1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”

76 704 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây vải (Litchi chinensis Sonn.) là cây ăn quả Á nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao trên thế giới, đồng thời là một trong những loại cây ăn quả chủ lực, có diện tích trồng trọt tập trung lớn nhất ở miền Bắc. Tính đến năm 2014, sản lượng vải trên thế giới đạt khoảng 2,6 triệu tấn. Trong đó, các nước trồng vải tập trung, với sản lượng lớn là Trung Quốc: 1.482.000 tấn, Ấn Độ: 624.000 tấn, Madagasca: 100.000 tấn. Một số nước như: Đài Loan, Thái Lan, Nam Phi, Úc, Mỹ… có trồng vải nhưng diện tích còn nhỏ và sản lượng thấp.

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG VÀ CN NÔNG NGHIỆP

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ

ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG VÀ BIỆN PHÁP CANH TÁC VẢI CHÍN SỚM CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ CAO TẠI TỈNH BẮC GIANG VÀ HẢI DƯƠNG

Thuộc chương trình nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp

và phát triển khí sinh học (QSEAP)

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và PTNT

Cơ quan chủ trì: TT Giống cây trồng và CNNN

Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Danh Sửu

Thời gian thực hiện: 12 tháng : 10/2014 – 10/2015

HÀ NỘI - 2015

Mẫu B16 BCTK-BNN

Trang 2

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG VÀ CN NÔNG NGHIỆP

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ

ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG VÀ BIỆN PHÁP CANH TÁC VẢI CHÍN SỚM CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ CAO

TẠI TỈNH BẮC GIANG VÀ HẢI DƯƠNG

Thuộc chương trình nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và

phát triển khí sinh học (QSEAP)

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và PTNT

Cơ quan chủ trì: TT Giống cây trồng và CNNN Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Danh Sửu

Thời gian thực hiện: 12 tháng : 10/2014 – 10/2015

HÀ NỘI -2015

Trang 3

THÔNG TIN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI

Tên đề tài: Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh tác vải chín sớm có giá

trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương

Thuộc Chương trình nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển khísinh học (QSEAP)

Cơ quan chủ quản: Bộ nông nghiệp và PTNT

Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Rau quả

Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Danh Sửu

Thời gian thực hiện: Từ 10/2014 – 10/2015

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Trần Danh Sửu Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp

2 Hoàng Thị Nga Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp

3 Nguyễn Thị Tuyết Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp

4 Nguyễn Văn Dũng Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp

5 Đào Quang Nghị Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp

6 Nguyễn Thị Bích Hồng Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp

7 Nguyễn Thị Hiền Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp

DANH MỤC CÁC SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI

I Báo cáo Kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng sản xuất giống vải

chín sớm tại Hải Dương và Bắc Giang 1

II Giống vải chín sớm có năng suất, chất lượng khá được cơ quan có

thẩm quyền tại địa phương chấp nhận đưa vào sản xuất thử 1

III Quy trình kỹ thuật canh tác cho giống vải chín sớm được cơ quan

có thẩm quyền tại địa phương ban hành

III-1 Quy trình ghép cải tạo thay thế giống vải bằng giống Lai Thanh Hà 1

III-2 Quy trình trồng và chăm sóc vải chín sớm Lai Thanh Hà 1

IV Mô hình quy mô thâm canh và ghép cải tạo thay thế giống giống

bằng giống vải chín sớm Lai Thanh Hà tại Bắc Giang 1,5ha

V Mô hình thâm canh giống vải chín sớm Lai Thanh hà tại Hải

VI Tập huấn kỹ thuật sản xuất giống vải chín sớm được tuyển chọn 160 lượt người

Trang 4

Lời cảm ơn

Đề tài thực hiện thành công trong một thời gian ngắn, ngoài sự nỗ lực của cácchuyên gia thực hiện đề tài còn có sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan chuyên môn, các cơquan quản lý về nông nghiệp và chính quyền địa phương ở các tỉnh Hải Dương và BắcGiang

Có được kết quả này, Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp xintrân trọng cảm ơn:

- Viện Nghiên cứu Rau quả đã cho kế thừa các kết quả nghiên cứu về cây vải chínsớm trong những năm gần đây và giúp đỡ về chuyên môn trong quá trình thực hiện

- Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh đã phối hợp cùngvới Trung tâm bình tuyển, công nhận cây đầu dòng giống vải chín sớm được tuyển chọn;

Đã tổ chức thẩm định và ban hành quy trình kỹ thuật trên cơ sở kết quả nghiên cứu hoànthiện quy trình của Trung tâm nhằm mục đích nhân giống và sản xuất thử tại địa phương

- Phòng Nông nghiệp và PTNT Lục Ngạn, Phòng Nông nghiệp và PTNT Thanh

Hà, UBND các xã Quý sơn, Thanh Hải (huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) và UBND xãThanh Cường ( huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương) xã đã nhiệt tình giúp đỡ Trung tâmtrong quá trình triển khai các nội dung của đề tài tại địa phương

Nhân dịp này, Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp cũng xintrân trọng cảm ơn Ban quản lý các dự án QSEAP, Vụ Khoa Công nghệ- Bộ Nông nghiệp

và PTNT nhiệt tình hướng dẫn về thủ tục hành chính, tạo điều kiện để Trung tâm hoànthiện thuyết minh, thực hiện đề tài cũng như hoàn thiện báo cáo đúng theo các quy địnhcủa nhà nước

Ngày 01 tháng 12 năm 2015

Giám đốc Trung tâm

Trang 5

Tóm tắt kết quả thực hiện đề tài

Đề tài: Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh tác vải chín sớm có giá

trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương, Thuộc chương trình nâng cao chất

lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển khí sinh học (QSEAP) được thực hiệntrong thời gian từ 10/2014 - 10/2015 tại các tỉnh Bắc Giang và Hải Dương trên cơ sở kếthừa các kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả trong những năm gần đây trêncây vải chín sớm lai Thanh Hà

Đề tài đã đạt được các kết quả chính như sau:

- Tuyển chọn được giống vải lai Thanh Hà có năng suất cao, chất lượng tốt phục

vụ phát triển, rải vụ thu hoạch Giống đã được Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang vàHải Dương cho phép nhân giống để sản xuất thử ở địa phương bằng việc công nhận 15cây đầu dòng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương

- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống vải chín sớm lai Thanh Hà, làmcho vải lai Thanh Hà ra hoa đậu quả ổn định, cải thiện chất lượng quả, chín sớm 10 - 15ngày so với giống vải thiều Thanh Hà Quy trình được Sở Nông nghiệp và PTNT BắcGiang và Hải Dương ban hành để khuyến cáo cho sản xuất

- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình ghép cải tạo thay thế giống vải bằng giống vảichín sớm lai Thanh Hà Quy trình áp dụng làm tỷ lệ ghép sống đạt trên 84%, tăng khảnăng sinh trưởng các đợt lộc, nhanh ra hoa, đậu quả Quy trình đã được Sở Nông nghiệp

và PTNT Bắc Giang ban hành phục vụ sản xuất

- Đề tài đã xây dựng 3,0 ha mô hình sản xuất giống vải chín sớm lai Thanh Hà.Trong đó: 2,0 ha mô hình thâm canh, 1,0 ha mô hình ghép cải tạo thay thế giống bằnggiống vải lai Thanh Hà Cây trong cac mô hình sinh trưởng khỏe Mô hình thâm canh 2,0

ha đạt hiệu quả cao hơn 16,5 - 33,6% so với đối chứng, chất lượng quả được cải thiện

Mô hình ghép cải tạo 1,0 ha, cành ghép bật mầm khỏe

- Đã đào tạo và tập huấn kỹ thuật cho 160 lượt người về thực hành nông nghiệp tốt

và kỹ thuật sản xuất vải chín sớm

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm ơn 1

Tóm tắt kết quả thực hiện đề tài 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

1 Đặt vấn đề 8

2 Mục tiêu 9

2.1 Mục tiêu chung 9

2.2 Mục tiêu cụ thể 9

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10

1.1 Một số kết quả nghiên cứu về tuyển chọn giống vải trong và ngoài nước 10

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 10

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 12

1.2 Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất vải trong và ngoài nước 13

1.2.1 Những nghiên cứu ngoài nước 13

1.2.2 Những nghiên cứu trong nước 19

1.3 Một số vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới và trong nước 23

1.4 những vấn đề KH&CN còn tồn tại, hạn chế trong sản xuất vải hiện nay 23

1.5 Cách tiếp cận 24

Chương II VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Vật liệu nghiên cứu 26

2 2 Nội dung nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp tiến hành và bố trí thí nghiệm 27

2.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30

2.3.3 Xử lý số liệu 32

Trang 7

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống vải chín sớm tại Hải Dương và Bắc Giang 33

3.1.1 Thực trạng sản xuất vải chín sớm tại Bắc Giang và Hải Dương 33

3.1.2 Kết quả tuyển chọn giống và bình tuyển cây đầu dòng giống tuyển chọn 44

3.2 Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và phát triển các giống tuyển chọn 55

3.2.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng của giống vải lai Thanh Hà tại Thanh Hà Hải Dương 55

3.2.2 Ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến năng suất, chất lượng giống vải lai Thanh Hà tại Hải Dương 57

3.2.3 Ảnh hưởng của số lần phun thuốc thích hợp phòng trừ một số loại sâu, bệnh chủ yếu trên hoa, quả vải tuyển chọn 58

3.2.4 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình ghép cải tạo thay thế giống vải thiều Thanh Hà bằng giống vải tuyển chọn tại Lục Ngạn, Bắc Giang 63

3.3 Kết quả xây dựng mô phát triển giống vải lai Thanh Hà tuyển chọn 66

3.3.1 Quy mô và địa điểm xây dựng mô hình 66

3.3.2 Các biện pháp kỹ thuật chủ yếu đã được áp dụng: 66

3.3.3 Kết quả theo dõi vụ quả năm 2015 trên mô hình thâm canh 70

3.4 Kết quả tập huấn kỹ thuật 72

Chương IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

4.1 Kết luận 73

4.2 ĐỀ NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHẦN PHỤ LỤC 76

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Các giống vải chủ lực của một số nước trên thế giới 11

Bảng 2.2 Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải tính theo khối lượng 15

Bảng 3.1: Diện tích, năng suất và sản lượng vải qua các năm ở Bắc Giang 33

Bảng 3.2 Các giống vải trồng tại Bắc Giang 34

Bảng 3.3: Diện tích và sản lượng các giống vải ở Bắc Giang năm 2014 34

Bảng 3.4 Thực trạng áp dụng quy trình kỹ thuật của các hộ tại các địa phương 35

Bảng 3.5 Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV cho vải tại một số huyện của Bắc Giang 36

Bảng 3.6 Diện tích, năng suất và sản lượng vải qua các năm ở Hải Dương 38

Bảng 3.7 Các giống vải trồng tại Hải Dương 39

Bảng 3.8: Diện tích và sản lượng các giống vải ở Hải Dương năm 2014 40

Bảng 3.9 Thực trạng áp dụng quy trình kỹ thuật của các hộ tại các địa phương 40

Bảng 3.10: Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV cho vải tại Thanh Hà 41

Bảng 3.11 Đặc điểm hình thái của giống vải Lai Thanh Hà 45

Bảng 3.12 Khả năng sinh trưởng về khung tán của giống vải Lai Thanh Hà (Số liệu năm 2014) 46

Bảng 3.13 Một số đặc điểm về lá, hoa, quả của giống vải Lai Thanh Hà 46

Bảng 3.14 Khả năng ra hoa, đậu quả và thu hoạch của giống vải Lai Thanh Hà .47 Bảng 3.15 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà 48

Bảng 3.16 Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các giống vải tuyển chọn 49

Bảng 3.17 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu cảm quan 49

Bảng 3.18 Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu trên giống vải lai Thanh Hà 50

Bảng 3.19 Danh sách cây đầu dòng tuyển chọn tại Bắc Giang và Hải Dương 51

Trang 9

Bảng 3.20 Đặc điểm sinh trưởng bộ khung tán của các cây đầu dòng (Số liệu theo dõi năm 2015) 52 Bảng 3.21 Thời gian và khả năng sinh trưởng các đợt lộc của các cây đầu dòng 52 Bảng 3.22 Khả năng ra hoa, đậu quả của các cây đầu dòng 53 Bảng 3.23 Năng suất thực thu của các cây đầu dòng 53 Bảng 3.24 Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các cây đầu dòng 54 Bảng 3.25 Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh hại chính của các cây đầu dòng 55 Bảng 3.26 Ảnh hưởng của cắt tỉa đến tình hình ra lộc 56 Bảng 3.27 Ảnh hưởng của cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất 56 Bảng 3.28 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất quả vải lai Thanh Hà 57 Bảng 3.29 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chất lượng quả vải lai Thanh Hà58 Bảng 3.30 Kết quả điều tra một số sâu hại chính trên hoa, quả vải qua các giai đoạn sau phun thuốc 59 Bảng 3.31 Kết quả điều tra tình hình bệnh hại trên quả vải qua các giai đoạn sau phun thuốc 59 Bảng 3.32 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản mắt ghép đến tỷ lệ ghép sống 60 của cành ghép 60 Bảng 3.33 Ảnh hưởng của số lượng mầm trên đoạn mắt ghép đến tỷ lệ ghép sống

và khả năng sinh trưởng của cành ghép 61 Bảng 3.34 Ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến kích thước các đợt lộc 61 Bảng 3.35 Ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất vải lai Thanh Hà ghép cải tạo 62 Bảng 3.36 Ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá đến các chỉ tiêu chất lượng quả 62 Bảng 3.37 Quy mô và địa điểm xây dựng mô sản xuất vải lai Thanh Hà 63

