1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng

67 582 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ có rất nhiều tiến bộ nhưng cũng đang đặt ra đòi hỏi mà các trường không dễ dàng thỏa mãn được, em đã tìm hiểu quyết định số 43/2007/QĐ-B

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ HỌC PHẦN QUA MẠNG 5

I- Tổng quan về học chế tín chỉ 5

1 Vài nét lịch sử về học chế tín chỉ 5

2 Đặc điểm của học chế tín chỉ 6

3 Hiện trạng áp dụng học chế tín chỉ ở Việt Nam 9

4 Về phương hướng mở rộng và cải tiến học chế tín chỉ ở nước ta 20

II- Tổng quan về hệ thống đăng ký học phần qua mạng 23

1 Học phần và Tín chỉ 23

2 Quy trình đăng ký học phần theo học chế tín chỉ 23

3 Các bước tiến hành việc đăng ký học phần qua mạng 25

4 Các điều kiện để việc đăng ký học phần được chấp nhận 25

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ HỌC PHẦN QUA MẠNG 26

I- Tổng quan về phân tích thiết kế hệ thống 26

1 Chu trình phát triển phần mềm 26

2 Phương pháp hướng chức năng và phương pháp hướng đối tượng 29

II- Phân tích hệ thống 31

1 Phân tích trường hợp sử dụng (Use Case – UC) 31

2 Mô hình hoá tương tác đối tượng 36

3 Biểu đồ lớp 39

4 Biểu đồ chuyển trạng thái 39

5 Biểu đồ triển khai 40

III- Thiết kế hệ thống 41

1 Kiến trúc hệ thống 41

Trang 2

3 Thiết kế giao diện 44

CHƯƠNG 3 CÀI ĐẶT MINH HỌA CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CHO HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ HỌC PHẦN QUA MẠNG 46

I Công cụ 46

1 Ngôn ngữ lập trình web động ASP 46

2 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server 49

3 Kết nối và truy xuất cơ sở dữ liệu 57

II Cài đặt 59

1 Đăng nhập vào hệ thống 59

2 Đăng nhập thành công 60

3 Đổi mật khẩu 61

4 Đăng ký học phần 62

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 67

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới Đây là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo” Theo đánh giá của Tổ chức ngân hàng thế giới (World Bank), thì đào tạo theo Hệ thống tín chỉ không chỉ có hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển Ở nước ta, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ

từ năm học 1993-1994 và đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp Trong “Chương trình hành động của Chính phủ” thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp …” Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định:

“… xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục đại học chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ…” Cho đến nay, cả nước đã có nhiều trường chuyển đổi sang đào tạo theo

Hệ thống tín chỉ với lộ trình và bước đi hợp lý

Nhận thấy hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ có rất nhiều tiến bộ nhưng cũng đang đặt ra đòi hỏi mà các trường không dễ dàng thỏa mãn được, em đã tìm hiểu quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Văn Núi, em quyết định chọn đồ án tốt

nghiệp “Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng”

Đăng ký học phần là một nội dung rất quan trọng trong hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đòi hỏi sinh viên phải nắm chắc Quy chế đào tạo và được tư vấn đầy đủ để lập được kế hoạch học tập thật phù hợp với điều kiện và năng lực cụ thể của mình Em đã cố gắng nghiên cứu và xây dựng hệ thống đăng ký học phần

Trang 4

qua mạng, hy vọng hệ thống sẽ hỗ trợ các bạn sinh viên thuận lợi hơn trong việc đăng ký học phần học tập của bản thân và giúp đỡ công tác quản lý của nhà trường

Do kiến thức của em còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót trong

đồ án tốt nghiệp này, mong thầy cô góp ý để đề tài của em hoàn thiện hơn

Nội dung đồ án tốt nghiệp này bao gồm ba chương:

- Chương 1: Giới thiệu tổng quan về hệ thống đăng ký học phần qua mạng

Chương này giới thiệu các vấn đề cơ bản về hệ thống đăng ký học phần qua mạng, quy trình, các bước để đăng ký học phần qua mạng

- Chương 2: Phân tích, thiết kế hệ thống đăng ký học phần qua mạng

Chương này phân tích chi tiết hệ thống, thiết kế được tương đối đầy đủ các chức năng cho hệ thống

- Chương 3: Cài đặt minh họa các chức năng cơ bản cho hệ thống đăng ký

học phần qua mạng.

Trang 5

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ HỌC PHẦN QUA MẠNG

Đến đầu thế kỷ 20, hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học của Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun Tại Trung Quốc, từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ (European Credit Transfer System -ECTS) trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực châu Âu và trên thế giới

b Việt Nam

Trước năm 1975 một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tại Miền Nam Việt Nam đã áp dụng học chế tín chỉ: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học

Trang 6

Trong quá trình “Đổi mới” ở nước ta từ cuối năm 1986 chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục đại học ở nước ta cũng có nhiều thay đổi Hội nghị Hiệu trưởng đại học tại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới giáo dục đại học, trong đó

có chủ trương triển khai trong các trường đại học qui trình đào tạo 2 giai đoạn và môdun hoá kiến thức Theo chủ trương đó, học chế “học phần” đã ra đời và được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước ta từ năm

1988 đến nay Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích lũy dần kiến thức theo các môđun trong quá trình học tập, tức là cùng theo ý tưởng của học chế tín chỉ xuất phát từ Mỹ Tuy nhiên, về một số phương diện, học chế học phần chưa thật sự mềm dẻo như học chế tín chỉ của Mỹ,do đó nó được gọi là “sự kết hợp niên chế với tín chỉ”, tuy nhiên những khó khăn về đời sống trong xã hội nói chung và trong các trường đại học nói riêng lúc đó chưa cho phép đặt vấn đề thực hiện học chế môđun hóa triệt để Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học dịu bớt, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương tiến thêm một bước, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang và một số trường đại học khác áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó

2 Đặc điểm của học chế tín chỉ

a Đặc điểm chung

- Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng đại học qua việc tích luỹ các loại tri thức giáo dục khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định, căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của một sinh viên, gọi là tín chỉ (credit) Định nghĩa chính thức về tín chỉ phổ biến ở Mỹ và một số nước như sau: Khối lượng học tập gồm 1 tiết học lý thuyết (50 phút) trong một tuần lễ và kéo dài 1 học kỳ (15 - 18 tuần) thì được tính 1 tín chỉ Các tiết học loại khác như: thực tập thí nghiệm, đi thực địa, vẽ, nhạc, thực hành nghệ thuật, thể dục thì thường cứ 3 tiết trong một tuần kéo dài một học kỳ được tính một tín chỉ Ngoài định nghĩa nói trên,

Trang 7

người ta còn quy định: để chuẩn bị cho 1 tiết lên lớp, sinh viên phải bỏ ra ít nhất 2 giờ làm việc ở ngoài lớp

Tín chỉ theo định nghĩa nói trên gắn với học kỳ 4 tháng (semester) được sử dụng phổ biến nhất ở Mỹ Ngoài ra còn có định nghĩa tương tự cho tín chỉ theo học

kỳ 10 tuần (quarter) được sử dụng ở một số ít trường đại học Tỷ lệ khối lượng lao động học tập của hai loại tín chỉ này là 3/2

- Để đạt bằng cử nhân (Bachelor) sinh viên thường phải tích luỹ đủ 120 - 136 tín chỉ (Hoa Kỳ), 120 - 135 tín chỉ (Nhật Bản), 120 - 150 tín chỉ (Thái Lan) Để đạt bằng thạc sĩ (master) sinh viên phải tích luỹ 30 - 36 tín chỉ (Mỹ), 30 tín chỉ (Nhật Bản), 36 tín chỉ (Thái Lan)

Theo ECTS của Châu Âu (EU) người ta quy ước khối lượng lao động học tập ước chừng của một sinh viên chính quy trung bình trong một năm học được tính bằng 60 tín chỉ

