1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Làng bản cổ truyền của dân tộc tày ở huyện võ nhai thái nguyên

64 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành một cách có hệ thống, các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cơ chế chính sách p

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN VĂN QUYỀN

LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TÀY

Ở HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÁI NGUYÊN - NĂM 2010

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN VĂN QUYỀN

LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TÀY

Ở HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Trang 2

Lêi c¶m ¬n

Tác giả luận văn xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới người hướng dẫn

khoa học là PGS TS Đàm Thị Uyên Người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ

trong suốt thời gian qua để tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử-

Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo - nhà dân tộc

học Hoàng Hoa Toàn Người đã đóng góp những ý kiến rất quý báu và bổ ích

cho tác giả trong qua trình tiến hành luận văn

Tác giả cũng xin cảm ơn Thư viện trường Đại học sư phạm Thái

Nguyên, Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các phòng ban

chuyên môn của huyện Võ Nhai; Sở Văn hoá thông tin tỉnh Thái Nguyên;

Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, … đã góp phần cung cấp thông tin

giúp tác giả hoàn thành luận văn

Cuối cùng tác giả xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp, là anh Nông Ngọc

Toản giáo viên trường THPT Võ Nhai, anh Nông Ngọc Châu bí thư đoàn xã

Vũ Chấn cùng đông đảo bạn bè và đặc biệt là gia đình, người thân đã quan

tâm, động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận

văn này

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2010

Tác giả

TRẦN VĂN QUYỀN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài. 10

3.1 Mục đích 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu. 11

3.3 Phạm vi nghiên cứu 11

3.4 Nội dung nghiên cứu của đề tài 11

4 Nguồn tư liệu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của đề tài 12

7 Cấu trúc của đề tài 13

CHƯƠNG 1 15

KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN 15

1.1 Lịch sử hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 15

1.2 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 16

1.2.1 Vị trí địa lý 16

1.2.2 Điều kiện tự nhiên 17

1.3 Khái quát về kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai 21

1.4 Dân cư và các dân tộc trên địa bàn huyện 23

1.4.1 Dân cư 23

1.4.2 Các dân tộc ở Võ Nhai 25

CHƯƠNG 2 29

LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI TÀY 29

Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN 29

2.1 Tên gọi và không gian sinh tồn 29

Trang 3

5

2.1.1 Tên gọi và nguồn gốc tên gọi của làng bản 29

2.1.2 Không gian sinh tồn 37

2.2 Cơ cấu tổ chức 56

2.2.1 Các tổ chức quản trị 56

2.2.2 Tổ chức dòng họ 62

2.2.3 Các tổ chức có tính chất xã hội 66

2.2.4 Kiến trúc công cộng và các hoạt động cộng đồng 70

2.3 Những đặc trưng và vai trò của làng bản trong lịch sử 79

2.3.1 Tính chất đặc trưng của làng bản cổ truyền của người Tày ở Võ Nhai 79

2.3.2 Vai trò của làng bản 80

CHƯƠNG 3 85

NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA LÀNG BẢN NGƯỜI TÀY Ở VÕ NHAI 85

TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN NAY 85

3.1 Nguyên nhân biến đổi 85

3.2 Diễn biến và những biểu hiện 86

3.2.1 Những biến đổi về không gian sinh tồn 86

3.2.2 Những biến đổi trong nền kinh tế 94

3.2.3 Sự biến đổi trong cơ cấu tổ chức 99

3.3 Một vài kiến nghị 104

PHẦN KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI CUNG CẤP THÔNG TIN 109

PHỤ LỤC ẢNH 115

6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ

với nhau Đó là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” trong triết học

Nghiên cứu lịch sử một địa phương, một tộc người sẽ góp phần quan trọng làm sáng tỏ bức tranh vốn đã rất phong phú và phức tạp của lịch sử dân tộc Việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức của làng xã cổ truyền là chiếc chìa khoá

để tìm hiểu và lý giải tất cả sự phong, phú rộng lớn và bao quát của vấn đề làng xã Làng xã trong tiến trình lịch sử Việt Nam có vai trò hết sức to lớn mà chúng ta không thể phủ nhận Nghiên cứu làng xã, chúng ta sẽ làm sáng tỏ nhiều vấn đề của lịch sử dân tộc cũng như những truyền thống, phẩm chất của con người Việt Nam nói chung

Vấn đề nghiên cứu làng xã cổ truyền Việt Nam càng trở nên bức thiết và

có ý nghĩa hơn khi hiện nay vấn đề: Nông nghiệp – nông dân – nông thôn ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta Đảng đề

ra mục tiêu là phải đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở Loại bỏ những gì, giữ lại và phát huy những gì là vấn đề có tính nguyên tắc trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi chúng ta

có những hiểu biết sâu sắc qua sự nghiên cứu nghiêm túc về làng xã cổ truyền

Tầm quan trọng rất lớn của vấn đề về cả lý luận và thực tiễn là như vậy nhưng những nghiên cứu về làng xã Việt Nam hiện nay mới chỉ là bước đầu, còn đơn sơ và chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức cũng như thực tiễn Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt

Nam khoá X ngày 5/8/2008 đã chỉ ra “Nhận thức về vị trí, vai trò của nông

Trang 4

nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành

một cách có hệ thống, các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông

dân, nông thôn; cơ chế chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ,

thiếu tính đột phá, một số chủ trương chính sách không hợp lý, thiếu tính khả

thi nhưng chậm điều chỉnh, bổ sung kịp thời…”

Trong bối cảnh đó, việc đi sâu nghiên cứu nhằm nâng cao nhận thức của

chúng ta về vấn đề làng xã Việt Nam cổ truyền và hiện đại có ý nghĩa rất lớn

trước khi đưa ra và thực hiện có hiệu quả những chính sách phát triển nông

nghiệp - nông thôn – nông dân

Nghiên cứu những vấn đề làng bản cổ truyền của các dân tộc thiểu số

cũng có ý nghĩa không kém phần quan trọng vì đồng bào các dân tộc thiểu số

là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam

Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, đồng bào các dân tộc

nơi đây đã có những đóng góp rất lớn cho cách mạng trong lịch sử Đến nay,

điều kiện kinh tế vật chất và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc

trong Huyện còn ở mức thấp Trong các dân tộc thiểu số ở đây, người Tày có

số lượng lớn nhất và có quá trình định cư lâu dài nhất

Việc nghiên cứu làng bản cổ truyền của người Tày sẽ góp một phần rất

quan trọng vào việc tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về lịch sử xây dựng và

phát triển của vùng đất Võ Nhai Kết quả nghiên cứu còn góp thêm cơ sở

khoa học cho chính quyền địa phương các cấp trong việc đề ra và thực hiện

những chính sách và biện pháp đúng đắn nhằm nâng cao đời sống vật chất và

văn hoá cũng như nhằm bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của

người Tày nói riêng và nhân dân các dân tộc trong huyện Võ Nhai nói chung

Xuất phát từ bối cảnh và lý do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề

“Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Do tầm quan trọng và rộng lớn của vấn đề mà đề tài làng xã Việt Nam nói chung đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học

ở cả trong và ngoài nước trong những giai đoạn gần đây

Tuy nhiên, trong lịch sử, nhất là thời kỳ phong kiến và trước đó, vấn đề

làng xã rất ít được “đoái hoài” đến Lịch sử trong giai đoạn đó chỉ là lịch sử

của giai cấp thống trị và của những nhân vật kiệt xuất các nhà sử học phong kiến rất ít khi có những ghi chép về nông thôn, làng xã Chúng ta chỉ có thể góp nhặt được những ghi chép ít ỏi về làng xã trong một số bộ sử và địa chí

thời phong kiến nước ta như: Đại Việt thông sử, Dư địa chí, Đại Nam thực

lục, Đại Nam nhất thống chí, Đồng khách dư địa chí,… Trong đó, tác phẩm

“Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ là có giá trị tư liệu hơn cả

Từ thế kỷ thứ XVI – XVII trở đi, làng việt là đối tượng điều tra nghiên cứu của các thương nhân và giáo sĩ phương Tây Mục đích lớn nhất của họ là phục vụ cho công cuộc xâm lược và đô hộ Việt Nam Vì vậy, những nghiên cứu đó chưa được hệ thống và khách quan Tất nhiên, đây cũng là nguồn tư liệu không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu làng xã cổ truyền

Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, việc nghiên cứu làng Việt được mở rộng hơn trước Một số tác giả người Pháp đã có những tác phẩm chuyên khảo về làng Việt Nhưng, cách nhìn nhận và lý giải của họ vẫn không được khách quan Lúc này đã có một số tác giả người Việt tham gia nghiên cứu,

tiêu biểu nhất là Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục, Nguyễn Văn Huyên

với một số chuyên khảo bằng tiếng Pháp

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong vùng kiểm soát của thực dân Pháp và sau đó là chính quyền Ngụy Sài Gòn, ở miền Nam có một

số tác phẩm tiêu biểu như: Kinh tế làng xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc (Hà

Trang 5

Cuốn sách đầu tiên nghiên cứu làng xã Việt Nam theo quan điểm macxit

là cuốn “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (tức Trường Chinh và

Võ Nguyên Giáp) do Đức Cường xuất bản năm 1937 Vấn đề làng xã chỉ thực

sự được giới sử học Việt Nam ở miền Bắc đặc biệt quan tâm nghiên cứu kể từ

sau Cải cách ruộng đất và phong trào tập thể hoá ở nông thôn Trong đó, cuốn

sách nghiên cứu về làng xã Việt được coi là cơ bản và sâu sắc nhất tính đến

trước đổi mới là cuốn “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ” của

tác giả Trần Từ, (Hà Nội 1984)

Từ khi đổi mới đến nay là thời kỳ nở rộ của những công trình nghiên cứu

về làng xã, điều này được biểu hiện ở:

- Sự ra đời của rất nhiều những đầu sách, những công trình nghiên cứu

về làng xã Việt Nam của những học giả cả trong và ngoài nước

- Có khá nhiều chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu như: Nguyễn Từ Chi,

Nguyễn Hải Kế, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc,…

- Ngày càng nhiều những học viên, nghiên cứu sinh ở cả trong và ngoài

nước chọn làng xã là đối tượng học tập, nghiên cứu của họ

Mặc dù có những mục đích và quan niệm không giống nhau nhưng các

nhà nghiên cứu đã cung cấp thêm những tư liệu mới, đưa ra những nhận định

mới, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức về làng xã Việt Nam truyền

thống và hiện đại Tuy nhiên, đó mới chỉ được coi là những thành quả bước đầu

Nhưng một thực tế mà khi tìm hiểu chúng tôi thấy, đó là chưa hề có

chuyên đề hay những công trình đi sâu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức làng bản

của các dân tộc thiểu số ở nước ta, trong khi làng xã cổ truyền của người Việt

ở đồng bằng Bắc bộ lại được rất nhiều các học giả quan tâm Có thể nói đây là

một mảng tối trong việc nghiên cứu đề tài làng xã cổ truyền

Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta là bộ phận không thể tách rời

của dân tộc Việt Nam Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn

đề đại đoàn kết dân tộc Tất cả những chính sách về dân tộc thiểu số của Đảng

ta đều xoay quanh 3 nguyên tắc: Đoàn kết, Bình đẳng, Tương trợ, nhằm làm sao từng bước vững chắc nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của đồng bào, làm sao cho miền núi tiến kịp miền xuôi Đồng bào các dân tộc thiểu số tiến kịp với trình độ phát triển của người Kinh Vì vậy, việc nghiên cứu làng bản của người dân tộc thiểu số cũng có ý nghĩa quan trọng không kém vấn đề làng xã cổ truyền của người Việt

Những nhà dân tộc học hàng đầu ở nước ta như: Nguyễn Văn Huyên, Bế Viết Đẳng, Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Tấn Quỳnh, Đặng Văn lung, Hoàng Nam, Phan Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn,… đã dày công nghiên cứu một cách toàn diện về nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam Những nghiên cứu của

họ thường miêu tả khái quát văn hoá các tộc người Trong đó, cơ cấu tổ chức làng bản của các dân tộc chỉ được họ đề cập đến như một khía cạnh, chưa phải đi sâu nghiên cứu mang tính chất chuyên đề Những nghiên cứu về dân tộc Tày cũng vậy

Đặc biệt, vấn đề “ Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai

tỉnh Thái Nguyên” chưa có ai nghiên cứu và công bố Chính vì vậy, đề tài

nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề này Những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước sẽ là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để chúng tôi tham khảo, học tập cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 6

Cụ thể hơn, tác giả mong muốn làm phong phú hơn những hiểu biết của

khoa học về bản sắc văn hoá của dân tộc Tày vốn đã có nhiều nét đặc trưng

trong đời sống vật chất, văn hoá tinh thần và tổ chức xã hội

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhận thức rõ hơn một cơ cấu

xã hội truyền thống, lâu đời của miền núi nước ta Qua đó, tác giả đề tài mong

muốn đóng góp vào quá trình xây dựng nông thôn mới, làng bản văn hoá ở

vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh

Thái Nguyên nói riêng trong cuộc sống xã hội hiện đại

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu kết cấu làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở

huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Kết cấu tổ chức đó bao gồm các loại hình

tổ chức và các hình thức tập hợp người, các quy chế vận hành của nó Đề tài

cũng nghiên cứu những ảnh hưởng của kết cấu tổ chức đó lên đời sống vật

chất, tâm lý và truyền thống của người Tày ở nơi đây

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu quá trình ra đời, phát triển và biến

đổi của làng bản người Tày ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên theo diễn tiến

của lịch sử

Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu làng bản của dân tộc Tày trên địa

giới huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngày nay (tập trung vào các xã phía

Bắc, nơi có người Tày cư trú với tỷ lệ cao)

3.4 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Khái quát về huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên: Vị trí địa lý, điều kiện tự

nhiên, dân số, các thành phần dân tộc, lịch sử hành chính của huyện…

Kết cấu tổ chức làng bản của dân tộc Tày, ảnh hưởng của kết cấu đó lên

hoạt động kinh tế, đời sống vật chất, tinh thần và những truyền thống trong

đời sống văn hoá của họ; so sánh với làng Việt truyền thống và một số dân tộc khác

Nêu lên những nét đặc trưng cổ truyền trong văn hoá làng bản của đồng bào

4 Nguồn tư liệu

Đề tài làng xã cổ truyền nói chung và làng bản cổ truyền của người dân tộc thiểu số nói riêng hầu như không được bất kỳ một cuốn chính sử của một vương triều phong kiến nào đề cập đến Tuy nhiên, khi tham khảo kỹ một số

bộ sử cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,… chúng tôi cũng đã

tìm được một số thông tin liên quan nhằm phục vụ cho đề tài của mình

Chúng tôi cũng tiếp cận được với khá nhiều các tác phẩm, tài liệu, kỷ yếu, đề tài nghiên cứu, các chuyên khảo hoặc có liên quan đến làng xã cổ truyền và các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là về dân tộc Tày

Hệ thống văn bản về chính sách đối với các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền cũng rất quan trọng với đề tài này

Đặc biệt quan trọng hơn cả là tư liệu điền dã, khảo sát thực địa Ngoài ra một số hương ước, gia phả, tộc phả và địa bạ cũng được chúng tôi lưu tâm tới trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng và kết hợp một số phương pháp sau đây: Điền dã, miêu thuật, hồi cố, thống kê, so sánh, tự sự lịch sử, liên ngành,… nhằm làm sao những thông tin có được là chính xác nhất và khách quan nhất, chất lượng đề tài tốt nhất trong khả năng có thể

Trang 7

vật chất cũng như tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số và sự phát triển của