Trang 10

Bảng 3.38 Lượng phân bón thời kỳ cho thu hoạch tính theo tuổi cây 64 Bảng 3.39 Lượng phân bón thời kỳ cho thu hoạch 65 Bảng 3.40 Thời gian chín và năng suất quả ở các vườn mô hình vải lai Thanh Hà 67 Bảng 3.41 Chất lượng quả của vải chín sớm lai Thanh Hà ở các vườn mô hình 68 Bảng 3.42 Hiệu quả kinh tế ở các vườn mô hình 68

Trang 11

1 Đặt vấn đề

Cây vải (Litchi chinensis Sonn.) là cây ăn quả Á nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng và

giá trị kinh tế cao trên thế giới, đồng thời là một trong những loại cây ăn quả chủ lực, códiện tích trồng trọt tập trung lớn nhất ở miền Bắc Tính đến năm 2014, sản lượng vải trênthế giới đạt khoảng 2,6 triệu tấn Trong đó, các nước trồng vải tập trung, với sản lượnglớn là Trung Quốc: 1.482.000 tấn, Ấn Độ: 624.000 tấn, Madagasca: 100.000 tấn Một sốnước như: Đài Loan, Thái Lan, Nam Phi, Úc, Mỹ… có trồng vải nhưng diện tích còn nhỏ

và sản lượng thấp

Theo số liệu của Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và PTNT, đến năm 2014, tổngdiện tích vải của cả nước đạt trên 70 ngàn ha với sản lượng đạt khoảng 300 ngàn tấn,đứng thứ 3 trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ) Tập trung chủ yếu tại 2 tỉnh:Bắc Giang với diện tích trên 33 ngàn ha, sản lượng đạt trên 190 ngàn tấn; Hải Dương vớidiện tích 11 ngàn ha, sản lượng 48 ngàn tấn

Với đặc thù giống vải trồng ở miền Bắc tập trung vào giống vải chín chính vụthiều Thanh tích (chiếm trên 90% diện tích) Đây là giống có chất lượng tốt, sản lượnglớn, nhưng thu hoạch trong một thời gian quá ngắn (chủ yếu tập trung trong tháng 6dương lịch) nên đã gây nên tình trạng khó khăn trong bố trí lao động cho thu hoạch, vậnchuyển, bảo quản, chế biến và tiêu thụ, làm giảm hiệu quả kinh tế của người trồng vải

Trong những năm gần đây để bổ sung vào cơ cấu giống vải giúp rải vụ, kéo dàithời gian cho thu hoạch, một số giống vải chín sớm đã được Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn công nhận là giống chính thức, phục vụ cho phát triển trong sản xuất như:Các giống Bình Khê, Yên Hưng cho tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh vùng núi phía đôngBắc; giống Phúc Hòa cho tỉnh Bắc Giang và một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc Tuynhiên do đặc thù mỗi giống chỉ thích nghi trong một phạm vi sinh thái nhất định nên nhucầu về tuyển chọn giống vải chín sớm cho các vùng trồng tại miền Bắc vẫn ngày càngđược quan tâm, đặc biệt là một số tỉnh trồng vải chủ lực như Bắc Giang và Hải Dương

Hiện tại, 2 tỉnh Bắc Giang và Hải Dương đã có chủ trương thay thế khoảng 15 20% diện tích vải thiều chính vụ bằng các giống vải sớm được tuyển chọn Đây là nhữnggiống có khả năng cho thu hoạch sớm hơn vải thiều từ 15 - 20 ngày, có khả năng chonăng suất cao, chất lượng khá tốt, chống chịu được sâu bệnh hại nên nó không chỉ manglại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần rải vụ thu hoạch, giảm thiểu đáng kể sự thấtthoát sản phẩm và sự căng thẳng về lao động do phải thu hoạch vải một cách quá tậptrung gây nên

-Bên cạnh đó, cũng có tâm lý lo ngại phát sinh từ thực tế khi phát triển các giống vảichín sớm, đó là số lượng giống chín sớm có năng suất, chất lượng tốt chưa nhiều và cònbộc lộ một số hạn chế như: tỷ lê đậu quả chưa cao, năng suất chưa ổn định qua các năm;chất lượng còn hạn chế do các yếu tố kỹ thuật tác động chưa được đáp ứng

Việc “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh tác vải chín sớm có giá trị

kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương” sẽ xác định được một số giống vải chín

sớm mới và đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp, góp phần phát triển các giống vảinày đáp ứng yêu cầu rải vụ thu hoạch và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng

Trang 12

- Tuyển chọn được 1 - 2 giống vải chín sớm (sớm hơn 15 ngày so với vải chính vụ)

có năng suất cao, chất lượng khá, có giá trị hàng hóa, thích hợp cho các tỉnh Bắc Giang

và Hải Dương (được Bộ NN&PTNT công nhận hoặc được Sở NN và PTNT chấp nhậnđưa vào sản xuất)

- Hoàn thiện được quy trình trồng và chăm sóc cho các giống tuyển chọn

- Xây dựng được 3ha mô hình trình diễn giống và ứng dụng các kết quả nghiêncứu tại Bắc Giang và Hải Dương, làm hiệu quả kinh tế tăng 15 - 20%

- Tập huấn được cho 80 lượt người nắm được được kỹ thuật sản xuất giống vảituyển chọn

Trang 13

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số kết quả nghiên cứu về tuyển chọn giống vải trong và ngoài nước

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Trung Quốc được coi là nước có số lượng giống vải nhiều nhất trên thế giới, vớitrên 200 giống Trong đó, các giống quan trọng được tập trung phát triển và sử dụng chocông tác chọn tạo có gần 100 giống, được phân thành 3 nhóm chính:

- Các giống vải thương phẩm đang phát triển rộng: 33 giống

- Các giống vải địa phương trồng còn ít: 20 giống

- Các giống vải quý hiếm mang tính đặc thù: 22 giống

Các giống này thường có thời gian cho thu hoạch vào giữa tháng 6 đến giữa tháng

7 Đặc biệt, ở Trung Quốc, thời gian cho thu hoạch có thể kéo dài đến cuối tháng 7, sangđầu tháng 8, vì vậy tạo nên lợi thế so sánh với các nước có các giống vải cho thu hoạchsớm hơn, giúp rải vụ thu hoạch và có giá bán cao

Ở tỉnh Quảng Đông, các giống vải được trồng mang tính chất thương mại là:Baila, Baitangying, Heiye, Feizixiao, Gwiwei, Nuomici và Huaizhi với diện tích mỗigiống lên đến trên 20.000 ha Hai giống Gwiwei và Nuomici được trồng rộng rãi nhất,với diện tích lên đến trên 60.000 ha mỗi giống

Ở tỉnh Vân Nam, giống Lanzhu được xem là giống trồng chính với diện tích xấp xỉ25.000 ha Các giống mới được chọn tạo có năng suất, phẩm chất tốt, hạt lép là: giốngHôngHu (khối lượng quả trung bình 24 g/quả, tỷ lệ ăn được 79%, đường tổng số >18,5%, năng suất cao và ổn định); giống Dongguan Seedlesss là giống chín sớm, có khảnăng thích nghi cao với điều kiện môi trường, khối lượng quả lớn: 35,3 - 62,0 g/quả, tỷ lệquả hạt lép cao trên 90%, đường tổng số > 17%; tỷ lệ ăn được > 80% (Nghê DiệuNguyên và Ngô Tố Phần, 1998), (Hong và Li, 2000), (Minas và cộng sự, 2002), (Zhao vàZhu, 2000)

Theo Gosh, 2000, Gosh và Mitra, 2000, Gosh và cộng sự, 2000, ở Ấn Độ, vảiđược trồng tập trung ở các bang vùng phía Đông, chiếm trên 60% tổng diện tích Cácbang ở phía Bắc Ấn Độ, diện tích vải chiếm khoảng 16% Các bang trồng vải chủ yếu của

Ấn Độ là: Bihar (chiếm trên 74% diện tích), West Belgan, Tripura, Asam và Uttaranchal.Các giống trồng quan trọng là: Shahi, Bombai, China, Deshi, Calcutta, Rose Scented, vàMazaffarpur Hai giống lai mới được chọn tạo là H - 73 và H - 105 có tiềm năng chonăng suất cao, đang được phát triển mạnh trong sản xuất

Ở Thái Lan, các giống chính được trồng là Haak Yip, Taiso, Wai Chee (tên địaphương là Baidum, Hong Huey và Kim Cheng) Các giống vải trồng của Thái Lan đượcphân thành 2 nhóm: nhóm vải Nhiệt đới và nhóm vải Á nhiệt đới Nhóm vải Nhiệt đớitrồng có tính thương mại, thích hợp ở các tỉnh vùng miền Trung Thái Lan có các thángmùa đông ấm áp Có khoảng 20 giống thuộc nhóm này; nhóm vải Á nhiệt đới được trồngchủ yếu ở các tỉnh vùng Bắc Thái Lan nơi có mùa đông mát mẻ hơn Có khoảng 10 giống

Trang 14

thuộc nhóm này Giống Kom được coi là giống quan trọng của nhóm vải Nhiệt đới, giốngHong Huay là giống chủ đạo của vùng Á nhiệt đới (Anupunt và Sukhvibul, 2003),(Chinawat và Suranant, 2000).

Bảng 2.1 Các giống vải chủ lực của một số nước trên thế giới

1 Trung Quốc San Yee Hong, Baitangying, Fay Zee Siu, Bah Lup, Wai chee, HaakYip, Kwai Mi, No Mai Chi, Souey Tung, Tai So, Brewster Baila,

Heiye, Guiwei, Huaizhi, HongHu, Dongguan Seedlesss

2 Ấn độ Ajhuli, Bedana, Shahi, Bombai, China, Deshi, Calcutta, RoseScented, Green, Kasba, Longia, Purbi, và Mazaffarpur.

3 Thái Lan Tai So, Wai chee, Baidum, Chacapat và Kom

4 Đài Loan Haak Ip, Sah Keng, Yu Her Pau, No Mai Chi, Sa Ken và Kwai Mi

5 Australia Fay Zee Siu, Tai So, Bengal, Wai Chi, Kwai May Pink, và Salathiel

6 Nam Phi Tai So, Bengal,

7 Madagascar Tai So

8 Mauritius Tai So

9 Mỹ Tai So và Kaimana

10 Banglades Rajshahi, Madrajie, Mongalbari, Bombai, Kadmi, Bedana, Kalipuri,China - 3.

11 Nepal Mujafpuri, Raja Saheb, Deharaduni, China, Calcuttia, Pokhara,Udaipur, Tanahu, Chitwan, Kalika và Gorkha.

12 Philippines Mauritius, Sinco

Nguồn: Campbell (2009)

Theo Dixon và cộng sự, 2003, Greer và Campbel, 1990, Menzel và Greer, 1986,

có khoảng trên 40 giống vải được trồng ở Australia Các giống hiện tại đang được trồng ởBắc Queensland là Kwai May Pink, Fay Zee Siu và Souey Tung… Kwai May Pink làgiống trồng phổ biến ở miền Trung, miền Nam Queensland và Bắc New South Walescùng với 2 giống Salathiel và Wai Chi Các giống quan trọng nhất hiện nay là Tai So,Haak Ip, Kwai May Pink, Bosworth N03, Wai Chi, Fay Zee Siu, Salathiel

Giống vải trồng chủ yếu của Đài Loan là: Hak Ip, Yu Her Pau, No Mai Chi, SaKen, Kwai Mi Trong đó, Hak Ip là giống trồng phổ biến nhất (chiếm khoảng trên 90%diện tích trồng trọt), giống Yu Her Pau (chiếm 10%) được trồng ở phía Nam và No MaiChi được trồng ở miền Trung (Teng, 2003)

Theo Campbell và Ledesma (2003), Crane và cộng sự (2003), Goren và cộng sự(2000), Greer (1990), Knight (2000), Richard và cộng sự (2000), các nước có tham giatrồng vải nhưng với diện tích nhỏ và sản lượng thấp là các vùng Florida, Hawaii, PuetoRico, California của nước Mỹ; Island; Israel; Đài Loan và vùng Nhiệt đới châu Mỹ (bảng 2.1)