- Khi tổ chức giảng dạy theo tín chỉ, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo một chuyên môn chính (major) nào đó Sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi, sinh viên có thể ghi tên học các môn liên ngành nếu

họ thích Sinh viên không chỉ giới hạn học các môn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn học khác lĩnh vực, chẳng hạn sinh viên các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật vẫn cần phải học một ít môn khoa học xã hội, nhân văn và ngược lại

- Về việc đánh giá kết quả học tập, hệ thống tín chỉ dùng cách đánh giá thường xuyên, và dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tích luỹ được để cấp bằng cử nhân Đối với các chương trình đào tạo sau đại học (cao học và đào tạo tiến sỹ) ngoài các kết quả đánh giá thường xuyên còn có các kỳ thi tổng hợp và các luận văn

b Các ưu điểm của học chế tín chỉ

 Có hiệu quả đào tạo cao

Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng Với học chế này, sinh viên được chủ động

Trang 8

thiết kế kế hoạch học tập cho riêng mình, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của mình Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau

Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi Về phương diện này

có thể nói học chế tín chỉ là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa (elitist) thành nền đại học mang tính đại chúng (mass)

 Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao

Với học chế tín chỉ, sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu

Với học chế tín chỉ, các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên

Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước

 Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo

Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, sinh viên không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế

Nếu triển khai học chế tín chỉ các trường đại học lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng

Trang 9

viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học Kết hợp với học chế tín chỉ, nếu trường đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích luỹ được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một tín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng đại học Ở Mỹ trên một nghìn trường đại học chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích luỹ được ngoài nhà trường

c Các nhược điểm của học chế tín chỉ và cách khắc phục

 Cắt vụn kiến thức

Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ được quy định tương đối nhỏ, cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Đây thật sự là một nhược điểm, và người ta thường khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các môđun quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để sinh viên có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học

 Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên

Vì các lớp học theo môđun không ổn định, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của sinh viên có thể gặp khó khăn Chính vì nhược điểm này mà có người nói học chế tín chỉ

“khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng” Khó khăn này

là một nhược điểm thực sự của học chế tín chỉ, tuy nhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định qua các lớp khóa học trong năm thứ nhất, khi sinh viên phải học chung phần lớn các môđun kiến thức, và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khoa biểu để sinh viên có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung

3 Hiện trạng áp dụng học chế tín chỉ ở Việt Nam

a Vài nét về hệ thống “niên chế” áp dụng trong giáo dục đại học nước ta trước năm 1988

Trang 10

Muốn hiểu quy trình đào tạo hiện nay trong giáo dục đại học nước ta, cần nhắc lại vài nét về quy trình đào tạo trước khi có đổi mới giáo dục đại học, tức là từ năm 1987 về trước

Sau năm 1975 hệ thống giáo dục đại học thống nhất của nước ta được xây dựng theo mô hình chung của Miền Bắc, tức là mô hình Liên Xô cũ Đó là hệ thống

áp dụng quy trình đào tạo theo “niên chế” với các đặc điểm như sau:

- Các lớp học được xếp theo khóa tuyển sinh, chương trình học được thiết kế chung cho mọi sinh viên cùng một khóa;

- Đơn vị học vụ được tính theo năm học, cuối mỗi năm học những sinh viên nào đạt kết quả học tập theo quy định thì được lên lớp, sinh viên không đạt thì bị ở lại lớp (lưu ban) học cùng sinh viên khóa sau, tức là phải học lại thêm một năm học

- Tùy mức quan trọng của môn học việc đánh giá kết quả học tập thường theo hai cách: thi có cho điểm, và kiểm tra chỉ xác định đạt hay không đạt, không đạt phải kiểm tra lại Không tính điểm trung bình chung, trong học bạ chỉ liệt kê điểm của các môn thi (được cho theo 5 bậc)

b Về việc triển khai học chế học phần trong toàn bộ hệ thống đại học và cao đẳng nước ta

- Bản chất của học chế này là sự tích lũy dần (accumulation) kiến thức

- Kiến thức được môđun hóa thành các học phần Học phần là một môđun kiến thức tương đối trọn vẹn và không quá lớn (thực chất học phần là một môn học nhỏ, tương ứng với thuật ngữ subject của Mỹ) có thể lắp ghép với nhau để tạo nên một chương trình đào tạo dẫn đến một văn bằng, người học có thể luỹ dần trong quá trình học tập

Trang 11

- Để đo lường kiến thức theo khối lượng lao động học tập của người học, khái niệm đơn vị học trình (ĐVHT) đã được đưa vào, đơn vị này về bản chất đồng nhất với khái niệm credit của hệ thống giáo dục đại học Mỹ

- Để làm cho các chương trình đào tạo mềm dẻo, có 3 loại học phần được quy định: học phần bắt buộc phải học, học phần lựa chọn theo hướng dẫn của nhà trường và học phần tự chọn tuỳ ý Ngoài ra cũng có quy định về việc việc được học thêm ngành đào tạo chính (major), ngành đào tạo phụ (minor) hoặc thêm văn bằng thứ hai

- Với tinh thần tích lũy kiến thức, mỗi học phần được đánh giá bằng một điểm (theo thang mười bậc) là kết quả tổng hợp của các đánh giá bộ phận và của một kỳ thi kết thúc Có quy định điểm tối thiểu cần đạt được (thường là điểm 5) để xem như học phần được tích lũy Kết quả học tập chung của học kỳ, năm học hoặc khóa học được đánh giá bằng điểm trung bình chung: đó là điểm trung bình của các học phần đã tích lũy với trọng số là số đơn vị học trình của từng học phần

 Việc triển khai học chế học phần

Cùng với học chế học phần, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định 2677/GD-ĐT ngày 3/12/1993 ban hành khung chương trình đào tạo, trong đó quy định khối lượng kiến thức tối thiểu và phân bố các thành phần kiến thức cho các văn bằng đại học Cũng trong văn bản nêu trên có đưa ra định lượng cho đơn vị học trình cơ bản (=15 tiết giảng lý thuyết hoặc thảo luận = 30-> 45 giờ thực hành thí nghiệm = 45->90 giờ thực tập tại cơ sở = 45->80 giờ chuẩn bị tiểu luận hoặc luân văn) Theo quy định đó một chương trình dẫn đến bằng cử nhân 4 năm phải có khối lượng 210 ĐVHT

Để đảm bảo sự thống nhất chung của quy trình đào tạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các Quy chế khung về đánh giá kết quả học tập, xét lên lớp, tốt nghiệp, để căn cứ vào đó từng trường đại học, cao đẳng xây dựng quy chế đánh giá kết quả học tập riêng của mình Do sự vận dụng khác nhau tùy theo điều kiện và trình độ của từng trường, học chế học phần được thực hiện ở mỗi trường có các sắc thái khác nhau: khác nhau về mức độ thông tin cung cấp trước cho sinh viên về chương trình đào tạo, khác nhau về mức độ có

Trang 12

sẵn các học phần để lựa chọn ở các trường, để học thêm các ngành đào tạo chính, ngành đào tạo phụ hoặc văn bằng thứ hai

Trong quá trình triển khai học chế học phần, có nhiều Quy chế về đào tạo và một số quy định khác có liên quan đến quy trình đào tạo đã lần lượt được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo theo học phần chính thức đầu tiên QC2238/QĐĐH được ban hành vào tháng 12 năm 1990 và quy chế QC2679/GD-

ĐT được ban hành tháng 12 năm 1993 bổ sung hoàn chỉnh Quy chế trước Ngày 11/12/1999 một quy chế mới, Quy chế 04/1999/QĐ-BGD-ĐT được ban hành, sau

đó ra đời một vài quy định về các môn thi tốt nghiệp ở các trường đại học và cao đẳng Rất đáng tiếc là các quy chế và quy định từ năm 1999 có một số điểm mâu thuẫn với bản chất của học chế học phần; buộc sinh viên phải thi tốt nghiệp các học phần mà họ đã tích lũy

 So sánh các học chế học phần được áp dụng phổ biến ở Việt Nam và học chế tín chỉ ở Mỹ

