Cách tiếp cận này được biết đến như là một cách tiếp cận toàn diện dễ dàng kết hợp vào quan điểm hiện đại về chăm sóc bệnh nhân làm trung tâm, và các bệnh nhân như các đối tác trong việc
Trang 1KHOA TÂM LÝ HỌC
Mai Thị Hoài Thư
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TINH THẦN CHO BỆNH NHÂN SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TẠI TPHCM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Mai Thị Hoài Thư
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TINH THẦN CHO BỆNH NHÂN SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TẠI TPHCM
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: K38.611.109
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HUỲNH MAI TRANG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Trang 3y tế khoa Nội tim mạch – thần kinh, các BN&NCS bệnh nhân tai biến mạch máu não tại Viện Y Dược học Dân tộc TPHCM đã tạo điều kiện cho tôi thu số liệu thành công
Xin chân thành bạn bè và tập thể lớp Tâm lý học 4B đặc biệt là các bạn cùng làm khóa luận đã bên cạnh giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU vii
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
1.1.1 Nước ngoài 1
1.1.2 Trong nước 8
1.2 Cơ sở lý luận 13
1.2.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 13
1.2.2 Một số vấn đề lý luận có liên quan đến chăm sóc bệnh nhân TBMMN 19
1.2.3 Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân TBMMN 21
1.2.4 Một số phương pháp chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 31
Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TINH THẦN CHO BỆNH NHÂN SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO Ở MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1 Thể thức nghiên cứu 32
2.1.1 Mẫu nghiên cứu 32
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.1.3 Công cụ nghiên cứu 33
2.1.4 Tiến trình nghiên cứu 36
2.2 Kết quả nghiên cứu 37
Trang 52.2.1 Thực trạng nhận thức của các nhóm khảo sát 38
2.2.2 Thực trạng đánh giá của các đối tượng về chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN: 51
2.2.3 Thực trạng hoạt động chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 53
2.2.4 So sánh sự khác biệt theo các nhóm đối tượng khác nhau trong việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN: 58
2.3 Đề xuất biện pháp 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 71
Phụ lục 1 71
Phụ lục 2 83
Phụ lục 3: 89
Phụ lục SPSS 100
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1.Đặc điểm mẫu nghiên cứu 32Bảng 2.2Cách đánh giá điểm thang đo 5 mức độ 37Bảng 2.3 Cách đánh giá điểm thang đo 3 mức độ 37Bảng 2.4 Nhận định của nhóm y tế về việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN (N=13) 38Bảng 2.5 Nhận định của BN&NCS về việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN (N=22) 40Bảng 2.6 Nhận định của nhóm y tế về biểu hiện trao đổi, giao tiếp với bệnh nhân TBMMN (N=13) 41Bảng 2.7 Nhận định của nhóm y tế về biểu hiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân TBMMN 42Bảng 2.8 Nhận định của nhóm y tế về biểu hiện hỗ trợ nhu cầu tâm linh cho bệnh nhân TBMMN 43Bảng 2.9 Nhận định của nhóm y tế về biểu hiện liên quan đến vật lý trị liệu trong chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 44Bảng 2.10 Nhận định của BN&NCS về biểu hiện trao đổi với bệnh nhân TBMMN (N=22) 45Bảng 2.11 Nhận định của BN&NCS về biểu hiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân TBMMN 46Bảng 2.12 Nhận định của BN&NCS về biểu hiện hỗ trợ tâm linh cho bệnh nhân TBMMN 47
Trang 8Bảng 2.13 Nhận định của BN&NCS về biểu hiện liên quan đến vật lý trị liệu trong chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 48Bảng 2.14 Sự khác biệt mức độ nhận thức giữa nhóm y tế và BN&NCS 49Bảng 2.15 Số lựa chọn đúng về vật lý trị liệu cho bệnh nhân TBMMN 51Bảng 2.16 Mức độ đồng ý về ý kiến cho rằng bệnh nhân TBMMN được chăm sóc tinh thần một cách toàn diện 52Bảng 2.17 Đánh giá về mức độ hài lòng của bệnh nhân TBMMN trong việc được chăm sóc tinh thần 52Bảng 2.18 Mức độ hài lòng của nhóm y tế trong việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 53Bảng 2.19 Đánh giá chi tiết sự hài lòng nhóm khảo sát về những biểu hiện chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 54Bảng 2.20 Đánh giá mức độ cần thiết của các biểu hiện chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN theo các nhóm khảo sát 55Bảng 2.21 Đánh giá mức độ thường xuyên thực hiện việc chăm sóc tinh thần
và vật lý trị liệu theo các nhóm khảo sát 57Bảng 2.22 Sự khác biệt về mức độ hài lòng theoBN&NCS việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 59Bảng 2.23 Sự khác biệt về mức độ cần thiết của nhóm y tế trong việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN 60
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới WHO tại Mỹ mỗi năm có khoảng 795.000 người xảy ra đột quỵ, trong đó khoảng 610.000 là lần đầu tiên Đột quỵ là một trong 20 nguyên nhân gây ra tử vong hàng đầu tại Mỹ Đột quỵ do thiếu mãu não cục bộ là loại phổ biến nhất, trong đó chiếm khoảng 87%
Còn tại Việt Nam thì mỗi năm có hơn 200.000 người bị đột quỵ (TBMMN), hơn 50% trong số đó tử vong và 90% số người sống sót sau đột quỵ phải sống chung với các di chứng về thần kinh và vận động…Nghiêm trọng hơn, độ tuổi bị TBMMN đang dần trẻ hóa, từ 40 - 45 tuổi so với trước đây là 50 - 60 tuổi
Nếu những năm 90, toàn cầu có khoảng 25% số ca đột quỵ ở người 20 –
64 tuổi thì những năm gần đây, con số này đã tăng lên 31% Đáng lưu ý là những người ở độ tuổi 20, thậm chí trẻ hơn cũng đang có nguy cơ bị đột quỵ Hiện con số thống kê cho nhóm đối tượng này khoảng 83.000 người/ năm Một người sau TBMMN bị ảnh hưởng như thế nào phụ thuộc vào cơn đột quỵ của họ xảy ra ở đâu trên não và mức độ tổn thương của các tế bào não
Ví dụ, một người bị 1 cơn đột quỵ nhỏ thì chỉ có thể chỉ bị yếu tạm thời của một cánh tay hoặc chân Những người bị đột quỵ nặng thì có thể bị tê liệt vĩnh viễn ở một bên cơ thể của họ hoặc mất khả năng nói Một số người hồi phục hoàn toàn từ cơn đột quỵ, nhưng hơn 2/3 số người sống sót sẽ có một số loại khuyết tật
Qua những thống kê trên thì ta có thể thấy, bệnh đột quỵ hay còn gọi là TBMMN là một bệnh vô cùng nguy hiểm và để lại các di chứng nặng nề Gánh nặng của việc chăm sóc những người sau TBMMN đè nặng lên vai
Trang 10người thân và xã hội Do vậy, việc giúp phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN vô cùng cần thiết
Tác động đến việc phục hồi nhanh của bệnh nhân có thể do các phương pháp vật lý trị liệu và chăm sóc tinh thần
Nhưng thực tế hiện nay trong các cơ sở điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN thì chỉ tập trung vào các phương pháp vật lý trị liệu như: xoa bóp, kéo nắn, châm cứu… mà ít quan tâm đến những biến đổi tâm lý của bệnh nhân
Bệnh nhân sau TBMMN thường phải chịu cả những mất mát về vật chất lẫn tinh thần Bên cạnh tình trạng yếu liệt, giảm cảm giác hay rối loạn về nhận thức, bệnh nhân phải gánh tác động rất lớn về tâm lý Tâm lý con người có ý nghĩa quyết định đến quá trình phát sinh bệnh, và cả quá trình phát triển, tiên lượng, điều trị và chăm sóc Để chấp nhận những tổn thương sau TBMMN, bệnh nhân cần có hiểu biết và thời gian để thích nghi với nó Tác động của người cán bộ y tế một cách vô tình hay cố ý có thể làm thay đổi sự tiến triển bệnh và kết quả điều trị
Trên cơ sở đó, ta có thể thấy, quá trình chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân
là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả điều trị cho bệnh nhân Xuất
