Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận giáo dục đại học và thực tiễn quản lý của Nhà trường, làm rõ và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự họ
Trang 1QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC AN GIANG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ
mẽ, giáo dục và đào tạo đang diễn ra những biến đổi sâu sắ
c trên quy mô toàn cầu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Trước đó, tại Báo cáo chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định các nguồn lực tác động đến sự phát triển của xã hội ta trong giai đoạn hiện nay gồm: nguồn lực con người Việt Nam; nguồn tài nguyên thiên nhiên; cơ sở vật chất kỹ thuật; các nguồn lực ngoài nước Trong các nguồn lực đó, Đảng
ta khẳng định nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất và đóng vai trò then chốt
Nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy sáng tạo, có ý chí và có trí tuệ, biết sử dụng và vận dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng góp phần tác động vào quá trình đổi mới đất nước Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó trí tuệ con người là nguồn lực vô tận Đối với nước ta, phát triển nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đang là nhu cầu cấp bách, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, vấn đề phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng xu thế chuyển dần sang nền kinh tế tri thức đang được các nước ưu tiên Trong đó, lao động tri thức là nhân lực đóng vai trò hàng đầu của sự phát triển kinh tế Dạy học được xem là con đường giáo dục cơ bản nhất để thực hiện mục đích của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó tự học là phương thức cơ
Trang 2bản để người học có được những hệ thống tri thức phong phú và thiết thực
Tự học - tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người, đó
cũng là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, được thể hiện qua các
câu thành ngữ, tục ngữ "Học một, biết mười", "Đi một ngày đàng, học một
sàng khôn", "Học thầy không tày học bạn", Chất lượng và hiệu quả giáo
dục được nâng lên khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi
biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô giáo dục được
mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học
Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về việc "lấy tự học làm gốc" đã được
nhân dân ta luôn coi trọng Điều 5 của Luật Giáo dục 2005 quy định
"Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả
năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"; "… đảm bảo thời
gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển phong trào tự học, tự đào
tạo "; "… tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh" [9]
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo
dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện
lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện
thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên
thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước
ngoài”[10] Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước trong
thời kỳ hội nhập quốc tế, trong đó, vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và
quản lý đào tạo theo hướng hiện đại hoá đã và đang trở thành một yêu cầu
cấp bách Trường Đại học An Giang đang trong cơ chế chuyển đổi từ
phương thức đào tạo theo niên chế học phần sang phương thức đào tạo theo
học chế tín chỉ, điều này vừa đồng thời tạo ra vừa đòi hỏi một sự thay đổi
lớn về công tác quản lý đào tạo của Nhà trường Đối với phương thức đào
tạo theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi là
nhân tố quan trọng, quyết định việc đẩy mạnh chất lượng đào tạo của Trường Tuy nhiên, thực tế cho thấy chất lượng đào tạo của Trường chưa thực sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, điều này có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, trong đó, các biện pháp quản
lý có thể là một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo Lý luận về khoa học quản lý cho thấy, hoạt động có ý thức của con người luôn bao hàm ý nghĩa của quản lý Để đạt được mục đích đề ra, các biện pháp, phương thức quản lý luôn được xem là một nhân tố quan trọng
Xuất phát từ cơ sở nhận thức đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Quản
lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận giáo dục đại học và thực tiễn quản lý của Nhà trường, làm rõ và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khi áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học An Giang, góp phân nâng cao nhận thức về công tác quản lý hoạt động tự học trong môi trường đại học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tự học và công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang
- Đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu Hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học
Trang 3Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của
sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế
tín chỉ
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, kết quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An
Giang còn hạn chế Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan
Nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An
Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ là điều cấp thiết Nếu áp
dụng đầy đủ, đồng bộ các biện pháp quản lý cùng với sự đảm bảo điều kiện
vật chất cần thiết thì hoạt động tự học của sinh viên trong điều kiện áp dụng
phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ đạt được hiệu quả mong muốn,
đảm bảo chất lượng đào tạo
6 Phạm vi nghiên cứu
- Căn cứ vào mục đích nghiên cứu đã đặt ra, nội dung luận văn tập
trung nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học của sinh viên năm thứ II, III,
IV Khoa Sư phạm Trường Đại học An Giang (200 phiếu), nơi tác giả đã và
đang trực tiếp làm việc; nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động tự học của
sinh viên đáp ứng đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Nhà trường (40 giảng
viên và cán bộ quản lý)
- Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất các biện pháp
quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An
Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ trong giai đoạn hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội, trên cơ sở thế giới quan khoa
học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các
phương pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích tổng
hợp những tư liệu như: tư liệu về giáo dục học - tâm lý học, lý luận về quản
lý giáo dục, các văn bản về sinh viên, về tín chỉ
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát,
phương pháp điều tra bảng hỏi, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia
- Nhóm các phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng các công thức toán học như trung bình cộng, thống kê và phân tích số liệu,
8 Giới hạn của đề tài
Mục đích nghiên cứu đã xác định và sự chi phối của các điều kiện khách quan về nhận thức, về cơ chế đảm bảo, nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên Khoa Sư phạm Trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiện nay, với hy vọng qua việc phân tích cho Khoa Sư phạm sẽ mở rộng kết quả cho các Khoa khác trong giai đoạn tiếp theo
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương l: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường
Đại học An Giang
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh
viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 4Chương l
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò to
lớn thức đây sự tiến bộ của xã hội Sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc
gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo
dục Ý thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của tri thức, Đảng và Nhà
nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Trong giai đoạn
hiện nay, chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập với phương
hướng, con đường thực hiện là kết hợp đến trường, giáo dục từ xa và tự học
Trong đó tự học để trưởng thành là vô cùng quan trọng
Một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng nhất trong xã hội học
tập là tư tưởng tự học tập suốt đời Vì “Việc học không bao giờ là muộn"
(Ngạn ngữ) hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học" (Đác-uyn) Quan
niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa
khoá mở cửa đi vào thế kỷ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, vấn đề học
tập và rèn luyện Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời điểm,
hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác
dụng và hiệu quả to lớn của việc học tập và rèn luyện Bác cho rằng học tập
giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi
hiệu quả lao động Đặc biệt, Bác rất nhấn mạnh đến tác dụng của tự học Tại
Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc
ngày 6 tháng 5 năm 1950, Bác đã khuyên học viên: “Không phải có thầy thì
học, thầy không đến thì đùa Phải biết tự động học tập” Ở tác phẩm “Sửa
đổi lối làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác cũng
nhắc nhở về cách học tập: "Lấy tự học làm cốt Do thảo luận và chỉ đạo góp
vào”[13, Tr.57] Như vậy, theo Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có
tác dụng quyết định cho kết quả học tập Việc tự học phải xuất phát từ động lực của chính bản thân người học, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướng dẫn của nhà trường, của người thầy Nhằm đổi mới phương thức tổ chức đào tạo ở đại học trong điều kiện Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sau Hội nghị Hiệu trưởng ở Vũng Tàu năm 1988, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ban hành Quy chế tạm thời về quản lý đào tạo làm cơ sở cho việc triển khai “quy trình đào tạo mới” theo học phần và sau một vài năm áp dụng, quy chế này được chính thức hoá vào tháng 12 năm 1990 Học chế tín chỉ được khai sinh năm 1872, tại Viện Đại học Harvard (Hoa Kỳ) dưới sự điều hành của Charles Eliot, xuất phát từ yêu cầu là quá trình đào tạo được tổ chức sao cho người học lựa chọn được cách học phù hợp nhất với khả năng, điều kiện của mình và cơ sở đào tạo phải thích ứng
dễ dàng trước nhu cầu biến động nhanh chóng, đa dạng của đời sống xã hội Với ý nghĩa đó, đào tạo theo học chế tín chỉ phát triển nhanh và lan rộng ra toàn nước Mỹ Từ đầu thế kỷ XX, học chế tín chỉ phát triển ra nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như: Nhật, Philippines, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Senegal, Mozambic, Nigieria, Uganda,… Trước sự lớn mạnh đó, 29 Bộ trưởng đặc cách giáo dục đại học ở các nước Liên minh Châu Âu ký “Tuyên ngôn Boglona” với mục đích hình thành “Không gian giáo dục đại học Châu Âu” (European Higher Education Area) nhằm triển khai học chế tín chỉ trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học
Ở Việt Nam, trước năm 1975, học chế tín chỉ được triển khai ở Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức Sau năm 1975, tư tưởng về học phần xuất hiện năm 1987, quy chế đào tạo theo học phần tạm thời ra đời năm 1988 và hoàn chỉnh vào năm 1990 với khái niệm HỌC PHẦN và ĐƠN
Trang 5VỊ HỌC TRÌNH, đào tạo theo 2 khối kiến thức và 3 học phần, điểm trung
bình chung Học chế học phần được xây dựng với mục đích tạo điều kiện
cho người học tích luỹ dần kiến thức theo các mô-đun Như vậy, học chế
học phần có điểm giống nhau cơ bản với học chế tín chỉ, nhưng nó chưa
phải hoàn toàn là tín chỉ mà thực chất là sự kết hợp giữa niên chế và tín chỉ
Trường Đại học tiên phong áp dụng học chế học phần triệt để - học chế tín
chỉ là Trường Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh, năm học 1993 – 1994
Sau đó, các Đại học khác như Đà Lạt, Cần Thơ, Khoa học Tự nhiên TP Hồ
Chí Minh, Thuỷ sản Nha Trang, Dân lập Thăng Long – Hà Nội, Hải Phòng,
Thương Mại, Nông Nghiệp Hà Nội, Hoa Sen TP Hồ Chí Minh, Dân lập
Phương Đông,… cũng đã triển khai học chế tín chỉ Trong "Chương trình
hành động của Chính phủ” thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khoá XI,
kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: "Mở rộng, áp dụng học
chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, "
Năm học 2009 – 2010, có nhiều trường Đại học, Cao đẳng đang tích cực
chuẩn bị đào tạo theo học chế tín chỉ theo chủ trương của Bộ Giáo dục và
Đào tạo Sự phát triển này đánh dấu bước đổi mới đúng đắn của giáo dục đại
học Việt Nam [5, tr.7]
Triết lý cơ bản của hệ thống tín chỉ là "Tôn trọng người học, xem
người học là trung tâm của quá trình đào tạo" Nói cách khác, đào tạo theo
học chế tín chỉ là hình thức đào tạo hướng về người học, tất cả vì người học
Chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ tạo ra sự thay
đổi lớn về phương cách, thói quen dạy - học của người dạy lẫn người học
Đối với hình thức đào tạo này thì khối lượng giờ giảng trên lớp sẽ giảm đi,
mà sẽ tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Vì vậy, khi áp
dụng đào tạo theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định hiệu quả chất lượng đào
tạo Trường Đại học An Giang cũng đang tổ chức thực hiện chuyển đổi hình
