số này có nhiều người sống ở Việt Nam trong thời gian dài, theo sát từng bước phát triển của cuộc chiến tranh Một số giáo sư và học giả có danh tiếng như Gabriel Kolko, Joseph A Amter, Danien Ellsberg, George C Herring
Tiêu biểu các tác phẩm của nhóm tác giả này là: Lời phán quyết về Việt
Nam (Vietnam Verdict : A Citizen’s History) của Joseph A Amter [1]; Nước
Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon (The United States and Indochina from FDR to Nixon) của Peter A Pooler [153]; Giải phẫu một cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại, (Anatomy of war: Vietnam, The united States and the Modern historical Experience) của Gabriel Kolko,
[126]; Những bí mật về cuộc chiến tranh Việt Nam (Secrets: A memorior of
Vietnam and the Pentagon papers) của Danien Ellsberg [106];
Các đề tài của nhóm tác giả này thường viết theo suốt chiều dài cuộc chiến và có sự phân tích khá sâu sắc Có rất nhiều công trình phân tích các sự kiện lịch sử từ cả hai phía Việt Nam và Mỹ, chỉ ra nguyên nhân sự thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam Có tác giả nghiên cứu, đề cập đến đường lối kháng chiến và vai trò của ĐCSVN trong cuộc chiến tranh
*Nhóm cựu chiến binh: Có số lượng đông đảo nhất gồm các phóng viên
ở chiến trường và đông đảo các cựu chiến binh tham gia nghiên cứu, viết về chiến tranh Việt Nam Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu có thể kể như:
Những bí mật của cuộc chiến tranh Việt Nam (Secret of the Vietnam War)
Philip B Davidson [47]; Việt Nam - Cuộc chiến mười nghìn ngày (Vietnam:
The Ten Thousand Day War) của Michael Maclear [135]; The fisrt Battle:
Trang 12Operation Starlite and the Biginning of the Blood Debt in Vietnam của Otto
J Lehrach [192]; The Killing Zone: My life in the Vietnam war của Frederick Down; The Vietnam War: A concise international History của Mark Atwood Laurence; Kill Anything That Moves: The Real American War
in Vietnam của Nick Turse
Đặc điểm chung các cuốn sách, bài viết của nhóm này là ngắn, đề cập đến
sự kiện cụ thể Có thể đánh giá các tài liệu thuộc nhóm này như các trang viết của các nhân chứng đặc biệt về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
Trong rất nhiều các công trình ấy có một số công trình tiêu biểu
Luật gia Mỹ Joseph A Amter viết cuốn Lời phán quyết về Việt Nam
[1] Qua xem xét lại các tài liệu của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, nói về nguy cơ chiến tranh lan rộng và quyết tâm của nhà cầm quyền Mỹ thời kỳ
1965 - 1973, tác giả viết “Các tướng lĩnh được giao bảo vệ đất nước này nói rằng nếu chúng ta không chặn đứng cộng sản ở Việt Nam, chúng sẽ chiếm toàn châu Á và sau đến lượt chúng ta Không những còn lâu mới chấm dứt, mà cuộc chiến tranh Việt Nam tiếp tục leo thang” [1, tr.12 - 13] Nixon luôn nhắc nhở mọi người rằng: Sự dính líu của Mỹ là cái nút đậy cái chai bành trướng của Trung Quốc ở châu Á Ngay trước khi nhậm chức, Nixon đã yêu cầu đặc biệt xem xét lại chính sách về Việt nam: “Bỏ những hạn chế đã kìm hãm các tư lệnh Mỹ ở chiến trường để cho họ sử dụng sức mạnh ào ạt của Mỹ; Nối lại các cuộc tiến công không quân chống Bắc Việt Nam; Rải mìn cảng Hải Phòng đồng thời đe dọa xâm chiếm Bắc Việt Nam; Đuổi theo các đơn vị vào Lào và Campuchia, tìm cách tiêu diệt các đất thánh của họ và cắt đứt các đường tiếp tế”[1, tr.244], tất cả những lựa chọn này đã được Nixon sử dụng Tác giả đã quy trách nhiệm cho các Tổng thống Mỹ Johnson và Nixon là những người trong suốt nhiệm kỳ của mình đã lừa dối nhân dân Mỹ, Quốc hội Mỹ và dư luận trên toàn thế giới và đã dùng mọi thủ đoạn dã man nhất, gian dối nhất để cố gắng giành chiến thắng quân sự trong cuộc chiến tranh
Trang 13Cuốn Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon của Peter A
Pooler [153] là sự sưu tầm, chọn lọc những tư liệu có giá trị trong quá trình vạch ra các chính sách của các đời tổng thống Mỹ nhằm tìm ra nguồn gốc của
sự dính líu ngày càng tăng của Mỹ đối với Việt Nam và Đông Dương Đáng chú ý, tác giả làm cho người đọc thấy ý đồ của Mỹ câu kết với một số nước, đặc biệt là Trung Quốc nhằm mở rộng chiến tranh, ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam và ba nước Đông Dương Việc mở rộng chiến tranh được ngụy biện: “Việc mở rộng cuộc chiến tranh ra khỏi phạm vi Nam Việt Nam không phải là con đường mà chúng ta muốn tìm kiếm, mà là điều bắt buộc, do áp lực từ bên ngoài ngày càng tăng của cộng sản”[153, tr.172] Việc Mỹ không ngừng tăng quân chiến đấu trên bộ, mở rộng và kéo dài chiến tranh bằng lục quân
ra miền Bắc Việt Nam và Đông Dương được đề cập:
Đến tháng 7 năm 1968 Westmoreland tuyên bố cần có thêm 100.000 quân nữa (đưa tổng số lên 670.000 người) Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân tán thành yêu cầu đó và thúc giục chính quyền Johnson động viên các lực lượng dự bị ở Mỹ, mở rộng chiến tranh trên bộ sang các khu vực ẩn náu của đối phương ở các nước láng giềng (Lào, Campuchia và có thể là cả Bắc Việt Nam) dứt khoát là tìm kiếm thắng lợi về quân sự [153, tr.226]
Cuốn Tường trình của một quân nhân [189] của tướng Westmoreland
là lời biện minh của một trong những tướng lĩnh được coi là tài ba nhất của nước Mỹ nhưng lại bị thua trận ở Việt Nam Westmoreland thừa nhận bị
“Điện Biên Phủ” ám ảnh, có xin thêm ngay một lúc 206.000 quân và có kế hoạch sử dụng bom nguyên tử chiến thuật “Nhìn lại” sự kiện Tết Mậu Thân, Westmoreland nuối tiếc kế hoạch mở rộng chiến tranh của ông ta không được thực hiện: “Nếu Tổng thống Johnson thay đổi chiến lược, cho phép tôi tiến hành các cuộc hành quân mà chúng tôi đã trù tính hai năm trước đánh sang Lào, Campuchia và phía Bắc khu phi quân sự thì chắc chắn Bắc Việt Nam sẽ
bị đập tan” Westmoreland nhận ra: “Mỹ đã có những sai lầm nghiêm trọng khác về chiến lược ở Đông Nam Á, chờ đợi quá lâu không tấn công sang Lào
Trang 14và Campuchia; không chứng minh cho Bắc Việt Nam thấy họ dễ bị đánh tan ở phía Bắc khu phi quân sự”[189, tr.136 - 137].