phát từ yếu tố trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Thực trạng chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau tai biến mạch máu não của một số cơ sở y tế tại Thành Phố
Hồ Chí Minh”
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau TBMMN ở một
số cơ sở y tế tại TP.HCM, rút ra kết luận
Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân sau TBMMN
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Bác sỹ, nhân viên y tế, người chăm sóc và bệnh nhân TBMMN tại một số cơ
sở y tế
Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau tai biến mạch máu não
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trong quá trình điều trị cho bệnh nhân sau TBMMN thì điều trị bằng các phương pháp vật lý trị liệu được sử dụng nhiều hơn so với việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích hệ, thống hóa cơ sở lý luận về chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN
Khảo sát thực trạng chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân sau TBMMN ở một số cơ sở y tế tại TP.HCM, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp tăng cường hơn nữa việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau TBMMN
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc
- Quan điểm thực tiễn
- Quan điểm lịch sử - logic
Trang 126.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp lý thuyết về việc chăm sóc tinh thần cho người sau TBMMN
Phân loại, hệ thống hóa lý thuyết cần nghiên cứu
Tổng hợp, khai thác các công tình khoa học đã được nghiên cứu, thực nghiệm đã được chứng minh…
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Thu thập ý kiến về phương pháp chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân sau TBMMN của các bác sỹ, y tá, bệnh nhân, người nhà của bệnh nhân ở một số
cơ sở y tế
- Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các dữ liệu thu được từ việc thu thập
ý kiến bằng các phương pháp thống kê xác suất Từ đó đưa ra kết luận
- Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn một số nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà về phương pháp chăm sóc tinh thần bệnh nhân ở một số cơ sở y tế
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nước ngoài
Việc chú ý tới sự ảnh hưởng của các yếu tố tinh thần trong điều trị bệnh cho các bệnh nhân đã được quan tâm từ lâu Bệnh nhân được chú ý chăm sóc tinh thần đầu tiên là những bệnh nhân hấp hối “hospice”
“Hospices” ban đầu là nơi yên nghỉ dành cho du khách trong thế kỷ thứ
4 Vào thế kỷ 19 một dòng tu đã thành lập “hospices” cho người sắp chết ở Ireland và London “Hospice” hiện đại là một khái niệm tương đối mới được bắt nguồn và phát triển trong Vương quốc Anh sau khi “St Christopher’s hospice” được thành lập vào năm 1967 Nó được thành lập bởi Dame Cicely Saunders, bà được coi là người sáng lập của hoạt động “hospice” hiện đại [44]
Mô hình truyền thống của chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ban đầu chỉ là một mô hình thuần y tế, tập trung nghiên cứu tiền sử của bệnh, tìm hiểu
cơ sở sinh lý của các triệu chứng, đưa ra các biện pháp để chữa khỏi bệnh, tiếp theo là đo lường kết quả Qua nhiều thập kỷ, mô hình này bộc lộ nhiều khuyết điểm
Theo tác giả Daniel P Sulmasy tổng hợp trong cuốn “Mô hình tâm sinh
lý – tâm linh cho chăm sóc bệnh nhân cuối đời” (A Biopsychosocial-Spiritual
Model for the Care of Patients at the End of Life):
Năm 1970, Ramsey đã đưa ra một yếu tố mới, ông cho rằng: “Mỗi người đều có một cái gọi là “tiền sử tinh thần” (spiritual history), nó sẽ được mở ra trong một bối cảnh tôn giáo rõ ràng Bất cứ khi nào cái “tiền sử tinh thần” được khơi gợi, nó sẽ giúp định hình con người như là một cá thể hoàn thiện Khi nào con người đó bị các căn bệnh tấn công thì căn bệnh đó sẽ ảnh hưởng lên toàn bộ con người
Trang 14George Engel (1977) đã đặt ra một tầm nhìn rộng lớn trong chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân bằng cách đưa ra mô hình tâm sinh lý của mình (biopsychosocial model) Mô hình này đưa ra giả định rằng sức khỏe và bệnh tật đều là kết quả của tác động lẫn nhau giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và các tác nhân môi trường, và cả 3 yếu tố đều quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật Mô hình hướng tới cả sức khỏe và bệnh tật chứ không chỉ tập trung vào bệnh tật như độ lệch từ một số trạng thái ổn định Mô hình này,
nó đặt bệnh nhân thẳng trong một mối quan hệ đó bao gồm các yếu tố tình cảm và trạng thái tâm lý khác mà bệnh nhân được xem như một con người, cũng như các mối quan hệ có ý nghĩa giữa bệnh nhân và những người xung quanh
White, Williamsvà Greenberg năm 1996 đã được giới thiệu một mô hình sinh thái về chăm sóc bệnh nhân trong đó có quan tâm đến môi trường sinh hoạt của bệnh nhân như là cơ sở của việc chăm sóc ban đầu cho bệnh nhân [28]
Michael Balint và những cộng sự đã mô tả một cách tiếp cận khác nhau
để xét bệnh nhân, đầu tiên với tư cách là một con người, trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng và nơi làm việc của họ Cách tiếp cận này được biết đến như là một cách tiếp cận toàn diện dễ dàng kết hợp vào quan điểm hiện đại về chăm sóc bệnh nhân làm trung tâm, và các bệnh nhân như các đối tác trong việc chăm sóc của họ Ngoài ra thì người mà trở nên không khỏe có những nhu cầu về xã hội và tâm lý Đáp ứng những nhu cầu này sẽ cải thiện sức khỏe của họ và giúp hồi phục Nhu cầu tâm lý và xã hội của bệnh nhân cũng cần phải được xem xét và giải quyết như là một phần của chăm sóc sức khỏe toàn diện [28] Việc chăm sóc tinh cho bệnh nhân còn được nghiên cứu
ở các lĩnh vực tâm linh Sự kết hợp của tôn giáo và tâm linh vào chăm sóc tâm lý là phù hợp với khuôn khổ tâm sinh lý từ nhiều nhà tâm lý học hoạt
Trang 15động Các quan điểm tâm sinh lý liên quan đến việc nhận ra các vấn đề của bệnh nhân rất đa dạng, có những khía cạnh sinh học, tâm lý và xã hội (Bakal, 1999)
Có các nghiên cứu về tác động của tâm linh lên sức khỏe tinh thần theo
bài viết “Vị trí của tâm linh trong việc chăm sóc tinh thần cuối đời” (The
Place of Spirituality in Psychological End of Life Care) của 2 tác giả Erin L Moss và Keith Dobson Các nhà nghiên cứu đã xác định tôn giáo như là một biến quan trọng trong sức khỏe tinh thần (Koenig & Larson, 2001) Một đánh giá toàn diện của Koenig, McCullough, & Larson (2001) chỉ ra rằng tôn giáo
có liên quan đến giảm tỷ lệ tự tử và thái độ tiêu cực hơn đối với hành vi tự tử Bài viết cũng đề cập đến các mối quan hệ giữa tâm linh và sức khỏe tâm thần xuất hiện đặc biệt quan trọng trong trường hợp cần chăm sóc giảm nhẹ Ví dụ, Brady, Peterman, Fitchett, Mo và Cella (1999) đã nghiên cứu chất lượng cuộc sống ở các cá nhân mắc bệnh ung thư hoặc HIV đã được chẩn đoán là tính mạng bị đe dọa và thấy rằng có sự tỉ lệ thuận giữa mức độ của tâm linh và khả năng chịu đựng đau đớn và mệt Nghiên cứu này cũng chỉ ra mối liên hệ ý nghĩa và tích cực giữa chất lượng cuộc sống và đời sống tinh thần Tương tự như vậy, Yates, Chalmer, St James, Follansbee, và McKegney (1981) nhận thấy rằng những bệnh nhân ung thư, bệnh nan y người mà có niềm tin vào Đấng tối cao, sự hiện diện của thế giới bên kia, sức mạnh của sự cầu nguyện có mức đau thấp hơn so với những bệnh nhân không có tín ngưỡng tâm linh mặc dù cả hai nhóm có mức độ đau tương tự
Cũng trong bài viết “Vị trí của tâm linh trong việc chăm sóc tinh thần
cuối đời” Tâm linh và tôn giáo cũng đã được tìm thấy có liên quan với sự lo
