1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)

108 535 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với người học, để sử dụng ngôn ngữ một cách vững chắc, thì cần có những hiểu biết nhất định về hệ thống, quy tắc, hoạt động ngữ pháp của các từ loại, quy tắc về kết hợp từ và vị trí

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜN Ọ O Ọ & N ÂN VĂN

T N P Ố Ồ Í M N – 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TR NG ĐẠI HỌC KHOA HỌC X H I & NHÂN VĂN

UY N N N : N n n o s n – đối chiếu

Mã số: 62.22.01.10

LUẬN ÁN T ẾN SĨ N VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Thị Phương Trang

TS Nguyễn ữu hương Phản biện độc lập:

1 S.TS Nguyễn Văn iệp

2 PGS TS Vũ im Bảng Phản biện 1: S.TS Nguyễn Văn iệp Phản biện 2: GS.TS Lê Quang Thiêm Phản biện 3: S.TS Nguyễn ức Dân

Tp ồ h Minh - 2012

Trang 2

LỜ M O N

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố

Nha Trang, ngày 16 tháng 01 năm 2012

Người cam đoan

Võ Tú Phương

LỜI CẢM ƠN

Luận án này có lẽ đã không viết nên được nếu thiếu sự động viên và giúp

đỡ, góp ý tận tình của các thầy cô ngành Ngôn ngữ học cả trong và ngoài ngôi trường của tôi, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Lời cảm ơn chân thành này tôi xin gởi đến tất cả họ

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới hai người thầy hướng dẫn luận án của tôi: TS Nguyễn Thị Phương Trang và TS Nguyễn Hữu Chương đã tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận án này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Phương Trang, người đã hết lòng hướng dẫn, trợ giúp và động viên tôi rất nhiều Cô không quản những lúc mệt nhoài sau 12 giờ làm việc để gặp và góp ý cho bài viết của tôi, không quản những lúc ốm đau vẫn chỉnh sửa luận án cho tôi Những hiểu biết và những góp

ý tỉ mỉ của cô khiến tôi biết ơn và cố gắng nhiều hơn

Một lời cảm ơn cũng xin gởi đến GS TS Lê Quang Thiêm, GS TS Bùi Khánh Thế GS TS Nguyễn Văn Hiệp, PGS TS Vũ Kim Bảng, PGS TS Đinh Điền, TS Đỗ Thị Bích Lài, TS Nguyễn Thị Kiều Thu, PGS TS Nguyễn Công Đức, PGS TS Đặng Ngọc Lệ, TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh, TS Huỳnh Bá Lân, PGS TS Dư Ngọc Ngân, đã đọc và góp ý chân tình từ những đoạn viết ngắn, đến những chuyên đề, đến bố cục, nội dung, các thuật ngữ trong các chương bản thảo Đặc biệt PGS TS Đinh Điền người đã hướng dẫn tôi từ những bước đầu tiên cho đến những bước phức tạp hơn về nguồn tư liệu và phần mềm riêng cho luận án

Tôi cũng xúc động và cảm kích người thầy GS TS Nguyễn Đức Dân dù tuổi

đã cao và vừa trải qua cơn phẫu thuật vẫn đến trao đổi, góp ý luận án cho tôi

Trang 3

Tôi cũng xin cảm ơn lãnh đạo, các đồng nghiệp và các sinh viên Trường

Cao Đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang đã động viên, tạo điều kiện

và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án

Không thể quên người chồng đã cảm thông, chia xẻ những khó khăn của tôi

và thời gian ít ỏi mà tôi dành cho anh trong thời gian nghiên cứu Những giọt mồ

hôi lăn trên trán anh vào những buổi trưa oi ả, hay những giọt nước mưa thấm

đẫm áo anh trong những trận kẹt xe hàng tiếng đồng hồ để chở tôi đi tìm sách,

tìm tài liệu tham khảo, hay trao đổi các vấn đề học thuật với các thầy cô là những

hình ảnh ghi sâu trong lòng tôi

Và cuối cùng tôi xin cảm ơn cha mẹ tôi, những người tôi mang ơn suốt đời vì

công ơn sinh thành và nuôi dưỡng, vì sự động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình

làm luận án cả về vật chất và tinh thần, mà nguồn tinh thần lớn nhất đối với tôi là

đứa con bé bỏng đến nay đã được 2 tuổi

Nha Trang, ngày 11 tháng 11 năm 2011

Tác giả

Võ Tú Phương

MỤ LỤ

Trang P ẦN MỞ ẦU 1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án 13

6 Kết cấu của luận án 14

ƯƠN 1: M T SỐ VẤN Ề LÝ T UYẾT 1.1 ại cương về từ loại và sự phân định từ loại 16

1.1.1 Từ loại trong tiếng Anh 22

1.1.1.1 Sự phân định từ loại tiếng Anh 23

1.1.1.2 Trạng từ tiếng Anh 25

1.1.2 Từ loại trong tiếng Việt 29

1.1.2.1 Sự phân định từ loại tiếng Việt 31

1.1.2.2 Bàn về vấn đề trạng từ trong tiếng Việt 35

1.2 Tổng quan về dịch thuật 36

1.2.1 Khái niệm dịch 36

1.2.2 Lý thuyết dịch 37

1.2.3 Tương đương trong dịch thuật 39

Tiểu kết chương 1 42

ƯƠN 2: TR N TỪ T ẾN N ( Ó SO SÁN VỚ ƠN VỊ TƯƠN ƯƠN TRON T ẾN V ỆT) 2.1 ịnh nghĩa trạng từ tiếng nh và phương thức cấu tạo trạng từ tiếng nh 44

2.1.1 Định nghĩa trạng từ tiếng Anh 44

2.1.2 Phương thức cấu tạo trạng từ tiếng Anh 46

Trang 4

2.1.2.1 Trạng từ đơn (Simple adverbs) 47

2.1.2.2 Trạng từ láy 47

2.1.2.3 Trạng từ ghép 47

2.1.2.4 Những cụm từ cố định có chức năng như là trạng từ 55

2.2 hức năng của trạng từ tiếng nh 55

2.2.1 Bổ nghĩa cho tính từ 55

2.2.2 Bổ nghĩa cho trạng từ khác 56

2.2.3 Bổ nghĩa cho động từ 56

2.2.4 Trạng từ bổ nghĩa cho những yếu tố khác 58

2.2.5 Những từ loại và những dạng cấu trúc thực hiện chức năng của trạng từ 59

2.3 Vị tr trạng từ tiếng nh 62

2.3.1 Khái quát vị trí của trạng từ tiếng Anh trong câu 62

2.3.2 Vị trí trạng từ tiếng Anh theo sách ngữ pháp phổ thông 63

2.3.3 Vị trí của trạng từ theo cách nhìn ngôn ngữ học 71

2.4 Những yếu tố trong tiếng Việt tương đương với trạng từ tiếng nh 73

2.4.1 Phụ từ tiếng Việt 73

2.4.2 Tính từ tiếng Việt 79

2.4.3 Trạng ngữ tiếng Việt 82

2.5 hảo sát trạng từ tiếng nh và phụ từ tiếng Việt 86

2.5.1 Khảo sát trạng từ tiếng Anh và phụ từ tiếng Việt trên ngữ liệu từ điển 86

2.5.2 Khảo sát trạng từ tiếng Anh và phụ từ tiếng Việt trên ngữ liệu Harry Potter 90

Tiểu kết chương 2 96

ƯƠN 3: ẢO SÁT V Ệ DỊ TR N TỪ T ẾN N S N T ẾN V ỆT 99

3.1 ác cách chuyển dịch trạng từ trong tác phẩm arry Potter 99

3.1.1 Thay đổi từ loại 99

3.1.1.1 Thay đổi từ loại khi dịch trạng từ cách thức 99

3.1.1.2 Thay đổi từ loại khi dịch trạng từ năng diễn 103

3.1.1.3 Thay đổi từ loại khi dịch trạng từ địa điểm 104

3.1.1.4 Thay đổi từ loại khi dịch trạng từ thời gian 104

3.1.1.5 Thay đổi từ loại khi dịch trạng từ mức độ 106

3.1.2 Thay đổi vị trí 108

3.1.2.1 Trạng từ cách thức 109

3.1.2.2 Trạng từ năng diễn 114

3.1.2.3 Trạng từ địa điểm 121

3.1.2.4 Trạng từ thời gian 125

3.1.2.5 Trạng từ mức độ 128

3.2 So sánh cách chuyển dịch trạng từ cách thức trong tác phẩm arry Potter với cách chuyển dịch thường gặp 131

3.2.1 So sánh cách chuyển dịch trạng từ cách thức trong tác phẩm Harry Potter với cách chuyển dịch của sinh viên 132

3.2.1.1 Khảo sát cách chuyển dịch trạng từ cách thức của sinh viên 132

3.2.1.2 So sánh cách chuyển dịch trạng từ cách thức trong tác phẩm Harry Potter với cách chuyển dịch của sinh viên 136

Tiểu kết chương 3 138

ƯƠN 4: ỨN DỤN Á ẾT QUẢ N N ỨU VÀO DỊ T UẬT V ẢN D Y 140

4.1 Ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào dịch thuật 140

4.1.1 Đề xuất phương pháp dịch trạng từ 140

4.1.2 Cách dịch trạng từ cách thức 145

4.1.3 Vị trí trạng từ trong câu khác nhau tạo nghĩa khác nhau 146

4.2 ề xuất ý kiến về việc giảng dạy 147

4.2.1 Những lỗi sai về trạng từ mà sinh viên hay mắc phải 147

4.2.2 Một số đề xuất về giảng dạy trạng từ tiếng Anh 152

4.2.2.1 Phân biệt trạng từ và tính từ 152

4.2.2.2 Các hình thức và cấu trúc trạng từ 167

Trang 5

Tiểu kết chương 4 182

ẾT LUẬN 184

D N SÁ Á BẢN B ỂU TRON LUẬN ÁN

Bản 1.1.1.1 : Bản tóm tắt 8 từ loại tron tiến An Bản 1.1.2.1 : óm tắt từ loại tiến i t t o p n loại ủ s N p p

tiến i t ủ Ủy b n K o Xã ội i t N m (1983) Bảng 2.1.2.3 : Bản tóm tắt về t àn lập trạn từ tận ùn bằn -ly Bản 2.3.2.2a : rật tự trạn từ tron n tín từ tiến An

Bản 2.3.2.2b : rật tự trạn từ tron n trạn từ tiến An Bản 2.3.2.2c : rật tự trạn từ tron n độn từ tiến An Bản 2.3.2.2d : rật tự trạn từ k i n ấn mạn

Bản 2.4.1a : rật tự p ụ từ tron n độn từ tiến i t Bản 2.4.1b : rật tự p ụ từ tron n tín từ tiến i t Bản 2.4.1 : o s n trạn từ tiến An và p ụ từ tiến i t Bản 2.4.2 : o s n trạn từ tiến An và tín từ tiến i t Bản 2.4.3 : o s n trạn từ tiến An và trạn n tiến i t Biểu đồ 2.5.1a : Biểu đồ biểu diễn loại trạn từ tiến An xét về ấu tạo Biểu đồ 2.5.1b : Biểu đồ biểu diễn loại p ụ từ tiến i t xét về ấu tạo Bản 2.5.2a : Bản t n p số l t xuất i n loại trạn từ tron t

p m H rry Pott r Biểu đồ 2.5.2b : Biểu đồ về m độ xuất i n ủ trạn từ tiến An từn v

trí tron câu Biểu đồ 2.5.2c : Biểu đồ về m độ xuất i n ủ p ụ từ tiến i t từn v trí

trong câu Bản 3.1.1.1 :Bản tóm tắt sự t y đ i từ loại k i d trạn từ t

tiến An s n tiến i t Bản 3.1.1.2 : Bản tóm tắt sự t y đ i từ loại k i d trạn từ năn diễn

tiến An s n tiến i t Bản 3.1.1.3 : Bản tóm tắt sự t y đ i từ loại k i d trạn từ đ điểm

tiến An s n tiến i t Bản 3.1.1.4 : Bản tóm tắt sự t y đ i từ loại k i d trạn từ t ời i n

tiến An s n tiến i t

Trang 6

Bản 4.1.2 : Bản đối iếu uyển d trạn từ tiến An s n tiến

i t (qu n li u H rry Pott r)

để đi du học ở các nước có nền học thuật hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, Anh,

Úc, Canada, New Zealand, để kinh doanh, buôn bán với các đối tác nước ngoài,

để định cư ở các nước nói tiếng Anh… Còn đối với học sinh, sinh viên thì tiếng Anh là một môn học ở trường phổ thông, được giảng dạy từ cấp một đến cấp ba Dạy và học tiếng Anh hiện đang trở thành nhu cầu lớn

Trong hoàn cảnh đó chúng tôi thấy cần phải nghiên cứu so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ Anh – Viêt nhằm mục đích tìm ra những điểm giống và khác nhau, giúp những người Việt học tiếng Anh tốt hơn Ngoài lý do khách quan bên trên chúng tôi còn có những lý do riêng để thực hiện đề tài này:

Thứ nhất, tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ, là ngôn ngữ được sử dụng hàng ngày, ngay từ khi còn bé, của tôi nói riêng và của người Việt Nam nói chung Nhưng tiếng Việt chỉ được tôi hiểu như là một công cụ để giao tiếp, trao đổi cho đến khi học các lớp về ngữ âm, âm vị học tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt, lô-gich tiếng Việt, dụng học Việt ngữ thì tôi mới hiểu hơn về các khía cạnh mới mẻ của nó Và bản chất của một người với tình cảm dành cho đất nước, dành cho ngôn ngữ mẹ đẻ đã thôi thúc tôi nghiên cứu để có những hiểu biết hơn về tiếng Việt yêu mến của mình

Thứ hai, khi bắt đầu làm quen với bộ môn ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, tôi cảm thấy thích thú khi bước chân vào địa hạt này Khi so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ Anh – Việt tôi không những hiểu rõ hơn về tiếng Anh mà còn biết thêm nhiều điều mới, nhiều khía cạnh mới của tiếng Việt, một ngôn

Trang 7

ngữ mà tôi đã quá quen thuộc, sử dụng hàng ngày nhưng vẫn chưa hiểu thấu

đáo về nó

Thứ ba, khi nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ tôi nhận thấy trong lịch sử

ngôn ngữ học, từ loại đã được nghiên cứu từ thời Hi Lạp cổ đại Từ loại là một

phần quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, ngay cả trong

tiếng Việt Việc phân định từ loại cũng đã được tiến hành nhằm mục đích nhận

thức bản chất, quy luật hoạt động của từ, giúp cho việc nắm bắt, nhận thức và

truyền đạt ngôn ngữ tốt hơn

Việc phân định từ loại có ý nghĩa rất quan trọng đối với người dạy và

học ngôn ngữ Người dạy khi truyền thụ ngôn ngữ trước hết cần phải nắm rõ

về từ, vì từ là yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất trong câu Từ có thể tạo

thành từ mới, tạo thành cụm từ, tạo thành câu dựa trên các quy luật Đối với

người học, để sử dụng ngôn ngữ một cách vững chắc, thì cần có những hiểu

biết nhất định về hệ thống, quy tắc, hoạt động ngữ pháp của các từ loại, quy

tắc về kết hợp từ và vị trí của từ loại trong câu Khi nắm được quy tắc về dùng

từ, tạo câu thì mới có thể nói và viết đúng

Khi nghiên cứu từ loại tôi nhận thấy d n từ, độn từ, tín từ thường

được quan tâm nhiều vì ba từ loại này đóng vai trò đặc biệt, quan trọng trong

câu Chúng là những từ nòng cốt của câu Chúng có vai trò truyền tải nội dung

chính của một câu, một phát ngôn, hay một văn bản Tuy nhiên cũng có từ loại

khác tuy ít được quan tâm hơn, nhưng có ý nghĩa quan trọng không kém Nó có

chức năng giúp người đọc, người nghe xác định thời gian, mức độ, nơi chốn,

cách thức của hành động, trạng thái của sự vật hiện tượng Đó chính là trạn từ

Có nhiều sách ngữ pháp bản ngữ viết về trạng từ tiếng Anh Tuy nhiên chưa có

sách nào đi sâu phân tích đối chiếu trạng từ tiếng Anh với những từ loại tương

đương với nó trong tiếng Việt Chưa có sách nào nghiên cứu về cách dịch của từ

loại này sang tiếng Việt Đây là những mảng còn trống trong nghiên cứu đối

chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt Trong khả năng của mình, tôi mong muốn

thực hiện đề tài này để bù đắp những khoảng trống đó

Thứ tư, từ kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của một giáo viên tiếng Anh đã thôi thúc tôi ý muốn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tiếng Anh: từ loại nói chung và trạng từ nói riêng, về sự chuyển dịch từ loại từ tiếng Anh sang tiếng Việt và cụ thể là trạng từ Những hiểu biết về các khía cạnh này trong tiếng Anh sẽ giúp ích cho tôi trong việc soạn bài, thiết kế bài giảng về ngữ pháp tiếng Anh, và bài giảng về dịch thuật cho học sinh, sinh viên

Từ những lý do trên, chúng tôi thấy rất cần thiết đi sâu, tìm hiểu, so sánh đối chiếu trạng từ giữa hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, và nghiên cứu về việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài:

K ảo u vi d trạn từ tiến An s n tiến i t (qu t p m H rry Pott r)

1.2 Mục đ ch nghiên cứu

Luận án được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu đối chiếu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt, góp phần hỗ trợ, cung cấp những kiến thức, những cách dịch từ loại này cho người dạy, người học và người dịch thuật Người dạy và người học có thể ghi nhớ, sử dụng cách dịch này để nâng cao khả năng nghe, nói, viết, đọc hiểu tiếng Anh, ứng dụng những kiến thức về từ loại này trong công việc và trong học thuật Và người dịch với những kiến thức về việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt sẽ có những bản dịch đúng và hay hơn

Việc nghiên cứu của luận án sẽ tập trung vào những vấn đề sau:

n ất là nghiên cứu các bình diện của trạng từ tiếng Anh như là vị trí,

cấu tạo, chức năng

i là so sánh trạng từ tiếng Anh và những yếu tố tương đương trong

tiếng Việt trên các mặt: hình thái, chức năng, vị trí

b là khảo sát cách chuyển dịch của từng loại trạng từ trong tác phẩm

Harry Potter để thấy những thay đổi khi dịch trạng từ như là: thay đổi từ loại, thay đổi vị trí, thay đổi cấu trúc

t là so sánh các cách chuyển dịch trạng từ cách thức trong tác phẩm

Harry Potter với các cách chuyển dịch của sinh viên

Trang 8

năm là ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào dịch thuật

s u là đề xuất ý kiến về giảng dạy trạng từ tiếng Anh

Chúng tôi hi vọng công trình này sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu chung

cả hai ngôn ngữ trên bình diện giảng dạy và dịch thuật

2 Lịch sử vấn đề

Qua khảo sát tình hình nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng đã có rất nhiều

sách, nhiều công trình và nhiều tác giả viết về vấn đề trạng từ tiếng Anh, vấn đề

nghiên cứu đối chiếu hai ngôn ngữ Anh – Việt và vấn đề dịch thuật được thể

hiện ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau

n ất, đối với vấn đề nghiên cứu trạng từ tiếng Anh thì đã có nhiều

tác giả, nhiều công trình, bài viết Đặc biệt những vấn đề về chức năng, vị trí,

cấu tạo và các loại trạng từ tiếng Anh thì có rất nhiều công trình bàn đến như

là: A tud nt’s Gr mm r of t En lis L n u (N p p tiến An ủ

sinh viên) của Sidney Greenbaum & Randolph Quirk (2006) NXB Longman

Công trình này được tác giả chú trọng nhiều về chức năng của trạng từ Trong

sách này chức năng của trạng từ được làm rõ và có những ví dụ cụ thể minh

họa

Nghiên cứu về vấn đề này còn có những công trình khác được thể hiện

rõ trong những sách ngữ pháp như là: English Grammar in Use (N p p

tiến An t ự àn ) của Raymond Murphy (2004) NXB Cambridge

University Press Quyển sách này chú trọng về việc sử dụng trạng từ, dùng

trạng từ trong câu như thế nào cho đúng ngữ pháp, cho phù hợp với mục đích

nói và ứng dụng những câu có nghĩa và đúng ngữ pháp vào trong từng ngữ

cảnh cụ thể

Với cùng mục đích như trên thì có các sách Practical English Usage

(Luy n tập sử dụn tiến An ) của Michael Swan (2005) NXB Oxford University

Press; The Essential English Grammar (N p p tiến An t iết yếu), của

Alexander (1993), NXB Longman; Longman Grammar of Spoken and Written

English (N p p Lon m n về tiến An tron văn nói và văn viết), của Biber

(1999), Longman; Current English Grammar (N p p tiến An i n àn ),

của Chalker, S (1992), Macmillan Publisher Limited

Những nghiên cứu sâu hơn về ngôn ngữ tiếng Anh, về cách sử dụng tiếng

Anh theo chức năng, theo mục đích giao tiếp thì có các sách: Language Grammar

nd Communi tion (N p p và i o tiếp n n n ), của Delahurty (1994), McGraw Hill, INC A Univ rsity Cours in En lis Gr mm r (Bài iản Đại

về n p p tiến An ), của Downing (1995), Phoenix ELT Advanced English

Pr ti (luy n tập tiến An n n o), Third edition, của Graver (1991), Oxford University Press; Fun tion l En lis Gr mm r (N p p tiến An t o năn ), của Lock (1996), Cambridge University Press; A University Grammar of

En lis (N p p tiến An bậ Đại ), ủ Randolph (1993) Longman

Group: Essex, England

i, về vấn đề nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ nói chung và hai ngôn

ngữ Anh – Việt nói riêng thì có các tác giả, các sách, bài viết như sau:

Sách về nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ thì có ―Bàn về k ả năn so s n

n n n của Solnsev, (Bùi Khánh Thế dịch từ tiếng Nga, 1981), và Ngôn

n xuyên qu nền văn ó , của Lado, R (Hoàng Văn Vân dịch (2003))

