1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT ôn THI CAO học TRIẾT KHÔNG CHUYÊN đầu vào

85 468 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 676 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hệ thống các câu hỏi liên quan đến từng chủ đề. làm tài liệu ôn thi triết học đầu vào cho các đối tượng không chuyên. Mời các bạn tham khảoTài liệu dựa trên giáo trình kiến thức chuẩn. có cả phẩn lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Thường thì các bài thi các bạn nên liên hệ bối cảnh xã hội hiện nay hoặc gắn với công việc đang làm để có thể vận dụng nội dung đó vào

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CAO HỌC TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN

Triết học ( philosophia theo tiếng Hy Lạp cổ là tình yêu và sự thông thái Bản thân khái niệm “thông thái”) của người cổ đã chứa đựng một ý nghĩa cao cả, đối lập với suy nghĩ thông thường Nó hàm chứa khát vọng trí tuệ của con người hiểu thế giới như một chỉnh thể, dựa trên một nền tảng thống nhất Nó không phải thể hiện sự hiểu biết về những sự vật cá biệt, mà đem lại những tri thức mang tính khái quát trí tuệ về thế giới, về bản chất cuộc sống con người, về số phận cũng như mục đích cuộc đời con người…

Giá trị của sự thông thái được thể hiện ở chỗ nó đem lại cho con người những cách giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra còn đề cương triết học không có mục đích nào khác nó giúp cho bạn thi tốt hơn và đỗ cao học điều mà tất cả chúng ta đều mong muốn

Xin chúc bạn thành công

BEST WISH FOR YOU!

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI ÔN CAO HỌC TRIẾT HỌC

MÁC- LÊ NIN NĂM 2010.

Triết học Mác - Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác và

là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Nghiên cứu triết học Mác - Lênin góp phần hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Trên cơ sở đó đấu tranh phê phán các tư tưởng, quan điểm sai trái trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận nhất là trong tình hình hiện nay

NỘI DUNG

I TRIẾT HỌC LÀ GÌ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1 Triết học là gì: Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VIII – VI TCN ở cả

phương Đông lẫn phương Tây

Quan niệm triết học của người Phương Đông: Triết học theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật Theo người Ấn Độ, triết học là darshana Điều đó

có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải

Quan niệm triết học của người Phương Tây: Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của

sự vật

Sự thống nhất trong quan niệm chung của Phương Đông lẫn Phương

Trang 2

sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của

sự vật

* Triết học là hệ thống những quan điểm, quan niệm chung nhất của con người về thế giới, là thế giới quan, phương pháp luận của một giai cấp hay của một lực lượng xã hội nhất định và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

- Triết học là hệ thống những quan điểm, quan niệm chung nhất của con người về thế giới (Bao gồm tự nhiên, xã hội và cả tư duy)

- Triết học là thế giới quan, phương pháp luận của một giai cấp, một lực lượng xã hội nhất định

- Triết học nhằm làm rõ vai trò, vị trí của con người trong thế giới

* Điều kiện ra đời của triết học 2 điều kiện.

- Về kinh tế

- Về xã hội

2 Vấn đề cơ bản của triết học.

Theo Ph.Ăngghen thì vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, hay mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Vấn đề cơ bản của triết học gồm 2 mặt:

- Thứ nhất: Trong mối quan hệ đó triết học phải trả lời câu hỏi giữa vật

chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào Tuỳ vào câu trả lời mà triết học được chia thành 2 trường phái chính là duy vật và duy tâm

Ngoài hai trường phái trên trong triết học không có trường phái thứ 3 Bởi phái nhị nguyên luận chẳng qua cũng chỉ là chủ nghĩa duy tâm mà thôi

- Thứ hai: Con người có khả năng nhận thức thế giới không Trả lời câu

hỏi này trong triết học chia thành 2 khuynh hướng là khả tri và bất khả tri

3 Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong triết học

Trong quá trình lý giải về thế giới và sự tồn tại của nó triết học đã chia thành 2 trường phái, 2 khuynh hướng và có hai phương pháp trong nhận thức và cải tạo thế giới, đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

* Phương pháp biện chứng

- Thế nào là phép biện chứng: Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người

và của tư duy Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph Ănghen định nghĩa:

“ Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” Ở một góc độ

khác, trong Chống Đuy rinh, Ph.Ănghen viết: “ Nhưng phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.”

Lênin trong tác phẩm Bút ký triết học viết: “ Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng đó đòi hỏi phải có những sự giải thích mâu và một sự phát triển thêm.”

- Thế nào là phương pháp biện chứng: “ Xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”

Ănghen nêu lên: “điều căn bản’’ của phương pháp biện chứng là xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ

Trang 3

qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát triển sinh và

sự tiêu vong của chúng” Với một tư duy mền dẻo và linh hoạt

Phép biện chứng đã trải qua 3 hình thức cơ bản:

+ Phép biện chứng tự phát, ngây thơ + Phép biện chứng duy tâm

+ Phép biện chứng duy vật

* Phương pháp siêu hình

- Thế nào là phép siêu hình: Lại xem xét sự vật, hiện tượng, quá trình trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng, giữa chúng không có liên hệ gì với nhau, nếu có liên hệ cũng chỉ là bề ngoài.”

C.Mác và Ănghen “ quan điểm siêu hình chỉ nhìn thấy những vật riêng biệt

ấy mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy những

sự phát sinh và sự tiêu vong của những vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây

mà không thấy rừng.”

- Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan:

+ Biện chứng khách quan: là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng, quá trình, tồn tại độc lập với ý thức của con người

+ Biện chứng chủ quan: là sự phản ánh biện chứng khách quan (biện chưungs của sự vật, hiện tượng, quá trình) vào trong đầu óc của con người

Tóm lại: Vấn đề cơ bản của triết học … và việc giải quyết nó dẫn đến

tồn tại 2 trường phái, 2 khuynh hướng, 2 phương pháp đối lập nhau trong lịch sử triết học Cuộc đấu tranh giữa 2 trường phái là nội dung cơ bản xuyên suốt trong lịch sử triết học Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với chúng ta trong cuộc đấu tranh chống lại các tư tưởng sai trái, phản động hiện nay

II ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

1 Khái niệm triết học Mác - Lênin

* Triết học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về

tự nhiên, xã hội và tư duy, thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nhận thức và cải tạo thế giới

- Triết học Mác – Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng duy vật Triết học Mác – Lênin là triết học duy vật biện chứng

- Triết học Mác – Lênin là kết quả của sự kế thừa và phát triển những thành tựu của tư tưởng triết học nhân loại Đồng thời là sự khái quát hóa những thành tựu mới nhất, quan trọng nhất của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và thực tiễn xã hội Chính vì thế, triết học Mác - Lênin là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản trong nhận thức và cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

- Trong thời đại ngày nay, triết học Mác – Lênin là đỉnh cao của tư duy triết học nhân loại

2 Đối tượng của triết học Mác – Lênin

* Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác – Lênin là nghiên cứu những qui luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy trên lập trường duy vật biện chứng

Trang 4

- Nghiên cứu mối quan hệ vật chất và ý thức trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở nền tảng cho nghiên cứu mối quan hệ khách quan, chủ quan trong hoạt động thực tiễn của con người

- Nghiên cứu những hình thức tồn tại của vật chất và các trạng thái tồn tại của thế giới, qua đó làm rõ những qui luật cơ bản của nó

- Nghiên cứu con người với tư cách là đối tượng của triết học, qua đó chỉ ra sự khác nhau giữa đối tượng nghiên cứu của triết học và các khoa học khác

- Nghiên cứu con đường nhận thức và cải tạo thế giới một cách hiệu

quả, qua đó chỉ ra cách thức, biện pháp nhằm giải phóng con người, xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác – Lênin vừa thống nhất với đối tượng nghiên cứu của triết học trước đó, vừa có sự khác biệt so với nó

3 Chức năng của triết học Mác – Lênin

Là một khoa học, triết học Mác - Lênin thực hiện vai trò đa chức năng như chức năng nhận thức, chức năng dự báo, chức năng giáo dục … và chức năng thế giới quan, phương pháp luận

* Chức năng thế giới quan

Thế giới quan

- Triết học Mác – Lênin trang bị cho giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động hệ thống tri thức khoa học về thế giới, làm cơ sở nền tảng cho toàn bộ hoạt động của con người

+ Cung cấp cho con người bức tranh khái quát nhất, khoa học nhất về thế giới, qua đó giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn, đúng đắn hơn về thế giới

+ Định hướng cho sự phát triển của các khoa học khác

+ Định hướng thái độ, hành vi của con người, qua đó góp phần bồi dưỡng những phẩm chất nhân cách khác nhằm hoàn thiện con người

+ Nâng cao vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới, giải phóng con người, xã hội

- Đấu tranh vạch trần những tư tưởng sai trái khác như quan điểm duy tâm, mê tín dị đoan, phản động, phản khoa học … dưới mọi hình thức

* Chức năng phương pháp luận

- Với vai trò là phương pháp luận triết học Mác – Lênin định hướng cho hoạt động nhận thức và phương pháp cải tạo thế giới của con người có hiệu quả

- Quán triệt nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử – cụ thể, phát triển, gắn lý luận với thực tiễn, giữa nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

Tuy nhiên cần thấy rằng, triết học Mác – Lênin không phải là đơn thuốc vạn năng mà con người chỉ cần áp dụng vào là có kết quả như mong muốn,

mà để làm được điều đó, triết học Mác – Lênin cũng cần được bổ sung, phát triển

thêm thông qua hoạt động thực tiễn của các ĐCS V.I.Lênin chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học

mà những người xã hội chủ nghĩa phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”.

4 Phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lênin.

* Phải đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản trong nghiên cứu

* Vận dụng phương pháp tư duy trừu tượng trong nghiên cứu

Trang 5

III VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN TRONG GIẢI QUYẾT NHỮNG NHIỆM VỤ CẤP THIẾT VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HIỆN NAY

1 Vai trò của triết học Mác - Lênin trong giải quyết những nhiệm

vụ cấp thiết của đời sống xã hội

Trước những biến động dữ dội của lịch sử những năm cuối cùng của thế kỷ

XX cả về kinh tế, chính trị, đạo đức, lối sống, văn hoá tư tưởng …

* Xét trên bình diện quốc tế:

- Về chính trị: Hệ thống chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản?

- Về kinh tế: Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, sự hội nhập

và giao lưu kinh tế quốc tế…

- Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là trong lĩnh vực thông tin, vũ trụ…

- Về tư tưởng, lý luận: Đang diễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt trên lĩnh vực ý thức hệ … và sự chuyển đổi của những giá trị truyền thống

- Cuộc đấu tranh dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa khủng bố quốc

tế - Những vấn đề toàn cầu như bệnh tật, đói nghèo, môi trường sinh thái…

* Trong phạm vi quốc gia:

- Từ thực trạng và những yêu cầu của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay như vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường, hội nhập và giao lưu quốc tế và cả những vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới…

- Từ thực trạng của những diễn biến xã hội đang đặt ra hiện nay như chính trị

tư tưởng, đạo đức lối sống, văn hóa…

Với chúng ta, Triết học Mác - Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc đổi mới xây dựng CNXH ở Việt Nam và sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điền kiện mới.

2 Vai trò của triết học Mác - Lênin trong giải quyết những nhiệm

vụ cấp thiết của lý luận và thực tiễn quân sự hiện nay

Trong xu thế hội nhập và giao lưu quốc tế hiện nay, thực tiễn cho thấy

có những vấn đề để giải quyết không thể dựa vào nỗ lực cá nhân của mỗi quốc gia,

mà cần có sự hợp tác quốc tế trên tất cả mọi lĩnh vực, trong đó có quốc phòng - an ninh Thực tế sự tham gia ngày càng nhiều và có hiệu quả của các nước tư bản vào những vấn đề chung như tranh chấp, xung đột khu vực, khủng bố… Việc nghiên cứu triết học Mác – Lênin là cơ sở khoa học để xem xét, phân tích chính xác bản chất của các hiện tượng đó

* Xác định đúng bản chất của các cuộc chiến tranh, nguồn gốc, nguyên nhân của chiến tranh, những vấn đề có tính qui luật trong chiến tranh, đấu tranh vũ trang…

* Nhận thức rõ tính tất yếu phải xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở

* Những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhận dân trước sự phát triển mới của nhiệm vụ bảo vệ

Tổ quốc trong điều kiện phát triển của khoa học quân sự hiện đại

* Phê phán các nhận thức lệch lạc, mơ hồ, mất cảnh giác hoặc duy ý

Trang 6

KẾT LUẬN

Triết học Mác – Lênin là một trong 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác – Lênin, là thế giới quan, phương pháp luận khoa học của giai cấp vô sản trong nhận thức và cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Nghiên cứu triết học Mác – Lênin là cơ sở để mỗi người tự hoàn thiện nhân cách, góp phần xây dựng con người “vừa hồng, vừa chuyên” đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới

Trang 7

* Một số quan niệm ngoài mácxít về phạm trù vật chất.