thức đào tạo từ niên chế học phần sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ Có thể thấy, trong nhiều tài liệu nghiên cứu về hoạt động tự học, các nhà nghiên cứu đều khẳng định tự học không phải là một đề tài mới lạ Tuy nhiên, việc nghiên cứu hoạt động tự học trong học chế tín chỉ vẫn còn là vấn
đề mới Vì vậy, trong luận văn này tác giả tập trung vào việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học, nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường theo học chế tín chỉ
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
Để xác định rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến đề tài
1.2.1 Hoạt động tự học
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động học
Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
và những phương thức hành vi mới, do vậy, ta thấy học chính là hoạt động nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững Để lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách thức chiếm lĩnh khác nhau Đó có thể là do được người khác truyền thụ, do tự
quan sát, đúc kết từ lao động, môi trường sống,
Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và
nó diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc
qua lao động sản xuất, hoạt động vui chơi, không có chủ định dẫn đến kết
quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống Ở người học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại Nhưng thực tiễn để có thể tự cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội
và quy luật về sự hình thành, phát triển con người Nói một cách khác, ngoài
Trang 6việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, con người cần phải
nắm bắt được những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn mới mà
cách học ngẫu nhiên không tạo ra được Để có được những năng lực đó,
người ta tiến hành một hoạt động hướng vào để thực hiện mục tiêu đó là
hoạt động học (học có chủ định)
1.2.1.2 Khái niệm tự học
Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản
thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích
nhất định
Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tự học ở nhiều góc độ khác nhau
Dưới đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề này:
Thông thường khái niệm "Tự học" được hiểu là "Tự học lấy một mình
trong sách chứ không có thầy dạy" (Theo Thanh Nghị, trong Việt Nam tân
từ điển) cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học"
Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, trong quyển "Tự học - một
nhu cầu thời đại” ông lại cho rằng khái niệm "Tự học" nếu được hiểu là "…
không ai bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm và có thầy
hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn
học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan
trọng", ông cũng trích dẫn để làm rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng
của tự học "Mỗi người đều nhận hai thứ giáo dục: Một thứ, do người khác
truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy" [26, Tr.39]
Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa
học nhất định" [15, Tr.3]
Quan điểm này, tác giả cho rằng tự học là việc học của chính bản thân
người học, chính họ phải huy động các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm
lý để chiếm lĩnh những tri thức khoa học của loài người và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó” [34, Tr.59]
Như vậy, tự học là hình thức hoạt động nhận thức của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, tự mình luyện tập các thao tác, hành động để hình thành kỹ năng, kỹ xảo Tự học giúp người học tự tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới bằng chính nỗ lực của bản thân mình Tự học hình thành nên những con người năng động, sáng tạo
Các đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ trong những năm gần đây thuộc ngành quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong từng hoàn cảnh nhà trường cụ thể, của từng môi trường đào tạo ngành nghề chuyên biệt Những luận văn này đã đóng góp một phần tích cực trong các công tác quản lý của nhà trường với hoạt động tự học nói riêng và của giáo dục nói chung
1.2.2 Sinh viên
Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ "Student" trong tiếng Anh, "Etudiant" trong tiếng Pháp và "Cmgenm" trong tiếng Nga "Sinh viên" là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông
Trang 7Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ "sinh viên" được diễn nghĩa ra là người
bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "sinh
viên" được dùng để chỉ người học ở bậc đại học [12] Theo Quy chế công
tác Học sinh Sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo
thì: " sinh viên" là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng
Từ đó ta có thể hiểu: khái niệm "sinh viên" là những người đang học
tập tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu của xã hội
1.2.3 Quản lý
1.2.3.1 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo
từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Quản
lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học
nghiên cứu quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra những định nghĩa
khác nhau Chúng tôi sẽ trình bày dưới đây một số định nghĩa, quan niệm về
"Quản lý" của các nhà triết học, nhà khoa học quản lý như sau:
Theo Harold Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích
của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằn hình thành một môi
trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với
thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách
thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có thể tổ chức
về quản lý là một khoa học" [25, Tr.33]
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác
động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc
ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm
duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt tới mục tiêu” [24]
"Quản lý (cai trị) là công việc của các bậc đại nhân Đó là biết tập hợp quanh mình những người hiền" (Mặc Tử, Trung Hoa)
Theo H.Fayol (l841 - 1925), nhà tư tưởng Pháp: "Quản lý tức là lập
kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra"
F.W.Taylor (1856 - 1915), người được coi là "cha đẻ của thuyết quản
lý khoa học" đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ" Theo ông: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất"
Peter Drucker quan niệm: "Quản lý là một chức năng xã hội nhằm để phát triển con người và xã hội với những hệ giá trị, nội dung, phương pháp biến đổi không ngừng"
Qua các định nghĩa và quan niệm về “Quản lý” như đã trình bày ở trên, ta thấy rằng trong hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu Khách thể quản lý là những người chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung
Quản lý có nhiều loại khác nhau, trong đó quản lý xã hội là phức tạp nhất Bởi vì, xã hội một mặt là hệ thống trên của kinh tế, bao gồm toàn bộ các hoạt động về kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, tinh thần,… nên nó chứa đựng tất cả những sự phức tạp của các đối tượng phải quản lý; mặt khác trong quá trình quản lý xã hội còn có những quan hệ phi kết cấu như quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các đối tượng, các quan hệ làm cho việc quản lý càng phức tạp và khó khăn hơn Do vậy, quản
lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô
Trang 81.2.3.2 Chức năng quản lý
Tiến trình quản lý là một phức hợp những kỹ năng có tính hệ thống
rất sinh động và phức tạp Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều
loại công việc khác nhau Những loại công việc quản lý này gọi là các chức
năng quản lý Như vậy, các chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ
quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá
trình chuyên môn hoá hoạt động quản lý Có 4 chức năng cơ bản nhất là: lập
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
+ Chức năng lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức
phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được
những mục tiêu, nhiệm vụ đó Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản
nhất trong hệ thống chức năng quản lý theo giai đoạn, là cơ sở của các chức
năng còn lại Để lập kế hoạch bao gồm có ba giai đoạn:
Xác định các mục tiêu (phương hướng) cho tổ chức
Nhận diện các nguồn lực của tổ chức để thực hiện các mục tiêu đó
Quyết định về những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu
đã đề ra
+ Chức năng tổ chức:
Tổ chức là sự kết hợp hoạt động của những bộ phận sao cho chúng
liên kết với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ thống
thống nhất như một cơ thể sống Đó là sự liên kết những cá nhân, những quá
trình, những hoạt động trong hệ thống, thông qua đó để thực hiện các mục
tiêu chung của hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc quản lý Bằng cách thiết
lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lý có thể phối hợp, điều
phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực
Tiến trình tổ chức bao gồm việc thiết lập các bộ phận, phòng ban và xây dựng các bản mô tả công việc Vấn đề nhân sự cũng xuất phát trực tiếp
từ các chức năng lập kế hoạch và tổ chức
+ Chức năng chỉ đạo:
Chỉ đạo là quá trình chủ thể quản lý sử dụng quyền lực quản lý của mình để điều hành, tác động đến hành vi của các cá nhân, bộ phận trong hệ thống một cách có chủ đích để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được các mục tiêu chung của tổ chức
Nội dung cơ bản của chức năng chỉ đạo là chủ thể quản lý phải thực hiện nhiệm vụ ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó Quá trình này bao gồm các hoạt động phân công, hướng dẫn, đôn đốc, động viên, thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ
+ Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường và đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm
ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục Đồng thời, kiểm tra cũng nhằm tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của tổ chức Trong hoạt động quản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua chức năng kiểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lý sẽ tiến hành những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Vì vậy, để đánh giá được hiệu quả quản lý, người lãnh đạo cần phải thực hiện chức năng kiểm tra Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
Xây dựng chuẩn để thực hiện
Đánh giá việc thực hiện dựa trên chính sách so với chuẩn
Trang 9Nếu kết quả hoạt động có sự chênh lệch so với chuẩn thì cần điều
chỉnh hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn
Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai
đoạn với sự tham gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và
quyết định Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản
lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo
Hình 1.1 Sơ đồ chức năng của quản lý
1.2.3.3 Vai trò quản lý
Quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Từ xa
xưa, vai trò của quản lý đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân
gian: "Một người biết lo bằng cả kho người làm" Về sau, Các-Mác đã
khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực
hiện trên một quy mô tương đối lớn ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản
lý”, và ông hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng
trong một dàn hợp xướng
Các nhà lý luận về khoa học quản lý như Taylor (l856 - 1915) của
Mỹ, Fayol (1841 - 1925) của Pháp và Max Weber (1864 - 1920) của Đức
đều khẳng định rằng quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy
sự phát triển xã hội
Trong xã hội, mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống đều có hoạt động
quản lý, ví dụ như: quản lý giáo dục, quản lý kinh tế, quản lý văn hoá, quản
Trong chiến lược phát triển giáo dục, các nhà chuyên môn đã đưa ra giải pháp tăng cường công tác quản lý giáo dục như một biện pháp chiến lược mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo Hiện nay, cùng với sự bùng nổ thông tin khoa học kỹ thuật, việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học mới vào hoạt động quản
lý sẽ làm tăng hiệu quả quản lý Vì thế, ở khía cạnh này có thể khẳng định
rằng trong thực tại "Quản lý còn được xem là công nghệ - công nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra" [20]
Ngày nay, mọi người đều thừa nhận tính tất yếu của quản lý Đây là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp, vừa có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại, diệt vong, suy thoái hay thịnh vượng của một
tổ chức, một quốc gia, một châu lục hay toàn cầu
Thật vậy, năm học 2009 – 2010, ngoài các chương trình hành động do
Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động, còn có chủ đề tiêu biểu của năm học là:
“Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”
1.2.4 Học chế tín chỉ
1.2.4.1 Khái niệm tín chỉ
Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng qua việc tích luỹ các kiến thức, kỹ năng khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của một sinh viên, gọi là tín chỉ (credit)
Trang 10Trong các từ điển bách khoa, các tài liệu về giáo dục đại học có nhiều
định nghĩa khác nhau về tín chỉ Theo định nghĩa của James Quann (Đại học
Quốc gia Washington): Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian
bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao
gồm: 1 thời gian lên lớp; 2 thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập
hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3 thời gian
dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài, ;
đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ
chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các
môn học ở studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1
giờ chuẩn bị ở nhà); đối với việc tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làm việc
trong 1 tuần [6]
Quyết định 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt
nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ thì xác định: Tín
chỉ là đơn vị dùng để đo khối lượng kiến thức đồng thời là đơn vị để đánh
giá kết quả học tập của sinh viên dựa trên số lượng tín chỉ đã tích luỹ được
Mỗi tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết Để tiếp thu được 1 tiết
học lý thuyết sinh viên cần ít nhất 2 tiết chuẩn bị cá nhân Cứ 30 tiết thảo
luận trên lớp bài tập thí nghiệm hoặc 45 - 60 tiết thực tập, kiến tập, làm tiểu
luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính tương đương 1 tín chỉ [1]
1.2.4 2 Đặc điểm của học chế tín chỉ [5]
Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần)
- Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của người học theo từng
học phần
- Đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo từng học phần
- Một năm học có thể gồm 2 học kỳ chính (15 tuần học và 3 tuần thi)
và có thể có một học kỳ hè (5 tuần học và 1 tuần thi), hay gồm 3 học kỳ (12 tuần học và 3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học và 2 tuần thi)
- Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A,B,C,D hay 4,3,2,l)
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ đã tích luỹ
- Có hệ thống cố vấn học tập để tư vấn cho người học tự thiết kế chương trình học tập của mình
- Chương trình đào tạo mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc còn
có các học phần tự chọn và tuỳ ý, cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo trong quá trình học tập
- Không có thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp đối với các chương trình cao đẳng hoặc đại học
- Ổn định và công khai hoá chương trình đào tạo cho mỗi khoá học
- Phương thức quản lý sinh viên sẽ thay đổi (theo hệ thống cố vấn học tập, theo số chứng chỉ đã tích luỹ)
- Thu học phí tỷ lệ với khối lượng các học phần đăng ký học
Hệ thống học chế tín chỉ sở dĩ được truyền bá nhanh và áp dụng rộng rãi ở các trường đại học trên thế giới do có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với
hệ thống đào tạo theo niên chế học phần Theo GS Lê Thạc Cán, nếu kế hoạch đào tạo theo niên chế có thể ví như một tuyến đường đã được vạch sẵn cho tất cả sinh viên (trong một khoá) đi theo trong suốt một khóa đào tạo thì
kế hoạch đào tạo theo học chế tín chỉ là một bản đồ học tập của một hệ thống các tri thức lý luận và thực tiễn theo các ngành, chuyên ngành trên đó sinh viên có thể chọn tuyến đi, cách đi, tốc độ đi tới mục đích của mình căn cứ vào mục đích, sở thích, điểm mạnh, điểm yếu cụ thể Lộ trình học tập này có thể giúp sinh viên điều chỉnh tuyến đi lúc mục đích học tập của sinh viên thay đổi theo nguyện vọng cá nhân, nhu cầu của thị trường nhân lực hoặc phát triển
Trang 11của khoa học và công nghệ Học chế này cho phép sinh viên có cơ hội linh
hoạt chuyển đổi ngành học, tạo ra một "ngôn ngữ chung" giữa các trường Đại
học, tạo điều kiện cho việc chuyển đổi sinh viên giữa các trường trong nước
và trên thế giới, rất thuận lợi trong các chương trình đào tạo liên kết
1.3 Đặc trưng của hoạt động tự học trong trường Đại học
Hoạt động chủ đạo của sinh viên là hoạt động học tập So với hoạt
động học tập của học sinh phổ thông, việc học tập của sinh viên có nhiều
điểm khác Trước hết hoạt động học tập của học sinh, sinh viên cũng là
quá trình nhận thức nhằm chiếm lĩnh những tri thức trong kho tàng trí
tuệ của nhân loại Điểm khác nhau là khi tiến hành hoạt động học tập,
sinh viên không thể chỉ nhận thức thông thường mà tiến hành hoạt động
nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo
phát triển ở mức độ cao để chuẩn bị cho một ngành nghề nhất định có
chuyên môn năng lực cao Vì vậy, hoạt động học tập của sinh viên còn
gọi là hoạt động học tập nghề nghiệp Vốn học vấn tiếp thu được trong
quá trình này hết sức quan trọng vì nó là công cụ để họ tiến hành tham
gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này và là nền tảng cho hoạt động tự
học, tự nghiên cứu
Một điều khác nữa so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông
thì hoạt động học tập của sinh viên mang tính tự giác, tích cực chủ động
hơn Sinh viên ngoài giờ lên lớp theo chương trình chính khoá, họ còn
phải tích cực đọc thêm sách và tài liệu tham khảo để tự phát triển kiến
thức cho mình, tranh thủ sự giúp đỡ của giảng viên để đào sâu kiến thức
chuyên môn Có như vậy, sau khi ra trường họ mới vững vàng trong công
việc của mình Chính sự khác biệt này đòi hỏi, sinh viên phải có sự thay
đổi lớn về nhận thức, tư duy Do vậy, khác với giáo dục phổ thông, yêu
cầu về chất lượng kiến thức thì ở đại học không chỉ học sự kiện hay hiện
tượng, không chỉ học biết, học hiểu và học vận dụng mà còn học phân
- Có năng lực trí tuệ và có khả năng sáng tạo và thích ứng
- Có khả năng hành động (các kỹ năng sống) để có thể lập nghiệp
- Có năng lực tự học, tự nghiên cứu để học thường xuyên, suốt đời
- Có năng lực quốc tế (ngoại ngữ, tin học, văn hoá toàn cầu, ) để có
khả năng hội nhập
Ở các trường Đại học, tự học là cần thiết và là cách học ở đại học Đó
là một hình thức tổ chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm chiếm lĩnh
hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành Khi sinh viên tự mình huy động mọi phẩm chất, năng lực của bản thân để tiến hành các hoạt động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức là họ tiến hành hoạt động tự học
Tóm lại, quá trình học tập của sinh viên ở các trường Đại học về bản chất là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu Mỗi sinh viên tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của thầy, sinh viên không nhận thức một cách máy móc chân lý
có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở rộng kiến thức Để có được những năng lực, khả năng này, người học ở bậc đại học phải có cách học chủ động, khả năng
tự lực tìm kiếm và xử lí thông tin, năng lực tự học và khao khát sáng tạo Do
vậy, cũng có thể nói “học đại học là tự học”
Trang 121.4 Quản lý hoạt động dạy học theo học chế tín chỉ và sự thúc đẩy
sinh viên ý chí tự học
Việc định lượng cụ thể và chính xác các nội dung yêu cầu tự học là
vấn đề rất phức tạp Xét ở bình diện chung nhất, các yêu cầu của tự học là
những đòi hỏi, mục tiêu mà người học cần phải đạt được ở một mức độ
nhất định Xem xét các yêu cầu tự học theo học chế tín chỉ tức là xác định
các nội dung đòi hỏi người học phải đạt được qua các vấn đề như: Khối
lượng kiến thức thực mà người học đã đạt được, kết quả đạt được qua các kỳ
kiểm tra, đánh giá, việc tuân thủ các quy định mang tính chất khung, các
nguyên tắc và sự thực hiện các nguyên tắc, sự phù hợp trong mối quan hệ
tương tác giữa người học, người dạy và người quản lý khác,
1.4.1 Phương pháp kiểm tra, đánh giá trong học chế tín chỉ
Hiện nay, trong các trường đại học áp dụng phương thức đào tạo theo
hình thức niên chế học phần, kết quả học tập môn học (học phần) của sinh
viên được đánh giá bằng điểm thi kết thúc học phần Theo Quy chế đào tạo
đại học ban hành theo Quyết định số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày
11/02/1999 và Quy chế 25/2006/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo: “Điểm để đánh giá kết quả học tập của học phần lý thuyết là
điểm thi kết thúc học phần"; đối với các học phần có cả thực hành và lý
thuyết thì phần thực hành đạt được coi là đủ điều kiện để được xét dự thi
phần lý thuyết và "điểm thi phần lý thuyết là điểm thi kết thúc học phần"
Theo quy định này sẽ tạo cho sinh viên một thói quen không tốt đó là không
chủ động, tích cực học tập một cách thường xuyên, mà họ chỉ tập trung học
tập vào thời gian chuẩn bị thi kết thúc học phần [5]
Khác với đào tạo theo hình thức niên chế học phần, học chế tín chỉ coi
trọng phần tự đào tạo, tự học của người học trong quá trình đào tạo Do đó ,
đặt ra những yêu cầu cao, chặt chẽ, liên tục về kiểm tra và đánh giá Việc
đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo theo học
chế tín chỉ không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn bằng nhiều cách đánh giá khác:
a) Hoạt động trên lớp (số buổi có mặt, thái độ theo dõi bài giảng, thảo luận),
b) Việc tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp, thời gian và chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà do giảng viên giao),
c) Làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tế, d) Bài thi kết thúc môn học
Khi tổ chức hoạt động giảng dạy, giảng viên có trách nhiệm cung cấp cho sinh viên bản đề cương môn học (syllabus), trong đó thể hiện rõ về cách thức, trọng số đánh giá kết quả học tập cũng như các yêu cầu, nội dung khác của môn học trong ngay từ khi bắt đầu học Việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong quá trình dạy và học buộc sinh viên phải học chăm chỉ, không học đối phó trong các kỳ thi cuối kỳ như trước kia, làm tăng vị thế của giảng viên trong việc đánh giá sản phẩm đào tạo của mình qua kết quả học tập của sinh viên Chính vì vậy, vai trò của người thầy là rất quan trọng trong việc phát huy tính chủ động học tập của sinh viên Làm tốt điều này sẽ tạo cho sinh viên nâng cao được khả năng tự học theo kiểu nghiên cứu
Để đánh giá đúng năng lực và trình độ của sinh viên trong và sau khi kết thúc môn học, giảng viên ngoài việc đánh giá trình độ nhận thức của sinh viên theo các tiêu chí đánh giá của môn học như đã nêu trong đề cương, còn phải đánh giá sinh viên về tinh thần, thái độ học tập, ý thức chấp hành các nội quy, quy chế của Khoa và Nhà trường, có tinh thần cầu
thị trong học tập, đi học đầy đủ, đúng giờ, Về một phương diện nào đó có
thể thấy, việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập trong học chế tín chỉ sẽ toàn diện công bằng và đầy đủ hơn so với hình thức đào tạo theo niên chế học phần
Trang 131.4.2 Quản lý hoạt động dạy học theo học chế tín chỉ
Nếu như trong đào tạo theo niên chế học phần, sinh viên phải học
theo tất cả những gì Nhà trường sắp đặt, không phân biệt sinh viên có điều
kiện, năng lực tốt, hay sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, năng lực yếu
Ngược lại, đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ động
học theo điều kiện và năng lực của mình Những sinh viên giỏi có thể học
theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khoá, kế hoạch học tập từng
học kỳ theo gợi ý của Nhà trường, để tốt nghiệp theo đúng thời gian chuẩn
của chương trình hoặc sớm hơn Vì thế, sinh viên phải tự lập kế hoạch học
tập toàn khoá và từng học kỳ cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể
của bản thân dưới sự giúp đỡ của giáo viên chủ nhiệm hay cố vấn học tập
Toàn bộ hệ thống quản lý đào tạo, quản lý sinh viên phải vận hành theo yêu
cầu của từng sinh viên làm cho quá trình quản lý trở nên sức hết phức tạp so
với đào tạo theo niên chế Chương trình đào tạo của tất cả các ngành đều
phải cấu trúc lại theo hướng mô-đun hoá thành những học phần; lịch trình
giảng dạy phải thực hiện hết sức chính xác, không được đổi giờ hoặc bỏ giờ;
mỗi giảng viên, mỗi sinh viên đều có thời khoá biểu riêng, không theo một
quy luật nào cả Vì thế, nếu trước kia, sinh viên phải "chạy" theo kế hoạch
của Nhà trường thì bây giờ Nhà trường phải "chạy" theo kế hoạch của từng
sinh viên, do vậy, quản lý đào tạo, quản lý dạy học theo học chế tín chỉ cần
một hệ thống quản lý khoa học, chặt chẽ, linh hoạt và mềm dẻo Để quản lý
dạy học trong học chế tín chỉ đạt hiệu quả cao, Nhà trường phải thực hiện
đồng bộ các nội dung sau:
+ Một là, phải ổn định và công khai hoá nội dung chương trình đào
tạo của tất cả các ngành nghề trong Trường bằng một Niên lịch đào tạo Để
đảm bảo tổ chức giảng dạy theo học chế tín chỉ, các học phần phải được xây
dựng sao cho kiến thức chứa đựng trong mỗi học phần phải ở cùng một trình
độ Theo cách đó, các học phần thuộc giai đoạn 1 chỉ có thể là những học
phần đại cương hoặc nhập môn, còn những học phần có tính chất nâng cao
và chuyên sâu và những học phần cơ sở ngành đều phải dạy ở giai đoạn 2 Chương trình nội dung đào tạo của các ngành cũng cần được xây dựng lại sao cho có nhiều học phần chung, không phải chỉ ở giai đoạn 1 mà còn ở cả giai đoạn 2 Một bộ phận các học phần phải được bố trí dưới dạng tự chọn
+ Hai là, phải thay đổi cách tổ chức quá trình đào tạo Theo phương
thức đào tạo niên chế học phần, lớp học được tổ chức theo khoá tuyển sinh nhưng khi chuyển sang học chế tín chỉ, lớp học phải được tổ chức theo mỗi học phần mà sinh viên đã đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ Muốn làm được điều đó, thời khoá biểu học tập và hệ thống các phòng học phải được phòng Đào tạo của Trường tập trung quản lý thống nhất, không phân cấp cho các Khoa như trước đây Ngoài ra, để đảm bảo cho tất cả các học phần đều được dạy rải đều trong suốt 15 tuần thực học của một học kỳ, số tiết giảng lý thuyết ở mỗi tuần phải được bố trí đúng bằng số tín chỉ của từng học phần được dạy trong học kỳ đó