Để hiểu rõ học chế học phần hiện nay ở Việt Nam và học chế tín chỉ ở ngay tại Mỹ, chiếc nôi của học chế tín chỉ, dưới đây sẽ nêu những điểm giống nhau và khác nhau về bản chất và về việc thực hiện các học chế đó

Giống nhau:

- Bản chất của cả hai học chế là sự tích lũy dần các môđun kiến thức để đạt được văn bằng

- Sinh viên được lựa chọn một số môđun cho chương trình học của mình

- Việc đánh giá kết quả học tập được thực hiện nhờ điểm trung bình chung với trọng số là số lượng tín chỉ của các môđun

Trang 13

- Đối với các chương trình đào tạo của Mỹ có nhiều môđun khác nhau được đưa ra để SV lựa chọn nên mức độ tự do lựa chọn cao hơn; trong các chương trình đào tạo của các trường đại học nước ta thường có rất ít môđun để lựa chọn

- Lớp học theo học chế tín chỉ ở Mỹ thường được sắp xếp theo môđun, còn lớp học trong học chế học phần ở Việt Nam vẫn sắp xếp theo khóa học;

- Ở các trường đại học Mỹ có một hệ thống cố vấn học tập đầy đủ để tư vấn cho SV lựa chọn môđun và thiết kế quy trình học tập, mỗi sinh viên vào trường được gắn với một cố vấn học tập; đối với học chế học phần ở nước ta chưa có hệ thống cố vấn học tập này;

- Tín chỉ ở Mỹ được quy định theo số giờ học mỗi tuần kéo dài trong một học

kỳ, tùy theo học kỳ ngắn hay dài mà tín chỉ lớn hay nhỏ (ví dụ semester credit bằng

cỡ 1,5 quarter credit vì semester kéo dài khoảng 15 tuần, quarter kéo dài khoảng 10 tuần); ĐVHT của ta được quy định bằng tổng số 15 tiết học lý thuyết ở lớp mà không nói rõ số giờ học trong tuần (xem 3.2.a)

- Trong học chế tín chỉ ở Mỹ có quy định số giờ lao động học tập tối thiểu cần thiết của sinh viên cho một giờ lên lớp (thường là 2/1) Để quy định này thực sự được thực hiện, ở các trường đại học Mỹ áp dụng rộng rải phương pháp dạy và học đảm bảo tính chủ động tích cực của sinh viên, do trình độ giáo chức và điều kiện vật chất để áp dụng phương pháp dạy và học đó cũng được đảm bảo đầy đủ (tài liệu học tập, thư viện, phòng thí nghiệm cần cho sinh viên làm việc…) Việc quy định khối lượng tài liệu học tập và tham khảo mà sinh viên phải đọc đối với một môđun và cách ra đề thi cho môdun đó dựa vào yêu cầu của môn học và khối lượng tài liệu quy định (chứ không phải dựa vào những điều mà giảng viên đã trình bày ở lớp) cũng cho phép kiểm tra việc chuẩn bị ngoài giờ học Ở Việt Nam chưa có quy định nói trên đối với học chế học phần và cũng chưa đủ các điều kiện để thực hiện quy định như vậy Vì khối lượng lên lớp mỗi tuần khá lớn (thường >30 tiết/tuần) nên ở Việt Nam thực chất thời gian chuẩn bị của sinh viên cho mỗi tiết học ở lớp thường không quá 1/1 Như vậy, tính theo khối lượng lao động học tập của sinh viên 1 tín chỉ của Mỹ bằng cỡ 1,5 ĐVHT của ta

Trang 14

- Ở các trường đại học Mỹ việc cung cấp thông tin về chương trình và lịch trình giảng dạy, thi, kiểm tra cho sinh viên rất đầy đủ, đặc biệt thể hiện ở niên lịch giảng dạy được công bố chính thức trước mỗi năm học Thời gian biểu học và thi đã công bố được thực hiện nghiêm chỉnh ở Việt Nam khi thực hiện học chế học phần điều này nói chung chưa được nhiều trường thực hiện

- Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với mỗi môdun ở các trường đại học Mỹ được thực hiện liên tục trong cả quá trình giảng dạy môdun đó,

do đó thời gian dành để thi học kỳ cho các môn học thường chỉ có một tuần; ở các trường đại học nước ta việc học cẩn thận và đánh giá từng phần môn học ít diễn ra thường xuyên trong quá trình giảng dạy mà chủ yếu được thực hiện sau khi kết thúc việc dạy môđun, do đó cuối mỗi học kỳ thời gian dành cho việc thi các học phần thường diễn ra khoảng 4 tuần

Như vậy, qua các so sánh nêu trên, có thể thấy rõ học chế học phần ở Việt

Nam cũng có cùng bản chất như học chế tín chỉ của Mỹ, đó là tích lũy dần kiến thức

được môđun hóa, nói cách khác, học chế học phần ở nước ta đã chứa một số yếu tố

của học chế tín chỉ của Mỹ Tuy nhiên tính mềm dẻo của học chế học phần ở nước

ta chưa cao như học chế tín chỉ của Mỹ, nói cách khác chúng ta chưa tận dụng triệt

để các ý tưởng làm mềm dẻo quy trình đào tạo của học chế tín chỉ của Mỹ

c Việc triển khai học chế học phần triệt để (học chế tín chỉ) ở một số trường đại học nước ta

Như đã phân tích ở trên, căn cứ vào các quy chế đào tạo đã ban hành và việc thực hiện học chế học phần, có thể thấy học chế học phần ở nước ta chưa đạt được

độ mềm dẻo cao, vì nó chưa thể hiện các ý tưởng của học chế tín chỉ một cách triệt

để Bởi vậy học chế học phần chỉ có thể xem như một bước đệm trong quá trình chuyển từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ Bước đệm này là cần thiết khi điều kiện vật chất và trình độ đội ngũ giáo chức chưa hội đủ để thực hiện học chế tín chỉ thực sự

Từ niên khoá 1993-1994 Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích các trường đại học cải tiến học chế học phần để có học chế học phần triệt để hơn, hoặc nói cách khác là áp dụng học chế tín chỉ kiểu Mỹ cho quy trình đào tạo đại học nước ta Nơi

Trang 15

đầu tiên thực hiện quá trình chuyển đổi này là trường Đại học Bách khoa Thành phố

Hồ Chí Minh (niên khóa 1993-1994), sau đó là các trường Đại học Đà Lạt, Cần Thơ, Thuỷ sản Nha Trang (niên khóa 1994-1995), một khoa của trường Đại học Xây dựng Hà Nội, trường Đại học Dân lập Thăng Long… Cần lưu ý là việc chuyển

từ học chế học phần sang học chế tín chỉ thực chất là cải tiến và tăng sự mềm dẻo của học chế học phần hiện có, đo đó đây là một quá trình liên tục, không phải đột biến Cũng không phải hễ sử dụng thuật ngữ tín chỉ thay cho ĐVHT để đo lường khối lượng lao động học tập thì được gọi là áp dụng học chế tín chỉ Một ví dụ về hiện tượng này là trường hợp Đại học mở Bán công Thành phố Hồ Chí Minh: trong

“Sổ tay sinh viên năm 2003” có ghi là nhà trường áp dụng học chế tín chỉ, nhưng trong “Sổ tay sinh viên năm 2004” lại tuyên bố là áp dụng học chế niên chế kết hợp với học phần Vì vậy, trong bài này, nơi nào cải tiến học chế học phần theo hướng làm cho nó mềm dẻo gần như học chế tín chỉ ở Mỹ thì sẽ được qui ước gọi là đã áp dụng học chế tín chỉ

Qua việc tìm hiểu tình hình triển khai học chế tín chỉ ở một số cơ sở (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Cần Thơ và Trường Đại học Dân Lập Thăng Long) có thể nêu một số nhận xét sau đây về hiện trạng áp dụng học chế tín chỉ ở nước ta