- Chủ nghĩa duy tâm( khách quan + chủ quan): Chủ nghĩa duy tâm trong mọi thời đại và dưới mọi hình thức đều tìm mọi cách phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất Lấy lực lượng tinh thần để giải thích vật chất, cho ý thức, tinh thần là cái có trước, quyết định sự tồn tại phát triển của thế giới vật chất Thực chất phủ nhận phạm trù vật chất, phủ nhận chủ nghĩa duy vật

Ví dụ : Hê Ghen( 1770- 1831) cho rằng vật chất là “ Ý niệm tuyệt đối”.Thế giới quan duy tâm rất gần với thế giới quan tôn giáo và tất yếu dẫn tới thần học

- Chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự vật hiện tượng, của thế giới vật chất, coi vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai

Cố gắng giải thích tự nhiên bằng chính tự nhiên, không dựa vào lực lượng tự nhiên nào khác ( chống lại duy tâm tôn giáo) song khuynh hướng chung là

đi tìm bản nguyên ban đầu của thế giới:

Ta lét (625-543) >… Nước

Hê ra clít ( 540- 448) > Lửa

A naximen ( 585-525) > không khíCha rơ vắc > Đất – Nước – Lửa- Không khíNgũ hành ( Trung Quốc) > Ngũ hành

* Đặc biệt thuyết nguyên tử của Lơ xíp và Đê Môcrít cho rằng nguyên tử và chân không là cơ sở đầu tiên của thế giới Quan niệm này tồn tại đến thời cận đại ( XVII ) khi khoa học vật lý thực nghiệm tìm ra nguyên tử thì quan niệm này cũng được các nhà khoa học và triết học khẳng định và phát triển( Gli Lê, Niu Tơn , Đề Các, Ph Bê Cơn, Hốp Sơ)

* Đông thời do sự thống trị của cơ học Niu Tơn lúc đó K/Đ : Khối lượng là đặc trưng cơ bản, bất biến của vật chất > Quan niệm đồng nhất vật chất

với khối lượng một thuộc tính của vật chất

Tuy nhiên cũng có những quan niệm phủ nhận thuyết nguyên tử và chống lại việc cơ học cổ điển của Niu tơn để giải thích thế giới Họ đưa ra những quan niệm về vật chất khác quan niệm của số đông các nhà triết học và khoa học theo thuyết nguyên tử về phạm trù vật chất

Phoi ơ Bắc: “ Tất cả những cái gì không phải tinh thần thì là vật chất, cái gì không là vật chất thì là tinh thần”

Lênin nhận xét Phoi ơ Bắc: “ Giới tự nhiên bằng tất cả trừ cái gì siêu

tự nhiên Phoi ơ Bắc sáng rõ nhưng không sâu sắc” ( T29 tr 54)

Tóm lại, Quan niệm về vật chất của các nhà triết học và khoa học nhìn chung về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đồng nhất vật chất với nguyên tử

và khối lượng Quan niệm này tồn tại dai dẳng đến cuối XIX, khi nổ ra cuộc cách mạng trong vật lý học và khoa học tự nhiên.

Trang 8

Nhận xét: Mặc dù đứng vững trên lập trường duy vật nhưng do hạn chế bởi nhận thức, truyền thống thói quen tư duy, các nhà duy vật trước Mác vẫn rơi vào hạn chế của phương pháp siêu hình:

+ Đi tìm cái giới hạn, cái tận cùng, cái bất biến trong cái vô hạn vô tận và thường xuyên biến đổi

+ Đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể, với thuộc tính của nó

Năm 1895 Rơn ghen phát hiện ra tia X; mở đầu cuộc cách mạng vật lý học ( cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) đi sâu vào thế giới vi mô

1896 Béc cơ ren phát hiện ra chất phóng xạ; chứng tỏ nguyên tử có thể phân chia và chuyển hóa lẫn nhau

1897 Tôm xơn phát hiện ra điện tử;( electrôn chứng tỏ nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất.)

1901 Kau Fman chứng minh khối lượng điện tử không bất biến;phụ thuộc vào vận tốc vận động của nó khác với Niu Tơn)

1905 và 1916 thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng của Anh xtanh đã chứng minh không gian, thời gian, khối lượng của sự vật không bất biến mà phụ thuộc vào vận tốc V lớn thì m lớn; Chuyển động nhanh thì không gian bé; khi vận tốc xấp xỉ

bằng vận tốc ánh sáng thì khối lượng của sự vật đạt Max và thời gian bằng o.

Lợi dụng sự phát triển đó CNDT đã tấn công CNDV, xuyên tạc quan niệm về vật chất của CNDV

Sự phát triển của khoa học đã dẫn đến sự phá sản của quan niệm siêu hình về thế giới

Vì sao sự phát triển của Vật lý học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX lại tạo nên sự khủng hoảng về nhận thức luận trong triết học?

Vì : Trước nay các nhà triết học siêu hính quan niệm nguyên tử là phần tử bé nhất, đồng nhất vật chất với khối lượng… nay quan niệm đó đã bị bác bỏ

Sự phát triển của khoa học vật lý đã đem lại sự biến đổi trong nhận thức của con người về vật chất và đã gây ra sự khủng hoảng về thế giới quan đối

với các nhà triết học siêu hình “Vật chất tiêu tan, vật chất biến mất” Đã phá vỡ

quan điểm cho rằng vật chất là nguyên tử

Lợi dụng sự phát triển đó của KHTN CNDT đã tấn công CNDV, xuyên tạc quan niệm về vật chất Họ cho rằng vật chất đã tiêu tan, chỉ còn lại một thực thể duy nhất là tinh thần ý thức, CNDV không còn chỗ đứng Các nhà khoa học dao động một số chuyển sang lập trường duy tâm Tình hình đó đặt ra cho các nhà duy vật phải khái quát, giải thích về mặt triết học các thành tựu đó

Trang 9

Lênin đã chỉ ra: Thực chất khủng hoảng vật lý học là khủng hoảng về thế giới quan Nguyên nhân khủng hoảng là hạn chế bởi phương pháp siêu hình

“Điện tử cũng vô cùng, vô tận như nguyên tử, giới tự nhiên là vô tận” Con đường

thoát khỏi khủng hoảng là thay CNDVSH bằng CNDVBC Điều kiện thực hiện sự thay thế theo Lênin đến lúc này KHTN đã có đủ điều kiện thực hiện cuộc thay thế

đó “Vật lý học đang nằm trên giường đẻ và nó đang đẻ ra CNDVBC ” nhưng nó

đẻ ra tự phát và ngập ngừng Lênin xuất hiện đòi hỏi yêu cầu khái quát mới về mặt triết học những thành tựu của khoa học tự nhiên, bảo vệ và phát triển CNDV trước hết

là phạm trù nền tảng của nó là phạm trù vật chất

* Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phạm trù vật chất

- Tư tưởng của C.Mác- Ph.Ăng ghen: C.Mác- Ph.Ăngghen tuy chưa đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất nhưng đã đưa ra tư tưởng về vật chất

+ Phạm trù vật chất phải bao quát được những thuộc tính chung của tất cả các sự vật, hiện tượng đang tồn tại cảm tính

+ Tính vô tận, vô hạn và tính không thể sáng tạo, không thể diệt vong; Tính thống nhất vật chất của thế giới; Đưa ra các hình thức tồn tại của vật chất…

+ Tính trừu tượng và tính cụ thể Và tính có thể nhận thức được

=> Những tư tưởng này có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học đồng thời và là cơ sở để Lênin phát triển học thuyết DVBC về vật chất sau này

- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:

Khái quát những tư tưởng của Mác và Ăng ghen, đồng thời tổng kết những thành tựu mới nhất của khoa học, Lênin đã định nghĩa vật chất như sau:

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

( TB M, 1980 tr 51)+ Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, độc lập với ý thức

Thứ nhất, vật chất là phạm trù triết học

Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, phản ánh những thuộc tính, những mặt những mối liên hệ cơ bản và phổ biến của toàn bộ thế giới hiện thực

(cả tự nhiên xã hội và tư duy) Do đối tượng nghiên cứu của triết học … nên triết học biểu hiện khái quát nghiên cứu của mình bằng các khái niệm rộng nhất tức bằng các phạm trù triết học (vật chất, ý thức, khách quan, chủ quan )

Định nghĩa vật chất = phạm trù triết học là nhằm xác định ‘góc độ’ của việc xem xét, tránh nhầm lẫm của các quan niệm về khoa học tự nhiên về cấu

trúc và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng vật chất khác Với tư cách là phạm trù triết học, phạm trù vật chất vừa thống nhất vừa khác biệt với phạm trù của các khoa học cụ thể nghiên cứu về vật chất:

Thống nhất (nhưng không đồng nhất) về đối tượng nghiên cứu

đều nghiên cứu các thuộc tính của vật chất

Khác biệt về phạm vi phản ánh phạm trù vật chất rộng đến cùng

cực bao hàm cả hết mọi sự vật hiện tượng của thế giới vật chất, phạm trù khoa học cụ thể chỉ phản ánh 1 sự vật, 1 đối tượng nghiên cứu cụ thể trong phạm vi một nghành khoa học nhất định

Trang 10

Với tư cách là phạm trù triết học, vật chất vừa thống nhất lại vừa khác biệt với các dạng tồn tại cụ thể của vật chất.

Thống nhất giữa tính trừu tượng ( là phạm trù triết học) với tính hiện thực cụ thể biểu hiện ra các sự vật cụ thể cảm tính

Khác biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học không tồn tại cảm tính nó vô cùng, vô tận không có khởi đầu, không có kết thúc không do ai sinh ra

và tiêu diệt được = > không thể đồng nhất vật chất với vật thể 1 dạng tồn tại cụ thể của vật chất

Với tư cách là phạm trù triết học, cách định nghĩa duy nhất đúng về vật chất là phải đặt nó trong mối liên hệ với phạm trù độc lập là phạm trù ý thức, xem xét cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào

+ Có nhiều cách định nghĩa một khái niệm, cách thông thường trong lô gic học quy khái niệm cần định nghĩa về một khái niệm rộng hơn và chỉ ra những đặc

điểm khác biệt :

Ví dụ: trong toán học hình chữ nhật là hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau Tam giác cân là tam giác có hai cạnh bên bằng nhau, có hai góc bằng nhau Trong sinh học Lừa là một động vật ) = > Cách định nghĩa này không áp dụng

cho định nghĩa phạm trù vật chất, vì vật chất là phạm trù rộng nhất có ngoại diên rộng đến cùng cực, không có phạm trù nào rộng hơn để quy vào

Cách thứ hai, định nghĩa theo phương pháp phát sinh, tức vạch ra những

đặc trưng bản chất của đối tượng bằng cách chỉ rõ phương thức phát sinh( nguồn gốc phát sinh ) ra đối tượng Cách này cũng không áp dụng cho định nghĩa vật chất được vì vật chất có nguồn gốc tự nó, không ai sinh ra Các nhà triết học cổ đại đã định nghĩa vật chất

=> phương pháp này sai lầm quy vật chất vào vật thể ban đầu, đi tìm bản nguyên ban đầu của thế giới

Theo Lênin, phương pháp duy nhất đúng là phải đem đối lập vật chất với

ý thức, chỉ ra thuộc tính phổ biến để phân biệt vật chất với ý thức

Thứ hai, vật chất là thực tại khách quan.

Khách quan: là cái độc lập với cảm giác con người Theo Lênin là:

“cái đang tồn tại độc lập với loài người và cảm giác của con người

Vật chất thì vô cùng vô tận, có vô số thuộc tính khác nhau rất đa dạng

và phong phú (khoa học càng ngày, càng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của nó)

Trong tất cả các thuộc tính của nó thì thuộc tính chung nhất, vĩnh hằng với mọi dạng, mọi đối tượng khác của vật chất đó là thuộc tính thực tại khách quan Vì

thế, Lênin xem nó là thuộc tính chung nhất của vật chất

Kết luận này, khắc phục được thiếu sót của CNDVSH không thấy được thuộc tính cơ bản nhất và phổ biến nhất của vật chất, chống được CNDT phủ nhận thuộc tính khách quan của vật chất ==> phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất.Vì thế, nó giải phóng khoa học tự nhiên ra khỏi cuộc khủng hoảng thế giới quan, và khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu những hoạt động kỳ lạ của vật chất với thế giới quan khoa học

+ Vật chất là cái khi tác động vào các giác quan của con người thì gây ra cảm giác

Trang 11

Vật chất với tính cách là phạm trù triết học thì không tồn tại cảm tính song

nó không tồn tại vô hình trừu tượng mà nó biểu hiện ra các sự vật hữu hình cảm tính Các

sự vật này tác động vào cơ quan cảm giác (các giác quan) của con người thì gây cho ta cảm giác về nó

Vật chất (thực tại khách quan) không phải là cái gì thần bí, không thể không biết mà về nguyên tắc con người có thể nhận thức được thế giới vật chất, không có cái gì con người không nhận thức được chỉ có cái con người chưa nhận thức được mà thôi( là cơ

sở chống thuyết bất khả tri) = > giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

Vật chất vừa là nguồn gốc, vừa là đối tượng của nhận thức, là cái có trước ý thức và quyết định ý thức, ý thức là phản ánh của vật chất, ý thức là tính thứ hai (giải quyết vấn đề cơ bản triết học)

+ Vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phán ánh nó Nghĩa là

vật chất không phải tồn tại thần bí, mà tồn tại hiện thực dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể cảm tính con người có thể nhận thức được

- Hiện nay định nghĩa vẫn còn nguyên giá trị về mặt triết học và khoa học, nó đã góp phần củng cố sự liên minh Triết học và KHTN trong cuộc đấu tranh chống liên minh tôn giáo

Tháng 09 năm 1995 tại trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu các nhà khoa học đã tiến hành một thực nghiệm tạo ra được 9 phản nguyên tử, tức 9 phản vật thể đầu tiên, loài người có thêm một cơ hội khoa học để tin cậy khẳng định giá trị to lớn của định nghĩa vật chất.