Vì vậy, phòng Đào tạo của các trường phải có các chuyên gia về giáo dục đại học, có kiến thức rộng và thạo việc
+ Ba là, phải thay đổi phương thức quản lý sinh viên Trong phương
thức đào tạo theo niên chế học phần, lớp học được tổ chức theo khoá tuyển sinh, việc quản lý sinh viên được thực hiện theo cơ chế giáo viên chủ nhiệm Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, cơ chế này tỏ ra kém thích hợp, cần được thay thế bằng cơ chế cố vấn học tập Cố vấn học tập là những cán bộ giảng dạy am hiểu quy trình đào tạo, có tinh thần trách nhiệm cao, có uy tín với sinh viên và được sinh viên quý mến Dưới sự giúp
đỡ của cố vấn học tập, từng sinh viên sẽ lựa chọn đăng ký học những phần thích hợp với năng lực và ý muốn riêng của mình vào đầu mỗi học kỳ Cùng với việc thay đổi hình thức tổ chức lớp học, cơ chế hoạt động của tổ chức Đảng, đoàn thể trong sinh viên cũng phải thay đổi theo cho thích hợp
Trang 14+ Bốn là, phải thay đổi căn bản phương thức dạy và học trong các
trường Đại học và Cao đẳng Trước hết, đội ngũ cán bộ giảng dạy cần tập thói
quen tôn trọng thời khóa biểu giảng dạy, khả năng một thầy dạy nhiều môn
học, phải thông thạo các phương pháp sư phạm tích cực nhằm giảm dần thời
gian lên lớp, buộc sinh viên phải tăng cường năng lực tự học Quy trình kiểm
tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng phải thay đổi từ phương thức
đánh giá 1 lần sang phương thức đánh giá cả quá trình của sinh viên
+ Năm là, phải thay đổi chế độ thu học phí Học phí được tính đối với
mỗi học kỳ tỷ lệ với khối lượng của tất cả các học phần bằng tổng số tín chỉ
mà sinh viên đã đăng ký
Để thực hiện tốt việc quản lý các nội dung trên, Nhà trường phải có
hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu quản lý đào tạo, quản lý sinh viên theo hệ
thống tín chỉ Như thiết kế tổng thể hệ thống thông tin quản lý đào tạo theo
tín chỉ; xây dựng phần mềm quản lý đào tạo gồm nhiều phân hệ (tuyển sinh,
quản lý sinh viên, chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy, đăng ký học
phần, thời khoá biểu, quản lý điểm, học bổng học phí, khen thưởng kỷ
luật, ); cài đặt hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý đào tạo; xây dựng cơ
sở dữ liệu quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
Hiện đại hoá quá trình quản lý đào tạo - tin học hoá toàn bộ quá trình
quản lý, sẽ tạo ra một tác phong làm việc công nghiệp, hiện đại trong toàn
thể cán bộ của Trường, điều này giúp giải quyết việc quản lý công tác đào
tạo giảng dạy của Nhà trường được đồng bộ, chính xác, nhanh gọn, khoa
học và đạt hiệu quả cao
1.4.2.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên
Khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, việc
quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh
viên cũng có sự thay đổi căn bản Ngoài việc truyền đạt kiến thức, giảng
viên phải hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho sinh viên tự tìm kiếm kiến
thức ở ngoài lớp học được thể hiện trong đề cương môn học mà mỗi giảng viên bắt buộc phải có và phát cho sinh viên trước hoặc ngay trong buổi lên lớp đầu tiên Đề cương môn học phải cung cấp thông tin chủ yếu về nội dung và tổ chức dạy - học của môn học Đề cương môn học bao gồm:
- Thông tin về đơn vị đào tạo (tên trường, khoa, bộ môn, )
- Thông tin về môn học (tên môn học, bắt buộc hay tự chọn, số lượng
tín chỉ, loại giờ tín chỉ, các môn học tiên quyết, )
- Thông tin về tổ chức dạy và học
- Mục tiêu, nội dung cơ bản và phương pháp giảng dạy môn học
- Giáo trình sử dụng và danh mục tài liệu tham khảo
- Các yêu cầu và quy định về kiểm tra - đánh giá kết quả học tập Trong phương thức đào tạo truyền thống, người dạy có hai vai trò nổi bật nhất là "người toàn trí" (người biết mọi tri thức về môn học liên quan) và “người quyết định mọi hoạt động dạy - học trong lớp học" Trong vai trò thứ nhất, người dạy được xem như là nguồn kiến thức duy nhất và người học chỉ cần tiếp thu được nguồn kiến thức này từ người dạy
là đủ Trong vai trò thứ hai, người dạy được xem như là người có toàn quyền quyết định dạy cái gì (nội dung) và dạy như thế nào (phương pháp); người học được xem là những "con chiên" ngoan đạo, nghe giảng bài, ghi chép và học thuộc những gì được dạy
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hai vai trò đã nêu ở trên ở một mức độ nào đó vẫn được duy trì Tuy nhiên, người dạy phải đảm nhiệm thêm ít nhất ba vai trò nữa đó là: cố vấn cho quá trình học tập; người tham gia vào quá trình học tập; người học và nhà nghiên cứu
Với tư cách là cố vấn cho quá trình học tập, khi giảng bài cũng như khi hướng dẫn thảo luận, người dạy phải chọn những vấn đề cốt lõi, quan trọng để giảng mà nếu không có người dạy thì người học khó có thể lĩnh hội
Trang 15được, tạo điều kiện cho người học tiếp thu và khám phá tiếp kiến thức Là
cố vấn cho quá trình học tập, người dạy sẽ:
- Giúp cho chính mình hiểu được người học: hiểu được những gì họ
cần trong quá trình học tập và những gì họ có thể tự làm được để có thể
chuyển giao những nhiệm vụ này cho họ thông qua hướng dẫn và giám sát;
- Giúp người học thể hiện rõ hơn những ý định của họ để qua đó họ
có thể phát huy được vai trò chủ động và sáng tạo, và những nguồn lực của
chính họ để học tốt môn học;
- Hướng sự tham gia tích cực của người học vào những mục tiêu thực
tế nhất của giáo dục hiện đại: học gắn với hành
Trong vai trò của người tham gia vào quá trình dạy - học, người dạy
hoạt động như là một thành viên tham gia vào quá trình học tập ở trên lớp
với các nhóm người học Với tư cách vừa là cố vấn vừa là người tham gia
vào quá trình học tập, người dạy còn có thêm một vai trò nữa đó là nguồn
tham khảo cho người học, giúp họ tháo gỡ những khó khăn trong quá trình
học tập và nghiên cứu
Trong vai trò là người học và người nghiên cứu, với tư cách là một
thành viên tham gia vào các hoạt động học tập ở trên lớp, người dạy, ở một
mức độ nào đó, có điều kiện trở lại vị trí của người học, hiểu và chia sẻ
những khó khăn và trách nhiệm học tập với họ Có thực hiện được vai trò
của người học thì người dạy mới có thể phát huy được vai trò tích cực của
người học, lựa chọn được phương pháp giảng dạy phù hợp Với tư cách là
nhà nghiên cứu, người dạy có thể đóng góp khả năng và kiến thức của mình
vào việc tìm hiểu bản chất của quá trình dạy - học nói chung, bản chất của
quá trình học một môn học nói riêng, những yếu tố tâm lý - xã hội ảnh
hưởng đến quá trình dạy - học môn học đó
Có thể thấy, khi thực hiện việc tổ chức giảng dạy trong học chế tín
chỉ, người giảng viên sẽ phải đi vào các vấn đề kỹ thuật thao tác nhiều hơn,
thay vì đơn thuần chỉ thuyết trình theo cách giảng dạy như đào tạo theo niên chế học phần trước đây, thì đối với đào tạo theo học chế tín chỉ, hình thức tổ chức giảng dạy có phần đa dạng hơn Vì vậy, giảng viên khi thực hiện giờ lý thuyết cũng như thực hành trên lớp, ngoài khả năng chuyên môn ra, người thầy cần phải có kinh nghiệm điều hành và quản lý lớp học
Như vậy, để thực hiện tốt hoạt động giảng dạy theo học chế tín chỉ, người thầy không chỉ truyền đạt những tri thức khoa học mà điều quan trọng
là hướng cho sinh viên phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự học và rèn luyện tốt các kỹ năng thao tác trong quá trình tự đào tạo Để làm tốt điều này, giảng viên phải có trách nhiệm:
- Nắm vững quy chế đào tạo, các quy định và hướng dẫn của Nhà trường về công tác đào tạo tín chỉ
- Chuẩn bị bài giảng nghiêm túc, giảng dạy theo đúng đề cương môn học đã được phê duyệt Quản lý sinh viên của lớp môn học trong các giờ học
và các hoạt động giảng dạy khác Quyết định về điều kiện thi kết thúc môn học của sinh viên đối với từng trường hợp cụ thể
- Sử dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến và phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ để đảm bảo truyền thụ cho sinh viên nội dung môn học, hướng dẫn sinh viên rèn luyện năng lực nhận thức, năng lực
tư duy sáng tạo, năng lực thu thập thông tin, xử lý thông tin, năng lực làm việc nhóm, năng lực tự học và tự nghiên cứu
- Cung cấp danh mục các tài liệu tham khảo, hướng dẫn sinh viên về mục tiêu và phương pháp đọc tài liệu tham khảo, tổ chức thảo luận, thực hành và các hoạt động chuyên môn khác
- Hướng dẫn cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở nhà và phải có hình thức kiểm tra, kiểm soát và đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của sinh Có trách nhiệm tham gia hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học theo phân công của khoa trong kế hoạch giảng dạy hàng năm
Trang 16- Ra đề thi, chấm thi và trả bài thi theo đúng thời gian quy định
Như đã trình bày ở trên, ta thấy hoạt động giảng dạy trong phương
thức đào tạo theo học chế tín chỉ có nhiều điểm khác, phức tạp hơn so với
phương thức đào tạo theo niên chế học phần Để tổ chức quản lý tốt hoạt
động giảng dạy khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo mới này, Nhà
trường phải có quy chế, quy định hướng dẫn phù hợp và một hệ thống quản
lý theo dõi và kiểm tra một cách chặt chẽ
1.4.2.2 Quản lý hoạt động học của sinh viên
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên không chỉ giới hạn trong
phạm vi đào tạo, giáo dục sinh viên ở trên lớp, trong Trường, mà còn gồm
cả việc sinh viên tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp, học tập nhóm,
tham gia câu lạc bộ, tự học, thực hành thực tập, tham quan, giao lưu,
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là một trong những nội dung
của công tác quản lý giáo dục trong Nhà trường, tiến hành theo quy chế của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Quản lý hoạt động học tập của sinh viên bao hàm
quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ và phương
pháp học tập Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là quản lý để thực
hiện đồng bộ và toàn vẹn các nhân tố: mục tiêu học tập, nội dung học tập,
phương pháp học tập, chủ thể học tập, điều kiện - phương tiện học tập, quy
chế học tập,… Lưu tâm thích đáng đến hoạt động học tập của người học
chính là trung tâm của toàn bộ công tác tổ chức quản lý giáo dục trong Nhà
trường Quản lý tốt hoạt động học tập của sinh viên sẽ nâng cao hiệu quả
học tập ở sinh viên Chất lượng học tập của sinh viên phản ánh chất lượng
quản lý của Nhà trường bởi "Chất lượng giảng dạy và học tập phản ánh tập
trung tình trạng và chất lượng chung của toàn bộ giáo dục; và xét về nguyên
tắc, nó thống nhất với chất lượng quản lý, chất lượng nghiên cứu và thông
tin, chất lượng đào tạo” [24]
Trong quá trình đào tạo, ngoài sự hướng dẫn của giảng viên, nhiệm vụ học tập của sinh viên là rất quan trọng và chính họ là trung tâm của quá trình đào tạo, quyết định chất lượng đào tạo Sinh viên cần tham khảo ý kiến của
cố vấn học tập để xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với mình và đăng ký môn học theo mỗi học kỳ với Khoa, với Trường Thực hiện đầy đủ các yêu cầu học tập môn học được quy định trong đề cương môn học của môn học
đó Nâng cao ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu và thường xuyên liên hệ với giảng viên, cố vấn học tập để được tư vấn, hỗ trợ
về vấn đề tự học, tự nghiên cứu Để thực hiện việc nâng cao chất lượng đào tạo trong học chế tín chỉ, sinh viên cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:
- Chuẩn bị đầy đủ các học liệu của môn học (gồm học liệu bắt buộc
và học liệu tham khảo)
- Tham gia đầy đủ các buổi học trên lớp, các buổi xê-mi-na theo các đơn vị nhóm hoặc các lớp chuyên ngành của ngành học
- Nghe giảng và ghi chép bài giảng đầy đủ trong các giờ học trên lớp
- Làm đầy đủ các bài viết cá nhân/tuần; các bài tập nhóm/tháng, các bài tập lớn; bài kiểm tra giữa kỳ và bài thi hết môn
- Tích cực phát biểu trong khi thảo luận, chủ động đề xuất với giảng viên các nội dung thảo luận
1.4.2.3 Dạy học theo tín chỉ và sự thúc đẩy sinh viên nâng cao ý chí
tự học
Hoạt động chiếm lĩnh tri thức của nhân loại để phục vụ cuộc sống là hoạt động mang tính tất yếu của con người Con người có thể nhận thức thế giới khách quan và tri thức xã hội thông qua nhiều con đường khác nhau Đối với sinh viên, học tập là hoạt động trọng tâm, là hoạt động chủ đạo, là hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo, phát triển để chuẩn bị kiến thức chuyên môn nhất định cho một ngành nghề trong tương lai
Trang 17Dạy học trong học chế tín chỉ, với những đặc trưng như đã trình bày,
đặt sinh viên vào vị trí người làm chủ quá trình lao động của mình, chịu
trách nhiệm chính về kết quả lao động của mình Đây vừa là yêu cầu vừa là
động lực thúc đẩy sinh viên nâng cao ý chí tự học Vấn đề được thể hiện trên
những nội dung cơ bản như:
- Trong học chế tín chỉ, sinh viên chỉ có khoảng 1/3 thời gian trên lớp
là được giảng viên hướng dẫn, thời gian còn lại, sinh viên phải tự học, tự
nghiên cứu Nếu không thực hiện tốt hoạt động tự học, tự nghiên cứu, sinh
viên không thể hoàn thành yêu cầu của bài học, đồng thời không thể có đủ
điều kiện tiếp cận, tiếp thu các nội dung hướng dẫn mới của giảng viên
- Sinh viên hoạt động học tập theo nhóm là một trong những điểm đặc
trưng của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Để có thể tham gia thảo
luận với thành viên trong nhóm và với giảng viên, đòi hỏi sinh viên phải tích
cực chủ động tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề, về yêu cầu được giao