Những công trình này là nền tảng lý thuyết cho việc so sánh đối chiếu các ngôn ngữ

Lê Quang Thiêm (2004) có công trình N iên u đối chiếu các ngôn

ng , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Trong đó có chương Đối chiếu khuôn hình câu tiếng Vi t và thành phần câu Vi t An và Đối chiếu câu nghi vấn

và câu phủ đ nh Vi t – An Hai phần này chuyên về so sánh, đối chiếu điểm

tương đồng và khác biệt giữa câu tiếng Anh và câu tiếng Việt Vũ Ngọc Tú

(1996) cũng có công trình ―Nghiên c u đối chiếu trật tự từ Anh-Vi t trên một

số cấu trú ơ bản‖ Phạm Thị Tuyết Hương (2002) có công trình nghiên cứu

―Trật tự từ trong cấu trú động ng tiếng Anh và tiếng Vi t Trong nghiên

cứu này tác giả đã đưa ra một số điểm tương đồng và khác biệt giữa trật tự từ trong cấu trúc động ngữ của tiếng Anh và tiếng Việt Các công trình này đã so

Trang 9

sánh đối chiếu những điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ Việt – Anh trên khía

cạnh cấu trúc

Th ba, về vấn đề trạng từ và trạng ngữ thì có Võ Huỳnh Mai (1971-1973)

với các bài viết: Vấn đề trạng ng trong tiếng Vi t, ―Ngôn Ngữ‖ (HN), s3; Bàn

thêm về phạm vi của trạng ng trong tiếng Vi t TC Ngôn Ngữ, s2/1973 Liên

quan đến đối chiếu chuyển dịch có luận án của Hà Thành Chung (2007) “Cú

phân từ đ nh ng và trạng ng trong tiếng Anh và các biểu th t ơn đ ơn

trong tiếng Vi t” được bảo vệ tại Trường Đại học KHXH & NV Hà Nội Đây là

đề tài nghiên cứu về định ngữ và trạng ngữ tiếng Anh và tìm ra những biểu

thức tương đương với tiếng Việt về mặt lý thuyết

Th t , về vấn đề dịch thuật thì có rất nhiều tác giả trong nước và ngoài

nước, nhiều quyển sách, bài viết học thuật bàn về vấn đề này Những nghiên cứu

về dịch thuật của tác giả nước ngoài chẳng hạn như Nhập môn nghiên c u d ch

thuật: Lý thuyết và ng dụng, của Jeremy Munday (Trịnh Lữ dịch) (2009) NXB

Tri Thức Đây là một tài liệu giáo khoa cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về

những đóng góp chủ chốt trong lĩnh vực nghiên cứu dịch thuật Quyển sách liệt

kê các khái niệm về dịch thuật và giới thiệu một số lý thuyết Ngoài ra còn có

các văn bản minh họa kèm theo bản dịch Trong mỗi chương sách tác giả bàn về

một lý thuyết dịch và áp dụng ngay vào các văn bản cụ thể để thử thách giá trị và

tác dụng của lý thuyết ấy

Về vấn đề nghiên cứu dịch thuật thì ngoài công trình nêu trên còn có các

công trình của Catford (1965), A Linguistic Theory of Translation (Lý t uyết

n n n d t uật) nhà xuất bản Oxford University, Oxford Hay Gentzler

(1993) cũng có công trình Cont mpor ry r nsl tion ori s (N n lý t uyết

d t uật đ ơn đại) nhà xuất bản Roudledge, London & New York Tác giả

Hatim và Mason (1990) cũng viết sách Discourse and the Translator (Diễn

ngôn và d iả) nhà xuất bản Longman, UK, Jakobson (1959) cũng có bài viết

On Linguistic Aspects of Translation (N n k í ạn n n n ủ d

t uật), trên tạp chí The Translation Studies Reader, L Venuti (ed.),

Roudledge, London & New York, 1998 Học giả Newmark cũng giới thiệu

sách A xtbook of r nsl tion ( về d t uật), nhà xuất bản Prentice

Hall, London 1988

Đối với vấn đề nghiên cứu dịch thuật trong nước thì nhà ngôn ngữ học

Cao Xuân Hạo cũng đã có bài viết uy n ĩ về d t uật (được đăng trên

Vietbao.vn 18/01/2006) Bài viết bàn về các phương pháp dịch và đưa ra quan điểm dịch thuật của tác giả Theo tác giả, người dịch phải lấy các tiêu chuẩn

―tín‖, ―đạt‖, ―nhã‖ làm căn cứ và khi dịch phải trung thành cả về nội dung và hình thức

Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Hồng Cổn đã có rất nhiều bài viết về vấn đề dịch thuật trên các mặt: lược sử dịch thuật, phương pháp thủ thuật dịch và

vấn đề tương đương trong dịch thuật Cụ thể là bài viết ― ề vấn đề t ơn đ ơn tron d t uật , đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 11/2001, D t uật: Bản

ất và một số m n lí t uyết trong: Việt ngữ học dưới ánh sáng các lí thuyết hiện đại, Nxb KHXH, 2005 C p ơn p p và t ủ p p d t uật trong: Những vấn đề ngôn ngữ học, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2006 ―L sử n iên u

d t uật trong tạp chí Ngôn ngữ số 11, 2006 và bài viết L sử về d

t uật trong tạp chí Ngôn ngữ số 8, 2006

Nói tóm lại, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu lịch

sử dịch thuật và đưa ra nhiều lý thuyết dịch làm căn cứ, cơ sở chung cho vấn đề dịch thuật cho các ngôn ngữ

Về vấn đề nghiên cứu việc dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt thì phải kể

đến quyển sách: ―D ch thuật: Từ lý thuyết đến thự àn , của Nguyễn

Thượng Hùng, (2005), NXB Văn Hóa Sài Gòn Quyển sách này không chỉ đề cập đến lý thuyết dịch thuật, các hình thái dịch thuật, các dạng ngôn ngữ và chuyển đổi trong dịch thuật, mà còn đề cập đến các bước thực hiện trong quá

trình dịch Một quyển sách khác về dịch thuật đó là ―H ớng dẫn kỹ thuật d ch Anh-Vi t , Nguyễn Quốc Hùng (2005) Nxb KHXH cũng đề cập đến cách dịch

và kỹ thuật dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt Tuy nhiên những công trình

Trang 10

này chỉ đề cập một cách chung nhất về vấn đề dịch thuật từ Anh sang Việt, về

kỹ thuật dịch nói chung chứ không đi sâu vào việc dịch một từ loại cụ thể

năm, về việc nghiên cứu chuyển dịch một từ loại cụ thể thì có thể kể

đến luận văn ―K ảo s t t uật n kin tế tron văn ki n Đại ội Đản C N

và vi d t ơn n s n tiến An của tác giả Nguyễn Ngọc Toàn (2010)

Luận văn chỉ đề cập đến việc dịch của một thuật ngữ chứ không phải một từ

loại Ngoài ra nó chỉ đề cập đến việc dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh chứ

không phải từ tiếng Anh sang tiếng Việt

Nhìn chung, những nghiên cứu, những bài viết về từ loại trạng từ tiếng

Anh thì rất nhiều nhưng việc nghiên cứu sự chuyển dịch trạng từ tiếng Anh

sang tiếng Việt thì chưa có công trình nghiên cứu cụ thể Nếu có chỉ là những

công trình lẻ tẻ về một khía cạnh của trạng từ chứ không tập trung đi sâu phân

tích những vấn đề liên quan đến trạng từ như là vị trí, cấu tạo, chức năng, phân

loại và cách chuyển dịch trạng từ sang tiếng Việt Việc khảo cứu, miêu tả trạng

từ tiếng Anh chưa có nhiều, trong lúc đó lỗi học tiếng Anh liên quan đến trạng

từ, đến chuyển dịch khá phổ biến và tâm lý ngại, sợ trạng từ thường gặp trong

người học nói chung và trong sinh viên nói riêng Do vậy chúng tôi thực hiện

đề tài K ảo u vi d trạn từ tiến An s n tiến i t (qu t p m

H rry Pott r) với mong muốn bù đắp những mảng còn trống về trạng từ trong

phạm vi có thể của mình và mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu

chung của hai thứ tiếng: tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ được sử dụng hàng ngày của

chúng tôi) và tiếng Anh (công cụ ngôn ngữ giao tiếp quốc tế)

3 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 ối tƣợng nghiên cứu

Có thể nói tiếng Anh thuộc loại hình ngôn ngữ không giống với loại hình

ngôn ngữ tiếng Việt Cho nên vấn đề chuyển di ngôn ngữ (language transfer) là

điều khó tránh khỏi và tất yếu Sự chuyển di ngôn ngữ diễn ra ở nhiều bình diện

như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Đây là vấn đề hiện nay đang được nhiều người

quan tâm, đặc biệt là những người làm công tác giảng dạy ngoại ngữ

Tuy nhiên theo như tên gọi của đề tài luận án, chúng tôi sẽ không đi sâu

nghiên cứu hết tất vả mọi vấn đề mà chỉ tập trung nghiên cứu một từ loại: trạn

từ Đối tượng nghiên cứu của luận án là những trạng từ trong tiếng Anh và việc

dịch trạng từ tiếng Anh sang những yếu tố tương đương trong tiếng Việt (được

khảo sát chủ yếu qua tác phẩm H rry Pott r ) Như thế cũng có thể thấy rằng

những yếu tố như là những cụm trạng từ hoặc những mệnh đề trạng từ thì không được nghiên cứu trong luận án

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận án chúng tôi không thể bao quát mọi vấn đề về trạng từ Chúng tôi không tìm hiểu trạng từ trên tất cả các bình diện ngôn ngữ mà chỉ tập trung nghiên cứu các trạng từ tiếng Anh về vị trí, cấu tạo, chức năng Sau đó chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát việc dịch trạng từ cách thức tiếng Anh sang tiếng Việt (được khảo sát chủ yếu qua tác phẩm Harry Potter) Ở phần này chúng tôi đặc biệt đi sâu tìm hiểu, khảo sát về những thay đổi của loại trạng từ này khi dịch sang tiếng Việt như: thay đổi từ loại, thay đổi vị trí

Lý do của việc giới hạn khảo cứu trạng từ cách thức tiếng Anh là vì trạng từ cách thức tiếng Anh chiếm số lượng khá lớn (theo như khảo sát ban đầu là có hơn 80% trạng từ là trạng từ cách thức) và hầu hết loại trạng từ này được nhận diện dễ

dàng nhờ hậu tố -ly Ngoài ra các đặc điểm về cấu tạo, vị trí, chức năng của trạng

từ cách thức là đặc trưng của từ loại trạng từ

Việc nghiên cứu sự chuyển dịch của trạng từ sẽ được tiến hành trên văn bản tiếng Anh hiện đại, cụ thể là văn bản tiếng Anh của bộ sách Harry Potter của nhà văn Anh J.K Rowling và bản dịch tiếng Việt của nhà văn Lý Lan Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát trên 6 tập đầu tiên của bộ sách gồm 7 tập này (vì khi tiến hành khảo sát đầu năm 2007 thì chỉ có 6 tập đầu tiên được xuất bản) Chúng tôi cũng sẽ so sánh cách dịch trạng từ cách thức của sinh viên và của giáo viên với cách dịch trạng từ cách thức trong tác phẩm Harry Potter để thấy điểm giống và điểm khác nhau từ đó đề ra các cách chuyển dịch hợp lý cho loại trạng từ này

Trang 11

Ngoài vấn đề nghiên cứu về sự chuyển dịch trạng từ tiếng Anh sang

tiếng Việt, luận án cũng nghiên cứu những lỗi sai trạng từ mà sinh viên hay

mắc phải, tìm ra nguyên nhân gây ra lỗi và đề xuất ý kiến về việc giảng dạy

trạng từ tiếng Anh

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau:

P ơn p p so s n đối iếu sẽ được sử dụng chính trong toàn bộ luận

án, giữ vai trò chủ đạo và thường trực vì mục đích của đề tài là so sánh việc dịch

trạng từ trong hai loại văn bản tiếng Anh và tiếng Việt Phương pháp này sẽ tập

trung vào chương 2 của luận án bao gồm hai bước: bước thứ nhất là bước miêu

tả và bước thứ hai là bước so sánh đối chiếu Bước miêu tả được sử dụng để

miêu tả từ loại trạng từ tiếng Anh và bước so sánh để chỉ ra sự giống và khác

nhau của từ loại trạng từ với những đơn vị khác trong tiếng Anh và những yếu tố

tương đương với nó trong tiếng Việt

P ơn p p k ảo s t - t ốn kê được sử dụng để liệt kê, khảo sát,

thống kê các trạng từ tiếng Anh và phụ từ tiếng Việt trong từ điển và trong tác

phẩm được chọn Từ kết quả thống kê thực tế, chúng tôi sẽ kiểm nghiệm lại giả

thuyết đã nêu để điều chỉnh hoặc bổ sung Chúng tôi sử dụng phần mềm được

viết riêng cho luận án của tiến sỹ Đinh Điền (tiến sỹ tin học, giảng viên Trường

Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh) để tổng hợp Phần mềm

này được dùng để liệt kê và tổng hợp những trạng từ có cùng hậu tố trong Bản

t ốn kê trạn từ tiến An và tiến i t (bảng này trong phần Phụ lục) và

một phần mềm khác được viết riêng cho luận án (cũng do tiến sỹ Đinh Điền

viết) để tổng hợp, liệt kê những trạng từ xuất hiện trong tác phẩm Harry Potter

nguyên bản tiếng Anh, và phụ từ xuất hiện trong bản dịch tiếng Việt Kế tiếp,

chúng tôi khảo sát về vị trí của trạng từ và phụ từ trong câu Từ đó chúng tôi có

thể đưa ra nhận xét về vị trí thường xuất hiện nhất của trạng từ và so sánh vị trí

của trạng từ và vị trí của phụ từ trong câu Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phần

mềm thống kê SPSS (Statistic Package for Social Science) để thống kê ý kiến khảo sát Đây là phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu và xử lý thống kê chuyên nghiệp, linh họat, đa năng và rất mạnh so với các phần mềm có chức năng thống kê khác Nó được sử dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu, xử lý, phân tích dữ liệu thống kê, đặc biệt đối với các ngành khoa học xã hội và nhân văn

P ơn p p miêu tả được sử dụng để xác định vị trí của trạng từ trong

câu tiếng Anh từ đó sẽ so sánh đối chiếu với những yếu tố tương đương với nó trong tiếng Việt

Ngoài các phương pháp nêu trên luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như là: phương pháp lập biểu đồ, phương pháp mô hình hóa, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Các phương pháp này giúp cho việc minh họa những luận điểm trong luận án rõ ràng và cụ thể hơn

4.2 Nguồn tư liệu

Để thực hiện những yêu cầu đặt ra của luận án là khảo sát cấu tạo trạng

từ tiếng Anh và phụ từ tiếng Việt thì không thể không sử dụng những quyển

từ điển có uy tín, có chất lượng, được đông đảo người học và người nghiên

cứu biết đến Về tiếng Anh thì có từ điển Oxford Adv n d L rn r’s Dictionary của Hornby, A S (1992) Nxb Oxford University Press và tiếng Việt là Từ điển tiếng Vi t, của Hoàng Phê (chủ biên), (2001), NXB GD

Để thấy rõ sự thay đổi của trạng từ tiếng Anh (về vị trí, cấu tạo, chức năng) khi dịch sang tiếng Việt, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, so sánh trên

ngữ liệu song ngữ Anh-Việt của tác phẩm khá nổi tiếng hiện nay là ―Harry Potter‖ của nhà văn J.K Rowling và bản dịch tiếng Việt của nhà văn Lý Lan

Trước hết, chúng tôi sẽ khảo sát trên cứ liệu tiếng Anh của nhà văn bản ngữ

Cứ liệu này bao gồm 6 tập do nhà xuất bản Bloomsbury ấn hành (năm 2007):

tập 1 ―Harry Potter and the Sorcerer's Stone‖ gồm 309 trang, tập 2 H rry Potter and the Chamb r of r ts gồm 352 trang, tập 3 H rry Pott r nd

t Prison r of Azk b n gồm 448 trang, tập 4 H rry Pott r nd t Gobl t

Trang 12

of Fir bao gồm 752 trang, tập 5 H rry Pott r nd t Ord r of t

P onix gồm 870 trang và tập 6 Harry Potter and The H lf Blood Prin

gồm 672 trang Tổng cộng 6 tập sách này có 3403 trang, với hơn 1.000.000 từ

tiếng Anh Kế tiếp, việc khảo sát sẽ tiến hành trên bản dịch tiếng Việt của nhà

văn Lý Lan1 Việc khảo sát được tiến hành với 6 tập đầu tiên của bộ truyện

được dịch sang tiếng Việt do Nhà xuất bản Trẻ phát hành: tập 1 H rry Pott r

và Hòn Đ P ù ủy gồm 341 trang, tập 2 H rry Pott r và P òn C Bí

Mật gồm 404 trang, tập 3 H rry Pott r và ên ù N n N ụ Azk b n

gồm 513 trang, tập 4 H rry Pott r và C iế Cố Lử gồm 849 trang, tập 5

H rry Pott r và ội P n Hoàn gồm 1137 trang, tập 6 Harry Potter và

Hoàn tử l i gồm 679 trang Tổng cộng 6 tập sách này có 4.123 trang, với

hơn 1.100.000 từ tiếng Việt Chúng tôi chọn tác phẩm này để khảo sát vì

nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt là của những cây bút được đông

đảo người đọc biết đến, mang phong cách đại chúng, và phản ánh trạng thái

ngôn ngữ đương đại Ngoài ra số lượng trang sách và số lượng từ trong nguyên

bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt khá lớn (hơn 4.000 trang với hơn

1.000.000 từ), có tác dụng tạo nên tính thuyết phục cho các luận điểm mà

chúng tôi nêu lên trong công trình nghiên cứu

Trên hai cứ liệu này chúng tôi sẽ khảo sát việc dịch từ Anh sang Việt

Lý Lan là nhà văn khá nổi tiếng của Việt Nam với nhiều tác phẩm văn chương được đông đảo bạn đọc

ủng hộ như Đất K (NXB Văn Nghệ, TP HCM, 1995), N ời đàn bà kể uy n (NXB Văn Nghệ, TP

HCM, 2006) Không những thế bà còn là một dịch giả nổi tiếng với những bản dịch ơ G ry nyd r, ơ

William Butler Yeats và truy n H rry Pott r Khi dịch truyện Harry Potter sang tiếng Việt, bằng ngôn từ

phong phú của mình, Lý Lan đã khiến cho Harry Potter để lại dấu ấn đậm nét trong người đọc Việt Nam

Việc dịch truyện Harry Potter không đơn giản, bởi vì câu chuyện chứa đựng nhiều từ tiếng Anh rất khó

xác định nghĩa nhưng nhà văn Lý Lan đã dịch một cách khá chính xác và nhanh chóng tìm ra nghĩa tiếng

Việt phù hợp cho những từ tiếng Anh đó Bản dịch Harry Potter tiếng Việt có chất lượng và được đông

Việc khảo cứu sự chuyển dịch trạng từ trong văn bản tiếng Anh sang văn bản tiếng Việt có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn như sau:

5.1 Về mặt lý luận

n ất, việc so sánh trạng từ tiếng Anh với những yếu tố tương đương

với nó trong tiếng Việt sẽ cung cấp thêm những hiểu biết về vị trí, cấu tạo, chức năng của trạng từ tiếng Anh và các yếu tố tương đương trong tiếng Việt góp phần nâng cao sự hiểu biết trên cả hai ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Việt

Th i, khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt sẽ định

ra các phương thức dịch trạng từ tiếng Anh hợp lý, hiệu quả nhằm có những bản dịch chính xác, góp phần xây dựng nền tảng của lý thuyết dịch, nâng cao hiệu quả trong công tác dịch thuật, giúp người dịch chọn cách truyền tải hiệu quả nhất để diễn đạt

b , đề tài nghiên cứu góp phần khẳng định sự hiện hữu của tiếng

mẹ đẻ (mà cụ thể ở đây là tiếng Việt) trong quá trình dạy và học ngoại ngữ nói chung Do vậy người học Việt Nam hiển nhiên có dùng tiếng mẹ đẻ của mình để lĩnh hội tiếp thu một ngôn ngữ khác và tất yếu có sự chuyển dịch tiêu cực khi gặp những kiến thức tương tự hay gần giống với tiếng Việt mà cụ thể

ở đây là những lỗi sai khi dùng trạng từ, khi dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt của sinh viên

5.2 Về mặt thực tiễn

Đề tài nghiên cứu này trước hết rất thiết thực với chúng tôi, những người đang trực tiếp giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên tại các trường Đại học, Cao đẳng Kết quả nghiên cứu của luận án giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc biên soạn giáo trình, xác định phương pháp dạy học, thiết kế bài giảng để dạy tiếng Anh cho sinh viên Với những kiến thức về cấu tạo, vị trí, chức năng của trạng từ tiếng Anh và các yếu tố tương đương trong tiếng Việt thì người học có thể hiểu những bài đọc tốt hơn và sử dụng trạng từ tốt hơn khi viết Ngoài ra, có thể ứng dụng kết quả này trong việc dạy dịch (translation) Hơn thế nữa, những kết quả trong nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Trang 13

Kế tiếp, kết quả nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo cho những nhà

nghiên cứu về ngôn ngữ và những nhà nghiên cứu về dịch thuật trên các bình

diện về cấu tạo, vị trí, chức năng, cách dịch của trạng từ tiếng Anh sang tiếng

Việt Nghiên cứu này của chúng tôi sẽ giúp họ có thêm một tư liệu nữa để bổ

sung vào vấn đề nghiên cứu của mình

Cuối cùng, kiến thức về những điểm tương đồng và dị biệt giữa trạng từ

tiếng Anh và những đơn vị tương đương trong tiếng Việt trong nghiên cứu này

sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác dịch thuật, giúp người dịch chọn lựa từ

chính xác để diễn đạt, truyền tải hiệu quả nhất ý của người viết, của tác giả

6 ết cấu của luận án

Ngoài P ần m đầu và Kết luận, luận án bao gồm 4 chương với nội dung

được tóm tắt như sau:

Chương 1 của luận án đề cập đến những vấn đề lý thuyết của từ loại, về

cách phân định từ loại nói chung và phân định từ loại cụ thể trong tiếng Anh và

tiếng Việt nói riêng Ngoài ra chương này cũng đề cập những vấn đề về lý thuyết

dịch và về tương đương trong dịch thuật

Chương 2 của luận án đi sâu nghiên cứu chi tiết trạng từ tiếng Anh ở

các khía cạnh: vị trí, cấu tạo, chức năng Bên cạnh đó có đối chiếu với những

đơn vị tương đương trong tiếng Việt để tìm ra các điểm tương đồng và khác

biệt của các cặp so sánh Bên cạnh đó chúng tôi cũng tiến hành khảo sát số

lượng trạng từ tiếng Anh và phụ từ tiếng Việt để thấy rõ có sự thay đổi trong

việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt

Chương 3 là phần khảo sát các cách dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng

Việt Việc khảo sát được thực hiện trên ngữ liệu thuần nhất của tác phẩm Harry

Potter (gồm 6 tập đầu của bản gốc và bản dịch) Trong phần này sẽ khảo sát

những thay đổi trong chuyển dịch các loại trạng từ như là thay đổi từ loại, thay

đổi vị trí Ngoài ra ở chương này chúng tôi có khảo sát cách dịch trạng từ cách

thức của học sinh và so sánh cách dịch của họ với cách dịch trong tác phẩm

Harry Potter (bản dịch tiếng Việt)

Chương 4 của luận án phân tích các khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu của luận án vào việc công tác dịch thuật và đề xuất ý kiến về giảng dạy trạng từ tiếng Anh

Phần cuối của luận án là danh sách tài liệu tham khảo và các phụ lục

Trang 14

ƯƠN 1

M T SỐ VẤN Ề LÝ T UYẾT

1.1 ại cương về từ loại và sự phân định từ loại

Việc nghiên cứu ngôn ngữ đã có từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên qua sự

mô tả của Panini về một ngôn ngữ tế lễ trong quyển sách ngữ pháp Sanskrit Và

cũng vào đầu thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên người Hy Lạp và Trung Quốc cổ đại

đã phát triển ngữ pháp của họ Trong thời Trung cổ, ngữ pháp Ả Rập và ngữ pháp

Hebrew cũng phát triển Như vậy có thể thấy rằng nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ

xuất hiện gần đây mà ngay từ trước Công nguyên con người đã có ý thức tìm hiểu

về công cụ giao tiếp này

Khi tìm hiểu về ngôn ngữ thì người ta nhận thấy rằng trong mỗi ngôn ngữ có

nhiều từ nhưng không phải tất cả các từ đều đảm nhận cùng một chức vụ mà có

những từ diễn tả hành động, có những từ diễn tả sự vật, những từ khác thì nối kết từ

này với từ kia Tất cả những từ này tạo nên ngôi nhà của một ngôn ngữ Mỗi

phần của ngôi nhà có vai trò và nhiệm vụ riêng của nó Việc thành lập một câu cũng

giống như việc xây nhà Chúng ta dùng nhiều từ loại Mỗi một từ loại có một nhiệm

vụ riêng, một chức năng riêng Việc nhận diện từ loại là rất quan trọng Nó giúp

chúng ta phân tích được câu và hiểu nghĩa các câu hơn Ngoài ra nó còn giúp chúng

ta xây dựng những câu đúng và hay

Để miêu tả bất kỳ ngôn ngữ nào thì không thể thiếu phạm trù thiết yếu đó

là phạm trù từ loại Trong các ngôn ngữ, từ loại được phân định nhằm mục đích

phát hiện bản chất ngữ pháp, các quy tắc hoạt động ngữ pháp và sự hành chức

của các lớp từ loại khi thực hiện các chức năng cơ bản của ngôn ngữ

Trong ngữ pháp, từ loại (part of speech hay word class) được xác định là vai

trò của một từ (thỉnh thoảng là một cụm từ) thực hiện trong một câu Trong ngữ

pháp tạo sinh chuyển đổi (transformational-generative grammar) thì từ loại được

xem như là các từ loại từ vựng - ngữ nghĩa (lexical categories)

Việc phân định từ loại đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử ngôn ngữ học

Trong tác phẩm Nirukta, được viết vào thế kỷ thứ 5 hoặc thứ 6 trước Công nguyên,

nhà ngữ pháp học tiếng Sanskrit là Yaska đã xác định 4 từ loại chính đó là: 1 nām

(danh từ ), 2 āk yāt (động từ), 3 upasarga (tiền tố trước động từ, tiền tố) 4

nipāt (tiểu từ, mạo từ, giới từ) Khoảng hai thế kỷ sau thì Plato một học giả người

Hy Lạp đã viết trong sách Cratylus là: ―Tôi nghĩ các câu là sự kết hợp của những động từ [r ēm ] và những danh từ [ónoma]" Sau đó thì học giả Aristotle đã thêm vào từ loại ―liên từ‖ (conjunctions) Từ loại mà Aristotle gọi là liên từ thì bao gồm

cả liên từ (conjunctions), đại từ (pronouns) và mạo từ (article)

Vào cuối thế kỷ thứ hai trước Công nguyên thì người ta thấy trong tác phẩm

nghĩa là ―n t uật ủ từ" ) của Dionysius Thrax thì sự phân định từ loại đó

đã mở rộng ra thành 8 loại như sau:

n ất là d n từ (noun): là một từ loại được biến cách theo từng hoàn

cảnh, tình huống

i là độn từ (verb): là một từ loại không có biến cách theo hoàn cảnh

tình huống, nhưng có biến cách theo thì, theo ngôi, theo số Nó thể hiện một hành động, một quá trình được thực hiện hoặc đang diễn ra

b là p n từ (participle): là một từ loại có các đặc điểm của danh từ

và động từ

t là mạo từ (article): là từ loại biến cách theo hoàn cảnh và được

đặt trước hoặc đặt sau những danh từ (đại từ quan hệ được xác định nghĩa bởi những mạo từ đứng sau)

năm là đại từ (pronoun): là từ loại thay thế cho một danh từ chỉ sự

vật hoặc thay thế danh từ chỉ người

s u là giới từ (preposition) là từ loại được đặt trước từ khác trong

kết cấu và trong cú pháp

bảy là trạn từ (adverb) là từ loại không có biến cách, dùng để bổ

nghĩa cho động từ

t m là kết từ (conjunction) là từ loại kết nối bài viết và lấp đầy

khoảng trống trong cách hiểu

Nhà ngữ pháp học tiếng Latin là Priscian đã bổ sung vào hệ thống 8 từ loại trên

Ông đã thay thế từ loại mạo từ (article) bằng t n từ (interjection) Và mãi đến năm

1767 thì tín từ mới được tách ra thành một từ loại

Trang 15

Như vậy từ loại là vấn đề được các nhà ngôn ngữ học ở những thời gian khác

nhau, ở những nơi khác nhau đều quan tâm đến Có thể khẳng định, từ loại đóng một

vai trò rất quan trọng trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, ở bất kỳ thời đại nào

Trong mỗi thời kỳ, mỗi một ngôn ngữ có cách phân định từ loại khác nhau

Sự khác nhau này là do quan điểm chọn lựa các tiêu chí phân loại Trong thời cổ

đại, sự phân định từ loại dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa Ví dụ người phân định thời

đó cho rằng danh từ là từ loại được dùng để gọi tên sự vật hiện tượng như tên

người, đồ vật, các hiện tượng… Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng tiêu chí này để phân

định từ loại thì vẫn chưa đủ Những câu hỏi luôn đặt ra là tại sao có những từ loại

này vẫn được dùng như từ loại khác Đến thế kỷ 20, tư tưởng về cấu trúc ngôn ngữ

hay chủ nghĩa cấu trúc của Ferdinand de Saussure , một giáo sư ngôn ngữ học

người Thụy Sĩ, đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong nghiên cứu ngôn ngữ Trường

phái này nhấn mạnh đến tiêu chí hình thái học Theo họ, khi muốn xác định một từ

thuộc loại nào thì phải dựa vào các từ xung quanh nó, dựa vào mối quan hệ của nó

với các từ xung quanh Nói cách khác là dựa trên sự phân bố và khả năng kết hợp

của từ đó trong câu thì sẽ xác định được từ loại của một từ Nghĩa là khi phân tích

từ loại của một từ thì không chỉ dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa mà phải kết hợp tiêu

chí ngữ nghĩa này với cú pháp Về sau có quan niệm cho rằng để phân định từ loại

thì dựa vào phạm trù nghĩa của từ, tức là xem từ loại thuộc phạm trù từ vựng ngữ

nghĩa Một quan niệm khác cho rằng từ loại là một phạm trù ngữ pháp và nó được

xác định bằng tổng thể các thuộc tính hình thái và cú pháp Nhưng quan niệm phổ

biến về từ loại trong ngôn ngữ hiện nay đó là từ loại là một phạm trù từ vựng ngữ

pháp, nghĩa là các từ loại trong một ngôn ngữ được phân biệt với nhau bằng

những đặc trưng về ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp Từ loại không chỉ

thể hiện mối quan hệ giữa các từ mà còn là mối quan hệ giữa người và thực tế

khách quan

Như vậy có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề từ loại Cơ sở để phân

định từ loại thì rất đa dạng phong phú Việc phân loại nó có thể dựa trên những

đặc điểm riêng lẻ hoặc dựa trên việc tổng hợp các đặc điểm của chúng nhưng

không có đặc điểm nào được xem là chủ đạo cho việc phân định từ loại Chúng ta

biết rằng các ngôn ngữ khác nhau thì có những cách phân định từ loại khác nhau

Sự phân định đó có thể dựa trên một vài đặc điểm mà ngôn ngữ đó có Chẳng hạn như tiếng Nhật có ít nhất là ba loại tính từ trong khi đó tiếng Anh chỉ có một; tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật có các từ đo lường (measure words) trong khi các ngôn ngữ Châu Âu không có những từ tương tự như vậy; nhiều ngôn ngữ không có sự phân biệt giữa tính từ và trạng từ, tính từ và danh từ… cho nên nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng các tiêu chí chính thức để phân biệt từ loại phải được làm theo khung riêng của mỗi một ngôn ngữ hay khung riêng của mỗi một gia đình ngôn ngữ và không nên dùng khung đó cho ngôn ngữ khác hay cho những gia đình ngôn ngữ khác

Kể từ khi những nhà ngữ pháp người Hy Lạp (thế kỷ thứ 2 trước công nguyên) phân định từ loại, thì cho đến nay từ loại đã được xác định bởi ba tiêu chí: ngữ nghĩa (semantic), hình thái (morphological) và cú pháp (syntactic)

Đối với tiêu chí ng n ĩ , trên thực tế mỗi khi cần dẫn ra một định nghĩa

cho từ loại người ta bắt đầu từ nghĩa của chúng Chẳng hạn trong các sách định nghĩa danh từ là từ loại chỉ sự vật hiện tượng, động từ là từ chỉ hành động, tính từ là

từ chỉ trạng thái, tính chất Điều này đúng nhưng chưa đủ Định nghĩa này là đặc trưng cơ bản nhất nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất để quyết định bản chất của từ loại Trong nhiều ngôn ngữ, nhiều danh từ không hề chỉ sự vật nhưng lại có

đủ các đặc điểm ngữ pháp của danh từ Ví dụ như trong tiếng Anh có các danh từ:

happiness (niềm hạnh phúc), feeling (cảm giác), freedom (sự tự do), success (sự thành công)… hay trong tiếng Việt có các danh từ: vi c mua bán, sự nghi p cách mạng, sự thắng l i,… Do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập không có sự biến hình từ

nên không có dạng thức để nhận diện từ loại riêng Việc nhận diện từ loại thường được nhận ra bằng con đường cú pháp, nghĩa là để phân định bản chất của từ loại thì cần phải dựa trên những đặc điểm ngữ pháp chứ không chỉ dựa vào ý nghĩa của

từ

Đối với tiêu chí hình thái, khi nói đến hình thái của từ là nói đến khả năng

kết hợp của từ được hiển thị trong ngôn liệu thể hiện cú pháp, thể hiện mối quan hệ giữa từ với từ trong ngữ lưu và mối quan hệ của các khái niệm trong tư duy Trong những ngôn ngữ khác nhau thì khả năng kết hợp từ được thể hiện bằng những phương thức ngữ pháp khác nhau Đối với các ngôn ngữ biến hình như là tiếng

Trang 16

Anh, tiếng Pháp… thì các hình thái ngữ pháp của từ diễn đạt các phạm trù ngữ

pháp, ví dụ trong tiếng Anh động từ work (làm vi c) đã biến đổi hình thái để thể

hiện các phạm trù ngữ pháp như sau: work (động từ này thể hiện thì hiện tại, đi với

những chủ từ số nhiều), works (động từ này thể hiện thì hiện tại đi với chủ từ ngôi

thứ ba số ít), is working (động từ này thể hiện thì hiện tại tiếp diễn đi với chủ từ ở

ngôi thứ ba số ít), worked (động từ này thể hiện thì quá khứ), have worked (động từ

này thể hiện thì hiện tại hoàn thành đi với các chủ từ số nhiều)… Còn đối với các

ngôn ngữ đơn lập như trong tiếng Việt thì đó là sự biến đổi trật tự từ và sử dụng

các từ phụ, hư từ ví dụ như là: đã ăn cơm (đã được dùng trong thì quá khứ), sẽ đến

đúng giờ (sẽ được dùng trong thì tương lai), đ n học bài (đ n được dùng trong

thì tiếp diễn)

Đối với tiêu chí cú pháp, thành phần câu là chức vụ cú pháp của từ ở trong

câu, nghĩa là chức vụ cú pháp của từ ở trong câu chỉ mang tính chất tạm thời, cho

nên không thể lấy nó là cơ sở duy nhất cho sự phân loại Có thể một từ loại nào đó

thường mang một chức vụ ngữ pháp nào đó nhưng nó cũng mang những chức vụ

ngữ pháp khác ở một số câu khác Nghĩa là một từ loại nào đó có thể giữ nhiều

chức vụ trong câu, và sẽ có một chức vụ nào đó nổi trội, nhưng không thể lấy đó

mà định từ loại cho nó

Từ những điều nêu trên người ta đã đưa những cách hiểu về bản chất ý nghĩa

của các từ loại như sau:

Cách hiểu thứ nhất là ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ

Đây là ý nghĩa cơ bản của từ loại Điều này đúng nhưng chưa đủ Vì đặc trưng cơ

bản nhất của từ loại không phải là yếu tố duy nhất để quyết định bản chất của nó

Cách hiểu thứ hai là ý nghĩa từ loại gắn với các phạm trù ngữ pháp của từ

Chẳng hạn các ý nghĩa ngữ pháp về giống, số, cách của danh từ; ngôi, thời, thể, dạng,

thức của động từ; dạng so sánh của tính từ… Mặc dù các hư từ cũng có ý nghĩa ngữ

pháp nhưng chúng nằm ngoài hệ thống phân tích

Cách hiểu thứ ba là ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát nhưng trong đó có sự

thống nhất giữa các yếu tố từ vựng với các yếu tố ngữ pháp

Dựa trên ba tiêu chí hình thái (morphological), cú pháp (syntactic) và ngữ nghĩa (semantic) người ta đã đưa ra bảng p n loại năn (functional classification) chung cho tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đó là: từ loại mở (open

word classes) và từ loại đóng (closed word classes) Trong hai nhóm từ loại lớn này

lại được phân chia thành các nhóm từ loại nhỏ đó là:

Các từ loại trong nhóm từ loại m bao gồm: tính từ ( adjectives), trạng từ (adverbs), thán từ (interjections), danh từ (nouns), động từ (ngoại trừ các trợ động từ

(auxiliary verbs )) Các từ loại trong n óm từ loại m giữ vai trò quan trọng vì nó

mang nét nghĩa chính của câu Số lượng của chúng luôn gia tăng, được mở rộng

không ngừng Chính vì vậy mà chúng được gọi là từ loại m (open word class) Các từ loại trong nhóm từ loại đón bao gồm: trợ động từ ( auxiliary verbs), những từ không mang trọng âm (clitics), động từ phụ, trợ động từ (coverbs) có trong các ngôn ngữ như tiếng Hà Lan, tiếng Nga ở châu Âu, tiếng Trung Quốc ở đông Á, tiếng Yoruba ở tây Phi, liên từ (conjunctions), từ hạn định (determiners) gồm mạo từ

( articles ), từ số lượng (quantifiers), tính từ chỉ định (demonstrative adjectives) và tính

từ sở hữu (possessive adjectives ), tiểu từ ( particles ), những từ đo lường ( measure words ), những từ thêm vào (adpositions) bao gồm: những từ thêm vào vị trí phía

trước (prepositions), những từ thêm vào vị trí phía sau (postpositions) và những từ thêm vào tùy hoàn cảnh (circumpositions), những yếu tố đứng trước tách rời động từ

(preverbs), đại từ (pronouns), dạng rút gọn của một từ (contractions), số từ, từ chỉ số lượng (cardinal numbers)

Nhiều từ trong các ngôn ngữ có nhiều hơn một chức năng, hay nói cách khác là mang chức năng của nhiều hơn một từ loại Ví dụ như trong tiếng Anh từ

―work‖ có thể là một động từ (có nghĩa là: làm vi ) hoặc là một danh từ (nghĩa của nó là: n vi ), ―but‖ có thể là liên từ (có nghĩa là: n n , n n mà) và cũng là một giới từ (có nghĩa là: trừ r , n oài r ); ―well‖ có thể là một tính từ (có nghĩa là: k ỏ mạn ), một trạng từ (có nghĩa là: tốt, iỏi), hoặc là một thán từ (có nghĩa là: ờ, vậy t ), và nhiều danh từ có thể hoạt động như những tính từ, ví dụ như là afternoon (buổi chiều) là danh từ trong câu W o to s ool in the

ft rnoon (Bu i iều ún t i đi ), và afternoon (bu i iều) hoạt động như

một tính từ trong câu I v ft rnoon t wit my r ndmot r ( i đã uốn

Trang 17

trà iều với bà t i) Trong tiếng Việt chúng ta cũng thấy có hiện tượng này

Chẳng hạn như từ ―cân‖ là danh từ trong câu hún t ần ó một i n , là

động từ trong câu t i muốn n on à này , là tính từ trong câu b tr n

n Vậy để biết từ loại của một từ thì chúng ta nên xem xét từ đó làm công

việc gì trong câu, có chức năng gì trong câu

1.1.1 Từ loại trong tiếng nh

Vì tiếng Anh thuộc họ ngôn ngữ Ấn - Âu, và những thành tựu sớm nhất

trong việc nghiên cứu ngôn ngữ đều bắt nguồn từ khu vực này (việc nghiên cứu

ngôn ngữ khởi nguồn từ Ấn Độ, Hy Lạp, La Mã) Do vậy các nhà ngôn ngữ học

Anh chịu tác động bởi các hoạt động nghiên cứu này Từ loại trong ngữ pháp truyền

thống Anh được gọi là ―part of speech‖ Từ này có nguồn gốc từ tiếng Latin ―pars

orationis‖ (dịch nghĩa là ―thành phần của lời nói‖), từ ―pars orationis‖ lại được dịch

nghĩa từ hai cụm từ gốc Hy Lạp là méros tès léxèos (tên gọi này của Aristotle) và

méros lógou (tên gọi này của Dionysus Thrax) Loại ngữ pháp tiếng Anh truyền

thống này vẫn còn được dạy trong các trường học và được dùng trong các sách từ

điển Theo cách phân loại của ngữ pháp truyền thống thì có 8 từ loại là: danh từ

(noun), động từ (verb), tính từ (adjective), trạng từ (adverb), đại từ (pronoun), giới

từ (preposition), liên từ (conjunction), và thán từ (interjection) Tuy nhiên những

nhà ngữ pháp hiện đại trong quá trình nghiên cứu tiếng Anh đã có những cải biến

Các trường phái cấu trúc luận và các trường phái tạo sinh sau này đã dùng những

tên gọi khác để gọi từ loại như là ―word class‖ (cách gọi của trường phái cấu trúc

luận) hoặc là ―lexical category‖, ―lexical class‖ (cách gọi của trường phái ngữ pháp

tạo sinh) Tiếng Anh được xếp vào loại ngôn ngữ biến hình chính vì vậy trong tiếng

Anh có phạm trù từ loại

Việc phân định từ loại trong tiếng Anh dựa trên các tiêu chuẩn: hình thái

(morphological), cú pháp (syntactic) và ngữ nghĩa (semantic)

1.1.1.1 Sự phân định từ loại tiếng Anh

a Phân định từ loại tiếng nh theo cách truyền thống

Ngữ pháp truyền thống tiếng Anh phân định từ loại thành hai nhóm chính

là: từ loại mở (open word classes) và từ loại đóng (closed word classes) Trong

hai nhóm từ loại lớn này lại đươc phân chia thành các nhóm từ loại nhỏ hơn

Các từ loại trong nhóm từ loại mở bao gồm: tính từ (adjectives), trạng từ (adverbs), danh từ (nouns), động từ, ngoại trừ các trợ động từ (verbs) Các từ loại trong nhóm từ loại mở đóng vai trò quan trọng vì nó mang nét nghĩa chính của câu

Số lượng của chúng luôn gia tăng, được mở rộng không ngừng Chính vì vậy mà

chúng được gọi là từ loại m (op n word l ss)

Nhóm từ loại đóng bao gồm: liên từ (conjunctions), đại từ (pronouns), giới

từ (preposition), thán từ (interjection) Đây là những từ loại không có nghĩa từ vựng nên chúng có thể được gọi bằng các tên khác như: từ chức năng, từ ngữ pháp, từ cấu trúc

Từ những vấn đề nêu trên chúng tôi tóm tắt 8 từ loại trong tiếng Anh như sau:

Bảng 1.1.1.1: Bảng tóm tắt 8 từ loại trong tiếng nh

động từ ( Verb )

Hoạt động hoặc trạng thái

(to) be, have, do, like, work, sing, can, must

EnglishClub.com is a

web site I like

EnglishClub.com

danh từ ( Noun )

Người hoặc vật pen, dog, work,

music, town, London, teacher, John

This is my dog He lives

in my house We live in London

My dog is big I like big

quickly, silently, well, badly, very, really

My dog eats quickly

When he is very hungry, he eats really

Trang 18

Từ loại Chức năng Ví dụ Câu ví dụ

and, but, when I like dogs and I like

cats I like cats and dogs I like dogs but I

don't like cats

oh!, ouch!, Ouch! That hurts! Hi!