địa phương

Một đóng góp quan trọng nữa của đề tài là sẽ góp phần tôn tạo, giữ gìn

những giá trị truyền thống trong bản sắc văn hoá của dân tộc Tày ở Võ Nhai,

Thái Nguyên nói riêng và các dân tộc thiểu số trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói

chung Đề tài ở một mức độ nào đó sẽ nâng cao ý thức tự giác của mỗi người

chúng ta trong việc biết trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền

thống tốt đẹp của người Tày cũng như các dân tộc thiểu số khác

Cuối cùng, đề tài là một nguồn tài liệu tham khảo cho việc học tập và

nghiên cứu lịch sử địa phương, dân tộc học, văn hoá học…

7 Cấu trúc của đề tài

Đề tài được chia làm 3 phần:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung:

+ Chương 1 Khái quát về huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

+ Chương 2 Làng bản của người Tày ở huyện Võ Nhai

+ Chương 3 Những biến đổi của người Tày ở Võ Nhai từ Cách mạng

tháng Tám đến nay

- Phần kết luận

Ngoài ra, đề tài còn có các mục: Tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 8

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

1.1 Lịch sử hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Do điều kiện không cho phép nên chúng tôi chỉ nghiên cứu làng bản cổ

truyền của dân tộc Tày trên địa bàn thuộc địa giới huyện Võ Nhai ngày nay

nhưng chúng tôi cũng xin phác qua ở đây quá trình hình thành và sự thay đổi

của địa giới hành chính huyện qua các thời kỳ lịch sử

Theo các tác giả trong Địa chí Thái Nguyên và nhà sử học Nguyễn Xuân

Minh (chủ biên) trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Võ Nhai thì thời thuộc

Đường, vùng đất Võ Nhai có tên là huyện Vũ Lễ, thời Lý, Trần có tên gọi là

châu Vạn Nhai Thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV), châu Vạn Nhai lại đổi tên

thành châu Vũ Lễ Đầu thời nhà Lê (đời Lê Thuận Thiên), châu Vũ Lễ đổi

thành huyện Võ Nhai, thuộc phủ Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời cai

quản Đến thời Nguyễn (từ 1802) vẫn theo như thế Đến năm Minh Mệnh thứ

16 (1836), huyện Võ Nhai có 8 tổng, gồm 29 xã, trại, cai trị theo chế độ lưu

quan Đời Đồng khánh (1886- 1888), huyện Võ Nhai vẫn gồm 8 tổng và 29

xã, trại 8 tổng ở Võ Nhai lúc này gồm: Lâu Thượng, Lâu Hạ, Tràng Xá, Bắc

Sơn, Nhất Thể, Quỳnh Sơn, Tân Tri, Vĩnh Yên

Huyện lỵ thời trước đặt ở xã Lâu Thượng, đến đời Đồng Khánh chuyển

vào xã Tràng Xá [19, tr 987, 10, tr 7]

Năm 1894, thực dân Pháp cắt các tổng Bắc Sơn, Nhất Thế, Quỳnh Sơn,

Tân Lưu, Vĩnh Yên ra khỏi huyện Võ Nhai để lập thành châu Bắc Sơn, thuộc

tỉnh Lạng Sơn Huyện Võ Nhai được đổi thành châu Võ Nhai gồm 6 tổng:

Lâu Thượng, Tràng Xá, Phương Giao, Cúc Đình, Thương Nung, Văn Lãng

với 22 xã, 1phố, 5 trại Từ đó đến sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 vẫn

giữ nguyên như thế

Ngày 25/2/1948, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

ký sắc lệnh số 148/SL bỏ các đơn vị hành chính cấp phủ, châu, quận, tổng Châu Võ Nhai đổi thành huyện Võ Nhai gồm 17 xã

Ngày 22/12/1949, theo Nghi định số 224/ttg của Thủ tướng Chính phủ, thôn Sảng Mộc, xã Yên Hân, huyện Bạch Thông, Bắc Kạn được sát nhập vào

xã Nghinh Tường, huyên Võ Nhai

Ngày 1/6/1985, theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, bốn xã: Tân Long, Hoà Bình, Quang Sơn và Văn Lăng của huyện Võ Nhai được cắt về huyện Đồng Hỷ

Ngày 25/10/1990, theo Quyết định số 454/TCCP của Ban Tổ chức Chính

phủ, thị trấn Đình Cả được thành lập [ 19, tr.987]

Ngày nay, huyện Võ Nhai gồm 14 xã, 01 thị trấn với tổng số 170 xóm và

02 tổ dân phố 14 xã gồm: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Vũ Chấn, Thượng Nung, Thần Sa, Cúc Đường, Lâu Thựơng, La Hiên, Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, Dân Tiến và Bình Long 01 thị trấn Đình Cả

Như vậy, ta có thể thấy, châu Vạn Nhai, hoặc huyện Võ Nhai trong lịch

sử có địa giới rộng hơn rất nhiều so với ngày nay, bao gồm cả huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn ngày nay và một phần huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

1.2 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.2.1 Vị trí địa lý

Sách Đại Nam nhất thống chí có chép: Huyện Võ Nhai cách phủ 82 dặm

về phía bắc, đông- tây cách nhau 124 dặm, nam- bắc cách nhau 152 dặm, phía đông đến địa giới huyện Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh 35 dặm, phía tây đến địa giới huyện Cảm Hoá 89 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Văn Quảng tỉnh Lạng Sơn 70 dặm [6, tr 158]

Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng đặc biệt khó khăn nằm ở phía đông bắc của tỉnh Huyện nằm dọc theo quốc lộ 1B

Trang 9

từ Thái Nguyên đi Lạng Sơn Võ Nhai có toạ độ địa lý 21036 đến 210

56 vĩ độ

huyện Na Rì - Bắc Kạn, phía đông bắc giáp huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn, phía

nam giáp huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên và Yên Thế - Bắc Giang, phía tây

giáp huyện Đồng Hỷ và Phú Lương - Thái Nguyên Tổng diện tích tự nhiên

của toàn huyện theo địa giới hành chính là 845.1 km2

Thị trấn Đình Cả là huyện lỵ, trung tâm kinh tế - xã hội của huyện cách

thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía đông bắc, cách thị trấn Đồng

Đăng - Lạng Sơn khoảng 80km về phía tây

Với vị trí như vậy, ta có thể thấy Võ Nhai có một vị trí chiến lược quan

trọng trong những thời kỳ có chiến tranh, là nơi dụng binh hiểm yếu “tiến khả

dĩ công, thoái khả dĩ thủ” Từ Võ Nhai, người ta có thể dễ dàng qua Thái

Nguyên về Hà Nội, hoặc lên phía bắc qua Lạng Sơn để ra nước ngoài Ngoài

trục giao thông 1B, ở phía tây và tây nam huyện còn có con đường mòn chay

từ miền rừng núi Bắc Sơn qua Võ Nhai xuống vùng trung du và về xuôi

1.2.2 Điều kiện tự nhiên

Địa hình đất đai: điểm nổi bật của địa hình Võ Nhai là núi cao, dãy

Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và dãy Bắc Sơn

chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Vì vậy, huyện có địa hình phức tạp

Vùng núi dốc và núi đá vôi chiếm 92% diện tích tự nhiện Núi đá vôi tập

trung ở phía bắc huyện, còn xuống phía nam, độ cao giảm dần Phần phía nam

huyện phổ biến là những núi đất thấp, đặc trưng của vùng trung du

Toàn huyện có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 – 800m,

đất sản xuất nông nghiệp phân bố ở độ cao 100 – 450m, nhìn chung những

vùng đất bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập

trung chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền và thung lũng của vùng núi đá

vôi Căn cứ vào địa hình, địa mạo và đất đai, huyện được chia làm 3 tiểu vùng như sau:

Tiểu vùng I: Bao gồm các xã, thị trấn dọc Quốc lộ 1B: Thị trấn Đình Cả, các xã La Hiên, Lâu Thượng và Phú Thượng Đây là vùng thấp nhất của Huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng hơn các vùng còn lại, tạo nên bởi những thung lũng chạy dọc theo quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi có độ dốc lớn Tiểu vụng II: gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, Dân Tiến và Bình Long Địa hình đồi núi bát úp, bị chia cắt bởi nhiều khe, suối, xen kẽ núi đá vôi Các bãi soi bằng phẳng phù hợp với phát triển cây công nghiệp, cây lương thực và chăn nuôi đại gia súc

Tiểu vùng III: Vùng núi cao bao gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Vũ Chấn, Thần Sa và Cúc Đường Diện tích vùng phần lớn bị chiếm bởi những dãy núi đá vôi hùng vĩ, nhiều khe suối, cảnh đẹp tự nhiên Vùng này thuận lợi hơn cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, lâm nghiệp,

du lịch sinh thái và di tích lịch sử văn hoá

Với diện tích đất tự nhiên là 845,1 km2, Võ Nhai có 561,27 km2 đất lâm nghiệp, 77,24 km2 đất nông nghiệp, 1,55 km2 đất nuôi trồng thuỷ sản, 22,13 km2 đất phi nông nghiệp và 182,92 km2 đất chưa sử dụng Có thể thấy dù là một huyện có diện tích rộng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên nhưng tiềm năng đất đai ở Võ Nhai không lớn, lại bị chia cắt mạnh Đất dành cho phát triển đô thị

và giao thông trở nên khan hiếm Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân

bố lại dân cư, khu cụm công nghiệp trong tương lai Đất đai dành cho nông nghiệp ở Võ Nhai nhìn chung không có độ phì nhiêu lớn và đang bị suy thoái mạnh

Dù diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng hiện nay tài nguyên rừng ở Võ Nhai còn lại rất nghèo, phần lớn là rừng non mới phục hồi, mới trồng, trữ lượng còn thấp Nhưng với sự hỗ trợ của nhà nước và sự tích cực của người dân, trong tương lai gần, tài nguyên rừng vẫn sẽ trở thành thế mạnh trong phát

Trang 10

triển kinh tế của Võ Nhai Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao

đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt tại khu vực 6 xã

phía bắc huyện

Khoáng sản: Võ Nhai nằm trong tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng sinh

khoáng Đông Bắc - Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng tây Thái Bình

Dương Do vậy, huyện có nguồn tài nguyên khá phong phú về chủng loại và

trữ lượng

Kim loại mầu: chì, kẽm tìm thấy ở Thần Sa, vàng cũng tìm thấy ở Thần

Sa nhưng chủ yếu là vàng sa khoáng với hàm lượng thấp

Khoáng sản phi kim: Phôtphorit ở La Hiên có trữ lượng được đánh giá

vào loại khá (khoảng 60.000 tấn)

Toàn huyện có những dải núi đá kéo dài, chạy dọc huyện, đây là nguồn

cung cấp vật liệu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng, đá xây dựng, đất

sét,… đặc biệt có sét xi măng ở Cúc Đường có trữ lượng lớn và chất lượng tốt

Tuy nguồn khoáng sản có trữ lượng lớn nhưng đến nay, việc khai thác

vẫn chưa đáng kể Tài nguyên khoáng sản vẫn nằm ở dạng tiềm năng là chính

Nhưng, nguồn tài nguyên này sẽ là một thế mạnh rất lớn của Võ Nhai trong

công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nếu được khai thác và sử dụng hợp lý

Khí hậu: Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi

Bắc bộ chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Võ Nhai nằm trong

vùng lạnh nhất của tỉnh Thái Nguyên Nhiệt độ trung bình năm trên 22,4 độ

C Tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình là 27,8 độ C Tháng lạnh

nhất là tháng 1 có nhiệt độ trung bình là 14,9 độ C Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối

tạo cho Võ Nhai lợi thế để phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới

như: hồng, táo, na, cam, quýt, vải, nhãn,…

Chịu ảnh hưởng chế độ mưa vùng núi Bắc bộ, mùa mưa Võ Nhai thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm 1.941,5mm và phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1.765mm (chiếm 91% lượng mưa

cả năm) Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng 372,2mm [19, tr 985]

Mưa lớn và tập trung gây xói mòn đất, lũ lụt ảnh hưởng tới cây trồng, độ phì nhiêu của đất và các công trình thuỷ lợi, đặc biệt là ở tiểu khu III và I, nơi

có địa hình phức tạp, độ dốc cao và bị chia cắt nhiều

Bên cạnh đó các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc hơi nước lại rất lớn, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng, nhất là với cây trồng hàng năm

Nói chung, tuy có phần khắc nghiệt nhưng khí hậu Võ Nhai vẫn tương đối thuận lợi cho phát triển, sản xuất nông – lâm nghiệp

Thuỷ văn: Võ Nhai là huyện miền núi, có địa hình bị chia cắt nhiều bởi

các dãy núi đá nên huyện có nguồn nước khá phong phú Ngoài nguồn nước mặt từ những sông suối còn có những nguồn nước khác từ các hang động trong núi đá vôi hiện đã và đang được sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt Trên địa bàn Võ Nhai có hai hệ thống sông nhánh trực thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương được phân bố ở hai vùng là phía bắc và phía nam huyện, cung cấp hầu hết nước tưới cho diện tích sản xuất nông nghiệp của hai vùng này Sông Nghinh Tường là sông lớn nhất, chảy qua phía bắc huyện, là nhánh của sông Cầu, bắt nguồn từ dãy vòng cung Bắc Sơn, có chiều dài 46km và lần lượt chảy qua các xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa và

đổ ra sông Cầu

Trang 11

Sông Rong chảy qua phía nam huyện là nhánh của sông Thương, bắt

nguồn từ xã Phú Thựơng chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến,

Bình Long và chảy vào tỉnh Bắc Giang

Các nhánh sông suối trên địa bàn phân bố khá đồng đều và có nước

quanh năm rất thuận lợi sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt Ngoài ra, trên địa

bàn huyện có khá nhiều hồ đập lớn nhỏ khác nhau: 11 hồ chứa nhỏ, 50 phai

đập kiên cố, 12 trạm bơm và 122 kênh mương do nhà nước hỗ trợ và nhân

dân đóng góp xây dựng

Tuy nhiện những năm gần đây do nạn chặt phá rừng gần như không được

kiểm soát làm nguồn tài nguyên nước của huyện đang bị suy thoái, lũ lụt xảy

ra nhanh và nhiều hơn, có cả lũ ống và lũ quét Đây là điều đáng lo ngại, biện

pháp cấp bách là phải trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn để nhằm

điều tiết nguồn nước và lưu lượng chảy

1.3 Khái quát về kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai

Trong thời kỳ diễn ra hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhân dân

Võ Nhai với truyền thống yêu nước và cần cù lao động đã đạt được những

thành tựu đáng kể trong sản xuất và đóng góp cho cách mạng Tuy nhiên, nền

kinh tế của huyện chậm chuyển biến, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó

khăn, thiếu thốn

Bước vào thời kỳ đổi mới, kinh tế Võ Nhai có nhiều chuyển biến tích cực

và nhanh chóng nhưng đến nay trong huyện thành phần kinh tế nông – lâm -

nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế

Trong nông nghiệp của huyện, nét nổi bật trong những năm gần đây là có

sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ theo hướng phát

triển hàng hoá gắn với thị trường, đa dạng hoá cây trồng Do vậy, năng suất

và sản lượng đều đạt kết quả cao Diện tích gieo cấy từ 3981 ha năm 1973

tăng lên 45761 năm 2006 Năng suất từ 20.98 tạ/ha tăng lên 42,79ha năm 2003

Các loại cây ăn quả và rau màu ngày càng tăng lên về số giống và diện tích Cây chè đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của huyện

Ngành chăn nuôi của huyện phát triển tương đối ổn định: đàn trâu tăng từ 11.231 con năm 1975 lên 13.113 con năm 2006 Cùng giai đoạn đó đàn lợn tăng từ 10.851 con lên 29.124 con

Với diện tích đất tự nhiên lớn và chủ yếu là đồi núi nên nghề rừng từ lâu vẫn là một thế mạnh của Võ Nhai Hiện nay, rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện không còn, các loại gỗ quý và thú rừng quý hiếm cũng còn lại không đáng kể nhưng việc phát triển trồng mới và bảo vệ rừng được đặc biệt quan tâm Năm 2003, diện tích trồng rừng mới là 456,43 ha, tăng 1,4% so với năm 2002 Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trên địa bàn huyện đang rất được quan tâm khuyến khích phát triển Tuy nhiên, sự phát triển đó chưa tương xứng với tiềm năng lớn của huyện này