- Trong học chế tín chỉ, sinh viên được chủ động trong việc xây dựng
kế hoạch học tập Kế hoạch học tập của sinh viên một mặt tạo điều kiện cho
sinh viên xác định lộ trình học tập phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình
đồng thời cũng tạo ra hiệu ứng của sự tác động xã hội, kích thích tâm lý
“thua thầy một vạn không bằng kém bạn một ly", nhằm nâng cao ý chí phấn
đấu của mỗi cá nhân sinh viên
- Sự lựa chọn chương trình, xây dựng kế hoạch, lộ trình học tập là yếu
tố tác động trực tiếp đến thời hạn học tập của sinh viên Học chế tín chỉ cho
phép sinh viên học trước, học vượt Tiết kiệm được thời gian đồng nghĩa với
tiết kiệm được của cải vật chất Tích cực, chủ động trong học tập, rút ngắn
được thời gian học tập trong Nhà trường là sinh viên đã tiết kiệm được của
cải vật chất đầu tư cho hoạt động học, vấn đề này không chỉ có ý nghĩa đối
với bản thân mỗi sinh viên mà còn có ý nghĩa với toàn xã hội
- Phương thức kiểm tra đánh giá trong học chế tín chỉ với tần suất lớn, tiến hành thường xuyên, với nhiều nội dung, tài liệu tham khảo phong phú đòi hỏi sinh viên phải thật tập trung, lao động với công suất, hiệu suất lớn vừa nhằm đánh giá đúng hơn năng lực, mức độ, kết quả hoạt động học tập của sinh viên vừa có thể được xem như là biện pháp “tấn công não” trong giáo dục, kích thích sinh viên vươn lên trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức Quản lý hoạt động dạy, hoạt động học của Nhà trường thực chất là các hoạt động đảm bảo, cung cấp, tạo điều kiện cần thiết phục vụ cho quá trình sinh viên vươn lên chiếm lĩnh tri thức phục vụ cho cuộc sống, cho xã hội theo đúng mục tiêu đã xác định trong sứ mạng của Nhà trường Quản lý tốt hoạt động dạy, hoạt động học sẽ nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên Chất lượng học tập của sinh viên là sự phản ánh chất lượng quản lý của Nhà trường Bên cạnh những yếu tố tác động khách quan của học chế tín chỉ, Nhà trường phải tổ chức thực hiện tốt các hoạt động quản lý, đảm bảo điều kiện đủ cho kết quả học tập của sinh viên
1.5 Yêu cầu quản lý hoạt động tự học theo học chế tín chỉ đối với sinh viên
Đối với phương thức đào tạo theo niên chế học phần, chương trình học tập của sinh viên sẽ căn cứ vào thời khóa biểu của từng học kỳ, năm học
và do Nhà trường xây dựng và tổ chức thực hiện Sinh viên chỉ tuân thủ theo
mà không có sự lựa chọn Tuy nhiên, khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học lựa chọn Chính vì vậy, quản lý hoạt động tự học theo học chế tín chỉ có nhiều điểm khác so với phương thức đào tạo cũ Để quản lý được tốt hoạt động này, Nhà trường phải triển khai, thực hiện tốt những nội dung quản lý như việc đăng ký môn học của sinh viên, quản lý học liệu phục
vụ tự học, quản lý hoạt động giảng dạy trên lớp của giảng viên và công tác kiểm tra - đánh giá hoạt động giảng dạy
Trang 181.5.1 Thực hiện đăng ký môn học của sinh viên có sự hướng dẫn
cho sinh viên chọn lựa môn học phù hợp nhu cầu - khả năng
Về mặt lý thuyết, trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, bắt
đầu một học kỳ mỗi sinh viên sẽ tự quyết định các môn mà mình sẽ theo học
trong học kỳ đó Điều này giúp cho sinh viên có thể chủ động chọn lựa số
lượng môn học trong một học kỳ sao cho phù hợp với quỹ thời gian và năng
lực học tập của mình Trường Đại học An Giang đã quy định việc đăng ký
môn học của sinh viên như sau: "Đầu mỗi học kỳ, sinh viên phải tìm hiểu,
nghiên cứu để nắm được chương trình đào tạo và đăng ký các học phần sẽ
học trong học kỳ đó bằng phiếu đăng ký hoặc đăng ký trực tiếp trên máy
tính thông qua mạng nội bộ của trường hoặc mạng Internet" [5] Trước khi
sinh viên đăng ký môn học, Nhà trường tổ chức một buổi hướng dẫn về lý
thuyết chung cho sinh viên của toàn Trường, sau đó sẽ cho sinh viên đăng
ký môn học trên mạng máy tính Internet trực tuyến (Phụ lục – Mẫu 1.1, Tr
104,105) với sự hướng dẫn của cán bộ phòng Đào tạo Về quy trình đăng ký
môn học gồm có 3 bước sau :
Bước 1: Phát phiếu đăng ký môn học Phòng Đào tạo chuyển cho
Khoa phiếu đăng ký môn học, sau đó Khoa tổ chức phát phiếu cho sinh viên
có ký nhận thông qua các cố vấn học tập (Phụ lục – Mẫu 1.2, Tr.106)
Bước 2: Đăng ký học, ghi phiếu đăng ký môn học
Bước 3 : Thu nhận phiếu đăng ký
Sau khi đã hoàn tất quy trình đăng ký môn học, sinh viên có trách
nhiệm theo dõi phản hồi về kết quả đăng ký học tại phòng Đào tạo hoặc tại
văn phòng Khoa Kết quả đăng ký học tập của mỗi sinh viên được thông báo
ở "Phiếu đăng ký học tập" Trên phiếu ghi rõ tên các học phần, số tín chỉ,
lịch học của các học phần, Khi đã biết được số lượng học phần mà mình
phải tích luỹ, sinh viên sẽ xác định được thời gian học tập trong học kỳ của
mình Từ đó, họ có thể sắp xếp thời gian hợp lý cho từng môn học, từng
mục tiêu, từng nhiệm vụ cụ thể Như vậy, việc đăng ký môn học không chỉ giúp sinh viên chủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, phù hợp
và hiệu quả mà còn giúp sinh viên xác định được các phương tiện, biện pháp
để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch đó
1.5.2 Quản lý cung cấp học liệu phục vụ hoạt động tự học theo môn học đăng ký
Đối với hoạt động tự học, cùng với ý chí, nỗ lực học tập của sinh viên, học liệu là vấn đề có tính chất quyết định đến chất lượng học tập Số lượng, chất lượng nguồn học liệu càng đảm bảo thì chất lượng hoạt động tự học càng có điều kiện để nâng lên Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Nhà trường đã chỉ đạo tổ chức biên soạn nhiều giáo trình, bài giảng và tài liệu tham khảo phục vụ hoạt đông giảng dạy và học tập Hàng năm, Nhà trường đã dành một khoản kinh phí không nhỏ cho hoạt động trên, về cơ bản
đã giải quyết được tình trạng thiếu bài giảng, giáo trình, đáp ứng khá tốt về
cơ sở học liệu, tài liệu cho sinh viên
Khác với phương thức đào tạo theo niên chế học phần, trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, sinh viên được giảng viên cung cấp bản đề cương môn học, trong đề cương ghi đầy đủ danh mục học liệu mà môn học yêu cầu, bao gồm tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo Cụ thể hơn, trong phần
kế hoạch giảng dạy của từng tuần, mục "Yêu cầu sinh viên chuẩn bị" giảng viên đã chỉ rõ nội dung sinh viên cần đọc ứng với số trang, chương và từng mục cụ thể của từng cuốn giáo trình Điều này sẽ tạo điều kiện cho sinh viên không mất nhiều thời gian tìm kiếm, để tăng thời gian cho hoạt động học tập Thư viện của Đại học An Giang là một đơn vị phục vụ chung cho sinh viên các Khoa trong toàn Trường Ngoài ra, còn có phòng tư liệu chuyên ngành tại các Khoa, Bộ môn trực thuộc Thư viện có đủ các lại sách báo, tài liệu đáp ứng nhu cầu về nghiên cứu và học tập của cán bộ giảng dạy và sinh viên, cũng như nhu cầu tìm hiểu về văn học lịch sử, văn hóa và các nhu cầu
Trang 19về giải trí của độc giả Thư viện Đại học An Giang và các phòng tư liệu đều
có sổ sách theo dõi, thống kê số lượng độc giả đến đọc và mượn sách, tài
liệu Thư viện Đại học An Giang được tin học hóa và quản lý bằng mạng
máy tính, được nối mạng và liên kết khai thác tài liệu trong nội bộ Đại học
An Giang, có hệ thống tài liệu điện tử giúp người đọc có thể tra cứu Sách
và tài liệu trong Thư viện được tra cứu qua mạng, thường xuyên cập nhật tài
liệu mới, có nhiều biện pháp khuyến khích cán bộ, người học khai thác có
hiệu quả các tài liệu Tỷ lệ người đọc hàng năm tăng cao do hệ thống quản
lý, phục vụ được hiện đại hóa Sách và tài liệu được cập nhật trong từng học
kỳ của năm học Thư viện Đại học An Giang có quan hệ hợp tác với nhiều
thư viện trường đại học trong nước, thư viện quốc gia, thư viện các viện
nghiên cứu, các trung tâm và địa phương
1.5.3 Quản lý hoạt động của giảng viên, sinh viên ở trên lớp
Theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, thì hình
thức tổ chức các giờ học (giờ tín chỉ) là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt
động của giảng viên và sinh viên ứng với cách tổ chức chương trình môn
học, trong đó coi trọng khâu tự học, năng lực nghiên cứu, thực hành, thực
tập Có các hình thức tổ chức giờ tín chỉ như sau:
- Dạy, học trên lớp: Là dạy, học lý thuyết gồm nghe thuyết trình, ghi
chép bài giảng, làm và chữa bài tập, thảo luận, do giảng viên yêu cầu
- Dạy, học trong phòng thực hành: Dạy, học thực hành, thực tập
- Dạy, học ở ngoài lớp, ngoài phòng thực hành: Tự học, tự nghiên
cứu, các hoạt động theo nhóm,…
Gắn với hình thức tổ chức giờ tín chỉ là cách thức tổ chức hoạt động
giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên, đó chính là phương
pháp dạy và phương pháp học nhằm thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm
vụ dạy học đã xác định Hai phương pháp này không độc lập, tách rời nhau
mà liên quan và phụ thuộc lẫn nhau, vừa là mục đích vừa là nguyên nhân
của nhau Khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, giảng viên phải xác định được nhiệm vụ cụ thể đối với từng loại giờ tín chỉ như sau:
- Trong giờ lý thuyết, giảng viên ngoài việc hướng dẫn sinh viên nắm
rõ được các vấn đề đã nêu trong đề cương môn học còn xây dựng kịch bản cho một giờ lên lớp, gồm: Xác định thời gian, chủ đề, nội dung, yêu cầu cho giờ lên lớp lý thuyết; giới thiệu mục tiêu bài học, các yêu cầu cần thực hiện; lựa chọn và chuyển tải nội dung cốt lõi cần trình bày trên lớp; làm rõ nội dung, vấn đề sinh viên sẽ thảo luận, làm bài tập trên lớp hoặc tự học ở nhà
- Trong giờ thảo luận, giảng viên phải lựa chọn và giao các nội dung, các yêu cầu tài liệu để từng sinh viên (từng nhóm) chuẩn bị và trình bày tại từng buổi thảo luận; soạn kịch bản về các nội dung thảo luận; tham dự, hướng dẫn, nhận xét và tổng kết thảo luận (giảng viên phải làm đạo diễn nội dung và chủ đề thảo luận); đánh giá phần chuẩn bị trình bày, thảo luận của từng sinh viên (nhóm sinh viên)
- Giờ bài tập là thời gian lên lớp dành cho sinh viên làm bài tập hoặc chữa bài tập sinh viên đã chuẩn bị Có loại bài tập cá nhân, bài tập nhóm, bài tập tuần và bài tập tháng Đối với giờ bài tập, giảng viên xác định rõ mục tiêu, nêu rõ tiêu chí đánh giá kết quả, chữa bài tập, đánh giá, cho điểm
- Giờ tự học xác định là bộ phận cấu thành tổng số giờ tín chỉ của môn học Nội dung của giờ tự học xác định là một phần nội dung của môn học mà sinh viên phải tích luỹ bằng phương thức tự học Các hướng dẫn này nhất thiết phải được giảng viên quy định rõ trong hướng dẫn sinh viên
tự học môn học Phải xác định nội dung cụ thể và giao nhiệm vụ tự học cho
sinh viên; cung cấp tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu, hướng dẫn cách xử lý tài liệu, xây dựng tiêu chí đánh giá, xác định thời hạn nộp báo cáo kết quả tự học, tự nghiên cứu; đánh giá, nhận xét kết quả tự học, tự nghiên cứu
Trang 201.5.4 Tổ chức đánh giá chất lượng học tập kịp thời
Đặc trưng của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ đặt sinh viên
vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học Sinh viên là chủ thể chủ động
khám phá và lĩnh hội tri thức Cũng giống như các vấn đề xã hội khác, hoạt
động tự học của sinh viên bên cạnh những ưu điểm cũng tồn tại những
nhược điểm rất dễ xảy ra như: khả năng xa rời, thoát ly mục tiêu, lệch chuẩn
nhận thức, không tự đánh giá, kiểm soát được tính chuẩn xác của tài liệu
trong nguồn tài liệu vô cùng phong phú và đa dạng,… Những yếu tố kể trên
có thể làm sai lệch chất lượng tự học, làm cho hoạt động tự học không đạt
được hiệu quả mong muốn Tổ chức kiểm tra, đánh giá kịp thời chất lượng
học tập của sinh viên là để nhằm khắc phục những nhược điểm rất có thể
xảy ra trong hoạt động tự học
Bên cạnh đó, trong thực tiễn đào tạo theo học chế tín chỉ ở một số
trường đại học, một số vấn đề chủ quan tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng học
tập của sinh viên cũng rất đáng được quan tâm như: Sinh viên thiếu tính tích
cực, tự giác trong học tập, chưa nhận thức đúng ý nghĩa của việc học tập, học
tập mang tính đối phó Trước thực trạng nêu trên, hoạt động kiểm tra, đánh giá
thường xuyên, bằng nhiều hình thức, kết hợp linh hoạt các biện pháp kiểm tra
trên cơ sở xác định yêu cầu cụ thể đến cá nhân sinh viên là hoạt động quan trọng
để kịp thời uốn nắn, điều chỉnh và nâng cao nhận thức cho sinh viên về hoạt
động tự học, đánh giá đúng thực chất kết quả học tập, động viên, khuyến khích
sinh viên tích cực, chủ động tự học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Quản lý nội dung giảng dạy, quy trình kiểm tra - đánh giá theo đúng
yêu cầu được xác định trong đề cương môn học là trách nhiệm của bộ máy
quản lý trong Nhà trường, là trách nhiệm của từng cán bộ giảng viên,
Trưởng Bộ môn, chủ nhiệm Khoa và được thực hiện trong sự kiểm tra giám
sát của các bộ phận quản lý chức năng, đặc biệt là hoạt động của Phòng
Thanh tra Pháp chế và hệ thống thanh tra đào tạo
Tiểu kết chương 1
Qua các vấn đề lý luận trên đây, chúng tôi nhận thấy việc tự học của sinh viên chính là một hình thức tổ chức dạy học ở bậc đại học - cao đẳng, trong đó phát huy cao nhất vai trò chủ thể, tích cực độc lập nhận thức của sinh viên nhưng không tách rời vai trò điều khiển của giảng viên Muốn có kết quả học tập cao đòi hỏi sinh viên phải có một quá trình rèn luyện thường xuyên các kỹ năng tự học Trong quá trình rèn luyện đó giáo viên giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng giáo dục, lựa chọn các biện pháp tác động nhằm hình thành ở sinh viên các kỹ năng tự học và biết giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng tự học Việc rèn luyện kỹ năng tự học của sinh viên được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ, khoa học với hoạt động dạy của giảng viên
và hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo, định hướng, tổ chức, dẫn dắt và điều chỉnh hoạt động tự học của sinh viên Quá trình dạy học phải biến thành quá trình tự học Tự học của sinh viên là yếu tố đảm bảo kết quả, chất lượng dạy học ở đại học, cao đẳng Đây cũng chính là quá trình dạy tự học mà các
trường đại học – cao đẳng đang quan tâm, nhất là kết hợp việc tự học truyền
thống với tự học chủ động theo tín chỉ là một hướng đi không phải dễ dàng,
nó cần thời gian và các yếu tố khác cấu thành thì mới đạt hiệu quả tốt
Trang 21Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
2.1 Quá trình hình thành và phát triển Trường Đại học An Giang
[6], (www.agu.edu.vn)
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1970, Trường được thành lập với tên Trường Sư phạm Long
Xuyên với vỏn vẹn 4 lớp và 260 giáo sinh
Sang đến năm 1976, Trường Cao đẳng Sư phạm An Giang được Bộ
Giáo dục cho thành lập, đến 1985 thì giao lại cho Tỉnh An Giang quản lý
Đến năm 1995, Tỉnh quyết định sát nhập hai trường Trung học Sư
phạm và Cao đẳng Sư phạm thành một, và lấy tên mới là Cao đẳng Sư phạm
An Giang đào tạo giáo viên nhiều ngành và nhiều hệ
Cuối năm 1999, Chính phủ đáp ứng đề nghị thiết tha của các tỉnh
Đồng bằng sông Cửu Long, nhằm từng bước cải tiến tình trạng xuống cấp
của giáo dục Việt Nam, và đỡ bớt gánh nặng của Đại học Cần Thơ trước áp
lực của hơn 40.000 học sinh tốt nghiệp trung học hàng năm tại Đồng bằng
sông Cửu Long, Chính phủ ký quyết định cho phép thành lập Trường Đại
học An Giang tháng 12 năm 1999
Tháng 01 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định cho phép
xây dựng Trường Đại Học An Giang trên khu đất 40 hecta với tổng kinh phí
đầu tư lên đến 35 triệu USD
Đại học An Giang được xem là trường Đại học trẻ ở khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long, và là trường Đại học công lập thứ hai được thành lập
ở khu vực này (sau Đại học Cần Thơ) vào thời điểm đó Trường Đại học An
Giang là cơ sở đào tạo công lập thuộc hệ thống các trường đại học Việt
Nam, Trường trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang và chịu sự quản lý
Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng với các Bộ, Ngành Trung ương trong phạm vi chức năng quyền hạn có liên quan
Ngoài việc đào tạo đại học, Trường còn tạo điều kiện cho cán bộ giảng viên trong Trường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng nguyện vọng của từng cá nhân, đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội và văn hoá của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 241/1999/QĐ-TTg ngày 30/12/1999 thành lập Trường Đại học An Giang với những chức năng, nhiệm vụ sau:
- Đào tạo cán bộ trình độ đại học và các trình độ thấp hơn, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận
- Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong vùng
2.1.3 Cơ cấu tổ chức (Phụ lục - Bảng 2.1, Tr.107) 2.1.4 Phân tích quy mô và chất lượng đào tạo của Trường
2.1.4.1 Quy mô đào tạo
Nhà trường có các bậc đào tạo: Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, Cao học với 2 hình thức: chính quy và không chính quy, tổng số có 45 ngành Tổng số sinh viên học viên của Nhà trường năm học 2008 - 2009 là:
- Hệ chính quy: 7.938
- Hệ không chính quy: 1.622 Ngoài hình thức đào tạo chính quy và không chính quy, Nhà trường còn tổ chức các hình thức đào tạo khác như văn bằng thứ hai, chuyên tu, từ
xa, vừa học vừa làm,… các khoá học ngắn hạn cấp chứng chỉ, các chương trình phối hợp đào tạo Với sự đa dạng về hình thức đào tạo như vậy, Nhà trường đã từng bước đáp ứng được nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực
Trang 222.1.4.2 Chất lượng và hiệu quả đào tạo
Việc tổ chức các hoạt động đào tạo được Nhà trường triển khai đúng
quy chế, với phương thức mềm dẻo, phát huy được tính tích cực của người
học, hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện Phương thức tổ chức
đào tạo và đánh giá chất lượng đào tạo luôn được Nhà trường quan tâm,
được đa dạng hoá phù hợp với đặc thù từng chuyên ngành đào tạo
Ngoài ra, các hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống,
phát triển Đảng trong sinh viên luôn được Nhà trường quan tâm Đảng ủy
Nhà trường đã xây dựng kế hoạch và tích cực triển khai hoạt động bồi
dưỡng, phát triển đảng viên là sinh viên Sinh viên, học viên của Trường có
nhận thức chính trị đúng đắn, có đạo đức và lối sống lành mạnh, tích cực
tham gia các hoạt động xã hội, tập thể Nổi bật là phong trào tình nguyện do
Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên tổ chức Hàng năm, có khoảng 250 sinh
viên tham gia lớp Cảm tình Đảng và khoảng gần 30 sinh viên được kết nạp
vào Đảng Năm học 2008 – 2009, toàn Trường có 132 sinh viên là đảng
viên Các hoạt động giáo dục về giá trị truyền thống, đạo đức cách mạng đã
được Nhà trường, các tổ chức Đoàn thể quan tâm thực hiện định kỳ trong
năm học và trong những ngày lễ lớn của dân tộc, ngày truyền thống của
Trường, Khoa, qua đó nâng cao ý thức, trách nhiệm đối với bản thân và xã
hội của người học Việc triển khai kịp thời Quy chế đánh giá kết quả rèn
luyện sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đem lại nhiều hiệu quả
cho công tác quản lý, giáo dục sinh viên (hàng năm có trên 80% sinh viên
đạt điểm rèn luyện từ khá trở lên) Nhà trường không chỉ đảm bảo tốt các
điều kiện trong quá trình học tập mà còn hướng đến các hoạt động định
hướng về việc làm, bổ trợ thêm các kỹ năng xã hội thông qua các hoạt động
về các diễn đàn nghề nghiệp - việc làm, hội chợ việc làm, tiếp xúc với doanh
nghiệp, các hoạt động hướng nghiệp
Kết quả học tập của khoá 31 hệ cao đẳng và khóa 6 hệ đại học (đào tạo theo niên chế) trong năm học 2008 - 2009 có 1.901/2.018 (đạt 95%) sinh viên tốt nghiệp ra Trường
Bảng 2.2 Kết quả tốt nghiệp của sinh viên hệ chính quy
(Nguồn: Phòng Đào tạo)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tỷ lệ sinh viên đạt loại Xuất sắc, Giỏi, Khá tăng lên trong từng năm học Tỷ lệ tốt nghiệp cũng tăng theo Cụ thể: + Năm 2004 – 2005: 749/1152, đạt 65%
Nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày càng có hiệu quả do được cải tiến về cách thức tổ chức với sự gia tăng vai trò của tổ chức Đoàn, Hội
và nhóm ngành Công tác nghiên cứu khoa học của Trường những năm qua
Trang 23luôn đạt hiệu quả kép: Vừa phục vụ yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế,
chính trị xã hội và văn hoá của đất nước; vừa phục vụ nâng cao chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành
Bảng 2.3 Kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên
2.1.5 Đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất sư phạm của Trường
2.1.5.1 Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
Tổng số cán bộ viên chức hiện đang làm việc tại Trường là 738 người
(nam: 48,5%; nữ: 51,5%) Số cán bộ giảng dạy là 415 người, trong đó có 01
Giáo sư và 01 Phó Giáo sư; số giảng viên có trình độ sau đại học là 200, có
192 cử nhân, cao đẳng và trình độ khác là 21 Ngoài ra, Nhà trường còn
cộng tác với hơn 50 cán bộ thỉnh giảng từ các trường đại học khác trong
vùng Đồng bằng sông Cửu Long, TP Hồ Chí Minh và các nơi khác
Lực lượng cán bộ của Trường ngày càng được trẻ hoá, đảm bảo được
yêu cầu về chuyên môn Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Trường có kinh
nghiệm cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học Hiện nay, cơ
bản Trường đã tương đối đảm bảo được tỉ lệ số giảng viên/số sinh viên quy
định (1/24), đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và trình độ chuyên môn đáp ứng
yêu cầu công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học
Công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Trường cũng được quan tâm,
đầu tư về thời gian và vật chất Hàng năm, Trường đều tổ chức đào tạo
nghiệp vụ từ đầu cho cán bộ mới được tuyển dụng cũng như tạo điều kiện để
cán bộ có thể học tập, nâng cao trình độ chuyên môn ở nước ngoài Nhà trường có cơ chế tạo điều kiện về thời gian và hỗ trợ về tài chính theo quy định của tỉnh cho cán bộ đi nghiên cứu, tham gia các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ ở nước ngoài theo phân công của Trường Trường đã xây dựng được đội ngũ cán bộ có đầy đủ phẩm chất, có khả năng sư phạm và năng lực quản lý, có đủ điều kiện trình độ về chuyên môn, tin học và ngoại ngữ, có khả năng thích ứng với sự chuyển đổi sang hình thức đào tạo mới
2.1.5.2 Cơ sở vật chất sư phạm của Trường
Nhà trường được giao quản lý, sử dựng diện tích đất (tính bằng ha): gần 50ha Nhà trường đã cố gắng tập trung quy hoạch theo hướng xây dựng mới, cải tạo các cơ sở đã xuống cấp, sắp xếp lại cơ sở làm việc, học tập nhằm tăng diện tích sử dụng, tăng cường đầu tư trang thiết bị cho Thư viện,
hệ thống phòng tư liệu, phòng thực hành, thực tập cho một số ngành học nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý, từng bước tin học hoá quản lý và đào tạo
Ngoài hệ thống Thư viện chung của Đại học An Giang, với nguồn tư liệu đa dạng, phong phú, được tin học hoá và hiện đại hoá, sinh viên Nhà trường còn được tìm kiếm tài liệu, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn tại các phòng tư liệu chuyên ngành, các trung tâm nghiên cứu, các phòng thực hành nghiệp vụ tại các đơn vị đào tạo trong Trường Sách và tài liệu trong Thư viện của Đại học An Giang, Phòng tư liệu của các đơn vị trong Trường nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại, thường xuyên được cập nhật, đầu tư Tổng số đầu sách trong các Thư viện của Trường, Khoa: hơn 10.000 đầu sách Hệ thống Thư viện được tin học hoá, thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu Với mục tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá các mặt hoạt động, trong những năm qua, Trường chú trọng vào việc hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo (hệ thống âm thanh, camera tại các giảng đường, với số lượng máy projector,
Trang 24overhead, video, LCD, phòng học chuẩn, phòng hội thảo, hội nghị, phòng
thực hành,…) Tổng số máy tính trong Trường gần 1.500, trong đó: Dùng
cho khối hành chính, văn phòng: 250; dùng cho sinh viên học tập: 1.250
Diện tích phục vụ đào tạo từng bước được cải thiện, góp phần đảm bảo chất
lượng đào tạo, tạo điều kiện cho người học có thể tiếp cận được nguồn tri
thức phong phú và luôn được cập nhật
2.2 Phân tích hoạt động của Khoa Sư phạm (www.agu.edu.vn)
2.2.1 Lịch sử phát triển và nhiệm vụ
Theo quyết định thành lập Trường Đại học An Giang của Thủ tướng
Chính phủ, Trường Cao đẳng An Giang được sát nhập và chuyển thành
Khoa Sư phạm của Trường Đại học An Giang kể từ năm học 2000 - 2001
Hiện nay, Khoa có tất cả 288 giảng viên, nhân viên; 10 bộ môn: Toán,
Vật Lý, Hoá học, Sinh vật, Ngữ văn, Sử - Địa, Tâm lý Giáo dục, Ngoại ngữ,
Mỹ thuật - Nữ công, Giáo dục - Mầm non
Khoa Sư phạm Trường Đại học An Giang có chức năng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên các ngành cho các bậc học, các ngành học: mẫu
giáo, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trong tỉnh An Giang
và các tỉnh lân cận: Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ
Trong năm học 2004 - 2005 đến nay, Khoa Sư phạm đảm nhận đào
tạo giáo viên các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông, với gần 5.000 lượt sinh viên/năm học
Vào ngành Sư phạm, sinh viên được cung cấp đầy đủ kiến thức các bộ
môn khoa học cơ bản liên quan trực tiếp đến ngành đào tạo và được huấn
luyện kỹ lưỡng về phương pháp giảng dạy, về nghiên cứu khoa học,
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ qui định chung, Khoa Sư phạm tập
trung vào nhiệm vụ trọng tâm là cải tiến phương pháp giảng dạy và nghiên
cứu khoa học
Tập thể cán bộ giảng dạy Khoa Sư phạm đã không ngừng tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho mình, cải tiến phương pháp dạy học và nghiên cứu khoa học Hàng năm khoa đều có tổ chức Hội thảo, Hội thi Nghiệp vụ Sư phạm trong sinh viên và cải tiến phương pháp giảng dạy Việc kết hợp giữa Khoa Sư phạm và các trường phổ thông ở trong tỉnh, đã tạo điều kiện tốt cho việc rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên ngành
có hiệu quả Trình độ của cán bộ giảng dạy tiếng Anh nâng cao rõ rệt
2.2.3 Hoạt động đào tạo
Hiện nay, Khoa Sư phạm đào tạo 3 bậc: Đại học, Cao đẳng và Trung học gồm 24 ngành, đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng giáo viên trong tỉnh
và các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang, 2 huyện Vĩnh Thạnh – Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ Khoa Sư phạm là đơn vị có thời gian đào tạo lâu năm nhất Trường cũng như tạo được hiệu ứng, lòng tin, uy tín trong nhân dân Sinh viên Khoa Sư phạm chủ yếu là sinh viên thuần nhất về bản chất, nghiệp
vụ, hoàn cảnh, điều kiện và có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, tay nghề tốt
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở
Trường Đại học An Giang (trong đó có khoa Sư phạm) trước xu thế đào tạo theo học chế tín chỉ
Quản lý hoạt động tự học được xem là một nội dung cơ bản của quản