Việt Nam - Cuộc chiến mười nghìn ngày [135] của Michael Maclear là
cuốn sách được tóm tắt từ phim tư liệu Với lợi thế là nhà báo, phóng viên truyền hình, tác giả đã hệ thống hóa các tư liệu, bao gồm các bài phỏng vấn nhiều nhân vật trong chính giới Mỹ và các nhà lãnh đạo Việt Nam DCCH để làm sáng tỏ các sự kiện và cuộc chiến Tác giả viết về nguy cơ và kế hoạch
mở rộng chiến tranh thời điểm giữa năm 1967:
Westmoreland đã đưa ra kế hoạch, đề nghị tối thiểu giới hạn mới 543.000 quân Đề nghị tối đa là muốn có bất cứ thứ gì cần đến để đưa cuộc chiến tranh trên bộ ra ngoài phạm vi miền Nam Việt Nam Tổng thống Mỹ đang nhận được một lời khuyên nên đánh tràn vào Bắc Việt Nam Westmoreland tiết lộ đã chuẩn bị các kế hoạch để thực hiện điều đó” [135, tr.140]
Theo tác giả, cuộc chiến tranh Việt Nam có nguy cơ rất cao bị mở rộng về phạm vi, tăng cường về tính chất và quy mô khi chính quyền Mỹ và Lầu Năm Góc bị chi phối của cặp bài trùng Nixon và Clifford (Clack Mc Adams Clifford - Bộ trưởng Quốc phòng): “Đảm nhiệm chức vụ mới trong vòng một tháng, Nixon đã quyết định biện pháp đầu tiên Đấy là cuộc hành quân “thực đơn”, cuộc ném bom bí mật tại Campuchia bước đầu của một chu kỳ leo thang vũ lực để biến Campuchia thành một nước chịu cảnh bi thảm nhất” [135, tr.179 - 180]; “Nixon quyết định sẽ nói gián tiếp với Hà Nội về loại vũ lực mà ông ta có thể sử dụng đến ông ta đang cân nhắc về
sự phong tỏa cảng Hải Phòng và ngay cả cuộc xâm lược miền Bắc” [135, tr.182]; “Nixon đã quy hoạch tất cả những gì mà sau này ông ta làm: Campuchia, Lào, đê điều, máy bay B.52, phong tỏa cảng Hải Phòng, ông ta
đã định làm điều đó từ mùa Thu năm 1969” [135, tr.184]
Giải phẫu một cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại [126] là cuốn sách được giáo sư Sử học Mỹ Gabriel Kolko nghiên
cứu, viết từ năm 1964 Tác giả đã tập hợp các tư liệu để hình thành một quá
Trang 15trình diễn biến bốn thập kỷ người Mỹ can thiệp quân sự vào Đông Dương Tác giả cũng nói thực trạng điều băn khoăn trong các công trình nghiên cứu ở
Mỹ về chiến tranh Việt Nam: Họ bị ám ảnh chủ yếu vì những vấn đề cổ truyền về tại sao Mỹ thua? Đáng ra Mỹ phải thắng, và vì những bài học phải rút ra từ cuộc chiến tranh Nếu các công trình nghiên cứu về Mỹ bị kém giá trị
về mặt phân tích thì các công trình nghiên cứu về ĐCSVN cũng chỉ loanh quanh ở một vài học thuyết trừu tượng khi chiến tranh chấm dứt Tác giả viết:
“Tôi sẽ nghiên cứu về Đảng Cộng sản, Việt Nam cộng hòa và Mỹ, tại sao khả năng về tổ chức, về tư tưởng và về con người đã đưa một bên đến thắng lợi trong khi những điều kiện của bên đó thua kém hơn nhiều về mặt vật chất” [126, tr.10-11] Về quyết định leo thang chiến tranh và nguy cơ chiến tranh có thể mở rộng vào cuối năm 1964, tác giả cho rằng: “Chủ yếu là vì sự tổng hợp lòng tin và thuyết Domino với cái cho là lợi ích toàn cầu của Mỹ Chính lập luận này làm hậu thuẫn cho những cam kết lớn hơn”[126, tr.167-168] Một trong những lý do Mỹ leo thang, theo đuổi chiến tranh: “Nếu Mỹ không đủ sức để thắng những lực lượng chỉ được trang bị sơ sài trong một nước cực kỳ nghèo thì sức mạnh của Mỹ có tác dụng gì đối với các nước khác” [126, tr.169-170] Nghiên cứu về đường lối kháng chiến ĐCSVN, tác giả viết: “Các nhà lãnh đạo Đảng, nhất là trong quân đội, bắt đầu thảo luận những chiến lược khác nhau để khai thác thế chủ động mà họ đã nắm giữ năm 1965 Trên thực tế, mặc dù các nhà lãnh đạo Đảng sẵn sàng chấp nhận chiến tranh kéo dài, nhưng
họ cũng tìm cách thắng chiến tranh trong một thời gian ngắn nếu có thể được”[126, tr.173] Tác giả đề cập đến sự bị động của quân Mỹ do bị kiềm chế trên chiến trường miền Nam: “Vào giữa năm 1966, lính thủy đánh bộ Mỹ
bị cột chặt vào Quân khu 1, thực hiện đúng ý đồ của Quân đội nhân dân kéo quân Mỹ ra tận phía Bắc để cho các lực lượng Mặt trận Dân tộc giải phóng có thể tập trung hoạt động ở các khu đông dân Vào giữa năm 1967, gần 4 phần 5 các cuộc đụng độ giữa Mỹ và cách mạng xảy ra vào lúc và nơi do cách mạng lựa chọn” [126, tr.192-193]
Trang 16Sau gần 30 năm rời khỏi Lầu Năm Góc, Bộ trưởng Quốc phòng Robert S McNamara, người được coi là kiến trúc sư trưởng của chiến
tranh Việt Nam đã viết cuốn sách Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và
những bài học về Việt Nam [142] Trong cuốn sách, lần đầu tiên sau nhiều
năm trăn trở, McNamara đã công khai thừa nhận: “Chúng tôi đã ở trong các chính quyền của Kennedy và Johnson, tham gia vào các quyết định về Việt Nam Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp” [142, tr.12] Có thể nói đây là lời thú nhận chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ Trong cuốn sách, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng nêu ra cụ thể những nguyên nhân dẫn tới thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam và những bài học nước Mỹ cần rút ra qua cuộc chiến tranh này McNamara viết về tư duy của mình và cũng là người đứng đầu giới quân sự Mỹ ở thời điểm năm 1961: “Nguy cơ mất Việt Nam và qua việc sụp đổ của các con bài Domino, mất cả Đông Nam Á, làm cho việc tính tới khả năng mở rộng nỗ lực của Mỹ ở Việt Nam là điều hợp lý” [142, tr.44] Ông lý giải việc Tổng thống Mỹ Johnson đưa quân bộ tham chiến ở Việt Nam: “Johnson hiểu rõ hơn Kennedy rằng cái giá phải trả của việc mất Việt Nam còn cao hơn việc đưa quân Mỹ vào tham chiến trực tiếp, và đây chính là điểm chi phối quan điểm và các quyết sách của ông Phải chiến thắng trong cuộc chiến tranh này! Đó là thông điệp của ông” [142, tr.112 - 113]
Phillip B Davidson , tác giả cuốn Những bí mật của chiến tranh Việt
Nam [47] nguyên là chỉ huy trưởng cơ quan tình báo quân đội Mỹ tại
MNVN từ 1967 đến 1969 Là một sĩ quan tình báo cao cấp từng trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam, tác giả đã nắm được khá nhiều bí mật của cuộc chiến này Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích sâu sắc những nguyên nhân sâu xa dẫn đến thắng lợi của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, nêu lên nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo chiến tranh nhân dân của những người cộng sản Việt Nam Nói về “bí mật” chiến lược chiến tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, tác giả viết:
Trang 17Chiến lược chiến tranh cách mạng của đối phương nằm trong việc họ nắm quyền chủ động chiến lược Chúng ta phải nhảy nhót theo vũ điệu chiến lược của Bắc Việt Nam mà đại diện là những người cộng sản, họ xác định phong cách và mức độ của cuộc chiến Trong cuộc chiến tranh trên bộ, quân đội và hải quân Mỹ bị hạn chế trong khuôn khổ Nam Việt Nam và không thể tấn công các thánh địa và cơ sở của địch ở phía Nam
của Bắc Việt Nam, ở Lào, hoặc sau này ở Campuchia [47, tr.35].