Trang 15

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Trong nước, công tác nhập nội giống cũng đã được tiến hành từ những năm đầuthập kỷ 80 của thế kỷ 20 (trong phạm vi nghiên cứu và trao đổi không chính thức, một sốgiống vải tốt của Trung Quốc đã được đưa sang khảo nghiệm tại Phú Thọ từ những năm60) Vào những năm 1989 – 1992, tập đoàn 7 giống vải có nguồn gốc từ Trung Quốc,Australia được nhập nội và trồng tại Nông trường quốc doanh Lục Ngạn Kết quả khảonghiệm và đánh giá cho thấy, 3 giống có triển vọng là Swei Tung, Sum Yee Hong và FayZee Siu song đều là giống chín chính vụ (Phạm Minh Cương và cộng sự, 2000)

Tập đoàn 5 giống vải: Mỏ gà, Phi Tử Tiếu, Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và BạchĐường Anh đã được nhập nội và đánh giá tại Viện Nghiên cứu Rau quả từ những năm

1997 Kết quả cho thấy: giống vải Mỏ gà có khả năng sinh trưởng tốt, ra quả đều qua cácnăm, khối lượng trung bình quả: 25 – 30g, tỷ lệ ăn được xấp xỉ 80% (tương đương cácgiống hạt lép trồng tại Trung Quốc)

Ngoài ra, các giống vải ưu tú, hạt lép của Trung Quốc như Đại Hồng, Diệp Xuân 1,Diệp Xuân 2 cũng đã được nhập về Việt Nam thông qua các cơ quan quản lý, sản xuấtnông nghiệp như Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh: Bắc Giang, QuảngNinh, Yên Bái và đang tiếp tục được theo dõi, đánh giá

Theo Trần Thế Tục (1998), (2004), các giống vải của nước ta có thể phân chia theothời vụ thu hoạch, đặc điểm sinh trưởng hoặc phẩm chất quả Ở miền Bắc Việt Nam cácnhóm giống và giống vải được phân chia như sau:

- Theo thời vụ có: nhóm vải chín sớm, nhóm vải chín chính vụ và nhóm vải chínmuộn

- Theo đặc điểm sinh trưởng và phẩm chất quả có: nhóm vải chín sớm, nhóm vảichính vụ và nhóm vải chín muộn

* Các giống vải chín sớm: là các giống vải có thời gian chín từ 5/5 đến 30/5 hàngnăm trong điều kiện các tỉnh phía Bắc, Việt Nam Có đặc điểm: chùm hoa có phủ một lớplông thưa màu nâu, khối lượng trung bình quả đạt 30 - 40g, tỷ lệ phần ăn được 65 - 72%,quả hình tim hay hình trứng, vỏ quả khi chín có màu xanh vàng hay đỏ sẫm, ăn có vịngọt, hơi chua Các giống này thường có năng suất khá cao, có khả năng thích ứng rộnghơn các giống chính vụ và chín muộn Một số giống thuộc nhóm này là: Hùng Long, YênHưng, Yên Phú, Phúc Hoà, Bình Khê

Nhưng năm gần đây, Viện Nghiên cứu Rau quả đã điều tra đánh giá các giống vảichín sớm tại các tỉnh phía Bắc Ngoài các giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT côngnhận, giống vải chín sớm Lai Thanh hà là giống có triển vọng Ở Hải Dương, giống nàyđược gọi là vải Tàu Lai (không phải do lai tạo), ở Bắc Giang giống này có nguồn gốc từThanh Hà, Hải Dương đưa sang nên người dân gọi là vải Lai Thanh Hà Theo Sở Nôngnghiệp và PTNT Bắc Giang, diện tích giống vải Lai Thanh Hà hiện tại ở Bắc giang đã lênđến 1.200 ha và đang mang lại hiệu quả cao cho bà con nông dân

* Các giống vải chính vụ: là các giống vải có thời gian chín tập trung trong khoảng

từ 1/6 đến 30/6 trong điều kiện các tỉnh phía Bắc, Việt Nam Có đặc điểm: chùm hoa cóphủ lớp lông màu trắng, khối lượng quả trung bình đạt 18 - 25g, tỷ lệ phần ăn được 68 -

Trang 16

82%, quả hình cầu, vỏ quả khi chín có màu đỏ tươi, ăn có vị ngọt thanh, cùi ráo, vị thơm,năng suất khá cao, ổn định Các giống thuộc nhóm này là: Thiều Thanh Hà, Thiều Phú

Hộ, Thiều Lục Ngạn

* Các giống vải chín muộn: hiện đã phát hiện được một số dòng chín muộn Cácdòng này có thời gian chín trong khoảng thời gian từ 30/6 đến 10/7 trong điều kiện cáctỉnh phía Bắc, Việt Nam Có đặc điểm: chùm hoa có phủ lớp lông thưa, màu trắng, khốilượng quả trung bình đạt từ 25 - 35g, tỷ lệ phần ăn được đạt 66 - 75%, quả hình tim hoặchình cầu, vỏ quả khi chín có màu đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, vị ngọt, năng suất đạt xấp xỉ cácgiống vải chính vụ, ít có hiện tượng ra quả cách năm Các dòng vải thuộc nhóm này chủyếu được phát hiện tại Thanh Hà (Hải Dương) và Lục Ngạn (Bắc Giang)

Giai đoạn 2000 - 2010, Với mục tiêu tuyển chọn được các giống chín sớm, chonăng suất cao, chất lượng khá, ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế cao, Viện Nghiên cứuRau quả đã tuyển chọn được một số giống vải có thời gian chín sớm hơn so với vải thiều

từ 10 - 30 ngày như: Hùng Long, Bình Khê, Yên Hưng, Yên Phú Các giống này đã được

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống chính thức, được phổ biếnrộng trong sản xuất tại các tỉnh Phú Thọ, Quảng Ninh, Hưng Yên và hiện đang đượctrồng thử nghiệm, ghép cải tạo thay thế giống để đánh giá tại Bắc Giang và một số tỉnhkhác

Hướng nghiên cứu chọn tạo giống vải trong nước hiện tại và tương lai là tiếp tụcđánh giá, chọn lọc và cải tiến tập đoàn giống hiện có; chọn tạo giống theo hướng lai hữutính, gây đột biến (bao gồm cả xử lý đột biến bằng tác nhân vật lý và hoá học) để có được

bộ giống phong phú, có năng suất cao, phẩm chất tốt bao gồm các giống chín sớm, chính

vụ, chín muộn để kéo dài thời gian cho thu hoạch, bên cạnh đó là nhập nội các giống vải

ưu tú (vải hạt lép, không hạt) từ các nước có điều kiện sinh thái tương đồng để khảonghiệm, đánh giá, chọn lọc và đưa vào sản xuất thay thế các giống cũ

Như vậy, tập đoàn giống vải của các nước trên thế giới và Việt Nam rất phong phúnhưng chủ yếu là các giống chín chính vụ và chín muộn (thời gian chín tập trung từ đầutháng 6 đến giữa tháng 7) Các giống chín sớm có mặt với diện tích còn rất hạn chế Dovậy, nếu bổ sung được một số lượng thích hợp các giống vải chín sớm thông qua việcđánh giá tuyển chọn giống bản địa ưu tú và chọn tạo giống mới sẽ góp phần rải vụ thuhoạch, nâng cao hiệu quả trồng trọt, đáp ứng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước

1.2 Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất vải trong và ngoài nước

1.2.1 Những nghiên cứu ngoài nước

1.2.1.1 Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa

Ở tất cả các nước trồng vải trên thế giới đều có những nghiên cứu về các biện phápcắt tỉa, tạo hình và đều nhằm mục đích tạo cho cây có bộ khung tán cân đối, thuận lợi choquang hợp, hạn chế sâu bệnh hại, dễ chăm sóc, quản lý, làm tăng năng suất, phẩm chấtquả

Phương pháp cắt tỉa nhìn chung tương đối giống nhau Tùy theo từng loại cây màphương pháp cắt tỉa có thể là tạo tán mở hình phễu hay tạo tán hình rẻ quạt Ngoài việc

Trang 17

cắt tỉa cành, ở Trung Quốc còn sử dụng biện pháp cắt ngắn chùm hoa nhằm hạn chế tiêuhao dinh dưỡng, giúp cho quá trình đậu quả và phát triển của quả tốt hơn.

Theo Hertslet (1989), đốn, cắt tỉa, tạo hình có thể coi như là các kỹ thuật điều chỉnhsinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và cây vải nói riêng Muốn biết cắt tỉa vàolúc nào, những cành nào nên cắt bỏ thì phải có những nghiên cứu cụ thể, dựa trên các nguyên

lý chung sau đây:

+ Sự phát triển của các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất có sự cân bằng theo

tỷ lệ nhất định đối với từng loài cây trồng Nếu phá vỡ sự cân bằng này, cây sẽ tự thiếtlập lại một cân bằng mới, dựa vào đặc điểm này ta có thể thay lộc, cành mới hay phụctráng lại bộ rễ

+ Những cành ở trên mặt tán có hiện tượng ưu thế ngọn, kìm hãm sự phát triển củacác cành phía dưới Phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn sẽ tạo điều kiện cho các cành phíadưới phát triển

+ Theo lý luận về giai đoạn phát dục của các vị trí cành trên cây, sự phát dục giảmdần từ cành ngọn xuống cành ở dưới Vì vậy, cần tạo cho cây có bộ tán phân bố đều Mặtkhác, thông qua cắt tỉa sẽ làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của cây

Nguyên tắc cắt tỉa: Theo Cục hợp tác nghiên cứu về sản xuất Nông nghiệp Úc(2001), nguyên tắc cắt tỉa với các đối tượng cây như sau:

+ Đối với cây vải trẻ: thời kỳ này cây vải mới cho quả nên cắt tỉa nhẹ, để lại nhiềucành Nói chung, chỉ cắt bỏ những cành đã mất khả năng quang hợp, cành la sát mặt đất

và một số ít cành mọc sít nhau, cành tăm, cành sâu bệnh Thời kỳ này chỉ cắt tỉa khoảng10% số cành

+ Đối với cây vải trưởng thành: giai đoạn này cây vải đã chuyển sang thời kỳ saiquả, tiêu hao nhiều dinh dưỡng vì vậy nên cắt tỉa nặng, để dinh dưỡng tập trung chonhững cành còn lại, thúc đẩy lộc thu phát triển, bảo đảm chắc chắn sang năm có quả.Thời kỳ này cắt tỉa khoảng 20 - 30% số cành

- Đối với cây vải già: căn cứ vào khả năng sinh trưởng và tình hình ra quả vụ trước

để xác định mức độ cắt tỉa nặng hay nhẹ Cây có nhiều cành, cành yếu thì cắt tỉa nặng,làm giảm sinh trưởng để tập trung dinh dưỡng ra lộc mới mập và khoẻ hơn Trọng tâm thời

kỳ này là phục tráng và trẻ hóa bộ tán lá

Phương thức cắt tỉa:

+ Cắt tỉa cành: thời gian cắt tỉa tiến hành trước khi nhú lộc xuân là thích hợp Saukhi cắt tỉa, trong năm sẽ ra 2 - 3 đợt lộc để khôi phục tán Ở thời kỳ này, nếu cần phụctráng cây, có thể phải hủy bỏ 1 - 2 vụ quả tiếp theo để tập trung dinh dưỡng tái tạo lạithân, cành và bộ tán

+ Thay rễ mới: việc thay rễ mới cũng được coi là một biện pháp cắt tỉa Bộ rễ cótác dụng quyết định đối với sinh trưởng của cây Nếu bộ rễ già cỗi, năng lực hấp thu kém,lộc mới sinh trưởng cũng kém, mức độ nặng dẫn đến rụng lá thậm chí cây bị chết khô

Trang 18

Cắt đứt rễ cũ sẽ thúc đẩy phát sinh nhiều rễ mới, nâng cao khả năng hấp thu, tạo cơ sở vậtchất cho cành sinh trưởng Biện pháp hữu hiệu nhất là làm đứt rễ đúng mức và cải tạođất

Theo Menzel (2002), đốn tạo hình cho các giống như: Tai So, Kwai May Pinktrong thời kì cành sinh trưởng mạnh hoặc tạo những cành mẹ, người ta cắt đi xấp xỉ 15

cm trong vụ xuân (ở lộc xuân năm thứ 2) Việc tăng số lượng của chồi ở các điểm cắt sẽtạo ra số lượng lớn hoa và quả, giảm bớt sự rủi ro khi cành bị điều kiện ngoại cảnh xấutác động Với những giống phân cành dày như: Kwai May Pink, Wai Chi thì cắt đi xấp xỉ