lý Nhà trường Quản lý hoạt động tự học là quản lý các hoạt động học tập tích cực của người học và các điều kiện đảm bảo cho người học học tập tích cực,
Trang 25nhằm nâng cao hiệu quả học tập của người học và hiệu quả đào tạo của cơ sở
giáo dục Quản lý hoạt động tự học của sinh viên gồm các nội dung sau:
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học của sinh viên,
- Quản lý nội dung tự học của sinh viên,
- Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học cho sinh viên
Để tìm hiểu thực trạng việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên,
chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sinh viên, cán bộ quản lý và giảng viên
của Trường, dựa trên các kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu, qua đó có
được những thông tin và số liệu về thực trạng và hiệu quả quản lý đối với
hoạt động tự học của sinh viên
2.3.1 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên
2.3.1.1 Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học
Để nâng cao hiệu quả dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục - đào
tạo nói chung thì phải chú trọng nâng cao năng lực tự học cho sinh viên Tinh
thần của các Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) và Nghị quyết Trung ương
2 (khóa VIII) đã được thể chế hóa trong Luật giáo dục 2005 ở điều 36b như
sau: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng bồi dưỡng năng lực tự
học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo,
rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng"
Có được năng lực tự học mới có thể học suốt đời được Vì vậy, ở đại học,
quan trọng nhất là học cách học
Phương pháp giáo dục mới " lấy người học làm trung tâm" với mục
tiêu trang bị cho người học không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn cả
những kỹ năng, năng lực giao tiếp, khả năng phân tích, sáng tạo và có óc
phê phán, suy nghĩ độc lập Theo quan điểm "dạy học lấy người học làm
trung tâm", việc dạy học phải xuất phát từ người học, tức là phải xuất phát
từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học Những nhu cầu
học tập của sinh viên phản ánh những yêu cầu của xã hội nhưng có những
nét riêng Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm đầu tiên phải nhận thức đúng đối tượng người học trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, với những ưu điểm và nhược điểm, Có nghĩa là phải tiến hành việc học tập trên cơ sở có hiểu biết những năng lực đã có của sinh viên Phải để cho sinh viên hoạt động cả về thể chất và tinh thần chứ không để cho sinh viên bị động tiếp thu
mà đòi hỏi sinh viên phải tích cực suy nghĩ, tích cực hoạt động Phải động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để sinh viên thường xuyên tự kiểm tra,
tự đánh giá quá trình học tập của mình để không ngừng cải thiện phương pháp học tập dần dần tiến lên có được phương pháp tự học, tự đào tạo, tự giải quyết các vấn đề trong lý luận và thực tiễn một cách độc lập, sáng tạo, qua đó có được ý chí và năng lực tự học sáng tạo suốt đời
Theo khảo sát thực trạng về hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang cho kết quả như sau: Đa số sinh viên đều có nhận thức và hiểu biết về vai trò của hoạt động tự học
Bảng 2.4 Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học
(Theo kết quả khảo sát sinh viên Khoa Sư phạm)
Tuy nhiên ý thức tự học của sinh viên chưa cao, đó là do sinh viên thiếu tính tích cực, tự giác, có đến 67.5% sinh viên công nhận điều này là đúng Kết quả cho thấy sinh viên coi việc học tập là phương tiện chứ không phải mục đích như học lấy điểm cao, học để đạt học bổng, học để không
phải thi lại, học để đối phó, Có đến 59% sinh viên đều cho rằng tính chủ
động của sinh viên trong học tập còn thấp, có đến 61% số sinh viên không
có thói quen tự học, chuẩn bị bài trước khi lên lớp
Trang 26Học tập tích cực là quá trình tự biến đổi và làm phong phú bản thân
mình bằng cách chọn và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh Tính tích
cực, tự giác là điều cần phải có để sinh viên đạt được kết quả tốt trong học
tập nhưng đây lại là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong học tập của
sinh viên Trường Đại học An Giang, sinh viên chưa phát huy được tính tích
cực, tự giác trong các hoạt động học tập Đa số sinh viên học tập mang tính
thụ động Trong học tập, phần lớn sinh viên chưa chủ động phát biểu ý kiến
nếu giảng viên không yêu cầu sinh viên chỉ ghi chép làm theo lời thầy, theo
sách vở hướng dẫn, theo bài mẫu mà không tìm tòi, sáng tạo; chưa tích cực
học hỏi với thầy, học hỏi cùng bạn; chưa tích cực học nhóm Việc học nhóm
giúp sinh viên có thêm kỹ năng làm việc, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, trao
đổi kiến thức với bạn bè Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, yêu cầu
sinh viên phải có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, chủ động tìm tòi và học
nhóm để tăng thêm hiệu quả học tập
Một phương cách tự học thật sự tốt và bổ ích cho sinh viên nói riêng
đó là việc đọc sách Sách là nguồn thông tin rộng lớn vô cùng cho con
người, chứa đựng kho tàng tri thức đồ sộ, giúp con người cập nhật tri thức
nhanh và hiệu quả Khảo sát ngẫu nhiên một số sinh viên các trường về việc
đọc sách báo của họ, số đông đều lúng túng khẳng định là "có đọc", nhưng
chỉ đọc một số cuốn theo phong trào, và chỉ xem sách chuyên ngành khi bị
thúc bách về mặt bài vở, có sinh viên sắp ra trường vẫn chưa một lần đến
Thư viện Tình trạng "Đọc sách cũng còn phải tùy hứng” là tình trạng khá
phổ biến trong sinh viên Thường khi phải thuyết trình hoặc chuẩn bị cho kỳ
thi mới vào thư viện đọc sách Bình thường thì thật hiếm Hầu hết sinh viên
đều biết sách báo chứa đựng trong nó cả kho tàng tri thức, nhưng nhiều
người vẫn không lý giải được “bệnh lười đọc", cũng như những hiệu ứng kỳ
diệu mà sách mang lại trong thực tế cuộc sống Nên khi được hỏi về nhân tố
"gây bệnh", mỗi người có một cách trả lời Nhưng số đông sinh viên cho
rằng: cuộc sống hiện đại với đa dạng kênh thông tin thì xem ti vi, nghe đài,
lướt web, hấp dẫn hơn nhiều so với đọc sách
Nhìn chung, sinh viên chưa có thói quen ý thức về tự học mà vẫn học theo kiểu dối phó để thi cử, điều này dẫn đến chất lượng giảng dạy không cao (Theo số liệu khảo sát của báo Tuổi trẻ thì chỉ 30% trong số những sinh viên được hỏi có thái độ tích cực trong học tập, trong khi có đến 60% chọn giải pháp học đối phó) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, theo
ý kiến của nhiều sinh viên và giảng viên thì có thể bởi các yếu tố như sau: Thứ nhất, môi trường học tập ở bậc phổ thông khác xa với môi trường học tập ở bậc đại học Khi bước vào môi trường đại học, bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, đa phần sinh viên vẫn giữ thói quen học theo phương pháp truyền thống ở bậc học phổ thông (thầy đọc, trò chép), do đó tạo nên sức ỳ trong học tập, sinh viên chưa thích nghi được với cách học ở bậc đại học Thứ hai, đó là tâm lý e ngại, không tự tin của sinh viên, vì vậy trong giờ học sinh viên ít khi phát biểu, thể hiện quan điểm riêng của mình mà chỉ thụ động ngồi nghe và chép
Tóm lại, nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là công tự học của người học trò Tự học ở đây chỉ phần tích cực, chủ động, quyết đoán của người học Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy không phải không quan trọng
2.3.1.2 Những yếu tố tác động đến hoạt động tự học
Hội thảo về giáo dục của Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Anh có một sơ đồ nấc thang của hình tháp có ghi mức độ tiếp thu và nhớ được trong học tập
Kết quả nghiên cứu cho thấy: học mà chỉ nghe giảng, chỉ nhớ 50%
những gì đã nghe Đọc bài nhớ được 10% Nghe và nhìn cùng lúc nhớ được 20% Được xem làm thí nghiệm trước mắt sinh viên nhớ được 30% Thảo luận nhóm nhớ được 50% Thực hành bằng cách làm bài, ghi lại, viết lại nhớ
Trang 27được tới 75% Và nhớ được, nắm vững nhất là giảng giải lại cho người khác,
ứng dụng những gì được học ngay sau khi học là 90% (Tài liệu do Trung tâm
thực nghiệm về đào tạo quốc gia, đại học Maine - Mỹ công bố)
Khi người học tự tiếp thu kiến thức thì vai trò của người thầy (hướng
dẫn, tác động, ) là không thể thiếu Bản chất của tự học là tự làm việc với
chính mình trước, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn bè theo cách học với
nhóm và được thầy khơi gợi, hướng dẫn Tính hiệu quả của quá trình nhận
thức về hoạt động tự học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phương
pháp giảng dạy của giảng viên và cách kiểm tra đánh giá, chương trình học,
sự nỗ lực của người học và cơ sở vật chất của trường đại học Trong các yếu
tố này, phương pháp giảng dạy của giảng viên đóng vai trò quan trọng hàng
đầu trong việc định hướng ý thức tự học của sinh viên Phương pháp giảng
dạy sẽ có tác động tích cực nếu đi theo hướng khơi dậy và nuôi dưỡng tính
ham muốn học hỏi của sinh viên, tức giảng viên là phải nhắm đến mục tiêu
khai thác và phát huy nội lực của người học Lý luận giảng dạy đại học cho
rằng đó là phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm
Giảng viên không giảng theo lối độc thoại, mà cần giảng theo hướng gợi
mở, đặt câu hỏi để kích thích người học tư duy sáng tạo, hướng dẫn sinh
viên tích cực tham gia các buổi thảo luận, làm việc nhóm, xử lý các bài tập
tình huống Để thực hiện được phương pháp giảng dạy tích cực, giảng viên
phải bỏ ra nhiều công sức hơn, cả trí và lực Cụ thể:
- Giảng viên cần liên tục nghiên cứu, cập nhật các kiến thức mới vì chỉ
có vững vàng về chuyên môn thì giảng viên mới giải đáp thỏa đáng các câu
hỏi, thắc mắc của sinh viên, hướng dẫn sinh viên thực hiện các tiểu luận, đề
án, thảo luận về các vấn đề liên quan đến môn học và không xa rời thực tế
- Ngay buổi lên lớp đầu tiên của môn học, giảng viên cần giới thiệu
cho sinh viên biết đề cương của môn học bao gồm các nội dung như: mục
tiêu, nội dung, điều kiện tiên quyết, các tài liệu bắt buộc và tham khảo cho
từng chương mục, kế hoạch nghiên cứu, cách đánh giá quá trình học tập Làm thế, sinh viên sẽ nắm bắt được định hướng nghiên cứu ngay từ đầu, họ
sẽ không bị động mà có thể chủ động lên kế hoạch nghiên cứu một cách hòa hợp với các môn học khác
- Giảng viên cần có kỹ năng sử dụng tốt các phương tiện trợ giảng để làm buổi giảng sinh động hơn và gây hứng thú cho người học
- Giảng viên chủ động phát tài liệu bài giảng cho sinh viên, để sinh viên giảm bớt khâu ghi chép và dành thời gian cho các hoạt động nhận thức tích cực hơn Nếu không, sinh viên sẽ cắm cúi ghi chép và không nhập tâm các thông tin truyền đạt từ giảng viên, không còn thời gian để trao đổi, thảo luận
- Giảng viên chủ động tạo không khí lớp học thân thiện và thoải mái
để thu hẹp khoảng cách giữa giảng viên và sinh viên, giúp sinh viên tự tin tham gia trao đổi và thảo luận
Cách đánh giá kết quả học tập có quan hệ hữu cơ với phương pháp giảng dạy Nếu phương pháp giảng dạy đảm bảo tính tích cực và rèn luyện sinh viên khả năng tự học thì việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên đòi hỏi công sức và thời gian của giảng viên bỏ ra cũng nhiều hơn Chắc chắn giảng viên phải đánh giá sinh viên theo quá trình để ghi nhận sự nỗ lực học tập và tự nghiên cứu của sinh viên Việc đánh giá cần khách quan, chính xác
và luôn luôn theo hướng khuyến khích sinh viên học tập và tự nghiên cứu Giảng viên nên công bố tiêu chuẩn đánh giá cụ thể để sinh viên phấn đấu Chương trình học cũng có tác động rất nhiều đến phương pháp giảng dạy của giảng viên, qua đó tác động đến quá trình nhận thức của sinh viên, tác động đến cách sinh viên học thế nào, thụ động hay chủ động tự học Phương pháp giảng dạy tích cực như đề cập ở trên, tạo điều kiện cho sinh viên chủ động tự học, chỉ có thể thực hiện hiệu quả nếu chương trình học được thiết kế theo hướng gọn nhẹ, chú trọng kiến thức nền tảng
Trang 28Phương pháp giảng dạy tích cực đòi hỏi người học cũng phải nỗ lực
không ngừng Giảng viên tạo không khí học thoải mái, tận tình hướng dẫn
sinh viên chiếm lĩnh kiến thức theo chương trình đã được thiết kế đặc thù
riêng của môn học Phần nỗ lực tự học của sinh viên là vế quan trọng thứ hai
của quá trình đào tạo - dạy và học - ở đại học Theo hướng dẫn chủ đạo của
giảng viên, sinh viên luôn được yêu cầu sưu tầm tài liệu, xử lý thông tin từ
các tài liệu bằng cách phân tích, tổng hợp, đánh giá và giải quyết các vấn đề
liên quan đến nghề nghiệp tương lai Học như vậy, chắc chắn sinh viên sẽ
phát triển được năng lực tư duy phê phán khoa học, giải quyết tốt các vấn đề
phát sinh trong thực tiễn cuộc sống Thực tế cho thấy, sinh viên học được rất
nhiều từ các bài tập nhóm, các bài tiểu luận và các buổi thảo luận, bởi vì để
có được một bài tiểu luận tốt chắc chắn sinh viên phải nghiên cứu từ nhiều
nguồn tài liệu khác nhau và sẽ nhập tâm kiến thức sâu hơn
Phương pháp giảng dạy tích cực, tăng cường khả năng tự học của sinh
viên thành công hay không phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất của trường
đại học Cơ sở vật chất thể hiện ở số lượng và chất lượng phòng học, trang
thiết bị phòng học và phương tiện hỗ trợ giảng dạy, phòng thực hành, phòng
máy tính kết nối Internet, thư viện và các tiện ích khác hỗ trợ đời sống sinh
viên Một trường với các phương tiện giảng dạy và học tập hiện đại, thư
viện phong phú với nhiều đầu sách sẽ hỗ trợ nhiều trong quá trình tự học
Mỗi chúng ta ai cũng phải có suy nghĩ về việc tự học như thế nào là