Tác giả kết luận về một trong những nguyên nhân Mỹ thua trong cuộc chiến “Vì chúng ta đã dành cho kẻ thù quyền chủ động chiến lược”[47, tr.242] Cuối cùng, với tất cả những nghiên cứu, Davidson chỉ ra “Chúng ta đáng ra có thể giành thắng lợi trong chiến tranh Việt Nam như thế nào Lẽ ra phải tiến hành một cuộc không kích tổng lực chống Bắc Việt Nam từ tháng 2-1965, lẽ ra các đơn vị thủy quân lục chiến phải được cử đến Việt Nam càng sớm càng tốt”[47, tr.308]
Joe Allen viết cuốn Việt Nam cuộc chiến thất bại của Mỹ [2] Với tất cả
suy nghĩ, đánh giá của thế hệ hậu sinh từ những nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam Tác giả trả lời một phần câu hỏi mà thế hệ trực tiếp tham gia cuộc chiến luôn tránh né: “Khi Mỹ xâm chiếm miền Nam Việt Nam, họ được xem như là một quyền lực gần như không thể bị đánh bại mà có thể áp đặt ý chí của họ lên hầu hết thế giới thông qua việc can thiệp quân sự trực tiếp Quân dân Việt Nam đã giành được độc lập không phải vì họ đánh bại sức mạnh quân sự Mỹ mà còn vì họ có thể làm kiệt quệ ý chí của Mỹ để có thể tiếp tục tham chiến” [2, tr.312]
Nhìn chung, do nhiều yếu tố, các học giả nước ngoài và Mỹ không thấy hết mọi khía cạnh của cuộc chiến, nhất là nhân tố nội tại của cuộc kháng chiến mà nhân dân Việt Nam tiến hành Dù có thiện chí họ cũng khó hiểu thấu sức mạnh bắt nguồn từ ý chí chiến đấu ngoan cường, vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam và sức mạnh ấy được tập hợp, phát huy theo đường lối kháng chiến của ĐCSVN
Trang 182 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đánh Mỹ thời kỳ 1965 - 1973 đã được thể hiện nhiều trong các văn kiện của Đảng, các bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tướng lĩnh trực tiếp chỉ đạo chiến tranh thời kỳ này Hoạt động lãnh đạo và vai trò của Đảng thời kỳ này cũng là chủ đề được đề cập nhiều ở các sách, báo, hội thảo khoa học về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
* Nhóm các công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách
Cuốn Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Thắng lợi và bài
học [4] là một công trình tổng kết sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng
chiến chống Mỹ Các tác giả đã luận giải nhiều vấn đề quan trọng của một cuộc chiến tranh có quy mô, tính chất, đặc điểm, tầm quan trọng và ý nghĩa vượt ra khỏi khuôn khổ một nước, từ đó rút ra bài học lịch sử và hiện thực Trong bài học kinh nghiệm về đường lối kháng chiến chống Mỹ đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ, các tác giả viết: Khi đế quốc Mỹ chuyển sang tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và leo thang đánh phá miền Bắc, Đảng đã khẳng định mạnh mẽ quyết tâm đánh Mỹ, đồng thời “Nhấn mạnh phải ra sức kiềm chế và đánh thắng cuộc chiến tranh bằng lục quân của địch ở miền Nam và cố gắng hạn chế không gian chiến tranh trong phạm vi Việt Nam
để giữ gìn an ninh cho hệ thống xã hội chủ nghĩa và hòa bình trên thế giới Đây
là một chủ trương cực kỳ quan trọng của Đảng ta trong quá trình điều khiển cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước” [4, tr.141] Về mối quan hệ giữa kiềm chế Mỹ và đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam cũng được các tác giả tổng kết trong bài học kinh nghiệm và coi đó là nội dung sáng tạo, độc lập, tự chủ trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng
Cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2 (1954-1975) [183] là
công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Phân tích âm mưu của Mỹ thời điểm đầu năm 1965, các tác giả viết: “Là một đế quốc đầu sỏ có tiềm lực chiến tranh rất lớn chúng
Trang 19không dễ dàng chấp nhận thất bại Chúng mở rộng chiến tranh hòng tạo
ra một dư luận trên thế giới, ép ta phải nhân nhượng” [183, tr.294-295]
“Đế quốc Mỹ có thể tăng cường phối hợp với bọn phản động ở Lào để mở rộng chiến tranh ở Trung Lào và Hạ Lào, và có thể mở những cuộc tập kích bằng bộ binh ra Nam Quân khu 4” [183, tr.305] Về chủ trương của Đảng giai đoạn này: “Tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở mức cao nhất ở miền Nam chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại hiện nay đến một trình độ ác liệt gấp bội hoặc chuyển nó thành một cuộc “chiến tranh cục bộ” ở cả miền Nam lẫn miền Bắc” [183, tr.295-296]
Cuốn Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 Thắng lợi và bài
học [5] là công trình tổng kết 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng Nói về đường lối chiến tranh cách mạng Việt Nam, các tác giả viết: “Hạn chế không để địch đánh theo cách sở trường của chúng Chúng ta đã biết điều khiển chiến tranh một cách đúng đắn, kiên quyết và khôn khéo, bắt địch phải lùi từng bước từ thấp đến cao” [5, tr.152] Về đường lối kháng chiến chống Mỹ vào năm 1965 “Chủ trương trên cơ sở đánh lâu dài phải nắm lấy thời cơ, tìm mọi cách và kiềm chế và thắng địch trong cuộc
“chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam” [5, tr.152]
Trong cuốn Lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 11 [20] các tác giả đã tái
hiện những sự kiện lịch sử chính về cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam trong 21 năm chống Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc Trong đó
có đề cập việc Đảng xác định vị trí chiến trường miền Nam thời kỳ 1965 - 1973: “Kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh, đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai trên chiến trường chính miền Nam” [21, tr.212]; “Miền Nam Việt Nam được
Bộ Chính trị xác định là chiến trường quan trọng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương” [21, tr 284] Từ đó Đảng đề ra một số biện pháp đấu tranh kiềm chế và đánh thắng
Mỹ trên chiến trường chính
Trang 20Tập 12 Lịch sử quân sự Việt Nam: Những nhân tố hợp thành sức mạnh
Việt Nam thắng Mỹ [23] là những nghiên cứu luận giải về nguyên nhân thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Các tác giả đã phân tích, làm
rõ những nhân tố hợp thành sức mạnh Việt Nam chiến thắng Mỹ, từ đó khẳng định nhân tố đầu tiên và quyết định thắng lợi cuộc kháng chiến là sự lãnh đạo của Đảng Về ý nghĩa của chủ trương kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam, các tác giả viết: “Trong bối cảnh quốc tế phức tạp, chúng ta phải bằng hành động thực tiễn - chiến đấu và chiến thắng đế quốc
Mỹ xâm lược, không cho chiến tranh lan rộng, làm sáng tỏ chân lý chính nghĩa,
để làm cho các bạn đồng minh gần gũi, cũng như các lực lượng kháng chiến khác hiểu, đi đến đồng tình, ủng hộ cuộc kháng chiến” [23, tr.209] Đề cập đến sức mạnh ngoại giao quốc tế để kiềm chế Mỹ trên trường quốc tế: “Thực hiện thành công đoàn kết quốc tế với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã tạo cho cuộc kháng chiến của chúng ta một sức mạnh cần và đủ
để hạn chế một phần sức mạnh của đế quốc Mỹ, bảo đảm chúng ta đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của chúng” [23, tr.213]
Cuốn Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954 - 1975), Tập 3 (1965 - 1968) [156] là sự trình bày một cách khái
quát hoạt động và sự đóng góp trí tuệ, công sức của Bộ Tổng Tham mưu cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của
Mỹ Bộ Tổng Tham mưu nhận định về âm mưu của Mỹ giai đoạn này : “Kết hợp dùng không quân oanh tạc miền Bắc mạnh hơn, có thể dùng một bộ phận
bộ binh đổ bộ đường biển tập kích vào Nam Quân khu 4” [156, tr.26] Theo chủ trương của Đảng, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo “Ngăn chặn không để Mỹ đưa quân vào Lào, không để tình hình chiến trường bạn diễn biến phức tạp hơn, nhất là ở Trung - Hạ Lào Mặt khác, kiên quyết làm thất bại âm mưu mở rộng chiến tranh phá hoại và đề phòng Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ ra miền Bắc” [156, tr.49] Về nội dung chỉ đạo đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam giai đoạn này, các tác giả đề cập việc Bộ Tổng Tham mưu xác định
Trang 21nhiệm vụ cụ thể và đề ra các biện pháp để quân dân miền Nam đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của quân Mỹ.
Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954 - 1975), Tập 4 (1969 - 1972) [157] trình bày sự tham mưu, chỉ đạo của Bộ
Tổng Tham mưu trong giai đoạn 1969 - 1972 của cuộc kháng chiến Bộ Tổng Tham mưu nhận định chiến trường giai đoạn này: “Miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, Campuchia là chiến trường yếu nhất của địch, chiến trường Lào ngày càng có vị trí hiểm yếu, miền Bắc Việt Nam là hậu phương chung của chiến trường cả ba nước Đông Dương” [157, tr.571] Đề phòng Mỹ mở rộng tiến công bằng bộ binh ra Nam Quân khu 4 “Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Binh đoàn 70 chuẩn bị kế hoạch tác chiến phối hợp với lực lượng vũ trang trong quân khu sẵn sàng tiêu diệt địch tấn công bằng bộ binh ra quân khu; Tăng cường cho các huyện ven biển từ Thanh Hóa đến Nam Hà 10 đại đội bộ đội địa phương sẵn sàng đánh địch tập kích đường biển”[157, tr.150]
Bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, gồm 9
tập do Viện Lịch sử quân sự nghiên cứu, biên soạn với sự góp ý, cung cấp tư liệu của nhiều đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội qua các thời kỳ chiến tranh cùng sự đóng góp trí tuệ của nhiều nhà khoa học Các tác giả
đã phản ánh tương đối toàn diện, sâu sắc toàn bộ cuộc kháng chiến, đồng thời làm nổi bật một số sự kiện trọng yếu, đánh giá những ưu, nhược điểm chính, phân tích làm rõ nguồn gốc chiến tranh, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm, những thành công, cũng như chưa thành công qua từng giai đoạn của cuộc chiến Bốn tập IV, V, VI, VII có liên quan gần đến đề tài luận án
Tập IV, “Cuộc đụng đầu lịch sử” [24] trình bày khá chi tiết diễn biến
cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam trong những năm 1965-1967 Trong
đó có đề cập đến một số nội dung chủ trương của Đảng về kiềm chế Mỹ giai đoạn đầu khi đế quốc Mỹ tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở MNVN Các tác giả cũng đề cập sự chỉ đạo của Đảng về kiềm chế Mỹ, buộc quân Mỹ phân tán lực lượng và lún sâu vào thế bị động trên chiến trường chính miền Nam Nội dung Đảng chỉ đạo đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam được các giả
Trang 22trình bày theo logic: Đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất mùa khô
1965 - 1966 của quân viễn chinh Mỹ; giữ vững thế chủ động tiến công địch, mở mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị; đánh bại chiến lược hai gọng kìm tìm diệt và bình định của Mỹ trong cuộc phản công mùa khô 1966 - 1967
Tập V, “Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968” [25] Nội dung cuốn
sách đề cập đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng tạo bước ngoặt quyết định trên chiến trường chính miền Nam bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968
“Thắng lợi này tạo ra một bước ngoặt quyết định của chiến tranh, đánh sập ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm cho chúng hiểu rằng không thể thắng được dân tộc Việt Nam trong chiến tranh” [25, tr.7] Thắng lợi của Tổng tiến công
và nổi dậy năm 1968 đã nâng tầm vóc và quyết định vị thế của dân tộc ta, mở
ra một bước ngoặt để ta kiềm chế đế quốc Mỹ bằng đòn tiến công ngoại giao Việt Nam đến Paris với tư cách người nắm quyền chủ động trên chiến trường, đại diện cho công lý, tự mình đàm phán về dân tộc mình
Tập VI, “Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương” [26] viết về
cuộc kháng chiến giai đoạn 1969 - 1971, Mỹ tiến hành mở rộng chiến tranh ra Đông Dương Các tác giả trình bày chủ trương và chỉ đạo của Đảng đẩy mạnh
đoàn kết liên minh chiến đấu với Lào và Campuchia, đánh bại bước phiêu lưu
chiến tranh của Mỹ để kiềm chế và đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính là MNVN: “Tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, trở thành một khối thống nhất có chiến lược chung” [26, tr.247] Đảng chỉ đạo: “Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ta hiện nay trên chiến trường là đoàn kết chiến đấu với nhân dân Campuchia, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Campuchia” [26, tr.253]; “nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong thời gian tới là giúp đỡ bạn và phối hợp với bạn mở rộng và xây dựng vùng Trung, Hạ Lào thành căn cứ địa ngày càng vững mạnh” [26, tr.276]
Tập VII, “Thắng lợi quyết định năm 1972” [27] trình bày sự chỉ đạo của
Đảng giành thắng lợi quyết định với cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường chính miền Nam; tiếp tục giữ vững, tăng cường đoàn kết với Lào,
Trang 23Campuchia đánh Mỹ trên chiến trường Đông Dương để hạn chế không gian, phạm
vi chiến tranh, kiềm chế Mỹ trên chiến trường quan trọng nhất là MNVN Về sự chỉ đạo của Đảng đấu tranh ngoại giao kiềm chế Mỹ, các tác giả viết: “Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền đối ngoại nhằm làm cho dư luận ở Mỹ và trên thế giới thấy rõ thái độ ngoan cố trong đàm phán và các hành động mở rộng đánh phá đối với miền Bắc là để thực hiện âm mưu kéo dài chiến tranh” [27, tr.411-412]
Bên cạnh những cuốn tổng kết lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do tập thể các nhà khoa học nghiên cứu biên soạn còn có khá nhiều cuốn sách lịch sử do các tướng lĩnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy trong cuộc kháng chiến và cá nhân các nhà khoa học viết
Đại tướng Văn Tiến Dũng viết cuốn Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước [46] với sự bổ sung về nội dung, số liệu và nhận định, kết luận mới của
BCT, BCHTƯ Đảng Tác giả đã trình bày chủ trương, chỉ đạo của Đảng với cuộc kháng chiến, đặc biệt ở các thời điểm có tính chất “bước ngoặt” của cuộc kháng chiến, từ đó rút ra những vấn đề về nghệ thuật chỉ đạo kết thúc cuộc kháng chiến Đề cập đến chỉ đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam, tác giả viết: “Trên cơ sở đánh lâu dài, biết kiềm chế và tập trung nỗ lực cả nước đánh thắng địch trên chiến trường miền Nam càng sớm càng tốt” [46, tr.54] Về xác định mục tiêu đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam: “Nhằm đánh thắng lực lượng quân sự của địch là tiêu diệt một
bộ phận quan trọng buộc chúng phải sa lầy trong đường hầm và làm tan rã tinh thần của chúng Từ đó, từng bước đập tan ý chí chiến đấu của chúng [46, tr.56]
Cuốn sách Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước [168] là tập hợp một số bài viết, bài nói của Đại tướng trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Khi đế quốc Mỹ tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, Đại tướng nhận định: “Đế quốc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh cục bộ ra phạm vi cả nước ta có thể mở rộng chiến tranh sang Vương quốc Lào và tăng cường khiêu khích Vương quốc Campuchia” [168, tr.251] Trên cơ sở đó, Đại tướng đề cập nhiệm vụ của miền Bắc: “Chúng ta cần
Trang 24chuẩn bị cả về tư tưởng và tổ chức để đánh thắng lục quân Mỹ cũng như bất
cứ quân chủng nào khác của chúng với bất kỳ quy mô nào” [168, tr.255]
Cuộc đấu trí ở tầm cao trí tuệ Việt Nam [137] được Giáo sư Trần
Nhâm nhìn nhận cuộc kháng chiến từ góc độ triết học - chính trị, trong đó tác giả luận giải và làm sáng tỏ tầm cao tư duy chính trị và trí tuệ của Đảng trong khoa học và nghệ thuật chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Phân tích, chứng minh trí tuệ của Đảng trong đường lối chiến lược tổng hợp để đánh Mỹ và thắng Mỹ, tác giả đề cập: “Đi đôi với đẩy mạnh tiến công, Đảng
ta chủ trương kiềm chế và đánh thắng địch ở miền Nam, và khi Mỹ leo thang
mở rộng chiến tranh, Đảng ta chủ trương kiên quyết đánh thắng bất kỳ cuộc chiến tranh nào của Mỹ” [137, tr.79] Theo giáo sư Trần Nhâm, tầm cao tư duy của Đảng trong cuộc đấu trí là: “Đảng ta cho rằng đánh thắng Mỹ hiện nay chỉ là đánh thắng chúng trong khuôn khổ và quy mô cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam chủ trương làm thất bại chính sách xâm lược, đè bẹp và đánh tan ý chí xâm lược khiến cho chúng không thể tiếp sức mở rộng và kéo dài chiến tranh được nữa buộc chúng phải chịu thua
và rút khỏi miền Nam”[137, tr.127]
Phó giáo sư Nguyễn Xuân Tú viết cuốn Đảng chỉ đạo giành thắng lợi
từng bước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thời kỳ 1965 - 1975
[174] Tác giả viết: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã dự kiến đúng tình huống Mỹ sẽ đưa quân vào trực tiếp xâm lược miền Nam Ta không bị lúng túng, giữ vững quyền chủ động, kịp thời thực hiện kiềm chế bước leo thang của đế quốc Mỹ” [174, tr.246] Tác giả làm rõ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh
“biết cách đánh và thắng Mỹ” của Đảng Đó là nghệ thuật đẩy lùi địch từng
bước, từ đánh thắng từng trận, đến thắng từng chiến dịch, đánh thắng từng chiến lược, từ thắng cục bộ đến thắng toàn bộ Tác giả cũng đề cập quá trình điều khiển cuộc chiến tranh của Đảng là ra sức kiềm chế và đánh thắng cuộc chiến tranh bằng lục quân của Mỹ ở miền Nam, cố gắng hạn chế không gian chiến tranh trong phạm vi Việt Nam để giữ gìn an ninh cho hệ thống xã hội
Trang 25chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình thế giới Nội dung kinh nghiệm, tác giả viết:
“Kinh nghiệm lớn nhất của giai đoạn 1965 - 1968 chỉ rõ, kiềm chế và buộc địch phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom miền Bắc, chịu “phi
Mỹ hóa chiến tranh” là mục tiêu thích hợp” [174, tr.230]
* Những công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới dạng đề tài, luận án.