lắng và đau khổ ở mức độ thấp McClain, Rosenfeld, và Breitbart (2003) nhận thấy rằng đời sống tinh thần hạnh phúc được có tương quan nghịch với những nỗi lo lắng cuối đời như tuyệt vọng, mong muốn cái chết và ý tưởng tự sát
Trang 16Một nghiên cứu khác (Dervic và các cộng sự, 2004) đã chứng minh rằng những cá nhân có liên quan với tôn giáo có những nỗ lực đáng kể hơn trong việc giảm ý muốn tự tử và nhận thức được nhiều lý do để sống hơn so với các
cá nhân không có liên quan tới tôn giáo Khi bệnh nhân ở gần cuối của cuộc đời, một số có thể trở nên chán nản hay mất tinh thần, bộc lộ một mong muốn
có một cái chết sớm, do đó có thể có nguy cơ cao xảy ra tự sát Các bác sĩ phải nhận thức được thực tế rằng các triệu chứng tâm lý và những nỗi lo tinh thần thường là nguyên nhân dẫn đến suy nghĩ của một cái chết sớm ngay cả khi căn bệnh đã được điều trị hồi phục (Breitbart và các cộng sự, 2000).Gall, Charbonneau, Grant, Joseph, và Shouldice (2005) xem xét các tài liệu về mối quan hệ giữa nhận thức về Chúa, cách đối phó và giải quyết vấn đề, định hướng tôn giáo, và các kết quả liên quan sức khỏe khác nhau Họ báo cáo rằng nếu nhìn nhận về Chúa như là tình yêu thương thì có liên quan đến việc giải thích lại căn bệnh một cách tích cực, còn trong khi xem Thiên Chúa như
là trừng phạt thì có liên quan đến việc tăng cảm giác đau khổ khi đối mặt với một căn bệnh [30]
Theo Học viện Bác sĩ gia đình Mỹ (American Academy of Family Physicians) đánh giá tinh thần như bước đầu tiên để thực hiện việc kết hợp xem xét về tinh thần của bệnh nhân vào y học Các câu hỏi HOPE cung cấp một công cụ chính thức có thể sẽ được sử dụng trong quá trình này Các khái niệm HOPE bao gồm:
H-nguồn gốc của niềm hy vọng, sức mạnh, thoải mái, ý nghĩa, hòa bình, tình yêu và kết nối
O-vai trò của các tổ chức tôn giáo đối với bệnh nhân
P- vấn đề tâm linh cá nhân
E- ảnh hưởng của việc chăm sóc y khoa và quyết định cuối đời
[32]
Trang 17Một nghiên cứu thăm dò được thức hiện bởi một nhóm các nhà khoa học Timothy P Daaleman, Barbara M Usher, Sharon W Williams, Jim Rawlings
và Laura C Hanson của trường đại học Bắc Carolina, Mỹ (UNC) đã nghiên cứu định tính bằng cách sử dụng các cuộc phỏng vấn và phân tích chỉnh sửa với 12 bác sĩ và nhóm y tế khác, người mà được đề cử làm người chăm sóc tinh thần bởi bệnh nhân sắp chết và người nhà của họ cho ra kết quả chăm sóc tinh thần cho những bệnh nhân cuối đời có 3 quá trình: trao đổi, chia sẻ (being present), mở rộng, thấu hiểu (opening eyes); tương tác (cocreating) Những cuộc tiếp xúc, trao đổi, chia sẻ giữa người chăm sóc tinh thần và bệnh nhân là vấn đề nổi bật, trong đó có góp mặt về sự gần gũi về thể chất là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự giao tiếp của người chăm sóc và bệnh nhân, giúp
cho người chăm sóc có thể chú ý tới họ một cách toàn diện hơn “Openning
eyes” là quá trình mà người chăm sóc nhận ra và thấu hiểu những trải nghiệm
cá nhân của bệnh nhân bằng cách hiểu những quan điểm của bệnh nhân về bệnh của họ, kết hợp với quan điểm của gia đình và bạn bè của bệnh nhân Cuối cùng là quá trình tương tác giữa các bệnh nhân, người nhà và người chăm sóc để tạo ra một kế hoạch hoàn thiện giúp bệnh nhân chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đối mặt trước cái chết [41]
Một nghiên cứu khác được đăng trên tạp chí JCO (Journal of Clinical Oncology) số 28 ra ngày 20/1/2010, nghiên cứu được thực hiện trên 343 bệnh nhân sắp chết đã thu được kết quả: bệnh nhân được hỗ trợ phần lớn hoặc hoàn toàn các nhu cầu về tinh thần thì đánh giá chất lượng cuộc sống cuối đời tốt hơn so với những người không được hỗ trợ [42]
Theo một bài viết “Chăm sóc tinh thần được cung cấp bởi các y tá Thái
trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt” (Spiritual care provided by Thai nurses in
intensive care units) được đăng trên tạo chí JCN (Journal of Clinical Nursing)
số 19, phát hành 4/2010 đã cho ra kết quả: năm vấn đề có liên quan đến việc
Trang 18chăm sóc tinh thần: hỗ trợ tinh thần, tạo điều kiện cho các nghi lễ tôn giáo và tín ngưỡng văn hóa, giao tiếp với bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, đánh giá các nhu cầu tinh thần của bệnh nhân và cho thấy sự tôn trọng và tạo điều kiện cho sự tham gia của gia đình trong việc chăm sóc [38]
Ngoài ra, một bài đăng trên tạp chí European Journal of Medical
Research số ra ngày 28/6/2010 với tiêu đề “Nhu cầu tinh thần của những
bệnh nhân mắc bệnh mãn tính và ung thư – đánh giá bảng hỏi các câu hỏi về nhu cầu tinh thần” (Spiritual needs of patients with chronic pain diseases and
cancer - validation of the spiritual needs questionnaire) đã phân tích nhân tố của 19 công cụ tập trung vào 4 yếu tố: nhu cầu tôn giáo, nhu cầu thanh thản, nhu cầu hiện sinh (ảnh hưởng/ ý nghĩa) và sự cho đi tích cực Trong mẫu chính của bệnh nhân bị đau mãn tính và ung thư, nhu cầu thanh thản có số điểm cao nhất, tiếp theo là tự quyết định; nhu cầu hiện sinh có điểm số thấp, trong khi nhu cầu tôn giáo chỉ ra điểm số không quan tâm Bệnh nhân ung thư
có điểm số cao hơn đáng kể so với bệnh nhân với bệnh đau mãn tính Có một
sự liên kết yếu giữa sự cho đi tích cực và hài lòng cuộc sống và tỉ lệ nghịch với các triệu chứng Nhu cầu cho thanh thản có mối quan hệ không rõ ràng với sự hài lòng về hiệu quả điều trị Phân tích hồi quy cho thấy các bệnh tiềm
ẩn có liên quan vượt trội tới các nhu cầu tinh thần của bệnh nhân [27]
Đặc biệt đối với bệnh nhân bị TBMMN thì cũng đã có các nghiên cứu
về sự thay đổi của tâm lý, các vấn đề của sức khỏe tinh thần sau khi bị TMMN
Học viện Joanna Briggs đã nghiên cứu các kinh nghiệm tâm lý xã hội, tinh thần của các đối tượng là là người già, chủ yếu ở độ tuổi từ 65 có ít nhất
1 lần bị đột quỵ cho thấy rằng giai đoạn đầu sau một cơn đột quỵ là một kinh nghiệm mơ hồ và đáng sợ, nó làm thay đổi cuộc sống đối với hầu hết các cá nhân Các giai đoạn phục hồi liên quan đáng kể đến các yếu tố tâm lý, vật lý
Trang 19để xây dựng lại cuộc sống của họ Kết nối với những người khác và tinh thần rất quan trọng trong quá trình phục hồi [26]
Theo bài viết của “Trầm cảm và các dấu hiệu khác liên quan đến sức
khỏe tâm thần tăng nguy cơ tử vong sau đột quỵ thiếu máu cục bộ”
(Depression and Other Mental Health Diagnoses Increase Mortality Risk After Ischemic Stroke)của các tác giả Linda S Williams, Sushmita Shoma Ghose, Ralph W Swindle được in trên tạp chí Tâm thần học Mỹ (The American Journal of Psychiatry) tháng 6, 2004 đã đưa ra trong số 51.119 bệnh nhân nhập viện sau một cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ và sống sót vượt quá 30 ngày sau đó, trong đó có 2.405 (4,7%) nhận được chẩn đoán là trầm cảm (ICD-9) và 2257 (4,4%) được chuẩn đoán là có rối loạn thần hoặc lạm dụng khác trong vòng 3 năm So với những người không có chuẩn đoán bệnh thì những người có chuẩn đoán trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác trẻ hơn và khả năng còn sống thấp hơn vào cuối thời gian theo dõi [35]
Trong bài đánh giá của Eran Chemerinski và Robert G Robinson phát biểu rằng rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu đã được chứng minh là ức chế phục hồi thể chất sau đột quỵ Dường như rối loạn tâm thần khác cũng ức chế phục hồi và giới hạn chất lượng của cuộc sống Có rất ít các thử nghiệm kiểm soát kiểm tra tính hiệu quả của phương pháp điều trị cho các rối loạn sau khi
bị đột quỵ [29]