-Trong việc nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực

xã hội Đây là điều mà các nhà duy vật trước Mác cũng chưa nhận thức tới.Định nghĩa vật chất của V.I Lênin giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất, trên cơ sở đó, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển

2 Các hình thức tồn tại của vật chất Ý nghĩa phương pháp luận trong hoạt động quân sự của người cán bộ chính ủy chính trị viên.

Trang 12

- Quan niệm SH: Tách rời vật chất và vận động, coi nguyên nhân vận động từ bên ngoài( lực) gây ra, họ quy các hình thức về một hình thức vận động cơ giới.Vận động chỉ là sự tăng lên hoặc giảm về số lượng, chỉ là sự dịch chuyển vị trí đơn thuần trong không gian Cho nên đối với phép siêu hình thì không thể có nhiều hình thức vận động và cũng không có sự chuyển hóa từ hình thức vận động này sang hình thức vận động khác => hạn chế bởi phương pháp xem xét SH, máy móc.

- Thuyết duy năng : Quy hai khái niệm vật chất và tinh thần vào khái niệm năng lượng, đem đồng nhất vật chất với năng lượng, cho rằng vật chất chỉ chuyển hóa thành năng lượng , và như vậy đồng nhất vật chất với vận động

1 thuộc tính của vật chất = >Nhằm phủ nhận sự vận động của vật chất, tách vận động ra khỏi vật chất

Lênin : “ Vật lý học duy năng là nguồn gốc sản sinh ra những mưu toan mới của CNDT nhằm quan niệm vận động không có vật chất ”( T18

1980 Tr.337-338)

- Thuyết vũ trụ “ chết nhiệt”, dựa vào định luật thứ hai của nhiệt

động học ( vật lý phân tử) để suy ra: Mọi vận động khác sẽ chuyển thành vận động nhiệt, nhiệt bao giờ cũng truyền từ vật có nhiệt độ cao xuống vật có nhiệt độ thấp, đến khi cân bằng, còn quá trình ngược lại thì không có “ Lúc đó vũ trụ chỉ còn 1 dạng vận động nhiệt ở cùng một nhiệt độ Và vũ trụ vĩnh viễn ở trạng thái như thế, không còn sư biến đổi nào khác, không bao giờ ra khỏi trạng thái nhiệt như thế

nữa Đó là vũ trụ chết, vũ trụ “chết nhiệt”.

= > Suy diễn chủ quan, chỉ tính bất diệt của vật chất vận động đơn thuần về lượng mà không hiểu tính bất diệt về mặt chất lượng của vận động, = > vận động chỉ nhất thời, vũ trụ có thể bị diệt vong ( Biện chứng của tụ nhiên tr 39 40)

Các quan điểm trên đều không đúng nguồn gốc, bản chất vận động

* Quan điểm triết học Mác Lênin :

- Khái niệm vận động là gì? Vận động theo nghĩa chung nhất là mọi

sự biến đổi nói chung

+ Ănghen trong biện chứng của tự nhiên; “ Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất – tức nó được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất- thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.”

= > Như vậy cách hiểu thông thường vận động là sự di chuyển vị trí đơn giản là chưa đầy đủ, và không giống với quan niệm Triết Học MLN

- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất: nghĩa là vật chất luôn luôn vận động, vận động là vận động của vật chất, vật chất và vận động không thể tách rời

Vật chất luôn luôn vận động, vật chất chỉ có thể tồn tại = vận động, thông qua vận động mới biểu hiện sự tồn tại của mình, vận động là hình thức tồn tại của vật chất.Vì:mỗi dạng vật chất cụ thể chỉ biểu hiện được sự tồn tại của mình và chỉ rõ mình là cái gì thông qua vận động dưới hình thức này hay hình thức khác Vì thế vật chất không thể tách rời vận động không có vật chất không vận động

Ănghen : “ Vật chất không vận động là điều không thể quan niệm được”

Trang 13

Lênin : “Tách vận động ra khỏi vật chất thì cũng như tách tư duy ra khỏi thực tại khách quan tách những cảm giác của tôi ra khỏi thế giới bên ngoài, tức là đã sang phía CNDT”.

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, gắn liền với vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất chứ không phải do lực lượng bên ngoài ( SH) tác động vào Vì vận động là vốn có, nên ở 1 dạng vật chất nào đó có thể không có 1 thuộc tính nào đó, nhưng không thể không có tính vận động

Vì khoa học đã chứng minh: nguồn gốc sinh ra vận động của vật chất

là do sự tác động qua lại giữa các yếu tố, các bộ phận khác trong bản thân sự vật và giữa các sự vật với nhau Vì thế vận động của vật chất là tự thân, vốn có

Vận động gắn liền với vật chất, là thuộc tính vốn có của vật chất nên vận động là tuyệt đối, vĩnh viễn và bất diệt, tính bất diệt của vận động chính là sự bảo toàn của vận động cả về số và chất lượng

= = > Cơ sở chứng minh

Về mặt triết học: Ănghen trong biện chứng của tụ nhiên vật chất đối diện

với chúng ta như một cái gì đó có sẵn không thể sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được

Về khoa học: Vật lý học đã chứng minh; định luật bảo toàn và chuyển hóa

năng lượng Năng lượng không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác Định luận này khẳng định rằng vận động

được bảo toàn cả về mặt số lượng lẫn chất lượng.

Đó là một trong ba phát kiến vĩ đại làm tiền đề khoa học tự nhiên cho

sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đánh giá phát hiện này Ph Ănghen viết:

“ Sự thống nhất của mọi vận động trong tự nhiên bây giờ không còn là một

sự khẳng định triết học nữa mà là một sự thực khoa học tự nhiên rồi.”

Vận động cũng là một thuộc tính cố hữu của vật chất, nó không tự nhiên sinh

ra và không tự nhiên mất đi mà chỉ chuyển hóa từ hình thức vận động này sang hình thức vận động khác Lý giải sự khái quát này bằng một phản ứng hóa học rất đơn giản:

Ví dụ: 2 Na + Cl2 = 2Na Cl, và bằng phương pháp điện phân Na Cl ta lại được 2 nguyên tố ban đầu:

Trang 14

+ Vất chất tồn tại thông qua sự tồn tại của sư vật hiện tượng cụ thể cảm tính, do vậy sự tồn tại của vật chất tất yếu phải có đứng im Không có trạng thái đứng im sẽ không có sự hình thành, tồn tại của các sự vật hiện tượng cụ thể Đứng im chỉ là 1 trạng thái đặc thù của vận động là sự vận động trong trạng thái căn bằng, trong sự ổn định tương đối của sự vật làm cho sự vật là nó chưa là cái khác.

- Đứng im chỉ là tương đối vì nó chỉ xảy ra trong 1 mối quan hệ với một hệ thống nhất định, còn quan hệ với các hệ thống khác thì sự vật vẫn đang vận động Trạng thái tĩnh là một trạng thái đặc thù của sự vận động Còn bản thân sự vận động là một mâu thuẫn, trong đó đứng im không tách rời khỏi vận động Bởi vì,

ngay như sự di động một cách máy móc và đơn giản Ănghen rút ra kết luận: “ Mọi

sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời’’.Trong sự vận động tuyệt đối và vĩnh

viễn của thế giới vật chất

Ví dụ: Công thức tính năng lượng của vật lý học cổ điển của Niu tơn

M V2

E =

2Trong đó E là năng lượng của vật

M là khối lượng của vật

M là khối lượng của vật

Khi V = O tức vật không chuyển động = > suy ra E = m.c2 > O ,vật không chuyển động nhưng nămg lượng vẫn tỏa ra, vậy đứng im cũng là một hình thức vận

động của vật chất.Vât lý học hiện đại càng phát triển khoa học càng phát triển càng chứng minh những nguyên lý cơ bản của CNDVBC càng đúng đắn

* Ý nghĩa trong hoạt động quân sự:

- Ý nghĩa phương pháp luận

+ Phải xem xét sự vật trong trạng thái động, song phải phân tích để thấy được những yếu tố nào đang biến đổi, những yếu tố nào đang ổn định tạm thời, từ đó có biện pháp tác động thích hợp nhằm phục vụ cho con người(liên

hệ tình hình, kinh tế, xã hội, quốc tế, quân đội )

+ Sự vận động của cơ chế thị trường, các xu hướng biến đổi của nó, các mặt phải, mặt trái của nó nhân tố ổn định và nhân tố gây mất ổn định

+ Su thế hòa hoãn đối thoại, hợp tác, hội nhập trong quan hệ quốc tế

+ Sự vận động của quân đội về tổ chức, tư tưởng trong trong điều kiện quốc tế mới và trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Trang 15

+ Trong chiến đấu có nhiều yếu tố ngẫu nhiên, có khi ta lại vào tình huống bất lợi phải bình tĩnh và sáng suốt xử trí tình huống địch, địa hình trong

sự vận động và đứng im tương đối của nó cho phù hợp tránh chủ quan duy ý chí

* Không gian và thời gian.

- Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm:

Những người theo chủ nghĩa duy tâm thường phủ nhận tính khách quan của không gian và thời gian

Can Tơ: KG- TG chỉ là những hình thức chủ quan của trực quan cảm tính để sắp đặt các cảm giác chúng ta thu nhận được một cách hỗn loạn chứ không phải của thực tại khách quan (vật chất)

E.M Khơ cũng cho rằng không phải con người với những cảm giác mình tồn tại trong không gian và thời gian mà chính không gian và thời gian tồn tại trong con người lệ thuộc vào con người và do con người sinh ra

== Phủ nhận cái đặc tính khách quan của KG- TG

Niu Tơn: “ Không gian, thời gian và vận động là những thực thể nào đó ở bên ngoài vật chất và không liên hệ với nhau Ông hình dung KG như cái bình chứa rỗng không, bất động để chứa các vật thể, thời gian là đồng nhất, trôi đều đều 1 hướng từ quá khứ đến tương lai KG- TG không có liên hệ gì với nhau Đó là “

KHÔNG GIAN tuyệt đối” và “THỜI GIAN tuyệt đối” chẳng của cái gì cả Không gian tuyệt đối là không gian rỗng hoàn toàn không có liên hệ gì với các sự

vật, không chứa đựng một sự vật nào trong đó nó đồng chất và đẳng hướng

Thời gian tuyệt đối là thời gian hoàn toàn không liên hệ gì với các sự vật,

hiện tượng, cũng không quan hệ gì đến sự vận động và biến hóa của thế giới vật chất

Nó trôi đi một cách đều đặn và diễn ra đều đều trong thế giới hiện thực

===========.> Điểm thiếu sót cơ bản trong quan niệm trên ở chỗ, không thấy được không gian và thời gian là thuộc tính của vật chất, không tách rời khỏi các sự vật.

=====.> tách rời TG- KG khỏi vật chất …>>> CNDT Lênin trong bút ký

triết học “ thời gian tách rời các sự vật còn thời gian = thần linh”

Chủ nghĩa duy vật biện chứng:

-Khái niệm Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kết cấu sự tác động lẫn nhau của vật chất.

Thời gian dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt

độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình.

Lênin đã từng nhận xét rằng: “ Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian.”

KG-TG là những hình thức tồn tại khách quan của vật chất, chúng tồn tại

KQ độc lập với ý thức của con người Khái niệm của con người về không gian và thời gian chỉ là sự phản ánh không gian thời gian của thực tại khách quan (vật chất) Giữa không gian và thời gian, vận động và vật chất có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời Không có một loại không gian, thời gian nào tách rời khỏi vật chất, đứng biệt lập với vật chất Nếu tính khách quan là một thuộc tính bản chất của vật chất thì không gian, thời gian, vận động cũng là những thuộc tính tương tự như

Trang 16

vậy Khi nói đến vật chất là nói đến thực tại khách quan, sự vận động của nó trong không gian diễn ra theo thời gian nhất định.