Nhiều luận án tiến sĩ lịch sử viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có đề cập ít nhiều đến chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về kiềm chế, đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam Luận án phó tiến sĩ của Hà
Minh Hồng (1997) Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn
1969-1972:chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ, tác giả nghiên cứu sự chỉ
đạo thực hiện chống phá bình định trong diễn biến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm rõ bối cảnh lịch sử và những vấn đề chi phối cuộc kháng chiến trong giai đoạn 1969-1972 Những nghiên cứu của tác giả đã làm rõ biện pháp kiềm chế và đánh bại những nỗ lực cuối cùng của Mỹ trong thực hiện chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh” đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ
Luận án phó tiến sĩ của Hồ Khang: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam Việt nam, tác giả đã phân tích những
nguyên nhân khách quan, chủ quan về sự hình thành ý đồ chiến lược của Đảng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 Tác giả trình bày diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, phân tích, đánh giá tác động chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường MNVN
và với nước Mỹ Luận án nêu rõ thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã tạo nên bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện sự kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, đánh dấu bước chuyển căn bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Luận án tiến sĩ Lê Văn Mạnh (2007): Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ từ 1969 đến 1975 Tác giả đã trình bày hệ thống sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trên
Trang 26các mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, binh vận chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ nhằm giành và giữ thế chủ động, tạo thời cơ giành thắng lợi từng bước tiến tới thắng lợi hoàn toàn Luận án đã góp phần làm rõ vai trò lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng là nguyên nhân quyết định hàng đầu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Luận án tiến sĩ Trịnh Thị Hồng Hạnh (2008): Đảng lãnh đạo xây dựng
và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở chiến trường miền Nam (1965-1973)
Tác giả đã cung cấp một số tư liệu về các kế hoạch mở rộng chiến tranh bằng lục quân của Mỹ ra chiến trường Lào, Campuchia Luận án làm rõ chủ trương chiến lược và sự chỉ đạo của Đảng xây dựng vành đai diệt Mỹ trên các địa bàn chiến lược ở chiến trường miền Nam Sự chỉ đạo đó của Đảng là một biện pháp đấu tranh quân sự để kiềm chế và đánh thắng quân Mỹ trong từng địa bàn chiến lược trên chiến trường miền Nam
* Những bài báo có tính chất nghiên cứu, trao đổi sâu về một vấn đề được đăng tải trên các tạp chí khoa học
Nhóm các bài báo nghiên cứu, tiêu biểu như: Lê Bằng, (1990) “Đánh giá đúng đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh thần thánh một thành tựu tư duy xuất
sắc của Đảng ta”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân [7]; Hoàng Dũng (1998), “Tết Mậu Thân bước ngoặt quyết định”, Tạp chí Lịch sử quân sự [43]; Phạm Cao
Cường (2005), “Sự thật về âm mưu của Mỹ đằng sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ
(8-1964)”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử [31]; Nguyễn Khắc Huỳnh (2007), “Quan hệ
Mỹ - Xô - Trung và đường lối độc lập, tự chủ của Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử
quân sự [116,117]; Trịnh Vương Hồng (2010), “Đường lối kháng chiến của
Đảng - Kết tinh bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử quân sự [115];
Hồ Khang (2012), “Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và bước ngoặt trên bàn
đàm phán Hội nghị Paris”, Tạp chí Lịch sử quân sự [125]; Nguyễn Bình, (2013),
“Nhìn lại những giai đoạn khó khăn của cách mạng Việt Nam tại miền Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)”, Tạp chí Lịch sử
quân sự [10]; Nguyễn Hữu Đạo (2015), “Cuộc chiến tranh của người Mỹ ở Việt
Trang 27Nam qua nhìn nhận của người nước ngoài”, Tạp chí Lịch sử Đảng [48]; Nguyễn
Mạnh Hà (2015), “Mấy suy nghĩ về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975”, Tạp chí Lịch sử quân sự [111];
Trịnh Thị Hồng Hạnh (2015), “Chỉ đạo chiến lược trong những bước ngoặt của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Tạp chí Lý luận chính trị [113]; Vũ
Dương Ninh (2015), “Chiến tranh Việt Nam trong cục diện tam giác Mỹ - Trung
- Xô (1954 - 1975”, Tạp chí Lịch sử Đảng [138, 139]; Đinh Xuân Lý (2015),
“Đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao - nhân tố góp phần quan trọng vào thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, Tạp chí Lịch sử Đảng [149]
Trong bài “Quan hệ Mỹ - Xô - Trung và đường lối độc lập, tự chủ của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ” [116], nhà nghiên cứu lịch sử ngoại
giao và quan hệ quốc tế Nguyễn Khắc Huỳnh cho rằng việc Việt Nam giải quyết
thắng lợi ứng phó với ba nước lớn là thành công lớn trong thực hiện chủ trương kiềm chế Mỹ về ngoại giao trên trường quốc tế: “Mười năm chống chọi với đế quốc Mỹ cũng là mười năm giữ đoàn kết Xô - Trung, giữ cân bằng quan hệ với hai nước Báo chí quốc tế ví Hà Nội đã “làm xiếc thăng bằng” trong quan hệ với hai ông bạn lớn Đầu năm 1972, Liên Xô, Trung Quốc đi vào hòa hoãn với Mỹ, Việt Nam khẳng định mạnh mẽ: “Việt Nam là của chúng tôi, các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam” [116, tr.16] Nhờ vậy, cách mạng Việt Nam đã hạn chế được các tiêu cực do quan hệ hòa hoãn giữa các nước lớn
Trong bài viết “Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và bước ngoặt trên
bàn đàm phán Hội nghi Paris” [125], tác giả Hồ Khang làm rõ quá trình hình
thành ý đồ tiến công chiến lược và sự kết hợp giữa thắng lợi quân sự trên chiến trường chính với đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán Về việc xác định chiến trường trong cuộc tiến công chiến lược, tác giả viết: “6-1971, Quân ủy Trung ương họp, xác định phương hướng tiến công tổng quát: 1 Đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên cả ba vùng, trên khắp các chiến trường Đông Dương; 2 Miền Nam Việt Nam là chiến trường chính” [125, tr.4] Theo tác giả, thời gian từ những tháng cuối năm 1972 đến đầu năm
Trang 281973, hoạt động quân sự đánh thắng Mỹ trên chiến trường gắn chặt chẽ với
diễn biến trên bàn Hội nghị Paris
Những bài viết này tuy ngắn gọn nhưng mang tính khái quát cao, phân tích sâu về một nội dung của đường lối hay sự chỉ đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố, những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết
3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố
Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các công trình khoa học cả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án cho thấy:
1 Các công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh - cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam rất phong phú, đa dạng với lượng thông tin đồ sộ và chất lượng các công trình ngày càng sâu sắc bởi các văn bản lưu trữ liên quan được công bố Qua khảo cứu các công trình cho thấy:
Thứ nhất, về nguy cơ Mỹ mở rộng phạm vi, không gian, quy mô, cường
độ hơn thực tế diễn ra trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam giai đoạn
1965 - 1973 là rất cao:
- Thực tế diễn ra của cuộc chiến tranh có quy mô vượt ngoài dự kiến
theo kế hoạch của Mỹ về: Quân số đông, phương tiện chiến tranh nhiều và
hiện đại; cường độ lớn, tính ác liệt cao; thời gian dài, chi phí lớn.
- Nguy cơ sử dụng vũ khí hạt nhân: Một số tướng lĩnh và quan chức chính phủ Mỹ đã có kế hoạch sử dụng bom nguyên tử chiến thuật ở chiến trường Việt Nam và Lào vào thời điểm những năm 1965, 1968 Những kế hoạch này đã được bàn thảo ở Bộ Quốc phòng và Hội đồng An ninh quốc gia
Mỹ với sự “được biết” của Tổng thống Mỹ
- Bị ám ảnh bởi thuyết domino, đế quốc Mỹ có quyết tâm cao ngăn chặn
“làn sóng đỏ” ở “nút chai” Đông Nam Á là MNVN Mỹ quyết tâm giữ và biến MNVN thành căn cứ quân sự lập bàn đạp tấn công miền Bắc Việt Nam, lập
Trang 29phòng tuyến ngăn chặn CNXH lan xuống Đông Nam Á Thực tế, có tướng lĩnh cao cấp Mỹ đã lập kế hoạch tăng quân, tiến công bằng lực lượng lục quân miền Bắc Việt Nam (khu vực phía Nam Quân khu 4).