Một nghiên cứu khác của trường đại học Helsinki của Phần Lan đưa ra Với nghiên cứu này, nếu bệnh nhân tai biến mạch máu não thường xuyên nghe nhạc khoảng vài giờ trong ngày sẽ phục hồi nhanh chóng Kết quả này được nghiên cứu dựa trên thực nghiệm của âm nhạc đối với gần 60 bệnh nhân
bị đột quỵ Qua đó, các nhà khoa học đã chứng minh cho bệnh nhân bị đột quỵ thấy rằng, âm nhạc có một tác động rất tích cực đến khu vực não kiểm soát trạng thái tình cảm, cảm xúc và ghi nhớ ở bệnh nhân Nó giúp đẩy nhanh
Trang 20quá trình phục hồi tổn thương ở những khu vực này Từ đó, đẩy nhanh sự phục hồi kéo theo ở những khu vực bị tổn thương khác trong não cùng với những tế bào thần kinh bị mất chức năng do đột quỵ Nhóm bệnh nhân bị đột quỵ này, sau 3 tháng được chọn lựa và nghe nhạc thường xuyên đã cho thấy, các chức năng não kiểm soát cử động, quá trình nhận thức, khả năng tập trung ở nhóm những người nghe nhạc đã được cải thiện tới 60% Ở nhóm điều trị bằng phương pháp thông thường chỉ cải thiện khoảng 29% Với biện pháp kết hợp với biện pháp điều trị đột quỵ đã cho kết quả phục hồi rất đáng
kể so với những người không được hỗ trợ điều trị bằng âm nhạc Ngoài ra, ở nhóm nghe nhạc, khả năng kiểm soát và giải quyết xung đột của não bộ được cải thiện khoảng 17%, trong khi những nhóm khác gần như không có sự thay đổi [33]
1.1.2 Trong nước
Các công trình trong nước nghiên cứu về sức khỏe tinh thần có thể kể đến tác giả Phạm Minh Hạc Ông đã đưa ra một số lý luận cơ bản về sức khỏe tinh thần một cách khái quát trong bài đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 1, 2008 Theo giáo sư – viện sĩ Phạm Minh Hạc, nên phân tích cặp phạm trù “Thể chất – Tinh thần” để hiểu sâu sắc hơn về sức khỏe tinh thần, theo ông: “phải xem xét con người ở mức độ nào con người – cá thể, con người - cá nhân, con người – nhân cách.” [4]
Nhóm nghiên cứu tâm lý học lâm sàng do PGS.TS Đặng Hoàng Minh làm trưởng nhóm đã công bố các công trình nghiên cứu của nhóm mình có liên quan đến thực trạng chăm sóc tinh thần tại Việt Nam hiện nay như:
- Nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu
tố nguy cơ” hợp tác cùng PGS.TS Bahr Weiss - Trường ĐH Vanderbilt và
ThS Nguyễn Cao Minh - Phòng Tâm lý học lâm sàng, Viện Tâm lý học được thực hiện ở 60 địa điểm thuộc 10 tỉnh đại diện của Việt Nam, bao gồm 1314
Trang 21cha mẹ của trẻ từ 6-16 tuổi và 591 vị thành niên từ 12-16 tuổi đã đưa ra kết quả ngiên cứu gợi ý rằng có từ 12-13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6-16) gặp phải những vấn đề SKTT một các rõ rệt
- Bài viết “Giáo dục và đào tạo sức khỏe tinh thần ở Việt Nam” (Mental Health Education and Training in Vietnam) được in trong quyển sách “Giáo dục sức
khỏe trong bối cảnh: Một triển vọng quốc tế của sự phát triển giáo dục sức khỏe trong trường học và cộng đồng địa phương” (Health Education in
Context: An International Perspective of the Development of Health Education in Schools and Local Communities) xuất bản bởi nhà xuất bản Sense năm 2012
- Bài viết “Mô hình phát triển bền vững cơ sở hạ tầng của sức khỏe tinh thần
trẻ em trong các nước thu nhập thấp: Việt Nam là một trường hợp điển hình”
(A Model for Sustainable Development of Child Mental Health Infrastructure
in the LMIC World: Vietnam as a Case Example) do TS Đặng Hoàng Minh cùng Weiss B, Victoria K.N và các công sự thực hiện được in trong tạp chí
International Perspective in Psychology: Research, Practice, Consultation số
Theo bài báo cáo khoa học “Chăm sóc tinh thần – Vấn đề mang tầm thế
kỷ” của tác giả Lê Hồng Thái – Học viện Hải quân được in trong tài liệu của
Trang 22hội thảo quốc gia “Chăm sóc sức khỏe tinh thần” (do Hội Khoa Học Tâm
Lý-Giáo Dục Việt Nam tổ chức tại Hà Tây ngày 12-1-2008) có 3 cách để giữ được sức khỏe tinh thần tốt là: phát triển khả năng thích ứng của con người; phổ biến rộng rãi tri thức về vệ sinh lao động trí óc; giáo dục, bồi dưỡng, phát triển tâm năng [16]
Cũng trong hội thảo quốc gia trên, còn có các bài báo cáo khoa học liên quan đến sức khỏe tinh thần như:
Bài viết “Sức khỏe tinh thần tốt - Đòi hỏi thiết yếu của mỗi người và
toàn xã hội” của GS.TS Nguyễn Ngọc Phúc đã nêu ra các luận thuyết y học
liên quan đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của con người, nội dung của sức khỏe tinh thần và phương thức chăm sóc sức khỏe tinh thần có hiệu quả [12] Bài báo cáo của 2 tác giả ThS Trần Thành Nam và ThS Nguyễn Ngọc Diệp khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đưa
ra các các nguyên tắc làm việc với trẻ có vấn đề về sức khỏe tinh thần [8] Cũng trong hội thảo, hai tác giả trên cũng đưa ra mô hình can thiệp sức khỏe tinh thần học đường đang được bước đầu thử nghiệm tại trường THPT Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Cẩm Tú và cộng sự trên hơn 1500 trẻ tại hai phường Kim Liên và Trung Tự (2000) cho thấy có tới 1,9% - 3% các em
có biểu hiện lo âu, trầm cảm
Trong đề tài nghiên cứu “Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tinh thần
cho học sinh trung học phổ thông Đồng Nai” do Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ và
cộng sự thực hiện (1998- 2000) đã đưa ra mô hình mạng lưới chăm sóc sức khỏe tinh thần – tâm thần học đường Mô hình bao gồm sự phối hợp giải quyết vấn đề từ 3 bên tham gia: trung tâm tham vấn, nhà trường, gia đình-xã hội Chức năng nhiệm vụ của từng bên trong mạng lưới được quy định cụ thể
Trang 23rõ ràng, giúp cho việc vận hành mạng lưới được đạt được nhiều kết quả khả quan trong việc giải quyết các vấn đề tâm lý của học sinh [18]
Trong bài viết đăng trên tạp chí Tâm lý học, số 6/2009 “Một số nguyên
nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT chuyên Quảng Bình”, tác giả
Nguyễn Thị Hằng Phương đã nghiên cứu đối tượng học sinh chuyên Quảng Bình và chỉ ra rằng có khoảng 21,66% học sinh có vấn đề về rối loạn lo âu [13]
Ngoài các công trình nghiên cứu về sức khỏe tinh thần cho trẻ em thì còn
có các dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em như:
Dự án “Chăm sóc sức khoẻ tâm thần học sinh trường học thành phố Hà Nội” được quản lý bởi Sở Y Tế Hà Nội Dự án được thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát: đánh giá thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần học sinh Tiểu học trên một mẫu nghiên cứu tại Hà Nội; xây dựng mạng lưới can thiệp sớm, tuyên truyền giáo dục, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ tâm thần trẻ em tuổi học đường tại các tuyến y tế cơ sở và tại Bệnh viện Mai Hương [48]
Ngoài ra, việc chăm sóc tinh thần người lao động đã được các công ty chú ý đến trong nhiều năm qua.Các công ty ứng dụng tâm lý như Ý tưởng Việt, Hồn Việt, WELink, Sư tử trẻ, Unity… tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra hàng loạt các dịch vụ chăm sóc tinh thần người lao động, nhằm phục
vụ cho các công ty, tập đoàn Các dịch vụ này bao gồm các khóa học chăm sóc tinh thần cho người lao động, các buổi báo cáo chuyên đề, du lịch tâm lý, bảo hiểm tinh thần, quà tặng tinh thần, chăm sóc tinh thần trọn vẹn và nhận được nhiều ủng hộ tích cực từ các công ty, tập đoàn
Ngoài ra, các công ty, tập đoàn còn có các hoạt động chăm sóc tinh thần cho người lao động khác như:
Tập đoàn Vinamilk đã đưa ra chính sách phát triển bền vững cho tập đoàn của mình bao gồm nhiều hạng mục, trong đó trong hạng mục người lao
Trang 24động, tập đoàn đã đưa ra nhiều cam kết và hành động thiết thực chăm lo cho đời sống người lao động như:
- Chăm sóc sức khỏe người lao động: thực hiện khám sức khỏe định kì 1 lần/năm cho nhân viên nam và 2 lần/năm cho nhân viên nữ; bảo hiểm sức khỏe toàn diện; đối với trường hợp tử vong hoặc thương tật do tai nạn: mức bảo hiểm bồi thường lên đến tối đa 30 tháng lương gần nhất; đặc biệt tập đoàn còn cung cấp gói bảo hiểm sức khỏe cho người thân của các cấp quản lý
- Đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động: xây dựng và duy trì cơ chế tiếp nhận thông tin và giải quyết phản ánh, khiếu nại của người lao động trực tiếp quan các cơ quan quản lý hoặc thông qua kênh nóng nhận thông tin trực tiếp; công đoàn, đoàn thanh niên tại từng cơ sở tổ chức các hoạt động nhằm mang lại cho người lao động các cơ hội vui chơi hoạt động ngoài giờ làm việc
- Ghi nhận và bù đắp thỏa đáng với những giá trị lao động của nhân viên: thang lương của Vinamilk đang xây dựng theo hệ thống Merce Năm 2013, tỷ
lệ tăng lương bình quân là 22.7%, vượt trội so với tỷ lệ các năm trước (2012: 18.5%; 2011: 10%)
- Đào tạo và phát triển nhân viên: năm 2013 Vinamilk đã chi ra hơn 6,5
tỷ đồng để thực hiện các khóa đào tạo, phát triển kỹ năng của nhân viên [49] Ngày 5/4/2015, tại TP.HCM đã diễn ra Hội thảo khoa học với chủ đề
"Mâu thuẫn trong doanh nghiệp và vấn đề chăm sóc tinh thần cho người lao động" Đây là hoạt động do Hội khoa học - Tâm lý giáo dục và Liên đoàn Lao động thành phố tổ chức nhằm tổng hợp những mâu thuẫn đang diễn ra trong các doanh nghiệp và đề xuất những giải pháp phù hợp hữu ích nhất, góp phần chăm sóc tốt hơn đời sống tinh thần cho người lao động Trong buổi hội thảo, các bên đã đi sâu phân tích và đưa ra kết luận nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn trong doanh nghiêp chủ yếu là do: nhu cầu chăm sóc tinh thần chưa được đáp
Trang 25ứng; vai trò thực tế của công đoàn và những khó khăn trong việc chăm sóc đời sống tinh thần cho người lao động; các vấn đề về tiền công, tiền lương, điều kiện ăn, ở, làm việc của người lao động… [50]
Thông qua những nghiên cứu, bài viết, thực tế nêu trên ta có thể thấy, việc chăm sóc tinh thần ở Việt Nam còn rất hạn chế Đặc biệt là chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân, việc chăm sóc tinh thần chỉ tập trung vào các bệnh nhân sắp chết mà chưa thực sự quan tâm đến những bệnh nhân khác; và chủ yếu sử dụng thuốc trong quá trình chăm sóc; đội ngũ nhân viên chuyên đảm nhận việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp Đặc biệt đối với bệnh nhân TBMMN thì việc chăm sóc tinh thần sau khi đột quỵ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hồi phục, trở lại với cuộc sống nhưng thực tế thì chưa được quan tâm đúng mức
có thể hiểu như giúp da đẹp hơn, khỏe mạnh hơn; chăm sóc cây trồng là giúp cây trồng không bị chết, đạt năng suất
Chính vì như vậy, chăm sóc có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng chăm sóc Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam: “chăm sóc” là chú ý trông coi cẩn thận [7]
Trang 26đã trở lại với chính mình [6]
Theo tác giả Ken Wilber thì tinh thần là mức độ cao nhất và độc nhất vô
nhị của tất cả các cấp độ tồn tại trong các mức độ của sự tồn tại (The great
nest of being) [34]
Theo từ điển Thuật ngữ tâm lý học “tinh thần”: một mặt của xã hội thể hiện ra ở các giá trị đạo đức, các truyền thống được kết tinh trong các hình ảnh nghệ thuật Tinh thần được phản ánh trong ý thức cá nhân trở thành lương tâm Quá trình phát triển tinh thần được thực hiện thông qua truyền thống, giáo dục tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, khai hóa Chủ nghĩa Mác- Lênin xem tinh thần gắn bó chặt chẽ với hệ tư tưởng Một xã hội mà không có
hệ tư tưởng sẽ diễn ra khủng hoảng về tinh thần, cụ thể là khủng hoảng niềm tin, mất phương hướng trong suy nghĩ [2]
Vậy tinh thần được hiểu trong đề tài này là giá trị đạo đức, các vấn đề tâm linh, niềm tin, mối quan hệ xã hội… của con người
Trang 27Dựa theo đánh giá vấn đề tâm linh/ tôn giáo: các nhà tâm lý cần đánh giá chính xác các hoạt động tâm linh /tôn giáo của cá nhân, và phân biệt các hoạt niềm tin/hành vi có liên quan đến vấn đề hiện tại của cá nhân Đánh giá khách quan liên quan đến việc không quy kết niềm tin tâm linh như là bệnh lý Hơn thế nữa, kiến thức về hệ thống niềm tin của bệnh nhân có thể giúp cho các chuyên viên y tế có thể một cách tinh tế và thích hợp để đáp ứng những nhu cầu của bệnh nhân hoặc quá trình của cái chết Đánh giá tâm linh/tôn giáo bao gồm các mặt sau:
- Tôn giáo: xem xét thế giới quan tâm linh/tôn giáo, niềm tin, thực hành và cam kết, phân biệt được định hướng tâm linh/tôn giáo bên trong hoặc bên ngoài
- Đặc trưng tâm linh: xem xét cảm giác cá nhân ở giá trị và tiềm năng của Đấng tối cao
Trang 28- Hỗ trợ và cách đối phó từ tâm linh/tôn giáo: xác đinh giá trị bên trong của bệnh nhân, cho dù là niềm tin tinh thần/tôn giáo, thái độ, thực hành ảnh hưởng đến phản ứng và đối phó với cái chết Đánh giá xem các cá nhân sử dụng cầu nguyện, chiêm niệm/thiền, đọc kinh, hoặc là tham gia với cộng đồng tâm linh/tôn giáo Xác định cá nhân được hỗ trợ nhận thức từ: cộng đồng tâm linh/tôn giáo hoặc các Đấng siêu việc khác
- Kiểu giải quyết các vấn đề tâm linh: xem xét phong cách giải quyết vấn đề tâm linh của bệnh nhân đối với Đấng siêu Việt khác (ví dụ: tự giải quyết, phụ thuộc hoặc hợp tác)
- Hạnh phúc tinh thần: đánh giá khía cạnh hạnh phúc tinh thần như là một mặt của chất lượng cuộc sống
- Nhu cầu tâm linh: xem xét bệnh nhân nhu cầu tâm linh về: hoàn cảnh (tìm kiếm mục đích/hi vọng/ý nghĩa); cá nhân (hòa giải trong các mối quan hệ, cầu nguyện, phân tích đạo đức và xã hội, sự tha thứ và chấm dứt); tôn giáo (hòa giải, tha thứ và ủng hộ của Thiên Chúa, nghi lễ tôn giáo / rửa tội, chuyến thăm của các giáo sĩ, văn học tôn giáo, và thảo luận về Thiên Chúa, sự sống vĩnh cữu và hy vọng)
- Đánh giá tâm linh: xác nhận mức độ tác động của tâm linh tới nguyên nhân gây bệnh cho bệnh nhân
[28]
Theo 3 quá trình: trao đổi, chia sẻ (being present); mở rộng, thấu hiểu (opening eyes); tương tác (cocreating) Theo 3 quá trình này, trước tiên, người chăm sóc và bệnh nhân cần có những cuộc tiếp xúc, trao đổi, chia sẻ, trong
đó cần những tương tác về mặt thể chất, giúp cho người chăm sóc có thể chú
ý tới bệnh nhân một cách toàn diện hơn Sau đó là quá trình “Openning eyes”,
người chăm sóc cần nhận ra và thấu hiểu những trải nghiệm cá nhân của bệnh nhân bằng cách hiểu những quan điểm của bệnh nhân về bệnh của họ, kết hợp
Trang 29với quan điểm của gia đình và bạn bè của bệnh nhân Cuối cùng sự hợp tác của bệnh nhân, người nhà và người chăm sóc để tạo ra một kế hoạch hoàn thiện giúp bệnh nhân chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đối mặt trước cái chết [41] Còn theo các định nghĩa của các tổ chức khác thì:
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO: Nâng cao sức khỏe tinh thần liên quan đến hành động để tạo điều kiện môi trường sống và hỗ trợ sức khỏe tinh thần cho phép cá nhân tiếp nhận và duy trì lối sống lành mạnh và làm việc hiệu quả Chúng bao gồm một loạt các hành động để tăng cơ hội của nhiều người trải qua sức khỏe tinh thần tốt hơn
Còn theo định nghĩa đưa ra bởi Sở Y tế Quốc dân Scotland (National Health Service Education for Scotland, 2009) chăm sóc tinh thần đó là sự chăm sóc trong đó nhận ra và đáp ứng các nhu cầu của tinh thần con người khi phải đối mặt với chấn thương, bệnh tật hoặc nỗi buồn và có thể bao gồm nhu cầu có ý nghĩa, tự trị, thể hiện bản thân, hỗ trợ niềm tin, có lẽ trong các dịp lễ cầu nguyện hay rửa tội, hay chỉ đơn giản là một người biết lắng nghe nhạy cảm Chăm sóc tinh thần bắt đầu bằng việc khuyến khích sự tiếp xúc của con người trong mối quan hệ từ bi, và di chuyển theo bất cứ hướng nhu cầu đòi hỏi (NHS Giáo dục cho Scotland, 2009) [26]