hiệu quả nhất cho mình, nhưng chung quy lại việc tự học của chúng ta đều
phụ thuộc vào yếu tố chung nhất đó là tinh thần tự giác Sinh viên có tinh
thần học đến đâu, quyết tâm cao đến đâu, thì yếu tố thúc đẩy từ ngoại cảnh
cũng chỉ là phụ, chủ yếu dựa vào chính sự vận động của sinh viên
2.3.1.3 Nhận đinh chung
Xuất phát từ nhận thức "đại học là tự học", việc đọc sách được xem là
nhiệm vụ trọng yếu của sinh viên, giúp sinh viên nắm được những tri thức
khoa học phục vụ cho môn học của mình Bởi vậy, ngoài các buổi học trên lớp, sinh viên cần phải tranh thủ thời gian để đọc sách Đề cập đến tầm quan trọng của việc đọc sách, trong sách Luận ngữ - Dương hóa, Khổng Tử,
người thầy dạy học đầu tiên của Trung Quốc đã khẳng định: "Các trò sao không đọc Thi? Thi có thể làm cho ta phấn khởi, có thể giúp ta mở rộng tầm nhìn, có thể làm cho mọi người đoàn kết với nhau, có thể làm cho ta biết oán giận Gần thì có thể vận dụng để thờ cha, xa thì thờ Vua Lại biết được nhiều tên chim muông cây cỏ” Tuy nhiên, qua tìm hiểu, khảo sát thực tế của
một số nhà nghiên cứu và một số cơ quan thông tấn báo chí, chúng ta thấy vẫn tồn tại một thực trạng khá phổ biến trong sinh viên đó là "Bệnh lười
đọc”, "Lười đọc " là lời tự thú của nhiều sinh viên thời hiện đại
Nhìn chung, sinh viên của Trường chưa nhận thức rõ và có động cơ đúng đắn về hoạt động tự học Sinh viên còn lười học, thiếu ý thức, tự giác trong học tập Sinh viên học theo hình thức đối phó, như học để thi, để có điểm cho qua còn rất phổ biến, điều này dẫn đến khả năng tiếp thu kiến thức không sâu Tiếp theo, sinh viên chưa có hứng thú về tự học, tự nghiên cứu, sinh viên học tập còn quá thụ động, phụ thuộc nhiều vào bài giảng của thầy Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, có thể thấy do phần lớn sinh viên khi chuyển từ môi trường phổ thông sang chưa có khả năng để thích ứng với môi trường học tập mới (đại học) - môi trường đòi hỏi sinh viên phải tự học và tự nghiên cứu rất nhiều Do sinh viên chưa có kỹ năng tự học nên chưa biết lựa chọn phương pháp học tập phù hợp cũng như những kỹ năng cơ bản nên chưa chủ động trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập Chính những nguyên nhân này mà kết quả học tập của sinh viên chưa được cao Ngoài ra, hoạt động tự học của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động khác nữa, ví dụ như ý thức của người học, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá của giảng viên, các điều kiện phục vụ cho hoạt động tự học và công tác quản lý đào tạo của Nhà trường
Trang 292.3.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên
trước xu thế đào tạo theo học chế tín chỉ
2.3.2.1 Mục tiêu và các cấp độ quản lý
Tự học là hoạt động của con người chuyên hướng vào việc lĩnh hội
những tri thức khoa học và các kỹ năng, kỹ xảo, thái độ tương ứng đối với
những tri thức đó Tự học là hoạt động do chính bản thân người học quyết
định và thực hiện một cách tự giác, tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo
để đạt được mục tiêu đề ra Quá trình này sẽ không đạt được hiệu quả nếu
người học là khách thể bị động của những tác động sư phạm
Nhận thức sâu sắc về vai trò của tự học, Trường Đại học An Giang đã
quan tâm tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao năng lực tự học của sinh viên,
với mong muốn sao cho sinh viên của Nhà trường có khả năng tự học và học
tập suốt đời nhằm tự nâng cao năng lực cá nhân và đạt được thành công
trong hoạt động chuyên môn; có kỹ năng tự tìm kiếm thông tin và kiến thức
liên quan đến hoạt động chuyên môn; chủ động và linh hoạt trong việc thích
ứng với những thay đổi của môi trường làm việc cũng như cuộc sống Qua
đó nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo của Nhà trường, từng bước đáp
ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, phục vụ đắc lực công cuộc
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Để triển khai việc tăng cường hoạt động hướng dẫn và đánh giá quá
trình học tập, đặc biệt là nhiệm vụ tự học của sinh viên, Nhà trường cần đề
ra mục tiêu với các hoạt động chính như sau:
- Biên soạn "Tài liệu hướng dẫn sinh viên tự học môn học" Nội dung
tài liệu được phát triển trong phần "Lịch trình giảng dạy" trong đề cương
môn học đã ban hành với mục tiêu làm rõ cho sinh viên các yêu cầu cần đạt
được của mỗi nội dung, bài, chương của môn học và những chỉ dẫn cho sinh
viên trong tự học (khai thác và sử dụng học liệu, các lưu ý khi giải quyết các
nhiệm vụ học tập giảng viên đã nêu)
- Đổi mới kiểm tra - đánh giá thường xuyên gắn với việc đánh giá nội dung tự học của sinh viên Mức độ và tần suất kiểm tra do giảng viên quyết định sao cho phù hợp với tiến trình giảng dạy và quy môn lớp học, song cương quyết khắc phục tình trạng kiểm tra - đánh giá thường xuyên chỉ căn
cứ vào việc điểm danh sinh viên có mặt trên lớp
Quản lý hoạt động tự học là việc không hề đơn giản, đòi hỏi phải có
sự quan tâm của toàn xã hội, ở nhiều góc độ khác nhau Với vai trò là người hướng dẫn, quản lý và theo dõi, Trường đã có những biện pháp cụ thể để tạo điều kiện cho hoạt động tự học được diễn ra theo đúng mục tiêu, Nhà trường xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện, tiến hành phân cấp nhiệm vụ gắn với trách nhiệm của các đơn vị trong công tác quản lý đào tạo, việc phân cấp quản lý vừa đảm bảo tính tập trung vừa giao quyền tự chủ cho các khoa Để đảm bảo thống nhất giữa tập trung và quyền tự chủ của các đơn vị, Trường chú trọng xây dựng hệ thống quy định cụ thể hoá các quy chế, phù hợp với
cơ cấu tổ chức và cơ chế phân cấp của Nhà trường Trường đã phân ra làm 3 cấp độ quản lý gắn trách nhiệm cụ thể như sau:
+ Cấp Trường (Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo và các phòng ban)
- Lập kế hoạch giảng dạy chung trong toàn Trường và hướng dẫn thực hiện kế hoạch giảng dạy của các đơn vị;
- Tổ chức điều hành các khâu giảng dạy và học tập theo phân cấp;
- Phối hợp với các phòng ban liên quan tổ chức các kỳ kiểm tra, thi theo quy định học vụ;
- Thu thập phản hồi của giảng viên và sinh viên về hoạt động giảng dạy và học tập cũng như công tác phục vụ hoạt động giảng dạy và học tập;
- Tổ chức phân chuyên ngành cho sinh viên theo yêu cầu của mỗi chương trình đào tạo;
- Hướng dẫn nghiệp vụ công tác cho đội ngũ cố vấn học tập;
Trang 30- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy chế đào tạo và các quy định
khác về công tác giảng dạy để kịp thời đề xuất những vấn đề cần thiết phải
điều chỉnh hoặc bổ sung
+ Cấp Khoa
- Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng giảng dạy của đơn vị trong
từng học kỳ và cả năm học Mục tiêu của kế hoạch phải bám sát vào mục
tiêu đào tạo của ngành và những phản hồi từ giảng viên, cựu sinh viên và
người sử dụng lao động
- Phân công trách nhiệm cụ thể cho bộ môn, cố vấn học tập,
+ Cấp Bộ môn:
Tổ chức phân công giảng viên giảng dạy
- Quản lý giờ giảng của giảng viên, tiến trình giảng dạy môn học
- Tổ chức chấm thi kết thúc môn học theo lịch của Nhà trường
- Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ: Cập nhật và phê duyệt đề cương
môn học, quy trình dạy - học và kiểm tra - đánh giá,
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho giảng
viên tập sự, trợ giảng
Nhìn chung, các đơn vị đã triển khai, thực hiện đầy đủ, thường
xuyên ở một số nội dung quản lý, giữa các đơn vị có sự phối hợp thực
hiện nhiệm vụ Tuy nhiên, khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo mới
này, việc triển khai các nhiệm vụ của một số đơn vị còn chậm, đôi khi
còn lúng túng, thiếu nhất quán
2.3.2.2 Cơ chế tổ chức quản lý hoạt động tự học
Để thực hiện quản lý hoạt động đào tạo của Nhà trường nói chung
cũng như quản lý hoạt động tự học của sinh viên nói riêng, Nhà trường thực
hiện cơ chế quản lý như sau:
* Nhà trường:
Các kế hoạch, hoạt động dạy - học của Nhà trường được Ban Giám hiệu giao cho phòng Đào tạo quản lý được sự quản lý trực tiếp của Phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo Trên cơ sở đó, phòng Đào tạo có nhiệm vụ thực hiện, quản lý làm đầu mối điều hành chung Nhà trường có trách nhiệm sau:
- Có chính sách hỗ trợ về tài chính cho những giảng viên tích cực triển khai nhiệm vụ đề ra và cụ thể hóa các nhiệm vụ này trong việc đánh giá, xếp loại thi đua
- Các bộ phận chức năng tập trung hỗ trợ giảng viên các phần việc như
"Bộ công cụ” để giảng viên tự lấy ý kiến phản hồi của sinh viên trong quá trình giảng dạy; điều kiện thực hiện tư vấn môn học (giảng đường, lập blog môn học của giảng viên); Số hóa các học liệu chưa xuất bản để giảng viên, sinh viên sử dụng; tăng cường tìm kiếm và phổ biến các tài liệu liên quan đến
tổ chức đào tạo, phương pháp giảng dạy, kiểm tra - đánh giá cho phù hợp
- Phòng Thanh tra Pháp chế Trường, Tổ thanh tra đào tạo các đơn vị tăng cường kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của công tác giảng dạy trong năm học
- Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng đổi mới việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên, giảng viên về công tác giảng dạy để kịp thời xử lý thông tin, phục vụ hiệu quả hơn
- Phòng Công tác Sinh viên cùng các đoàn thể tổ chức các hoạt động
hỗ trợ sinh viên nâng cao năng lực tự học; tuyên truyền để sinh viên hiểu rõ nhiệm vụ trọng tâm của giảng viên trong công tác giảng dạy, qua đó sinh viên tự tin, chủ động hơn trong việc tham gia vào các công việc liên quan
* Các Khoa:
Theo quy định của Nhà trường, Khoa có các nhiệm vụ sau:
- Quản lý nội dung giảng dạy môn học thông qua việc giảng viên sử dụng đề cương môn học trong giảng dạy
Trang 31- Quản lý công tác kiểm tra - đánh giá, được thực hiện thống nhất trên
cơ sở đề cương môn học và quản lý đề thi, qua đó đảm bảo việc dạy - học
theo đúng chương trình đã ban hành Việc đánh giá chất lượng giảng dạy sẽ
dựa trên cơ sở quản lý đồng bộ nội dung giảng dạy và kiểm tra - đánh giá
* Bộ môn:
Bộ môn thuộc Khoa là đơn vị vừa có chức năng đào tạo vừa có chức
năng hoạt động khoa học, hoạt động theo quy chế về bộ môn do Hiệu trưởng
quy đinh Bộ môn có nhiệm vụ sau đây:
- Chủ trì việc xây dựng đề cương môn học, kế hoạch giảng dạy môn học
- Quản lý chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên
2.3.2.3 Các nội dung quản lý đã thực hiện
Quy chế đào tạo theo phương thức đào tạo học chế tín chỉ của Bộ
Giáo dục và Đào tạo và của Trường Đại học An Giang khi áp dụng vào thực
tế vẫn còn có những điểm chưa cụ thể, hoặc chưa phù hợp, Nhà trường đã
chủ động xây dựng các văn bản hướng dẫn nhằm cụ thể hoá các điều khoản
cho phù hợp với điều kiện thực tế của Trường Trường đã ban hành nhiều
văn bản quy định cần thiết cho việc triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ
như Quy định đào tạo theo tín chỉ ở Trường Đại học An Giang, Sổ tay sinh
viên, Sổ tay giảng viên, Sổ tay cố vấn học tập, Các văn bản này luôn được
chỉnh sửa trên cơ sở góp ý của cán bộ giảng viên, sinh viên từ những bất cập
xảy ra trong thực tiễn triển khai công tác đào tạo theo tín chỉ [6]
Để đáp ứng nhu cầu tự học của sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ,
việc xây dựng hệ thống học liệu cho từng môn học là một nhu cầu cấp bách
Trong thời gian qua, hầu hết các hợp đồng biên soạn giáo trình, bài giảng,
dịch tài liệu do các đơn vị đề xuất đều được ký kết Xác định việc hình thành
bộ học liệu của từng môn học như trong quy định việc xây dựng quy trình
dạy - học và kiểm tra đánh giá là việc cần thiết
Để chuẩn bị và giúp sinh viên thích ứng với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, ngoài việc tuyên truyền, tập huấn trực tiếp cho sinh viên, Trường còn tích cực xây dựng đội ngũ cố vấn học tập Xác định đây là chỗ dựa tin cậy của sinh viên trong việc nắm bắt quy chế đào tạo và thực hiện các yêu cầu của đào tạo theo tín chỉ
- Đối với sinh viên, ngay từ đầu khoá học đã được tham gia các lớp học định hướng, được giới thiệu về chương trình đào tạo, được tư vấn về cách thức, phương pháp học tập phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ, được tập huấn sử dụng Internet Mỗi sinh viên được cấp một tài khoản
và Sổ tay sinh viên
- Đối với giảng viên, Nhà trường đã tổ chức quán triệt và yêu cầu giáo viên thực hiện những công việc như: đảm bảo quy trình giảng dạy (cung cấp
đề cương môn học cho sinh viên, hướng dẫn sinh viên chuẩn bị bài theo đề cương môn học, chia nhóm học tập, chỉ dẫn những việc cần làm tại các giờ
tự học Đặc biệt phải thực hiện công tác tư vấn môn học cho sinh viên, ) Về
cơ bản các giảng viên đã giảng dạy theo sát nội dung, lịch trình có trong đề cương môn học Việc giảng dạy theo đề cương môn học đã tạo thuận lợi cho nhiều giảng viên chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy, làm việc trên lớp ít hơn, sinh viên phải làm việc nhiều hơn, tự học nhiều học và chủ động trao đổi với giảng viên hơn Hàng năm, Trường đều tổ chức Hội nghị giảng viên nhằm trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, qua Hội nghị rất nhiều vấn đề được đặt ra để xem xét như làm thế nào để hiện thực hoá đề cương môn học, những điểm bất cập của đề cương môn học, cách thức tổ chức các giờ thảo luận, tự học, giờ tư vấn cho sinh viên, phương thức kiểm tra đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ,
- Tổ chức dự giờ và lấy ý kiến đánh giá của sinh viên đối với việc giảng dạy của giảng viên cũng được Trường tổ chức thường xuyên