10 - 20% số cành trong tán ở năm thứ 3

Mặc dù đã được đốn tỉa nhưng với những giống như: Tai So thì cành vẫn có khảnăng bị bẻ gẫy (cành yếu) Để giảm bớt sự rủi ro này, người trồng vải ở Australia đã dùngbiện pháp: treo cành to, nặng vào thân chính để chống cành bị chẻ ra Biện pháp này cũngrất phù hợp với các giống ở Châu Á (Simpson và cộng sự, 1992)

Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1998), khi cắt tỉa, bắt đầu tiến hành từcành to trong tán trở ra Sau khi cắt tỉa xong, giữ cho các cành xung quanh tán phân bốđều, tầng lá dầy Khi ánh sáng chiếu xuống dưới tán chỉ thấy đốm sáng bằng đồng xu làvừa Sau khi cắt tỉa, mầm bất định ở gần vết cắt của cành mọc ra làm rối loạn hình dạngtán, tiêu hao dinh dưỡng Cần vặt bỏ kịp thời những chồi này (tỉa chồi)

Ảnh hưởng của gió, bão cũng là một trong những yếu tố cần chú ý đối với một sốgiống vải Theo Nakasone và cộng sự (1998), việc đốn tỉa cho các cây còn trẻ sẽ tạo chochúng một cấu trúc khoẻ mạnh, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của gió bão và làmtăng diện tích mang quả Với những giống có cành dài như: Fay Zee Siu, Tai So cànhrất dễ bị chẻ ra khi gặp gió Với những giống phân cành ngắn và dày, ví dụ như: Wai chi,

No Wai Chi, gặp gió bão có thể bị bẻ gãy ở phần sát mặt đất Cần quan tâm chăm sóc chocây thường xuyên trong suốt 4 năm đầu tiên, tỉa bỏ những cành yếu, cành mọc trong tán

và những cành có phần vỏ sát vào nhau

1.2.1.2 Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân

Bảng 2.2 Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải

tính theo khối lượng

Trang 19

Với cây vải trong thời kỳ chưa cho quả, bón phân chủ yếu tập trung nuôi cây và thúc đẩy

sự sinh trưởng của thân cành, nguyên tắc bón phân của thời kỳ này là nên bón làm nhiềulần và bón lượng ít cho mỗi lần Năm thứ nhất do bộ rễ hẹp, tán nhỏ nên bón: 20 - 25gUrê, 15 - 20 g KCl và 50 - 70 g Lân Supe Từ những năm sau, lượng bón tăng lên 40 -60% so với năm thứ nhất tuỳ thuộc vào trạng thái sinh trưởng của cây, loại phân và tínhchất đất (Menzel và cộng sự, 2002)

Cũng theo Menzel và Simpson (1989), khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa dinhdưỡng cho đất trồng vải đã đưa ra khoảng tối thích về dinh dưỡng cho đất với cây vảitrưởng thành, trong đó, ngoài các yếu tố về đa lượng, các nguyên tố vi lượng đặc biệt là

Bo không những là yếu tố bắt buộc mà còn chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn các nguyên tố khác

Từ lâu, ở các vùng trồng vải truyền thống của Trung Quốc như Quảng Tây, PhúcKiến, Quảng Châu đã có tập quán bón phân phân hữu cơ cho vải Ở Ấn Độ, theo tài liệu

“The Litchi” 1989 của tác giả R.M PanDey, ngoài bón phân hữu cơ người ta còn kết hợpbón phân vô cơ theo độ tuổi cây Đối với cây 1 tuổi, bón 60 kg phân hữu cơ, 350 g đạm,

Qua phân tích đối với quả vải nếp và Hoài chi, Nghê Diệu Nguyên và Lý QuangMinh cho biết: để có được 100 kg quả thì cây vải phải lấy đi từ đất 0,14 - 0,16 kg N, 0,03

kg P2O5 và 0,13 - 0,15 kg K2O Đối với cây trên 30 tuổi thì lượng bón để đạt 100 kg quảvải tươi là 1,38 kg N, 0,8 kg P2O5, 1,5 kg K2O Nguyên tắc bón bất luận nhiều lần hay ítlần, chủ yếu xoay quanh thúc hoa, thúc quả và thúc lộc

Bón phân dựa vào tính chất nông hoá - thổ nhưỡng, nhu cầu dinh dưỡng của cây

ăn quả Một số nước đã áp dụng công nghệ tin học xác định hàm lượng dinh dưỡng dựa

Trang 20

trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Đài Loan, NhậtBản

1.2.1.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá

Biện pháp bổ sung các loại dinh dưỡng qua lá được sử dụng rộng rãi ở tất cả cácnước trên thế giới Có rất nhiều loại chế phẩm dinh dưỡng với các nguyên tố đa, vi lượng

có thể phối trộn với một số chất điều tiết sinh trưởng Ở Trung Quốc, phun dinh dưỡnglên lá thường dùng: urê 0,3 - 0,5%, Kalidihydrogen Photphat 0,3 - 0,4%, KCl 0,3 - 0,4%;tro bếp 1 - 3% hoặc dung dịch Surperphotphat ngâm lộc 1 - 3% Thời gian lá non, nụ vàquả non nên phun nồng độ thấp, khi lá già và quả lớn thì phun nồng độ cao hơn Đây làphương pháp nhằm giúp cây hấp thu dinh dưỡng trực tiếp qua lá nhằm tăng khả năng tíchluỹ trong cây, thúc đẩy các đợt lộc trong năm của cây nhanh thành thục

Theo Lương Xương, sau khi rữa hoa, thời kỳ gộp hạt và thời kỳ hạt bại dục, dùngdung dịch 0,2 % Kali dihydrogen photphat, thêm 0,8% ure + 0,1% sunphat Magie phunlên lá làm tăng tỷ lệ đậu quả 13,1% so với đối chứng

1.2.1.4 Nghiên cứu về các chất điều hoà sinh trưởng trên cây vải

- Nghiên cứu về các chất kích thích sinh trưởng

Auxin tổng hợp đã được sử dụng để điều khiển sinh trưởng và ra hoa vải ở Florida

và Hawai vào những năm 1950 - 1960 (Menzel, 2002) Ở Hawaii, phun NAA trên cây vảivào mùa thu thúc đẩy quá trình ra hoa (Shigeura, 1984; Bonner và Liverman, 1953).Khan và cộng sự (1976) đã dùng GA 100 ppm, NAA 20 ppm, 2,4,5 - TP 10 ppm phuntrên giống vải Rose Scente vào giai đoạn quả bằng hạt đậu làm giảm rụng quả Trêngiống Early Seedless và Calcuttia, phun IAA 20 ppm làm giảm rụng quả, GA3 50 ppm cótác dụng giữ quả tốt và GA3 100 ppm làm tăng kích thước của quả (Singh và Lal, 1980)

R.A Stern, D Stern, H Miller, Xu Huafu và S Grazit năm 1999 xử lý trên haigiống vải Feizixiao và Heiye khi quả được khoảng 2 gam: 67 ppm 2,4,5 - TP; 50 ppm3,5,6 - TPA hoặc có thể phối hợp: phun 2,4,5 - TP lần thứ nhất, 4 ngày sau phun tiếp3,5,6 - TPA đã làm năng suất/cây của cả hai giống tăng đáng kể Giống Feizixiao từ 1,3kg/cây tăng lên xấp xỉ 3,6 kg/cây, giống Heiye từ 1,0 kg/cây tăng lên 3,1 kg/cây Không

có sự khác nhau giữa các công thức xử lý Tất cả 3 công thức trên đều làm khối lượngquả của giống Feizixiao (từ 21,5 gam đến 28 gam, tăng xấp xỉ 30%) Khối lượng quả củagiống Heiye cũng tăng 20% với công thức xử lý là 3,5,6 - TPA

Để làm giảm kích thước hạt hay sản xuất quả không hạt, Kadman và Gzit (1970)

sử dụng 2,4,5 - Trechlorophenoxypropionic acid (2,4,5 - TP) ngăn ngừa rụng quả ở mức

độ cao Ngoài ra còn làm cho trên 75% quả vải có hạt nhỏ Tuy nhiên, khi hoa nở, xử lý2,4,5 - TP lần thứ nhất, sau đó phun phối hợp 2,4,5 - TP và GA thì có tới 50 - 100% sốquả lớn hơn khi chỉ xử lý một lần trước đó và 90 - 100% số quả không có hạt

Theo Mitra và cộng sự (2003), việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng nhìn chung

có ảnh hưởng tốt đến khả năng đậu quả, duy trì quả và làm tăng khối lượng quả Tuynhiên, sử dụng với hàm lượng khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau và tùy thuộc vào bản

Trang 21

chất từng giống:

- Tăng đậu quả: IAA 20 mg/l

- Chống rụng quả: GA3 50 mg/l

- Tăng khối lượng quả: GA3 100 mg/l

Gibberelline có nhiều tác dụng đối với cây ăn quả như thúc cho cây con phát triển,cây lớn mọc nhiều mầm mới, nâng cao tỷ lệ đậu quả, kích thích quả lớn nhanh, phòng vỏ

quả suy thoái, làm cho quả chín chậm lại Tuy nhiên, tùy thuộc từng loại cây ăn quả khác nhau, hiệu quả cũng khác nhau Khi phun GA3 50 ppm cho vải ở thời kỳ hoa cái nở vàthời kỳ quả non có tác dụng tăng tỷ lệ đậu quả và thúc quả lớn Ở nồng độ 50 - 100 ppm,phun 1 lần khi hoa nở giúp nâng cao tỷ lệ đậu quả và tăng khối lượng quả Phun GA3 vàothời kì quả lớn với nồng độ 25 - 50 ppm có tác dụng thúc quả lớn

Theo Stern và cộng sự (1999), xử lý trên hai giống vải Feizixiao và Heiye khi quảđược khoảng 2 gam bằng 2,4,5 - TP 67 ppm; 3,5,6 - TPA 50 ppm hoặc có thể phối hợpphun 2,4,5 - TP lần thứ nhất, 4 ngày sau phun tiếp 3,5,6 - TPA đã làm năng suất quả/câycủa cả hai giống tăng đáng kể Giống Feizixiao từ 1,3 kg/cây tăng lên xấp xỉ 3,6 kg/cây,giống Heiye từ 1,0 kg/cây tăng lên 3,1 kg/cây Không có sự khác nhau giữa các công thức

xử lý về khối lượng quả Ở cả 3 công thức trên đều làm khối lượng quả của giốngFeizixiao (từ 21,5 gam đến 28,0 gam) tăng xấp xỉ 30% so với đối chứng Khối lượng quảcủa giống Heiye cũng tăng 20% với công thức xử lý là 3,5,6 - TPA

Theo Nakasone và Paull (1998), để làm giảm kích thước hạt hay sản xuất quảkhông hạt sử dụng 2,4,5 - Trechlorophenoxypropionic acid (2,4,5 - TP) Ngoài việc ngănngừa rụng quả ở mức độ cao, chất này còn làm cho trên 75% số lượng quả vải có hạt nhỏ.Khi hoa nở, xử lý 2,4,5 - TP lần thứ nhất, sau đó phun phối hợp 2,4,5 - TP và GA thì 50 -100% số quả tăng so với khi chỉ xử lý một lần trước đó và 90 - 100% quả không có hạt

- Nghiên cứu về các chất ức chế sinh trưởng.

