Giai đoạn đầu, KNQLTG chưa được đào sâu trong nghiên cứu, cốt lõi vẫn là KNS vì tình hình chung của Thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ, nhất là kinh tế - chính trị - xã hội, đòi
Trang 18 B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ H ỌC
NGUY ỄN PHÚC HẬU
KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ H ỌC
NGUY ỄN PHÚC HẬU
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Đề tài “Kỹ năng quản lý thời gian trong hoạt động học tập của sinh viên một
số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện dưới sự đồng ý
của Khoa Tâm lý học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là đề tài tốt nghiệp Đại học của sinh viên Nguyễn Phúc Hậu
Tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa Tâm lý học đã chấp thuận và tạo điều kiện cho tác giả tiến hành thực hiện đề tài Đồng thời gửi đến các bạn sinh viên thuộc các trường ĐH đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thạc sĩ Mai Mỹ Hạnh đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tâm trong suốt quá trình tác giả thực hiện đề tài Thạc sĩ đã luôn động viên, ủng hộ và hỗ trợ tối đa về nhiều mặt để tác giả có thể hoàn thành được đề tài này
Do thời gian và điều kiện hạn chế nên đề tài chỉ được thực hiện trong phạm vi nghiên cứu nhất định với mong muốn mở ra một hướng nghiên cứu mới và thực sự cần thiết Mọi ý kiến đánh giá, nhận xét từ Hội đồng sẽ là những thông tin quý báu
để tác giả có thể rút kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau
Sinh viên
Nguy ễn Phúc Hậu
Trang 4M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Một số nghiên cứu về KNQLTG ở nước ngoài 5
1.1.2 Một số nghiên cứu KNQLTG trong nước 8
1.2 Lý luận nghiên cứu vấn đề về KNQLTG 10
1.2.1 Lý luận về kỹ năng 10
1.2.2 Lý luận về QLTG 17
1.2.3 Lý luận về KNQLTG 19
1.2.4 Lý luận về HĐHT 27
1.2.5 Lý luận về KNQLTG trong HĐHT của SV 32
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến KNQLTG trong HĐHT của SV 44
1.3.1 Yếu tố chủ quan 44
1.3.2 Yếu tố khách quan 45
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ THỰC TRẠNG KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TP.HCM 49
2.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VỀ KNQLTG TRONG HĐHT CỦA SV MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH TẠI TP HCM 49
2.2 THỰC TRẠNG KNQLTG TRONG HĐHT CỦA SV MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH TẠI TP HCM 56
2.2.1 Mức độ quan tâm, hiểu biết, tầm quan trọng và cần thiết của KNQLTG trong HĐHT của SV 56
2.2.2 Tự đánh giá KNQLTG của SV 57
2.2.3 Thực trạng nhận thức KNQLTG trong HĐHT của SV 59
2.2.4 Thực trạng thái độ về KNQLTG trong HĐHT của SV 66
2.2.5 Thực trạng biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV 68
2.3 MỨC ĐỘ KNQLTG TRONG HĐHT CỦA SV MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH TẠI TP HCM 85
2.4 SO SÁNH MỨC ĐỘ KNQLTG THEO GIỚI, TRƯỜNG, NĂM THỨ, HỌC LỰC VÀ SỰ THAM GIA HUẤN LUYỆN KNQLTG 88
2.4.1 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo giới tính 88
Trang 52.4.2 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo trường 88
2.4.3 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo năm thứ 89
2.4.4 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo học lực 90
2.4.5 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV trong việc tham gia huấn luyện KNQLTG 91
2.4.6 Sự tương quan giữa các bước hình thành KNQLTG 91
2.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KNQLTG CỦA SV 93
2.6 BIỆN PHÁP NÂNG CAO KNQLTG CỦA SV 95
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIÊM KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TP HCM 99
3.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 99
3.2 TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 100
3.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIÊM TÁC ĐỘNG 104
3.3.1 Kết quả nghiên cứu trước thực nghiệm 104
3.3.2 Kết quả nghiên cứu sau thực nghiệm 106
3.4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM PHÁT HIỆN 113
Trang 614 Program Evaluation Review Technique (kỹ thuật xét duyệt
16 The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills SCANS
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG
1 1.1. B ảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm của K.K
6 2.5 Thang đo mức độ biểu hiện KNQLTG về mặt hành vi của SV 50
9 2.8 Mức độ quan tâm, hiểu biết, quan trọng và sự cần thiết của
23 2.22 KNQLTG trong s ử dụng phương tiện học tập của SV 78
27 2.26 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo giới tính 83
28 2.27 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo trường 83
29 2.28 So sánh biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo năm thứ 84
Trang 830 2.39 So sánh bi ểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV theo học lực 85