Ngoài ra thì trong bài báo “Chăm sóc tinh thần trong điều dưỡng sức
khỏe tinh thần” (The concept of spiritual care in mental health nursing) đăng
trên Tạp chí Điều dưỡng nâng cao (Journal of Advanced Nursing) số ra tháng 3/2001 thì chăm sóc tinh thần có liên quan đến việc ghi nhận hiểu rõ của một người về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống mà có thể hoặc không thể thể hiện thông qua tín ngưỡng và kinh nghiệm Khái niệm về chăm sóc tinh thần cũng được kết hợp với chất lượng chăm sóc cá nhân trong giá trị của sự biểu hiện tình yêu và lòng từ bi đối với bệnh nhân [37]
Trang 30Theo đó, chăm sóc tinh thần trong đề tài này được hiểu như là hỗ trợ, tạo điều kiện, đáp ứng các nhu cầu về tinh thần như nhu cầu xác định ý nghĩa của
sự tồn tại, niềm tin hiện thực, cải thiện các mối quan hệ xã hội, nhu cầu đối mặt và giải quyết các khó khăn trong cuộc sống, nâng cao chất lượng cuộc sống…cho con người
Thêm vào đó, vì đối tượng để chăm sóc tinh thần trong đề tài này là những bệnh nhân bị TBMMN nên việc chăm sóc tinh thần cho những đối tượng này trước tiên tập trung vào giải quyết những triệu chứng tâm lý xảy ra
sau khi bị TBMMN Theo bài viết “Chăm sóc tâm lý ở bệnh nhân sau tai biến
mạch máu não” của bác sĩ Nguyễn Kỳ Xuân Nhị được in trong tạp chí Y học
phổ thông cho mọi người phát hành tháng 5/2014 đã viết rằng những thay đổi cảm xúc của bệnh nhân diễn ra rất phức tạp, họ có thể nhận thấy hoặc không nhận thấy Bệnh nhân thường bị trầm cảm và lo âu ở các mức độ khác nhau [11] Như vậy có thể thấy, việc cần quan tâm đầu tiên trong việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân là là giảm hoặc ngưng các triệu chứng tâm lý như lo âu trầm cảm
Ngoài nguy cơ dễ dàng mất các triệu chứng tâm lý, thì các di chứng yếu liệt khiến cho bệnh nhân suy giảm khả năng tự chăm sóc và đa số trường hợp
họ trở nên lười biếng hơn, mất đi động lực, niềm tin để luyện tập [11] Vì vậy, việc đáp ứng các nhu cầu tinh thần như tìm lại niềm tin, động lực để tiếp tục tập luyện, ý nghĩa tồn tại của bản thân; nhận ra giá trị của các mối quan hệ xã hội có thể góp phần thúc đầy cho quá trình luyện tập hoàn thiện hơn Kết quả tích cực của việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân là giúp cho họ hồi phục sức khỏe hoặc đối mặt với cái với cái chết như một quá trình tất yếu của cuộc đời
Do đó, việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân TBMMN được hiểu trong đề tài này là hỗ trợ bệnh nhân, làm giảm nhẹ các triệu chứng về tâm lý như: lo âu,
Trang 31trầm cảm,…giúp họ tìm lại niềm tin, động lực để tiếp tục luyện tập, ý nghĩa tồn tại của bản thân; nhận ra giá trị của các mối quan hệ xã hội; hồi phục sức khỏe hoặc đối mặt với cái chết như là một quá trình tất yếu
1.2.2 Một số vấn đề lý luận có liên quan đến chăm sóc bệnh nhân
TBMMN
1.2.2.1 Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân
Hiện nay việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân đang được quan tâm, đặc biệt là những bệnh nhân phải đối mặt với những căn bệnh đe dọa đến cuộc sống như ung thư, HIV, suy tim, suy thận, tiểu đường, lao, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy thận, Alzheimer, Parkinson Việc sử dụng các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh đe doạ cuộc sống và gia đình họ bằng cách phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị đau và các triệu chứng thực thể, các vấn đề tâm lý và tinh thần mà bệnh nhân và gia đình họ phải chịu đựng được Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa là chăm sóc giảm nhẹ [51] Có thể thấy, việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân có thể xem như là một phần của chăm chăm sóc giảm nhẹ
Ngày 19/5/2006, Quyết định 3483/BYT của Bộ Y tế về việc ban hành
"Hướng dẫn Quốc gia về Chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS" Đây là bước đầu đánh dấu cơ sở pháp lý cho việc chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân mắc các bệnh đe dọa cuộc sống Trong tài liệu này, phần chăm sóc tâm lý cho BN&NCS đã nêu ra nội dung chăm sóc tâm lý một số vấn đề như phẩm chất của người chăm sóc tâm lý; phương pháp tư vấn, xây dựng mối quan hệ hợp tác điều trị giữa người chăm sóc tâm lý với bệnh nhân Đây
có thể xem như là tài liệu chăm sóc giảm nhẹ chính quy đầu tiên tại Việt Nam [15]
1.2.2.2 Các phương pháp điều trị cho bệnh nhân TBMMN
2.1.1.1 Vật lý trị liệu
Trang 32Theo từ điển Oxford, vật lý trị liệu là điều trị bệnh, tổn thương và thương tật bằng các phương tiện vật lý như xoa bóp, nhiệt độ và vận động hơn là thuốc và phẫu thuật [36] Còn từ điển Merriam-Webster, thuộc Công ty từ điển và bách khoa thư Britannica, thì định nghĩa vật lý trị liệu là điều trị bệnh, tổn thương hoặc tàn tật bằng các công cụ vật lý hoặc cơ học, như xoa bóp, vận động, nước, ánh sáng, nhiệt và điện [52]
Đến năm 2007, trong tài liệu hướng dẫn đào tạo vật lý trị liệu mức độ đầu vào, Hội liên hiệp Vật lý trị liệu Thế giới (WCPT) quan niệm, vật lý trị liệu là chuyên ngành y tế cung cấp các dịch vụ cho bệnh nhân và cộng đồng
để phát triển, duy trì và khôi phục khả năng vận động và các hoạt động chức năng tối đa trong suốt cuộc đời, bao gồm các can thiệp khi khả năng vận động
và hoạt động chức năng bị đe dọa do các nguyên nhân tuổi tác, tổn thương, bệnh tật, rối loạn, cũng như do các điều kiện và yếu tố môi trường; trong đó vận động chức năng được xem là vấn đề cốt lõi của sức khỏe [53]
Như vậy, trong đề tài này, có thể hiểu vật lý trị liệu là một chuyên ngành
y tế, sử dụng các biện pháp, tác nhân vật lý tác động đến cơ thể bệnh nhân , giúp họ phục hồi chức năng
2.1.1.2 Các phương thức vật lý trị liệu
Theo tài liệu Phục hồi chức năng do tác giả Nguyễn Xuân Nghiên chủ biên thì các phương pháp ứng dụng năng lượng vật lý để điều trị thường được
áp dụng trong chuyên ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng gồm:
- Nhiệt trị liệu: biện pháp sử dụng nhiệt độ để tác động đến cơ thể Gồm 2 loại chính là nhiệt nóng trị liệu (bao gồm nhiệt nóng trị liệu nông và nhiệt nóng trị liệu sâu), nhiệt lạnh trị liệu
- Thủy trị liệu: sử dụng nước điều trị bề mặt để giải quyết giảm chức năng của
cơ thể Tác dụng của thủy trị liệu nhờ tính chất đặc thù của nước (sức đẩy; áp lực, trọng lực riêng; tính linh hoạt; nhiệt độ; hóa chất)
Trang 33- Ánh sáng trị liệu: bao gồm tia cực tím và laser năng lượng thấp
- Điện trị liệu: sử dụng năng lượng điện qua bề mặt cơ thể dể kích thích thần kinh, cơ hoặc cả hai bằng cách sử dụng điện cực trên bề mặt cơ thể Các kích thích điện qua da được chia ra theo các loại dòng điện như sau: dòng điện 1 chiều, dòng điện xoay chiều Có các loại trị liệu từ điện như từ trường trị liệu, ion trị liệu
- Kéo giãn cột sống: sử dụng lực thích ứng để kéo cột sống cổ hoặc cột sống thắt lưng
- Kéo nắn trị liệu: tiến hành các bài tập vận động cơ học bị động với những kỹ năng chính xác để điều trị các khớp bị tắt nghẽn, lập lại tầm hoạt động khớp động học
- Xoa bóp trị liệu: kỹ thuật kích thích hệ thần kinh chi phối dưới da nhịp nhàng,
hệ thống kép giãn, tì nén nhằm mục đích trị liệu
[10]
Theo luận văn tiến sĩ y học: “Đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng vận động của phương pháp châm cải tiến kết hợp vận động trị liệu trên bệnh nhân nhồi máu não trên lều” của bác sĩ Trịnh Thị Diệu Thường thì việc châm cứu cho bệnh nhân cũng là một trong những phương pháp vật lý trị liệu [19]