Một số nguồn ngữ pháp khác đã phân chia tiếng Anh thành 9 hay 10 từ loại

Theo cách phân loại này thì động từ được chia thành hai loại là: v từ t ự n ĩ

(lexical verbs) (ví dụ như: work, like, run) và tr độn từ (auxiliary verbs) (như là:

be, have, must), từ chỉ định (determiners) (như là this, that, these, those) có thể

được xem như là một từ loại riêng, hoặc có thể được xem như một bộ phận thuộc từ

loại tính từ

Cách phân loại nhóm từ mở và nhóm từ đóng của ngữ pháp truyền thống

Anh có nét giống cách phân định thực từ và hư từ trong ngữ pháp truyền thống tiếng

Việt Sự phân định này vẫn còn có chỗ chưa hợp lý thế nhưng nó có giá trị rất lớn

trong việc nghiên cứu và phân tích ngôn ngữ

b Phân định từ loại tiếng nh theo những cách thức khác

Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã thấy sự không thỏa đáng trong sự phân

định từ loại trong ngữ pháp truyền thống Anh (phân loại dựa vào ngữ nghĩa và chức

năng) nên đã đưa ra tiêu chí hình thái và vị trí vào việc định nghĩa và phân chia từ

loại Bloomfield và các nhà cấu trúc luận đã đưa ra cơ sở phân bố để phân định từ

loại Họ cho rằng những từ xuất hiện trong cùng một ngữ cảnh những từ được xếp

vào cùng một nhóm thì thuộc một loại

Khi ngữ pháp cải biến ra đời đã định nghĩa từ loại trên tiêu chí hình thái, thể

hiện phạm trù giống, số, thì, thể, nét nghĩa, ngữ âm và sự phân bố Ngữ pháp cải

biến phân định từ vựng thành hai nhóm: từ nội dun và từ năn Cách phân

định này khá giống cách phân định trong ngữ pháp truyền thống N óm từ m trong ngữ pháp truyền thống giống như n óm từ nội dun và n óm từ đón trong ngữ pháp truyền thống giống như n óm từ năn Tuy nhiên cũng có điểm khác đó

là nhóm từ chức năng được mở rộng thêm ra các lớp từ như là: tr từ, đ n từ,

l n từ, p n từ Ngữ pháp cải biến cũng đã phát triển các từ loại lên thành cấu

trúc ngữ đoạn như là danh ngữ, động ngữ, tính ngữ

Trong những cách phân loại trên, theo chúng tôi cách phân loại truyền thống (phân loại dựa vào ngữ nghĩa) tuy còn một số điểm chưa hợp lý nhưng sự phân loại này ổn định và được dùng khá phổ biến trong trường học và trong từ điển Chính vì thế chúng tôi chọn cách phân loại này để nghiên cứu trong luận án

1.1.1.2 Trạng từ tiếng nh

Cách hiểu thông thường về trạng từ

Trạng từ (adverb) được cấu tạo bởi ‗ad-verb‘ gợi ý rằng nó thêm (adding) nghĩa cho một động từ (verb), bổ sung ý nghĩa cho động từ và bởi vậy trong tiếng Việt ta thường gọi nó là trạng từ Trạng từ bổ nghĩa cho động từ bởi vì nó cho ta biết một điều gì đó về một hành động được diễn đạt bởi động từ trong câu, ví dụ hành động đó xảy ra hoặc được thực hiện ở đâu, lúc nào, như thế nào…, ví dụ: -

Peter played the violin beautifully (P t r ơi vĩ ầm tuy t vời.)

Trạng từ không phải là thành phần cốt yếu của một cấu trúc câu, song nó thường

có ảnh hưởng đến ý nghĩa của câu Bên dưới đây là những ví dụ cho ta thấy ảnh hưởng của trạng từ đến ý nghĩa câu, ví dụ:

- Doris has left (Doris đã đi.)

- Doris has just left (Doris vừa đi khỏi.)

- I have finished work (Tôi đã xon n vi c.)

- I have nearly finished work (Tôi đã gần xong công vi c.) Trong các câu trên các trạng từ just (vừ mới), n rly ( ần n ) làm cho ý nghĩa câu có sự thay đổi: just nhấn mạnh hành động vừa mới xảy ra, nearly nhấn

mạnh hành động gần kết thúc

Những từ đơn (ví dụ: slowly – chậm) hoặc những cụm từ (ví dụ: in the garden

– trong vườn) có chức năng như trạng từ Nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ

Trang 19

xét trạng từ là những từ đơn, chứ không xét những cụm từ có chức năng như là trạng

từ

Các định nghĩa về trạng từ tiếng Anh

Max Morenberg [150] cho rằng trạng từ là để mở rộng câu Trong một câu

thường có thể thêm hai, ba hay nhiều hơn những trạng từ Trạng từ cho chúng ta

biết về cách thức, thời điểm, lý do, phương tiện hay cách thức, mức độ, độ xa gần,

hoàn cảnh hay điều kiện

Theo như định nghĩa của từ điển Oxford Adv n d L rn r’s Di tion ry [141]

thì trạn từ (adverb) là từ thêm thông tin về nơi chốn, thời gian, hoàn cảnh, cách thức,

mức độ… cho một động từ, một tính từ, một cụm từ hay một trạng từ khác

Còn theo từ điển Macmillan English Dictionary for Advanced Learners

[157] thì trạng từ (adverb) là một từ dùng để miêu tả một động từ, một tính từ, một

trạng từ khác hoặc cả câu Những trạng từ trong tiếng Anh thường bao gồm một

tính từ được thêm vào hậu tố -ly ví dụ như các từ qui kly (n n ón ),

m inly ( ín , ủ yếu) và rfully (vui vẻ)

Và theo từ điển Longman Dictionary of Contemporary English [133] thì trạng từ

là một từ hoặc một nhóm từ mô tả hoặc thêm vào nghĩa cho một động từ, một tính từ,

một trạng từ khác hoặc cả câu, ví dụ như là từ slowly (chậm) trong câu H r n

slowly ( n ấy ạy ậm), ―very‖ (rất) trong câu ―It’s v ry ot‖ (trời rất nón ) hay là

từ ‗n tur lly’ (tự n iên) trong câu N tur lly, w w nt you to om (t ật t n t

ún t i muốn bạn đến)

Theo từ điển Wikipedia [171] thì trạng từ (adverb) là một từ loại (a part of

speech) Đó là từ bổ nghĩa cho những phần khác của ngôn ngữ như là động từ

(verbs), tính từ (adjectives), các mệnh đề (clauses), các câu (sentences), và những

trạng từ khác (adverb), ngoại trừ danh từ (noun) Các trạng từ thường trả lời cho 3

câu hỏi là như thế nào (how?), khi nào (when?), hoặc là ở đâu (when?) Chức năng

này được gọi là chức năng trạng từ (adverbial function) và được nhận ra không chỉ

bằng một từ (ví dụ là những trạng từ) mà bằng những cụm trạng ngữ (adverbial

phrases) và mệnh đề trạng ngữ (adverbial clauses) Những trạng ngữ cũng bổ sung ý

nghĩa cho tính từ, động từ và những trạng từ khác

Theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư New World Encyclopedia

[181] thì trạng từ là một từ loại Trạng từ là những từ bổ nghĩa cho động từ, tính từ, những mệnh đề, những câu và cả những trạng từ khác Những trạng từ thường trả lời cho những câu hỏi như là: ―bằng cách nào?‖, ―khi nào?‖, ―ở đâu?‖, ―tại sao?‖,

―tới mức độ nào?‖ Chức năng này được gọi là chức năng trạng từ (adverbial function), và thực hiện chức năng này không chỉ bởi một từ mà có thể là những cụm trạng ngữ (adverbial phrases) hoặc những mệnh đề trạng ngữ (adverbial clauses), ví

dụ như: s nsw r d m in a loud whisper ( ấy trả lời t i bằn rỉ t i nói

lớn , hoặc là w s pl yin w ll, although he was very tired (An t ơi rất tốt

mặ dù n ấy rất m t)

Theo định nghĩa của ngành Ngôn Ngữ Học [179] thì có hai nghĩa dành cho trạng từ Theo nghĩa hẹp, trạng từ là một từ loại bổ nghĩa cho động từ về thời gian, cách thức, nơi chốn, hoặc là phương hướng Theo nghĩa rộng, trạng từ là một từ loại

bổ nghĩa cho các từ loại khác danh từ như là động từ, tính từ, trạng từ, cụm từ, mệnh

đề hoặc là câu Theo định nghĩa này thì từ loại có thể bổ nghĩa phụ thuộc vào từ loại được bổ nghĩa

Theo định nghĩa của từ điển The Encyclopedia of Language and Linguistics

(Bách khoa toàn thư về ngôn ngữ và ngôn ngữ học) cuả Asher [106] thì trạng từ

(adverb) của tiếng Anh bắt nguồn từ adverbium của những nhà ngữ pháp người Rome, sau đó được dịch sang tiếng Hi Lạp là epirrhema Từ này có nghĩa là trạng

từ là một từ đi kèm với động từ, hay nói theo ngữ nghĩa học thì nó bổ nghĩa cho động từ Cho dù người ta bây giờ nhận thấy rằng mối liên kết giữa trạng từ và động

từ không chặt như người ta vẫn tưởng, nhưng trạng từ nói chung vẫn được sử dụng

và đã tạo ra thuật ngữ dv rbi l , là một danh từ dùng để chỉ những trạng từ

(adverbs) cũng như là những cụm từ (phrases) hay những mệnh đề (clauses) mà có cùng chức năng như những trạng từ [106, tr39] Theo từ điển bách khoa toàn thư này thì trạng từ có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, trạng từ là một từ loại Từ loại trạng từ cũng có những tiêu chí riêng

của nó để phân loại với những từ loại khác Khi xem xét trạng từ carefully ( n t ận) trong câu Jo n d r fully op n d t door (Jo n n t ận m ử ) thì thấy nó

có 4 đặc tính: một là, nó không thay đổi theo số (number), theo giống (gender), theo

Trang 20

cách (case); hai là, nó bổ nghĩa cho động từ; ba là, nó có thể được lượt bỏ mà không

làm thay đổi nghĩa của câu; bốn là, nó nằm ở vị trí dành cho trạng từ Các đặc tính

nêu trên đều là những đặc tính của trạng từ Tuy nhiên những đặc tính này vẫn còn

phải bàn thêm

Thứ hai, trạng từ là bất biến (invariable) về hình thức Điều này có nghĩa là

trạng từ không thay đổi theo số (number), theo giống (gender), theo cách (case) như

vậy với đặc tính này thì nó cũng giống danh từ và tính từ

Thứ ba trạng từ bổ nghĩa cho một động từ (verb) Trong câu John had

carefully opened the door, thì trạng từ carefully ( n t ận) bổ nghĩa cho động từ

(op n: m ử ) Trạng từ này đã chỉ ra cách thức mà John mở cửa Tuy nhiên

không phải John lúc nào cũng mở cửa cẩn thận (carefully) mà chỉ trong trường

hợp cụ thể này thì John mới mở cửa cẩn thận, cho nên người ta sẽ thấy rằng trạng

từ carefully không chỉ bổ nghĩa cho động từ opened mà là bổ nghĩa cho toàn bộ

cụm động từ op n d t door (m ử ) Trong câu ―Briefly, will m t m (nói

n ắn n, An t sẽ ặp t i) thì trạng từ bri fly (vắn tắt) bổ nghĩa cho toàn bộ

mệnh đề theo sau nó chứ không chỉ bổ nghĩa cho động từ m t ( ặp) Cho nên kết

luận rằng trạng từ không chỉ bổ nghĩa cho động từ mà nó bổ nghĩa cho cụm động

từ hoặc toàn bộ mệnh đề

Thứ tư, trạng từ là không bắt buộc (optional) Trong những câu sau đây nếu

lượt bỏ trạng từ thì về mặt ngữ pháp câu vẫn đúng: John had carefully opened the

door (Jo n n t ận m ử ) hoặc Briefly, he will certainly m t m r (Nói n ắn

n, n t ắ ắn sẽ ặp t i đ y.) Như vậy trong những trường hợp này thì

trạng từ là không bắt buộc Tuy nhiên trong câu Jo n liv d r (Jo n đã sốn đ y)

thì trạng từ here ( đ y) là bắt buộc phải có Vậy từ here trong câu trên có phải là

trạng từ không? Những trường hợp như vậy của trạng từ phải tìm cách giải thích

khác

Thứ năm, về vị trí trạng từ Trong tiếng Anh vị trí giữa câu là vị trí của trạng

từ Khu vực của trạng từ là giữa độn từ n uyên mẫu (nonfinit verb) và độn từ

đ i , hay còn gọi là độn từ biến n i (finit v rb) Như vậy câu John had

carefully opened the door là đúng ngữ pháp Tuy nhiên trạng từ đôi khi không cần

phải đứng giữa câu, ví dụ như John had opened the door carefully Nói tóm lại vị trí

của trạng từ là uyển chuyển

Thứ sáu, sự đồng thuận của các đặc tính của trạng từ Không có đặc tính nào được đề cập bên trên vừa thỏa mãn điều kiện cần và điều kiện đủ để đáp ứng các tiêu chí của trạng từ Tuy nhiên một vài trường hợp được nói đến bên trên có thể đáp ứng tính điển hình của trạng từ Tùy theo từng ngôn ngữ mà một trạng từ có thể

là bất biến (invariable), bổ nghĩa cho hầu hết các từ loại khác, có thể là không bắt buộc (optional), và tuân theo giới hạn về trật tự từ Trong bất kỳ trường hợp nào cũng đều có sự đồng thuận lớn vượt ra ngoài lý thuyết (crosstheoretical consensus)

về việc khi nào một từ được xem là một trạng từ Dù vậy sự đồng thuận này không phải là tuyệt đối Chẳng hạn như có sự phân biệt giữa trạng từ (adverb) và tiểu từ

(particle) Trong những câu sau thì từ v n (t ậm í) và just ( ỉ là) không phải là trạng từ mà là tiểu từ: Even John was there (t ậm í Jo n ũn ó mặt đó) và He

just won’t list n ( ỉ là n t k n muốn n )

Thứ bảy là phổ niệm (universality) hay tính phổ biến về trạng từ Người ta biết rất ít về phổ niệm và cách dùng của trạng từ Trong tiếng Anh những cấu trúc

như là The soup tastes terrible (món súp này t ật t ) thì không cần có trạng từ Từ

terrible (tệ, dở) là một tính từ dễ nhầm lẫn và nó không thể thay bằng trạng từ

terribly (tệ, dở)

1.1.2 Từ loại trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt vấn đề về từ loại đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm như Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thiện Giáp… Mục đích chủ yếu của việc phân định từ loại, theo như Lê Biên [6] đó là ―nhằm phát hiện bản chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của lớp từ loại trong quá trình thực hiện những chức năng cơ bản của ngôn ngữ: làm công cụ để giao tiếp, để tư duy, trừu tượng.‖

Trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt có những ý kiến cho rằng vốn từ tiếng Việt không thể phân định loại được vì chúng không có một dấu hiệu hình thức nào cả Tuy nhiên số đông các nhà nghiên cứu thì cho rằng tiếng Việt có từ loại và họ đã cố tìm các

dấu hiệu khách quan để định loại Sau đây là những ý kiến về từ loại tiếng Việt

Trang 21

Một quan điểm cho rằng tiếng Việt có từ loại, nhưng việc phân định từ loại

đó lại mô phỏng theo ngữ pháp Châu Âu (ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Pháp là

chính) Những người theo quan điểm này đã ―áp đặt‖ cách phân định từ loại của

Châu Âu vào tiếng Việt, đó là những nhà ngữ pháp học Việt Nam như là Trương

Vĩnh Ký, Nguyễn Hiệt Chi, Lê Thước, Trần Trọng Kim

Một số nhà ngôn ngữ học cho rằng: trong tiếng Việt có từ loại Họ căn cứ

vào ý nghĩa khái quát giống nhau của các từ (gồm ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ

pháp), và căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp giống nhau (đó là khả năng kết hợp và

chức vụ ngữ pháp của các từ trong câu) để phân chia từ loại Những người theo

quan điểm này có Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Kim Thản,

Nguyễn Thiện Giáp… Họ cho rằng từ tiếng Việt có thể được phân chia làm ba loại

là t ự từ, từ và t n t i từ ự từ là những từ loại có ý nghĩa thực, ý nghĩa từ

vựng bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ H từ là những từ loại chỉ có

ý nghĩa ngữ pháp bao gồm phụ từ, quan hệ từ Và t n t i từ là những từ thể hiện

thái độ bao gồm trợ từ và thán từ

Một xu hướng khác cũng cho rằng có từ loại trong tiếng Việt nhưng đã đưa

ra những tiêu chuẩn khách quan để phân định Theo xu hướng này thì có các nhà

nghiên cứu Lê Văn Lý [58], Nguyễn Tài Cẩn [7] Khi phân định từ loại thì các nhà

nghiên cứu thường dựa vào một tập hợp các tiêu chuẩn với ba tiêu chuẩn tiêu biểu

thường nhắc tới là: (1) ý nghĩa khái quát của các lớp từ, (2) chức vụ của từ trong

câu, và (3) khả năng kết hợp của từ Người ta có thể dựa vào một tiêu chuẩn hay

một tập hợp các tiêu chuẩn để phân định từ loại tiếng Việt Có những nhà ngôn ngữ

dựa trên tiêu chí ngữ nghĩa và tiêu chí ngữ pháp (tiêu chí này bao gồm khả năng

kết hợp và chức năng cú pháp của từ để phân định từ loại Hai chủ trương này thực

chất không đối lập nhau mà thống nhất nhau)

Đinh Văn Đức [25] khi nghiên cứu về bản chất và các đặc trưng của từ

loại đã đưa ra định nghĩa từ loại ―là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp,

được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong

ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu.‖

1.1.2.1 Sự phân định từ loại tiếng Việt

a Sự phân định từ loại tiếng Việt theo cách truyền thống

Dựa trên những tiêu chí ngữ nghĩa, và ngữ pháp truyền thống các nhà nghiên

cứu tiếng Việt đã chia từ vựng thành hai loại chính là t ự từ và từ

ự từ có số lượng rất lớn trong vốn từ Thực từ, theo ĐinhVăn Đức [26] là

―sự thống nhất của tính chất từ vựng-ngữ pháp, là sự kết hợp của nội dung phản ánh thực tại với cách thức phản ánh của người bản ngữ‖ Các thực từ trong tiếng Việt thường là trung tâm đoản ngữ, nghĩa là trong một kết cấu thì nó được bao quanh bởi các thành tố phụ Trong một câu thì thực từ giữ các chức vụ ngữ pháp chính trong câu Trong tập hợp thực từ thì tiêu biểu nhất là danh từ, động từ và tính từ Ngoài ra còn có số từ và đại từ cũng được xếp vào lớp thực từ

H từ có số lượng không lớn nhưng có tần số sử dụng cao Hư từ thiên

về tính chất ngữ pháp, nó không phản ánh sự vật hiện tượng nhưng nó là phương tiện ―để phân xuất các hình thức của khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy‖ Hư từ không có khả năng độc lập tạo ra câu

và không làm thành phần câu

Những người theo chủ trương này có Nguyễn Tài Cẩn [8], Đinh Văn Đức [26],

Đỗ Hữu Châu [10] Tuy nhiên cách phân loại của họ cũng có điểm khác nhau Nguyễn

Tài Cẩn dựa vào tổ chức đoản ngữ để phân chia t ự từ và từ Đinh Văn Đức và Đỗ

Hữu Châu dựa vào chức năng của từ để phân chia

Từ những loại chính đó người ta phân chia thành các loại nhỏ hơn như: danh

từ, độn từ, tín từ, số từ, đại từ, p ụ từ, kết từ, t n t i từ, tr từ… Tuy nhiên

mỗi nhà ngữ pháp lại có cách gọi tên khác nhau cho mỗi loại ví dụ như p ó từ hay còn được gọi là p ụ từ, kết từ hay từ nối, …

b Phân định từ loại tiếng Việt theo những cách khác

Hoàng Tuệ [101] đã đưa ra các phạm trù A, B, I, N, Đ, … tương ứng với những

từ loại động từ, danh từ, tính từ, số từ, đại từ, tiểu từ, loại từ và thán từ

Trần Ngọc Thêm và Hoàng Huy Lập [87] đã lấy văn bản làm gốc và tách dần thành các đơn vị ở các cấp thấp hơn tạo thành một cách phân định từ loại Cách

phân loại này dựa vào tiêu chí: sự oàn ỉn và k n oàn ỉn về cấu trúc (ngữ

pháp), sự hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh về nội dung (ngữ nghĩa) Tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa của một đơn vị là nội dung ngữ nghĩa của đơn vị đó không lệ thuộc vào đơn vị xung quanh, và ngược lại Theo cách phân loại này thì các từ được