Trong các chất ức chế sinh trưởng, Ethrel, có tác dụng diệt và khống chế ra lộcđông của cây vải, kìm hãm sinh trưởng, xúc tiến phân hoá mầm hoa giúp cây vải ra hoađậu quả tốt hơn Ghosh và cộng sự (1986) xử lý Ethrel nồng độ 1,25 đến 2,5 ml/l làm chohoa ra sớm hơm 7 - 13 ngày và làm tăng số lượng hoa cái Sanyal và cộng sự (1996) cũngcho biết, khi xử lý Ethrel 1ml/l trên giống vải Bombai đã làm 70% số cành ra hoa S.K.Mitra và Sanyal (2000) cũng cho thấy việc xử lý TIBA làm tăng số lượng hoa lưỡng tính

và tăng tỷ lệ nẩy mầm của hạt phấn

Một trong các biện pháp để khắc phục những yếu tố hạn chế trong sản xuất vải ởTrung Quốc là sử dụng Ethrel, Paclobutrazol và B9 để ức chế sinh trưởng và thúc đẩyphân hoá mầm hoa (Zhiyuan Huang, Yungu Zhang, Longhua Li, Aimin Guo, ZhiyongCai và Yun Li, 2000) Theo Nirmala Ramburn, phun Paclobutrazol 500 ppm + Ethrel

1000 ppm có thể làm tăng khả năng ra hoa của giống Tai So trồng ở Mauritius

Ở Trung Quốc, năm 1984, Khâu Tự Đức dùng Malein Hydrazit (MH) 1.000 1.500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày đã làm cho hạt quả vải Hoài Chi bé tí

Trang 22

-tẹo, hiệu quả đạt 73 - 100% và nâng cao phẩm chất quả Theo Trang Vương Bích và cộng

sự, ở Phúc Kiến năm 1988 căn cứ vào dự báo thời tiết sẽ thuận lợi cho việc ra hoa muộncủa vải đã dùng Ethrel + MH ở các nồng độ khác nhau để khống chế chùm hoa, làm giảmlượng hoa trên chùm, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ đậu quả

Theo Bosse và cộng sự (2001), Mitra và cộng sự (2000), xử lý ethrel nồng độ 1,25đến 2,50 ml/l làm cho hoa ra sớm hơn 7 - 13 ngày và làm tăng số lượng hoa cái Khi xử

lý ethrel (1 ml/l) trên giống vải Bombai đã làm 70% số cành ra hoa, đặc biệt vào nhữngnăm mất mùa sẽ làm tăng năng suất giống vải này một cách đáng kể

Theo Mitra và cộng sự (2003), việc xử lý TIBA cho vải làm tăng số lượng hoalưỡng tính và tăng tỷ lệ đậu quả

Theo Xuming Huang và cộng sự (2003), một trong các biện pháp để khắc phụcnhững nhân tố hạn chế trong việc sản xuất vải ở Trung Quốc là sử dụng ethrel,paclobutrazol và B9 để ức chế sinh trưởng và thúc đẩy phân hoá mầm hoa

Zhiyuan Huang và cộng sự (1999), phun paclobutrazol 500 ppm + ethrel 1.000ppm đã làm tăng khả năng ra hoa của giống vải Tai So trồng ở Mauritius

Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1998), ở Phúc Kiến căn cứ vào dự báothời tiết, muốn vải ra hoa muộn thuận lợi thì dùng ethrel + MH ở các nồng độ khác nhau

để khống chế chùm hoa, làm giảm lượng hoa trên chùm, tăng tỷ lệ hoa cái và tăng tỷ lệđậu quả

* Nghiên cứu về Bảo vệ thực vật

Sâu bệnh hại vải có rất nhiều loài Theo thống kê của Hoàng Vĩnh Ngọc và LưuVĩnh Chính, ở Phúc Kiến, Trung Quốc có 69 loài sâu hại và ở Triết giang chỉ riêng bọhung đã có trên 19 loài Sâu hại vải phát sinh và gây hại phổ biến nhất là bọ xít, sâu đụcquả, nhện lông nhung, xén tóc, rệp sáp Biện pháp phòng trừ đối với bọ xít có thể bắttrưởng thành, bắt diệt trứng, dùng các loại thiên địch như ong, nấm ký sinh hoặc sửdụng thuốc hóa học

Theo Menzel (2002), các loại sâu bệnh gây hại chủ yếu trên vải ở các nước Châu Á

và Thái Bình Dương bao gồm: sâu đục quả, sâu cuốn lá, rệp hại hoa và quả non, bọ xít,nhện, rơi hại quả, ruồi đục quả; các loại bệnh: sương mai, thán thư, nấm hại rễ và tuyếntrùng

1.2.2 Những nghiên cứu trong nước

1.2.2.1 Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa

Cắt tỉa, tạo hình để tạo cho cây có bộ khung cân đối, tán cây có khả năng hấp thutốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh,điều tiết sinh trưởng Đã có những nghiên cứu về cắt tỉa được tiến hành trên vải chín sớm:Cắt tỉa tạo hình cho cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, cắt tỉa cho cây đang thời kỳkinh doanh Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành sau thu hoạch và quy trình của Viện

Trang 23

Nghiên cứu Rau quả có tác dụng điều chỉnh số lộc hữu hiệu, chất lượng cành lộc, làmtăng khả năng ra hoa, tăng số chùm quả/cây, tăng số quả/chùm và làm tăng năng suất vải.

Nguyễn Văn Dũng (2009): Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành (cắt bỏ các đầucành ở vị trí 1 - 2 cm từ phần bẻ quả hoặc đỉnh sinh trưởng) và quy trình của Viện Nghiêncứu Rau quả (sau thu hoạch cắt tỉa toàn bộ các cành sâu bệnh, cành tăm, cành vượt, tỉa bỏbớt cành thu kém chất lượng, tỉa hoa vụ xuân) giúp rút ngắn thời gian hoàn thành một đợtlộc từ 3 - 5 ngày, làm tăng chất lượng lộc, diện tích lá, khả năng đậu quả và làm tăngnăng suất vải từ 24,6 - 29,4% so với đối chứng không cắt tỉa

Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Dũng, Đào Quang Nghị (2006 - 2007) đã cảitiến biện pháp cắt tỉa trên vải chín sớm Yên Hưng và Yên Phú từ 3 lần cắt tỉa chỉ còn 2lần, lần 1 sau thu hoạch 15 ngày, lần 2 vào giữa tháng 11 đã tiết kiệm được công laođộng, khả năng ra hoa, đậu quả tốt, năng suất không sai khác so với phương pháp cũ vàcao hơn nhiều so với đối chứng

1.2.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân

Ở Việt Nam, theo quy trình bón phân cho vải chín sớm của Viện Nghiên cứu Rauquả, lượng phân bón cho cây ở các thời kỳ chưa cho quả và cho quả như sau:

Lượng phân bón thời kỳ chưa cho quả tính theo tuổi cây/nămTuổi cây Lượng phân bón

Phân chuồng (kg/cây) Đạm Urê (g/cây) Lân Supe (g/cây) Kaliclorua (g/cây)

Trang 24

Các nghiên cứu về sử dụng dinh dưỡng qua lá trên cây vải ở nước ta hiện còn ít

Để cung cấp dinh dưỡng cho cây, người ta thường sử dụng biện pháp, bón phânvào đất, kết hợp phun dung dịch phân trên lá Tuy nhiên, trong một số trường hợp bộ rễyếu hoặc điều kiện ngoại cảnh bất thuận ảnh hưởng đến hấp thu cũng như khi cây cầngấp bổ sung một nguyên tố nào đó thì bón phân trên lá phát huy kết quả tốt Ví dụ: vụđông và đầu vụ xuân do đất khô hạn nhiệt độ thấp, năng lực hoạt động của rễ kém, hấp

thu phân chậm thì bón phân trên lá có tác dụng hỗ trợ cho cây sinh trưởng tốt hơn Trong

thời kỳ phân hoá mầm hoa hoặc trong thời gian hoa phát triển và thời kỳ quả non, bónphân lên lá sẽ tăng khả năng ra hoa, đậu quả

Theo Nguyễn Văn Dũng (2009), khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điềutiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chấtvải chín sớm cho thấy:Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá có tácđộng tốt đến năng suất, chất lượng vải cụ thể là:

- Phun GA3 nồng độ 50 ppm làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng số lượng quả đậu/chùmlên 31,8% và tăng năng suất 45,4%, không thay đổi đáng kể chất lượng quả

- Phun Bo 0,1% + Urê 10g/lít rút ngắn được thời gian thành thục lộc thu 7 ngày,tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất 53,7% so với đối chứng Trong đó, phun Bo 0,1% +Urê 10g/lít tăng hàm lượng đường tổng số, vitamin C, chất khô, giảm hàm lượng axit,nâng cao phẩm chất quả vải

1.2.2.4 Nghiên cứu về các chất điều hoà sinh trưởng trên cây vải

Theo Phạm Minh Cương (1998), phun α- NAA 20 ppm + 2,4D 10 ppm làm giảmrụng quả, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất và chất lượng của hai giống vải thiều Thanh

Hà và thiều Phú Hộ Trong khi đó, phun GA3 50 ppm chỉ có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậuquả của giống vải thiều Thanh Hà, còn đối với giống vải thiều Phú Hộ thì số quả tăng sovới đối chứng là không có ý nghĩa Phun IAA 20 ppm làm số quả đậu của giống vải thiềuPhú Hộ tăng 40% so với đối chứng

Theo Trần Thế Tục (2004) tác dụng của Gibberellin đối với cây vải là thúc đẩy cácđợt lộc phát triển, nâng cao tỷ lệ đậu quả, làm cho quả lớn nhanh, giúp quả chín muộn,hạn chế rụng quả Nguyễn Văn Dũng (2005) cũng đã khẳng định: phun GA3 50 ppm tăngcường được khả năng giữ quả, tăng khối lượng quả và tăng năng suất của giống vải chínsớm Yên Hưng

Nguyễn Quốc Hùng, Đào Quang Nghị (2005) xác định sử dụng Paclobutrazol liềulượng 5 - 20gam ai/cây 7 năm tuổi để tưới gốc và phun qua lá giống vải Bình Khê tạiUông Bí - Quảng Ninh làm tăng khả năng ra hoa, tăng tỷ lệ hoa cái, tăng tỷ lệ đậu quả vàlàm năng suất tăng 19,8 - 43,1% so với đối chứng ở năm đầu tiên

Theo Nguyễn Văn Dũng (2009): Các nồng độ xử lý ehrel: 400ppm, 600ppm,

800ppm và 1000ppm đều có khả năng diệt lộc đông cao hơn so với đối chứng Nồng độ

800 ppm diệt được 95,6% lộc đông, làm tăng tỷ lệ C/N giúp cây ra hoa thuận lợi Xử lýethrel cũng giúp tăng tỷ lệ đậu quả cao hơn so với đối chứng Công thức xử lý 800 ppm

Trang 25

đạt tỷ lệ đậu quả 0,32% cao hơn so với đối chứng 28,1% Đồng thời giúp tăng năng suấtquả so với đối chứng ở tất cả các công thức, đặc biệt ở công thức phun 800 ppm đạt năngsuất cá thể 29,85kg/cây, tăng 47,8% so với đối chứng và không làm giảm phẩm chất quả.

Để ức chế sinh trưởng sinh dưỡng của cây vải chín sớm trong vụ đông, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Dũng, Đào Quang Nghị (2006-2007) dùng Ethrel 600 ppm

phun hai lần vào cuối tháng 10 và giữa tháng 11 cho các cây có thế sinh trưởng khỏe, đã

ức chế hoàn toàn lộc đông và làm cho tỷ lệ cành ra hoa đạt trên 92%

1.2.2.5 Những nghiên cứu về bảo vệ thực vật

Kết quả điều tra thành phần sâu bệnh hại vải tại các vùng sản xuất của NguyễnXuân Hồng và Viện Bảo vệ Thực vật cho thấy có nhiều đối tượng gây hại trên cây vải:sâu ăn lá, sâu đục thân, đục cành, đục quả vải, bọ xít, nhện lông nhung, rệp sáp; bệnhsương mai, bệnh do nấm phytophthora… Trong đó các đối tượng gây hại chính là sâu đụcquả và bọ xít

Thuốc Dipterex, Sherpa và Regent đều cho hiệu lực trừ bọ xít rất cao, tỷ lệ sâuchết sau 7 ngày là 91,3 - 95,5% Phòng trừ bọ xít giai đoạn bọ xít non tuổi 1 - 3, giai đoạn

bọ xít ra rộ tháng 3 - 5 cho hiệu quả phòng trừ tốt nhất, ngăn chặn được nguồn bọ xítchuyển sang gây hại quả

Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Dũng, Đào Quang Nghị (2006-2007) đã tiếnhành nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc đối với sâu đục quả vải Kết quả chothấy, các loại thuốc thí nghiệm cũng đạt hiệu quả phòng trừ cao nhất tại thời điểm sauphun 7 ngày, từ 71,3-94,3% Trong đó, thuốc Sherpa đạt 94,3%, tiếp đến thuốc Regent91,7%

Đối với bệnh hại vải có khoảng trên 40 loài Bệnh gây hại tương đối nặng cho vải

là bệnh sương mai (mốc sương), bệnh thối chua, bệnh loét, bệnh đốm tảo Ở một nghiêncứu khác, Nguyễn Văn Nghiêm và Đào Quang Nghị cho thấy, hiệu lực phòng trừ bệnhsương mai trên vải chín sớm của Anvil 5SC cao nhất, tiếp đến là Rhidomil MZ 72 vàZineb 80WP

1.2.2.6 Nghiên cứu về ghép cải tạo thay thế giống vải

Trong giai đoạn từ 2005 trở về trước, diện tích vải chủ yếu là giống vải thiều,chiếm đến trên 99% diện tích Các giống chín sớm cũng đang được tuyển chọn nhưngchưa phát triển được nhiều trong sản xuất Trước thực trạng đó, Viện Nghiên cứu rau quả

đã có nhiều nghiên cứu về biện pháp ghép cải tạo nhằm thay thế nhanh một phần diệntích vải chính vụ sang giống vải chín sớm, tăng hiệu quả cho người sản xuất

Vũ Mạnh Hải, Ngô Hồng Bình, Đào Quang Nghị đã khuyến cáo kỹ thuật ghép cảitạo cho cây vải có bộ tán vừa phải (từ 7 năm tuổi trở xuống), kỹ thuật ghép cải tạo chocây vải có bộ tán lớn (từ 8 năm tuổi trở lên) Các nghiên cứu cũng đã xác định kỹ thuậtđốn tỉa cành, định cành gốc ghép, định cành ghép, xác định vị trí ghép, kích thước cànhghép cũng như chăm sóc trước và sau ghép Tuy nhiên, một số kỹ thuật còn chưa được