Nói chung, trong những năm vừa qua, kinh tế Võ Nhai có sự chuyển biến tích cực Năm 2002, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 43,6%, nông nghiệp còn 38,3%, dịch vụ là 18,1% kinh tế của huyện Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cao (≈ 12% năm) Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (năm 2009 còn 25,2%)

Những chuyển biến đó là rất đáng khen ngợi với một huyện vùng cao như Võ Nhai Huyện đang từng bước thoát khỏi những khó khăn, tồn tại và vươn lên công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo xu thế chung của cả nước

Cùng với kinh tế, văn hoá – xã hội huyện Võ Nhai cũng ngày càng có những bước phát triển đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực

Đến nay, trên địa bàn huyện 100% xã được phủ sóng phát thanh truyền hình, trên 70% số hộ có máy thu thanh

Trang 12

Cuộc vận động “ Xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, cơ quan văn

hoá” phát triển mạnh Đến năm 2006, toàn huyện có 7569 gia đình văn hoá,

77 xã, bản văn hoá và 47 cơ quan văn hoá" [19, tr.995]

Sự nghiệp y tế - giáo dục được đặc biệt quan tâm ở huyện vùng cao này

Hệ thống trường lớp được mở rộng, xây mới, chất lượng giáo dục được nâng

lên Năm 2003, Huyện có trường tiểu học Phú Thượng được công nhận là

trường đạt chuẩn quốc gia, có 04 xã được công nhận hoàn thành phổ cập

trung học cơ sở và có 08 lớp dạy nghề

Năm 2006, Võ Nhai có 121 cán bộ y tế, trong đó có 35 bác sỹ hoạt động

trong 18 cơ sở y tế gồm 140 giường bệnh

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ

vững Mạng lưới an ninh nhân dân, tổ an ninh thôn xóm được kiện toàn, công

tác kiểm tra, trấn áp bọn tội phạm được thực hiện tốt

Nhân dân các dân tộc trong huyện Võ Nhai có truyền thống yêu nước,

đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, cần cù, chịu khó trong lao động

sản xuất Điều đó cộng với những tiềm năng to lớn về tài nguyên, tự nhiên, về

truyền thống lịch sử văn hoá là những thế mạnh quan trọng, là cơ sở để huyện

phát triển, giầu mạnh đi lên hội nhập cùng xu thế công nghiệp hoá - hiện đại

hoá của tỉnh Thái Nguyên và của cả nước

1.4 Dân cƣ và các dân tộc trên địa bàn huyện

1.4.1 Dân cƣ

Những phát hiện của khảo cổ học tại di chỉ Thần Sa đã khẳng định địa

bàn Võ Nhai là một trong những cái nôi của người nguyên thuỷ Những người

nguyên thuỷ sống bằng nghề săn bắt hái lượm Trải qua một quá trình lâu dài

hàng nghìn năm, dân số tăng lên, nguồn thức ăn cạn dần, họ đi dọc theo các

triền sông, khe suối, mở rộng địa bàn cư trú Ngược lại, cũng có những bộ

phận khác di cư tới sinh sống, trở thành chủ thể của vùng đất này [19, tr.988]

Càng về sau, dân số Võ Nhai càng tăng dần do những đợt di cư của đồng bào Tày, Nùng từ phía bắc xuống Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều hộ gia đình từ các tỉnh miền xuôi tản cư đến sinh sống, cùng tham gia các hoạt động kháng chiến, sản xuất với nhân dân địa phương và coi đây

là quê hương thứ hai của mình Vào những năm 60 của thế kỷ XX, theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, huyện Võ Nhai tiếp nhận 11.931 nhân khẩu ở miền xuôi lên tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá Những nơi

có đồng bào Kinh từ miền xuôi di cư đến và sinh sống nhiều nhất là thị trấn Đình Cả, xã La Hiên, xã Tràng Xá Dân số toàn huyện Võ Nhai tính đến thời điểm cuối năm 2009 là 66.376 người thuộc 8 thành phần dân tộc khác nhau: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay (Cao Lan, Sán Chí), H’Mông, Mường, Hoa Mật độ dân số trung bình ở huyện Võ Nhai là thấp nhất tỉnh Thái Nguyên với

Đến năm 2007, dân số trong độ tuổi lao động của Võ Nhai là 35.057 người chiếm 54,3% Trong đó, có 30.452 lao động nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp là 4.605 người (7,14% dân số toàn huyện) Qua đó, ta thấy cơ cấu giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp chênh lệch rất lớn Chứng

tỏ nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn huyện chưa phát triển Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá các ngành nghề và dịch

vụ ở Võ Nhai tiến triển chậm Hơn 80% số lao động trong toàn huyện là lao động phổ thông chưa được qua đào tạo Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2007 chỉ đạt 10,87% Việc tạo công ăn việc làm còn gặp nhiều khó khăn Thế mạnh của huyện là có dân số trẻ, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lớn, giá nhân công rẻ Đây là ưu điểm của huyện khi kêu gọi đầu tư phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn

Trang 13

Nói chung, dù thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau, phong tục tập

quán có nhiều nết khác nhau, trình độ phát triển cũng không đồng đều nhưng

do điều kiện tự nhiên ở Võ Nhai có phần khắc nghiệt cũng như do truyền

thống tương trợ nên nhân dân các dân tộc trong huyện luôn đoàn kết giúp đỡ

lẫn nhau trong một cộng đồng thống nhất

1.4.2 Các dân tộc ở Võ Nhai

Dân số và thành phần dân tộc ở huyện Võ Nhai thể hiện qua bảng sau:

( Nguồn: số liệu điều tra dân số năm 2004, Phòng Thống kê huyện Võ Nhai)

Dân tộc Kinh: Theo bảng thống kê trên, ta thấy dân tộc Kinh chiếm

36,64%, đông nhất trong các dân tộc ở Võ Nhai Theo số liệu mới thì đến

tháng 2/2010, tỷ lệ người Kinh ở đây còn chiếm 34.17% Người Kinh ở Võ

Nhai cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn nhưng tập trung đông nhất là ở thị trấn

Đình Cả, xã Phương Giao, Tràng Xá, La Hiên Người Kinh có mặt ở Võ Nhai

khá muộn Sau khi đánh chiếm xong Thái Nguyên, thực dân Pháp thiết lập bộ

máy cai trị và ráo riết tiến hành công cuộc khai thác nơi dây Võ Nhai là vùng

đất khá giàu tài nguyện Khi tiến hành khai thác những mỏ đồng ở Sảng Mộc,

mỏ kẽm ở Bắc Lâu, mỏ chì ở Vũ Chấn… Pháp đã đưa một số lượng đáng kể công nhân là người Kinh từ dưới xuôi lên, một phần đáng kể trong số họ đã lưu lại và định cư ở đây Đến thời kỳ miền Bắc xây dựng Xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính sách khai hoang của Đảng và Nhà nước nhằm mở mang những vùng kinh tế mới, một bộ phận người Kinh đã di cư từ các tỉnh miền xuôi lên làm ăn và định cư luôn ở nơi này

Võ Nhai là huyện miền núi cao nhưng ở đây, người Kinh chủ yếu sinh sống và lập nghiệp ở những vùng đất thấp và bằng phẳng Đặc biệt là dọc khu vực quốc lộ 1B Hoạt động kinh tế của họ cũng đa dạng hơn các dân tộc khác, ngoài làm nông - lâm nghiệp, họ tham gia chủ yếu vào các hoạt động dịch vụ

và thương nghiệp trên địa bàn huyện Điều đó cộng với những kinh nghiệm làm ăn phong phú đã làm cho đời sống kinh tế, vật chất của họ phát triển và

ổn đinh hơn các dân tộc khác

Dân tộc Nùng: Người Nùng ở Võ Nhai gồm ba nhóm: Nùng Cháo,

Nùng Inh và Nùng Phàn Slình Người Nùng ở đây chủ yếu di cư từ Lạng Sơn sang và từ mạn Cao Bằng, Bắc Kạn xuống Họ cư trú nhiều nhất ở các xã Lâu Thượng, Phú Thượng, La Hiên và các xã phía Nam Huyện Phong tục tập quán cũng như kinh tế vật chất của người Nùng có nhiều nét tương đồng với người Tày Dân tộc Nùng ở Võ Nhai chủ yếu sống bằng nông – lâm nghiệp và chăn nuôi Hiện nay, có một số gia đình Nùng đã chuyển sang kinh doanh buôn bán do sống gần đường hoặc các trung tâm dân cư, nhưng ít hộ làm kinh doanh chuyên nghiệp, chưa bỏ hẳn được nông – lâm nghiệp

Dân tộc Dao: Chiếm tỷ lệ khá lớn ở Võ Nhai với 13.22% Người Dao ở

đây có lịch sử định cư chưa được lâu, họ di cư từ phía Bắc xuống và xa xôi hơn, tổ tiên của họ từ phía nam Trung Quốc sang So với các dân tộc khác thì Người Dao định cư ở những vùng cao hơn thành những bản riêng biệt Ví dụ như: xã Vũ Chấn có 10 bản thì có 5 bản người Tày và 5 bản người Dao biệt

Trang 14

lập Ở Võ Nhai, người Dao cư trú đông nhất ở các xã Vũ Chấn, Nghinh

Tường, Liên Minh Nói chung, đời sống của đồng bào Dao ở Võ Nhai còn

gặp nhiều khó khăn do vấn đề giao thông, tập quán làm ăn của đồng bào vẫn

chưa được cải thiện nhiều

Dân tộc H’Mông: cũng như người Dao, người H’Mông cũng chưa có

lịch sử định cư lâu đời tại Võ Nhai Họ thường cư trú trên những vùng núi

cao Cuộc sống dựa chủ yếu vào làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc và khai

thác lâm thổ sản Đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn Tuy di cư đến muộn

nhưng họ không tạo ra những sự xáo trộn và sống khá hoà thuận với các dân

tộc khác Người H’Mông ở Võ Nhai sống chủ yếu ở các xã Dân Tiến, Bình

Long và Thượng Nung

Dân tộc Tày: Tính chung trong phạm vi cả nước, người Tày có số dân

đông nhất trong các dân tộc thiểu số, ở Võ Nhai cũng vậy Dân tộc Tày ở Võ

Nhai tập trung đông nhất ở các xã phía Bắc Cúc Đường là xã có tỷ lệ người

Tày cao nhất Cũng như người Kinh và người Nùng, đồng bào Tày thường

chọn những nơi thấp trong thung lũng, gần sông suối, giao thông tương đối

thuận lợi để định cư Đời sống kinh tế vật chất và kể cả sinh hoạt cộng đồng

của họ có nhiều nét giống với người Kinh Trình độ thâm canh lúa nước của

họ tương đối cao Ngoài ra, người Tày cũng tham gia khá tích cực vào hoạt

động thương mại dịch vụ trên địa bàn huyện Họ cũng nắm bắt khá nhanh và

vận dụng tốt những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất Vì vậy đời sống

của họ phát triển và ổn định hơn nhiều dân tộc khác

Những vấn đề cụ thể về các mặt của đời sống kinh tế - vật chất và văn

hoá tinh thần của dân tộc Tày sẽ được chúng tôi trình bày và phân tích rõ hơn

ở chương 2, trọng tâm của luận văn này

Ngoài các dân tộc kể trên là có số dân đông hơn cả, ở Võ Nhai còn có

các dân tộc khác như: Sán Chay (Cao Lan và Sán Chí), Sán Dìu, Mường, Hoa

có số dân ít hơn nhiều Riêng các dân tộc Sán Dìu, Hoa, mường đều có số người dưới 100 (tính đến hết năm 2005) Họ có mặt ở Võ Nhai chủ yếu do quan hệ hôn nhân hoặc vừa mới di cư đến

Có thể nói, Võ Nhai là huyện có nhiều thành phần dân tộc, các dân tộc có nguồn gốc lịch sử khác nhau, phong tục tập quán khác nhau, trình độ không đồng đều, nhưng đồng bào các dân tộc trong huyện luôn gắn bó, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong một cộng đồng thống nhất Tình trạng xung đột giữa

các dân tộc không hề xảy ra Sách Đồng Khánh dư địa chí chép rằng: “Trong

huyện, người Kinh, người Thổ (Tày), người Mường sống xen kẽ nhau Người

dân thì quê mùa, tập tục thì thuần phác”.[9, tr.82] Đó là yếu tố quan trọng

đưa đến sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện

Trang 15

CHƯƠNG 2

LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI TÀY

Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1 Tên gọi và không gian sinh tồn

2.1.1 Tên gọi và nguồn gốc tên gọi của làng bản

Theo Từ điển tiếng Việt, bản là “đơn vị dân cư nhỏ nhất ở một số vùng

dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, nó tương đương với làng” [25, tr.30]

Mỗi bản lại có một tên gọi, nguồn gốc và ý nghĩa rất khác nhau Các bản

của người Tày nói chung và người Tày ở Võ Nhai nói riêng cũng giống như

các làng xã người Kinh ở vùng đồng bằng, rất phong phú về hệ thống tên gọi

Chỉ tìm hiểu về một tên gọi của một bản nhất định ta cũng có thể hiểu được

rất nhiều vấn đề như: lịch sử, quá trình hình thành của bản, điều kiện địa lý tự

nhiên, nghề nghiệp, quan niệm, phong tục,… Các tác giả cuốn: "Tên làng xã

Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra)", đã định nghĩa

tên làng xã của huyện hay một khu vực địa lý, lịch sử văn hoá như sau: là

tổng thể các tên riêng đặt ra để gọi các đơn vị địa lý tự nhiên hay nhân văn

của khu vực ấy Đồng thời đó còn là những chứng tích về ngôn ngữ và có thể

cả về văn tự mà cộng đồng đã đặt, đã dùng và lưu lại trên địa bàn cư trú phát

triển của mình Thời gian định cư càng lâu dài, trình độ sinh hoạt càng cao,

cảnh quan địa lý càng đa dạng, thành phần tộc người càng đông, điều kiện

phát triển thuận lợi… thì tên làng xã càng dồi dào và phức tạp về số lượng,

càng phong phú, sâu sắc về nội dung [21, tr.11]

Như vậy có thể nói, tên gọi của mỗi bản hay một khu vực địa lý là chiếc

chìa khoá đầu tiên để mở ra cánh cửa tìm hiểu tất cả sự phong phú đa dạng

của văn hoá tinh thần cũng như đời sống kinh tế vật chất của bản đó cũng như

của một vùng văn hoá hay một khu vực địa lý Bản thân những tên gọi mang

trong mình nó rất nhiều ý nghĩa hay mang tính thông báo một số thông tin nhất định Ý thức được tầm quan trọng đó của địa danh nên trong quá trình đi điền dã, tìm hiểu và sưu tầm tư liệu, chúng tôi đã rất quan tâm và coi đây là vấn đề đầu tiên trong việc nghiên cứu làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở

Võ Nhai

Qua khảo sát và thu thập số liệu từ các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban Nhân dân huyện Võ Nhai, chúng tôi thấy rằng: người Tày có mặt ở hầu hết các xã, thị trấn trong huyện Nhưng họ tập trung với tỷ lệ cao nhất ở các

xã sau: Nghinh Tường, Vũ Chấn, Cúc Đường, Sảng Mộc, Thần Sa, Thượng Nung (đều là các xã phía bắc) và xã Phú Thượng Vì thế chúng tôi chủ yếu thực hiện điền dã ở tại những xã này nhằm làm nổi bật những nét văn hoá Tày đặc trưng còn được bảo tồn trong các làng bản nơi đây Các tên làng bản Tày làm ví dụ minh hoạ cũng sẽ được lấy từ những khu vực này

Theo Địa chí Thái Nguyên, phần về huyện Võ Nhai thì:

Xã Nghinh Tường gồm 11 xóm bản là : Na Hấu, Bản Nhàu, Thâm Thạo, Bản Trang, Bản Nưa, Bản Rãi, Nà Giàm, Na Lẹng, Bản Cái, Thượng Lương,