Thứ hai, các công trình trong nước ở các khía cạnh khác nhau đã đề cập đến:
- Đảng xác định MNVN là chiến trường chính - chiến trường quan trọng nhất trong thời kỳ 1965 - 1973
- Đảng có chủ trương và đã chỉ đạo thực hiện kiềm chế và đánh thắng
Mỹ trên chiến trường chính được xác định là MNVN
- Đảng đã chỉ đạo miền Bắc và Quân khu 4 chuẩn bị lực lượng, các phương án sẵn sàng đánh địch tiến công bằng lực lượng lục quân
- Các công trình đã đề cập ở mức độ khác nhau về nội dung, mục tiêu, biện pháp Đảng chỉ đạo thực hiện kiềm chế Mỹ, đánh thắng Mỹ trên chiến trường chính miền Nam
Thứ ba, do bị kiềm chế về quân sự trên chiến trường, về chính trị và
ngoại giao, phải: “Nhảy theo vũ điệu chiến lược của Bắc Việt” nên mặc dù
đã leo thang chiến tranh vượt quy mô dự kiến của cuộc “chiến tranh cục bộ”,
Mỹ không dám mở rộng hơn phạm vi không gian chiến tranh, không dám đưa lục quân ra miền Bắc Việt Nam
Các công trình của người nước ngoài đã đề cập đến chính quyền Mỹ và
bộ máy chiến tranh của Mỹ bị “hạn chế”, “kiềm chế” ở rất nhiều mặt nên không thể mở rộng, tăng cường chiến tranh hơn nữa Các công trình trong nước có đề cập mức độ khác nhau các nội dung chủ trương kiềm chế, hạn chế phạm vi, thời gian để đánh thắng Mỹ trong cuộc kháng chiến của Đảng
2 Các công trình cả trong nước và nước ngoài chưa đi sâu làm rõ các vấn đề:
- Âm mưu và những kế hoạch của Mỹ mở rộng chiến tranh ra ngoài phạm vi MNVN
- Trình bày hệ thống, chuyên sâu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam trong những năm
1965 - 1973
- Nhận xét, đánh giá về việc Đảng lãnh đạo kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam thời kỳ 1965 - 1973
Trang 30- Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam thời kỳ này.
3 Các công trình này là nguồn tư liệu quý với những số liệu, nhận định, đánh giá, kết luận giúp cho tác giả có thêm cơ sở, cách tiếp cận để triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể của đề tài “Đảng lãnh đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973”
3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả
xác định đề tài luận án “Đảng lãnh đạo kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ
trên chiến trường chính miền Nam từ năm 1965 đến năm 1973” tập trung giải
quyết những vấn đề cơ bản là:
Cung cấp một số tư liệu mới về âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong thời kỳ
1965 - 1973, đặc biệt là các tư liệu về kế hoạch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc và Đông Dương
Trình bày một cách lôgic, hệ thống về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam trong những năm 1965 - 1973
Nhận xét những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân về thực hiện kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam trong những năm 1965 - 1973
Đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo kiềm chế, đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam trong thời kỳ lịch sử này
Trang 31Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO KIỀM CHẾ VÀ ĐÁNH THẮNG ĐẾ QUỐC MỸ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH MIỀN NAM (1965 - 1968)
1.1 Yêu cầu khách quan kiềm chế và đánh thắng đế quốc Mỹ trên chiến trường chính miền Nam
1.1.1 Âm mưu thủ đoạn của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam
* Đế quốc Mỹ đưa quân vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam và nguy
cơ về cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Bắc Việt Nam
Đầu năm 1965, sau hơn 10 năm thế chân thực dân Pháp xâm lược MNVN, mặc dù đã hao tổn nhiều trí lực, tiền bạc, sử dụng nhiều thủ đoạn chiến tranh nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn
Tháng 2-1965, sau khi khảo sát tình hình MNVN, McGeorge Bundy -
Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ, trở về Washington với một báo cáo: “Tình hình
ở Việt Nam đang xấu đi và nếu Mỹ không hành động mới thì thất bại là tất yếu… Nguy cơ thất bại của Mỹ ở Việt Nam là cực kỳ cao” [142, tr.175] Theo Davidson: “Tháng 8-1964 tình hình là đáng sợ, còn và tháng 2-1965 đã trở nên thảm hoạ, tình hình này… tạo ra một cơ hội quan trọng nhất (để leo thang
và kết thúc chiến tranh - TG)”[47, tr.300]
Tổng thống Mỹ Lyndon B Johnson và giới quân sự Mỹ quyết định đẩy chiến tranh lên một nấc thang mới quyết liệt hơn: đưa quân chiến đấu trên bộ vào trực tiếp tham chiến ở MNVN, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”
để giành thắng lợi quyết định Chính quyền Johnson cho rằng, áp dụng chiến lược “chiến tranh cục bộ” là biện pháp tốt nhất để cứu nguy chính quyền Sài Gòn, dù họ nhận thấy sẽ bị tổn thất về tính mạng, tốn kém về của cải và vi phạm một nguyên tắc về chính sách của Mỹ là phải tránh một cuộc chiến tranh khác trên lục địa châu Á, kể từ sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)
Thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, Mỹ áp dụng chiến lược leo thang từ từ Tướng William C Westmoreland - Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự
Trang 32Mỹ tại MNVN đề nghị tăng quân Mỹ ở miền Nam lên 17 tiểu đoàn với 7 vạn quân, còn Taylor muốn ném bom miền Bắc mạnh hơn nữa trong nhiều tuần ra bắc vĩ tuyến 19 đang được giới hạn Trước những yêu cầu đó, ngày 1-4-1965, Johnson quyết định: Tăng quân Mỹ vào MNVN, nâng lực lượng quân Mỹ lên
2 vạn, đồng thời nghiên cứu khả năng đưa quân các nước đồng minh Australia, New Zealand và Nam Triều Tiên sang giúp sức Lực lượng không quân Mỹ cũng được đưa thêm sang Viễn Đông để thực hiện kế hoạch tăng cường, mở rộng phạm vi đánh phá Bắc Việt Nam và Lào
Quyết định ngày 1-4-1965 của Johnson sau này được đánh giá là có ý
nghĩa bản lề, chấp nhận chính sách của Mỹ (chính thức) bước vào cuộc chiến tranh trên bộ, là cái mốc của sự chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở MNVN
Quyết định của chính quyền Mỹ vào tháng 7-1965 là nâng tổng số quân
Mỹ và nước ngoài lên khoảng 17,5 - 20 vạn, bao gồm 43 tiểu đoàn, trong đó
34 tiểu đoàn quân Mỹ (khoảng 100.000 quân), 9 tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên Việc triển khai thêm này là cần thiết đến đầu năm 1966 Sau đó tuỳ thuộc vào tình hình, có thể triển khai thêm nữa nếu cần Đây là bước ngoặt quan trọng trong quá trình thay đổi đường lối, chính sách leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Westmoreland đệ trình Nhà Trắng kế hoạch thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam thành ba giai đoạn, dự tính đạt các mục
tiêu trong khoảng thời gian hai năm tới hai năm sáu tháng (từ tháng 7-1965 đến giữa hoặc cuối năm 1967)
Giai đoạn 1 (từ tháng 7 đến tháng 12-1965), đưa nhanh quân Mỹ và
quân các nước đồng minh vào MNVN để ngăn chặn chiều hướng sụp đổ của chế độ Sài Gòn, bảo đảm an toàn cho những khu vực đông dân cư, hoàn thành việc triển khai lực lượng chuẩn bị cho các cuộc phản công giành lại quyền chủ động trên chiến trường
Trang 33Giai đoạn 2 (từ tháng 1 đến tháng 6-1966), mở các cuộc tiến công “tìm
diệt” ở những khu vực ưu tiên đã được xác định, tiêu diệt lực lượng chủ lực quân Giải phóng, phá các căn cứ du kích, hỗ trợ cho chương trình “bình định”
Giai đoạn 3 (từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối năm 1967), mở các cuộc
hành quân kết hợp với quân đội Sài Gòn, tiến công tiêu diệt các lực lượng còn lại của quân Giải phóng và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định miền Nam, rút quân Mỹ về nước vào cuối năm 1967
Theo kế hoạch trên, quân Mỹ và quân các nước đồng minh là lực lượng
cơ động nòng cốt, làm nhiệm vụ “tìm diệt” chủ lực quân giải phóng Quân Sài Gòn chủ yếu làm nhiệm vụ “bình định” Đây là điểm phát triển mới so với
“chiến tranh đặc biệt” Nếu trong “chiến tranh đặc biệt” , Mỹ chỉ đóng vai trò làm cố vấn cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, thì trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” quân chiến đấu Mỹ là lực lượng trực tiếp “tìm diệt” quân chủ lực giải phóng
Triển khai “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, ngày 8-3-1965, tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng Theo từng bước leo thang chiến tranh, chính phủ Mỹ tiếp tục đưa nhiều đơn vị khác sang trực tiếp chiến đấu trên chiến trường miền Nam Đến tháng 12-1965, quân số Mỹ trên chiến trường miền Nam đã lên đến 184.314 quân [24, tr.29], gồm ba sư đoàn, sáu lữ đoàn và trung đoàn cùng hai phi đoàn máy bay chiến đấu chiến thuật số 3 và