Trang 26

nghiên cứu như xác định thời gian bảo quản mắt ghép, sử dụng dinh dưỡng qua lá chocây ghép

1.3 Một số vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới và trong nước

Trên thế giới, nhiều ca ngộ độc được xác định do vấn đề về vệ sinh an toàn thựcphẩm tại nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy, nhằm hướng tới sản phẩm đạt các tiêuchuẩn về chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nhiều tiêu chuẩn được đặt ra,trong đó có tiêu chuẩn Globle GAP Globle GAP là nguyên tắc thiết lập để kiểm soát cáckhâu trong sản xuất nhằm cho ra sản phẩm nông sản an toàn, vừa hoạt động sản xuất antoàn lao động và bảo vệ môi trường, có thể truy nguyên được nguồn gốc xuất xứ sảnxuất Tuỳ theo điều kiện của mình, nhiều quốc gia đã đề ra các tiêu chuẩn phù hợp dựatrên Globle GAP như ChileGap, JapanGAP, ThaiGAP, VietGAP

Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế năm 2006, từ 1999- 2004 trên toàn quốc

có 1.428 vụ ngộ độc với hơn 23.000 người mắc, trong đó có 316 trường hợp tử vong,tăng 61 trường hợp so với 5 năm trước (1994-1998) Theo Cục An toàn vệ sinh thựcphẩm năm 2008 cả nước xảy ra 205 vụ ngộ độc với trên 8.000 người mắc và trên 60người tử vong, năm 2009 xảy ra 152 vụ ngộ độc với trên 5.200 người mắc và 35 người tửvong Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới mỗi năm Việt Nam có 8 triệu người (1/10dân số cả nước) bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ độc do liên quan đến thực phẩm Rau,quả không an toàn là một trong những nguyên nhân của các vụ ngộ độc trên Tuy nhiên,các vụ ngộ độc thực phẩm phần lớn là ngộ độc cấp tính do rau quả có thuốc bảo vệ thựcvật và vi sinh vật có hại (khuẩn E.coli, Sanmonella, trứng giun, sán…) gây ra, trong khicác biểu hiện ngộ độc do NO3 và các KLN trong sản phẩm rau quả đối với cơ thể conngười không mang tính cấp tính thuốc BVTV, vi sinh vật gây hại nhưng gây hậu quả rấtnghiêm trọng và kéo dài hơn

Tuy nhiên, một trong các nguyên nhân chính gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm làviệc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Các biện pháp kỹ thuật sử dụng thuốc trong sản xuấttiềm ần nhiều rủi ro Do vậy, tuyển chọn được các giống chống chịu sâu bệnh hay nghiêncứu các biện pháp kỹ thuật hướng tới an toàn cho sản phẩm, an toàn cho người lao động,góp phần bảo vệ môi trường là hướng nghiên cứu đươc ưu tiên trong giai đoạn hiện nay

1.4 những vấn đề KH&CN còn tồn tại, hạn chế trong sản xuất vải hiện nay

Trên thế giới, hướng lai tạo, xử lý đột biến để chọn tạo giống mới trên một số cây

ăn quả như: cam quýt, na, táo ta đã thu được nhiều kết quả khả quan Nhiều giống mới cónăng suất cao, chất lượng tốt đã được tạo ra Ở Viêt Nam, đối với cây ăn quả nói chung,cây vải nói riêng, công tác lai tạo, xử lý đột biến tạo giống mới đã được tiến hành trongmột vài năm gần đây song điều kiện tiên quyết là để tạo được giống mới là thời gian Cầnkhoảng 10 - 15 năm để có thể tạo được 01 giống mới theo phương pháp này Trong bốicảnh đó, cũng như nhiều nước trên thế giới có ưu thế để phát triển cây vải, hướng đi từchọn lọc cá thể ưu tú trong quần thể ở Việt Nam vẫn là hướng đi ưu tiên để tao ra cácgiống mới phục vụ cho yêu cầu sản xuất

Các giống mới được tạo ra ở những nước sản xuất vải với diện tích lớn trên thế giớinhư; Trung Quốc, Úc, Đài Loan được trồng thử nghiệm tại các vùng sản xuất vải chủ

Trang 27

lực của Việt Nam đều cho năng suất, chất lượng kém so với giống trồng trong nước nênkhả năng nhập nội các giống tốt của các nước phù hợp với điều kiện sinh thái trong nước

là không khả thi

Do ở thời điểm hiện tại, diện tích vải chủ yếu tập trung là giống vải thiều (chiếmtrên 90% diện tích trồng trọt cây vải), gây áp lực rất lớn cho bố trí nhân công thu hái, bảoquản, chế biến và tiêu thụ, gây tổn thất lớn trong và sau thu hoạch Kết quả nghiên cứugiai đoạn 2005 - 2010, đã tuyển chọn được 4 giống vải chín sớm: Bình Khê, Hùng Long,Yên Hưng, Yên Phú được công nhận giống chính thức Đây là những giống có năng suấtcao, chất lượng khá tốt, có thời gian chín sớm hơn giống chính vụ 10 - 30 ngày, songvùng trồng tập trung chủ yếu tại Phú Thọ, Quảng Ninh và Hưng Yên Hai tỉnh có diệntích vải lớn nhất cả nước là Bắc Giang và Hải Dương có khá nhiều giống vải chín sớmtốt, nhưng chưa được tuyển chọn phục vụ cho việc cải tạo thay thế cơ cấu giống củachính các địa phương này

Các giống vải hiện nay được tuyển chọn mới chỉ đạt được mục tiêu chín sớm, năngsuất cao, ổn định và cho hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, mục tiêu về tính chống chịu vớimột số đối tượng sâu bệnh hại chủ yếu chưa được đặt ra Các kỹ thuật trồng và chăm sóc

đã hướng tới vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng chưa thực sự đầy đủ và chưa trởthành một quy trình mang tính hệ thống theo các tiêu chí của VietGAP

Để giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm và đảm bảo sản phẩm tạo ra đạt tiêu chuẩn vệsinh an toàn thực phẩm, một mặt, nghiên cứu tuyển chọn giống chống chịu và hoàn thiệncác biện pháp kỹ thuật, một mặt, tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ thuật sảnxuất và tiếp cận với các tiêu chuẩn về thực hành nông nghiệp tốt (GAP), đồng thời, xâydựng các mô hình sản xuất theo đúng tiêu chuẩn VietGAP để làm cơ sở nhân rộng

Đề tài sẽ tập trung tuyển chọn được các giống vải chín sớm mới cho 2 tỉnh BắcGiang và Hải Dương để bổ sung vào cơ cấu sản xuất, giúp kéo dài thời gian cho thuhoạch đồng thời nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng cácgiống tuyển chọn và Biện pháp kỹ thuật sản xuất vải an toàn tại 2 tỉnh theo VietGAP

1.5 Cách tiếp cận

Xuất phát từ thực trạng sản xuất cây ăn quả nói chung, cây vải nói riêng trên cáctỉnh miền Bắc hiện nay đang có nhiều biến động do sự thay đổi về quy hoạch kinh tế, xãhội và các quy định về các tiêu chuẩn mới trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cáctiêu chuẩn về thực hành nông nghiệp tốt (GAP) Mặt khác, nhu cầu sử dụng các sảnphẩm quả chất lượng cao đang ngày càng lớn Nhiều giống vải mới đang cho hiệu quảcao tại các vùng sản xuất Tuy nhiên, vẫn cần có những giống mới có khả năng chín sớm,

có khả năng rải vụ thu hoạch, chống chịu với một số loại sâu bệnh chủ yếu với các kỹthuật tiến bộ, phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người sản xuất

Căn cứ yêu cầu điều kiện sinh thái của cây vải có phổ thích nghi tương hẹp, chỉ cóthể sinh trưởng, phát triển tốt tại một số nước khu vực Đông Nam Á và cơ sở kế thừa cáckết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả về đặc điểm sinh trưởng, phát triển, rahoa, đậu quả, năng suất và chất lượng; các kỹ thuật thâm canh: cắt tỉa, bón phân, sử dụngchất điều tiết sinh trưởng, bổ sung dinh dưỡng qua lá và phòng trừ sâu bệnh trên các giốngcây ăn quả trong những năm gần đây

Căn cứ tình hình sản xuất tại nhiều tỉnh miền Bắc, các giống vải có nguồn gốc bản

Trang 28

địa đã thể hiện khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất, chất lượng tốt

Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu của các cơ quan khoa học trong những nămgần đây về điều tra tuyển chọn giống vải chín sớm phục vụ sản xuất cho các tỉnh phíaBắc

Dựa trên cơ sở lý thuyết về bố trí thí nghiệm trên cây ăn quả và điều kiện thực tế

về khí hậu, đất đai tại địa phương để vận dụng phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sửdụng phù hợp nhằm đạt

Trang 29

Chương II VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu trong công tác điều tra, đánh giá là các giống vải hiệnđược trồng trên một số tỉnh miền Bắc (Hải Dương, Bắc Giang)

- Vật liệu sử dụng trong các thí nghiệm là giống vải tuyển chọn

- Đối chứng là một số giống vải thiều Thanh Hà

2 2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1 Nghiên cứu tuyển chọn giống vải chín sớm tại Hải Dương và Bắc Giang

Hoạt động 1 Điều tra, đánh giá hiện trạng các giống vải chín sớm

Đánh giá về hiện trạng về diện tích, năng suất, sản lượng

Đánh giá về áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh

Đánh giá về tình hình tiêu thụ quả của các giống

Hoạt động 2 Bình tuyển cây ưu tú/đầu dòng các giống tuyển chọn

Đánh giá trong quần thể các giống tuyển chọn, chọn ra các cây ưu tú/đầu dòng phục

vụ sản xuất

Hoạt động 3 Nghiên cứu các đặc tính nông sinh học của giống vải tuyển chọn

Mô tả đặc điểm hình thái giống tuyển chọn

Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống tuyển chọn.

Nội dung 2 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và phát triển các giống tuyển chọn

Hoạt động 1 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc vải chín sớm tuyển chọn

+ Nghiên cứu hoàn thiện biện pháp cắt tỉa trên giống tuyển chọn

+ Nghiên cứu biện pháp bón phân nâng cao năng suất, chất lượng cho giốngtuyển chọn

+ Nghiên cứu xác định số lần phun thuốc thích hợp phòng trừ một số loại sâu,bệnh chủ yếu trên hoa, quả vải tuyển chọn

Hoạt động 2 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình ghép cải tạo thay thế giống vải thiều Thanh Hà bằng giống vải tuyển chọn

+ Nghiên cứu thời gian bảo quản mắt ghép đến tỷ lệ ghép sống

+ Nghiên cứu số lượng mầm trên đoạn cành đến tỷ lệ ghép sống và khả năng sinhtrưởng của cành ghép

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá đến ra hoa, đậu quả, năng suất,chất lượng giống tuyển chọn sau ghép cải tạo

Hoạt động 3 Đào tạo tập huấn kỹ thuật sản xuất vải theo VietGAP

Tổ chức 2 lớp tập huấn cho nông dân về kỹ thuật sản xuất vải chín sớm theoVietGAP 1 Mỗi lớp 40 người người tại các vùng trồng vải tập trung: Bắc Giang và HảiDương Nội dung tập huấn về kỹ thuật sản xuất vải và các quy định về quy trình sản xuấtvải theo VietGAP

Nội dung 3 Xây dựng mô phát triển giống vải tuyển chọn

Xây dựng 3 ha mô hình sản xuất vải tuyển chọn Bắc Giang 1,5ha, Hải Dương1,5ha Mỗi tỉnh 2 - 3 mô hình, quy mô tối thiểu 0,5 ha/mô hình

Trang 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp tiến hành và bố trí thí nghiệm

Nội dung 1 Nghiên cứu tuyển chọn giống vải chín sớm tại Hải Dương và Bắc Giang

- Trên cơ sở kế thừa kết quả đánh giá giống của Viện Nghiên cứu Rau quả trongnhững năm gần đây để tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng các giống vải chín sớm vàbình tuyển cây vải đầu dòng của các giống triển vọng:

Phương pháp điều tra: Đánh giá thực trạng tình hình sản xuất vải theo phươngpháp điều tra trực tiếp có sự tham gia của người dân (PRA) và bằng phiếu điều tra với cácchỉ tiêu về trình độ, tập quán canh tác, kỹ thuật canh tác, mức độ thâm canh, tình hìnhsinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và tình hình tiêu thụ vải tại các vùng sảnxuất

- Nghiên cứu, đánh giá về khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng và hiệuquả của các giống tại vùng sản xuất bằng cách theo dõi trực tiếp trên cây ở các độ tuổikhác nhau trong vụ quả 2015 và thông qua phỏng vấn về năng suất quả qua một số nămgần đây

- Bình tuyển cây ưu tú/đầu dòng các giống tuyển chọn:

* Giống tuyển chọn: Vải Lai Thanh Hà được trồng tại Bắc Giang và Hải Dương

* Tiêu chí tuyển chọn:

- Thời gian thu hoạch: sớm hơn so với vải thiều ≥10 ngày

- Năng suất: cao hơn từ 15 - 20% so với đại trà

* Phương pháp điều tra, tuyển chọn:

- Kế thừa kết quả điều tra tuyển chọn giống vải chín sớm của Viện Nghiên cứuRau quả từ 2012 - 2014

- Thành lập tổ công tác tiếp tục đánh giá các cây tuyển chọn từ 2012 và phát hiệnthêm cây tốt

- Tổ chức điều tra, đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân

+ Phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, Phòng nông nghiệp các huyện tổ chứcbình tuyển Đánh giá trong quần thể các giống tuyển chọn, chọn ra các cây ưu tú/đầu dòngphục vụ phát triển sản xuất

- Mô tả đặc điểm hình thái theo hướng dẫn của Tổ chức Đa dạng Quốc tế (trước là

Viện Tài Nguyên di truyền thực vật Quốc tế (IPGRI))

Trang 31

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, của giống tuyển chọn bằng cách thuthập số liệu trực tiếp trên các độ tuổi cây khác nhau trên các vườn trồng sẵn Mỗi độ tuổitheo dõi đánh giá trên 30 cây.