 Về đơn vị đo lường

Tuy tất cả các trường nói trên đều gọi đơn vị đo lường khối lượng lao động học tập của SV là tín chỉ, nhưng định mức của đơn vị không thống nhất Các trường Đại học Cần thơ, Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa tín chỉ giống như định nghĩa ĐVHT trong Quyết định 2677/GD-ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, và cũng quy định văn bằng cử nhân ứng với khối lượng học tập là 210 tín chỉ Riêng Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa tín chỉ giống như định nghĩa của hệ thống tín chỉ của Mỹ, và quy định văn bằng kỹ sư thiết kế cho 4,5 năm ứng với khối lượng 155 tín chỉ Các trường nói trên đều có tổ chức thêm học kỳ hè 7->8 tuần Đại học Dân lập Thăng Long thiết kế học chế tín chỉ theo học kỳ khoảng 10 tuần (quarter), mỗi năm học có

3 học kỳ, văn bằng cử nhân có khối lượng 210->224 tín chỉ

Trang 16

 Về thông tin cho sinh viên

Các trường đã khảo sát đều có Sổ tay sinh viên để giới thiệu quy trình đào tạo và các quy định về thủ tục đăng ký học phần, thi kiểm tra… Tuy nhiên chỉ có Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh có công bố Niên giám giới thiệu chương trình tóm tắt các môn học gần tương tự như các niên lịch giảng dạy ở các trường đại học Mỹ

 Về cách thiết kế các học phần

Ở Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh mỗi học phần được thiết kế có từ 1 đến 6 tín chỉ, thậm chí có học phần chứa

số bán nguyên 1,5 tín chỉ; ở Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh một học phần chứa từ 1 đến 4 tín chỉ, tại đây có một số trường hợp số giờ lên lớp hàng tuần nhiều hơn số tín chỉ Như vậy là ngay trong Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cách định nghĩa tín chỉ và cách thiết kế môn học cũng không giống nhau

 Về điều kiện dạy và học, phương pháp dạy và học

Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đảm bảo tài liệu học tập tương đối tốt: mỗi môn học được quy định phải có ít nhất 1 tài liệu tiếng Việt, 1 tài liệu tiếng Anh và một tài liệu tham khảo khác ở các trường khác việc đảm bảo tài liệu có yếu hơn Về điều kiện giảng dạy, Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh có trang bị máy chiếu hắt ở mọi phòng học và máy chiếu đa phương tiện cho

17 giảng đường, các trường khác cũng có nhiều cố gắng về phương diện này Tuy nhiên, phương pháp dạy và học mới nhằm dạy cách học, đảm bảo tính chủ động của sinh viên và tận dụng công nghệ mới được sử dụng chỉ ở một bộ phận giáo chức và học phần, chưa trở thành phổ biến trong các trường áp dụng học chế tín chỉ Như vậy vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học chủ yếu không phải ở phương tiện, trang bị mà là ở con người

 Về tổ chức đăng ký học phần

Các trường đều tổ chức đăng ký học phần vào đầu học kỳ, xử lý sơ bộ kết quả đăng ký và cho đăng ký lại nếu một số môn học không đủ chỗ hoặc thiếu số sinh viên tối thiểu được quy định (Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh quy

Trang 17

định tối thiểu 80 sinh viên đối với các môn học cơ sở, 40 sinh viên đối với các môn học của nhóm ngành đào tạo, 20 SV đối với các môn học của ngành đào tạo) Đối với sinh viên chính quy, các trường có quy định số tín chỉ tối thiểu và tối đa được phép đăng ký học trong một học kỳ (14-> 20 tín chỉ ở Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh; 18->35 tín chỉ ở Đại học Khoa học tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh; Đại học Cần Thơ -> 40 tín chỉ) Đối với sinh viên học kỳ 1 hoặc cả năm thứ nhất hầu như không tổ chức đăng ký, vì chương trình đào tạo bao gồm hầu hết các môn bắt buộc Cần lưu ý là việc đăng ký học phần cho một học kỳ sắp tới đòi hỏi phải có kịp thời kết quả đánh giá các học phần của học kỳ trước, do đó để triển khai học chế tín chỉ được trơn tru, cần tổ chức thúc đẩy tốc độ chấm bài của giáo chức Đối với các môn học đông sinh viên nếu dùng phương pháp thi tự luận thì công đoạn này thường bị kéo daì Việc không tổ chức đăng ký cho sinh viên năm thứ nhất cũng tạo nên các lớp khóa học ổn định trong năm đầu, thuận lợi cho các tổ chức hoạt động khác của sinh viên Về công nghệ đăng ký học phần, một số trường sử dụng máy quét chuyên dụng để nạp dữ liệu, một vài trường đã và đang thử nghiệm đăng ký trực tuyến (Đại học dân lập Thăng Long, Đại học Cần Thơ) Theo Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, chưa thể triển khai đăng ký trực tuyến hoàn toàn tự động như một số trường đại học nước ngoài (sinh viên đăng ký, máy chấp nhận hoặc từ chối ngay) vì nhà trường chưa đủ nguồn lực để thỏa mãn mọi nguyện vọng của sinh viên mà cần phải nhiều lần điều chỉnh các lớp học phần

 Về tổ chức thu học phí

Học phí được thu theo số lượng học phần mà sinh viên đăng ký, giá mỗi học phần được tính tùy theo số giờ lý thuyết, bài tập, thực tập… Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh quy đổi ra tín chỉ học phí đối với mỗi học phần để định giá học phần Đại học Cần Thơ có sáng kiến hợp đồng vớn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn để Ngân hàng giúp thu học phí và chuyển về tài khoản nhà trường, sáng kiến này tăng tính chuyên môn hóa và đảm bảo sự trong sáng của khâu thu học phí

 Về các tổ chức sinh hoạt tập thể trong cộng đồng sinh viên

Trang 18

Đây là vấn đề nhiều người quan tâm, vì nó liên quan đến một nhược điểm của học chế tín chỉ Các trường áp dụng học chế tín chỉ đều tổ chức hai loại lớp học: lớp khóa học gồm các sinh viên đăng ký vào học cùng ngành đào tạo ở năm đầu tiên, lớp học phần gồm các sinh viên cùng học một học phần Lớp khóa học giữ cố định trong cả khóa học, nơi hình thành các tổ chức đoàn thể của sinh viên Lớp học phần thường là tạm thời, nơi thông báo các thông tin về học tập và tổ chức các sinh hoạt học tập liên quan đến học phần Để các sinh hoạt của lớp khóa học và các đoàn thể không vướng thời gian học ở lớp của sinh viên, mọi sinh hoạt của lớp khóa học đều tổ chức vào thứ 7 và chủ nhật Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tốt các hoạt động “mùa hè xanh”, vận động quyên góp ximăng xây hàng trăm

“cầu Bách khoa” cho các vùng nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long Các sinh hoạt theo chủ đề tỏ ra hấp dẫn đối với sinh viên và rất có hiệu quả: sinh viên tham gia các sinh hoạt tăng cường kỹ năng giao tiếp, hoặc tổ chức đi phỏng vấn người nước ngoài ở các cơ sở du lịch và về trình bày lại trong các hội thảo nhằm tăng cường năng lực ngoại ngữ Đối với các lớp học phần, do sức ép của khối lượng học tập lớn nên sinh viên cũng tự động tổ chức các hình thức trao đổi học tập theo nhóm để hỗ trợ nhau trong việc chuẩn bị bài tập…Nói chung tuy việc tổ chức lớp theo khóa học hoàn toàn cố định bị phá vỡ, “lớp khóa học” tương đối ổn định trong một vài năm đầu vẫn được duy trì để tổ chức mọi sinh hoạt đoàn thể của sinh viên, kết hợp với các “lớp học phần” tạm thời Hơn nữa, với sự sáng tạo của sinh viên trong hoàn cảnh mới, với sức ép mạnh mẽ của khối lượng học tập đòi hỏi tính chủ động cao của sinh viên, nhược điểm liên quan của học chế tín chỉ có thể được khắc phục tốt Thành tích hoạt động sinh viên và Đoàn TNCS của Đại học Bách khoa Thành phố

Hồ Chí Minh trong phong trào sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ điều đó