Trang 16

Xã Phú Thượng gồm 11 xóm bản: Mỏ Gà, Phượng Hoàng, Đồng Mó, Nà

Pheo, Na Phài, Ba Nhất, Cao Biền [19, tr 987]

Đây đều là tên gọi ngày nay của các xóm bản Có những tên đã có từ rất

lâu đời gắn với lịch sử định cư rất sớm của người Tày nơi đây, nhưng cũng có

những tên mới xuất hiện cách nay vài chục năm, thậm chí vài năm Những tên

bản lâu đời thường là những bản độc người Tày cư trú hoặc đa số là người

Tày Những tên bản này xuất phát từ tiếng Tày, phần lớn mang những tiền tố

Theo tiếng Tày, “nà” có nghĩa là ruộng, đồng

Điều này cho ta thấy, cuộc sống của đồng bào nơi đây gắn với đồng

ruộng Do có lịch sử định cư khá lâu đời và thường cư trú ở những vùng thấp,

thung lũng khá bằng phẳng, gần nguồn nước nên người Tày đã biết canh tác

lúa nước từ rất sớm Đồng bào nơi đây ít làm nương rẫy do địa hình chủ yếu

là núi đá vôi hiểm trở, nguồn lâm sản thì ngày càng cạn kiệt do rừng ngày

càng ít đi, nên nguồn sống chính của họ từ xưa đến nay vẫn là từ cây lúa nước Vì vậy, truyền thống trọng nông từ xưa đã tồn tại trong cộng đồng Tày Kinh nghiệm sản xuất của họ cũng khá cao do qúa trình đúc rút kinh nghiệm lâu dài Từ truyền thống trọng nông nghiệp, đặc biệt là canh tác lúa nước như

vậy mà những tên gọi của các bản Tày mang tiến tố “nà” đã ra đời một cách

rất tự nhiên và với tần xuất lớn ở khu vực này

Những tên gọi mang tiền tố “nà” thường là những tên gọi cổ xưa nhất

còn được bảo lưu đến ngày nay Trong những bản đó, kể cả các cụ cao niên nhất cũng không nhớ nổi rằng tên gọi của bản mình có từ đời nào, chỉ biết rằng nghe nó thật thân thuộc như vốn nó đã tồn tại Những tên gọi đó thật đơn giản nhưng đầy ý nghĩa, gần gũi với đời sống sinh hoạt của đồng bào

Xã Vũ Chấn có tất cả 10 bản thì có 5 bản Tày và 5 bản Dao phân bố gần

như biệt lập Trong 5 bản Tày đó thì có 4 bản có tên gọi mang tiền tố “nà”

(na): Na Mấy, Na Rang, Na Đồng, Na Cà đều nằm dọc cánh đồng hẹp cành

con suối có tên là suối Luông Na Mấy có thể được đọc chệch của từ “nà

vầy” - ruộng cháy Theo người dân trong bản, nhất là các cụ cao niên nghe

truyền lại thì họ cũng không biết tên gọi đó có từ bao giờ, “chỉ nghe loáng

thoáng” rằng đã lâu lắm rồi “ hình như” ở khu vực đó đã từng xảy ra hoả hoạn

làm cháy những ruộng lúa và những ngôi nhà sàn lợp lá Hay như bản Na

Rang, có thể được đọc chệch của từ “nà chang” trong tiếng Tày, sở dĩ có tên gọi đó là vì khu vực này được coi là “ruộng ở giữa” Bản này ngày nay là

trung tâm của xã Vũ Chấn

Cũng với quy luật đặt tên đó, xã Nghinh Tường có bản Nà Hấu (ruộng tốt)

vì bản này có nhiều chân ruộng tốt rất thuận lợi cho cây lúa nước phát triển, Nhìn rộng ra các khu vực cư trú lâu đời của người Tày ngoài huyện Võ Nhai, chúng ta cũng thấy rất nhiều những địa danh làng bản thậm chí xã,

huyện có tên gọi mang tiền tố “nà”, như các bản: Nà Gà, Nà Đóng, Nà Pế, Nà

Trang 17

Luông, Nà Rạc, Nà Ngân, Nà Cốc, Nà Bon, Nà Háng, Nà Lăng, (ở tỉnh Cao

Bằng) Các huyện như: Nà Hang (Tuyên Quang); Na Rỳ (Bắc Kạn) Tác giả

Đàm Nam Điền trong luận văn cử nhân khoa học: Tên làng xã huyện Hoài

An, tỉnh Cao Bằng trước năm 1945 đã khảo sát và đưa ra con số thống kê như

sau: “tên gọi với tiền tố nà (ruộng) có số lượng nhiều nhất: 159/512, chiếm tỷ

lệ 31,05%"[8]

Như vậy, tên gọi mang tiền tố “ nà” gắn liền với ruộng đồng của dân tộc

Tày đã ra đời từ rất sớm, có thể nói các địa danh này ra đời ngay từ lúc người

Tày biết sống định canh, định cư và biết canh tác ruộng lúa nước Những tên

gọi tuy đơn giản, không mang tính khái quát và trừu tượng nhưng đầy ý

nghĩa Vì vậy, nó có sức sống dai dẳng và tồn tại đến tận ngày nay Đó là một

trong những nét đẹp đặc trưng của đồng bào Tày nơi đây nói riêng và trên

phạm vi cả nước nơi có dân tộc này sinh sống nói chung Điều đó cho thấy

những người Tày tha thiết yêu những ruộng lúa, những cánh đồng và nghề

nông truyền thống của họ Họ yêu quý và trân trọng nơi họ cư trú, rộng ra là

yêu quê hương, đất nước

Cùng với tên các bản mang tiền tố “nà”, chúng ta thấy xuất hiện những

bản có các tên gọi được đặt theo địa lý tự nhiên và phong cảnh sản xuất như

khuổi, lũng

“Khuổi” theo tiếng Tày có nghĩa là suối, gắn liền với nguồn nước Chúng

ta đã biết đồng bào Tày thường chọn địa điểm cư trú, sản xuất gần những

nguồn nước, nhất như các khe, rãnh, suối, sông để vừa thuận tiện cho sinh

hoạt vừa thuận lợi cho canh tác lúa nước Từ đó, những tên gọi mang tiến tố

“khuổi” cũng ra đời Trải qua thời gian những tên gọi đó ăn sâu vào tiềm thức

của họ và được truyền từ thế hệ này qua thế qua thế hệ khác Những nguồn

nước đó theo thời gian có thể thay đổi nhưng những tên gọi đó thì vẫn còn

mãi Tác giả Nguyễn Văn Âu trong cuốn “Địa danh Việt Nam” đã nêu: “Các

địa danh sông ngòi thường rất cổ và sông ngòi là những đối tượng địa lý gắn liền với cuộc sống hàng ngày của nhân dân trong quá trình sản xuất cũng như sinh hoạt, trong suốt thời gian lịch sử lâu dài của dân tộc, các địa danh này cũng lại được bảo lưu khá bền vững, ít bị thay đổi do các biến động của xã hội” [1, tr 51]

Các bản Tày ở Võ Nhai cũng hầu hết được tập trung ở những nơi có nguồn nước, hầu hết là các dòng suối lớn, nhỏ Con sông Nghinh Tường (một nhánh quan trọng của sông Cầu) chảy qua hầu hết các xã phía Bắc Huyện Dọc hai bờ sông là những bản người Tày khá đông đúc

Ở xã Sảng Mộc, chúng ta thấy có những tên bản như:

Khuổi Mèo Khuổi Chạo Khuổi Uốn Điều này cho thấy, nguồn nước có ý nghĩa hết sức quan trọng với đời sống cũng như hoạt động sản xuất của đồng bào Không chỉ riêng dân tộc Tày, ở Võ Nhai dân tộc Dao cũng có thói quen đặt tên khu vực cư trú của họ gắn liền với nguồn nước như: Khe Rạc, Khe Rịa, Khe Cái, Khèn Nọi (xã Vũ Chấn),

Với tiền tố “lũng” – thung lũng, ta cũng thấy xuất hiện một số tên bản tại

xã Thựơng Nung như: Lũng Hoài (thung lũng trâu)

Lũng Cà (thung lũng cỏ tranh)

Lũng Luông (thung lũng lớn)

Với vùng núi đá vôi hiển trở như Võ Nhai, nơi định cư và canh tác của đồng bào Tày thường là ở những thung lũng khá bằng phẳng, xung quanh là những dãy núi Ở những nơi đó, đồng bào thường làm nhà tựa lưng vào núi, hướng nhà xoay xuống dưới, thấp hơn thường là những ruộng bậc thang Vì

thế tên gọi mang tiền tố “ lũng” ra đời cũng dễ giải thích

Trang 18

Cùng với “nà”, “khuổi”, “ lũng” là tên gọi mang tiền tố “ bản” Những

tên gọi này thường phản ánh đặc trưng nơi cư trú của đồng bào Tày như: vị trí

địa lý, địa hình, phong tục tập quán

Cùng với những tên gọi mang các tiền tố đã nêu trên, những tên gọi

mang tiền tố “bản” cũng đã có từ lâu đời, gắn bó với quá trình đấu tranh với

thiên nhiên, định cư và phát triển của đồng bào

Những tên gọi bản không phổ biến ta cũng thấy khá nhiều ở vùng dân tộc

Tày Võ Nhai, điển hình và có từ lâu đời nhất là những tên bản như: Mỏ Gà

(xã Phú Thượng), Bản Cúc, Bản Nhò (xã Cúc Đường) Những tên gọi này

theo các cụ cao niên ở địa phương thì có nguồn gốc khác nhau, đôi khi khá

thú vị Ví dụ: Bản Cúc là bản Tày gốc lâu đời nhất tại xã Cúc Đường gắn với

tên đình Cúc nổi tiếng một thời gian dài Sau này khi có sự di cư của người

H’Mông, người Kinh đến đây cộng với sự gia tăng dân số đã dẫn đến sự chia

tách và xác lập thêm những xóm bản mới, những tên cổ như Bản Cúc, Bản

Nhò không còn nữa Ở xã Phú Thượng có một địa danh nổi tiếng nữa là Mỏ

Gà (suối Mỏ Gà, đình Mỏ Gà và xóm Mỏ Gà) Tên Mỏ Gà ra đời một cách

khá hy hữu Nhân dân nơi đây truyền nhau rằng từ xa xưa lắm rồi có một trận

mưa rất lớn và một trận lũ lịch sử đã xảy ra Tại một miệng hang của khe đá

nơi nước lũ tuôn ra ào ào và có trôi ra theo rất nhiều lồng gà không biết nguồn

gốc từ đâu Địa danh Mỏ Gà xuất hiện từ đó và tồn tại đến tận ngày nay

Ngày nay ở Võ Nhai, những xóm bản Tày còn mang rất nhiều tên mới, thường nhũng tên này có yếu tố Hán Việt

Đây đều là những tên gọi mới xuất hiện cách nay chỉ khoảng vài chục năm Những bản Tày gốc do sự phát triển dân số, chia tách bản, sự di cư của các dân tộc khác mới đến thường không duy trì được những tên cũ Trường hợp bản Cúc đã nêu trên là một ví dụ Nhân dân nơi đây còn lưu truyền câu

nói: “Nhất thôn, nhất xã, nhất đình môn”- một thôn, một xã, một đình

Những tên gọi ngày nay ở Cúc Đường có từ khi người H’Mông, người Dao và một số dân tộc khác di cư đến cộng với sự phát trển dân số nội tại đã buộc chính quyền địa phương phải chia tách, thành lập các bản mơi nhằm thuận lợi cho công tác quản lý hành chính Có thể nói, những tên mới này mang tính

Trang 19

“hiện đại” và trừu tượng hoá hơn nhưng thường nó vẫn xuất phát từ cách đặt

tên gắn liền với địa lý, điều kiện tự nhiên,… của xóm bản đó

Trong quá trình điền dã thực đia, chúng tôi không thể có điều kiện đến và

điều tra tất cả các địa danh có người Tày sinh sống ở Võ Nhai, thông tin cũng

chưa được đầy đủ Vì vậy, những tên xóm bản được lấy làm ví dụ ở trên, một

vài trong số đó có thể là những bản của người Nùng, Dao, H’Mông Nhưng

dù sao, các xã phía Bắc huyện Võ Nhai cũng có đa số người Tày sinh sống

Nền văn hoá Tày bao trùm toàn bộ khu vực này

Như vậy, qua việc tìm hiểu dù chỉ ở mức độ sơ lược những tên gọi của

các bản người Tày, chúng ta cũng đã thấy ẩn trong đó những vấn đề rất đáng

quan tâm và rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu tổng quát thiết chế của làng

bản người Tày, kể cả trong quá khứ lẫn hiện tại Tình yêu của cư dân Tày đối

vơi khu vực cư trú của họ, rộng ra là với quê hương đất nước được thể hiện

ngay trong cách đặt tên nhưng làng bản, dù đơn giản nhưng trong đó là cả sự

gửi gắm và một niềm tin mãnh liệt Phần lớn những tên gọi đã có từ rất lâu

đời đó tồn tại dai dẳng và có tính bảo lưu rõ rệt Chúng đã thân thiết và trở

nên gần gũi với họ từ lâu đời Đó là một nét đẹp trong nền văn hoá Tày phong

phú đa dạng và giàu bản sắc

2.1.2 Không gian sinh tồn

“Làng bản trước hết đó là không gian sinh tồn được phân định và được

các cộng đồng làng bản khác thừa nhận Trong không gian sinh tồn đó có đất

đai để lập bản làng với những ngôi nhà được cất dựng theo những quy cách

riêng, có đất canh tác gồm ruộng nương hoặc nương rẫy, những khoảnh rừng

dự phòng, rừng cấm, rừng đầu nguồn nơi con người có thể săn bắt, hái

lượm…có đất đai để làm nghĩa địa, có bãi chăn thả gia súc, có dòng suối để

phục vụ sản xuất và sinh hoạt, để đánh bắt cá….” [4, tr 227]

Vậy nói đến “không gian sinh tồn” của một cộng đồng dân cư là chúng ta

xét đến vị trí địa lý, cảnh quan tổng thể, khung cảnh sản xuất, kết cấu hình thể, những hoạt động kinh tế của dân cư,… trong tổ chức dân cư đó Không gian sinh tồn của người Tày nói chung và người Tày ở Võ Nhai nói riêng có những đặc trưng nhất định

2.1.2.1 Vị trí địa lý và địa vực của bản Tày

Các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về nguồn gốc của dân tộc Tày ở Việt Nam đều thống nhất rằng tổ tiên của họ là cư dân bản địa Họ là một bộ phận dân cư thuộc cộng đồng Bách Việt đông đảo Cùng với các nhóm trong cộng đồng Bách Việt, người Tày từ rất sớm đã biết canh tác ruộng lúa nước Đối với họ nguồn nước là sự sống còn Gần nguồn nước là tiêu chí đầu tiên trong việc chọn đất dựng bản của người Tày

Người Tày ở Võ Nhai thường tụ cư ở những vùng giáp ranh giữa rừng và ruộng, gần đó thường có những con suối hay sông nhỏ chảy qua Nguồn nước

từ sông, suối không những được dùng cho sinh hoạt, ăn uống, tắm giặt mà quan trọng hơn cả nó là yếu tố tiên quyết trong việc canh tác cây lúa nước Theo tư liệu qua điền dã, chúng tôi thấy được, dọc những con suối ở Võ Nhai, đặc biệt là sông Nghinh Tường là san sát các bản của người Tày Ví dụ dọc con suối có tên là suối Luông thuộc xã Vũ Chấn thì lần lượt là các bản: Na Mấy, Na Rang, Na Đồng, Na Cà

Cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác ở phía Bắc, làng bản của người Tày thường được toạ lạc trên những khu đất cao, tựa lưng vào núi, hướng xuống thung lũng hoặc nơi thoáng đãng, thấp hơn là những cánh đồng cạnh những con suối lớn, nhỏ Khu vực cư trú của đồng bào thường không tách khỏi khu vực sản xuất Nhà, ruộng, nương thường liền kề nhau Điều này có khác so với các dân tộc có truyền thống đốt nương làm rẫy Khu cư trú của họ thường cách xa nương rẫy nhằm tránh nguy cơ hoả hoạn khi đốt nương

Trang 20

Người Tày thuộc một trong những dân tộc đã sống định cư từ lâu đời

Các làng bản của họ thường cố định, chỉ chọn một lần Ngoài yếu tố gần

nguồn nước là tiêu chí đầu tiên để chọn đất dựng bản, đồng bào còn quan tâm

đến nhiều yếu tố khác khi chọn nơi định cư Địa hình dựng bản, dựng nhà cửa

của họ thường là những thung lũng tương đối bằng phẳng nhưng vẫn đảm bảo

sự cao ráo, thoáng đãng Xung quanh hoặc không xa nơi cư trú phải có đất

canh tác làm ruộng, làm nương Người Tày là những cư dân sống ở vùng

thấp Chúng ta không thấy ở đâu những làng bản người Tày đặt treo leo trên

những vùng rẻo cao Điều này là một truyền thống khác biệt so với dân tộc

liền với quá trình phát triển của dân tộc Tày Ngoài ra yếu tố phong thuỷ và

tôn giáo cũng được đồng bào để ý tới trong việc chọn đất lập bản làng, dựng nhà

Mỗi bản Tày cũng như nhiều dân tộc khác sống ở vùng núi thường có địa

vực cư trú riêng bao gồm đất ở, đất canh tác, rừng rú, sông suối, bãi chăn thả

gia súc…Ranh giới giữa các bản thường được xác định tương đối theo đường

phân thuỷ, eo núi, sông suối hoặc đường xá Từ đời này qua đời khác các thế

hệ cư dân truyền cho nhau biết về cương vực của làng bản mình Mọi người

dân trong làng vì thế mà nhận rõ ranh giới phân định bản mình với các bản

xung quanh Trước kia, người Tày thường ít khi sống xen cư với các dân tộc

khác, các bản thường ở những khu biệt lập cách xa nhau Vì vậy ý thức về

ranh giới của người dân trong bản được thể hiện rõ ràng Đối với họ, đó là của

chung, cùng có quyền lợi được ở, được canh tác, săn bắn và cùng có nghĩa vụ

bảo vệ Ý thức về một địa vực cư trú góp phần hình thành nên ý thức về dân

tộc, về cộng đồng chung, một cộng đồng dân cư có tổ chức ổn định

2.1.2.2 Quy mô của các làng bản Tày ở Võ Nhai

Người Tày đã có mặt ở Việt Bắc nói chung và ở Võ Nhai nói riêng hàng

ngàn năm Các tài liệu đã chững minh họ tham gia tích cực vào các sự kiện,

biến cố lịch sử xảy ra trong lịch sử ở khu vực vùng này như: Cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ XI và Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nhà Minh thế ký XV Người Tày nằm trong những những nhóm cư dân đầu tiên khai phá vùng đất này Các bản Tày cũng ra đời sớm cùng với quá trình định

cư của dân tộc này ở Võ Nhai Tuy nhiên lúc đó quy mô mỗi bản là rất nhỏ, thường là dưới 10 nóc nhà, cá biệt chỉ có 02- 03 nhà một bản Những bản trên

30 nhà đã được coi là lớn Đến đầu thế kỷ thứ XX, quy mô các bản Tày vẫn chưa được cải thiện nhiều Ví dụ: bản Trường Sơn (xã Cúc Đường) ngày nay nằm ở trung tâm xã, dân cư đông đúc nhưng vào những năm 1930 - 1940 (lúc

đó có tên là bản Cúc), bản chỉ có 05 hộ Tày gốc Theo lời kể của cụ Nông Tiến Hỷ - 87 tuổi thì họ Nông định cư đầu tiên ở đây, đến nay đã được khoảng trên dưới 10 đời Cả một vùng thuộc xã Cúc Đường ngày nay trước năm 1945 chỉ có người Tày cư trú với 02 bản là bản Cúc và bản Nhò, mỗi bản chưa đến 10 nóc nhà Xóm Mỏ Gà (trước có tên là Làng Hang), xã Phú Thựơng vào năm 1937 cũng chỉ có khoảng 07 – 08 nhà, Bản Na Đồng - xã Vũ Chấn ngày nay là bản đông nhất xã với hơn 80 hộ dân tộc Tày, nhưng trước năm 1945 bàn này cũng chỉ có 08 – 09 hộ dân

Điều này không chỉ có ở Võ Nhai mà tại những địa phương có tỷ lệ rất cao dân tộc Tày sinh sống như Lạng Sơn, Cao Bằng theo số liệu thống kê còn

giữ được “thì những bản nhỏ nhất chỉ có 02 hoặc 03 nhà, những bản trên 30

nhà đã được coi là những bản lớn Tài liệu thống kê 16 xã của Châu Cao Lộc

- Lạng Sơn vào năm 1938 cho thấy trong 117 thôn bản thì có 10 bản, tức 8,5% trên 30 nhà và 15 bản, tức 12,8% dưới 5 nhà Cá biệt có điểm cư trú chỉ

có 01 nhà” [23, tr.152 - 153] Ngoài ra các dân tộc ít người khác ở Việt Nam

trong những bản làng truyền thống của họ cũng thường chỉ có dưới 10 hộ gia đình Quy mô lớn hay nhỏ của mỗi bản Tày thường do mức độ ít hay nhiều của ruộng đất canh tác quyết định Những thung lũng lớn và tương đối bằng

Trang 21

phẳng cạnh sông suối thường có một hoặc vài bản đông đúc cùng định cư

Những bản tại đó, dân cư sống tập trung và quây quần hơn, bởi đó là những

địa điểm tụ cư lý tưởng của người Tày Những nơi có điều kiện khó khăn hơn

về địa hình, diện tích đất canh tác ít, đất lại không màu mỡ thường quy mô

của mỗi bản rất nhỏ, có vài gia đình Những gia đình trong bản lại sống rải rác

thành vài xóm Có khi mỗi gia đình ở một quả đồi hay một khe núi riêng biệt

Trong quá trình định cư và khai phá đất đai của người Tày ở nơi đây, xu

hướng tách lập thành những bản mới liên tục diễn ra Một hoặc hai gia đình,

có khi cả một dòng họ với mong muốn tìm đến định cư ở những nơi có điều

kiện tự nhiên thuận lợi hơn cho sinh sống, làm ăn, lâu dần những nơi đó trở

thành bản mới với tên gọi riêng Quá trình định cư, khai phá, dân số tăng cộng

thêm những thành phần cư dân khác di cư đến làm cho những bản nhỏ này

ngày càng có quy mô lớn dần Điều này diễn ra liên tục trong quá trình phát

triển của dân tộc Tày ở Võ Nhai nói riêng và dân tộc Tày trên toàn lãnh thổ

Việt Nam nói chung

Đó là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến việc hình thành những bản mới

Ở người Tày hầu như không có hiện tượng cả bản cùng nhau chuyển hẳn đi

một nơi định cư khác, bởi truyền thống định canh, định cư đã có từ rất lâu đời

ở dân tộc có cuộc sống gắn liền với cây lúa nước này Như đã ví dụ ở trên, xã

Cúc Đường ngày nay có tất cả 05 xóm bản nhưng giai đoạn đầu thế kỷ XX

chỉ có 02 bản Tày gốc là bản Cúc và bản Nhò Những cư dân ở các bản mới

hầu hết có nguồn gốc từ hai bản này cùng với số cư dân các dân tộc khác di

cư đến

Bản người Tày phổ biến được cấu thành từ những gia đình phụ quyền

thuộc các dòng họ khác nhau “Cộng đồng bản là một xã nông thôn độc lập,

lấy đơn vị nhà làm nền tảng” [23, tr.152] Là một xã nông thôn nên quan hệ

láng giềng là quan hệ chủ đạo trong mỗi bản Mỗi bản Tày dù quy mô lớn hay

nhỏ cũng thường chỉ có 02 - 03 dòng họ trở lên, cũng có bản lớn trên dưới 10

họ Trong bản thường có một hoặc vài dòng họ có số nhân khẩu đông hơn, có

vị thế và tiếng nói có trọng lượng hơn so với các dòng họ khác Những họ đó thường là những cư dân đầu tiên của bản, có công khai phá, lập bản làng Thường thì những phần ruộng tốt thuộc về họ và đương nhiên, các chức vị quan trọng trong bản do người của họ giữ Ví dụ: bản Na Đồng (Xã Vũ Chấn) theo thống kê có tới gần 10 họ khác nhau, có số hộ và nhân khẩu đông hơn cả, lần lượt là các họ Hoàng, Ma, Lý, Nguyễn Họ Hoàng và họ Ma đã định cư ở bản này lâu đời nhất Xóm Mỏ Gà (xã Phú Thượng) có họ Hoàng, họ Nông là những họ lớn đã định cư rất lâu đời ở đây Một bộ phận người Tày trong đó

có họ Lành đã di cư từ Lộc Bình, Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn) đến đây do phải chạy Nhật vào những năm 40 - Thế kỷ XX Dân tộc Nùng và Kinh chuyển đến đã làm cho dân số và số họ trong bản tăng lên đáng kể Bản Trường Sơn (xã Cúc Đường) cũng có gần 10 họ Họ Hoàng, Nông, Nguyễn, Lương định

cư ở đây lâu nhất, có số hộ đông nhất

Trong quá trình sưu tầm tư liệu điền dã, tuy không thể đến hết các bản Tày ở Võ Nhai do điều kiện, nhưng chúng tôi thấy rằng không thể tìm thấy ở

Võ Nhai bản nào của người Tày chỉ có duy nhất một dòng họ Điều này theo suy luận logíc là có thể có nơi như chúng tôi trình bày ở trên thì sự thành lập những bản mới bắt đầu 01 - 02 gia đình hoặc cả một dòng họ có nhu cầu tìm đất định cư và canh tác ở một nơi thuận lợi hơn chỗ cũ của họ Những bản mới đó hoàn toàn có thể chỉ có một họ trong một thời gian nhất định Điều này chúng ta thấy điển hình ở Bản Chu, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định, Lạng Sơn vốn chỉ có một dòng họ Nguyễn lên đây khai phá định cư

[23,tr.157]

Những bản có nhiều dòng họ thường là bản lớn, có số nhân khẩu đông và

đã được lập từ rất lâu Ngược lại, những bản có một đến hai họ là những bản

Trang 22

nhỏ hơn hoặc bản mới thành lập Từ những năm giữa thế kỷ XX trở lại đây,

trong mỗi bản Tày,số họ và số nhân khẩu tăng lên nhanh chóng Người Tày

trong lịch sử không có thói quen sống xen cư với các dân tộc khác, trừ với

người Nùng do cùng nguồn gốc và có rất nhiều nét tương đồng, nhưng khi có

các dân tộc khác di cư đến thì họ cũng rất hoà thuận với dân tộc này Người

Kinh từ dưới xuôi lên với hình thức làm con nuôi, lên theo chính sách khai

Giang xuống được người Tày nhượng đất đai và hoà vào cộng đồng Tày nơi

đây Văn hoá giữa các dân tộc có sự giao lưu, bổ trợ nhưng văn hoá Tày

truyền thống vẫn được bảo lưu cơ bản trong các dòng họ Tày gốc và trong

những bản mà người Tày đã định cư từ trước

2.1.2.3 Kết cấu hình thể của làng bản

Vùng cư trú của người Tày ở Võ Nhai không có những cánh đồng lớn,

những thung lũng cũng không rộng Vì vậy các bàn Tày nơi đây thường phân

bố rải rác Mỗi bản cũng thường chia ra làm vài chòm xóm nhỏ, phân bố

tương đối biệt lập nhưng đều hướng ra cánh đồng hoặc đường giao thông

Điều này rất khác so với làng Việt ở Đồng bằng Bắc bộ Cổng làng là yếu tố

rất đặc trưng ở làng Việt thì không có ở bản Tày và các dân tộc thiểu số khác

Điều kiện tự nhiên, địa hình ở đây khác xa so với đồng bằng

Giữa các bản với nhau và giữa các xóm trong một bản được phân định

bởi những yếu tố địa lý tự nhiên như: quả núi, con suối, cánh đồng thậm chí

những ranh giới đó chỉ tồn tại trong ý thức của dân bản Các làng bản người

Tày ở Võ Nhai không có luỹ tre xanh hay những hàng cây, những yếu tố nhân

tạo bao bọc Làng bản ở đây cũng không được bố trí theo tính chất phòng thủ

như một số bản Tày vùng giáp biên của Cao Bằng, Lạng Sơn hay như các dân

tộc vùng Thượng ở Tây Nguyên trong thời kỳ kháng chiến Đây là những bản

làng mở, người ta không rào giậu xung quanh bản làng

Như đã trình bày, các bản làng người Tày thường ở vùng thấp, gần nguồn nước và đường giao thông chính có thể chạy qua giữa các bản hoặc cạnh đó Nếu đi dọc theo con đường từ La Hiên lên xã Nghinh Tường, chúng

ta sẽ đi qua rất nhiều làng bản Tày và hai bên ven đường dọc thung lũng cũng vậy Những bản này thường có lịch sử khá lâu đời

Mỗi xóm trong bản thường có vài gia đình Những xóm này được nối với nhau và nối với đường giao thông chính bằng những con đường đất, đường đá

do đồng bào tự làm Điều kiện giao thông từ xưa đến nay tại vùng này còn rất khó khăn

Làng bản người Tày trong truyền thống thường dựa lưng vào núi, mặt hướng ra thung lũng, cánh đồng Các ngôi nhà trong bản thường theo một hàng lối nhất định Hướng nhà có điều chỉnh chút ít dựa vào tuổi của gia chủ Đây là nguyên tắc truyền thống trong việc dựng nhà của người Tày Người ta tránh những ngọn núi có hình thù quái dị đứng trước bản, những con sông, suối đâm thẳng vào bản

Ở người Tày khu vực cư trú và canh tác không biệt lập với nhau mà tuỳ thuộc vào yếu tố tự nhiên Người ta không quan niệm đâu là khu vực để làm nhà và đâu là khu vực để riêng làm ruộng nương, chăn thả,

2.1.2.4 Hoạt động kinh tế truyền thống

Môi trường sinh thái tự nhiên trong không gian sinh tồn với ba yếu tố quan trọng nhất là nước, đất và rừng có ảnh hưởng quyết định đến định hướng kinh tế của đồng bào Tày ở Võ Nhai Nghành kinh tế quan trọng nhất của họ

từ xưa đến nay là canh tác lúa nước Kết quả của mỗi vụ lúa là nguồn sống chính của họ Ngoài cây lúa nước, đồng bào cũng rất chú trọng việc làm nương rẫy, làm vườn với đa dạng các loại rau quả Kinh tế tự nhiên cũng có vai trò quan trọng Ngoài ra, họ còn có những ngành kinh tế phụ trợ khác như: chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, đánh cá, Đặc điểm nổi bật nhất trong nền

Trang 23

kinh tế của người Tày Võ Nhai đó là mang nặng tính tự cung, tự cấp, thương

mại dịch vụ kém phát triển

Về trồng trọt:

Dân tộc Tày là một trong những nhóm cư dân thuộc nền văn hoá thung

lũng, cư trú ở vùng thấp, họ là những cư dân trồng trọt Địa bàn Võ Nhai

không có những cánh đồng bằng phẳng rộng lớn mà chủ yếu là những thung

lũng hẹp, dài được bao bọc bởi những núi đá vôi dựng đứng Đồng bào đã dày

công khai phá, cải tạo Những thung lũng dọc sông, suối ở đây đã tạo thành

những mảnh ruộng nước tương đối mầu mỡ thuận lợi cho cây lúa nước phát

triển Vì sinh sống ở vùng núi nên các loại ruộng của đồng bào khá đa dạng

gồm: ruộng nước, ruộng cạn chờ mưa, ruộng lầy thụt Dù là ruộng tốt hay xấu

trước đây đồng bào chỉ trồng một vụ lúa, cùng lắm là thêm một vụ hoa mầu

một năm Vài chục năm trở lại đây, ở những chân ruộng tốt nhất đồng bào

mới cấy hai vụ lúa

Trong việc trồng cấy lúa nước, người Tày có truyền thống làm đất rất kỹ

Trước khi cấy, ruộng được cày bừa rất nhiều lần Làm như vậy, theo đồng bào

là để cho đỡ cỏ dại, lúa tốt và quan trọng hơn cả là cày bừa thật kỹ thì ruộng

mới giữ được nước cho cây lúa phát triển Công cụ làm đất của đồng bào gần

giống những công cụ làm đất của người Kinh

Ruộng cấy đã vậy, ruộng mạ còn được làm kỹ hơn nhiều Ruộng làm mạ

thường được chọn là những chân ruộng ở cao, dễ thoát nước, vậy mạ mới dễ

nhổ Theo kinh nghiệm “khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen” nên ruộng làm mạ

thường được dùng cố định qua nhiều vụ Sau khi cày vỡ, họ dọn bờ, bón lót

phân chuồng, thêm phân xanh, cày bừa thêm nhiều lần cho đất thật nhuyễn,

tháo sạch nước sau đó dùng cày san phẳng, đánh thành luống rồi gieo mạ

Quá trình chăm sóc lúa của đồng bào từ lúc mới còn là cây mạ cho đến

lúc được thu hoạch diễn ra với nhiều công đoạn cẩn thận như: bón lót, bón

thúc, làm cỏ nhiều lần Nước trong ruộng luôn được giữ ở mức độ thuận lợi nhất cho cây lúa phát triển

Để đảm bảo cho việc thâm canh lúa nước ở những địa bàn thung lũng, người Tày ở Võ Nhai cũng như ở đồng bào Tày ở các khu vực khác từ xa xưa

đã rất quan tâm chú ý đến việc làm thuỷ lợi Đặc biệt, hệ thống dẫn thuỷ nhập điền cổ truyền với mương, phai, cọn nước khá hoàn thiện Phai là những chiếc đập ngắn, nước từ sông suối đi qua một hệ thống mương máng rồi chảy vào ruộng Phai thường được làm ở đầu nguồn nước của cánh đồng Nguyên liệu

để đắp phai chủ yếu từ tự nhiên: cây, que, dây rừng, đất, vì thế tuổi thọ của những phai là không lớn, thường qua một mùa mưa lũ là đồng bào lại phải gia

cố, có khi làm lại Xưa kia công việc làm mương phai được coi là việc chung của bản Mỗi nhà cử ra một hai người mang theo dụng cụ và góp nguyên liệu

để đắp phai, làm mương máng Hệ thống phai, mương ngày nay ở vùng này phần lớn chưa được đầu tư kiên cố hoá nên mọi quy trình gần như vẫn được thực hiện theo lối cũ Tại những chân ruộng cao hơn bề mặt đường chảy, lại ở

cạnh suối, đồng bào dùng “cọn” (guồng xe nước) để đưa nước lên ruộng Cọn

hình bánh xe, đường kính từ 2-5m tuỳ theo độ cao của ruộng và độ sâu của nước Cọn là một trong những điển hình trong việc lợi dụng sức nước, làm chủ địa hình canh tác của đồng bào Ngày nay, tại các bản Tày ở Võ Nhai người ta vẫn thấy lác đác những cọn nước

Nói chung việc canh tác lúa nước của đồng bào ở đây gặp nhiều khó khăn vất vả hơn nhiều so với vùng đồng bằng nhưng nó cũng cho thấy sự sáng tạo cũng như tình yêu đặc biệt của đồng bào cho những ruộng lúa của họ Ngoài lúa nước, người Tày ở Võ Nhai cũng phát nương làm rẫy Vùng

cư trú chủ yếu của đồng bào Tày là vùng núi đá vôi, với những vách đá dựng đứng, ít núi đất nên đồng bào ở đây cũng có không nhiều nương rẫy Canh tác nương rẫy của đồng bào tuân theo một quy trình nghiêm ngặt: phát đốt, làm

Trang 24

đất, trồng tỉa, làm cỏ, chăm bón, thu hoạch Theo kinh nghiệm chọn đất

nương của đồng bào thì loại nương tốt nhất là được khai phá từ rừng già, có

mầu cây lá xanh thẫm Đối với nương mới phát trong 2, 3 năm đầu đồng bào

thường trồng lúa vì còn tốt, sau đó chuyển sang các loại hoa mầu khác như:

Ngô, khoai, săn, đỗ sau khi canh tác vài năm thấy bạc mầu họ thường chủ

động bỏ hoang một vài năm rồi mới khai thác lại Quy trình khai thác theo chế

độ này vừa tận dụng được quỹ đất, giữ được rừng, chống được xói mòn

Những nương mới, đồng bào không phải bón phân mà sau khi đốt đợi mưa

xuống là chọc lỗ, tra hạt bởi vì đây là những mảnh nương có độ dày mùn cao,

đất rất tốt Những nương cũ họ phải cuốc hoặc cày lần lượt và phải có phân

bón do đất bị xói mòn, bạc mầu Người Tày ở Võ Nhai còn canh tác một loại

nương rất đặc biệt gọi là nương hốc đá (“rầy thin”) Loại này canh tác rất khó

nhưng có thể làm được lâu dài do có đá che chắn, không bị xói mòn, giữ ẩm

tốt Hiện nay, những mảnh nương, rẫy gắn với núi đá, đồng bào đã chuyển

sang trồng một số cây ăn quả dài ngày, tiêu biểu là cây na

Từ xưa, phần lớn các gia đình Tày đều có vườn nhưng có thể nói kinh tế

vườn chưa có vị trí đáng kể đối với họ Vườn thường hẹp, không bằng phẳng

Trong vườn, người Tày thường trồng đủ các loại rau quả, gia vị, nhằm phục

vụ cho nhu cầu của gia đình Điều này thể hiện rõ tính chất tự cung, tự cấp

trong kinh tế của đồng bào

Chăn nuôi:

Với tính chất của nền kinh tế truyền thống là tự nhiên, tự cung tự cấp nên

đồng bào Tày có đa dạng các ngành nghề kinh tế Chăn nuôi là bộ phận khá

quan trọng, tập quán truyền thống của đồng bào trong chăn nuôi là chăn thả

Các loại vật nuôi cũng khá đa dạng đủ cả gia súc, gia cầm Nhưng nhiều nhất

vẫn là trâu, lợn, gà, vịt và thả cá ruộng Vì là cư dân gắn với đồng ruộng nên

đồng bào rất coi trọng con trâu vì “con trâu là đầu sức kéo” “Tậu trâu, lấy

vợ, làm nhà” được coi là ba việc quan trọng nhất trong cả cuộc đời người đàn

ông dân tộc Tày Con trâu có ý nghĩa quan trọng lớn lao đối với họ như vậy nên việc chọn trâu được đồng bào rất quan tâm Ở các bản Tày, trâu chủ yếu được thả rông vào rừng, ở đồng ruộng sau khi thu hoạch Trước kia có bản có luật tục quy định khu rừng riêng dành cho chăn thả trâu, bò Việc chăn thả trâu chủ yếu do người già, phụ nữ, trẻ em đảm trách Sáng họ lùa đàn trầu vào rừng, tối lại đón về, có khi trâu tự về Có nơi người ta để mặc trâu trong rừng

cả tháng, chỉ thỉnh thoảng vào chăm nom Trâu được lùa về chủ yếu được nhốt dưới gầm sàn Ngày nay thì chuồng trâu đã được đồng bào làm ra một khu biệt lập do nhận thức về vệ sinh và tập quán đã thay đổi

Các loại gia súc, gia cầm cũng được đồng bào chăn nuôi chủ yếu theo hình thức thả Lợn, gà, ngan, vịt, dê đều được thả rông tự kiếm thức ăn Buổi tối chúng mới được cho ăn thêm bằng các loại nông sản như: cám, gạo, ngô, sắn Tập quán nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn của đồng bào trước đây chủ yếu nhằm tránh thú dữ

Có thể nói, chăn thả tự nhiên là một ngành kinh tế phụ gia đình trong các bản Tày truyền thống ở Võ Nhai Các gia đình có khá đa dạng các loại vật nuôi nhưng mục đích chính vẫn là nhằm tận dụng các loại phụ phẩm nông nghiệp và phục vụ cho nhu cầu của gia đình, làng bản là chính, năng suất và lợi nhuận thấp

Tiểu thủ công nghiệp:

Khi mà thương nghiệp và trao đổi ở vùng này chưa phát triển thì đồng bào buộc phải tự sản xuất ra hầu hết các sản phẩm thủ công để phục vụ cho cuộc sống của chính họ Đó là lý do để cho các nghề thủ công truyền thống phát triển khá đầy đủ và đa dạng trong các làng bản người Tày Ở người Tày

Võ Nhai những nghề thủ công không thể thiếu đối với họ là: đan lát, dệt, mộc, chế biến một số nông lâm sản (nấu nượu, làm đậu, ép mía đường, ép dầu thực

Trang 25

vật), Các sản phẩm thủ công này chỉ được sản xuất nhỏ, lẻ theo quy mô gia

đình, chưa được coi là hàng hoá Ở Võ Nhai chưa thấy có làng bản Tày nào

mà người dân sống bằng thủ công nghiệp là chính

Kinh tế tự nhiên:

Sống ở vùng cao, gắn với những cánh rừng và sông suối nên kinh tế tự

nhiện từ lâu đã là một mảng kinh tế không thể thiếu và có vai trò quan trọng

trong việc cải thiện đời sống thường nhật của đồng bào

Trong đời sống kinh tế truyền thống của đồng bào: săn bắn, hái lượm,

chiếm đoạt các sản vật sẵn có trong tự nhiện để sinh sống là hoạt động không

thể thiếu Các loại muông thú, rau, củ, quả sẵn có trong rừng là nguồn cung

cấp thực phẩm cho các bữa ăn, dược liệu để chữa bệnh Không những thế,

việc đánh bẫy, săn bắn còn có ý nghĩa ngăn chặn sự phá hoại của muông thú,

bảo vệ mùa màng Hoạt động chiếm đoạt tự nhiên của họ diễn ra quanh năm

Có hai hình thức săn: săn cá nhân và săn tập thể Vũ khí săn là súng kíp,

dao, lao, tên nỏ, và các loại cạm bẫy Dụng cụ đánh bắt cá gồm có: Chài lưới,

câu, đó, Săn bắn là công việc của đàn ông, còn hái lượm các loại rau, củ,

quả trong rừng là công việc của phụ nữ Công việc này diễn ra quanh năm

nhưng họ đều tranh thủ khi nông nhàn Vào mùa xuân – hè, kiếm các loại rau,

măng, nấm, mộc nhĩ Mùa thu – đông thì các loại củ, quả sẵn có trong rừng là

nguồn cung cấp thực phẩm cho các bữa ăn, dược liệu để chữa bệnh

Trao đổi buôn bán:

Ở Võ Nhai người Tày cư trú nhiều tại 6 xã phía Bắc nơi mà điều kiện

giao thông gặp quá nhiều khó khăn, bị ngăn cách bởi những dãy núi song

song và dựng đứng Đó là một thiệt thòi lớn và hạn chế sự giao lưu kinh tế,

trao đổi buôn bán của đồng bào nơi đây

Trước năm 1985 cả 6 xã phía Bắc đều không có chợ Đồng bào phải đi

chợ huyện tận Đình Cả hoặc chí ít cũng phải ra La Hiên thì mới có chợ Họ

phải đi bộ cả chục cây số, leo ngược dốc mới đến được chợ Vì vậy, đi chợ phải mất đến 2-3 ngày và đôi khi phải ngủ trọ nhà người quen Dù khó khăn vất vả như vậy mỗi khi đi chợ đồng bào coi là một thú vui rất lớn và nó đã trở thành một nét văn hoá Tại những buổi chợ phiên đó người ta không chỉ trao đổi buôn bán mà còn có dịp được gặp gỡ, giao lưu với những người đồng bào của mình và với những dân tộc khác Nam nữ coi đây là dịp tốt để tìm hiểu nhau

Ở những buổi chợ phiên đó, đồng bào thường mang bán những thứ nông lâm thổ sản, gia súc do mình làm ra và mua về những nhu yếu phẩm như: mắm muối, dầu đèn và rất nhiều thứ hàng tiêu dùng khác Những thứ hàng này là của những tiểu thương người Kinh gồng gánh từ dưới xuôi lên Hàng hoá được tính theo đơn vị đo lường trong vùng: gà, vịt tính con, rau tính mớ, củi tính bó, thóc gạo tính bằng ống Việc dùng cân kilô cũng đã khá phổ biến Tiền đã được dùng làm đơn vị trao đổi, tuy nhiên hiện tượng vật đổi vật cũng vẫn còn

Từ năm 1985 khi chợ Cúc Đường được thành lập thì việc buôn bán và trao đổi hàng hoá của đồng bào dân tộc Tày cũng như các dân tộc khác tại 6

xã phía Bắc Võ Nhai đã dễ dàng hơn nhiều Ngày nay, tại mỗi xóm bản đều

có một vài cửa hàng tạp hoá bán đủ các loại nhu yếu phẩm phục vụ cho nhu cầu của bà con Chợ Nghinh Tường cũng được lên kế hoạch xây dựng sẽ là điều kiện tốt cho thương mại nợi đây

Nói chung kinh tế truyền thống của người Tày ở Võ Nhai lấy cây lúa nước và hoạt động sản xuất nông nghiệp làm trung tâm Ngoài ra kinh tế tự nhiên có vai trò đáng kể và vẫn luôn được duy trì Tiểu thủ công nghiệp của đồng bào cũng chưa có thế mạnh, chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu nội tại Trao đổi buôn bán gặp rất nhiều khó khăn do địa hình Ngày nay, tình hình kinh tế của đồng bào đã có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, việc đầu tư cho hệ thống giao thông trong vùng là việc cần làm ngay

Trang 26

2.1.2.5 Các loại hình nhà cửa

Nhà cửa của người Tày ở Võ Nhai cơ bản giống với các loại hình nhà

cửa của người Tày các khu vực khác Theo các tác giả trong cuốn Các dân tộc

Tày - Nùng ở Việt Nam thì “nhà ở của người Tày, Nùng có hai loại chính:

nhà sàn và nhà đất” [23, tr.110] Về văn hoá vật chất nói chung và nhà cửa

của người Tày nói riêng thì trong hầu hết các công trình nghiên cứu của các

tác giả về dân tộc Tày đều được trình bày một cách khá kỹ lưỡng Ở đây,

chúng tôi trên cơ sở tiếp thu, kế thừa cùng với tư liệu điền dã có được chỉ xin

trình bày một cách sơ lược do điều kiện cũng như đây không phải là trọng tâm

của đề tài Qua đó, chúng tôi cố gắng giới thiệu những đặc trưng của nhà cửa

của người Tày ở Võ Nhai

Nhà sàn: “Sống ở vùng núi, mưa lắm, nắng nhiều, độ ẩm cao, lại nhiều

côn trùng, thú giữ, trong dòng chảy chung của lịch sử, người Tày đã làm nhà

sàn là ngôi nhà ở đầu tiên của mình Sự thật hiển nhiên là bao đời nay, người

Tày vẫn ở nhà sàn, còn ở nhà đất cách đây chưa đầy thế kỷ Việc người Tày ở

nhà sàn từ xa xưa còn được ghi nhận trong các câu chuyện cổ tích ” [18, tr 91]