- Các tính chất của không gian - thời gian

1 Tính khách quan: Không gian, thời gian là thuộc tính của vật chất

gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất Vật chất tồn tại khách quan, do đó KG

TG cũng tồn tại khách quan Bởi đó là không gian thời gian của vật chất vận độn, là thuộc tính nội tại của vật chất, là hình thức tồn tại của vật chất nên nó gắn liền với

và thống nhất với vật chất vận động Không gian, thời gian là thuộc tính khách quan của vật chất không có không gian thuần túy tách rời vận chất vận động Do đó không gian thời gian tồn tại khách quan như vật chất vận động khách quan

Phụ thuộc vào vật chất nghĩa là không gian và thời gian không phải là đồng nhất, bất biến( như quan niệm siêu hình) mà nó có những tính chất khác và phụ thuộc vào vật chất vận động, sự biến đổi của chúng vạt chất Khoa học

đã chứng minh; Anhxtanh cho rằng: Vận tốc càng lớn thì kích thước sự vật càng nhỏ và thời gian trôi càng chậm

2 Tính vĩnh cửu và vô tận Theo Ănghen vật chất vĩnh cửu và

vô tận trong không gian và thời gian.Vô tận có nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả đằng trước lẫn đằng sau, cả về phía trên lẫn phía dưới, cả về bên phải lẫn bên trái Những thành tựu của vật lý học vi mô cũng như những thành tựu của vũ trụ học ngày càng xác nhận tính vĩnh cửu và tính vô tận của KG- TG

Khoa học hiện đại đã chứng minh trong thế giới không ở đâu có tận cùng cả về bề rộng và bề sâu, cũng không ở đâu có sự ngưng động, không biến đổi

và không có sự tiếp nối của các quá trình Tức là vật chất vận động vô cùng trong không gian và vô tận trong thời gian

Tính vô cùng của không gian được hình thành từ những quảng tính có hạn của vô số các sự vật, tính vô tận của thời gian được hình thành từ độ dài diễn biến có hạn của vô số quá trình riêng lẻ Vì thế, không gian và thời gian là thống nhất của tính gián đoạn và tính liên tục của vật chất vận động

3.Tính ba chiều của KG và tính một chiều của thời gian

Tính ba chiều của không gian là chiều dài, chiều rộng, chiều cao.Tính một chiều của thời gian là từ chiều quá khứ đến tương lai

Trong toán học đưa ra và sử dụng không gian nhiều chiều (n chiều; n>3) là loại không gian suy rộng, không có thực, nhưng cần thiết để giải quyết những bài toán cụ thể của toán học hoặc vật lý học, không gian hiện thực chỉ có ba chiều mà thôi

Không gian, thời gian là hai thuộc tính, hai hình thức tồn tại khác của vật chất vận đông, song chúng không tách rời nhau Một tính chất của không gian bao giờ cũng liên quan đến một tính chất của thời gian tương ứng Vì vậy về thực chất, không gian và thời gian là một thể thống nhất không - thời và có 4 chiều

* Chú ý: Trong lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên, quan niệm không gian và thời gian được thể hiện trước hết trong quan niệm của Cơ học cổ điển của Niu tơn

Khái niệm không gian thời gian tuyệt đối mà cơ học cổ điển của Niu tơn đưa

ra dù có yếu tố không đúng đắn nhưng nếu xem xét các sự vật, hiện tượng ở trong trạng thái đứng yên hay chuyển động thẳng đều thì những đặc tính về không gian

và thời gian cũng được xác định bằng những đại lượng cụ thể

Trang 17

Khi vật lý học hiện đại xuất hiện, những quan niệm về không gian và thời gian trong cơ học cổ điển không còn thích ứng với việc khảo sát sự chuyển động của các vật thể vi mô Trong sự khảo sát đó, không gian và thời gian không phải chỉ là yếu tố có tính chất liên tục gắn liền với vị trí các vật thể ở trong từng thời điểm, từng giai đoạn nhất định đó mà nó phản ánh tính liên tục của sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng của thế giới vật chất Vì thế, thời gian vừa là yếu tố có tính chất gián đoạn vừa cóa tính liên tục

Quan niệm về không gian và thời gian không phải là những đại lượng bất biến mà luôn luôn biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của không gian và thời gian càng nhiều Sự biến đổi của không gian và thời gian được thể hiện trong

lý thuyết tương đối của Anhxtanh

Thuyết tương đối hẹp đã bác bỏ quan niệm không gian tuyệt đối và thời

gian tuyệt đối của Niu tơn, không gian và thời gian có tính tương đối có quan hệ chặt chẽ với vận động của vật chất và không tách rời khỏi vật chất

Thuyết tương đối rộng cho ta một bức tranh khái quát và sâu sắc hơn về

mối quan hệ giữa không gian, thời gian với vận động và vật chất Đây là minh chứng nữa xác định tính đúng đắn trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời giữa vật chất, vận động, không gian và thời gian

* Ý nghĩa phương pháp luận trong hoạt động quân sự:

- Ý nghĩa phương pháp luận: Trong hoạt động thực tiễn xã hội, muốn nhận thức đúng sự vật hiện tượng phải có quan điểm LS cụ thể phải gắn sự vật hiện tượng với điều kiện hoàn cảnh, thời điểm cụ thể (tức điều kiện không gian

và thời gian tồn tại của vật chất) phải xét cả quá khứ, hiện tại và tương lai của nó Chống rập khuôn giáo điều, áp đặt chủ quan duy ý chí, tùy tiện KG- TG cho sự vật hiện tượng

Liên hệ đánh giá các thành tựu – khuyết điểm trên quan điểm lịch sử

cụ thể

Phê phán chủ nghĩa hư vô, phủ nhận sạch trơn bất chấp tính lịch sử áp đặt chủ quan

* Trong hoạt động quân sự;

- Không gian trong quân sự là điều kiện hoàn cảnh địa hình, thời tiết nơi các quân nhân hoạt động

- Trong chiến đấu người chỉ huy phải biết không gian chiến trường, phạm vi trận đánh địa hình để tổ chức lực lượng thích hợp

- Thời gian trong hoạt động quân sự rất quan trọng đặc biệt là thời cơ đánh địch, thời gian trước trong và sau trận đánh, người chỉ huy phải nắm chắc thời gian liên quan đến từng trận đánh và cho cả chiến dịch

- Ta trong chống pháp trường kỳ kháng chiến, đánh mùa xuân năm 1975 chọn không gian mở màn buôn Ma Thuột thời gian kết thúc trước mùa mưa năm 1975 ( tháng 04)

II NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT Ý THỨC

1 Nguồn gốc của ý thức

* Định nghĩa ý thức: Là một phạm trù triết học dùng chỉ một hình thức phản ánh cao nhất diễn ra trong óc người thông qua sự tương tác biện chứng giữa con người với hiện thực khách quan

Trang 18

- Nguồn gốc tự nhiên Dựa trên cơ sở của những thành tựu KHTN, CNDVBC khẳng định: Ý thức là thuộc tính riêng có của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là

bộ óc con người Bởi vì:

- Bộ óc người là tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi và phức tạp(14-

15 tỷ tế bào) Các tế bào này liên hệ với nhau và liên hệ với các giác quan tạo thành vô

số những mối liên hệ thu nhận và xử lý thông tin trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ

- Từ mối liên hệ giữa óc người và thế giới bên ngoài Chính mối liên hệ

ấy hình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào trong óc người

Học thuyết phản ánh khẳng định : Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất, là sự tái tạo những đặc điếm của hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng Kết quả phụ thuộc cả hai vật Vật nhận tác động mang thông tin của vật tác động

Như vậy, bộ não người và sự tác động của thế giới khách quan vào não người thông qua các giác quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

Điều này căn cứ vào học thuyết phản ánh của Lênin tập 18 nội dung cơ bản như sau:

+ Mọi hệ thống vật chất đều có thuộc tính phản ánh, đó là năng lực giữ lại tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giũa chúng

+ Sự tác động giữa 2 hệ thống vật chất bao giờ cũng gây ra một sự biến đổi nhất định sự biến đổi này phụ thuộc vào cả vật tác động và vật bị tác động

+ Sự biến đổi trong vật nhận tác động bao giờ cũng mang “dấu vết”

hình ảnh hay một nội dung thông tin nào đó về vật tác động ( có ý nghĩa khẳng định

ý thức là phản ánh của thế giới khách quan vào óc người, nội dung của ý thức là khách quan, mang nội dung vật chất khách quan Não người cơ quan phản ánh thế giới vật chất xung quanh, và sự tác động của thế giới vật chất xung quanh, nên não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức)

Điều này khoa học đã chứng minh;

+ Giới vô cơ phản ánh vật lý, thụ động, đơn giản máy móc, không có lựa chọn

+ Giới hữu sinh thực vật phản ánh mang tính kích thích có chọn lọc trước điều kiện môi trường sống, động vật bậc thấp phản ánh mang tính cảm ứng (tức năng lực cảm giác) nó được thực hiện do hệ thần kinh đẻ liên hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua phản xạ bẩm sinh Ví dụ sâu bọ mầu sắc giống lá cây

Động vật bậc cao có xương sống và hệ thần kinh trung ương phản ánh đạt trình độ tâm lí thông qua phản xạ có điều kiện Một số đạt hành vi trí tuệ, kỹ xảo song đó chỉ là quá trình tư duy bằng tay con vật mò mẫm làm chứ không hiểu bản chật việc làm của nó Song đây là mắt khâu trung gian để chuyển tiếp từ tâm lý động vật lên ý thức con người

+ Khi vượn biến thành người thì phản ánh tâm lý ở động vật chuyển lên một hình thức mới cao hơn về chất, phản ánh ý thức đó là hình thức phản ánh cao nhất riêng có ở óc người nhờ có mối liên hệ vật chất giữa óc người và thế giới bên ngoài ý thức mới xuất hiện và hình thành ở trong óc, óc liên hệ với bên ngoài thông qua các giác quan (nhờ tác động của thế giới vật chất gây ra cảm giác ý thức)

* Nguồn gốc xã hội.

Trang 19

- Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu con người và xã hội.

Lao động là hoạt động riêng có của con người; là điều kiện tiền đề để con người tồn tại và phát triển; lao động đã làm cho tự nhiên bộc lộ các thuộc tính để con người nhân thức

+ Vai trò của lao động: lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người và xã hội loài người khác về chất các loài động vật khác…

+ Lao động là cơ sở cho hình thành phát triển ngôn ngữ trong lao động tất yếu phải liên hệ với nhau và có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm từ đó nảy sinh nhu cầu phải nói với nhau một cái gì đấy vì thế ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng lao động

- Ngôn ngữ: là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong não người bằng những tín hiệu, dấu hiệu là phương tiện mã hoá và truyền đạt thông tin Là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại

Là công cụ phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, công cụ của tư duy

để khái quát hiện thực

Như vậy: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội,

là một hiện tượng xã hội

Ngôn ngữ là công cụ, phương tiện để con người phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa và truyền đạt nội dung tri thức, tư tưởng từ người này sang ng\ười khác,

từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì thế ngay từ đầu ngôn ngữ đã là phương tiện vật chất không thể thiếu của quá trình hình thành ý thức

Tóm lại: lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu để biến dần bộ

óc con vật thành bộ óc người, biến tâm lí động vật thành ý thức nó là những mặt xã hội quyết định sự hình thành và phát triển ý thức

Cùng với mặt tự nhiên, mặt xã hội trong nguồn gốc ý thức là những điều cần

và đủ để hình thành ý thức Như vậ,y ý thức ra đời là sản phẩm phát triển của tự nhiên và lịch sử xã hội nguồn gốc trực tiếp của ý thức là thực tiễn xã hội Do đó ý thức là một hiện tượng xã hội mang bản chất xã hội Đây là cơ sở lí luận để chúng

ta chống CNDT

2 Bản chất của ý thức Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Ý thức là sự phản ánh hiện thực

khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động sáng tạo Là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mác: “ ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó, nói cách khác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”.

(C.Mác - Angghen Toàn tập, tập 23 Nxb CTQG H 1993 tr 35)

* Thừa nhận cả vật chất và ý thức đều tồn tại hiện thực Nhưng giữa chúng

có sự khác nhau về bản chất (Cái bị phản ánh – vật chất là hiện thực khách quan, còn cái phản ánh – ý thức là hiện thực chủ quan)

* Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

* Sự phản ánh của ý thức mang tính tích cực, chủ động, sáng tạo

- Trao đổi thông tin

- Mô hình hóa đối tượng

Trang 20

- Chuyển hóa mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan

Tuy nhiên, tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật của sự phản ánh, kết quả bao giờ cũng là khách thể tinh thần, chứ không phải sáng tạo ra thế giới vật chất

- Vô thức là một hiện tượng tâm lý, nhưng có liên quan đến những

hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi ý thức chưa được con người ý thức đến( giấc mơ thôi miên hành động kỹ xảo )

+ Vô thức là vô thức của con người có ý thức, nên không cô lập, tách rời ý thức và thế giới khách quan, và không thể là cái quyết định ý thức và hành vi hoạt động của con người Trong hoạt động của con người ý thức vẫn là chủ đạo quyết định hành vi cá nhân

+ Vô thức cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người Nhờ

vô thức mà con người tránh được sự căng thẳng thần kinh không cần thiết do làm việc qúa sức, nhờ vô thức mà con người có thể thực hiện được các chuẩn mực đã được đặt ra một cách nhanh chóng

+ Chống Phờ rớt vô thức là hành động chủ yếu của con người,tuyệt đối hóa nó= hạ hành động con người bằng con vật

3 Kết cấu của ý thức

* Tiếp cận các yếu tố hợp thành quá trình tâm lý gồm: Tri thức, tình cảm, ý chí

* Tiếp cận theo cấp độ phản ánh gồm: Tự ý thức, tiềm thức, vô thức

III MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất và ý thức là hai phạm trù chung nhất, khái quát nhất có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, song ý thức có vai trò tác động trở lại to lớn đối với vật chất

- Cơ sở khẳng định: Từ bản chất của ý thức và từ vai trò hoạt động

thực tiễn của con người Mác: “ Thực tiễn căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện được tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn ”

“ Cố nhiên vũ khí phê phán … mà thôi ”

- Biểu hiện: Ý thức chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng cho hoạt động của con người; thúc đẩy tính tích cực, chủ động của con người đi sâu nhận thức và cải tạo thế giới, qua đó tác động trở lại vật chất theo hai chiều hướng: Nếu phản ánh đúng hiện thực khách quan thì thúc đẩy hiện thực khách quan phát triển và ngược lại

Trang 21

- Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau.

- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn vô hạn và vô tận không ai sinh ra không tự mất đi

Chú ý: Quan điểm của triết học Mác- Lênin về tính thống nhất vật chất của

thế giới Luận điểm của Lênin về ý nghĩa tuyệt đối và ý nghĩa tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức

Vấn đề cơ bản của triết học phản ánh sự đối lập giữa vật chất và ý thức

Tuy nhiên, theo Lênin, không cường điệu, khuyếch đại quá đáng sự đối lập đó, bởi vì sự đối lập giữa vật chất và ý thức vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối của sự đối lập đó thể hiện ở việc xác định giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất và cái nào là tính thứ hai

Theo quan điểm duy vật Mácxit, vật chất là cái có trước, cái sinh ra ý thức, còn

ý thức là cái có sau, do vật chất quy định Đó là nguyên tắc tuyệt đối của thế giới

quan duy vật Tính tương đối của sự đối lập đó thể hiện ở chỗ ý thức do vật chất sinh

ra, bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất là thuộc tính phản ánh Ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất, mặt khác ý thức (cái tư tưởng) có thể chuyển hóa thành cái vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Lênin viết: “ Sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản, là thừa nhận cái gì là có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó Không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối”.

Ý nghĩa phương pháp luận

* Tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới

- Tôn trọng khách quan là căn cứ vào điều kiện khách quan, quy luật khách quan lấy khách quan làm cơ sở phương tiện cho hoạt động của mình

+ Nguyên tắc khách quan trong xem xét: nghĩa là trong nhận thức và hành động phải bảo đảm tính khách quan xem xét sự vật như nó có, không thêm bớt, gán ghép chủ quan; trong hoạt động thực tiễn phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng

và hoạt động theo qui luật khách quan

+ Nguyên tắc này yêu cầu: chống thái độ chủ quan, duy ý chí, đi từ nguyện vọng chủ quan, lấy ý chí làm cơ sở cho chủ trương chính sách, áp đặt cho thực tế

- Phát huy tính năng động chủ quan là phải biết nhận thức và vận dụng quy luật khách quan 1 cách đúng đắn, sáng tạo không rập khuôn, giáo điều, cứng nhắc

+ Phát huy tính tích cực của ý thức là làm cho ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan từ đó làm con người hình thành mục đích phương hướng, biện pháp và ý chí cần thiết cho hoạt động thực tiễn của mình

Trang 22

+ Trong hoạt động thực tiễn phải nâng cao trình độ tri thức khoa học cho nhân dân cán bộ sỹ quan chiến sỹ, dân trí, tri thức hóa, đồng thời củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình cách mạng, ý chí cách mạng cho nhân dân, cán bộ, chiến sỹ… bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng, ý chí cách mạng và tri thức khoa học.

- Chống chủ quan duy ý chí lấy mong muốn chủ quan ý chí con người làm

cơ sở bất chấp ĐKKQ QLKQ duy tâm

+ Nguồn gốc bệnh chủ quan duy ý chí từ nhận thức, từ sự yếu kém về tri thức khoa học, lý luận không đáp đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, về mặt đời sống

xã hội giai cấp tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối, cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho ra đời bệnh chủ quan duy ý chí

+ Tác hại vai trò tuyệt đối hóa vai trò nhân tố chủ quan, duy ý chí, xa rời hiện thực khách quan bất chấp quy luật khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay cho sự yếu kém tri thức khoa học, lối suy nghĩ và hành động giản đơn nóng vội =.> Tác hại nghiêm trọng đối với CNXH

+ Để khắc phục chủ quan duy ý chí, phải tiến hành động bộ các biện pháp: đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ trình độ lý luận của Đảng Trong hoạt động thực tiễn phải tông trọng khách quan, phải đổi mới cơ chế quản kinh tế đổi mới phương thức lãnh đạo và tổ chức của hệ thống chính trị chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu

Chống tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tiễn thụ động bất chấp quy luật KQ xa rời thực tiễn sách vở kinh viện duy tam duy ý chí

* Trong hoạt động quân sự ý nghĩa phương pháp luận đối với giải quyết mối quan hệ khách quan chủ qưuan trong lĩnh vực quân sự.

- Tại sao từ MQH VC-YT trong hoạt động thực tiễn lại giải quyết MQH Khách Quan – Chủ quan

+ Thực chất MQH VC-YT là MQH giữa con người và phần còn lại của thế giới KQ Trong MQH đó con người là chủ thể tác động vào thế giới để nhận thức

và cải tạo nó, còn thế giới VC chịu sự tác động, nhận thức và cải tạo cuat chủ thể là khách thể

/ Chủ thể là con người (một cá nhân, 1 tập thể có tổ chức) có tri thức, ý chí, tình cảm và năng lực tổ chức hoạt động cải tạo thế giới khách quan

/ Khách thể là đối tượng chịu sự tác động, nhận thức và cải tạo của chủ thể (có thể là 1 SV, 1 hiện tượng, có thể là 1 thế giới VC hoặc 1 con người)

+ MQH VC-YT đây là vấn đề cơ bản của mọi triết học nên việc giải quyết MQH VC-YT có ý nghĩa phương pháp luận chung cho giải quyết các vấn đề khác của triết học trong đó có MQH KQ-CQ

+ Mặt khác con người cải tạo thế giới không phải trực tiếp bằng YT mà bằng hoạt động VC được YT chỉ đạo (tức hoạt động thực tiễn) hoạt động thực tiễn là khâu trung gian giữa tri thức tình cảm ý chí (tức những nhân tố chủ quan) của chủ thể với điều kiện hoàn cảnh môi trường và những QL vận động của chúng (tức những nhân tố KQ) của khách thể ===> trong hoạt động thực tiễn phải giải quyết MQH KQ-CQ

- Khái niệm KQ-CQ:

+ Khách Quan : là phạm trù chỉ tất cả những gì tồn tại không lệ thuộc vào

YT của chủ thể, hợp thành 1 hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên và trực tiếp quy định mọi hoạt động của chủ thể.

/ Nội dung chủ yếu của phạm trù KQ

Trang 23

Điều kiện KQ là tổng thể các mặt, các yếu tố tạo lên 1 hoàn cảnh hiện thực trong đó chủ thể sống và lao động cải tạo khách thể.

QL KQ: là những QL vận động tất yếu của khách thể (nói chung gồm các ql của TN-XH-TD) nó là cái bao trùm nhất của phạm trù KQ là cái quyết định hoạt động chủ quan của chủ thể

Hoàn cảnh khách quan là những mầm mống, tiền đề, khuynh hướng của hoàn cảnh đối tượng mà trong những điều kiện nhất định biến thành hiện thực

- Mối quan hệ KQ-CQ

+ Theo triết học MLN cái KQ-CQ là 2 mặt không thể tách rời nhau và tác động biện chứng với nhau trong đó cái KQ là tính thứ nhất quyết đinh cái chủ quan, cái CQ là tính thứ 2 tác động trở lại cái KQ trên cơ sở phù hợp với nó.

/ Khách Quan quyết định Chủ Quan

Biểu hiện đặc thù KQ-CQ trong hoạt động Quân sự

- Đặc thù trong hoạt động QS: là một hoạt động đặc biệt của hoạt động thực tiễn xã hội, với những đặc điểm và tính chất phức tạp Với các tình huống luôn luôn vận động biến đổi, chịu sự chi phối nghiêm ngặt của hệ thống các QL chiến tranh, song lại chứa đựng vô số cái ngẫu nhiên bất ngờ, nó sử dụng 1 hệ thống công cụ đặc biệt chuyên dung công cụ bạo lực vũ trang Tính chất của hoạt đọng QS luôn diễn ra trong điều kiện căng thẳng khẩn trương ác liệt liên quan đến mạng sống con người chủ thể.

- Đặc thù MQH KQ-CQ trong lĩnh vực QS:

MQH KQ-CQ trong lĩnh vực QS được biểu hiện thành MQH giữa chủ thể

QS (người chỉ huy, các đơn vị thuộc quyết) với hệ thống các QL tác động vào quá

Trang 24

trình chuẩn bị và sử dụng 1 loại công cụ đặc biệt của thực tiễn (công cụ bạo lực vũ trang).

Vì: => Vai trò quyết định của Quy Luật chiến tranh, trong đó Quy Luật

“mạnh được yếu thua” => Vai trò bạo lực nói chung và bạo lực vũ trang nói riêng

đối với Nhà nước và Quân đội đối với thành bại cuả chiến tranh => Vai trò của vũ khí trang bị giải quyết MQH giữa con người với VKTB

- MQH KQ-CQ được biểu hiện thành sự đối địch với các bên tham chiến.Vì: => Phía trước chủ thể không phải đơn thuần là giới tự nhiên cần phải cải tạo mà là đối phương cần phải tiêu diệt, đối phương đó là con người với dầy đủ sức mạnh vật chất và tinh thần được kết hợp trong đó

Do đó phải xuất phát từ đối tượng tác chiến tính đến khả năng của đối phương để có phườn án đối phó đồng thời phải chuẩn bị mọi mặt huấn luyện bộ đội xây dựng kế hoạch chiến đấu, quyết tâm chiến đấu phù hợp với tình hình địch ta và các điều kiện khác

Mối quan hệ khách quan và chủ quan được biểu hiện thành mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quân sự với điều kiện và hoàn cảnh đất nước, quân đội và thực

KẾT LUẬN

Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lần đầu tiên triết học Mác - Lênin đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học và triệt để vấn đề cơ bản của triết học Đây là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Đồng thời, là cơ sở củng cố lòng tin vào sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, góp phần tích cực vào việc xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao cho

Vấn đê 3: PHÉP BIÊN CHỨNG DUY VẬT - KHOA HỌC VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

MỞ ĐẦU

Triết học Mác – Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Việc nghiên cứu toàn diện phép biện chứng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm xây dựng thế giới quan duy vật triệt để và phương pháp tư duy biện chứng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

NỘI DUNG

I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Khái niệm phép biện chứng duy vật

Trang 25

Phép biện chứng duy vật là một môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy.

* Phép biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng

* Phép biện chứng duy vật là biện chứng khách quan do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập, V.I.Lênin là người phát triển, bảo vệ

* Phép biện chứng duy vật trải qua quá trình phát triển lâu dài của nó trong lịch sử

* Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến sự vận động phát triển tất yếu của thế giới (bao gồm tự nhiên; xã hội và tư duy) Là lý luận khoa học và cách mạng trong nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp vô sản

2 Các hình thức lịch sử của phép bịên chứng

* Phép biện chứng cổ đại (biện chứng ngây thơ)

* Phép biện chứng duy tâm khách quan

- Phép biện chứng duy vật cho ta cái nhìn toàn diện, sâu sắc về thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực xã hội và lịch sử Tư tưởng cơ bản, xuyên suốt, cốt lõi của phép

biện chứng duy vật là tư tưởng về sự phát triển Vì thế, đã trở thành học thuyết sâu sắc nhất và không phiến diện về sự phát triển

3 Hệ thống nguyên lý, phạm trù, qui luật của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý, ba quy luật cơ bản và những quy luật không cơ bản (phạm trù)

* Các nguyên lý cơ bản gồm nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý

về sự phát triển là những yếu tố đầu tiên phổ quát, định hướng toàn bộ nội dung, đồng thời xác định nguyên tắc phương pháp luận của toàn bộ hệ thống triết học

Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung

* Các quy luật cơ bản: Qui luật là những mối liên hệ qui định bản chất của sự vật hiện tượng, chi phối sự vận động phát triển của sự vật

Phép biện chứng duy vật gồm có 3 qui luật cơ bản, mỗi qui luật chỉ ra một mặt khác nhau của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vạch rõ nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển; qui luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại vạch rõ cách thức, trạng thái của sự phát triển; qui luật phủ định của phủ định vạch rõ khuynh hướng của sự phát triển Các qui luật này thống nhất hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

* Các phạm trù của phép biện chứng duy vật: Phạm trù là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, bản chất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

Các phạm trù khắc phục những hạn chế mà các qui luật cơ bản không phản ánh được (do cấu trúc phong phú, phức tạp của sự vật, hiện tượng) Các phạm trù được gọi là những qui luật không cơ bản vì nó chỉ vạch ra những mối liên hệ bản chất, tất nhiên của các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau,

Trang 26

mà không chỉ ra nguồn gốc, động lực, cách thức, trạng thái, khuynh hướng của sự phát triển.

II NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

1 Một số quan điểm ngoài mácxít

* Quan điểm duy tâm: Cũng đề cập đến mối liên hệ, quan hệ nhưng lại phủ định tính khách quan của liên hệ

* Quan điểm siêu hình: Phép siêu hình quan niệm các sự vật hiện tượng tồn tại tách rời nhau, và giữa chúng không có liên hệ gì với nhau, nếu có đó chỉ là những mối liên hệ bề ngoài, ngẫu nhiên, không chuyển hóa…

2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

* Khái niệm liên hệ: Liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự qui

định, sự tác động, ảnh hưởng qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố của một sự, vật hiện tượng.

* Các tính chất của liên hệ:

- Liên hệ là khách quan; Nghĩa là, liên hệ giữa các mặt bên trong sự vật, hoặc giữa các sự vật với nhau là vốn có, không phải do áp đặt chủ quan hay lực lượng siêu nhiên nào sinh ra

+ Cơ sở: Bắt nguồn từ sự thống nhất vật chất của thế giới (thế giới vật chất phong phú, đa dạng nhưng đều có liên hệ về vật chất, đều có liên hệ với những qui luật KQ của thế giới vật chất; đều có kết cấu vật chất Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại cô lập tách dời bên ngoài cái chung đó)

- Liên hệ mang tính phổ biến

Nghĩa là, sự liên hệ giữa các sự vật cũng như bên trong sự vật diễn ra trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy Không có lĩnh vực nào cũng như không

có sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong sự cô lập tách rời

Trong tự nhiên: Động vật, thực vật có liên hệ bên trong của sự sống.