 Về hệ thống cố vấn học tập (CVHT)

Hệ thống CVHT thường được tổ chức ở các trường gắn với các lớp khóa học, đôi khi CVHT được gọi là chủ nhiệm lớp khóa học Các phiếu đăng ký học phần phải được thông qua và có chữ ký của CVHT (Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh) Tuy nhiên, vì hoạt động của giáo chức nói chung ở mọi trường đại học đều quá tải, số lượng CVHT tương đối ít (tỷ lệ 1 CVHT/60 sinh viên ở Đại học

Trang 19

Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh) nên việc giúp đỡ của CVHT đối với sinh viên

là có giới hạn Các trường phải theo phương châm là CVHT tập trung chú ý các đối tượng sinh viên ở hai đầu: sinh viên học tập xuất sắc cần bồi dưỡng tài năng và sinh viên gặp nhiều khó khăn

 Về việc chuyển tiếp tín chỉ

Học chế tín chỉ đã thực hiện ở một số trường đại học trong hơn một thập niên nhưng việc phát huy một trong các ưu điểm lớn của nó là chuyển tiếp tín chỉ chưa được triển khai phổ biến Lý do là phạm vi áp dụng học chế tín chỉ còn hẹp, và chưa

có các định mức thống nhất, thiết kế thống nhất trong cả nước (thậm chí ngay trong một nhà trường như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) và cũng chưa có các hoạt động điều phối để liên kết các trường tạo thuận lợi cho việc chuyển tiếp tín chỉ đó Đặc biệt hệ thống cao đẳng cộng đồng được thành lập nhưng không tạo được mối liên thông với các trường đại học có chuyên nghiệp để có thể đào tạo chuyển tiếp

Qua việc triển khai học chế tín chỉ ở một số trường đại học nước ta, có thể thấy rõ học chế này mang lại nhiều lợi ích trong công tác giáo dục đào tạo ở trường đại học: nó làm cho sinh viên chủ động hơn trong hoạt động học tập, đặc biệt nó tạo một tác phong công nghiệp đối với mọi hoạt động của nhà trường, kể cả trong sinh viên và trong giáo chức, vì mọi hoạt động đào tạo trong trường phải được khớp nối đúng thời gian và địa điểm Với học chế tín chỉ việc hỗ trợ sinh viên thuộc diện chính sách hoặc diện học yếu phải kéo dài thời gian học tập thuận lợi hơn nhiều so với kiểu học theo niên chế

Tuy nhiên, việc triển khai học chế tín chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn về phía những người trực tiếp thực hiện: trước hết, đối với sinh viên, những người đã được “chăn dắt” từ trường phổ thông khi bước vào trường đại học hết sức ngỡ ngàng về mọi mặt, học chế tín chỉ tạo nên bước chuyển khá đột ngột, họ phải mất một thời gian để làm quen Đối với giáo chức, khó khăn lớn nhất là tình trạng quá tải hiện nay của hoạt động giảng dạy ở tất cả mọi trường đại học làm họ không còn

đủ thời gian để đầu tư vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy và các hoạt động khác mà học chế tín chỉ đòi hỏi Hơn nữa, học chế tín chỉ làm cho mức độ tự do của

Trang 20

giáo chức giảm nhiều vì họ phải được gắn với các giờ học và lớp học xác định phân

bố trong suốt cả học kỳ, rất khó bố trí tập trung thời gian cho các hoạt động khác ở ngoài trường Từ đó cần có những vận động để hoạt hóa sinh viên và nâng cao trách nhiệm của giáo chức thì việc triển khai học chế tín chỉ mới thuận lợi

4 Về phương hướng mở rộng và cải tiến học chế tín chỉ ở nước ta

a Chủ trương về việc mở rộng và cải tiến học chế tín chỉ ở nước ta

Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống giáo dục đại học nước ta và hội nhập với giáo dục đại học thế giới, trong mấy năm gần đây Nhà nước đã đưa ra chủ trương mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học nước ta Trong “Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 47/2001/QĐ-TTg có nêu: các trường cần “thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức quy trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ.” Trong “Báo cáo về Tình hình Giáo dục” của Chính phủ trước kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ngay từ năm học 2005-2006, phấn đấu để đến năm 2010 hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này”

Như vậy để thực hiện được các chủ trương của Nhà nước về mở rộng học chế tín chỉ, cần khẩn trương xây dựng một lộ trình chuyển đổi từ học chế học phần hiện nay sang học chế tín chỉ trong toàn hệ thống giáo dục đại học

b Về mục tiêu và một số quan niệm về chuyển đổi

 Việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ nhằm mục tiêu gì?

Chúng ta đã áp dụng học chế học phần, trong đó có chứa đựng một số yếu tố của học chế tín chỉ từ khi bắt đầu đổi mới giáo dục đại học cách đây gần hai thập niên, lúc hoàn cảnh kinh tế xã hội và điều kiện dạy và học ở đại học hết sức khó khăn Và khi điều kiện dạy và học được cải thiện một số trường đại học đã cải tiến, làm mềm dẻo triệt để học chế học phần, tức là chuyển đổi sang học chế tín chỉ Tuy nhiên chỉ vài ba năm gần đây Nhà nước mới đưa ra chủ trương nhằm thúc đẩy quá

Trang 21

trình chuyển đổi này trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Vậy sự chuyển đổi này nhằm mục tiêu gì?

- Trước hết là tạo một học chế mềm dẻo hướng về sinh viên để tăng cường tính chủ động và khả năng cơ động của sinh viên, để đảm bảo sự liên thông dễ dàng trong quá trình học tập và tạo ra những sản phẩm có tính thích ứng cao với thị trường sức lao động trong nước

- Đồng thời, trong xu thế toàn cầu hóa, làm cho hệ thống giáo dục đại học nước ta hội nhập với khu vực và thế giới

 Quan niệm về việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ ở nước ta

Như đã phân tích trên đây học chế học phần được áp dụng hiện tại trong toàn

bộ hệ thống giáo dục đại học nước ta đã mang một số yếu tố của học chế tín chỉ, nhưng chưa đủ mềm dẻo vì chưa tận dụng hết các biện pháp tạo nên sự mềm dẻo đó

Vì vậy việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ có nghĩa là cải tiến học chế học phần, tăng cường áp dụng các biện pháp tạo nên sự mềm dẻo đó Quá trình chuyển đổi không có nghĩa là xóa bỏ học chế này để chuyển sang học chế khác, mà là cải tiến học chế đang sử dụng để tăng mức độ mềm dẻo, cơ động của nó

Việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ, tạo nên sự mềm dẻo của quy trình đào tạo cần phải được kết hợp một cách logic với việc phát triển và hiện đại hóa chương trình đào tạo, bao gồm việc đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo và đặc biệt là phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên

- Chuẩn bị đầy đủ các văn bản khung cho toàn bộ hệ thống về học chế tín chỉ Điều chỉnh những quy định trong các văn bản đã có trái với bản chất của học chế tín chỉ Tổ chức tập huấn cho giáo chức và cán bộ quản lý các trường đại học về học chế tín chỉ

Trang 22

- Các trường tổ chức thiết kế lại hoặc rà soát lại chương trình đào tạo các ngành học, phân chia và xây dựng lại chương trình chi tiết các học phần theo tinh thần học chế tín chỉ và kiến thức cập nhật, hiện đại Bộ điều phối xây dựng chương trình mẫu của một số học phần thuộc khu vực giáo dục đại cương để các trường tham khảo nhằm tăng mức độ thống nhất tạo cơ hội để chuyển tiếp tín chỉ Các khối ngành và ngành đào tạo triển khai áp dụng thành quả của quá trình xây dựng chương trình khung vừa qua

- Bộ và các trường tìm biện pháp tăng số lượng đội ngũ giáo chức để giảm một cách đáng kể tải trọng giảng dạy, đồng thời tạo cơ chế nâng cao thu nhập của giáo chức, xem đây là khâu quan trọng nhất để triển khai thành công việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ

- Triển khai một cuộc vận động đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập trong hệ thống giáo dục đại học

- Chuẩn bị nghiệp vụ cho đội ngũ CVHT Nghiên cứu các hình thức thích hợp cho việc tổ chức và hoạt động của các đoàn thể sinh viên

- Xây dựng các công cụ phổ biến cho sinh viên về chương trình và quy trình học tập, phục vụ học chế tín chỉ, đặc biệt là niên lịch giảng dạy

- Xây dựng hệ thống tài liệu học tập cho mọi học phần bằng cách: (1) qua mạng liên kết thư viện thông báo các tài liệu liên quan đến học phần đã có trong các trường đại học (2) Tổ chức liên kết các trường đại học khai thác các nguồn tư liệu

mở trên mạng (tổ chức biên dịch, phổ biến) (3) Tổ chức phối hợp biên soạn các tài liệu phục vụ các học phần không đủ tài liệu

- Dựa vào các trung tâm học liệu nòng cốt và các trường đại học mạnh xây dựng các bộ công cụ phục vụ giảng dạy và đánh giá học phần, trước hết là các học phần giáo dục đại cương, các học phần các môn cơ sở cho nhóm ngành Tổ chức trao đổi và chuyển giao các công cụ này

- Liên kết xây dựng và phổ biến, chuyển giao các công nghệ điều hành đào tạo theo học chế tín chỉ: các phần mềm quản lý đào tạo, các công cụ chuyên dụng để đăng ký học phần, các phần mềm tiếp cận trực tuyến…

Trang 23

- Với sự khuyến khích và điều phối của Bộ, các trường có khả năng có nhiều sinh viên chuyển đổi tổ thức trao đổi ký kết công nhận lẫn nhau về học phần tín chỉ, đặc biệt là các trường cao đẳng cộng đồng và các trường đại học có chuyên ngành liên quan

- Quan hệ với các trường đại học và các tổ chức điều phối giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới để thỏa thuận về việc công nhận văn bằng và tín chỉ của nhau

II- Tổng quan về hệ thống đăng ký học phần qua mạng

1 Học phần và Tín chỉ

Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh

viên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp

từ nhiều môn học Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định

Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn

 Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

 Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình

Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ

được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc

đồ án, khoá luận tốt nghiệp

2 Quy trình đăng ký học phần theo học chế tín chỉ

Đầu mỗi năm học, trường phải thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến

Trang 24

sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần

Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, từng sinh viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ

đó với phòng đào tạo của trường

Có 3 hình thức đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ: đăng ký sớm, đăng ký bình thường và đăng ký muộn

 Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tháng;

 Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;

 Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp

Tuỳ điều kiện đào tạo của từng trường, Hiệu trưởng xem xét, quyết định các hình thức đăng ký thích hợp

Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu

 Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ

Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ Không hạn chế khối lượng đăng ký học tập của những sinh viên xếp hạng học lực bình thường

Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể

Trang 25

3 Các bước tiến hành việc đăng ký học phần qua mạng

 Bước 1: Đăng nhập hệ thống với username là mã số sinh viên (password mặc định = mã số sinh viên)

 Bước 2: Đổi password ngay trong lần truy cập đầu tiên (không nên giữ password là mã số sinh viên)

 Bước 3: Xem kỹ phần hướng dẫn đăng ký học phần trong mục “hướng dẫn đăng ký học phần”

 Bước 4: Thực hiện việc đăng ký học phần

- Chọn chức năng “đăng ký học phần” trên website

- Chọn những lớp học phần mà sinh viên cần đăng ký, trong quá trình đăng

ký sinh viên phải tuân thủ các qui định của khoa (bộ môn) về các học phần và một số qui định khác vd: số tín chỉ tối đa được phép đăng ký, khóa học được phép đăng ký,…

- Sau khi đăng ký, sinh viên cần kiểm tra lại xem số học phần và số tiết đã đăng ký

- Nếu vẫn còn trong thời gian đăng ký học phần, sinh viên được phép chỉnh sửa những học phần đã đăng ký

 Buớc 5: Sinh viên chờ kiểm duyệt của giáo vụ khoa và phòng đào tạo

 Bước 6: Giáo vụ khoa và phòng đào tạo chỉnh sửa đăng ký học phần của sinh viên nếu cần thiết

 Bước 7: Sau khi phòng đào tạo công bố kết quả đăng ký học phần cuối cùng, sinh viên có trách nhiệm kiểm tra lại toàn bộ kết quả đăng ký học phần của mình, nếu có sai sót phải báo ngay với phòng đào tạo để được chỉnh sửa kịp thời

4 Các điều kiện để việc đăng ký học phần được chấp nhận

 Sinh viên phải đăng ký đúng thời gian qui định

 Đăng ký đúng các học phần đã được khoa thông báo cho mỗi khóa học

 Học phần đăng ký phải thỏa điều kiện học phần tiên quyết

 Số tín chỉ học kỳ không vượt quá số tín chỉ cho phép (kể cả học phần trả nợ)

Trang 26

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG

ĐĂNG KÝ HỌC PHẦN QUA MẠNG I- Tổng quan về phân tích thiết kế hệ thống

1 Chu trình phát triển phần mềm

Chu trình phát triển phần mềm là một chuỗi các hoạt động của nhà phân tích (Analyst), nhà thiết kế (Designer), người phát triển (Developer) và người dùng (User) để phát triển và thực hiện một hệ thống thông tin Những hoạt động này được thực hiện trong nhiều giai đọan khác nhau

Nhà phân tích (Analyst): là người nghiên cứu yêu cầu của khách hàng/người

dùng để định nghĩa một phạm vi bài toán, nhận dạng nhu cầu của một tổ chức, xác định xem nhân lực, phương pháp và công nghệ máy tính có thể làm sao để cải thiện một cách tốt nhất công tác của tổ chức này

Nhà thiết kế (Designer): thiết kế hệ thống theo hướng cấu trúc của database,

screens, forms và reports – quyết định các yêu cầu về phần cứng và phần mềm cho

hệ thống cần được phát triển

Chuyên gia lĩnh vực (Domain Experts): là những người hiểu thực chất vấn đề

cùng tất cả những sự phức tạp của hệ thống cần tin học hoá Họ không nhất thiết phải là nhà lập trình, nhưng họ có thể giúp nhà lập trình hiểu yêu cầu đặt ra đối với

hệ thống cần phát triển Quá trình phát triển phần mềm sẽ có rất nhiều thuận lợi nếu đội ngũ làm phần mềm có được sự trợ giúp của họ

Lập trình viên (Programmer): là những người dựa trên các phân tích và thiết

kế để viết chương trình (coding) cho hệ thống bằng ngôn ngữ lập trình đã được thống nhất

Người dùng (User): là đối tượng phục vụ của hệ thống cần được phát triển

Chu trình của một phần mềm có thể được chia thành các giai đoạn như sau:

 Nghiên cứu sơ bộ (Preliminary Investigation)

 Phân tích yêu cầu (Analysis)

 Thiết kế hệ thống (Design of the System)

 Xây dựng phần mềm (Software Construction)

Trang 27

 Thử nghiệm hệ thống (System Testing)

 Thực hiện, triển khai (System Implementation)

 Bảo trì, nâng cấp (System Maintenance)

Hình 1 Sơ đồ tổng quát các giai đoạn của Chu trình phát triển phần mềm

 Nghiên cứu sơ bộ

Trong giai đọan nghiên cứu sơ bộ, nhóm phát triển hệ thống cần xem xét các yêu cầu của người dùng, những nguồn tài nguyên có thể sử dụng, công nghệ cũng như cộng đồng người dùng cùng các ý tưởng của họ đối với hệ thống mới Có thể thực hiện thảo luận, nghiên cứu, xem xét khía cạnh thương mại, phân tích khả năng lời lỗ, phân tích các trường hợp sử dụng và tạo các nguyên mẫu để xây dựng nên một khái niệm cho hệ thống đích cùng với các mục đích, quyền ưu tiên và phạm vi của nó