Không riêng gì người Tày mà rất nhiều các dân tộc thiểu số sống ở miền núi

nước ta đã ở nhà sàn Người Việt cổ cũng từng ở nhà sàn Đó là đặc điểm

chung của nhiều nhóm cư dân ở Đông Nam Á trong lịch sử

Các nhà nghiên cứu thường lấy mặt bằng hoặc cấu tạo phần mái làm cơ

sở để phân loại các kiểu dạng nhà sàn truyền thống của người Tày Cấu trúc

bộ sườn cũng được lấy làm cơ sở để phân loại Bộ sườn của ngôi nhà bao gồm

các vì kèo Mỗi một vì được tạo nên bởi sự liên kết giữa kèo và các hàng cột

Thông qua kết cấu vì kèo, chúng ta biết được các kiểu dạng của nhà Có hai

kiểu dạng cơn bản của nhà sàn Tày truyền thống là kiểu vì bốn và sáu hàng

cột, kiểu năm và bảy hàng cột Trong đó kiểu nhà sàn sáu hàng cột là phổ biến

hơn cả trong các vùng Tày ở Võ Nhai

Về đại thể: Kiểu vì sáu hàng cột có kỹ thuật dựng giống kiểu vì bốn hàng cột; kiểu bẩy hàng cột giống với kiểu vì năm hàng cột Hai kiểu vì sáu và vì bẩy được coi là phức tạp và cũng hoàn thiện nhất của nhà sàn truyền thống Tày Việc xây dựng một ngôi nhà sàn đòi hỏi không ít thời gian và nhân công Riêng việc chuẩn bị nguyên vật liệu đã mất vài năm, thậm chí đến cả chục năm Tuy nhiên, việc chuẩn bị nguyên vật liệu không được tiến hành thường xuyên mà chỉ diễn ra trong thời kỳ nông nhàn Gỗ mang về thường được ngâm dưới ruộng, dưới ao cho đến khi dùng đến Trong quá trình lựa chọn và chuẩn bị nguyên vật liệu, người ta cũng quan tâm và chuẩn bị ngay mặt bằng

để dựng nhà Ở Võ Nhai, người Tày muốn có mặt bằng phù hợp để dựng một ngôi nhà sàn thường phải mất nhiều công sức xẻ núi, san nền Rất ít có những ngôi nhà được dựng trên những mặt bằng sẵn có vì địa hình đặc trưng miền núi ở nơi đây

Dụng cụ làm nhà sàn của người Tày khá phong phú và chủ yếu do đồng bào tự chế tạo và trao đổi như: cưa, đục, búa, dao, rìu,

Việc làm nhà, bên cạnh sự giúp đỡ đông đảo của anh em họ hàng còn có

sự hỗ trợ của những người thợ chuyên nghề là người đồng tộc ở trong hoặc ngoài bản Những người thợ được đón tiếp rất chu đáo bắt đầu từ lúc đi mời cho đến khi hoàn thành ngôi nhà và tiễn đưa Họ thường được mời tham gia những công đoạn quan trọng, từ khi đặt viên đá kê cột cho đến việc treo thượng lương cài sào, đôi khi nhóm bếp lửa Ngày vào nhà mới cũng không thể thiếu họ Việc dựng nhà sàn của người Tày ở Võ Nhai từ trước đến nay không thấy sự xuất hiện của những tay thợ chuyên nghiệp người Kinh từ dưới xuôi lên Điều này thường có ở các vùng Tày ở Tuyên Quang hay Ba Bể, Bắc Kạn Ở những nơi này kỹ thuật dựng nhà sàn đã được lai tạo từ kỹ thuật dựng nhà của người Kinh do họ đã từng thuê những tốp thợ người Kinh đến dựng

nhà “Nhà sàn làm theo kỹ thuật của người Việt vững chắc, thoáng mát, sáng

Trang 27

sủa và vệ sinh nhờ tách bếp ra khỏi nhà chính”[18] Đó là những ưu điểm nổi

bật Hiện nay kiểu nhà này đang trở thành xu thế ở một số nơi và cũng có thể

làm thay đổi đôi chút kỹ thuật làm nhà sàn của người Tày ở Võ Nhai

Nhà sàn Tày ở Võ Nhai thường lợp rạ, cỏ tranh, ngói âm dương Gỗ

dựng nhà thường là các loại gỗ rất tốt như nghiến, lim, táu, lát nên ít nhất là

sử dụng được vài chục năm, thậm chí hàng trăm năm

Cách bố trí mặt bằng sinh hoạt trong nhà sàn ở các gia đình Tày khá

thống nhất Nhà thường có một cửa chính ra vào và một cửa phụ, có hai hoặc

ba cửa sổ, một hoặc hai bếp Trong nhà có sự quy định rõ ràng nơi để đồ đạc

và nơi ngủ của các thành viên trong gia đình Bàn thờ được bố trí ở nơi trang

trọng nhất, thường ở gian giữa Hướng bàn thờ có thể không đồng nhất với

hướng chính của ngôi nhà và thường được chọn theo tuổi của gia chủ Về

cách bố trí mặt bằng sinh hoạt ở tầng sàn, cửa chính ra vào thường mở ở phía

đầu hồi trước, có cầu thang Đầu hồi phía sau nhà thường không có cửa phụ

Hầu hết các ngôi nhà đều có sàn gác, sàn gác có thể được đặt ở hầu hết các

gian (trừ gian có đặt bàn thờ) Nó thường được sử dụng để đặt bồ, dậu, đựng

các sản phẩm trồng trọt, dụng cụ dệt vải Gầm sàn có thể để trống hoặc được

rào lại bằng tre, gỗ để nhốt gia súc, tránh thú dữ bảo vệ gia súc hoặc là nơi để

nông cụ và nhiều vật dụng khác Việc nhốt gia súc dưới gầm sàn hiện nay

không còn phổ biến do nhận thức của đồng bào về vấn đề vệ sinh đã khác

trước rất nhiều

Xung quanh nhà sàn của người Tày ở Võ Nhai thường người ta thường

rào rậu khá chắc chắn nhằm tránh thú dữ làm hại đến người và gia súc Có

nhà, gia chủ hay trồng những hàng cây xung quanh Các ngôi nhà thường ở

biệt lập, thoáng đãng, xung quanh là ruộng vườn, đồi nương Những nơi có

mật độ nhà sàn dầy, liền nhau thường là nơi có địa thế bằng phẳng, rộng Nhà

nọ liền kề, sát vách nhà kia và họ thường là người cùng một dòng họ, có quan

hệ ruột thịt Hai đại gia đình của các cụ Nông Tiến Hỷ và Nông Tiến Thịnh ở bản Trường Sơn - xã Cúc Đường là vì dụ điển hình

Nói chung, nhà sàn truyền thống là một nét văn hoá vật chất đặc trưng tiêu biểu của dân tộc Tày nói chung và người Tày ở Võ Nhai nói riêng Những nhà sàn truyền thống của người Tày chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều

ở các xã phía bắc huyện Võ Nhai như Cúc Đường, Vũ Chấn, Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung Đa số các bản Tày ở đây nhà ở 100% là nhà sàn Càng ở vùng sâu, vùng xa, yếu tố truyền thống của nhà sàn càng được bảo lưu đậm nét Nhà sàn Tày truyền thống là một đề tài thú vị và rất đáng được nghiên cứu sâu sắc, toàn diện hơn Ở đây trong khuôn khổ là một phần của một luận văn, chúng tôi không có đủ điều kiện làm việc đó

Nhà đất: Loại hình nhà nền đất của người Tày mới xuất hiện cách nay

khoảng vài chục năm, nhất là từ sau khi đổi mới Hiện nay loại hình này chiếm một tỷ lệ đáng kể và đang ngày càng trở thành một xu thế Ví dụ: ở bản

Mỏ Gà, Phượng Hoàng (xã Phú Thượng) trước những năm 1950, 100% là nhà sàn thì đến nay mỗi bản chỉ còn 03 - 04 chiếc Nguyên nhân chính của việc người Tày đang có xu thế chuyển sang ở nhà nền đất là vì thiếu nguyên liệu

để làm nhà sàn, rừng hầu như không còn để khai thác nữa Nguyên vật liệu dự trữ không thể đáp ứng hết nhu cầu dựng nhà sàn của người dân do dân số ngày một tăng Những gia đình Tày ở vùng thấp, ven đường hiện nay thường làm nhà nền đất, gần đây đã được bê tông hoá nhiều Nhà nào có điều kiện kinh tế khá giả lắm mới nghĩ đến chuyện mua đủ gỗ dựng được một ngôi nhà sàn Rõ ràng người Tày vẫn thích ở nhà sàn hơn, việc chuyển sang xây dựng

và ở nhà nền đất là một sự bắt buộc đối với họ Nhà nền đất của người Tày phổ biến ở các xã vùng thấp hơn như Phú Thượng, Thị trấn Đình Cả, trung tâm xã Cúc Đường

Trang 28

Cấu trúc nhà nền đất của người Tày ở đây có đặc điểm là hầu hết đều

được dựng khá cao “Có lẽ đây là một trong những thói quen sống ở nhà sàn

thoáng mát vẫn còn lưu lại trong tâm trí của đồng bào, nên khi chuyển xuống

ở nhà nền đất cũng cần đảm bảo sự cao ráo, có đủ ánh sáng” [19, tr 158]

Nhà nền đất của người Tày so với nhà sàn thường nhỏ về quy mô, đơn

giản về kết cấu bộ sườn, bố cục bên trong nhà cũng đổi khác Nhìn chung kỹ

thuật làm mái dựng vì kèo hầu hết là đục mông, ngoạm, nấc và tạo lỗ khi làm

tường Bộ sườn của ngôi nhà vách vắt đất phần tre, nứa khác với những nhà

xây gạch, mộc hay trình tường Việc chuẩn bị làm một ngôi nhà nền đất

thường chỉ mất 02 - 03 năm

Nhà đất của đồng bào chủ yếu có hai mái chính Nguyên liệu để lợp mái

chủ yếu là rơm rạ, cỏ tranh, thân tre Những nhà được xây dựng sau này

thường lợp ngói

Đối vời nhà nền đất, mặt bằng sinh hoạt có phần khác hơn so với nhà

sàn, vì diện tích sử dụng chỉ có một tầng, còn phần gác xép chủ yếu để cất giữ

thóc, ngô và một số loại đồ đạc quan trọng của gia đình Về cơ bản cách bố trí

mặt bằng vẫn có nhiều yếu tố tương đồng với tầng sàn của ngôi nhà sàn, cụ

thể là cách bố trí bàn thờ, gian khách, cửa phụ, buồng ngủ của các thành viên

trong gia đình Điểm khác của cửa chính được mở ở gian giữa, không mở ở

phía đầu hồi Hơn nữa, do nhu cầu thoáng mát và nhiều ánh sáng nên nhà nền

đất được mở khá nhiều cửa sổ Tuy nhiên hầu hết các ngôi nhà nền đất của

người Tày hiện nay đều có một đặc điểm là nhà bếp đã được bố trí riêng, tách

ra khỏi nhà chính

Những ngôi nhà nền đất của người Tày ở Võ Nhai và nhiều nơi khác đặc

biệt là ở gần thị trấn, đường giao thông, có kết cấu kỹ thuật giống như nhà của

người Việt, biểu hiện rõ ở các kiểu vì kèo Rất dễ hiểu những kiểu vì kèo này

là do quá trình giao lưu trong kỹ thuật xây dựng hoặc do các thợ người Việt trực tiếp làm

Không gian sinh tồn của người Tày ở Võ Nhai như đã trình bày ở trên bao gồm điều kiện địa lý tự nhiên, khung cảnh sản xuất, cách bố trí làng bản, nhà cửa và các hoạt động kinh tế truyền thống Điều kiện đó đã gắn với cuội sống của đồng bào hàng trăm năm nay Nó có tác động quan trọng tới cơ cấu tổ chức, các hoạt động cộng đồng và cả văn hoá, tâm lý, tín ngưỡng của người dân

2.2 Cơ cấu tổ chức

2.2.1 Các tổ chức quản trị

Làng Việt cổ truyền trong suốt một thời gian dài trước thời kỳ của vua

Lê Thánh Tông đã mang tính chất tự trị, tự quản đậm nét, nó là một đơn vị độc lập Về điểm này, các làng bản miền núi trong đó có các bản của dân tộc Tày càng rõ ràng hơn Vì khu vực cư trú của họ thường rất xa kinh thành, trung tâm quyền lực của nhà nước phong kiến Pháp luật của Nhà nước và quyền hành của nhà vua thường ít vươn tới được những khu vực này

Trong điều kiện như vậy “Cộng đồng bản là một công xã nông thôn độc

lập, lấy đơn vị nhà làm nền tảng” [23, tr.152] Trong lịch sử ở các vùng

người Tày đã từng có một tổ chức xã hội truyền thống cao hơn bản đó là Mường Tổ chức xã hội ở cấp này khoảng trên dưới 50 năm trở lại đây đã không còn nữa Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, trên các bản Tày có các thiết chế quan phương như châu, tổng, xã Đôi khi những bản lớn cũng được cấu trúc thành một xã trong bộ máy nhà nước với người đứng đầu là lý

trưởng Câu “Nhất thôn, nhất xã, nhất đình môn” đã phản ánh điều này ở

vùng thuộc xã Cúc Đường ngày nay Tuy vậy ở thời kỳ nào, có những biến động gì xảy ra thì bản vẫn là một đơn vị cơ bản

Trang 29

Với tính độc lập và tự quản cao như vậy, rõ ràng các bản của người Tày

cần một bộ máy “lập pháp” và “hành pháp” riêng Trong bộ máy đó, hội

đồng già làng và trưởng bản có vị trí và vai trò quan trọng nhất

Hội đồng già làng, trưởng Bản: cũng như đa số các làng việt cổ truyền

ở vùng đồng bằng bắc bộ, bản của người Tày có hội đồng già làng (miền xuôi

có nơi gọi là hội đồng kỳ mục) Tuy nhiên chúng tôi hầu như chưa tiếp cận

được tư liệu nào có giới thiệu đầy đủ tổ chức đã từng tồn tại này của người

Tày nói chung cũng như người Tày ở Võ Nhai Nền văn hoá Tày được liệt

vào một trong những nền văn hoá thung lũng Đời sống đồng bào gắn liền với

việc canh tác cây lúa nước Tư tưởng trọng nông đã có từ lâu đời mà trong các

xã hội nông nghiệp truyền thống như thế người ta luôn luôn tôn trọng người

có tuổi và rất cần kinh nghiệm của họ Theo tư liệu điền dã, chúng tôi thấy

rằng hội đồng già làng ở các bản của người Tày thường có tổ chức không chặt

chẽ và quy củ Hoạt động của hội dựa trên ý thức của các thành viên là chủ yếu

Các thành viên nam giới trong bản khi đã đến tuổi được coi là cao niên

được dân bản kính trọng và tự nguyện, tự nhiên được gia nhập vào hội đồng

già làng Hội đồng này tuy có quy chế không chặt chẽ (như hội đồng kỳ mục

ở các làng Việt cổ truyền) nhưng là “cơ quan” quan trọng nhất trong bản thể

hiện ở chỗ: bàn bạc đi đến thống nhất và quyết định lập ra các quy định riêng

của bản, bổ sung, sửa đổi các luật tục

Ngoài ra, hội đồng già làng còn giám sát việc thi hành những luật tục đó

Họ cũng đứng ra phân xử những tranh chấp nếu có giữa các thành viên hoặc

các gia đình trong cộng đồng bản Sự tồn tại và hoạt động của hội đồng già

làng ít được ghi chép và nghiên cứu đầy đủ Qua quá trình điền dã, chúng tôi

thấy rằng sự tồn tại của nó chỉ còn được loáng thoáng trong trí nhớ của những

người cao tuổi Nhưng vai trò của tổ chức này với tư cách là một tổ chức quản

trị thực sự trong các cộng đồng bản độc lập tự trị thì cần phải được khẳng

định Ngày nay hội đồng này được thay bằng chi hội người cao tuổi, một tổ chức mang tính chất xã hội thuần tuý Tuy nhiên những tàn dư của hội đồng già làng vẫn còn đó khi truyền thống đặc biệt kính trọng người cao tuổi vẫn được duy trì trong cộng đồng bản