1.2.3 Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân TBMMN
1.2.3.1 Tai biến mạch máu não là gì?
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới , TBMMN là những thiếu sót chức năng thần kinh thường là khu trú xảy ra đột ngột, có thể hồi phục hoàn toàn hoặc dẫn đến tử vong trong 24 giờ, loại trừ các nguyên nhân sang chấn Nguyên nhân của nó là các bệnh lý khác nhau của mạch máu não [24,133] Theo Hiệp hội đột quỵ quốc gia Mỹ (National Stroke Association) TBMMN (đột quỵ) là một cơn đột quỵ là một "cuộc tấn công não" Nó có thể xảy ra với bất cứ ai ở bất cứ lúc nào Nó xảy ra khi dòng máu đến vùng não bị
Trang 34cắt đứt Khi điều này xảy ra, các tế bào não bị thiếu oxy và bắt đầu chết Khi các tế bào não bị chết trong một cơn đột quỵ, khả năng kiểm soát của khu vực
đó của não như bộ nhớ, cơ bắp… bị mất [46]
Một người bị ảnh hưởng như thế nào phụ thuộc vào cơn đột quỵ của họ xảy ra ở đâu trên não và mức độ tổn thương của các tế bào não Ví dụ, một người bị 1 cơn đột quỵ nhỏ thì chỉ có thể chỉ bị yếu tạm thời của một cánh tay hoặc chân Những người bị đột quỵ nặng thì có thể bị tê liệt vĩnh viễn ở một bên cơ thể của họ hoặc mất khả năng nói Một số người hồi phục hoàn toàn từ cơn đột quỵ, nhưng hơn 2/3 số người sống sót sẽ có một số loại khuyết tật [40]
1.2.3.2 Đặc điểm nhận thức
Theo tài liệu lưu hành nội bộ Tâm lý Y học năm 2009 có 4 loại nhận
thức thức xuất hiện ở bệnh nhân:
- Nhận thức đúng đắn, bình thường:
Trong loại nhận thức này, các quá trình hưng phấn và ức chế xảy ra bằng nhau, bệnh nhân có phản ứng nhanh, tiếp thu ý kiến của bác sĩ mau lẹ, làm theo chỉ dẫn của bác sĩ, điều dưỡng nhưng nông cạn, vội vã, dễ bằng lòng, nhưng khi gặp trở ngại không phù hợp với ý muốn thì dễ thay đổi, hoang mang, dao động Nhưng khi được giải thích thì nhận thức nhanh chóng Bệnh nhân này rất dễ tin và rất tín nhiệm thầy thuốc Do nhận thức đúng đắn, bệnh nhân dễ nhận biết được bệnh của mình, bệnh sẽ tiến triển ra sao, kết thúc thế nào, bản thân phải phấn đấu ra sao để góp phần cùng thầy thuốc chữa khỏi bệnh cho mình Đặc biệt ở bệnh nhân này có ảnh hưởng đến các bệnh nhân khác, thầy thuốc vận dụng khả năng để tác động tâm lý đối cới bệnh nhân khác
Trang 35Trong loại này còn có một số khá lớn kiểu thần kinh cân bằng nhưng chậm Họ suy nghĩ cân nhắc, có chiều sâu, phải qua thực tế mới có nhận thức đúng đắn đối với bệnh tật
- Nhận thức quá mức
Loại bệnh nhân này thường có kiểu thần kinh có quá trình hưng phấn nhiều hơn ức chế, dễ bị kích thích, quan trọng hóa tình trạng sức khỏe bệnh tật của mình, dễ nổi nóng, dễ bị kích động, dễ phản ứng trên lời nói, nét mặt, đòi hỏi phục vụ cao, đòi chuẩn đoán nhanh
Trong quá trình điều trị cũng như vậy, đòi hỏi bệnh phải được thuyên giảm ngay, thường chủ quan, chỉ tin ở mình nhiều hơn, thường biểu hiện quá mức, quá đáng trong cư xử nhận xét Nhạu cảm với cảm giác đau, cô đơn, buồn phiền, dễ mất hy vọng, dễ thay đổi ý kiến, chính kiến không kiên định,
dễ hoài nghi, hoang mang, dao động, tự tô đậm các triệu chứng, tô đậm tầm nghiêm trọng của bệnh, sợ chết, sợ mất khả năng lao động để nuôi sống gia đình, sợ dở giang công trình và tham vọng Do đó, rất dễ hoang mang nhưng rất tích cực chữa bệnh, đòi hỏi bác sĩ giỏi, mong muốn hết bệnh, mong muốn nhanh chóng ra khỏi bệnh viện, thức hiện đầy đủ, tích cực các chỉ dẫn của bác
sĩ
- Nhận thức yếu, nhược nhận thức
Loại bệnh nhân này, thường coi thường bệnh tật, đánh giá thấp tính nguy kịch trầm trọng của bệnh lý, xem nhẹ các triệu chứng, tính tích cực giảm, ít quan tâm đến các khám nghiệm Họ không chú ý nghe lời khuyên của các bác
sĩ, lừa dối đối với sức khỏe của chính mình, họ ưu tư, mặc cảm, khép kính, tự giải quyết cho mình
- Nhận thức không ổn định, loạn nhận thức
Loại này có thể do coi thường bệnh tật, hoặc liều lĩnh hoặc sợ hãi tính trầm trọng của bệnh tật có thái độ phủ định bệnh tật, thường không thừa nhận
Trang 36bệnh tật, đánh giá thấp bệnh, chủ quan, mặc kệ Nhưng có lúc lại bi quan, sợ chết, sợ biến chứng Từ chỗ không tin mình bị bệnh đến không tin thầy thuốc, nhận xét chuẩn đoán, điều trị của họ
[24]
Bên cạnh đó, do hậu quả của cơn đột quỵ gây ra những tổn thương trên não, nên nhận thức của bệnh nhân TBMM biến đổi như thế nào phụ thuộc vào bên não mà bệnh nhân bị tổn thương Trong cuốn Tâm lý học sức khỏe (Health Spychology) của tác giả Shelly E.Taylor có viết rằng:
Bệnh nhân với não trái bị tổn thương có thể gặp vấn đề trong rối loạn giao tiếp, ví dụ như không nói được, liên quan đến việc không hiểu người khác và bày tỏ ý kiến của mình
Một vấn đề khác của rối loạn chức năng não trái bao gồm xáo trộn nhận thức, giảm trí thông minh, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ mới
Bệnh nhân tổn thương não phải có thể không thể xử lý hoặc sử dụng một
số loại thông tin phản hồi trực quan Một kết quả nữa là bệnh nhân bị liệt một bên của cơ mặt Bệnh nhân có thể chỉ ăn thức ăn của bên phải của đĩa và từ chối thức ăn bên phải Bệnh nhân có thể có vấn đề ở việc đọc giờ, quay số điện thoại… bệnh nhân thường có khó khăn trong việc tri giác khoảng cách nên thường đâm vào vật cản hoặc tường
Do những tổn thương ở não phải nên những bệnh nhân này không thể hiểu những gì họ đọc hoặc chỉ có thể tri giác được phần cuối cùng của mỗi từ
mà thôi Nếu một người đứng phía bên não họ bị tổn thương (não phải) mà nói chuyện thì họ chỉ nghe được âm thanh chứ không hiểu được người đó nói
gì cũng như không thấy được người nói (W.A.Gordon & Diller, 1983) [40] Những bệnh nhân bị TBMMN thường là những người cao tuổi (có độ tuổi trung bình từ 45 tuổi trở lên) Kèm theo những tổn thương do TBMMN gây ra trên não, bản thân bệnh nhân trong độ tuổi này đã bắt đầu có dấu hiệu
Trang 37suy giảm về mặt nhận thức như sự giảm tốc trong quá trình nhận thức Nguyên nhân làm giảm tốc quá trình nhận thức có 2 nguyên nhân: thứ nhất là
do bệnh gây ra những tổn thương trên não làm giảm lượng máu vào não Thứ hai là do ứng xử Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việc thay đổi chiến lược để đáp ứng yêu cầu mới của vấn đề Đồng thời, người cao tuổi còn
ra quyết định chậm là do thói quen cẩn thận, cần thời gian cân nhắc kỹ, không đưa ra quyết định sai lầm Trí nhớ trong giai đoạn này cũng bước vào thời kỳ suy giảm Họ gặp khó khăn trong cả 2 giai đoạn mã hóa lẫn hồi tưởng, thuộc trí nhớ thứ cấp [21]
1.2.3.3 Đời sống tình cảm
Bệnh nhân bị tổn thương não trái thường phản ứng lại những rối loạn của
họ như lo âu và trầm cảm Bệnh nhân tổn thương não phải thường thờ ơ với tình trạng của họ Những khác biệt trong cảm xúc bởi là vì tổn thương những nơ-ron thần kinh khác nhau Bệnh nhân với tổn thương não phải thường xuất hiện chứng mất hiểu biết (alexithymia), chứng bệnh mà có liên quan đến việc khó khăn trong việc nhận dạng và miêu tả cảm xúc (Spaletta et al., 2001) [40]