Thường trong giai đoạn này người ta cũng tiến hành tạo một phiên bản thô của lịch trình và kế hoạch sử dụng tài nguyên

Một giai đoạn nghiên cứu sơ bộ thích đáng sẽ lập nên tập hợp các yêu cầu (dù ở mức độ khái quát cao) đối với một hệ thống khả thi và được mong muốn, kể

Trang 28

cả về phương diện kỹ thuật lẫn xã hội Một giai đoạn nghiên cứu sơ bộ không được thực hiện thoả đáng sẽ dẫn tới các hệ thống không được mong muốn, đắt tiền, bất khả thi và được định nghĩa lầm lạc – những hệ thống thừơng chẳng được hoàn tất hay sử dụng

Kết quả của giai đoạn nghiên cứu sơ bộ là Báo cáo kết quả nghiên cứu tính khả thi

 Phân tích yêu cầu

Sau khi đã xem xét về tính khả thi của hệ thống cũng như tạo lập một bức tranh sơ bộ của dự án, chúng ta bước sang giai đoạn thường được coi là quan trọng nhất trong các công việc lập trình: hiểu hệ thống cần xây dựng Người thực hiện công việc này là nhà phân tích

Quá trình phân tích nhìn chung là hệ quả của việc trả lời câu hỏi "Hệ thống cần phải làm gì?" Quá trình phân tích bao gồm việc nghiên cứu chi tiết hệ thống hiện thời, tìm cho ra nguyên lý hoạt động của nó và những vị trí có thể được nâng cao, cải thiện Bên cạnh đó là việc nghiên cứu xem xét các chức năng mà hệ thống cần cung cấp và các mối quan hệ của chúng, bên trong cũng như với phía ngoài hệ thống Trong toàn bộ giai đoạn này, nhà phân tích và người dùng cần cộng tác mật thiết với nhau để xác định các yêu cầu đối với hệ thống, tức là các tính năng mới cần phải được đưa vào hệ thống

Kết quả của giai đoạn phân tích là bản Đặc tả yêu cầu (Requirements Specifications)

 Thiết kế hệ thống

Sau giai đoạn phân tích, khi các yêu cầu cụ thể đối với hệ thống đã được xác định, giai đoạn tiếp theo là thiết kế cho các yêu cầu mới Công tác thiết kế xoay quanh câu hỏi chính: Hệ thống làm cách nào để thỏa mãn các yêu cầu đã được nêu trong Đặc tả yêu cầu?

Kết quả giai đoạn thiết kế là Đặc tả thiết kế (Design Specifications) Bản Đặc

tả thiết kế chi tiết sẽ được chuyển sang cho các lập trình viên để thực hiện giai đoạn xây dựng phần mềm

 Xây dựng phần mềm

Trang 29

Đây là giai đoạn viết lệnh (code) thực sự, tạo hệ thống Từng người viết code thực hiện những yêu cầu đã được nhà thiết kế định sẵn

Để đảm bảo chương trình được viết nên phải thoả mãn mọi yêu cầu có ghi trước trong bản Đặc tả thiết kế chi tiết, người viết code cũng đồng thời phải tiến hành thử nghiệm phần chương trình của mình

 Thử nghiệm hệ thống

Sau khi các thủ tục đã được thử nghiệm riêng, cần phải thử nghiệm toàn bộ

hệ thống Mọi thủ tục được tích hợp và chạy thử, kiểm tra xem mọi chi tiết ghi trong Đặc Tả Yêu Cầu và những mong chờ của người dùng có được thoả mãn Dữ liệu thử cần được chọn lọc đặc biệt, kết quả cần được phân tích để phát hiện mọi lệch lạc

so với mong chờ

 Thực hiện, triển khai

Trong giai đoạn này, hệ thống vừa phát triển sẽ được triển khai sao cho phía người dùng Trước khi để người dùng thật sự bắt tay vào sử dụng hệ thống, nhóm các nhà phát triển cần tạo các file dữ liệu cần thiết cũng như huấn luyện cho người dùng, để đảm bảo hệ thống được sử dụng hữu hiệu nhất

 Bảo trì, nâng cấp

Tùy theo các biến đổi trong môi trường sử dụng, hệ thống có thể trở nên lỗi thời hay cần phải được sửa đổi nâng cấp để sử dụng có hiệu quả Hoạt động bảo trì

hệ thống có thể rất khác biệt tùy theo mức độ sửa đổi và nâng cấp cần thiết

2 Phương pháp hướng chức năng và phương pháp hướng đối tượng

a Phương pháp hướng chức năng

Đây là lối tiếp cận truyền thống của ngành Công nghệ phần mềm Theo lối tiếp cận này, chúng ta quan tâm chủ yếu tới những thông tin mà hệ thống sẽ giữ gìn Chúng ta hỏi người dùng xem họ sẽ cần những thông tin nào, rồi chúng ta thiết kế ngân hàng dữ liệu để chứa những thông tin đó, cung cấp Forms để nhập thông tin và

in báo cáo để trình bày các thông tin Nói một cách khác, chúng ta tập trung vào thông tin và không mấy để ý đến những gì có thể xảy ra với những hệ thống đó và cách hoạt động (ứng xử) của hệ thống là ra sao Đây là lối tiệm cận xoay quanh dữ liệu và đã được áp dụng để tạo nên hàng ngàn hệ thống trong suốt nhiều năm trời

Trang 30

Lối tiếp cận xoay quanh dữ liệu là phương pháp tốt cho việc thiết kế ngân hàng dữ liệu và nắm bắt thông tin, nhưng nếu áp dụng cho việc thiết kế ứng dụng lại

có thể khiến phát sinh nhiều khó khăn Một trong những thách thức lớn là yêu cầu đối với các hệ thống thường xuyên thay đổi Một hệ thống xoay quanh dữ liệu có thể dể dàng xử lý việc thay đổi ngân hàng dữ liệu, nhưng lại khó thực thi những thay đổi trong nguyên tắc nghiệp vụ hay cách hoạt động của hệ thống

Phương pháp hướng đối tượng đã được phát triển để trả lời cho vấn đề đó Với lối tiếp cận hướng đối tượng, chúng ta tập trung vào cả hai mặt của vấn đề : thông tin và cách hoạt động

b Phương pháp hướng đối tượng

Hướng đối tượng là thuật ngữ thông dụng hiện thời của ngành công nghiệp phần mềm Các công ty đang nhanh chóng tìm cách áp dụng và tích hợp công nghệ mới này vào các ứng dụng của họ Thật sự là đa phần các ứng dụng hiện thời đều mang tính hướng đối tượng Nhưng hướng đối tượng có nghĩa là gì?

Lối tiếp cận hướng đối tượng là một lối tư duy về vấn đề theo lối ánh xạ các thành phần trong bài toán vào các đối tượng ngoài đời thực Với lối tiếp cận này, chúng ta chia ứng dụng thành các thành phần nhỏ, gọi là các đối tượng, chúng tương đối độc lập với nhau Sau đó ta có thể xây dựng ứng dụng bằng cách chắp các đối tượng đó lại với nhau Một khi đã xây dựng một số đối tượng căn bản trong thế giới máy tính, bạn có thể chắp chúng lại với nhau để tạo ứng dụng của mình

Một trong những ưu điểm quan trọng bậc nhất của phương pháp phân tích và thiết kế hướng đối tượng là tính tái sử dụng: bạn có thể tạo các thành phần (đối tượng) một lần và dùng chúng nhiều lần sau đó

Vì các đối tượng đã được thử nghiệm kỹ càng trong lần dùng trước đó, nên khả năng tái sử dụng đối tượng có tác dụng giảm thiểu lỗi và các khó khăn trong việc bảo trì, giúp tăng tốc độ thiết kế và phát triển phần mềm

Phương pháp hướng đối tượng giúp chúng ta xử lý các vấn đề phức tạp trong phát triển phần mềm và tạo ra các thế hệ phần mềm có khả năng thích ứng và bền chắc