Trong xã hội: Con người liên hệ với con người, với xã hội và môi trường

Trong tư duy: Liên hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

- Tính phong phú, muôn vẻ của mối liên hệ Nghĩa là, mỗi sự vật, hiện tượng có kết cấu khác nhau, tồn tại trong những điều kiện không gian, thời gian khác nhau nên mối liên hệ cũng khác nhau

* Khái niệm liên hệ phổ biến: Liên hệ phổ biến là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mối liên hệ chung nhất, bản chất nhất của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới, qui định sự vận động, phát triển của thế giới khách quan.

Là một dạng của liên hệ, liên hệ phổ biến vừa mang đầy đủ những đặc tính của liên hệ nói chung, vừa mang những đặc trưng riêng có của nó

- Liên hệ phổ biến là những mối liên hệ chung nhất diễn ra ở tất cả mọi sự vật, hiện tượng, lĩnh vực của thế giới vật chất

- Liên hệ phổ biến là những mối liên hệ bản chất nhất, tất nhiên, ổn định của

sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới

- Liên hệ phổ biến giữ vai trò quan trọng nhất trong quá trình tồn tại, vận động, phát triển của thế giới vật chất

Trang 27

Ý nghĩa phương pháp luận

- Nguyên lý liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

phải quán triệt quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể

+ Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chúng duy vật:

Một là, muốn nhận thức bản chất sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét

sự tồn tại trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó

Hai là, phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ giữa các bộ phận yếu

tố, thuộc tính, khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật ấy, qua lại giữa các sự vật

đó với sự vật khác( kể cả trực tiếp và gián tiếp)

Lênin viết: “ Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn thấy bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “ quan hệ gián tiếp của sự vật đó” (Tr.364)

===== Như vậy quan điểm toàn diện không đồng nhất vói cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó

là nền tảng tinh thần của xã hội”.

Quan điểm Đại hội X của Đảng: Đảng ta đánh giá bức tranh toàn cảnh tình hình đất

nước Cơ hội và thách thức đan xen khó lường: “Nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất

cứ thách thức nào Nguy cơ tụt hậu xa rời hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực

và trên thế vẫn tồn tại Tình trạng suy thoái về chính trị tư tưởng đạo đức, lối sống của một

số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn đang diễn ra là nghiêm trọng chưa được ngăn chặn hiệu quả Những biểu hiện xa rời mục tiêu lý tưởng XHCN chưa được khắc phục Các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện âm mưu DBHB, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta (ĐCSVN- VK-H 2006 Tr22)

III NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

1 Một số quan điểm ngoài mác xít về phát triển

* Quan điểm duy tâm, tôn giáo: cho rằng sự vật có sự phát triển đi lên, nhưng

sự phát triển là do cảm giác của con người hoặc do cú hích của lực lượng siêu nhiên, của ý niệm, chúa trời…

Trang 28

* Quan điểm siêu hình: Coi thế giới tồn tại trong trạng thái cô lập, đứng im không

có phát triển và nếu có phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi thuần tuý về lượng không có

sự thay đổi về chất, hoặc sự phát triển đó theo một vòng tròn khép kín

Như vậy, các quan điểm trên đều sai lầm, phản khoa học khi lý giải về sự phát triển

2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin

Khẳng định mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn trong trạng thái vận động

và biến đổi không ngừng, phát triển là khuynh hướng chung của thế giới

* Khái niệm phát triển: Phát triển là phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.

Phân biệt vận động và phát triển

Như vậy, vận động bao hàm cả phát triển, nhưng chỉ có sự vận động nào gắn với khuynh hướng đi lên mới là phát triển Đây là đối tượng nghiên cứu của phép

biện chứng duy vật về sự phát triển với tính cách là một khoa học.

* Các tính chất của sự phát triển

- Tính khách quan của sự phát triển

- Tính phổ biến của sự phát triển

- Tính kế thừa của sự phát triển

- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển

* Trạng thái, cách thức; nguồn gốc động lực; con đường, khuynh hướng của sự phát triển

- Trạng thái, cách thức phát triển là quá trình tích luỹ về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng (qui luật lượng - chất lý giải)

- Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật, hiện tượng (qui luật mâu thuẫn lý giải)

- Con đường, khuynh hướng của sự phát triển không phải thẳng tắp, không phải lặp lại vòng tròn khép kín mà nó đi lên quanh co phức tạp thông qua cái mới phủ định cái cũ (qui luật phủ định của phủ định lý giải)

Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức, xem xét sự vật, hiện tượng phải quán triệt quan điểm phát triển, đồng thời thấy được tính chất gay go, phức tạp của sự phát triển.

- Để nhận thức đúng sự phát triển phải cần nhận thức sự vật trong mối liên

hệ toàn diện, lịch sử - cụ thể của nó, đồng thời phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong nhận thức, cải tạo sự vật

V.I.Lênin khẳng định: Điều kiện quan trọng nhất của một sự nghiên cứu khoa học là không quên mối liên hệ lịch sử căn bản là xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó

đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành như thế nào

- Chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ…

Vận dụng quán triệt đường lối quan điểm của Đảng trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Trang 29

- Khẳng định con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là tất yếu khách quan Đổi mới phải toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, có nguyên tắc, kết hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng

là then chốt, phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội

ĐH Đảng X chỉ rõ: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người” (Sđd Tr 178)

- Trong quá trình đổi mới phải đồng thời nhận rõ những thuận lợi và khó khăn, tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

- Kiên quyết đấu tranh vạch trần mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, các lực lượng cản trở công cuộc đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trong hoạt động quân sự

- Nắm chắc diễn biến của tình hình, luôn chủ động trước mọi tình huống

- Huấn luyện phải sát với thực tế chiến đấu, thực tế của sự phát triển của khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, không để bị động, bất ngờ

- Chống khuynh hướng tả hoặc hữu khuynh, tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thói quen cứng nhắc, chủ nghĩa kinh nghiệm cực đoan và sự nóng vội, chủ quan, xa rời nguyên tắc

KẾT LUẬN

Nghiên cứu phép biện chứng duy vật cung cấp cho chúng ta cơ sở lý luận khoa học sâu sắc, toàn diện nhất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Việc quán triệt, thấm nhuần các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật còn là cơ sở để đấu tranh vạch âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

VẤN ĐỀ 4 : CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

NỘI DUNG

I PHẠM TRÙ CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT

1 Khái niệm cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

* Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình cụ thể, hay một hệ thống các sự vật mang tính độc lập tương đối so với các hệ thống khác

- Cái riêng là một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ, (một chỉnh thể)

+ Nó là 1 sự vật hiện tượng, 1 quá trình cụ thể có thật trong hiện thực, do

đó nó khác với quan niệm duy tâm tôn giáo

+ Nó là cái toàn bộ, cái chỉnh thể của sự vật, hiện tượng, quá trình, do đó khác cái chung

- Cái riêng được xác định bởi tổng hòa các mặt, thuộc tính… hợp thành sự vật

Ví dụ : 1 người, 1 hành tinh, 1 cuộc chiến tranh,

1 chiến dịch, 1 quân đội , 1 dân tộc

* Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung giống nhau được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay nhiều quá trình riêng

Trang 30

- Cái chung là những mặt, những thuộc tính giống nhau có ở nhiều sự vật, nhiều hiện tượng, nhiều quá trình riêng lẻ.

Ví Dụ : Các đặc tính chung của vật chất được tồn tại ở trong các dạng vật chất cụ thể

LlSX và QHSX ( chung) tồn tại trong từng PTSX cụ thể

Bất cứ con cá nào cũng chứa đặc điểm chung của cá nói chung có:

Xương sống thở bằng mang,

Bơi bằng vây

Ví dụ: Ngay trong giới vô cơ và con người mà người ta tưởng không có gì chung, giống nhau nhưng thực tế con người cũng được tạo thành từ một loạt nguyên tố vô cơ: 59% trọng lượng cơ thể là nước( H20), trong xương có can xi Ca phốt phát, trong người cũng có nhiều loại muối như muối na-tri-clo- rua) NaCL muối ca + + mg + + vvv

- Cái chung là cái bộ phận bên trong cái riêng, được tách ra một cách trừu tượng từ nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau (cái riêng)

* Cái đơn nhất là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính… chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định, không lặp lại bất kỳ một kết cấu vật chất nào khác

Ví dụ: Thủ đô Hà Nội là một “cái riêng”, ngoài các đặc điểm chung giống

các thành phố khác của Việt Nam, còn có những nét riêng như có phố cổ, có Hồ

Gươm, có những nét văn hóa truyền thống mà chỉ ở Hà Nội mới có, đó là cái đơn nhất Trong thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, bên cạnh những nét

chung với giai cấp công nhân ở các nước, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như ra đòi trước khi có giai cấp tư sản Việt Nam, trong nội

bộ không có tầng lớp công nhân quý tộc… những đặc điểm này chính là cái đơn nhất

2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

a Quan điểm ngoài mácxít

- Phái duy danh:

- Phái duy thực:

b Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin

Cái chung, cái riêng và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau

* Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự

tồn tại của mình Nghĩa là không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng.

Ví dụ: Chẳng hạn không có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây

quýt, cây đào cụ thể, nhưng cây nào cũng có rễ, có thân cây, có quá trình đồng hóa,

dị hóa, để duy trì sự sống Những đặc tính chung này có ở lặp lại ở những cái cây

riêng lẻ ======= gọi là “ cây”.

* Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung

Ví dụ: Mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội và tự nhiên

Nền kinh tế của mỗi quốc gia dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cái riêng Nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối của quy luật CUNG – CẦU

Quy luật mạnh được yếu thua “chi phối mọi cuộc chiến tranh riêng lẻ”

Trang 31

Quy luật chọn lọc tự nhiên, quy luật cạnh tranh sinh tồn chi phối giới sinh vật.

Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung Cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn, bản chất hơn cái riêng

Cái riêng phong phú hơn cái chung: Vì ngoài những thuộc tính gia nhập (lặp lại) ở cái chung, cái riêng còn có những đặc điểm, những thuộc tính, riêng biệt, đơn nhất, riêng có không lặp lại ở bất cứ SVHT nào

Cái chung sâu sắc hơn cái riêng: Vì nó phản ánh nhưng mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ,bên trong tất nhiên ổn định, phổ biến tồn tại trong cái riêng cùng loại do đó gắn với sự vật và quy định khuynh hướng tồn tại phát triển của SVHT

* Cái đơn nhất trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hoá thành cái chung và ngược lại

Ví dụ: Khoán sản phẩm trong nông nghiệp, năm 1981 và sau chỉ thị 100

Đơn vị yếu kém, nhiều tiêu cực cải tạo xây dựng lại thành tốt, những hiện tượng tiêu cực giảm, trở thành cái đơn lẻ, cá biệt

Ý nghĩa phương pháp luận

- Quá trình xem xét và cải tạo sự vật hiện tượng không được tách rời cái chung với cái riêng Phải biết thông qua cái riêng mà tìm ra những qui luật chung, nguyên tắc chung; dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng, phát triển cái riêng

+ Cải tạo cái riêng không có nghĩa là xóa bỏ mọi cái riêng, mà xóa bỏ cái riêng nào, những bộ phận nào của cái riêng, phát huy mặt nào cái riêng nào

+ Khi áp dụng cái chung vào cái riêng phải làm cho cái chung phù hợp vưois điều kiện hoàn cảnh cụ thể của cái riêng

- Trong hoạt động thực tiễn phải biết tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất

có ích trở thành cái chung và ngược lại

Ví dụ : Nhân điển hình tiên tiến, nâng cao tự phê bình

- Trong hoạt động quân sự, trong công tác lãnh đạo, chỉ huy cần nắm vững các nguyên tắc chung, qui luật chung, phổ biến, đồng thời phải tính đến những đặc điểm riêng, điều kiện riêng

+ Chống áp dụng nguyên xi máy móc,không tính đến đặc điểm riêng, điều kiện riêng, vào sự vật đang tồn tại = chống giáo điều rập khuôn máy móc cứng nhắc Ngược lại xem thường những nguyên lý phổ biến chung, tuyệt đối hóa cái riêng ==.> Cừờng điệu hóa đặc điểm riêng địa phương, dân tộc, trong quân sự là cường điệu đặc điểm riêng chiến trường, đơn vị, chiến dịch, trận đánh, …

==== Phủ nhận cái chung, tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội xét lại

+ Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay phải là cuộc chiến tranh toàn dân phát triển lên một trình độ mới cần phải nâng cao trình độ nhận thức và vận dụng truyền thống “toàn dân đánh giặc” của dân tộc, phát triển mới đường lối quân sự của Đảng ta; phát động toàn dân vũ trang toàn dân, động viên toàn dân đánh giặc và lực lượng vũ trang nhân dân gồn ba thứ quân làm nòng cốt

- Vận dụng phân tích quan điểm: “ trung thành, sáng tạo”

+ Trung thành về mặt nguyên tắc, trung thành với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, song không phải là sự cứng nhắc giáo điều như thế lại làm nghèo nàn đi sức sống của chủ nghĩa mác, trung thành còn bảo vệ và

Trang 32

+ Sáng tạo trên cơ sở nắm vững nguyên tắc, lý luận chung vận dụng phù hợp vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể, từ đó lại tiếp tục khái quát đúc rút hoàn thiện lý luận, sáng tạo không có nghĩa là tùy tiện chủ quan.

II PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ

1 Quan điểm ngoài mácxít

* Phái mục đích luận: Ănghen viết: “ Theo mục đích luận này thì mèo sinh ra để

ăn chuột, chuột sinh ra để mèo ăn và toàn bộ giới tự nhiên được sáng tạo ra để chứng minh trí tuệ của đấng tạo hóa” ( Biện chứng của tự nhiên)

* Chủ nghĩa duy tâm khách quan: lại coi “lý trí phổ biến” “ ý niệm tuyệt đối” “ tinh thần thế giới” nào đó tồn tại trước và độc lập với con người và thế giới là nguyên nhân đầu tiên sinh ra thế giới vật chất

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin.

1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả

* Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một

sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra những sự biến đổi nhất định

Ănghen: “ Tác dụng lẫn nhau nguyên nhân cuối cùng thật sự của sự vật.”

+ Sự tác động, tương tác giữa các sự vật hoặc giữa các mặt trong sự vật mới là nguyên nhân sinh ra kết quả (sự biến đổi) nhất định ( khác quan niệm cơ học Niu tơn

Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, điều kiện

- Nguyên cớ: Là nguyên nhân giả tạo, mà nhiều khi con người lợi dụng nó

để nhằm phục vụ cho mục đích của mình

Thí dụ: Sự kiện Vịnh bắc Bộ tháng 08 năm1964, trong hoạt động thực tiễn thay nguyên cớ cho nguyên nhân, ngụy biện, biện hộ cho sai lầm của mình

- Điều kiện: Là tổng hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhân, tự

nó không sinh ra kết quả, nhưng có tác dụng đối với quá trình nảy sinh kết quả

Ví dụ : Ba điều kiện để hạt giống nở thành cây Trong một số phản ứng hóa học, nhiệt độ, áp suất hay là chất xúc tác là những điều kiện cần thiết để phản ứng hóa học diễn

ra hoặc diễn ra nhanh, mạnh hơn

=== > Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là nhân tố có ý nghĩa toàn cầu, gây ra những hậu quả xã hội khác nhau trong điều kiện chủ nghĩa tư bản và trong điều kiện chủ nghĩa xã hội

Ví dụ khác, nói rằng: nguyên nhân của bóng đèn điện sáng là do bật công tắc Thực ra bật công tắc chỉ là tạo điều kiện để đèn sáng, còn nguyên nhân của đèn sáng là do

sự tương tác giữa dòng điện và dây tóc bóng đèn

2 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả

Theo quan điểm của chủ nghĩa mác Lênin: “ Đây là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến của mọi sự vật hiện tượng của thế giới hiện thực Bởi mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân, không có sự vật hiện tượng nào ra đời từ hư vô, mà tất cả đều có nguyên nhân sinh ra nó, chỉ có thế giới vật chất

Trang 33

là mối liên hệ khách quan, phổ biến của mọi sự vật hiện tượng, nó tồn tại không lệ thuộc vào con người có nhận thức hay không nhận thức được nó.

Nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ biện chứng với nhau:

* Nguyên nhân sinh ra kết quả và có trước kết quả

- Nguyên nhân là cái có trước, là cái sinh ra kết quả Song không phải mọi quan hệ nối tiếp về thời gian ( trước sau) là nguyên nhân của nhau, nên chỉ những mối quan hệ nối tiếp về mặt thời gian (trước sau) có quan hệ sản sinh mới là nhân quả

Ví dụ: Ngày kế tiếp đêm, mùa hè kế tiếp mùa xuân, sấm kế tiếp chớp là nguyên nhân của sấm vvv

Nguyên nhân của ngày và đêm là do trái đất quay quanh trục Bắc- Nam của

nó, nên ánh sáng mặt trời chỉ chiếu sáng được phần bề mặt trái đất hướng mặt trời

Nguyên nhân của mùa trong năm là do trái đất, khi chuyển động trên quỹ đạo trục

của nó bao giờ cũng có độ nghiêng không đổi và hướng về một phía, nên hai nửa Bắc -Nam luân phiên chúc ngả về phía mặt trời, sinh ra các mùa

Sấm chớp do sự phóng điện giữa hai đám mây tích điện trái dấu sinh ra

Nhưng vì vận tốc của ánh sáng truyền trong không gian nhanh hơn vận tốc của tiếng động, do vậy chúng ta thấy chớp trước khi nghe tiếng sấm Như vậy không phải chớp sinh ra sấm

- Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và ngược lại

Ví dụ : Nguyên nhân của mất mùa có thể do hạn hán, có thể lũ lụt, có thể sâu bệnh, có thể do chăm bón không đúng kỹ thuật vvv

Chặt phá rừng có thể gây ra nhiều hậu quả lũ lụt, hạn hán, thay đổi khí hậu của cả một vùng, tiêu diệt một số loài sinh vật vvv

Vai trò của các nguyên nhân không ngang bằng nhau

* Kết quả tác động tích cực trở lại nguyên nhân sinh ra nó.Bởi nguyên nhân sinh ra kết quả bao giờ cũng là một quá trình, do vậy bao giờ cũng có sự tác động trở lại của kết quả ===> song sự tác động này được bộc lộ ra ngoài nên khó nhận thấy

Sự tác động của kết quả đến quá trình nguyên nhân sinh ra kết quả, nói lên

sự tác động qua lại giữa chúng với nhau và do đó làm biến đổi cả nguyên nhân lẫn kết quả.( nó khắc phục được quan niệm siêu hình về tính nhân quả ; phiến diện, 1 chiều, chết cứng)

Ví dụ: LLSX tác động biện chứng với QHSX cũ lỗi thời là nguyên nhân

===.> thay đổi QHSX cũ = QHSX mới (kết quả) Nhưng khi QHSX mới ra đời lại tạo địa bàn quan trọng cho LLSX mới

Sản xuất là gốc(nguyên nhân) của phân phối(kQ) Song phân phối có tác động trở lại có thể kìm hãm hay thúc đẩy sản xuất

* Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn nhau (tùy theo quan hệ).

Nghĩa là: không có hiện tượng nào là nguyên nhân đầu tiên, không có hiện tượng nào là kết qủa cuối cùng, cũng không phải nguyên nhân sinh ra kết quả lại nguyên nhân của nguyên nhân đã sỉnha nó, mà trong sự liên hệ chung của nó với những sự vật khác, nó lại là nguyên nhân của cái khác Nói cách khác, trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì ở mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại

Ví dụ: khung dây vận động trong từ trường là nguyên nhân sinh ra dòng điện

Trang 34

hóa các chất khác Ví dụ trong chân không, dưới tác động của lực hút của trái đất, vật luôn rơi với gia tốc là 9,8 m/s2.

3 Phân loại nguyên nhân

* Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu

* Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài

* Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan…

Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và cải tạo sự vật hiện tượng cần nhận thức đúng các nguyên nhân, muốn có kết quả cần tạo ra nguyên nhân và những điều kiện thiết yếu, ngược lại, muốn xoá bỏ một hiện tượng phải xoá nguyên nhân sinh ra nó

- Cần nhận thức đúng các nguyên nhân, phê phán cách đánh giá tràn lan, dàn đều, không tìm rõ nguyên nhân trong xem xét, cải tạo sự vật

- Trong họat động quân sự

III PHẠM TRÙ TẤT NHIÊN VÀ NGẪU NHIÊN

1 Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên

* Tất nhiên là phạm trù dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế chứ không thể khác được

* Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân không cơ bản bên ngoài kết cấu vật chất, hoặc do sự ngẫu nhiên của những điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài quy định, do đó nó có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc có thể xuất hiện như thế khác

Thí dụ: Sự bài tiết của con chim là tất nhiên, phân chim bài tiết ra rơi xuống chỗ này, chỗ khác, là ngẫu nhiên Niu tơn tìm ra định luật “vạn vật hấp dẫn” do tình

cờ bị quả táo rơi vào đầu, Acsiimets tìm ra lực đấy khi ông đang tắm

Quá trình nẩy mần trong những điều kiện thuận lợi đối với hạt giống, là điều tất nhiên và đúng quy luật.Cũng hạt giống đó nhưng do nguyên nhân nào đó nguyên nhân không liên quan gì đến bản chất của hạt giống, hạt giống không thể nẩy mần, thì đó chính là cái ngẫu nhiên

2 Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và có vai trò to lớn đối với sự phát triển của sự vật

+ Vì: Sự vận động phát triển của sự vật là khách quan, tự nó, do những động lực bên trong nó quyết định Trong tiến trình phát triển của sự vật, cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên đều có tác dụng, cái tất nhiên chi phối sự phát triển của sự vật, cái ngẫu nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật, nó tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người

Ví dụ: Cá tính của lãnh tụ một phong trào là yếu tố ngẫu nhiên, không quyết định đến xu hướng phát triển của phong trào, nhưng lại có ảnh hưởng làm cho phong trào phát triển nhanh hoặc chậm, mức độ sâu sắc của phong trào đạt được như thế nào?

* Tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ hữu cơ, thống nhất với nhau

Nghĩa là: bất cứ sự vật nào cũng có cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên Không

có cái tất nhiên và ngẫu nhiên thuần túy Cái tất nhiên bao giời cũng vạch đường đi cho mình xung quanh qua vô số cái ngẫu nhiên, thông qua cái ngẫu nhiên mà biểu hiện ra, còn cái ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của tất nhiên, bổ sung cho tất

Trang 35

nhiên, do đó làm phong phú thêm nộ dung cái tất nhiên, làm cái tất nhiên trở lên đa dạng, nhiều vẻ, nhiều khi cái ngẫu nhiên đem lại khái quát cùng chiều với tất nhiên

Song sự vận động phát triển của sự vật là do tính ngẫu nhiên của nó, cái ngẫu nhiên cũng góp phần vào quá trình đó bổ sung cho tất nhiên không thay thế tất nhiên

Ví dụ: Cơ học cổ điển (Cơ học Niu Tơn) đã đem lại cho người ta nhận thức sai lầm rằng có những hiện tượng tuân theo quy luật chính xác đến 100% ( nghĩa là

ở đây có cái tất nhiên thuần túy, hoàn toàn loại trừ cái ngẫu nhiên) Thí dụ : một vật

rơi có thể tính toán chính xác theo công thức Vt = V0 + gt Thực ra sự “ chính xác” đó đã được lý tưởng hóa, đã bỏ qua rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên chi phối vật

rơi Đó là vì việc đo các đại lượng Vo, Vt, gt luôn luôn mắc sai số, không bao giờ đạt chính xác tuyệt đối Hơn nữa phải kể đến sức cản của không khí lên vật rơi Tóm lại ngay cả ở đây cũng có sự thống nhất giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

Phê phán tuyệt đối hóa cái tất nhiên ==> định mệnh

Tuyệt đối hóa ngẫu nhiên ========== > may rủi, bi quan, bất lực trong cuộc sống

Nhiệm vụ của khoa học chân chính là nhận thức cho được tính tất yếu, làm chủ được quy luật điều khiển sự vật theo quy luật vốn có của nó, để cải tạo thế giới

“ khoa học là kẻ thù của cái ngẫu nhiên” vì một là các sự kiện vốn tất nhiên, có quy luật nhưng thể hiện ra trước con người như là ngẫu nhiên do sự kém hiểu biết của con người hoặc do người ta chưa hiểu biết đầy đủ nguyên nhân thực sự của nó- những nguyên nhân tất nhiên

Hai là, các sự kiện vốn ngẫu nhiên, sẽ không bao giờ do nghiên cứu của khoa học mà nó thôi thúc không còn là ngẫu nhiên nữa Ví dụ: hỏa hoạn xảy ra ở một ngôi nhà trong thành phố Sự kiện đó là ngẫu nhiên cho dù xã hội đã lập cả một ngành phòng cháy chữa cháy với nhiều phương tiện hiện đại

Khoa học phải cố gắng nắm lấy cái tất nhiên, loại trừ cái ngẫu nhiên do dốt nát vô trách nhiệm nhưng khoa học không bao giờ có thể làm cho thế giớ này nhân loại này chỉ còn cái tất nhiên Cái ngẫu nhiên vẫn tồn tại khách quan như một phần của thế giớ mà khoa học phải chấp nhận nó theo một cách khác

Ví dụ; bệnh tật tai nạn thường xuyên xảy ra nên ngành y phải trực 24/24

* Tất nhiên và cái ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho nhau

Ranh giới phân biệt giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên chỉ là tương đối Trong mối quan hệ này là cái tất nhiên, còn trong mối quan hệ khác là cái ngẫu nhiên và ngược lại Sự chuyển hóa đó theo hai chiếu hướng

Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải tìm ra cái tất nhiên, đồng thời cũng phải dự kiến được cái ngẫu nhiên, tránh để bị động, bất ngờ

- Muốn nhận thức được cái tất nhiên phải xuất phát từ những cái ngẫu nhiên Chống thuyết định mệnh, nhấn mạnh cái ngẫu nhiên

- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo điều kiện để chuyển hóa cái ngẫu nhiên thành cái tất nhiên

- Trong hoạt động quân sự là vương quốc của cái ngẫu nhiên, người chỉ huy phải nắm chắc được cái tất nhiên, được biểu hiện như là xu hướng có tính khách quan

có tính quy luật của chiến tranh: do vậy phải nắm được bản chất của quy luật chiến tranh, quy luật hoạt động của đối phương đồng thời phải tính đến những yếu tố ngẫu

Trang 36

+ Phát huy nhân tố chủ quan làm mất tác dụng của ngẫu nhiên bất lợi và phải huy tác dụng cái ngẫu nhiên có lợi.