Như đã giới thiệu, hội đồng già làng và trưởng bản có vai trò rất quan trọng trong mọi mặt đời sống của người dân trong bản Trưởng bản là người đứng đầu một bản, là đàn ông, tuổi trung niên trở lên Trưởng bản là người có

uy tín, có năng lực giải quyết các công việc chung của bản thường được hội

đồng già làng đề cử và dân bản tín nhiệm bầu ra “Về chức năng, trưởng bản

là đại diện cho thiết chế tự quản, thể hiện ý chí của cộng đồng, thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại Đối với thôn bản và cấp trên, từ một hình thức phi quan phương, trưởng bản ở hầu hết các thôn bản người Tày đã trở thành một chức quan phương, một thành phần trong bộ máy cai trị của giai cấp phong kiến”[19, tr.516] Tuy nhiên, khi xảy ra xung đột giữa cơ chế tự

quản của làng bản với các cấp chính quyền trên bản thì trưởng bản luôn ưu tiên bảo vệ quyền lợi của cư dân trong bản cũng như quyền lợi chung của bản Chức vị trưởng bản đã từng có vai trò và vị trí như vậy trong lịch sử, nhưng đến thời kỳ hợp tác hoá lại hầu như bị xoá bỏ Quyền điều hành các hoạt động chung của thôn bản được trao vào tay các chủ nhiệm hợp tác xã hay các đội trưởng sản xuất Điều này tác động rất mạnh đến cơ chế tự quản làng bản của người Tày Có thể nói đây là một thiếu sót của lịch sử Trong một thời gian dài chúng ta đã cho rằng tiến lên xã hội chủ nghĩa, việc đầu tiên là

xoá bỏ hết những “tàn tích” phong kiến, những phong tục tập quán “cổ hủ,

lạc hậu” Điều đó xuất phát từ việc nhận thức chưa đầy đủ các vấn đề của bản

làng và ý nghĩa vô cùng to lớn của những giá trị truyền thống Uy tín đặc biệt lớn của các già làng, trưởng bản và những ưu điểm của cơ chế tự quản của làng bản các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Tày đã được thực dân Pháp

Trang 30

duy trì và khai thác trong suốt quá trình “bảo hộ” Tất nhiên, mục đích của

chúng là tiêu cực với bản làng và nền văn hoá truyền thống tốt đẹp của đồng bào

Đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX, với việc kiện toàn lại các tổ chức

kinh tế trong khu vực nông nghiệp - nông thôn, Đảng và Nhà nước lại chủ

trương tăng cường công tác quản lý cơ sở, chức trưởng bản được phục hồi với

những chức năng và nhiệm vụ mới Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VII) chỉ

rõ: “Nhà nước cần sớm nghiên cứu đề ra quy ước thích hợp về chức năng và

vai trò cấp thôn, ấp, bản phù hợp với tình hình từng vùng” [Trích theo 16]

Hiện tại, mỗi xóm bản đều có một trưởng xóm, bản Đó là việc làm rất đúng

đắn và cần thiết nhằm phục vụ chủ trương xây dựng nông thôn mới trong

vùng dân tộc Tày cũng như các dân tộc thiểu số khác trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Luật tục: Tập quán pháp, tục pháp, luật lệ dân gian, luật pháp không

thành văn là những chuẩn mực xã hội được nẩy sinh trong đời sống tộc người

Mục đích của nó là để điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống dân tộc người

“Nó xuất hiện từ buổi sơ khai của xã hội nguyên thuỷ Đặc điểm

của nó là do hồi bấy giờ chưa có chữ viết, nên truyền miệng từ đời này

sang đời khác Một nội dung căn bản, chủ yếu của nó là việc giáo dục

con người để trở thành người lớn, một thành viên bình đẳng của xã hội,

nghĩa là trước khi qua tuổi vị thành niên, trước khi trải qua tục thành

đinh nguyên thuỷ, trai gái đều phải được giáo dục rất đầy đủ về đạo lý

làm người và cách xử thế thông qua giáo dục luật tục của cộng đồng

Trong các giai đoạn kế tiếp theo của xã hội nguyên thuỷ, luật tục được

hoàn thiện dần Khi xã hội đã phân hoá giai cấp, khi đã xuất hiện chữ

viết thì nó được ghi chép lại, đây là loại luật tục tồn tại ở giai đoạn

muộn, không chỉ truyền miệng mà còn ghi lại thành văn, tuy nhiên nó

chưa phải là luật pháp, của xã hội văn minh đã hình thành Nhà nước

quốc gia Nói chung luật tục có sức sống dai dẳng, tồn tại trong các xã

hội tiền Tư bản chủ nghĩa….Ở các dân tộc miền núi nước ta, trước năm

1945 vẫn tồn tại luật tục” [4, tr.240]

Như vậy, luật tục là một hiện tượng phổ biến trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trước cách mạng Dân tộc Tày nói chung cũng không ngoại

lệ Luật tục được lập ra gồm những chuẩn mực nhằm hướng dẫn và điều hành

sự tồn tại và phát triển của xã hội truyền thống Tuy nhiên ngày nay, việc sưu tầm và nghiên cứu luật tục của người Tày cũng như của các dân tộc khác chưa được coi trọng và cũng chưa có mấy kết quả

Về đại thể, qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng luật tục của đa số các bản của người Tày ở Võ Nhai đều quy định khá cụ thể về các vấn đề liên quan trực tiếp tới mọi người dân trong bản như:

Những quy định và nghĩa vụ của mọi người trong việc bảo vệ môi trường sinh thái chung của bản, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng cấm Rừng núi đất đai của họ nào, nhà nào thì nhà đó mới được sử dụng, không được xâm phạm Mọi người làm ruộng, phát nương phải tránh khu vực rừng đầu nguồn, rừng cấm Những quy định trong việc bảo vệ mùa màng như: Không được ăn cắp hoa màu; trong thời vụ không ai được thả rông trâu bò,… Ai vi phạm đều phải bị phạt và bồi thường cho người bị hại

Khi trong bản có người chết, mọi người có trách nhiệm giúp đỡ gia chủ trong đám tang theo khuôn khổ của phường phe

Trong khi săn bắn phải thấy rõ thú rừng mới được bắn

Những quy định trong việc bảo vệ trị an xóm bản như: Có kẻ trộm, kẻ cướp tới bản thì mọi người đều phải có trách nhiệm đuổi bắt

Không ai được phép gieo cấy trước lễ hội lồng tồng

Không được loạn luân trong dòng họ

………

Trang 31

Cư trú ở những vùng xa xôi so với trung tâm quyền lực của Nhà nước

phong kiến trong những bản độc lập mang tính tự nguyện cao, luật tục là

không thể thiếu và chắc hẳn là có vai trò rất to lớn trong mọi mặt đời sống của

đồng bào Những lệ làng, hương ước ở miền xuôi của đồng bào Kinh cũng có

ý nghĩa tương tự

Khi mà luật pháp của triều đình còn chưa vươn tới các làng bản cộng với

quyền lực hành chính rất yếu ớt ở đây, người dân chỉ biết đến luật tục và sống

theo những quy định của nó Luật tục quy định và điều chỉnh tất cả các vấn đề

của cộng đồng bản như: Sử dụng và bảo vệ tài sản công cộng, ma chay, cưới

xin, thờ cúng, lễ hội, các quan hệ làng bản Như vậy, luật tục “là thuộc phạm

trù ý thức xã hội và kiến trúc thượng tầng.” [4, tr 941]

Thuộc phạm trù ý thức xã hội nên luật tục mang trong nó những yếu tố

tích cực nhưng cũng không thiếu những yếu tố tiêu cực Mặt tích cực của luật

tục như: khuyến khích lao động, bảo đảm tính kỷ cương của bản làng, đề cao

tính thật thà, ngay thẳng, cần cù, chăm chỉ, khuyến khích và duy trì các mối

quan hệ tốt đẹp, đạo lý làm người Mặt hạn chế chủ yếu là sự lỗi thời của nó

so với sự phát triển của cộng đồng, bảo lưu tính cục bộ, Với cả hai mặt như

vậy, luật tục tồn tại dai dẳng trong cộng đồng làng bản Sau Cách mạng, nó

vẫn phát huy vai trò với từng bản

Luật tục là của mỗi làng bản nên khi tìm hiểu về luật tục chúng ta có thấy được

tính đặc trưng và sự khác biệt của mỗi bản, mỗi vùng trong cộng đồng Tày

Vì không đủ tài liệu làm cơ sở và quá trình điền dã chưa thu được nhiều

kết quả nên chúng tôi buộc phải dừng việc giới thiệu về vấn đề này ở đây

Luật tục của dân tộc Tày nói chung cần thêm sự nghiên cứu nghiêm túc và

sưu tầm đầy đủ hơn bởi ý nghĩa thực tiễn của nó trong công cuộc xây dựng

nông thôn làng bản mới hiện nay để làm sao loại bỏ phần tiêu cực, chắt lọc

lấy phần tích cực, cải biến nó, nâng cao nó

Về vấn đề này, ngày 11/5/1998, Chính phủ đã ra quy chế thực hiện dân

chủ ở xã trong đó có phần khẳng định: “Thôn, làng, ấp, bản xây dựng hương

ước, quy ước về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư, kế thừa và phát huy thuần phong mỹ tục của cộng đồng, phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh Hương ước do nhân dân xây dựng, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã đề nghị và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt hương ước, quy ước đó” [Trích theo 16, tr.99]

Ngày nay, những thôn bản của người Tày trên cơ sở phát huy, chắt lọc những luật tục cũ đều đã xây dựng được những quy chế xây dựng thôn bản văn hoá mới theo chủ trương của Đảng

2.2.2 Tổ chức dòng họ

Đối với dân tộc Tày hay với nhiều dân tộc khác, dòng họ là tổ chức xã hội truyền thống, tổ chức này có ảnh hưởng to lớn đến tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội của cộng đồng dân tộc Do đó tìm hiểu về dòng họ giúp chúng ta hiểu rõ hơn đời sống của một tộc người

Như đã giới thiệu, mỗi bản của người Tày thường có vài họ cùng sinh sống, bản ít có hai đến ba họ, nhiều có trên dưới mười họ Không có bản Tày nào ở Võ Nhai mà chỉ có một dòng họ sinh sống (điều này là có thể có trong lịch sử) Những bản có quy mô lớn, dân đông thường có nhiều dòng họ, bản

đó thường được lập từ sớm (như trường hợp bản Na Đồng, Na Rang xã Vũ Chấn) Ngược lại, những bản mới lập, nhỏ có ít họ, ít gia đình và nhân khẩu hơn Hệ thống tộc danh của người Tày ở Võ Nhai khá phong phú Các họ điển hình có số nhân khẩu đông hơn cả như Hoàng, Ma, Nông, Lý, Nguyễn, Lương,

Các dòng họ trong mỗi bản thường có những dòng họ lớn chiếm ưu thế

Họ có uy tín và có ảnh hưởng lớn đến tất cả các mối quan hệ trong bản Ví dụ:

Trang 32

Họ Ma, họ Hoàng ở Na Đồng (xã Vũ Chấn), Họ Nông ở Trường Sơn (xã Cúc

Đường), Đó là những họ có công khai phá đất đai, lập bản làng Ở những

nơi đó ít nhiều có tính cục bộ dòng họ

Về mặt tâm lý và tình cảm, người Tày rất trọng mối quan hệ gia tộc,

dòng họ Tuy nhiên, từ lâu các mối quan hệ đã giữ vai trò chủ đạo theo kiểu

“bán anh em xa mua láng giềng gần” Những gia đình trong họ thường ở gần

nhau, họ giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, sản xuất, bênh vực nhau trong quan hệ

xã hội Trong thôn bản, những mối quan hệ thôn tộc và thích tộc chằng chịt

lẫn nhau Hầu hết những người trong bản nhất là những bản không lớn lắm

đều có mối quan hệ thân thích với nhau hoặc gần, hoặc xa Nếu không cùng

một họ thì cư dân trong họ còn có các mối quan hệ thân thích khác thông qua

hôn nhân, nhận con nuôi hay từ việc “mai mối” Người ta thường rất ngại gây

ra những xung đột, xích mích trong những mối quan hệ, đặc biệt là những

người có họ hàng với nhau Vì thế trong bản làng thường hoà thuận, ít xô xát,

cãi vã Lợn, gà thả rông phá phách vườn rau, trâu bò ăn ngô lúa, phá hoại hoa

màu, người ta chỉ xua đuổi, rất ít to tiếng với nhau

Tuy nhiên, từ lâu bên cạnh mối quan hệ họ hàng rất được coi trọng,

người Tày cũng đặc biệt coi trọng tình làng nghĩa xóm Quan hệ láng giềng

vẫn được coi là quan hệ chủ đạo trong các làng bản Tày từ rất lâu Bất kể

những công việc quan trọng của mỗi người, mỗi nhà dù thuộc dòng họ nào

như: làm nhà mới, cưới xin, tang ma, đều được coi là công việc chung của cả

cộng đồng Mỗi khi như vậy, dân bản thường xúm lại, mỗi người một việc để

giúp gia chủ và với trách nhiệm cao như khi làm những công việc của nhà họ

Nói vậy để thấy rằng, trong các làng bản người Tày không chỉ có các mối

quan hệ thân tộc, thích tộc là được người ta coi trọng và vun vén Đó là những

nét đẹp truyền thống mà không phải nơi nào cũng có được Điều đó góp phần

quan trọng vào việc xây dựng nông thôn mới trong vùng đồng bào dân tộc Tày

Tổ chức dòng họ của người Tày có nơi chặt chẽ nhưng đa số nơi lại tỏ ra lỏng lẻo Ở một số dòng họ người Tày có ghi gia phả ghi lại các mối quan hệ theo phả hệ và công tích của tổ tiên Ví dụ như dòng họ Lành ở bản Mỏ Gà,

xã Phú Thượng Giả phả này cho biết dòng họ đã phải di chuyển chỗ ở từ huyện Lộc Bình, Lạng Sơn xuống Mỏ Gà vào những năm 40 - Thế kỷ XX do phải chạy Nhật Gia phả của họ này ghi bằng chữ Quốc ngữ, cách ghi khá đơn giản, chủ yếu ghi các thành viên nằm trong dòng họ về năm sinh, năm mất Qua điền dã, chúng tôi thấy rằng một số dòng họ Tày nổi tiếng ở vùng Vũ Chấn, Cúc Đường như cũng đều không có chép lại gia phả Các dòng họ có gia phả thì đa số đều không giữ được vì bị thất truyền trong chiến tranh hay các cuộc cải cách xã hội trước đó Nói chung dù có gia phả hay không thì các gia đình trong họ vẫn truyền nhau về mối quan hệ huyết thống và tôn trọng các mối quan hệ này Trước đây, trong các dòng họ người Tày đều có người trưởng họ hay trưởng tộc được họ hàng và cộng đồng tôn trọng Trưởng tộc là những người có uy tín lớn, họ đại diện cho dòng họ của mình trong quan hệ với các dòng họ khác trong và ngoài bản Vì vậy họ thường có tiếng nói quyết định trong các mối quan hệ nội bộ dòng họ Những người trưởng tộc cũng thường tham gia vào bộ máy tự quản của làng bản Ngày nay, ở hầu hết các dòng họ Tày không còn duy trì người trưởng họ Quyền hành thường thuộc về những người gia trưởng trong từng gia đình Ở các dòng họ của người Tày Võ Nhai thường không thấy có từ đường riêng, ruộng hương hoả do vậy mà có lẽ cũng không tồn tại

Trong các dòng họ Tày ngày nay không có cúng giỗ, nhưng việc tập hợp các thành viên trong họ, hoặc xa, hoặc gần như ở người Kinh, ngày mất của ông bà tổ tiên nếu nhớ ra hoặc tuỳ từng điều kiện của mỗi gia đình mà họ thường thắp hương tại gia Họ thường làm lễ hoặc giỗ chung khi xem và thấy

có “động” Mặc dù tổ chức dòng họ của người Tày nhìn về hình thức có vẻ

Ngày đăng: 04/08/2016, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w