Trang 31

Hệ thống tin học ngày càng phức tạp Xu thế áp dụng phuơng pháp hướng đối tượng thay cho phương pháp cấu trúc ngày càng phổ biến khi xây dựng các hệ thống phần mềm lớn và phức tạp Hơn nữa, từ khi Ngôn ngữ mô hình hoá thống

nhất (Unified Modeling Language – UML) được tổ chức OMG (Object Management

Group) công nhận là chuẩn công nghiệp thì nó đã trở thành công cụ phổ dụng và

hữu hiệu cho phương pháp mới này Trong đồ án tốt nghiệp của mình, em quyết định áp dụng phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng bằng UML để phân tích thiết kế hệ thống đăng ký học phần qua mạng

Phân tích và thiết kế hệ thống bao gồm mô hình hoá vấn đề và các giải pháp

từ các góc nhìn khác nhau

II- Phân tích hệ thống

1 Phân tích trường hợp sử dụng (Use Case – UC)

UC là nền tảng của phân tích hệ thống Xây dựng UC trong tiến trình phát triển hệ thống cho phép mô tả rõ ràng và nhất quán cái hệ thống sẽ làm, sao cho mô hình có khả năng được sử dụng xuyên suốt quá trình phát triển, cung cấp cơ sở để kiểm tra, thử nghiệm hệ thống, đồng thời cho khả năng dễ thay đổi hay mở rộng yêu cầu hệ thống

Các tác nhân và ca sử dụng trong hệ thống đăng ký học phần qua mạng:

Sinh viên

Đăng nhập hệ thống Đổi mật khẩu Đăng ký học phần Xem thời khoá biểu Xem kết quả học tập Xem phiếu đăng ký Người quản lý

(Phòng đào tạo)

Khởi động hệ thống Đóng hệ thống Quản trị hệ thống Bổ sung người sử dụng

Loại bỏ người sử dụng

Trang 32

Đặc tả các ca sử dụng

a Đăng nhập hệ thống

Mô tả UC: Hỗ trợ người dùng đăng nhập vào hệ thống

Tác nhân kích hoạt: Người dùng

Luồng sự kiện chính:

 Chương trình client yêu cầu người dùng nhập tên người dùng và mật khẩu

 Người dùng nhập thông tin theo yêu cầu

 Client gửi yêu cầu đến server

 Server nhận giá trị từ client, truy nhập cơ sở dữ liệu, so sánh với thông tin

b Đổi mật khẩu

Mô tả UC: Cho phép người dùng thay đổi mật khẩu

Tác nhân kích hoạt: Người dùng

Tiền điều kiện: Người dùng phải đăng nhập thành công vào hệ thống

Luồng sự kiện chính:

 UC bắt đầu khi người dung chọn chức năng “Đổi mật khẩu” trên menu

 Chương trình yêu cầu người dùng nhập mật khẩu cũ, mật khẩu mới, xác nhận mật khẩu mới

 Client gửi thong tin đến server

 Server kiểm tra thông tin:

- Nếu hợp lệ: xoá mật khẩu cũ, lưu mật khẩu mới vào CSDL, hệ thống hiển thị thông báo thay đổi mật khẩu thành công

- Nếu không hợp lệ: hệ thống hiển thị thông báo thay đổi mật khẩu không thành công, yêu cầu nhập lại thông tin

Trang 33

c Đăng ký học phần

Mô tả UC: Cho phép người dùng đăng ký học phần

Tác nhân kích hoạt: Người dùng

Tiền điều kiện: Người dùng phải đăng nhập thành công vào hệ thống

Luồng sự kiện chính:

 UC bắt đầu khi sinh viên chọn “Đăng ký học phần“ trên trang chủ trong thời gian đăng ký học phần

 Hệ thống hiển thị giao diện đăng nhập

 Sinh viên nhập tên đăng nhập và mật khẩu

 Hệ thống xác nhận tên đăng nhập và mật khẩu có hợp lệ không? Nếu

không hợp lệ thì thực hiện luồng rẽ nhánh 1

- Xem phiếu đăng ký

 Sinh viên chọn Đăng ký học phần

 Hệ thống hiển thị Danh sách lớp môn học có thể đăng ký

 Sinh viên chọn các môn học muốn đăng ký và được phép đăng ký trong Danh sách lớp môn học có thể đăng ký mà hệ thống đã hiển thị Sinh viên

nhấn nút Đăng ký để xác nhận danh sách các môn học đăng ký

 Hệ thống kiểm tra danh sách lớp môn học sinh viên đăng ký đã hợp lệ chưa? Nếu danh sách lớp môn học sinh viên đăng ký chưa hợp lệ thì thực

hiện luồng rẽ nhánh 2

 Hệ thống lưu kết quả vào cơ sở dữ liệu và hiển thị Danh sách lớp môn học đã đăng ký

 Sinh viên in bản đăng ký

 Sinh viên đăng xuất

Ngày đăng: 04/08/2016, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đặng Văn Đức, Phân tích thiết kế hướng đối tượng bằng UML, Nhà xuất bản giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thiết kế hướng đối tượng bằng UML
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
[4] Wendy Boggs - Michael Boggs, Mastering UML with Rational Rose, Sybex, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mastering UML with Rational Rose
[5] Chu Thị Hường, Bài giảng Hệ quản trị cơ sở dữ liệu, Khoa CNTT - Học viện Kỹ thuật quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
[6] Trần Nguyên Phong, Giáo trình SQL, Trường Đại học khoa học Huế, 2004 [7] Giáo trình ASP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình SQL", Trường Đại học khoa học Huế, 2004 [7]
[2] TS. Dương Kiều Hoa – Tôn Thất Hoà An, Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin với UML Khác
[3] Đoàn Văn Ban, Phân tích thiết kế hướng đối tượng bằng UML Khác
[13] Website Trường Đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh [14] Website Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ tổng quát các giai đoạn của Chu trình phát triển phần mềm - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 1. Sơ đồ tổng quát các giai đoạn của Chu trình phát triển phần mềm (Trang 27)
Hình 2. Biểu đồ trường hợp sử dụng - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 2. Biểu đồ trường hợp sử dụng (Trang 36)
Hình 3. Biểu đồ trình tự sinh viên Hà đăng ký học phần - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 3. Biểu đồ trình tự sinh viên Hà đăng ký học phần (Trang 37)
Hình 4. Biểu đồ cộng tác sinh viên Hà đăng ký học phần - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 4. Biểu đồ cộng tác sinh viên Hà đăng ký học phần (Trang 38)
Hình 5. Một số lớp trong hệ thống - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 5. Một số lớp trong hệ thống (Trang 39)
Hình 6. Biểu đồ chuyển trạng thái của lớp Đăng ký môn học - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 6. Biểu đồ chuyển trạng thái của lớp Đăng ký môn học (Trang 40)
Hình 8. Khung nhìn hệ thống đăng ký học phần qua mạng - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 8. Khung nhìn hệ thống đăng ký học phần qua mạng (Trang 41)
Hình 9. Mô hình liên kết dữ liệu - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 9. Mô hình liên kết dữ liệu (Trang 44)
Hình 10. Biểu đồ trạng thái của giao diện người dùng - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 10. Biểu đồ trạng thái của giao diện người dùng (Trang 45)
Hình 13. Trang Result.html có nội dung khác nhau tùy vào tương tác - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 13. Trang Result.html có nội dung khác nhau tùy vào tương tác (Trang 47)
Hình 14. ASP engine xử lý file asp trước khi trả về cho browser - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 14. ASP engine xử lý file asp trước khi trả về cho browser (Trang 48)
Hình 15. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 15. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (Trang 49)
Hình 17 . Các chức năng của hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 17 Các chức năng của hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ (Trang 52)
Bảng 1. Các thành phần server của SQL Server 2000 - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Bảng 1. Các thành phần server của SQL Server 2000 (Trang 54)
Hình 18. Mô hình kết nối và truy xuất cơ sở dữ liệu - Phân tích thiết kế và cài đặt cho hệ thống đăng ký học phần qua mạng
Hình 18. Mô hình kết nối và truy xuất cơ sở dữ liệu (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w