Trang 22

chia ra thành hai nhóm: từ độc lập và từ ràng buộc Từ độc lập lại được phân chia:

từ độ lập tự n ĩ (gồm có danh từ) và từ độ lập p n ĩ (gồm thán từ, loại từ

và tên riêng) Từ ràng buộc cũng được chia thành hai nhóm: từ ràn buộ tự n ĩ

(gồm động từ, tính từ, số từ) và từ ràn buộ p n ĩ (gồm kết từ, phụ từ và

nghĩa khí từ) Ngoài ra còn có đại từ được đặt ở vị trí đặc biệt do nó thực hiện chức

năng đặc biệt là thay thế cho những từ thuộc loại khác

Theo sách N p p tiến i t của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam

[102;tr 69-91] thì tiếng Việt được phân ra thành hai từ loại lớn là thực từ và hư từ

ngoài ra còn có các loại nhỏ hơn là đại từ, tr từ, ảm từ Trong hai loại lớn này

người ta tiến hành tiếp sự phân loại nhỏ hơn giúp cho việc sử dụng từ để tạo câu

chính xác hơn Sự phân loại nhỏ hơn đó như sau:

ự từ được phân thành những loại nhỏ hơn là d n từ (là từ có ý nghĩa

khái quát về sự vật, độn từ (là từ có nghĩa khái quát về hoạt động) và tín từ (là từ

có nghĩa khái quát về tính chất)

H từ được phân chia thành những loại nhỏ hơn là ―p ụ từ‖ (là từ biểu thị

các ý nghĩa ngữ pháp về thời gian, về thể trạng, về mức độ) và ―kết từ (là từ biểu

thị quan hệ, là phương tiện để chỉ các quan hệ cú pháp

Đại từ không được dùng để gọi tên mà được dùng để chỉ, trỏ Nó có thể làm

thành phần chính, nòng cốt của câu

r từ là từ biểu thị thái độ Nó là yếu tố phụ thêm vào câu để biểu thị sự

ngạc nhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vui mừng, lễ phép, hay sự khẳng định đặc biệt, ví dụ

như là: n é, n ỉ, , à, ủ ,…

Cảm từ [102;tr.72] là yếu tố phụ thêm vào câu để biểu thị tiếng gọi, tiếng

đáp, tiếng reo vui, than vãn, nguyền rủa, chửi bới… chẳng hạn như: trời ơi,

v n , dạ, ừ , o i, i à…

Từ những ý kiến nêu trên chúng tôi thấy rằng từ trong tiếng Việt được phân

ra thành hai loại lớn là thực từ và hư từ Trong nhóm thực từ chúng ta có các từ loại

là: d n từ, độn từ, tín từ, và trong nhóm hư từ có các loại từ là p ụ từ (Từ loại

này còn được gọi là p ó từ), kết từ ngoài ra còn có đại từ, tr từ và ảm từ thành

một loại riêng

Từ những điều đã nêu trên chúng tôi đã tóm tắt từ loại trong tiếng Việt thành bảng như sau:

Bảng 1.1.2.1: Tóm tắt từ loại tiếng Việt theo cách phân loại của sách

“Ng pháp tiếng Vi t” của Ủy ban hoa học ã h i Việt Nam (1983)

- ông bà, cây, nhà, chó, gà, ngôi nhà,

xe hơi, nhà ga…

- mục đích, khả năng, quyết tâm, xe

- xanh, đỏ, vàng

- xa, gần, cao, thấp, vuông, tròn, cong

- vui, buồn, xấu, đẹp, nhanh, chậm

- chững chạc, khó khăn, căng thẳng

- Học sinh thông minh

- Cuốn sách này hay

- đã, đang, sẽ, vừa,

mới, sắp, từng, liền bèn…

- rất, khá, khí, hơi,

- Mẹ đã về!

- Bài văn t ật hay

- Tôi vẫn yêu anh

- Cô ấy quyết

Trang 23

Từ loại Chức năng Ví dụ Câu ví dụ

trạng, về mức

độ

quá, lắm, thật, hoàn toàn, hết sức, tuyệt đối…

- cũng, đều, vẫn cứ,

còn, mãi, luôn luôn

- không, chẳng, chưa

- anh nên tôi mới

ra nông nỗi này

- Nếu trời mưa tôi sẽ

- đây, đấy, đó, kia,

- thế, vậy

- Xe của tôi màu đỏ,

xe anh ấy cũng vậy

- C ún t i không biết

của người nói

trong mối quan

Cảm từ biểu thị tiếng

gọi, tiếng đáp, tiếng reo vui, than vãn, nguyền rủa, chửi bới

- trời ơi, than ôi, vậy ư, thế à, cơ mà,

à, à mà, thế, ấy thế,

ấy thế mà, đấy, đấy nhé, ái chà, ôi chao, hỡi ơi

- ư, nhỉ, nhé, ấy, vậy, hả, hử, cơ, kia,

cơ mà, cơ đấy

- ấy, đấy, đó, kia, à,

1.1.2.2 Bàn về vấn đề trạng từ trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt không có từ loại nào được gọi là trạng từ Có chăng thì Trần

Trọng Kim trong sách i t N m ăn P ạm [61;tr.122-147] có nói về một từ loại tên là trạng tự mà theo ông [61;tr.122] ―trạng tự là tiếng dùng để phụ thêm nghĩa

cho một tiếng động tự, một tiếng tĩnh tự, một tiếng trạng tự khác hay cả một mệnh đề.‖ Cách hiểu trên rất giống với cách hiểu trạng từ trong tiếng Anh Tuy nhiên cách hiểu này khó được các nhà Việt ngữ học chấp nhận Họ cho rằng trong tiếng Việt không có từ loại trạng từ mà những chức năng được nêu trên thì do những từ loại khác đảm nhiệm Trong tiếng Việt đảm nhiệm chức năng như trên có thể là tính từ,

phụ từ (có thể được gọi là p ó từ ), hoặc trạng ngữ

Sách N p p tiến i t [102] của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam,

có phân định từ loại trong tiếng Việt trong đó có p ụ từ là từ loại gần giống hoặc tương đương với trạng từ trong tiếng Anh Theo Ủy ban này thì p ụ từ ―là từ biểu

thị các ý nghĩa ngữ pháp về thời gian, thể trạng, về mức độ.‖ Phụ từ không thể đảm nhận vai trò của các yếu tố chính, mà chỉ làm yếu tố phụ trong cấu tạo của ngữ Phụ

từ thể hiện ý nghĩa ngữ pháp về thời gian (ví dụ: Con sẽ ăn ơm), về thể trạng (ví

Trang 24

dụ: C ấy đã đi rồi), về mức độ (ví dụ: m y vi tín i u này rất tốt), … Trong

những câu trên, những từ sẽ, đã, rất … là phụ từ

P ụ từ trong tiếng Việt khác các từ loại khác (như danh từ, động từ, tính từ,

số từ, đại từ) ở chỗ nó không có ý nghĩa thực, ý nghĩa từ vựng để biểu thị tên gọi,

hoạt động, trạng thái hay tính chất, số lượng của sự vật và nó cũng không có ý nghĩa

xưng hô, chỉ định hay thay thế tên gọi của sự vật, hiện tượng mà p ụ từ chỉ mang ý

nghĩa ngữ pháp nào đó tùy theo từ loại mà chúng đi kèm, bổ nghĩa, ví dụ: - Đó là

n n vật mà tôi đã mua

- Mẹ đ n phơi áo ngoài kia

- Cô ấy ẳn ham tiền

Trong những ví dụ trên thì phụ từ là những từ được in đậm

Như vậy từ loại trạng từ trong tiếng Việt là không có Nó chỉ được những

nhà i t n y nhắc rất hạn chế Để hiểu theo định nghĩa trạng từ tiếng

Anh thì tiếng Việt không có từ loại nào hoàn toàn tương đương mà chỉ có những

yếu tố tương đương Những yếu tố này sẽ được nói rõ ở chương 2

1.2 Tổng quan về dịch thuật

1.2.1 Khái niệm dịch

Khi nói đến dịch hay dịch thuật người ta thường hiểu một cách đơn giản như

Steiner [163;tr.287] đó là ―dịch thuật là chuyển di nghĩa giữa hai ngôn ngữ‖ Theo

cách hiểu này thì trong quá trình dịch một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác,

người dịch chuyển đổi một văn bản gọi là văn bản nguồn được viết bằng một ngôn

ngữ gọi là ngôn ngữ nguồn thành một văn bản gọi là văn bản đích được viết bằng

ngôn ngữ khác gọi là ngôn ngữ đích Tuy nhiên cách hiểu này không cụ thể và có

nhiều tranh cãi M Fyodorov đã đưa ra định nghĩa về dịch thuật được nhiều người

thừa nhận: ―D là uyển đạt một văn bản từ một n n n này (n uồn) s n một

n n n k (đí ) một trun t àn tron ừn mự ó t ể, ả về nội dun

lẫn về n t .‖ Theo cách hiểu này thì dịch thuật là dùng một thứ tiếng khác để

truyền đạt tất cả những cái gì đã được truyền đạt bằng thứ tiếng kia Người dịch có

bổn phận truyền đạt một cách trung thành ―những cái đã được truyền đạt ấy‖ cả về

nội dung và về hình thức

Jakobson [143;tr.114] đã cụ thể hóa dịch thuật bằng ba loại hình dịch là: dịch nội ngữ (intralingual translation), dịch liên ngữ (interlingual translation), dịch liên ký hiệu (intersemiotic translation)

Dịch nội ngữ (hay còn được gọi là diễn dịch) là giải nghĩa, diễn giải (paraphrase) các ký hiệu ngôn ngữ bằng các ký hiệu khác của chính ngôn ngữ ấy Nghĩa là sắp xếp lại văn bản dịch bằng cách dùng cách viết khác, dùng từ ngữ khác, cấu trúc khác thường để làm rõ nghĩa văn bản hơn Dịch nội ngữ có các dạng như là: bản trích yếu (précis), bản tóm tắt (summary), đoạn trích dẫn, lời trích dẫn gián tiếp (indirect quotation) và những cụm ký hiệu (signal phrase) (là những cụm từ, mệnh đề hoặc câu dùng lời trích dẫn (quotation), tóm tắt (summary), hay lời diễn giải (paraphrase),

Ví dụ về tóm tắt: Tóm tắt truyện ―ông già và biển cả‖ của Ernest Hemingway

Ông già và biển cả

Ôn ià X n i đ n vùn n i t l u, n n đã l u k n kiếm đ

on nào Đêm n ủ, lão mơ về t ời tr i trẻ với tiến són ào, ơn v biển,

n n on tàu, n n đàn s tử

Lần này, lão lại r k ơi ế rồi, một on lớn tín k í k quặ mắ mồi

Đó là một on kiếm to lớn mà lão ằn mon ớ u i n ày b đêm vật lộn

ự kỳ ăn t ẳn và n uy iểm, lão đã iết đ on

N n trên đ ờn qu y vào bờ, từn đàn mập un d đu i t o rỉ t t

on kiếm Lão p ải đơn độ iến đấu đến ki t s với lũ mập uy vậy, lão vẫn n ĩ k n i đơn nơi biển ả K i vào đến bờ t on kiếm ỉ òn trơ lại

bộ x ơn ron iấ n ủ, lão lại mơ về n n on s tử

Ví dụ lời về lời dẫn gián tiếp

Lời trực tiếp: Lo n nói: H m n y on k n ăn ơm n à

Lời gián tiếp: Lo n nói với mẹ là m n y ấy k n ăn ơm n à

Dịch liên ngữ là giải nghĩa các ký hiệu trong ngôn ngữ này bằng các ký hiệu trong ngôn ngữ khác, ví dụ:

Câu tiếng Anh: He, who has last laugh, laughs best

Câu dịch tiếng Việt: C ời n ời m tr ớ , m s u n ời ời

Trang 25

Dịch liên ký hiệu là diễn giải các ký hiệu ngôn ngữ bằng các ký hiệu thuộc hệ

thống phi ngôn ngữ, ví dụ như âm nhạc, hình ảnh

Trong ba loại hình dịch trên thì dịch liên ngữ là trọng tâm truyền thống của

các nghiên cứu dịch thuật

1.2.2 Lý thuyết dịch

Theo Jeremy [50], công việc dịch thuật đã có từ thế kỷ thứ nhất trước công

nguyên Dịch thuật ban đầu chỉ được xem là một phần của việc học ngoại ngữ

Học ngoại ngữ thời bấy giờ chủ yếu là dựa vào việc học ngữ pháp và tập dịch

Trong giai đoạn đầu này của dịch thuật thì đã có sự phân biệt giữa ―dịch chữ‖

(nghĩa là dịch đúng từng chữ, word-for-word), và ―dịch nghĩa‖ (nghĩa là dịch đúng

từng nghĩa, sense-for-sense) Đây là cơ sở cho các bài viết về dịch thuật trong

nhiều thế kỷ

Đến thế kỷ 17 lý thuyết dịch mới có bước những bước tiến quan trọng John

Dryden [126], một dịch giả người Anh, trong lời mở đầu cho bản dịch cuốn sách

Epistle của Ovid mà ông hoàn thành vào năm 1680 đã quy dịch thuật thành ba cách

là dịch từng chữ (metaphrase), dịch thoát ý (paraphrase), phỏng dịch (imitation)

Trong đó dịch từng chữ là dịch bám từng chữ và từng dòng Giống khái niệm ―dịch

chữ‖ Dịch thoát ý là dịch có độ thoáng, người dịch truyền đạt đúng ý của tác giả,

nhưng không cần phải bám sát từ ngữ của tác giả, nghĩa là có thể thay đổi câu chữ

Giống khái niệm ―dịch nghĩa‖ Phỏng dịch là cách dịch không bám vào từng chữ,

cũng không bám vào ý của nguyên tác, mà dịch tự do

Sau Dryden, thì Alexander Fraser Tytler [166] trong bài Ess y on t

prin ipl s of tr nsl tion (tiểu luận về các nguyên tắt dịch thuật) viết năm 1797 đã

đưa ra ba nguyên tắc dịch đó là: thứ nhất, dịch giả phải truyền đạt trọn vẹn các ý

tưởng của nguyên tác; thứ hai, văn phong và cách viết phải có cùng đặc tính như

của nguyên tác; thứ ba, bản dịch phải mang đầy đủ phong vị tự nhiên, dễ dàng trong

câu chữ của nguyên tác

Đến đầu thế kỷ 20, các khái niệm ―trung thành‖, ―chính xác‖ xuất hiện và sau

đó mở rộng ra thành các khái niệm ―tín‖ (fidelity), ―thần‖ (spirit), và ―chân‖ (truth)

Các khái niệm ―tín‖, ―thần‖ và ―chân‖ cũng đã theo suốt lịch sử dịch thuật với những

cách hiểu khác nhau trong từng giai đọan Ví dụ khái niệm ―tín‖ được coi là lối dịch

bám sát từng chữ vào thời của Horace, nhưng đến thế kỷ 17 thì khái niệm này được hiểu là trung thành với nghĩa muốn nói của tác giả chứ không phải với chữ ―Thần‖ cũng đã mất đi cái nghĩa tôn giáo gốc của nó và được dùng với nghĩa là tinh thần (năng lượng) sáng tạo thể hiện trong văn bản hoặc ngôn ngữ

Vào thế kỷ 20, ở Việt Nam khi nói tới tiêu chí dịch thuật thường nhắc tới 3 chữ ―tín‖, ―đạt‖, ―nhã‖ mà Trung Quốc dùng Ba tiêu chuẩn này được lấy làm căn

cứ để đánh giá, thảo luận, trao đổi trong dịch thuật Ba chữ ấy có thể được hiểu là:

―tín‖ là dịch sao cho đúng từng chữ, ―đạt‖ là dịch đúng nguyên ý của tác giả, không câu nệ vào từng chữ, còn ―nhã‖ là tôn trọng văn phong của tác giả Tuy nhiên một

số người nghiên cứu về dịch thuật cho rằng người dịch phải có bổn phận truyền đạt một cách trung thành ―những cái đã được truyền đạt‖ Bàn về vấn đề ―tín‖, ―đạt‖,

―nhã‖ trong dịch thuật thì Cao Xuân Hạo xem ―tín‖ như là yếu tố quan trọng, yếu tố quyết định trong dịch thuật

Cho đến nửa sau của thế kỷ 20 lý thuyết dịch vẫn còn nằm trong cuộc tranh cãi

là ―dịch chữ‖, ―dịch nghĩa‖, và ―dịch trung thành‖ Vào nửa cuối thế kỷ 20, những cuộc tranh luận về vấn đề ―dịch chữ‖ và ―dịch nghĩa‖, (hay còn được gọi là ―dịch nguyên văn‖ và ―dịch thoáng nghĩa‖) đã nhường chỗ cho vấn đề ―dịch tương đương‖ Bản chất của ―tương đương‖ trong dịch thuật được nhiều học giả nghiên cứu

1.2.3 Tương đương trong dịch thuật

Trong dịch thuật người ta chia thành các đơn vị dịch Có 5 đơn vị trong dịch thuật đó là: câu, mệnh đề, cụm từ, từ và hình vị Có những quan điểm khác về đơn

vị dịch như chọn đơn vị dịch là toàn văn bản, hay đơn vị dịch là những câu văn dài hay những đoạn văn ngắn, đơn vị dịch có thể là mệnh đề, hoặc câu là đơn vị hạt nhân trong dịch thuật Có những quan điểm chọn khái niệm uyển chuyển hơn làm đơn vị dịch như là: đơn vị dịch là một thang trượt (a sliding scale), một hành động văn bản‖ (text act)… Và có quan điểm cho rằng toàn văn bản là đơn vị dịch Vì bản chất văn bản xác định rằng không có thành phần nào trong văn bản có thể được xử

lý riêng lẽ nên đơn vị dịch được khẳng định là đơn vị độc lập chứ không cô lập Với quan điểm này đơn vị dịch có thể được định nghĩa như sau:

―Đơn vị dịch là thành phần nhỏ nhất của văn bản ngôn ngữ nguồn, độc lập về ngữ nghĩa đối với các thành phần khác trong văn bản và có thể

Trang 26

chuyển ngữ, được dịch sang ngôn ngữ đích Hình thức của đơn vị dịch có thể

ở cấp độ từ hình vị đến câu; song chức năng văn bản của đơn vị dịch được

thể hiện ở tính toàn vẹn về cấu trúc thông tin, và thường được nhận ra khi

đơn vị dịch thực hiện những chức năng văn bản trong văn bản ngôn ngữ

nguồn Những chức năng văn bản này phải được tái thể hiện ở văn bản ngôn

ngữ đích‖

(dẫn theo Lưu Trọng Tuấn, (2009), D ch thuật - ăn bản khoa h c NXB KHXH.)

Khi nghiên cứu về dịch thuật người ta đưa ra các cấp độ tương đương Đó

là tương đương ở cấp độ từ, tương đương ở cấp độ câu, tương đương vượt khỏi

cấp độ câu, hoặc bỏ qua quan điểm tương đương, hoặc vượt khỏi tương đương về

nghĩa hoặc tương đương trong mô hình dịch thuật động Tương đương có thể là

tương đương về nghĩa, có thể là tương đương hoàn toàn hay tương đương một

phần trong các văn bản dịch Tương đương có thể là tương đương về ngữ cảnh, về

ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ vựng…Tương đương có thể là tương đương từ đối với từ,

ngữ đối với ngữ, câu đối với câu Dù đưa ra các cấp độ tương đương nhưng đó chỉ

là tương đương tương đối còn tương đương tuyệt đối trong dịch thuật được xem là

không thể có

Những khái niệm về tương đương có tính mở đường trong dịch thuật của các

học giả là: tương đương hình thức và tương đương năng động và nguyên lý hiệu quả

tương đương của Eugene Nida [156], dịch ngữ nghĩa và dịch truyền đạt của Peter

Newmark [155], và khái niệm tương xứng (korrespondenz) và tương đương

(aquivalenz) của Werner Koller [144]

Vấn đề tương đương đã được Roman Jakobson bàn đến đầu tiên vào nửa

cuối thế kỷ 20 Ông nhấn mạnh rằng ta có thể hiểu được một từ ngay cả khi ta chưa

hề thấy hoặc trải nghiệm thực tế với khái niệm hoặc cái vật thể ấy Ông đã đưa ra

hai từ làm ví dụ là ambrosia (thức ăn của các vị thần) và nectar (rượu của các vị

thần) đây là những từ trong thần thoại Hy Lạp mà người đọc chưa bao giờ gặp hay

dùng thử trong thực tế Nhưng họ vẫn hiểu, vẫn biết từ đó chỉ cái gì cho dù trong

thực tế không có hoặc họ chưa bao giờ trải nghiệm Ông cho rằng ―thường thì

không có một tương đương trọn vẹn giữa các đơn vị mã‖ Ông đưa ra ví dụ từ

cheese (pho mát) trong tiếng Anh không có nghĩa hệt như từ syr trong tiếng Nga vì

đơn vị mã này trong tiếng Nga không bao gồm khái niệm cottage cheese (phó mát

s đ n )

Vấn đề nghĩa, tương đương và tính chất có thể dịch được hay không của ngôn ngữ đã được Eugene Nida [156] nghiên cứu một cách có hệ thống hơn Nida

đã đưa ra hai khái niệm là t ơn đ ơn n t c và t ơn đ ơn năn động Theo

ông tương đương hình thức là tập trung vào hình thức và nội dung của thông điệp, làm cho thông điệp ở ngôn ngữ đích tương xứng nhất với ngôn ngữ nguồn Những bản dịch theo hình thức tương đương này bám sát cấu trúc của văn bản nguồn, có nhiều chú giải học thuật theo sát ngôn ngữ và phong tục của văn hóa nguồn Còn tương đương năng động: là dựa trên ―nguyên lý hiệu quả tương đương‖ nghĩa là mối quan hệ của người đọc bản dịch và bản dịch phải gần như giống hệt mối quan

hệ giữa người đọc nguyên tác và nguyên tác Tính ―tự nhiên‖ là yêu cầu chính của tương đương năng động Ở dạng này lấy người đọc bản dịch làm trọng tâm, ―cái ngoại lai‖ của văn bản nguồn bị cắt giảm tối đa để phù hợp với nhu cầu ngôn ngữ và mong đợi văn hóa của người đọc bản dịch