+ Làm mất tác dụng của ngẫu nhiên không thuận lợi ví dụ thời tiết đột ngột thay đổi, trục trặc kỹ thuật của phương tiện,vũ khí, trang bị, phải huấn luyện bồ đội trong thời bình mọi thời tiết bất ngờ và phức tạp phải tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, kiểm tra trước khi chiến đấu, để hạn chế thấp nhất bất chắc ngẫu nhiên có thể xẩy ra Nắm quy luật của thời tiết khí hậu, song phải tính đến ngẫu nhiên

IV PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC

1 Khái niệm nội dung và hình thức

* Nội dung là phạm trù chỉ toàn bộ những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật

* Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật

Ví dụ: nội dung của quá trình sản xuất là tổng hợp tất cả những yếu tố như: con người, công cụ lao động, đối tượng lao động, các quá trình con người sử dụng công cụ lao động vào đối tượng lao động, cải biến nó tạo ra sản phẩm cần thiết cho con người

Thí dụ: Một tác phẩm văn học nào đó được xuất bản, ấn phẩm đó tất yếu có kích thước nhất định, hình dáng nhất định, màu sắc và sự trang trí ở ngoài bìa nhất định…Hình thức bên trong của tác phẩm được in trong cuốn sách ấy Chẳng hạn,

đó là bố cục của tác phẩm, là hình tượng nghệ thuật, bút pháp … được dùng để diễn

tả nội dung, diễn đạt những tư tưởng, những vấn đề của cuộc sống mà tác phẩm muốn nêu lên == đây mới chính là hình thức mà chủ nghĩa duy vật biện chứng duy vật

Còn hình thức sản xuất là trình tự kết hợp, tứ tự sắp xếp tương đối bền vững các yếu tố của quá trình sản xuất, quy định vị trí của người sản xuất đối với tư liệu sản xuất và sản phẩm của quá trình sản xuất

2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

Nội dung và hình thức đều tồn tại khách quan, thống nhất chặt chẽ với nhau trong một sự vật Trong đó nội dung quyết định hình thức, hình thức tác động trở lại nội dung

* Nội dung quyết định hình thức, hình thức tác động trở lại nội dung

- Nội dung quyết định hình thức

- Hình thức có tính độc lập tương đối, và tác động trở lại nội dung

* Một nội dung có thể có tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, và một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung khác nhau

Nội dung chuyên chính vô sản có nhiều nội dung thể hiện; chế độ cộng hòa đại nghị, chế độ quân chủ lập hiến, chế độ độc tài phát xít

Một hình thức của tư duy (Khái niệm, phán đoán, suy lý) có thể diễn đạt nhiều nội dung tư tưởng khác nhau

* Nội dung và hình thức có thể chuyển hoá cho nhau

Ví dụ: xét trong mối quan hệ với việc truyền thụ tri thức là một hình thức dạy học, nhưng khi xét trong mối quan hệ với chương trình môn học thì bài giảng lại là một nội dung dạy học của môn giáo dục học trong các nhà trường

Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong cải tạo sự vật phải xuất phát từ nội dung, đồng thời chú ý sáng tạo ra nhiều hình thức khác nhau để cải tạo sự vật hiệu quả

Trang 37

- Trong hoạt động quân sự phải vận dụng linh hoạt các hình thức trong thực hiện nhiệm vụ

V PHẠM TRÙ BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

1 Khái niệm bản chất và hiện tượng

* Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, qui định sự vận động và phát triển của sự vật

* Hiện tượng là biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ bản chất ra bên ngoài

Bản chất của thế giới là vật chất, các sự vật hiện tượng cụ thể là biểu hiện của vật chất

Lênin: “Hiện tượng là biểu hiện của bản chất”, “bản chất hiện ra hiện tượng có tính bản chất”, “ cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt thường biến mất, không bám chắc, không ngồi vững, bằng bản chất… sự vận động của con sông – bọt ở bên trên và luông nước sâu ở dưới Nhưng bọt cũng là biểu hiện của bản chất.”

* Phân biệt:

- Cái chung; bản chất là cái chung, song không phải cái chung nào cũng

là bản chất, chỉ cái chung tất yếu, quy định sự tồn tại phát triển của sự vật mới là bản chất

- Quy luật; bản chất và quy luật là những khái niệm cùng loại (1 bậc) hay

đúng hơn là một trình độ nên bản chất và quy luật là những khái niệm hết sức gần gũi nhau và được quy giản về những đặc trưng của nhau.Nói bản chất cũng muốn nói đến quy luật Song bản chất và quy luật không đồng nhất, phạm trù bản chất rộng hơn phạm trù quy luật, phong phú hơn quy luật, bản chất bao gồn nhiều quy luật, bản chất là cái toàn bộ, còn quy luật là cái bộ phận, bản chất với

tư cách là hệ thống quyết định sự phát triển của quy luật như là yếu tố của nó

2 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan, gắn bó chặt chẽ không tách rời nhau

* Bản chất bao giờ cũng được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hiện tượng Bất

kỳ hiện tượng nào cũng là sự bộc lộ của một bản chất nhất định Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo

Lênin: “ Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là biểu hiện của bản chất.”

+ Bản chất hiện ra: Nghĩa là không có bản chất thuần túy ở ngoài sự vật,

cũng không có bản chất thần bí ở trong sự vật, mà bản chất nhất thiết phải bộc lộ ra thông qua hiện tượng (cái kim trong túi áo lâu ngày sẽ lòi ra, trông mặt mà đặt hình

Trang 38

+ Hiện tượng mang tính bản chất: Nghĩa là bất cứ 1 hiện tượng nào cũng

là biểu hiện của bản chất, ở một mức độ, một mặt khác, 1 khía cạnh nào đó của bản chất không có hiện tượng đứng ngoài bản chất

Ví dụ : Bản chất phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là tư hữu TLSX

Hiện tượng bóc lộ,cạnh tranh,sản xuất vô chính phủ, khuynh hướng…

* Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là sự thống nhất trong mâu thuẫn, bao hàm mâu thuẫn

- Là quan hệ giữa cái bên trong, tương đối ổn định (bản chất) và cái bên ngoài, thường xuyên biến đổi (hiện tượng)

+ Bản chất tương đối ổn định: Nghĩa là nội dung của bản chất cũng thay

đổi, tuy nhiên sự thay đổi ít hơn và chậm hơn hiện tượng( không phải là cái bất biến) Do vậy bản chất ổn định hơn hiện tượng, sự ổn định tương đối của bản chất quyết định sự ổn định tương đối của sự vật làm cho nó là nó chứa nó chưa biến thành cái khác, chỉ khi nào bản chất thay đổi thì sự vật mới thay đổi

Lênin: “ Không chỉ riêng hiện tượng là tạm thời, chuyển động… mà bản chất của sự vật cũng như thế.”

+ Hiện tượng thường xuyên biến đổi: Hiện tượng không chỉ do bản chất

quy định mà còn phụ thuộc vào những điều kiện tồn tại ngoài bản chất và những tác động qua lại giữa nó (hiện tượng với môi trường xung quanh) Các điều kiện này, cũng như sự tác động qua lại giữa các sự vật hiện tượng thường xuyên biến

đổi Do vậy đúng như Lênin nhận xét: “ Cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt thường biến mất, không bán chắc, không ngồi vững bằng bản chất”.

- Là quan hệ giữa cái sâu sắc (bản chất) với cái phong phú, đa dạng (hiện tượng)

+ Bản chất sâu sắc hơn hiện tượng: vì bản chất là cái chung tất yếu, cái sâu sắc,

cái bên trong là cái quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, được lặp lại ở nhiều hiện tượng nó là biểu hiện quy luật phát triển chung của các hiện tượng đó

Bản chất được biểu hiện trong vô số các hiện tượng khác, nó biểu hiện ra với tư cách là cơ sở quyết định các hiện tượng

+ Hiện tượng phong phú hơn bản chất: vì hiện tượng là cái chỉnh thể, ngoài

cái bản chất chung mà mọi hiện tượng đều phản ánh trong đó bao giờ hiện tượng cũng chứa đựng những nhân tố cá biệt riêng có của nó làm nó khác với hiện tượng khác

Trong hoạt động có cái bản chất và cái không bản chất, cái ngẫu nhiên, thứ yếu, phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh bên ngoài

Mặt khác hiện tượng là biểu hiện của bản chất nhưng dưới hình thức cải biến xuyên tạc bản chất

Lênin nói rằng: “ Nếu hiện tượng và bản chất cảu sự vật nhất trí với nhau, thì tất thẩy mọi khoa học sẽ trở nên thừa”

Cần phân biệt bản chất với cái chung, qui luật Hiện tượng với giả tượng (giả tượng tuy không phải là hiện tượng, nhưng là cái bộc lộ sâu sắc của bản chất)

* Bản chất và hiện tượng có thể chuyển hóa lẫn nhau (Là sự chuyển hóa trong nhận thức, từ hiện tượng đến bản chất)

Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và cải tạo sự vật phải đi từ bản chất Ngược lại, muốn nắm được bản chất của sự vật phải thông qua các hiện tượng của nó

- Cần nhận thức toàn diện các hiện tượng nhưng chú ý những hiện tượng điển hình, trong những hoàn cảnh điển hình để có những kết luận chính xác về bản chất Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội xét lại

Trang 39

- Vận dụng trong hoạt động thực tiễn quân sự.

VI PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC

1 Khái niệm khả năng và hiện thực

* Khả năng là phạm trù dùng để chỉ những cái hiện chưa có, chưa xuất hiện,

nhưng sẽ có, sẽ xuất hiện khi có các điều kiện tương ứng.

* Hiện thực là phạm trù dùng để chỉ những cái đã có đang tồn tại trên thực tế

2 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ với nhau, chuyển hoá cho nhau trong quá trình phát triển của sự vật

* Hiện thực quyết định khả năng - khả năng nằm trong hiện thực

* Cùng một khả năng có thể làm xuất hiện nhiều hiện thực khác nhau Và cùng một hiện thực có thể có nhiều khả năng

* Khả năng và hiện thực có thể chuyển hoá lẫn nhau (khi có điều kiện)

3 Phân loại khả năng

* Khả năng tất nhiên và khả năng ngẫu nhiên

* Khả năng gần và khả năng xa

* Khả năng chủ yếu và khả năng thứ yếu

* Khả năng tốt và khả năng xấu

* Khả năng thuận và khả năng nghịch

Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải thường xuyên bám sát hiện thực, căn cứ vào hiện thực để dự tính khả năng, từ đó đề ra chủ trương biện pháp đúng để cải tạo sự vật có hiệu quả

- Trong hoạt động quân sự phải kịp thời, nhạy bén phát hiện và dự kiến nhiều khả năng có thể xảy ra để có phương án hành động giành thắng lợi

KẾT LUẬN

Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật mang lại cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ và toàn diện về sự tồn tại phổ biến và khách quan của những mối liên hệ ở các sự vật, hiện tượng trong thế giới Mỗi cặp phạm trù có một vai trò riêng Vì thế, không được tuyệt đối hoá vai trò của bất cứ phạm trù nào Đồng thời, phải thấy được vai trò của chúng trong từng sự vật, hiện tượng, từng mối quan hệ

cụ thể để tiến hành hoạt động thực tiễn đúng đắn, khoa học có hiệu quả tránh máy móc, chủ quan, giáo điều

Vấn đề 5 : NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

MỞ ĐẦU

Phép biện chứng duy vật là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng Nghiên cứu các qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật giúp chúng ta có nhận thức toàn diện nhất, khoa học nhất về sự vận động và phát triển của thế giới

NỘI DUNG

Trang 40

I QUY LUẬT CHUYỂN HOÁ TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

Ví trí: Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật vạch ra trạng thái, cách thức của sự vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới

1 Khái niệm chất và lượng

a Khái niệm chất

Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của

sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác

* Chất của sự vật tồn tại khách quan

* Mỗi một sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có thể có nhiều chất khác nhau tuỳ thuộc vào mối quan hệ Tuy nhiên, về triết học thì mỗi sự vật bao giờ cũng có một chất căn bản - sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của sự vật

b Khái niệm lượng

Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như của các thuộc tính của nó

* Lượng tồn tại khách quan, gắn liền với sự vật, hiện tượng

* Lượng vừa biểu hiện tính cụ thể (định lượng), vừa biểu hiện tính trừu tượng (định tính)

* Lượng thể hiện trình độ, quy mô… của sự phát triển của sự vật

* Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương đối

2 Nội dung quy luật

Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ (điểm nút) sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất, chất mới ra đời tạo điều kiện mới cho sự biến đổi mới của lượng Quá trình diễn ra vô tận vừa có tính tiệm tiến, vừa nhảy vọt tạo nên sự vận động không ngừng của thế giới vật chất

* Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa chất và lượng

- Chất nào thì lượng ấy; lượng là lượng của một chất xác định

- Sự thống nhất giữa lượng và chất là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một giới hạn nhất định (độ) Là điều kiện tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới

Ngày đăng: 04/08/2016, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w