Nội dung 2 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và phát triển các giống tuyển chọn

* Nghiên cứu hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc vải chín sớm tuyển chọn

Thí nghiệm 1 Nghiên cứu hoàn thiện biện pháp cắt tỉa trên giống tuyển chọn

Thí nghiệm gồm 3 công thức thí nghiệm và 1 công thức đối chứng được bố trítheo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) thực hiện trên cây 7 năm tuổi Mỗi công thức 3cây, nhắc lại 5 lần

Thí nghiệm gồm 4 công thức:

+ Công thức 1(đối chứng) Cắt tỉa 1 thời vụ ngay sau thu hoạch quả Cắt bỏ cáccành trong tán, cành tăm, cành sâu bệnh

+ Công thức 2 Cắt tỉa 2 thời vụ:

- Vụ hè: Cắt tỉa vụ hè sau thu quả 15 ngày Cắt bỏ các cành trong tán, cành tăm,cành sâu bệnh, cành chen chúc nhau, cành trên đỉnh tán và bấm 5 - 10 cm đầu cành

- Vụ đông: Cắt tỉa đầu tháng 11 Cắt tỉa toàn bộ các cành mọc ra từ các chồi bấtđịnh bên trong tán, các cành lá nhỏ phía ngoài tán, chỉ để lại 2 - 3 đầu cành chính mọc ra

từ đầu cành đã bấm 5 - 10 cm sau thu hoạch

+ Công thức 3 Cắt tỉa 3 thời vụ:

- Vụ xuân: Cắt tỉa giữa tháng 2 đến giữa tháng 3 Cắt bỏ những cành chất lượngkém, cành mang sâu bệnh và những cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ,thưa, mọc sâu trong tán, chùm hoa bị sâu bệnh

- Vụ hè: Cắt tỉa đầu đến giữa tháng 4 Cắt bỏ những cành hè nhỏ, yếu, mọc quá xítnhau, tỉa bỏ những chùm quả nhỏ, sâu bệnh

- Vụ thu: Cắt tỉa sau khi thu quả 15 ngày Tỉa bỏ các cành khô, cành sâu bệnh vàcác cành mọc dài vượt ra ngoài tán, bấm 5 - 10cm đầu cành Khi lộc thu dài khoảng 10

cm, tỉa bỏ những mầm yếu, mọc không hợp lý và chọn để lại 2 - 3 cành thu trên mỗi cànhmẹ

Ngoài các yếu tố thí nghiệm, các biện pháp kỹ thuật khác được tiến hành theoquy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả

Thí nghiệm tiến hành từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015 tại Hải Dương Thí nghiệm 2 Nghiên cứu biện pháp bón phân nâng cao năng suất,chất lượng quả

cho giống tuyển chọn

Thí nghiệm gồm 5 công thức được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD)thực hiện trên cây 7 năm tuổi Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 5 lần: 4 công thức thínghiệm kết hợp hai mức đạm: N1 = 1,2 kg; N2 = 1,5 kg và 2 mức kaliclorua K1 = 1,6 kg

và K2 = 1,8 kg và 1 công thức đối chứng theo cách của người dân

Công thức 1 (đối chứng): 1kg ure + 1,0kg kaliclorua

Công thức 2 N1K1

Công thức 3 N1K2

Công thức 4 N2K1

Công thức 5 N2K2

Trang 32

Thí nghiệm được thực hiện trên nền phân bón: 1,5 kg supe lân, 3kg phân hữu cơ

vi sinh Ngoài các yếu tố thí nghiệm, cây trong thí nghiệm được chăm sóc theo cùng mộtchế độ như nhau

Thí nghiệm tiến hành từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015 tại Hải Dương Thí nghiệm 3 Nghiên cứu xác định số lần phun thuốc thích hợp phòng trừ một số

loại sâu, bệnh chủ yếu trên hoa, quả vải tuyển chọn

Thí nghiệm gồm 3 công thức được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD)thực hiện trên cây 7 năm tuổi Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 5 lần Các công thức phunđịnh kỳ bằng cách kết hợp các loại thuốc: Ridomil 68WP + Suprathion 40EC + Regent800WG Phun lần 1 từ khi nhú hoa và dùng phun thuốc trước thu hoạch 10 – 15 ngày + Công thức 1 (đối chứng): 0 lần

+ Công thức 2: phun 7 lần, định kỳ 10 ngày một lần

+ Công thức 3: phun 5 lần, định kỳ 15 ngày một lần

+ Công thức 4: phun 4 định kỳ 20 ngày một lần

Các biện pháp phòng trừ giai đoạn sinh trưởng của cây theo quy trình của ViệnNghiên cứu Rau quả cho vải chín sớm Ngoài các yếu tố thí nghiệm, các công thức đượcchăm sóc ở cùng một chế độ như nhau

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2015 tại Hải Dương

* Nghiên cứu hoàn thiện quy trình ghép cải tạo thay thế giống vải thiều Thanh Hà bằng giống vải tuyển chọn

Thí nghiệm 4 Nghiên cứu thời gian bảo quản mắt ghép đến tỷ lệ ghép sống

Thí nghiệm gồm 5 công thức, được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên(RCBD) Mỗi công thức 100 mắt ghép, cây nhắc lại 5 lần

+ Công thức 1 (đối chứng): mắt được ghép ngay sau khi cắt

+ Công thức 2: mắt được ghép sau 1 ngày sau khi cắt

+ Công thức 3: mắt được ghép sau 2 ngày sau khi cắt

+ Công thức 4: mắt được ghép sau 3 ngày sau khi cắt

+ Công thức 5: mắt được ghép sau 4 ngày sau khi cắt

Mắt ghép được bảo quản trong điều kiện luôn ẩm và mát bằng cách: trong nhà,rải cành mắt ghép trên một lớp vải ẩm thành từng lớp mỏng 10 Bên trên cũng phủ mộtlớp vải ẩm khác Thường xuyên giữ cho các lớp vải đủ ẩm Ngoài các yếu tố thí nghiệm,các công thức được chăm sóc ở cùng một chế độ như nhau

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2014 tại Bắc Giang Thí nghiệm 5 Nghiên cứu số lượng mầm trên đoạn cành đến tỷ lệ ghép sống và

khả năng sinh trưởng của cành ghép

Thí nghiệm gồm 4 công thức, được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên(RCBD) Mỗi công thức 3 cây nhắc lại 5 lần Gốc ghép là gốc vải thiều có độ tuổi 8 năm.Mắt ghép là giống tuyển chọn

+ Công thức 1 (đối chứng): Đoạn cành ghép có 1 mắt ngủ

+ Công thức 2: Đoạn cành ghép có 2 mắt ngủ

+ Công thức 3: Đoạn cành ghép có 3 mắt ngủ

+ Công thức 4: Đoạn cành ghép có 4 mắt ngủ

Trang 33

Ghép thời điểm tháng 7 đến tháng 8 năm 2014 Đoạn cành mắt ghép được ghépngay sau khi cắt từ cây mẹ Ngoài các yếu tố thí nghiệm, các công thức được chăm sóc ởcùng một chế độ như nhau.

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015 tại Bắc

Giang

Thí nghiệm 6 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá đến ra hoa, đậu quả, năng suất,

chất lượng giống tuyển chọn sau ghép cải tạo

Thí nghiệm gồm 4 công thức, được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên(RCBD) Mỗi công thức 3 cây nhắc lại 5 lần

+ Công thức 1: Đối chứng: Phun nước lã

+ Công thức 2: Master Gro

+ Công thức 3: Multi-K

+ Công thức 4: Komix

Các công thức thí nghiệm được tiến hành trên cây đã được ghép cải tạo từ năm

2013 Ngoài yếu tố thí nghiệm, cây trong thí nghiệm được chăm sóc theo quy trình củaViện Nghiên cứu Rau quả áp dụng cho vải chín sớm

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015 tại Bắc Giang

Nội dung 3 Xây dựng mô phát triển giống vải tuyển chọn

Phối hợp với cơ quan quản lý và chỉ đạo nông nghiệp ở địa phương xây dựng 3 ha

mô hình trình diễn giống vải tuyển chọn tại Bắc Giang và Hải Dương Trong đó: 2 ha môhình thâm canh (1,5ha tại Hải Dương và 0,5ha tại Bắc Giang) và 1,0ha mô hình ghép cảitạo thay thế giống vải bằng giống tuyển chọn tại Bắc Giang

Nguyên tắc chọn hộ: Chọn những gia đình có vườn vải Lai Thanh Hà có độ tuổidồng đều để bố trí các thí nghiệm; có nhân lực và nhiệt tình tham gia đề tài Đối với môhình ghép cải tạo, chọn các hộ có vườn vải kém hiệu quả, có nhân lực và mong muốnthay đổi giống để nâng cao hiệu quả sản xuất

Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào áp dụng cho mô hình

Đánh giá so sánh với các vườn vải Lai thanh Hà không áp dụng quy trình ở độ tuổitương đương

Thời gian thực hiện từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015

2.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

* Các đặc điểm về hình thái

- Mô tả các đặc điểm của giống theo hướng dẫn của Viện tài nguyên di truyền thực vật

Quốc tế

* Các chỉ tiêu về sinh trưởng

+ Các chỉ tiêu theo dõi

- Số đợt lộc hình thành/năm

- Thời gian xuất hiện các đợt lộc sau khi thu hoạch

- Kích thước mỗi đợt lộc

+ Phương pháp theo dõi

- Thời gian bắt đầu bật lộc được tính khi 10% số cành trên cây bật lộc

- Thời gian rộ lộc được tính khi 50% số cành trên cây bật lộc

Trang 34

- Thời gian kết thúc đợt lộc lộc được tính khi 80% số lộc trên cây thành thục

- Sinh trưởng của lộc được theo dõi 12 cành trên mỗi cây các cành theo dõi được phân bốđều xung quanh tán

+ Chiều dài lộc được đo 7 ngày một lần sau khi xuất hiện lộc

+ Đường kính cành đo cách gốc cành 1cm khi cành đã thành thục

* Các chỉ tiêu về ra hoa, đậu quả

+ Các chỉ tiêu theo dõi

- Thời gian bắt đầu nhú giò hoa

- Thời gian bắt đầu nở hoa, rộ hoa và kết thúc nở hoa

- Năng suất lý thuyết, năng suất thực thu

* Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

- Thời gian xuất hiện hoa được tính từ ngày có 10% số cành nhú giò hoa

- Thời gian bắt đầu nở hoa được tính từ ngày có 10% số hoa trên cây nở

- Thời điểm rộ hoa được tính khi có khoảng 50% số hoa trên cây nở

- Ngày kết thúc nở hoa (tắt hoa) được tính khi có khoảng 80% số hoa trên cây đã tàn

- Theo dõi tỷ lệ đậu quả: mỗi cây đánh dấu theo dõi 4 chùm Tổng số 12 chùm/1 lần nhắc

- Số quả đậu ban đầu là số quả đếm được sau khi tắt hoa

- Tỷ lệ đậu quả (%) = (Tổng số quả đậu x 100)/ tổng số hoa

- Năng suất quả trên cây được cân đong trực tiếp trên vườn khi thu hoạch

- Kích thước quả, hạt được đo trung bình 30 quả/lần nhắc

- Khối lượng quả, hạt được tính trung bình trên 30 quả/lần nhắc

- Tỷ lệ phần ăn được (%) = ( khối lượng cùi x 100)/khối lượng quả

Các chỉ tiêu về chất lượng quả

* Các chỉ tiêu phân tích: chất lượng quả được phân tích tại Phòng Thí nghiệm tổng hợp,