Newmark [155] đã đưa ra khái niệm d ch ng n ĩ (semantic translation) và d ch

truyền đạt (communicative translation) Theo ông dịch ngữ nghĩa là cách dịch tái tạo

chính xác ý nghĩa có trong ngữ cảnh của nguyên tác bằng những cấu trúc ngữ nghĩa

và cú pháp gần nhất với nguyên tác Còn dịch truyền đạt là cách dịch tạo nên ở người đọc hiệu quả gần giống nhất với hiệu quả có được ở người đọc nguyên tác

Khái niệm d ch truyền đạt và d ch ng n ĩ của Newmark có điểm giống và khác với khái niệm t ơn đ ơn năn động và t ơn đ ơn n t c của Nida:

giống ở chỗ hiệu quả mà nó cố tạo ra ở người đọc văn bản đích, khác nhau ở chỗ dịch truyền đạt cố gắng tạo nên ở người đọc bản dịch hiệu quả gần giống nhất chứ không thể là hiệu quả tương đương với người đọc nguyên tác Vì theo ông nếu bối cảnh về thời gian và không gian khác nhau thì hiệu quả ấy là không thực hiện được Ví dụ bản dịch thơ Homer không thể trông đợi tạo ra hiệu quả người đọc hệt như hiệu quả mà nguyên tác tạo ra cho người đọc vào thời Hy Lạp cổ đại

Werner Koller [144] đã đưa ra khái niệm t ơn x ng (korrespondenz) và

t ơn đ ơn (aquivalenz) Theo Koller thì tương xứng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học

đối chiếu, so sánh hai hệ thống ngôn ngữ và mô tả những tương đồng và khác biệt

Trang 27

giữa chúng Còn tương đương là các trường hợp tương đương và ngữ cảnh của hai

văn bản nguồn và đích

Koller đã đưa ra năm loại tương đương đó là: tương đương sở thị (denotative

equivalence), tương đương liên tưởng (connotative equivalence), tương đương chuẩn

văn bản (text-normative equivalence), tương đương ngữ dụng (pragmatic equivalence),

tương đương dạng thức (formal equivalence) Trong đó mỗi loại tương đương hướng

về những mục tiêu khác nhau Đó là t ơn đ ơn s th là tương đương về nội dung

nằm ngoài ngôn ngữ của văn bản ơn đ ơn liên t ng liên quan đến các lựa chọn

từ vựng, đặc biệt là giữa các từ cận nghĩa ơn đ ơn u n văn bản liên quan đến

loại văn bản, mỗi loại hoạt động mỗi khác ơn đ ơn n dụng hoặc tương đương

truyền đạt hướng trọng tâm về phía người tiếp nhận văn bản ơn đ ơn dạng th c

liên quan đến thể thức và tính thẩm mỹ của văn bản, bao gồm cả chơi chữ và các đặc

tính cá nhân của văn bản nguồn

Nói tóm lại tương đương là vấn đề trung tâm trong lý thuyết dịch thuật Các

khái niệm tương đương đã đặt người đọc bản dịch vào trung tâm của dịch thuật

Đối với đề tài của luận án chúng tôi sẽ sử dụng tương đương về hình thức để

khảo sát việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt Nghĩa là tập trung so sánh, đối

chiếu hình thức và nội dung của thông điệp bên ngôn ngữ đích (tiếng Việt) tương xứng

với bên ngôn ngữ nguồn (tiếng Anh) Cụ thể là hình thức của trạng từ tiếng Anh được

chuyển dịch sang tiếng Việt thì như thế nào, và cũng thông điệp có chứa trạng từ tiếng

Anh đó khi dịch sang tiếng Việt thì sẽ thay đổi ra sao

Tiểu kết chương 1

Phần đầu chương 1 trình bày các khái niệm từ loại qua các giai đoạn và

trong các ngôn ngữ khác nhau để từ đó tìm được tiêu chí phân định từ loại phù

hợp với đặc điểm không biến hình của tiếng Việt Trong tiếng Việt không có từ

loại trạng từ như tiếng Anh mà chỉ có những yếu tố tương đương với nó

Trong tiếng Anh trạng từ được cho là thuộc về nhóm thực từ, là nhóm từ loại

mở, nhóm từ loại giữ vai trò quan trọng, mang nét nghĩa chính của câu Số lượng

của nhóm từ loại này luôn gia tăng và phát triển không ngừng

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, được phân chia thành hai từ loại

là thực từ và hư từ Không có từ loại trạng từ trong tiếng Việt Từ loại gần giống với

chức năng trạng từ tiếng Anh nhất trong tiếng Việt là p ụ từ Phụ từ trong tiếng Việt thuộc loại hư từ H từ thiên về tính chất ngữ pháp, nó không phản ánh sự vật hiện

tượng nhưng nó là phương tiện để biểu thị các quan hệ ngữ pháp Hư từ gần giống

như n óm từ loại đón trong các ngôn ngữ biến hình, số lượng hư từ ít, không có khả

năng mở rộng Chính vì thế phụ từ trong tiếng Việt cũng là những từ ngữ pháp và số lượng không nhiều

Trong chương này chúng tôi cũng đã tìm hiểu về vấn đề dịch thuật, về các đơn

vị trong dịch thuật, những nguyên tắc dịch thuật Từ đó thấy rằng tương đương là vấn

đề trung tâm trong lý thuyết dịch thuật Dịch thuật là cơ sở cho việc khảo sát việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt của chúng tôi Chúng tôi chọn tương đương về hình thức để khảo sát trạng từ Việc so sánh cách dịch trạng từ sẽ bám sát vào cấu trúc của hai văn bản Anh và Việt

Trong chương hai chúng tôi sẽ phân biệt rõ trạng từ tiếng Anh và phụ từ tiếng Việt trên các bình diện hình thái, cấu tạo, chức năng, phân loại Và chúng tôi

sẽ nghiên cứu những yếu tố trong tiếng Anh có thể nhầm lẫn với trạng từ và các yếu

tố trong tiếng Việt tương đương với trạng từ tiếng Anh nhằm tìm ra cách dịch trạng

từ tiếng Anh sang tiếng Việt phù hợp nhất

Trang 28

ƯƠN 2

TR N TỪ T ẾN N ( Ó SO SÁN VỚ ƠN VỊ TƯƠN ƯƠN TRON T ẾN V ỆT)

2.1 ịnh nghĩa trạng từ tiếng nh và phương thức cấu tạo trạng từ tiếng nh

2.1.1 ịnh nghĩa trạng từ tiếng nh

Trong phần trên chúng tôi có nêu các định nghĩa về trạng từ trong các sách

ngữ pháp đến các sách ngôn ngữ Trong các định nghĩa đã nêu ra chúng tôi chọn

định nghĩa trạng từ của từ điển bách khoa toàn thư về ngôn ngữ và ngôn ngữ học

cuả Asher làm cơ sở cho nghiên cứu của mình

Theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư về ngôn ngữ và ngôn ngữ học

cuả Asher [106] thì trạng từ (adverb) tiếng Anh bắt nguồn từ adverbium của những

nhà ngữ pháp người Rome, sau đó từ này được dịch sang tiếng Hi Lạp là epirrhema Từ

này có nghĩa là trạng từ là một từ đi kèm với động từ, hay nói theo ngữ nghĩa học thì nó

bổ nghĩa cho động từ Cho dù người ta bây giờ nhận thấy rằng mối liên kết giữa trạng

từ và động từ không chặt như người ta vẫn tưởng, nhưng trạng từ nói chung vẫn được

sử dụng và đã tạo ra thuật ngữ dv rbi l , là một danh từ dùng để chỉ những trạng từ

(adverbs) cũng như là những cụm từ (phrases) hay những mệnh đề (clauses) mà có

cùng chức năng như những trạng từ [106;tr.39] Theo từ điển bách khoa toàn thư này

thì trạng từ có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, trạng từ là một từ loại Từ loại trạng từ cũng có những tiêu chí riêng

của nó để phân loại với những từ loại khác Khi xem xét trạng từ carefully (cẩn thận)

trong câu Jo n d r fully op n d t door (Jo n n t ận m ử ) thì thấy nó

có 4 đặc tính: thứ nhất, nó không thay đổi theo số (number), theo giống (gender), theo

cách (case); thứ hai, nó bổ nghĩa cho động từ; thứ ba, nó có thể được lượt bỏ mà

không làm thay đổi nghĩa của câu; thứ tư, nó nằm ở vị trí dành cho trạng từ Các đặc

tính nêu trên đều là những đặc tính của trạng từ Tuy nhiên những đặc tính này vẫn

còn phải bàn

Thứ hai, trạng từ là bất biến (invariable) về hình thức Điều này có nghĩa là

trạng từ không thay đổi theo số (number), theo giống (gender), theo cách (case)

Như vậy là với đặc tính này thì nó cũng giống danh từ và tính từ

Thứ ba, trạng từ bổ nghĩa cho động từ (verb) Trong câu John had carefully

op n d t door (Jo n đã n t ận m ử ), thì trạng từ carefully (cẩn thận) bổ

nghĩa cho động từ open (m ử ) Trạng từ này đã chỉ ra cách thức mà John mở cửa Tuy nhiên không phải John lúc nào cũng mở cửa n t ận (carefully) mà chỉ trong trường hợp cụ thể này thì John mới mở cửa n t ận, cho nên người ta sẽ thấy rằng trạng từ carefully không chỉ bổ nghĩa cho động từ opened mà là bổ nghĩa cho toàn bộ cụm động từ opened the door Trong câu ―Briefly, he will meet

m (Nói n ắn n, n t sẽ ặp t i) thì trạng từ bri fly (n ắn n) bổ nghĩa cho

toàn bộ mệnh đề theo sau nó chứ không chỉ bổ nghĩa cho động từ m t ( ặp) Cho

nên kết luận rằng trạng từ không chỉ bổ nghĩa cho động từ mà nó bổ nghĩa cho cụm động từ hoặc toàn bộ mệnh đề

Thứ tư, trạng từ là không bắt buộc (optional) Trong những câu sau đây nếu

bỏ trạng từ thì về mặt ngữ pháp câu vẫn đúng: John had carefully opened the door

(Jo n đã n t ận m ử ) hoặc Briefly, he will certainly meet me here (Nói

n ắn n, n t ắ ắn sẽ ặp t i) Như vậy trong những trường hợp này thì

trạng từ là không bắt buộc Tuy nhiên trong câu Jo n liv d r (Jo n sốn

đ y), thì trạng từ here (ở đây) là bắt buộc phải có Vậy từ here trong câu trên có

phải là trạng từ không? Những trường hợp như vậy của trạng từ phải tìm cách giải thích khác

Thứ năm, về vị trí trạng từ Trong tiếng Anh vị trí giữa câu là vị trí của trạng từ Khu vực của trạng từ là giữa động từ nguyên mẫu (nonfinite verb) và động từ được chia, hay còn gọi là động từ biến ngôi (finite verb) Như vậy câu

John had carefully opened the door là đúng ngữ pháp Tuy nhiên trạng từ đôi khi

không cần phải đứng giữa câu mà có thể đứng ở những vị trí khác như là cuối câu

như trong ví dụ John had opened the door carefully Nói tóm lại vị trí của trạng từ

là uyển chuyển

Thứ sáu là sự đồng thuận của các đặc tính của trạng từ Không có đặc tính nào được đề cập bên trên vừa thỏa mãn điều kiện cần và điều kiện đủ để đáp ứng các tiêu chí của trạng từ Tuy nhiên một vài trường hợp được nói đến bên trên có thể đáp ứng tính điển hình của trạng từ Tùy theo từng ngôn ngữ mà một trạng từ có thể

là bất biến (invariable), bổ nghĩa cho hầu hết các từ loại khác, có thể là không bắt

Trang 29

buộ (optional), và tuân theo giới hạn về trật tự từ Trong bất kỳ trường hợp nào

cũng đều có sự đồng thuận lớn vượt ra ngoài lý thuyết (crosstheoretical consensus)

về việc khi nào một từ được xem là một trạng từ Dù vậy sự đồng thuận này không

phải là tuyệt đối Chẳng hạn như có sự phân biệt giữa trạng từ (adverb) và tiểu từ

(particle) Trong những câu sau thì từ v n (t ậm í) và just (hoàn toàn) không

phải là trạng từ mà là tiểu từ: Even John was there (Cả Jo n đã đó) và He just

won’t list n (An ấy oàn toàn k n n )

Thứ bảy là phổ niệm (universality) hay tính phổ biến về trạng từ Người ta

biết rất ít về phổ niệm và cách dùng của trạng từ Trong tiếng Anh những cấu trúc

như là The soup tastes terrible (món súp này ó v d k ủn k iếp) thì không cần có

trạng từ Từ t rribl (k ủn k iếp) là một tính từ dễ nhầm lẫn và nó không thể thay

bằng trạng từ t rribly (một k ủn k iếp)

Những đặc tính trên của trạng từ giúp phân biệt trạng từ với những từ loại

khác Ngoài ra nó còn giúp nhận người học diện và hiểu rõ chức năng của trạng từ

trong câu Tuy nhiên trong số 7 đặc điểm của trạng từ thì có 6 đặc điểm giống với

tính từ Điểm khác biệt giữa trạng từ và tính từ tiếng Anh là trạng từ bổ nghĩa cho

động từ còn tính từ bổ nghĩa cho danh từ Trong những trường hợp trạng từ và tính

từ có hình thức trùng nhau thì đây là tiêu chí để phân biệt hai từ loại này Ví dụ:

―She is a hard worker và ―she works hard Trong câu đầu tiên hard là tính từ,

trong câu thứ hai hard là trạng từ

2.1.2 Phương thức cấu tạo trạng từ tiếng nh

Người ta thường nhận diện trạng từ bởi phần đuôi –ly, nghĩa là bất cứ từ nào

có đuôi –ly thì đều được xem là trạng từ Nhưng thật ra một số trạng từ khác xa so

với sự nhận diện này Có 4 dạng trạng từ:

2.1.2.1 Trạng từ đơn (Simple adverbs)

Những trạng từ đơn là những từ đơn không được hình thành bằng cách

ghép nối hay bằng cách thêm phụ tố Chẳng hạn như là often (t ờn xuyên), well

(k ỏ ), too ( ũn vậy), rather ( ơi, k ), quite ( ẳn là), soon (sớm) và here (

đ y) Những trạng từ đơn có quan hệ với những từ loại khác Ví dụ như fast

(nhanh) và long (dài) có thể là những tính từ: down (d ới), round (tròn), up

(trên), below (bên d ới), over (bên trên), in (bên trong), above (bên trên) có thể

được dùng như giới từ; today (hôm nay) và tomorrow (ngày mai) có thể được

dùng như những danh từ Ngoài ra còn có những trạng từ đơn bắt nguồn từ những trạng từ kép nhưng nghĩa độc lập của hai phần thì không còn rõ ràng nữa, ví dụ

như từ already (sẵn sàn ), indeed (t ự sự)

2.1.2.2 Trạng từ láy

Những trạng từ láy là những trạng từ được hình thành bằng phương thức láy

Số lượng trạng từ láy trong tiếng Anh không nhiều, chỉ có vài từ Các dạng láy của

trạng từ như là láy thường: pitter-patter (có tiến b ớc, có tiếng rộn rã), láy âm đầu như là: pitapat (lộp độp, thình th ch), láy vần như là: holus-bolus (một ơi, một

mạch), willy-nilly (dù muốn dù không)

2.1.2.3 Trạng từ ghép (compound adverbs)

Những trạn từ ghép2

được hình thành bằng cách kết nối hai hay nhiều hơn

hai yếu tố thành một từ Những ví dụ về trạng từ ghép như là anyway (any + way) (dù sao đi nữa) , nowhere (no + where) (không nơi nào) và heretofore (here + to +

fore) (cho đến nay), sometimes (some + times) (thỉnh thoảng), anywhere (any + where) (bất kỳ nơi nào), everywhere (every + where) (ở mọi nơi), maybe (may + be)

(có lẽ) Và còn nhiều những trạng từ được hình thành theo cách này như là however

(tuy nhiên), moreover ( ơn t ế n ), nevertheless ( ơn t ế n ), somewhere (một nơi nào đó), nowhere (k n nơi nào), everywhere (m i mơi), elsewher (nơi k ), herewith (k m t o đ y), thereof (từ đó), whereabouts ( đ u vậy, p í nào), hereby (do đó, n ờ t ế) …

Một số trạng từ ghép là dạng rút ngắn của những cụm giới từ như là: downhill

(down + hill) (d ới đồi), downstairs (down + stairs) (dưới lầu), downstream (down

+ stream) (xuôi dòng) Những trạng từ được hình thành theo cách này như là

downtown (d ới p ố), downwind (t o iều ió), downriver (xuôi dòng), indoors (trong nhà), inland (trên đất liền), inshore (trên bờ), inside (bên trong), instead

2 Từ điển ODLT dictionary tại trang web http://www.odlt.org/ballast/compound_adverb.html đã định nghĩa

trạn từ kép (compound adverb hay còn được gọi là derived adverb) là trạng từ được hình thành từ hai hay

nhiều hơn hai từ mà kết nối với nhau không có dấu gạch ngang ở giữa

Trang 30

(thay vì), off-side (vi t v ), off-limits (b ấm k n đ lui tới), up-country (trong

nội đ ), upstate (tron tiểu b n ), overboard (xuốn biển), overhead (trên đầu),

overseas (trên biển), overnight (qu đêm), overall (toàn bộ), overland (toàn t ể),

overleaf ( tr n s u), overmuch (qu n iều)

A Trạng từ đƣợc hình thành bằng cách thêm hậu tố (-ly)

Nhiều trạng từ được hình thành bằng cách thêm hậu tố -ly vào tín từ chẳng

hạn như là trạng từ clearly được hình thành từ tính từ clear Hậu tố -ly trong tiếng

Anh được cho là có quan hệ với từ li trong tiếng Đức có nghĩa là iốn n

dạn hay iốn kí t ớ Tuy nhiên không phải tất cả những trạng từ tận cùng

bằng –ly là được hình thành bằng cách thêm –ly vào tính từ Một vài trạng từ bắt

nguồn từ những tính từ đã có đuôi –ly sẵn rồi, ví dụ như là weekly ( àn tuần),

fatherly (t n n ) Trong những trường hợp này trạng từ được hình thành

bằng cách không thêm gì vào tính từ Chúng ta có trạng từ weekly (hàng tuần) chứ

không có weekily, có trạng từ fatherly ( iốn ) chứ không có trạng từ

fatherlily

Trạng từ được hình thành bằng cách thêm hậu tố vào tính từ, dạng hiện tại phân

từ của động từ, dạng quá khứ phân từ của động từ, danh từ và giới từ

a) S hình thành trạng từ từ tính từ

Trạng từ thường được hình thành bằng cách thêm hậu tố -ly vào tính từ, ví

dụ: nice nice ly (dễ t ơn ), easy easi ly (dễ dàn ) careless carelessly… (bất

n) Những từ gốc tính từ khi được thêm vào hậu tố -ly thì trở thành trạng từ

Rất nhiều trạng từ được tạo thành từ những tính từ thêm hậu tố -ly như là

trạng từ cách thức, ví dụ: patient/patiently (một cách kiên nhẫn), careful/carefully

(cẩn thận), trạng từ năng diễn, ví dụ: usual/usually (một cách thường xuyên), trạng

từ mức độ, ví dụ: near/nearly (gần như, hầu như)

* Cách viết vần và hình thái của những trạng từ có tận cùng -ly

- Trạng từ cách thức (adverb of manner) được hình thành bằng cách thêm hậu tố

-ly vào tính từ thì có những trường hợp sau:

Khi tính từ tận cùng là -i thì người ta thường thêm vần - l vào trước khi

thêm hậu tố -ly, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner (trạng từ cách thức)

dramatic dr m ti lly (đột n ột) scientific s i ntifi lly (một k o ) specific sp ifi lly (một đặ bi t)

Khi tính từ tận cùng là -l và trước đó là một phụ âm thì người ta thường thay chữ - cuối cùng bằng chữ -y để tạo thành hậu tố -ly, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner

favorable f vor bly (t uận l i, tốt đẹp) humble umbly (k iêm n ờn ) simple simply (đơn iản)

Khi tính từ tận cùng là -l và trước đó là một nguyên âm thì người ta thường thêm ngay hậu tố -ly, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner

agile il ly (lẹ làn , l n l i) sole sol ly (đơn độ )

Ngoại trừ trường hợp tính từ whole thì được viết là:

Adjective Adverb of Manner

whole w olly (toàn bộ, oàn toàn)

Khi tính từ tận cùng là -ll thì người ta chỉ cần thêm -y vào sau, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner

dull dully (n u đần, lờ mờ) full fully (đầy)

shrill shrilly (the thé)

Khi tính từ tận cùng là -u , thì người ta thường bỏ - trước khi thêm hậu tố -ly, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner

due duly (đún đắn, đún iờ) true truly (đí t ự , t ự sự)

Khi tính từ tận cùng là -y và trước đó là một phụ âm thì người ta thường thay chữ -y bằng chữ -i trước khi thêm hậu tố -ly, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner

Trang 31

busy busily (bận rộn)

easy sily (dễ dàn )

happy happily (vui vẻ)

funny funnily (buồn ời)

Tuy nhiên trong trường hợp tính từ là shy (xấu ) và sly (ranh mãnh, láu cá) thì

chỉ cần thêm hậu tố -ly

Adjective Adverb of Manner

shy shyly (xấu , mắ ỡ)

sly slyly (ranh mãnh, láu cá)

coy oyly (bẽn lẽn, rụt r )

Khi tính từ tận cùng là -y và trước đó là một nguyên âm thì người ta thường

thêm hậu tố -ly vào sau tính từ, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner

coy coyly (xấu , rụt r )

grey r yly (u m, buồn)

Tuy nhiên trong trường hợp tính từ là gay thì chỉ cần đổi y thành i rồi thêm

hậu tố -ly, như là:

Adjective Adverb of Manner

gay ily (vui vẻ, o n ỷ)