12, hai đoàn đặc nhiệm hải quân CTF - 115 và CTF - 116 (Costal Task Force) Ngoài ra còn có 20.500 quân các nước đồng minh gồm các đơn vị của Nam Triều Tiên, Australia, Newzealand cũng trực tiếp tham chiến
Từ đầu cuộc kháng chiến, mặc dù Đảng và nhân dân Việt Nam kiên trì đấu tranh đòi Mỹ, chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Geneve Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm ngang nhiên bắt bớ tù đày, tàn sát những người kháng chiến cũ, gây ra cuộc chiến tranh một phía ở miền Nam và hô hào “lấp sông Bến hải”, “chiếm lại cố đô”, “lấy máu rửa hận thù” Chính quyền Sài Gòn làm con đường chiến lược số 9 ở Quảng Trị và gọi là đường “Bắc tiến” Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ được giao chuẩn bị kế hoạch “Bắc tiến” Từ vụ
Trang 34xâm nhập đầu tiên vào ngày 27-5-1961 của nhóm biệt kích mang bí số Castor xuống Sơn La đến 1964, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tung vào miền Bắc Việt Nam hơn 60 toán biệt kích gián điệp với quy mô từ nhỏ tới lớn
Từ năm 1964, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà Trắng, Lầu Năm Góc
và Cơ quan tình báo trung ương CIA, Mỹ đã tổ chức các tổ chức bí mật tiếp tục tung gián điệp, biệt kích ra miền Bắc, điều hành các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến và tiến hành phá hoại kinh tế, quân sự miền Bắc:
Chiến dịch bán quân sự bí mật của Washington chống Hà Nội trong cuộc chiến tranh Việt Nam của nhóm MACVSOG ((Millitary Assistance Command, Vietnam - Studies and Observation Group) là hoạt động ngầm lớn nhất do Mỹ thực hiện kể từ khi OSS ra đời MACVSOG đã tiến hành cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội trong tám năm, từ tháng Giêng năm 1964 đến tháng 4 năm 1972 [163, tr.7 - 8]
Từ tháng 2-1964, Lầu Năm góc và Bộ Ngoại giao Mỹ đã đề ra kế hoạch mang tên Rotstau, trong đó có bước phong tỏa bờ biển Hải Phòng, tấn công tập kích ven biển miền Bắc Việt Nam
Để “ngăn chặn làn sóng cộng sản” chính quyền Mỹ quyết tâm chiếm giữ MNVN bằng mọi giá Giới lãnh đạo Mỹ quan niệm rằng: “Việc để mất bất cứ một nước nào ở Đông Nam Á vì hành động xâm lược của cộng sản sẽ có một hậu quả tâm lý, chính trị và kinh tế nghiêm trọng ách thống trị cộng sản trước mắt sẽ gây nguy hại nghiêm trọng và về lâu dài, nguy hại một cách nguy kịch đến lợi ích an ninh quốc gia Mỹ” [164, tr.39] Do vậy, ngay cả đến “Sự tham gia của đồng minh ở Việt Nam đã được thảo luận từ lâu vì Washington coi Việt Nam cũng như Triều Tiên là
sự thử thách của thế giới tự do chống hành động xâm lược của cộng sản” [189, tr.61] Khi tiến hành “chiến tranh cục bộ” Chính phủ Mỹ được Quốc hội Mỹ ủng
hộ, được uỷ nhiệm, cho phép tiến hành mọi hoạt động chiến tranh nếu thấy cần thiết mà không cần có sự phê chuẩn của Quốc hội Nghị quyết về Đông Nam Á (thường được gọi là “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ”) ngày 7-8-1964 “cho phép Tổng
Trang 35Thống Johnson được sử dụng mọi biện pháp, kể cả đưa đến các lực lượng vũ trang trực tiếp xâm lược Việt Nam và Lào”[123, tr.334].
Quyết tâm đánh bại cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, củng cố địa vị ở Đông Dương và Đông Nam Á, Mỹ sẽ chứng tỏ một cách rõ ràng cho toàn thế giới thấy khả năng dập tắt bất kỳ một cuộc cách mạng giải phóng nào.Trên thực tế, Mỹ tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam từ năm
1965, sau hai năm cuộc chiến đó đã vượt quá rất nhiều về quy mô, tính chất
và phạm vi theo kế hoạch ban đầu Chiến lược “chiến tranh cục bộ” theo quan điểm của Mỹ là dùng quân Mỹ trực tiếp tham chiến nhưng hạn chế ở lực lượng, hạn chế mục tiêu chiến lược, hạn chế về phạm vi chiến tranh và phải giành được thắng lợi về quân sự, đạt được mục tiêu trong thời gian ngắn nhất Đến năm 1967, “chiến tranh cục bộ” Mỹ tiến hành ở MNVN đã vượt xa sự
hạn chế Mỹ dự tính ban đầu Về lực lượng, giới quân sự Mỹ tính toán quân số
tham chiến giành thắng lợi ở Việt Nam không cần tới 6 sư đoàn với khoảng 205.000 quân (theo quy định 3 đến 6 sư đoàn cho một cuộc chiến tranh cục bộ), đến tháng 12 -1967 lực lượng đã tương đương 11 sư đoàn trong đó có 9
sư đoàn và 3 lữ đoàn quân Mỹ (khoảng 480.000 quân Mỹ, cùng 57.800 quân
đồng minh và 52 vạn quân Sài Gòn) Về vũ khí, Mỹ đã sử dụng vũ khí trang
bị, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, mới nhất Về mục tiêu chiến lược,
không chỉ hạn chế ở việc “tìm diệt” lực lượng vũ trang giải phóng mà buộc
phải mở rộng sang nhiệm vụ “bình định” Về phạm vi chiến tranh, Mỹ đã
bước đầu đi quá hạn chế phạm vi MNVN, đang tăng cường và mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân với miền Bắc Việt Nam và có ý định mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương Tháng 6-1967, “Các cố vấn khác thúc dục Tổng thống xúc tiến mạnh chiến tranh, xét việc xâm chiếm Lào, Campuchia và ngay cả Bắc Việt Nam Tổng thống được kêu gọi quân trù bị… để tiến hành một cuộc tham gia quân sự tổng lực” [1, tr.209 - 210]
Sau đợt Tết Mậu Thân (1968), một số tướng lĩnh Mỹ thuộc phái “diều hâu” đã có kế hoạch tiến công miền Bắc Việt Nam bằng lục quân Trong hồi
Trang 36ký của của mình, Johnson tiết lộ: tháng 2-1968, sau khi sang MNVN thị sát, tướng Weeler - Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân đã thống nhất với
Westmoreland đưa ra một kế hoạch trong đó có nội dung: tiến hành một cuộc
đổ bộ trên đất liền, phối hợp với hoạt động hỗ trợ của không quân, vượt qua khu phi quân sự đánh vào phía Nam của Bắc Việt Nam Để thực hiện nội
dung này, đề nghị: tăng thêm 206.000 quân, nâng tổng số đã được duyệt là 525.000 lên 731.000 Việc triển khai số quân này theo thứ tự như sau: Đợt thứ nhất, tính đến ngày 1-5-1968, triển khai một lữ đoàn của lữ đoàn cơ giới số 5;
6 tiểu đoàn của sư đoàn lính thuỷ đánh bộ số 5 và một trung đoàn kỵ binh thiết giáp, cộng với 8 phi đoàn máy bay chiến thuật Đợt thứ hai ngày 1-9-
1968, triển khai phần còn lại của sư đoàn cơ giới số 5 và 4 phi đoàn máy bay chiến thuật Đợt thứ 3, ngày 31-12-1968, triển khai một sư đoàn bộ binh (dự định sẽ thành lập sư đoàn này), đồng thời với 3 phi đoàn máy bay chiến thuật
“Tất cả các lực lượng nói trên đều phải có mặt tại các tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam, để tham gia vào một cuộc hành quân vượt qua khu phi quân sự sẽ bắt đầu từ mùa khô tháng 11-1968” [22, tr.633]
Đối với Lào, để phối hợp với “chiến tranh cục bộ” tại MNVN, Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược thực dân mới với chiến lược “chiến tranh đặc biệt” lên đỉnh cao với sự chi viện trực tiếp về hỏa lực của không quân Mỹ, chia cắt vùng giải phóng Lào, làm suy yếu thế và lực của cách mạng Lào; từng bước thực hiện câu kết chiến lược với Thái Lan và chính quyền Sài Gòn
để chống phá cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam
Với Campuchia, Mỹ thấy rõ tầm quan trọng về hậu phương chiến lược trực tiếp của Campuchia đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân dân MNVN, nhất là hành lang vận chuyển tiếp tế và các căn cứ “đất thánh” của lực lượng cách mạng Việt Nam trên đất Campuchia Mỹ ráo riết dùng quân đội Sài Gòn và Thái Lan, có hoả lực chi viện trực tiếp của không quân Mỹ, tăng cường đánh phá uy hiếp biên giới Campuchia, đẩy mạnh hoạt động lật đổ Chính phủ trung lập Sihanouk
Trang 37Có thời điểm, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S Mcnamara đã đề cập đến cân nhắc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật để chống Bắc Việt Nam: “Ngày 13-3.1966, McNamara đã lên tiếng biện minh cho việc phải
sử dụng đến bom nguyên tử tại Nam Việt Nam cũng như Bắc Việt Nam khi cần thiết”[119, tr.215] Một tài liệu tối mật của Mỹ tựa đề: Không lực
Mỹ tại Đông Nam Á: Tiến tới một đợt ngừng ném bom 1968 của Jacob
Van Staaveren gần đây đã được tiết lộ rằng Mỹ cũng đã từng 2 lần có kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam vào năm 1961 và năm 1968 Vào thời điểm trước Tết Mậu Thân, khi bị lực lượng cách mạng tiến công mạnh ở miền Trung, tướng Westmoreland đã lên kế hoạch đề nghị tiến công Bắc Việt Nam, Lào bằng bom hạt nhân và hoá học (theo tạp chí điện tử The National Security Achirve ngày 9-4-2008)
* Đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đối với miền Bắc Việt Nam.
Tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc là một phần của chiến lược “chiến tranh cục bộ” Từ đầu năm 1964, Mỹ đã từng bước triển khai việc mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Mỹ lập kế hoạch 34A và thực hiện các cuộc tuần tra DESOTO trên Vịnh Bắc Bộ, tăng cường trinh sát và khiêu khích các lực lượng hải quân và phòng thủ bờ biển Bắc Việt Nam Chính quyền Mỹ soạn sẵn một dự thảo Nghị quyết (từ tháng 5-1964) về mở rộng chiến tranh, đánh phá miền Bắc Việt Nam
Triển khai kế hoạch đánh phá miền Bắc, đêm 4-8-1964 Mỹ dựng lên
“Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” vu cáo Hải quân nhân dân Việt Nam tiến công tàu USS Madox của Mỹ ở ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ thuộc hải phận quốc tế để thực hiện hành động gọi là “trả đũa”, dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc “Johnson muốn can thiệp sâu vào Việt Nam nên đã tự buộc mình vào các hoạt động bí mật với các đơn vị nhỏ hải quân Mỹ gần bờ biển miền Bắc Việt Nam, và một trong những phi vụ này đã tạo cho ông ta cái cớ để tuyên chiến, đó chính là sự kiện Vịnh Bắc Bộ” [33, 16’]
Trang 38Đánh phá miền Bắc Việt Nam, phía Mỹ nhằm đạt mục đích: Làm lung lay ý chí quyết tâm kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam; phá huỷ các công trình kinh tế, quốc phòng miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện của nhân dân miền Bắc đối với miền Nam, củng cố, nâng đỡ tinh thần quân đội và chính quyền Sài Gòn đang suy sụp Với sức mạnh của không lực Hoa kỳ, giới quân sự Mỹ hy vọng đạt được mục đích đó trong vòng hai đến sáu tháng.
Tháng 2-1965, Mỹ chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam
Về không quân, Mỹ thực hiện chiến dịch Mũi lao lửa (Flaming Dart)
và sau là chiến dịch Sấm rền (Rolling Thunder), huy động lực lượng lớn không quân, đánh phá quy mô lớn và liên tục trên Bắc Việt Nam qua ba bước leo thang
Từ ngày 7-2 đến ngày 13-6-1965, đánh phá từ vĩ tuyến 17 ra vĩ tuyến
20 Mục tiêu đánh phá là các trục đường giao thông, các công trường, nhà máy, các đơn vị quân đội từ Vĩnh Linh (Quảng Trị) ra đến Thanh Hoá
Từ ngày 14-6-1965 đến 21-2-1967, khi tiến hành hai cuộc phản công lớn vào mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 ở miền Nam, không quân Mỹ leo thang đánh phá ra toàn miền Bắc Mục tiêu đánh phá là các khu công nghiệp như Việt Trì, Thái Nguyên và các trục đường giao thông quan trọng như Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Lào Cai
Từ ngày 22-2-1967 đến 31-3-1968, khi bị lực lượng cách mạng đánh mạnh ở miền Nam, nhất là từ Tết Mậu Thân, không quân Mỹ leo thang lên mức độ cao, đánh phá quyết liệt vào cả nội thành Hà Nội, Hải Phòng “Thời
kỳ leo thang cao nhất vào tháng 8-1967, Mỹ đã huy động hàng nghìn máy bay chiến đấu chiến thuật, xuất kích trung bình một ngày 90 - 100 lần, có những ngày cao hơn 400 lần Về máy bay ném bom chiến lược B.52, ngày cao nhất chúng sử dụng 100 lần Hơn 40 loại máy bay hiện đại được Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc” [46, tr.157]
Đồng thời, Mỹ sử dụng lực lượng hải quân thực hiện thả thuỷ lôi nhằm phong toả, triệt phá giao thông đường thuỷ miền Bắc
Trang 39Thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” với những âm mưu, thủ đoạn mới nhằm quyết tâm tiếp tục thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở Việt Nam, Mỹ đã đặt cách mạng Việt Nam trước thử thách mới, từ đây cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới, tính chất của chiến tranh cũng có những điểm mới, đồng thời một loạt vấn đề mới cũng được đặt ra.
1.1.2 Tình hình quốc tế tác động đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, các nước XHCN phát triển nhanh chóng về mọi mặt Đặc biệt là trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật Điều đó giúp cho CNXH trở thành trụ cột của hoà bình thế giới, cổ
vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc vùng dậy đấu tranh tự giải phóng mình Đây là điều kiện thuận lợi cho nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chính nghĩa, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của đế quốc Mỹ
Phong trào giải phóng dân tộc thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ Nhiều nước thuộc địa ở cả châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh lần lượt đứng lên giành độc lập làm thu hẹp hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Sự ra đời Phong trào không liên kết năm 1961 là lực lượng chính trị mới trên trường quốc tế, Phong trào này phát triển mạnh mẽ và tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Phong trào công nhân và quần chúng đấu tranh phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ Tháng 4-1965, tại Mỹ
có các cuộc đấu tranh của công nhân trong các ngành sản xuất vũ khí, trang thiết
bị chiến tranh Phong trào đấu tranh đã tập hợp nhiều tầng lớp nhân dân, có những cuộc biểu tình thu hút 30 đến 40 vạn người, nhiều công dân Mỹ tự thiêu
để phản đối chiến tranh [183, tr.364] Ở các nước đồng minh của Mỹ (Australia, Nam Triều Tiên, Nhật Bản ) phong trào quần chúng chống chính sách tăng cường chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam phát triển mạnh Đặc biệt là
ở Nhật Bản, phong trào phát triển mạnh với những “ngày đoàn kết”, “tuần
Trang 40đoàn kết”, “tháng đoàn kết” cùng Việt Nam chống Mỹ Năm 1965, diễn ra 23 cuộc đấu tranh với 6,2 triệu người tham gia, năm 1966, có 30 cuộc với 6 triệu người tham gia Đặc biệt là ngày 21-10-1966, có tới 5,5 triệu người tham gia” [174, tr.50] Sự phát triển của phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới ủng
hộ Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiếp tục cuộc kháng chiến trong cuộc đọ sức toàn diện với đế quốc Mỹ
Những nhân tố mới của tình tình quốc tế là rất cơ bản và thuận lợi cho cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam cũng phải đương đầu với những khó khăn, thử thách phát sinh từ sự bất hoà trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Khi Việt Nam bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, do ảnh hưởng quan điểm
“chung sống hoà bình” của Nikita Khrushev (Bí thư thứ nhất Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) Liên Xô khuyên Việt Nam nên tập trung xây dựng CNXH ở miền Bắc cho mạnh thì miền Nam sẽ được giải phóng Liên
Xô yêu cầu Nam - Bắc Việt Nam cần chung sống hoà bình và thi đua kinh tế Kinh tế miền Bắc phát triển thì miền Nam sẽ được thống nhất vào miền Bắc Quan điểm này có tác động ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc kháng chiến ở Việt Nam Sau khi Leonid Brezhnev lên thay Khrushev (10-1964), Liên Xô đã điều chỉnh chính sách đối ngoại, lên án hành động leo thang chiến tranh của
Mỹ ở Việt Nam Từ năm 1965 trở đi, sự giúp đỡ của Liên Xô cho Việt Nam ngày càng tăng dần và có hiệu quả hơn Giúp đỡ vì nghĩa vụ quốc tế, mặt khác Liên Xô cũng muốn Việt Nam phải phụ thuộc vào mình, vì Việt Nam đang là ngọn cờ tiên phong trong chống đế quốc Liên Xô muốn cải thiện, tăng cường mối quan hệ với các nước trong phe XHCN, trong phong trào cộng sản, làm suy yếu sự ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới, đồng thời, thông qua việc giải quyết chiến tranh ở Việt Nam để thúc đẩy hoà hoãn với
Mỹ Từ những cuộc thảo luận giữa Mỹ và Liên Xô về cuộc chiến tranh Việt Nam ở Washington (Mỹ) đầu năm 1965, nhà nghiên cứu lịch sử Xô viết
Gaiduk rút ra kết luận: Một là, Liên Xô không hài lòng với cuộc xung đột quân