Sự đột ngột mất đi tự chủ trong sinh hoạt hằng ngày có thể trở thành nỗi
ám ảnh đau buồn đối với họ trong thời gian dài Nhiều trường hợp đưa đến tình trạng gánh nặng tài chính, khiến bệnh nhân có cảm giác tội lỗi và không muốn tiếp tục tình trạng này nữa, đôi khi họ muốn được giải thoát Họ mất đi những quan tâm trong cuộc sống, chán ăn, chán tập luyện Phát hiện và điều trị trầm cảm cho bệnh nhân TBMMN rất quan trọng Vì trầm cảm có thể làm chậm hồi phục các di chứng và gia tăng các nguy cơ bệnh lý khác, dễ đưa đến các cơn đột quỵ tái phát, làm tình trạng bệnh trở nên phức tạp hơn
Ngoài ra, bệnh nhân TBMMN còn có thể xảy ra các rối loạn cảm xúc Người bệnh có thể cười hay khóc mà không có một lý do rõ ràng Đây thực sự
là khó khăn cho người thân trong gia đình hay người chăm sóc để hiểu được,
Trang 38cần một thời gian dài để làm quen, kiên nhẫn tìm hiểu ta mới hiểu được cách làm thế nào để an ủi họ cho phù hợp [11]
1.2.3.4 Các vấn đề có liên quan đến tinh thần bệnh nhân TBMMN
Tổ chức Y tế Thế giới đã từng phát biểu rằng: “Không có sức khỏe nếu không có sức khỏe tinh thần” đã giúp chúng ta khái quát được phần nào tầm quan trọng của sức khỏe tinh thần cũng như việc chăm sóc tinh thần đối với sức khỏe
Theo một nghiên cứu của Đại học y khoa Brown thì hầu hết người Mỹ tin rằng các bác sĩ nên xem xét nhu cầu tâm linh của họ như là một phần của chăm sóc y tế cho họ 73% tin rằng họ nên chia sẻ những niềm tin tôn giáo của họ với bác sĩ của mình 66% muốn bác sĩ hỏi về niềm tin tôn giáo hay tâm linh nếu bị bệnh nặng Từ 37 đến 40% tin rằng các bác sĩ nên hỏi về niềm tin tôn giáo Nhưng chỉ có hơn 10 đến 20 % báo cáo rằng bác sĩ của họ thảo luận
về tôn giáo hay tâm linh với họ [25]
Theo bài viết của “Trầm cảm và các dấu hiệu khác liên quan đến sức
khỏe tâm thần tăng nguy cơ tử vong sau đột quỵ thiếu máu cục bộ” của các
tác giả Linda S Williams, Sushmita Shoma Ghose, Ralph W Swindle, được
in trên tạp chí Tâm thần học Mỹ (The American Journal of Psychiatry) tháng
6, 2004 đã đưa ra trong số 51.119 bệnh nhân nhập viện sau một cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ và sống sót vượt quá 30 ngày sau đó, trong đó có 2.405 (4,7%) nhận được chẩn đoán là trầm cảm (ICD-9) và 2257 (4,4%) được chuẩn đoán là có rối loạn thần hoặc lạm dụng khác trong vòng 3 năm sau đó So với những người không có chuẩn đoán bệnh thì những người có chuẩn đoán trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác trẻ hơn và khả năng còn sống thấp hơn vào cuối thời gian theo dõi [35]
Một số nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân là một điều hết sức cần thiết Trong quá trình phục hồi chức năng cho
Trang 39bệnh nhân, nếu bệnh nhân có một sức khỏe tinh thần khỏe mạnh họ sẽ có đầy
đủ lý do, động lực để vượt qua những khó khăn trong việc hoàn thành các bài tập vật lý trị liệu, có khả năng để đối phó với những cảm xúc tiêu cực nảy sinh trong quá trình điều trị Từ đó có thể đẩy nhanh quá trình hồi phục cho bệnh nhân, giúp bệnh nhân tận hưởng cuộc sống
1.2.4 Một số phương pháp chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN
Theo Shelly E.Taylor viết trong cuốn Tâm lý học sức khỏe tái bản lần thứ 6, có 4 cách trong điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN: Tâm lý trị liệu bao gồm các biện pháp chữa trị cho trầm cảm
Huấn luyện hồi phục nhận thức để tái tạo trí nhớ
Huấn luyện trong phát triển kỹ năng đặc biệt
Sử dụng các cấu trúc, kích thích môi trường để thách thức khả năng của bệnh nhân tai biến [40]
Do tính đặc trưng của bệnh nhân TBMMN, việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân có thể áp dụng các phương pháp sau:
Tổ chức các hoạt động giải trí, vui chơi tập thể như chơi bài, chơi lô tô,
văn nghệ… Những hoạt động vui chơi này sẽ đem lại những hiệu quả bất ngờ Trầm cảm, lo âu và rối loạn khác có thể để lại những cá nhân có tác biệt trong
xã hội Giải trí trị liệu có thể cung cấp cho bệnh nhân với một cơ hội để cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua một cảm giác gia tăng kiểm soát, tương tác xã hội, hỗ trợ xã hội và những khả năng hoàn thành nhiệm vụ được định hướng Nó cũng có thể giúp đỡ những người dễ bị tổn thương phát triển hoặc tái thiết lập các kỹ năng xã hội trong một môi trường có kiểm soát
Tạo càng nhiều tiếng cười càng tốt Quan điểm cho rằng sự hài hước và
tiếng cười là tốt cho sức khỏe không phải là mới Calman trong một nghiên cứu về cách kể chuyện hài hước và thảo luận trên quan điểm y học về cách hài hước có giá trị trong việc tăng cảm giác hạnh phúc, cải thiện các chức
Trang 40năng sinh lý và tâm lý, và thậm chí thay đổi ngưỡng đau Tiếng cười có tiềm năng để giảm bớt căng thẳng ở những bệnh nhân và các chuyên gia y tế Nó
có thể đem lại cơ hội để quên đi lo lắng và đau đớn trong một thời gian ngắn Khi các bác sĩ chia sẻ một cách hài hước với các bệnh nhân, họ tạo ra những đường thông tin liên lạc mà làm cho bệnh nhân an tâm và có thể khuyến khích
họ để thảo luận về các vấn đề khó khăn Tiếng cười có thể đặt cả hai bên thoải mái trong một cách mà nhiều kiểu liên lạc chính thức thì không thể làm được
Tổ chức các hoạt động như sáng tác, kể chuyện và đọc thơ Mối quan
hệ giữa sáng tác và hạnh phúc tinh thần cho đến này được xem như là một một phương thức đầy hứa hẹn cho sự hạnh phúc của bệnh nhân nói chung Trong sức khỏe tinh thần, việc sử dụng văn bản như một phương tiện để thể hiện những suy nghĩ và cảm xúc có thể có giá trị chữa bệnh Một nghiên cứu của Deurzen Smith vào năm 1997 cho thấy một sự giảm đáng kể về mức độ trầm cảm ở những bệnh nhân được hướng dẫn để chọn đọc văn học, tiểu thuyết hay thơ ca, so với nhóm không được đọc Thông qua thơ, truyền thuyết, văn học dân gian, huyền thoại, lịch sử, tiểu thuyết hoặc buổi biểu diễn, câu chuyện là một thành phần quan trọng của tất cả kinh nghiệm của con người Calman mô tả việc sử dụng các câu chuyện như là một phương tiện cho các bác sĩ để thiết lập mối quan hệ tin cậy với các bệnh nhân và để học hỏi lẫn nhau những bài học có giá trị Cụ thể với lý do hài hước như một khía cạnh quan trọng của cách kể chuyện, Calman khẳng định rằng câu chuyện hỗ trợ trong việc phát triển kiến thức về cảm xúc, đặc biệt là liên quan đến việc chia
sẻ kinh nghiệm giữa các bác sĩ trong đào tạo
Cho bệnh nhân nghe nhạc Một nghiên cứu của trường đại học Helsinki
cho thấy rằng những bệnh nhân đột quỵ được nghe nhạc trong vòng 1 tới 2 giờ mỗi ngày hồi phục nhanh hơn (60%) so với bệnh nhân không nghe (29%)