Đối với các loại trạng từ khác cũng thường tận cùng bằng hậu tố -ly, ví dụ như

trạng từ năng diễn sau:

Adjective Adverb of Frequency (trạng từ năng diễn)

frequent fr qu ntly (t ờn xuyên)

rare r r ly ( iếm k i)

usual usu lly (t ờn )

* Những trạng từ không sử dụng hậu tố -ly có trạng từ cách thức, trạng từ địa

điểm, trạng từ thời gian và trạng từ năng diễn, những trạng từ này có cùng dạng với

tính từ, ví dụ:

Adjective Adverb of Manner

fast fast (nhanh)

hard rd (vất vả)

little little (ít) loud loud or loudly much mu (n iều)

Adjective Adverb of Location (trạng từ địa điểm)

far far (xa) high high (cao) low low (t ấp) near n r ( ần) wide wid (rộn )

Adjective Adverb of Time (trạng từ thời gian)

early rly (sớm) first first (tr ớ ết) late l t (trễ, muộn) long long (dài, lâu)

Adjective Adverb of Frequency (Trạng từ năng diễn)

daily daily (hàng ngày) monthly monthly (hàng tháng) weekly w kly ( àn tuần)

2 Những tính từ, hoặc danh từ có đuôi là -y

sẽ thành -ily

happy day (noun)

happily daily

3 Bỏ - và thêm -ly cho những tính từ có tận cùng là -l và trước đó là phụ âm

noble humble

nobly humbly

4 Thêm -ly cho những tính từ có tận cùng là

-l và trước đó là một nguyên âm

sole solely

Trang 32

duly trully

7 Những cụm từ tận cùng bằng -i thì chỉ

cần thêm hậu tố - lly

fantastic fantastically

b) S hình thành trạng từ từ hi n tại phân từ của động từ (present participle)

Trạng từ được hình thành bằng cách thêm hậu tố -ly vào dạng hiện tại phân

từ của một động từ, ví dụ:

Present participle Adverb

surprising surprisingly (n ạ n ên

Vì hiện tại phân từ của một động từ cũng là tính từ cho nên cách hình thành

trạng từ từ hiện tại phân từ cũng giống như cách hình thành trạng từ từ tính từ

c) S hình thành trạng từ từ quá khứ phân từ của động từ (past participle)

Trạng từ được hình thành bằng cách thêm hậu tố -ly vào dạng quá khứ phân

từ của một động từ, ví dụ:

Verb Past participle Adverb

assure assured assuredly ( ắ ắn)

affect affected affectedly (xú độn )

surprise surprised surprisedly (n ạ n iên)

Vì quá khứ phân từ của một động từ cũng có thể là tính từ cho nên cách

hình thành trạng từ từ quá khứ phân từ cũng giống như cách hình thành trạng từ

từ tính từ

d) S hình thành trạng từ từ danh từ và giới từ

Một số những hậu tố khác –ly có thể được thêm vào các tính từ và vào một số

danh từ và trạng từ để tạo thành những trạng từ chỉ phương hướng, ví dụ như:

Indian-fashion (theo kiểu Ấn Độ), American-style (theo kiểu Mỹ)…

Phần lớn những trạng từ được hình thành từ những danh từ bằng cách thêm những

hậu tố -wise, -ways,-ward, -wards, -wide vào sau những danh từ này

-Ward: có nghĩa là ―hướng về nơi hay hướng đã định trước‖, ví dụ: ―homeward‖

(hướng về nhà), onw rd ( ớn về p í tr ớ ), ft rw rds (s u đó)…

-Wards: có nghĩa là ―hướng về nơi hay hướng đã định trước‖, ví dụ:

―homewards‖, s w rds ( ớn về biển), b kw rds (về phía sau), forwards (về phía trước), northwards (về phương bắc), upwards (hướng lên)…

-Wide: có nghĩa là ―được áp dụng trong khoảng không gian cho trước‖, ví dụ:

n tionwid (rộn k ắp ả n ớ )

-Wise: có nghĩa là ―theo cách thức của‖, ví dụ: lo kwis (t o iều kim đồn ồ), rosswis (bắt éo/ éo n u), l n t wis (t o iều d ), t xwis (về vi t uế), profitwis (về vi l i n uận), busin sswis (về vi kin do n )

-Ways: có nghĩa là ―về phía‖, ví dụ: rossw ys (bắt éo/ éo n u),

l n t w ys (t o iều d ), sid w ys (qu một bên/về một p í )

Trạng từ có thể được hình thành từ những tính từ mà được hình thành từ danh từ Người ta đã chia kiểu hình thành này thành 3 nhóm:

Nhóm thứ nhất là nhóm trạng từ hình thành bằng cách thêm hậu tố -ly vào tính từ mà được hình thành bằng cách thêm hậu tố -al vào danh từ, ví dụ:

accident accident-al accident-al-ly (tình cờ) architecture architectur-al architectur-al-ly (thuộc kiến trúc) procedure procedur-al procedur-al-ly (theo thủ tục) suicide suicid-al suicid-al-ly (tự tử, tự vẫn)

(Trích trong Dixon, R.M.W, (2005), A Semantic Approach to English Grammar,

Oxford textbook in linguistic, Oxford University Press.)

Nhóm thứ hai là nhóm trạng từ được hình thành bằng cách thêm hậu tố -ical

vào tính từ được hình thành từ danh từ, ví dụ:

NOUN ADJECTIVE ADJECTIVE ADVERB geography geograph-ic geograph-ic-al geograph-ic-al-ly (thuộc địa lý) poetry poet-ic poet-ic-al poet-ic-al-ly (thuộc thơ ca) geology — geolog-ical geolog-ical-ly (thuộc địa chất) history histor-ic histor-ic-al histor-ic-al-ly (thuộc lịch sử)

Trang 33

archaeology — archaeolog-ical archaeolog-ical-ly (thuộc khảo cổ học)

pedagogy pedagog-ic pedagog-ic-al pedagog-ic-al-ly (thuộc sư phạm)

(Trích trong Dixon, R.M.W, (2005), A Semantic Approach to English Grammar,

Oxford textbook in linguistic, Oxford University Press.)

Nhóm thứ ba là nhóm những trạng từ được hình thành từ những danh từ có

hậu tố -ics, sau đó bỏ -s và thêm –al để thành tính từ, và tính từ này thêm –ly để

thành trạng từ, ví dụ:

economic-s economic economic-al economic-al-ly (thuộc kinh tế)

politic-s politic politic-al politic-al-ly (thuộc chính trị)

linguistic-s linguistic — linguistic-ally (thuộc ngôn ngữ)

phonetic-s phonetic — phonetic-ally (thuộc ngữ âm)

mathematic-s — mathematic-al mathematic-al-ly (thuộc toán học)

(Trích trong Dixon, R.M.W, (2005), A Semantic Approach to English Grammar,

Oxford textbook in linguistic, Oxford University Press.)

Trạng từ có thể được hình thành từ những tính từ được hình thành bằng cách

thêm hậu tố -ful vào động từ,

ví dụ: forget (v), forgetful (a), forgetfully (adv) (hay quên)

regret (v), regretful (a), regretfully (adv)(hối hận)

B Trạng từ đƣợc hình thành bằng cách thêm tiền tố

Một số trạng từ tiếng Anh được hình thành bằng cách thêm tiền tố a-, in/out-

vào trước một danh từ, ví dụ:

- ‘ ’ + Noun → dv rb :

a + head → ahead (ở bên trên)

a + broad → abroad (ở nước ngoài)

a + sleep → asleep (buồn ngủ)

- In/out + Noun :

in + side → inside (bên trong)

out + side → outside (bên ngoài)

Tuy nhiên số lượng trạng từ được hình thành theo cách này chiếm số lượng không nhiều trong tiếng Anh

2.1.2.4 Những cụm từ cố định có chức năng nhƣ là trạng từ

Ngoài những cách hình thành trạng từ nêu trên còn có những cụm từ cố định được sử dụng như những trạng từ, những cụm từ này có cấu tạo là bất biến, không thay đổi, và những từ cấu thành hiếm khi giữ lại nghĩa ban đầu của nó Một số ví dụ

dạng này đó là of ours (dĩ n iên), kind of (đại k i là), và t l st ( uối ùn )

2.2 hức năng của trạng từ tiếng nh

Theo từ điển tiếng Anh Oxford Adv n d L rn r’s Di tion ry (2000) của

nhà xuất bản Oxford thì adverb (trạng từ) là từ cung cấp thêm thông tin về nơi chốn, thời điểm, cách thức, nguyên nhân, mức độ cho động từ, tính từ, trạng từ hay cụm trạng từ khác Như vậy chức năng chính của trạng từ là bổ nghĩa, cung

cấp thêm thông tin cho động từ, tính từ và những trạng từ khác

2.2.1 Bổ nghĩa cho t nh từ

Một trong những chức năng của trạng từ là bổ nghĩa cho tính từ giống như trong

những ví dụ sau: very good (rất tốt), awfully hungry (đói kin k ủn ) Những tính từ

mà trạng từ bổ nghĩa có thể là những tính từ đứng độc lập hoặc những tính từ bổ nghĩa cho danh từ, ví dụ:

- I was utterly, hopelessly, horribly l d ( i rất vui.)

- He is a deeply si k m n (Ôn ấy là một n ời b n nặn )

Thường thì những trạng từ đứng trước những tính từ mà nó bổ nghĩa, nhưng

việc đứng sau bổ nghĩa cũng có xảy ra Những trạng từ như enough (đủ) và ago

(tr ớ đ y) phải được đặt sau tính từ mà nó bổ nghĩa, nhưng những trạng từ khác

cũng được đặt sau:

- That seems so long ago ( đ y l u lắm rồi.)

- It is rich nutritionally with high calcium content

(Nó iàu ất din d ỡn với l n n xi bên tron rất o.)

2.2.2 Bổ nghĩa cho trạng từ khác

Những trạng từ cũng hoạt động như những bổ tố cho những trạng từ khác

như là: Very soon (rất sớm), awfully quickly (nhanh dễ sợ), y’ll fi ur it out

Trang 34

really fast (Họ sẽ hình dung ra điều đó rất nhanh), oddly enough (qu kỳ ụ ), very

well (rất tốt)

Ngoài ra còn có những cặp trạng từ song hành3

là những trạng từ luôn đi cùng với nhau thường thể hiện chất lượng hoặc là quy định một sự so sánh

Những cặp trạng từ song hành đó là: very much (rất n iều), much better (tốt ơn

n iều), much worse (t ơn n iều), much more (n iều ơn) và much less (ít ơn)

Dưới đây là những ví dụ cho những cặp trạng từ song hành trên

- O , you’r oin to do much better (Bạn sẽ làm tốt ơn n iều.)

- Thank you very much for listening.(Cảm ơn bạn lắng nghe.)

- It is much less easy for my study when I have these books

(Khi có nh ng quyển sách này thì vi c h c của tôi dễ dàn ơn n iều.)

2.2.3 Bổ nghĩa cho đ ng từ

Chức năng chính và quan trọng nhất của trạng từ mà theo tên gọi của nó đã

làm cho người ta liên tưởng đến đó là chức năng bổ nghĩa cho động từ Bởi vì trạng

từ adverb bao gồm hai phần ad- nghĩa là thêm vào, và -verb nghĩa là động từ, vì thế

adverb là từ thêm vào bổ nghĩa cho động từ ví dụ:

- He quickly jump d t puddl (An ấy n n ón n ảy qu vũn n ớ )

Câu hỏi đặt ra là anh ta đã nhảy qua vũng nước như thế nào? Câu trả lời là:

quickly (nhanh chóng) Động từ trong câu là động từ jumped (nhảy), và trạng từ là

quickly (nhanh chóng) đã thêm ý vào động từ để nói về cách mà chủ ngữ ―nhảy

qua vũng nước‖

Trạng từ có ch năn n ấn mạnh

Những trạng từ thường có chức năng như những từ nhấn mạnh, có thể nhấn

mạnh nhiều hay ít về một điều gì đó Những từ nhấn mạnh thường có 3 chức năng

3 Cần lưu ý là trong dịch thuật, thỉnh thoảng người ta có thể thêm từ hoặc bỏ bớt từ cho phù hợp với cách nói

của ngôn ngữ được dịch ra, ví dụ như câu nk you very much for list nin nếu dịch là ảm ơn bạn

rất n iều v đã lắn n thì người Việt nghe sẽ cảm thấy không được tự nhiên vì khi dùng từ ảm ơn bạn

rất n iều nghĩa là người được cảm ơn đã làm một điều gì đó rất tốn nhiều công sức, giúp ích nhiều cho

người nói, hoặc có ý nghĩa với người nói câu này Trong khi việc lắng nghe thì là một việc bình thường

không có ý nghĩa nghiều đối với người nói vì thế người ta thường bỏ bớt cụm từ rất n iều và thường hay

nói Cảm ơn bạn đã lắn n

khác nhau đó là: chức năng thứ nhất là nhấn mạnh (emphasize), chức năng thứ hai

làm tăng cường (amplify), và chức năng thứ ba là xuống giọng (downtone), ví dụ:

* Những trạng từ nhấn mạnh (emphasizers): là những từ được gạch chân trong những câu sau:

- I really don't believe him (Tôi thực sự không tin anh ta.)

- He literally wrecked his mother's car

(Đún là anh ấy làm hỏng chiếc xe của mẹ anh ấy.)

- She simply ignored me (Cô ấy chỉ phớt lờ tôi.)

* Những trạng từ làm tăng cường (amplifiers): là những từ được gạch chân trong những câu sau:

- The teacher completely rejected her proposal

( ầy i o hoàn toàn b bỏ lời đề n ủ ấy.)

- I absolutely refuse to attend any more faculty meetings

(Tôi tuy t đối từ ối t m dự n n uộ p tron k o )

- I so wanted to go with them (Vì t ế t i đã muốn đi với .)

- We know this city well (C ún t i biết t àn p ố này khá rõ.)

* Những trạng từ xuống giọng (downtoners): là những từ được gạch chân trong những câu sau:

- I kind of like this college ( i ần n t í tr ờn Đại này.)

- Joe sort of felt betrayed by his sister

(Jo ần n ảm t ấy b i p ản bội.)

- His mother mildly disapproved his actions

(N ời mẹ n ẹ n àn k n t n t àn n n àn độn ủ ậu ấy.)

2.2.4 Trạng từ bổ nghĩa cho những yếu tố khác

Ngoài việc bổ nghĩa cho tính từ, động từ và những trạng từ khác, thì những trạng

từ còn có thể là những bổ tố của những cụm danh từ (hoặc những bộ phận của những cụm danh từ), những cụm giới từ, tiểu từ, các số và các cách thức đo đạt, trạng từ có thể bổ nghĩa cho cả một câu

a Trạng từ bổ nghĩa cho nh ng cụm giới từ (prepositional phrases)

Một chức năng nữa của trạng từ là bổ nghĩa một giới từ Chúng ta hãy xem các ví dụ sau đây với các trạng từ được in đậm và giới từ được gạch chân

Trang 35

- You n’t o through here, can you?

(Bạn không thể đi băn qu đ y, đún k n ?)

- Its importance has often been recognized since then

(Tầm quan tr ng củ nó đã đ c nhận ra từ đó.)

b Trạng từ bổ nghĩa cho cả một câu

Những trạng từ này thường đứng ở đầu câu

- Obviously, I can't know everything (Rõ ràng là tôi không biết hết m i th )

Những trạng từ bổ nghĩa cho cả một câu được gọi là trạng từ tình thái Đó là những

trạng từ như: obviously (rõ ràn là), possibly ( ó t ể), rt inly ( ắ ắn)… Trạng từ

tình thái (modal adverb) được liệt kê theo cách phân loại của ngữ pháp chức năng

Loại trạng từ này được sử dụng để diễn tả thái độ người nói Tuy nhiên như đã nói

trong phần giới hạn đề tài của luận án việc phân loại trạng từ của chúng tôi là theo

ngữ pháp truyền thống và chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch trạng

từ cách thức còn vấn đề trạng từ tình thái là thuộc một phạm trù phân loại khác cho

nên chúng tôi sẽ trình bày về loại trạng từ này và cách dịch của chúng sang tiếng

Việt trong những nghiên cứu sau

c Trạng từ bổ nghĩa cho danh từ và cụm danh từ

Những trạng từ này có thể đứng trước hoặc sau danh từ hoặc cụm danh từ mà

nó bổ nghĩa

- The man over there is the doctor (N ời đàn n đằng kia là một b sĩ.)

- The concert tomorrow (Bu i hòa nhạc ngày mai)

- The room upstairs (Căn p òn trên lầu)

Trong những ví dụ trên thì trạng từ bổ nghĩa sau cho cụm danh từ

- It came as quite a surprise (Nó đến khá bất ngờ)

- Almost nobody, it seemed, could eat what they were given

(Hầu n k n ó i, d ờn n là vậy, có thể ăn n ng gì mà h đ o.)

Trong những ví dụ trên thì trạng từ bổ nghĩa trước cho cụm danh từ

Trạng từ bổ nghĩa cho danh từ để chỉ thời gian hoặc nơi chốn hoặc để nhấn mạnh

thường là những trạng từ mức độ

- We had quite ood tim (C ún t i đã ó một khoảng thời gian vui vẻ.)

- They're such good friends (H là nh n n ời bạn tốt.)

Những trạng từ như là: quite; rather; such; what (trong câu W t d y! ) có thể

được dùng theo cách này

d Trạng từ là bổ tố cho tiểu từ (particle)

- It really filled the room right up.(Nó thực sự đã tràn n ập ăn p òn )

Trong câu trên trạng từ là bổ tố cho tiểu từ (particle) up của cụm động từ phức (phrasal verb) filled up

e Trạng từ bổ nghĩa cho một từ hạn định (determiner)

- Exactly five men (chính x 5 n ời đàn n )

Khi làm bổ tố cho một từ hạn định thì hầu hết những trạng từ này là bổ nghĩa

đứng trước

f Nh ng trạng từ bổ nghĩa cho từ chỉ định, số và nh ng đại từ

(determiners, numerals, pronouns) Những trạng từ như vậy là almost (hầu hết);

nearly (gần n ); hardly (khó mà); about (khoảng),…

- Almost v rybody m in t nd (Cuối ùn ầu ết m i n ời đã đến.)

2.2.5 Những từ loại và những dạng cấu trúc thực hiện chức năng của trạng từ

a ụm giới từ ( prepositional phase)

Khi không có cụm trạng từ nào tận cùng bằng -ly có thể sử dụng được cho

điều ta muốn nói thì chúng ta có thể nghĩ đến việc dùng một cụm trạng từ, bắt đầu bằng một giới từ để nói đến cách thức của hoạt động:

- I came here by bus ( i đến đ y bằng xe buýt.)

- She answered me in a loud whisper

(Cô ấy trả lời tôi bằng cách rỉ tai nói lớn.)

Đôi khi chúng ta có thể dùng một cụm trạng từ hoặc một trạng từ đuôi -ly mà

nghĩa vẫn giống nhau, ví dụ:

- He left in a hurry/hurriedly (Hắn ta vội vã/hối hả r đi.) Trong câu trên, cụm từ in urry (vội vã) có nghĩa giống trạng từ urri dly (vội vã)

b ụm đ ng từ nguyên mẫu (infinitive phrase)

Trang 36

Những cụm động từ nguyên mẫu có thể thực hiện chức năng như những

trạng từ trong một số trường hợp, ví dụ

- We was playing to win (Chúng tôi ơi để giành chiến thắng.)

Trong câu trên, cụm động từ nguyên mẫu to win có chức năng như một

trạng từ chỉ mục đích

c Danh từ và cụm danh từ

Những danh từ và những cụm danh từ có thể thực hiện chức năng như những trạng

từ trong một số trường hợp, ví dụ

- I went downtown y st rd y (H m qu t i đã đến k u trun t m.)

Trong câu trên danh từ downtown (khu trung tâm) có chức năng của một trạng từ

Có rất nhiều danh từ và những cụm danh thực hiện chức năng như những

trạng từ tùy vào câu, ví dụ như là các từ: today (hôm nay), tomorrow (ngày mai),

y st rd y (n ày m qu ), turd y (t bảy), Frid y (t s u), l st y r (năm

n o i), n xt mont (t n s u), om ( n à), downtown ( k u trun t m t àn

p ố), Monday (t H i),…

- See you tomorrow! (Hẹn m i ặp lại!)

- See you Friday! (Hẹn t u ặp lại!)

- I'm going home.( i sẽ về n à.)

- I live downtown.( i sốn k u trun t m.)

d Mệnh đề

Một mệnh đề có thể thực hiện chức năng như những trạng từ trong một số trường

hợp, ví dụ chúng ta thử xem câu sau

- Ben called the president foolish when the White House proposed the trade

agreement (B n đã i t ng thốn là đồ ngốc khi Nhà Trắn đề xuất hi p đ nh

t ơn mại.)

- He was playing well, although he was very tired

(Anh ấy ơi rất tốt mặc dầu anh ấy rất m t.)

Trong các câu trên, mệnh đề when the White House proposed the trade agreement

(k i N à rắn đề xuất i p đ n t ơn mại) là một trạng từ chỉ nguyên nhân Mệnh

đề lt ou w s v ry tir d (mặ dầu n ấy rất m t) là mệnh đề hạn định

e Mệnh đề không hạn định

Những mệnh đề không hạn định có thể thực hiện chức năng như những trạng từ

trong một số trường hợp, ví dụ:

- Being captain of the team, he plays to win

(Là đội tr n , n t ơi để iàn iến t ắn )

- When urged by his friends, he agreed to play again

(Đ bạn b k í l n t đồn ý ơi lại.)

Being captain of the team (là đội tr n ) là một mệnh đề dạng –ing, When urged by

is fri nds (Đ bạn b k í l ) là một mệnh đề dạng –ed Đây là những mệnh đề

không hạn định có chức năng như những trạng từ

f Mệnh đề không có đ ng từ

Những mệnh đề không có động từ có thể thực hiện chức năng như những trạng từ trong một số trường hợp, ví dụ chúng ta thử xem câu sau

- He was playing, unaware of the danger

(An ấy ơi mà k n n ận t ấy n uy iểm.)