Viện Nghiên cứu Rau quả

+ Hàm lượng đường tổng số (%): được xác định theo phương pháp Bectrand+ Hàm lượng chất khô (%): được xác định theo phương pháp sấy đến khối lượngkhông đổi

+ Hàm lượng vitamin C (mg%): được xác định theo phương pháp Tinman

+ Axít tổng số (%): được xác định theo phương pháp chuẩn độ NaOH 0,1N

+ Độ Brix (%): được đo bằng Brix kế cầm tay

* Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại

* Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại

- Tỷ lệ quả/bị hại (%) = (Số quả bị hại) x 100/(Tổng số quả điều tra)

- Mật độ sâu, nhộng = (Tổng số sâu nhộng) x 100/(tổng số quả hoặc chùm quảđiều tra)

- Tỷ lệ bệnh (TLB), chỉ số bệnh (CSB)

Trang 35

TLB (%) = (Tổng số quả bệnh x 100)/Tổng số quả điều tra CSB (%) = ((N1 x 1) + (N2 x2) + (Nn x n)) x 100/N x n)Trong đó, N1 Nn: số quả quan sát

Trang 36

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng các giống vải chín tại Hải Dương và Bắc Giang

3.1.1 Thực trạng sản xuất vải chín sớm tại Bắc Giang và Hải Dương

3.1.1.1 Thực trạng sản xuất vải tại Bắc Giang

* Diện tích, năng suất và sản lượng vải qua các năm ở Bắc Giang

Bảng 3.1: Diện tích, năng suất và sản lượng vải qua các năm ở Bắc Giang

Hành

chính

Diện tích (1.000 ha)

Năng suất bình quân (tấn/

ha)

Sản lượng (1.000 tấn)

Diện tích (1.000 ha)

Năng suất bình quân (tấn/

ha)

Sản lượng (1.000 tấn)

Diện tích (1.000 ha)

Năng suất bình quân (tấn/

ha)

Sản lượng (1.000 tấn)

Toàn tỉnh 33,40 2,07 69,00 35,78 3,58 116,25 32,34 4,63 191,74

Lục Ngạn 13,94 3,20 44,61 18,50 3,30 61,05 18,00 7,22 130,00Lục Nam 6,01 2,78 8,75 6,49 2,93 18,00 6,20 4,73 29,30Tân Yên 1,67 2,37 3,94 1,84 4,76 7,24 1,61 3,74 6,00Lạng

Giang 1,16 1,56 1,45 1,70 4,26 7,17 1,90 4,11 7,80Yên Thế 5,80 1,33 8,00 4,07 4,10 16,68 3,20 4,06 13,00Sơn Động 4,82 1,20 2,25 3,18 2,15 6,11 1,44 3,93 5,64

(Nguồn: Niên giám thống kê, các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang, Tân Yên, Yên Thế và tỉnh Bắc Giang - Năm 2014)

Diện tích vải của cả nước năm 2014 đạt trên 70 ngàn ha Trong đó, Bắc Giang là

một tỉnh có diện tích trồng vải lớn nhất với diện tích đạt 33,40 ngàn ha năm 2005; 35,78ngàn ha năm 2010 và 32,34 ngàn ha năm 2014

Các huyện trồng vải của Bắc giang là Lục ngạn, Lục Nam, Tân Yên, Lạng Giang,Yên Thế, Sơn Động Trong đó, huyện Lục Ngạn luôn dẫn đầu về diện tích, năng suất, sảnlượng vải qua các năm Năm 2010 diện tích vải của Lục Ngạn là 18.500 ha (chiếm57,97% diện tích toàn vùng), năng suất đạt 3,3 tấn/ha, sản lượng đạt 61.050 tấn Năm

2014 diện tích vải của Lục Ngạn giảm xuống còn 18.000 ha nhưng năng suất lại tăng lênđạt 7,22 tấn/ha, sản lượng đạt 130.000 tấn Trong khi đó, năm 2014, diện tích vải ở cáchuyện khác chỉ đạt từ 1.440 ha ở Sơn Động đến 6.200 ha ở Tân Yên Sản lượng đạt từ5.640 tấn đến 29.300 tấn

Như vậy, so với năm 2010, diện tích vải của hầu hết các huyện của tỉnh Bắc Giangnăm 2014 có xu hướng giảm song năng suất và sản lượng lại tăng Như vậy các huyệncủa tỉnh Bắc Giang đã thực hiện đúng chủ trương của tỉnh về giảm những diện tích sảnxuất vải không hiệu quả (trồng trọt ở những nơi đất quá cao, không có điều kiện thâm

Trang 37

canh, chăm sóc…) Tập trung áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh nâng cao năngsuất trên những diện tích có điều kiện thuận lợi về thâm canh, thu hái, vận chuyển nhằmlàm giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.

* Các giống vải trồng tại Bắc Giang

Bảng 3.2 Các giống vải trồng tại Bắc Giang

Lục Nam Bình Khê, U hồng lá vặn, Uhồng, U hồng Tân Mộc, Vải thiều 24,2

Tân Yên Phúc Hòa, Bình Khê, U hồng

Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang - năm 2014

Các giống vải hiện được trồng tại các địa phương chủ yếu vẫn là vải thiều Cácgiống vải chín sớm chủ yếu là các giống Phúc Hòa, Bình Khê, U hồng lá vặn, U hồng, Uhồng Tân Mộc, Hùng Long với cơ cấu chiếm đến 49,8% như ở Tân Yên, 24,2% ở LụcNam, 18,4% ở Lạng Giang đến 11,1 và 12,5% ở Lục Ngạn và Yên Thế Ở Sơn Động,diện tích vải chín sớm không đáng kể

Bảng 3.3: Diện tích và sản lượng các giống vải ở Bắc Giang năm 2014

Ngạn

Lục Nam

Tân Yên

Lạng Giang

Yên Thế

Sơn Động

Tổng cộng

Cơ cấu (%)

(tấn) 8.700 4.800 4.500 1.800 1.500 - 21.300 11,1Vải chính

vụ(tấn) 121.300 24.500 1.500 6.000 11.500 5.640 170.440 88,9Sản lượng

(tấn) 130.000 29.300 6.000 7.800 13.000 5.640 191.740

Trang 38

(Nguồn: Niên giám thống kê, các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang, Tân Yên, Yên Thế và tỉnh Bắc Giang - Năm 2014)

Đến năm 2014, diện tích vải thiều đạt 27.291 ha, chiếm 84,4% tổng diện tích vảitoàn tỉnh, sản lượng 170.440 tấn Vải chín sớm tại các địa phương trồng vải của BắcGiang chỉ đạt 5.050ha, chiếm15,6% tổng diện tích vải toàn tỉnh và sản lượng chỉ đạt21.300 tấn, chiếm 11,1% tổng sản lượng vải của toàn tỉnh Trong đó, diện tích và sảnlượng vải chín sớm ở các địa phương: Lục ngạn 2.000ha, 8.700 tấn; Lục Nam 1.500 ha,4.800 tấn; Tân Yên 800 ha, 4.500 tấn; Lạng Giang 350 ha, 1.800 tấn; Yên Thế 400 ha,1.500 tấn

Như vậy, diện tích vải thiều tại Bắc Giang vẫn chiếm tỷ lệ lớn (84,4% tổng diện tíchvải toàn tỉnh) Điều này sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro: Thời vụ thu hoạch tập trung, được mùanhưng rớt giá và ngược lại, tạo ra nhiều áp lực về lao động cũng như thu hái và tiêu thụsản phẩm Hướng bổ sung thêm diện tích giống vải chín sớm được coi là hướng đi thực

tế, hiệu quả giúp giảm áp lực về tiêu thụ, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, thuận lợicho tiêu thụ

*Thực trạng áp dụng kỹ thuật thâm canh

Bảng 3.4 Thực trạng áp dụng quy trình kỹ thuật của các hộ tại các địa

phương

Địa phương Tỷ lệ hộ được

tập huấn sảnxuất vải (%)

Tỷ lệ các hộ ápdụng triệt đểquy trình đượckhuyến cáo (%)

Tỷ lệ các hộ ápdụng không triệt

để quy trình (%)

Tỷ lệ các hộ ápkhông áp dụngquy trình (%)

Kết quả điều tra cho thấy, 100% số hộ được phỏng vấn đều đã được tập huấn ítnhất 1 lần về sản xuất vải Tuy nhiên, với các quy trình được khuyến cáo, tỷ lệ hộ ápdụng triệt để quy trình chưa được cao: Lục Ngạn: 62,5%, Lục Nam: 48,8 %, Tân Yên52,3%, Lạng Giang 46,8 Yên Thế: 48,7%, Sơn Động 40,8% Tỷ lệ các hộ làm theo kinh

Ngày đăng: 04/08/2016, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Vũ Mạnh Hải (2005), "Chọn tạo giống và kỹ thuật thâm canh một số cây ăn quả chủ đạo ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2000-2004",Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 3-2005, tr. 58-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn tạo giống và kỹ thuật thâm canh một số cây ăn quả chủđạo ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 2000-2004
Tác giả: Vũ Mạnh Hải
Năm: 2005
6. Bose T.K, S.K. Mitra, D. Sanyal (2001), Fruits: Tropical and subpropical, Volume I. NAYA UDYOG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fruits: Tropical and subpropical
Tác giả: Bose T.K, S.K. Mitra, D. Sanyal
Năm: 2001
7. Menzel C. (2002), The lychee crop in Asia and the Pacific, FAO Sách, tạp chí
Tiêu đề: The lychee crop in Asia and the Pacific
Tác giả: Menzel C
Năm: 2002
8. Nakasone H.Y. and R.E. Paull (1998), Tropical Fruits, Cab International Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tropical Fruits
Tác giả: Nakasone H.Y. and R.E. Paull
Năm: 1998
1. Cục Thống kê Bắc Giang (2015), Niên giám thống kê 2014 tỉnh Bắc Giang 2. Cục Thống kê Hải Dương (2015), Niên giám thống kê 2014 tỉnh Hải Dương Khác
4. Viện Nghiên cứu Rau quả (2013), Báo cáo kết quả điều tra tuyển chọn giống vải chín sớm phục vụ phát triển sản xuất ở các tỉnh phía Bắc Khác
5. Viện Nghiên cứu Rau quả (2013), Báo cáo kết Dự án Phát triển giống cây ăn quả có giá trị giai đoạn 2005 – 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các giống vải chủ lực của một số nước trên thế giới - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 2.1. Các giống vải chủ lực của một số nước trên thế giới (Trang 14)
Bảng 2.2. Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 2.2. Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải (Trang 18)
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất và sản lượng vải qua các năm ở Bắc Giang - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.1 Diện tích, năng suất và sản lượng vải qua các năm ở Bắc Giang (Trang 36)
Bảng 3.5. Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV cho vải tại một số huyện của - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.5. Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV cho vải tại một số huyện của (Trang 39)
Bảng 3.7. Các giống vải trồng tại Hải Dương - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.7. Các giống vải trồng tại Hải Dương (Trang 42)
Bảng 3.8: Diện tích và sản lượng các giống vải ở Hải Dương năm 2014 - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.8 Diện tích và sản lượng các giống vải ở Hải Dương năm 2014 (Trang 43)
Bảng 3.9. Thực trạng áp dụng quy trình kỹ thuật của các hộ tại các địa phương - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.9. Thực trạng áp dụng quy trình kỹ thuật của các hộ tại các địa phương (Trang 43)
Bảng 3.10: Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV cho vải tại Thanh Hà Hạng mục và mức độ - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.10 Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV cho vải tại Thanh Hà Hạng mục và mức độ (Trang 44)
Bảng 3.11. Đặc điểm hình thái của giống vải Lai Thanh Hà (số liệu 2015) - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.11. Đặc điểm hình thái của giống vải Lai Thanh Hà (số liệu 2015) (Trang 48)
Bảng 3.12. Khả năng sinh trưởng về khung tán của giống vải Lai Thanh Hà - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.12. Khả năng sinh trưởng về khung tán của giống vải Lai Thanh Hà (Trang 49)
Bảng 3.15. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.15. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của (Trang 51)
Bảng 3.17. Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu cảm quan (Số liệu năm 2015) - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.17. Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu cảm quan (Số liệu năm 2015) (Trang 52)
Bảng 3.16. Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các giống vải tuyển chọn - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.16. Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các giống vải tuyển chọn (Trang 52)
Bảng 3.18. Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu  trên giống vải lai Thanh Hà (Số liệu năm 2014-2015) - “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp canh  tác vải chín sớm có giá trị kinh tế cao tại tỉnh Bắc Giang và Hải Dương”
Bảng 3.18. Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu trên giống vải lai Thanh Hà (Số liệu năm 2014-2015) (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w