Trong ví dụ trên mệnh đề không có động từ unaware of the danger (n ận t ấy n uy

iểm) có chức năng như là trạng từ bổ nghĩa cho động từ pl y ( ơi)

Tóm lại có nhiều từ loại và cấu trúc khác nhau thực hiện chức năng của một trạng từ vì thế người học hay bị nhầm lẫn Tuy nhiên khi phân tích ngữ pháp thì chúng

ta sẽ thấy rõ chức năng của từng phần trong câu Để biết được chức năng của một từ thì người ta thường đặt nó trong mệnh đề, trong câu hay trong ngữ cảnh

2.3 Vị trí của trạng từ tiếng Anh 2.3.1 Khái quát vị trí của trạng từ tiếng Anh trong câu

Trạng từ trong tiếng Anh có thể bổ nghĩa cho độn từ, tín từ và những

trạn từ khác Vì chúng có quá nhiều chức năng và chúng có xu hướng bổ nghĩa

cho những từ đứng ở vị trí gần chúng nhất, nên thỉnh thoảng chúng được đặt ở những vị trí khác nhau để truyền đạt chính xác ý mà người nói muốn truyền đạt

Điều này đúng với một số trạng từ như also ( ũn vậy), just (vừ mới), và only

( ỉ) Những câu có nhiều hơn một động từ có thể gây khó khăn cho người sử

dụng Chúng ta thử xét câu sau để xem trạng từ rapidly (nhanh chóng) bổ nghĩa

cho động từ nào trong câu:

Trang 37

- His insistence that the new sales plan should be implemented rapidly

in r s d t omp ny’s profits

(Ôn ấy k ăn k ăn rằn kế oạ kin do n mới nên đ t ự i n

n n ón để làm tăn l i n uận n ty.)

( rí tron Lon m n Gr mm r of pok n nd Writt n En lis ,1999,)

Trong câu trên có hai động từ implemented (thực hiện) và increased (làm

tăng), vậy trạng từ rapidly (nhanh chóng) bổ nghĩa cho động từ nào? Để biết điều

này thì chúng ta phải xem những câu đứng trước đã tạo ra ngữ cảnh gì thì mới có

thể biết trạng từ đó bổ nghĩa cho động từ nào, không thì chúng tạo ra sự mơ hồ về

nghĩa Để tránh sự mơ hồ về nghĩa tốt hơn là nên viết lại câu này Chúng ta có hai

cách viết lại câu trên như sau:

- His insist n on impl m ntin t n w s l s pl n us d t omp ny’s

profits to increase rapidly (Ôn ấy k ăn k ăn về vi t ự i n kế oạ kin

do n mới làm o l i n uận n ty tăn lên n n ón )

hoặc là:

- Because he insisted on rapid implementation of the new sales plan, the

omp ny’s profits in r s d.(B i v n ấy đã k ăn k ăn về vi t ự i n

n n kế oạ kin do n mới, nên l i n uận n ty tăn lên n n ón )

(Trích trong, Longman Grammar of Spoken and Written English (1999))

Do vậy vị trí của trạng từ ảnh hưởng nhiều đến ý nghĩa của câu Đặc biệt là khi

trạng từ đứng ở đầu câu thì nó thường được đi theo sau bởi một dấu phẩy (,):

- Suddenly, the train started moving.(Đột n iên, x lử uyển b n )

Nhiều trạng từ đứng ở vị trí đầu câu bổ nghĩa cho toàn bộ câu chứ không

phải chỉ bổ nghĩa cho một động từ, ví dụ:

- Fortunately, Higgins survived the ordeal

(M y mắn t y, Hi ins đã sốn sót qu t ử t )

- Frankly, t Bruins don’t st nd n in t pl yoffs

( ẳn t ắn mà nói t n à Bruins k n ó ơ ội tron i p p ụ đ u)

Chúng ta có thể đặt những trạng từ ở những vị trí khác nhau trong câu

Thường thì trạng từ có ba vị trí chính trong câu: đầu câu, giữa câu và cuối câu

Nghĩa là nó có thể đứng ở bất kỳ vị trí nào trong câu, ví dụ:

(K n m y t y, ún t i k n n n t ấy đỉn nowdon.)

- The children often rid t ir bik s.(N n đ trẻ t ờn đi x đạp.)

- Andy read a comic yesterday .(Andy đ một quyển truy n tr n n ày m qu )

Trong các câu trên chúng ta thấy rằng trạng từ unfortunately (không may

t y), oft n (t ờn xuyên), y st rd y (n ày m qu ) lần lượt đứng ở các vị trí đầu

câu, giữa câu và cuối câu

2.3.2 Vị tr của trạng từ theo sách ngữ pháp phổ thông 2.3.2.1 Vị tr của trạng từ theo từng loại

C s n p p tiến An ủ n à xuất bản Lon m n, Cambridge, Oxford: n là English Grammar in Use ủ R ymond Murp y (2004) NXB Cambridge University Press; Practical English Usage ủ Mi l w n (2005) NXB Oxford University Press; The Essential English Grammar, ủ Al x nd r (1993), Longman; Longman Grammar of Spoken and Written English, ủ Bib r (1999), Longman; Current English Grammar, ủ C lk r, (1992), M mill n Publisher Limited… đều có những cách phân loại trạng từ khác nhau trong đó có 5

loại căn bản mà sách nào cũng có là: trạn từ t (adverb of manner) (như là

slowly (từ từ), r fully ( n t ận), wfully (k ủn k iếp)…, trạn từ đ điểm

(adverb of place) (như là: here (ở đây), there (ở đó), behind (đằng sau),…), trạn từ

t ời i n (adverb of time) (n là: r ntly ( ần đ y), now (b y iờ), t n (lú đó), yesterday (ngày hôm qua)), trạn từ năn diễn (adverb of frequency) (như là:

lw ys (lu n lu n), n v r (k n b o iờ), s ldom ( iếm k i), usu lly (lu n lu n), trạn từ m độ (adverb of degree) (như là: almost (hầu như), barely (hầu như

không), enough (đủ/khá), hardly (khó mà), quite (hoàn toàn, hẳn), somewhat (phần nào)) Ngoài 5 loại trạng từ kể trên thì có sách có thêm trạng từ câu (sentence

adverb), ó s ó t êm trạng từ nối (linking adverb hay connecting adverb), trạng

từ quan hệ (relative adverb), ó s ó t êm trạn từ chỉ sự bình luận (adverb of comment)

Theo Asher [106; tr.43] thì có nhiều khái niệm khác nhau được trạng từ và trạng ngữ diễn đạt như là thời gian (time), nơi chốn (place), cách thức (manner),

Trang 38

điều kiện (condition), nguyên nhân (cause)… Những khái niệm này được phân

loại thành nhiều cách khác nhau Tuy nhiên thời gian, nơi chốn, và cách thức

được xem là những khái niệm căn bản hơn những khái niệm còn lại, bởi vì khái

niệm thời gian, nơi chốn, cách thức có thể được diễn đạt bởi những trạn từ một

n v k n ó tín ồi ỉ (monomorphemic, nonanaphoric adverbs), ví dụ như

here (ở đây), now (bây giờ), fast (nhanh)

Dixon [123; tr.381] đã chia trạng từ thành hai dạng (form) cơ bản Một

dạng là những trạng được hình thành bằng cách thêm hậu tố -ly vào tính từ mà vẫn

duy trì được nghĩa (hay nét nghĩa chính) của tính từ, ví dụ: quickly (nhanh chóng),

rud ly (t lỗ), n rrowly ( ẹp, t iển ận), simply (đơn iản), prob bly ( ó t ể)

Và dạng kia (là phần còn lại) được chia thành hai loại nhỏ hơn Thứ nhất là những

trạng từ có hậu tố -ly nhưng có nhĩa khác với trạng từ đó mà không có hậu tố -ly

Thứ hai là những trạng từ không có hậu tố -ly Hầu hết những trạng từ này không

thể phân nhỏ hình vị ra được, nghĩa là nó chỉ có một hình vị; ví dụ: quite (khá),

just (vừ mới), v n (t ậm í), lso ( ũn vậy) Trong dạng này còn có trạng từ

thời gian (time adverb) như là still (vẫn òn), now (b y iờ), soon (sớm), t n (s u

đó) và trạng từ không gian (spatial adverb) như là r ( đ y) và out (bên ngoài)

Ngoài ra còn có những trạng từ khác trước đây thì có thể phân tích được thành

những từ riêng lẻ nhưng trong tiếng Anh ngày nay thì không phân tích được như là

lmost ( ầu n ), som w t ( ơi), tod y ( m n y), tomorrow (n ày m i),

yesterday (hôm qua)

Các trạng từ thường bổ nghĩa cho động từ Trong một câu cũng có thể có nhiều

trạng từ Tùy theo loại động từ mà những trạng từ có trật tự khác nhau

Động từ được chia thành hai loại: động từ di chuyển và động từ không phải

là động từ di chuyển Động từ di chuyển là những động từ thể hiện sự chuyển động

như là: om (đến), driv (l i x ), o (đi), mov (di uyển), run ( ạy)… Những

động từ không phải là động từ di chuyển như là: r d (đ ), sl p (n ủ), study

(n iên u)…

Đối với động từ di chuyển thì trạng từ được sắp xếp theo vị trí: trạng từ địa điểm

 trạng từ cách thức  trạng từ thời gian, ví dụ: she went there hastily yesterday

(H m qu , ấy đã vội vã đi đến đó.) Trong ví dụ trên thì went (dạng quá khứ của

động từ to go) là động từ di chuyển cho nên trật tự của các trạng từ theo sau nó là: there

(đằn đó) là trạng từ địa điểm, stily (vội vã) là trạng từ cách thức và yesterday (ngày hôm qua) là trạng từ thời gian

Trạng từ địa điểm (Adv of place)

Trạng từ cách thức (Adv of manner)

Trạng từ thời gian (Adv of time)

Cô ấy đã đi tới

đó vội vã n ày m qu

Đối với động từ không phải là động từ di chuyển thì trạng từ sắp xếp theo vị

trí: trạng từ địa điểm  trạng từ cách thức  trạng từ thời gian, ví dụ: Barbara

read quietly here yesterday (H m qu , B rb r đ s lặn lẽ đ y) Trong ví

dụ trên thì r d (đ ) (dạng quá khứ của động từ to read) là động từ không phải là động từ di chuyển cho nên trật tự của các trạng từ theo sau nó là: qui tly (lặn lẽ) là trạng từ cách thức, r ( đ y) là trạng từ địa điểm, và yesterday (ngày hôm qua) là

trạng từ thời gian

Trạng từ cách thức (Adv of manner)

Trạng từ địa điểm (Adv of place)

Trạng từ thời gian (Adv of time)

Barbara đọc

sách

Sau đây là bảng tóm tắt Trật tự của những trạng từ theo sau một động từ

2.3.2.2 Vị tr của trạng từ theo chức năng

Như đã nói bên trên trạng từ là những từ bổ nghĩa cho độn từ, tín từ và

trạn từ k Như vậy chức năng của trạng từ là bổ nghĩa cho độn từ, tín từ và

Trang 39

trạn từ k Vị trí thường thấy của trạng từ là trước động từ thường hoặc sau trợ

động từ và động từ to be, ví dụ:

a I often visit t libr ry ( i t ờn đến t vi n.)

b It is surprisingly hot tod y (H m n y trời nón đến kin n ạ )

c The train travels very quickly (X lử đi rất n n )

Trong câu (a) trạng từ often (t ờn t ờn ) bổ nghĩa cho động từ visit (đến

t ăm) Trong câu (b) trạng từ surprisingly (n ạ n iên, kin n ạ ) bổ nghĩa cho tính

từ hot (nóng) Trong câu (c) trạng từ very (rất) bổ nghĩa cho trạng từ quickly

(nhanh)

Sau đây chúng tôi sẽ phân tích vị trí của các trạng từ khi bổ nghĩa cho động

từ, tính từ và các trạng từ khác

a Vị tr của những trạng từ bổ nghĩa cho t nh từ và trạng từ khác

Những trạng từ bổ nghĩa cho tính từ và những trạng từ khác thường đứng trước từ

mà nó bổ nghĩa, ví dụ:

- The package is extremely large (Ki n hàng này quá lớn.)

- We experienced relatively few difficulties

(C ún t i đã trải qua một vài k ó k ăn)

- Buses depart quite regularly (Xe buýt kh i àn k đều đặn.)

Trong những ví dụ trên những trạng từ được gạch dưới thì đứng ngay trước

từ mà nó bổ nghĩa như là trạng từ extremely (cực kỳ) bổ nghĩa cho tính từ large

(lớn), relatively (có liên quan) bổ nghĩa cho tính từ few (một vài), và trạng từ quite

khá) bổ nghĩa cho trạng từ r ul rly (đều đặn)

Tuy nhiên cũng có ngoại lệ đối với những trạng từ Chẳng hạn như trạng từ

ago (tr ớ đ y) và enough 4 (đủ) là những ngoại lệ, vì chúng thường theo sau trạng

từ và tính từ mà chúng bổ nghĩa, chẳng hạn như:

- That happened long ago (Chuy n đó xảy r đã l u lắm rồi.)

4 Cần lưu ý rằng khi enough được dùng như là một tính từ bổ nghĩa cho một danh từ thì nó đứng trước danh

từ đó, chẳng hạn như trong ví dụ sau thì tính từ enough đứng trước danh từ apples

- Do we have enough apples to make a pie?

(Chúng t ó đủ t o để làm bánh không?)

- He is old enough to make his own decisions

(Cậu ấy đã đủ lớn để tự đ r quyết đ nh của riêng mình.)

- We ran fast enough to catch the bus

(Chúng ta có thể chạy đủ n n để bắt k p đ c xe buýt.)

Trong những ví dụ trên trạng từ ago (tr ớ đ y) và enough (đủ) theo sau những từ mà chúng bổ nghĩa Ago bổ nghĩa cho trạng từ long (lâu), và enough bổ nghĩa cho tính từ old (lớn tu i) và trạng từ fast (nhanh)

Khi ago 5 được dùng với danh từ thì nó theo sau danh từ đó, chẳng hạn trong

ví dụ sau ago theo sau danh từ months

- That happened six months ago (Chuy n đó đã xảy r 6 t n tr ớc.)

* Trạng từ nhấn mạnh Một trạng từ được dùng để bổ nghĩa cho tính từ và trạng từ khác mà không

được dùng để bổ nghĩa cho động từ thì được gọi là trạn từ n ấn mạn Trong

những ví dụ sau những trạng từ nhấn mạnh được in đậm

- I am very happy (Tôi rất hạnh phúc.)

- The film was quite good (Bộ phim khá hay.)

- You did that rather well (Bạn đã làm k tốt.)

- Must you leave so soon? (Cháu phải đi sớm n vậy à?)

- I entirely r ( i oàn toàn đồng ý.) Trong những ví dụ trên very (rất) bổ nghĩa cho tính từ happy ( ạn p ú ),

quite (khá) bổ nghĩa cho tính từ good (tốt), rather (khá) bổ nghĩa cho trạng từ well (tốt), và so (quá) bổ nghĩa cho trạng từ soon (sớm) (Phần phụ lục sẽ cung cấp danh

sách những trạng từ nhấn mạnh hay được sử dụng), ví dụ:

- The film was really good (Bộ phim rất hay.)

- You did that really well (Bạn đã làm rất tốt.)

- The information is terribly confusing (Tin này làm bối rối vô cùng.)

- Justin is a particularly good worker.(Justin là một công nhân giỏi đặc bi t.)

- I really ppr i t ll you’v don for m

5 Lý do cho điều này được tìm thấy trong lịch sử tiếng Anh Ago, trước đây được viết là agone, có nguồn gốc

là một quá khứ phân từ

Trang 40

(Tôi thực sự đ n i o tất cả nh n n đã làm o t i.)

Bảng 2.3.2.2a: Trật tự trạng từ trong ngữ t nh từ tiếng nh

từ enough

Trong bảng trên thì các cột có ý nghĩa sau:

a Trạng từ chỉ quan điểm: surprisin ly (đ n kin n ạ )

b Trạng từ chỉ nhấn mạnh: xtr m ly ( ự kỳ), f irly (k ), quit (k ), r t r ( ơi, k ),

so (qu ), too (qu ), v ry (rất), pr tty (k , k k ), ind d (rất, lắm), xtr m ly ( ự kỳ),

enough: là trạng từ đứng sau bổ nghĩa cho tính từ

Bảng 2.3.2.2b: Trật tự trạng từ trong ngữ trạng từ tiếng nh Chủ từ ộng từ A Trạng từ cần bổ

nghĩa

b

Buses depart quite regularly

Trong bảng trên thì các cột có ý nghĩa sau:

a Trạng từ nhấn mạnh: xtr m ly ( ự kỳ), fairly (khá), quite (k ), r t r ( ơi,

khá), so (quá), too (quá), very (rất),

b Những trạng từ đứng sau bổ nghĩa cho trạng từ khác: ago (tr ớ đ y), enough

(đủ)

b Vị trí của trạng từ bổ nghĩa cho đ ng từ

Trong bảng dưới đây sẽ có những ví dụ về 4 loại trạng từ được dùng để bổ

nghĩa cho động từ Những loại trạng từ đó là: trạn từ năn diễn, trạn từ

t , trạn từ đ điểm, trạn từ t ời i n

Trạng từ năng diễn

Trạng từ cách thức

Trạng từ địa điểm

Trạng từ thời gian

frequently eagerly forward late

Trật tự của những trạng từ theo sau hai loại động từ (di chuyển và không di chuyển)

là giống nhau chỉ khác nhau về vị trí trước sau của trạn từ đ điểm và trạn từ

t

Dưới đây là bảng tóm tắt trật tự trạng từ bổ nghĩa cho động từ trong tiếng Anh

Bảng 2.3.2.2c: Trật tự trạng từ trong ngữ đ ng từ tiếng nh

A Chủ từ B c ộng từ Tân ng d e f g

Ngày đăng: 04/08/2016, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.1.1: Bảng tóm tắt 8 từ loại trong tiếng  nh - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 1.1.1.1 Bảng tóm tắt 8 từ loại trong tiếng nh (Trang 17)
Bảng 1.1.2.1:  Tóm tắt từ loại tiếng Việt theo cách phân loại của sách - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 1.1.2.1 Tóm tắt từ loại tiếng Việt theo cách phân loại của sách (Trang 22)
Hình thành trạng từ từ quá khứ phân từ cũng giống như cách hình thành trạng từ - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Hình th ành trạng từ từ quá khứ phân từ cũng giống như cách hình thành trạng từ (Trang 32)
Bảng 2.4.1a: Trật tự phụ từ trong ngữ đ ng từ tiếng Việt - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 2.4.1a Trật tự phụ từ trong ngữ đ ng từ tiếng Việt (Trang 43)
Bảng 2.4.1b: Trật tự phụ từ trong ngữ t nh từ tiếng Việt  Chủ - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 2.4.1b Trật tự phụ từ trong ngữ t nh từ tiếng Việt Chủ (Trang 44)
Bảng 2.4.1c: So sánh trạng từ tiếng  nh và phụ từ tiếng Việt  Trạng từ tiếng Anh  Phụ từ tiếng Vi t - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 2.4.1c So sánh trạng từ tiếng nh và phụ từ tiếng Việt Trạng từ tiếng Anh Phụ từ tiếng Vi t (Trang 45)
Bảng 2.4.2:  So sánh trạng từ tiếng  nh và t nh từ tiếng Việt - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 2.4.2 So sánh trạng từ tiếng nh và t nh từ tiếng Việt (Trang 47)
3.1.1.2: Bảng tóm tắt s  thay đổi từ loại  khi dịch trạng từ năng diễn tiếng Anh sang tiếng Vi t - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
3.1.1.2 Bảng tóm tắt s thay đổi từ loại khi dịch trạng từ năng diễn tiếng Anh sang tiếng Vi t (Trang 59)
3.1.1.4: Bảng tóm tắt sự thay đổi từ loại  khi dịch trạng từ thời gian tiếng  nh sang tiếng Việt - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
3.1.1.4 Bảng tóm tắt sự thay đổi từ loại khi dịch trạng từ thời gian tiếng nh sang tiếng Việt (Trang 60)
3.1.1.5: Bảng tóm tắt s  thay đổi từ loại  khi dịch trạng từ mức độ tiếng Anh sang tiếng Vi t - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
3.1.1.5 Bảng tóm tắt s thay đổi từ loại khi dịch trạng từ mức độ tiếng Anh sang tiếng Vi t (Trang 60)
3.1.2.2: Bảng tóm tắt s  thay đổi vị trí khi dịch  trạng từ năng diễn tiếng Anh sang tiếng Vi t - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
3.1.2.2 Bảng tóm tắt s thay đổi vị trí khi dịch trạng từ năng diễn tiếng Anh sang tiếng Vi t (Trang 67)
3.1.2.4: Bảng tóm tắt s  thay đổi vị trí khi dịch   trạng từ thời gian tiếng Anh sang tiếng Vi t - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
3.1.2.4 Bảng tóm tắt s thay đổi vị trí khi dịch trạng từ thời gian tiếng Anh sang tiếng Vi t (Trang 71)
Bảng 3.2.1.1:  Biểu đồ thống kê ý kiến về cách dịch  trạng từ cách thức của sinh viên - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 3.2.1.1 Biểu đồ thống kê ý kiến về cách dịch trạng từ cách thức của sinh viên (Trang 74)
Bảng 4.2.2.2.1a:  ình thức so sánh  hơn và so sánh nhất - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 4.2.2.2.1a ình thức so sánh hơn và so sánh nhất (Trang 91)
Bảng 4.2.2.2.1b:  Bảng tóm tắt các hình thức so sánh của trạng từ - Khảo cứu việc dịch trạng từ tiếng Anh sang tiếng Việt (qua tác phẩm Harry Porter)
Bảng 4.2.2.2.1b Bảng tóm tắt các hình thức so sánh của trạng từ (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w