31 2.30 So sánh bi ểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV trong việc tham
32 2.31 S ự tương quan giữa lập kế hoạch QLTG, tổ chức sử dụng thời gian,
34 2.33 Bi ện pháp nâng cao KNQLTG của SV trong HĐHT về giới và việc
35 3.1 Thang đo mức độ quan trọng và sự cần thiết của KQLTG trong
36 3.2 Thang đo mức độ nhận thức của các câu 4,6,5,7 95
38 3.4 So sánh KNQLTG gi ữa nhóm ĐC và nhóm TNg trước TNg 97
40 3.6 So sánh KNQLTG giữa nhóm TNg trước và sau TNg 102
41 3.7 So sánh biểu hiện nhân thứcKNQLTG giữa nhóm ĐC và nhóm TNg
42 3.8 So sánh m ức độ tiêu chí đánh giá giữa nhóm ĐC và nhóm TNg sau
Trang 9DANH M ỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
A DANH M ỤC BIỂU ĐỒ
STT Bi ểu
1 2.1 M ức độ tự đánh giá KNQLTG trong HĐHT của SV 56
2 2.2 Mức độ biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV 81
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động sống của con người ngày càng diễn biến theo hướng đa dạng hóa,
bởi sự phát triển không ngừng của xã hội về mọi lĩnh vực, ngành nghề Trong đó có
cả hoạt động giáo dục – hoạt động chủ đạo trong sự hình thành và phát triển tâm lý của con người Theo GS.TS Dương Thiệu Tống: “Giáo dục ngày nay đã trở thành
một khoa học vì nó thể hiện chức năng xã hội của khoa học và khẳng định tính có mục đích trong mục đích hoạt động của nó” [36] Chính vì bắt nguồn từ thực tiễn xã
hội nên giáo dục luôn vận động không ngừng và đang nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, bao gồm hoạt động giáo dục Đại học nói chung và HĐHT của SV nói riêng
Dưới góc độ Tâm lý học, theo tác giả Lê Văn Hồng: “Hoạt động học là hoạt
động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, giá trị, kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định” Bên cạnh việc học kiến thức chuyên môn SV cần trau dồi nhiều kỹ
năng để có thể nhận thức rõ nhiệm vụ học tập, từ đó có thái độ và hành vi đúng đắn hướng đến hoàn thành mục tiêu học tập đã đề ra Một trong những yếu tố quan trọng xây dựng tính tự giác trong hoạt động học của SV là việc làm chủ thời gian học tập
Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, SV gặp nhiều khó khăn trong sắp xếp thời gian lên kế hoạch học tập và có biểu hiện như học để đối phó, học vẹt không nghiên cứu sâu, học “tủ”, tâm trạng lo âu, sợ thi, giảm học lực, bỏ học Trong những công trình nghiên cứu về kỹ năng trong lĩnh vực Tâm lý học hiện nay có khá nhiều những công trình nghiên cứu về kỹ năng mềm như: kỹ năng tự đánh giá, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý cảm xúc, nhưng vấn đề về KNQLTG của SV chưa có nhiều Như vậy, tìm hiểu biểu hiện hành vi KNQLTG trong HĐHT của SV (từ lên kế hoạch học tập khoa học, thực hiện kế hoạch có sự nỗ lực, và kiểm tra đánh giá kết quả trong học tập) là nhiệm vụ mới mẻ,
cụ thể hơn và rất cần thiết cho thực tiễn
Nhằm tìm hiểu KNQLTG ở SV hiện nay như thế nào, hướng đến SV có nhận thức đúng đắn, có các biện pháp giải quyết một số khó khăn về KNQLTG trong
Trang 11HĐHT thông qua việc tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng, đó chính là những vấn đề cần khảo sát và phân tích trên bình diện số liệu thống kê khoa học
Từ những cơ sở trên mà đề tài “KNQLTG trong HĐHT của SV một số
trường Đại học tại TP HCM” được xác lập
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó tổ chức chuyên đề có liên quan để nâng cao nhận thức về KNQLTG trong HĐHT của SV
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết nghiên cứu
KNQLTG trong hoạt động học tập của SV một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh ở mức độ trung bình
Có thể nâng cao KNQLTG thông qua việc tổ chức chuyên đề, khóa học ngắn hạn trong HĐHT kỹ năng mềm của SV
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài như: Kỹ năng, KNQLTG, hoạt động, HĐHT của SV
- Khảo sát biểu hiện KNQLTG trong HĐHT của SV một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện này Trên cơ sở đó, tiến hành TNg nâng cao nhận thức KNQLTG cho SV thông qua việc
tổ chức chuyên đề, khóa học ngắn hạn trong HĐHT kỹ năng mềm của SV
Trang 12Đề tài tiến hành nghiên cứu 3 trường Đại học tại TP HCM, bao gồm: ĐHSP
TP HCM, ĐH Hutech, ĐH CNSG Mỗi trường chọn ngẫu nhiên 2 lớp thuộc năm thứ ba và năm thứ tư
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như khái niệm kỹ năng, QLTG, KNQLTG, KNQLTG trong HĐHT, khái niệm hoạt động, HĐHT, yếu tố ảnh hưởng đến KNQLTG trong HĐHT của SV Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
Hiện nay SV gặp khó khăn trong sắp xếp việc học tập, trong việc hình thành thói quen học tập theo thời gian biểu khoa học, xuất hiện những hành vi tiêu cực trong học tập như học vẹt, học đối phó, học dồn ép bản thân, học “nước đến chân mới nhảy”, dẫn đến hậu quả trì trệ kết quả học tập, tăng áp lực trong học tập, chán học, bỏ học Vì vậy tìm hiểu nhận thức, thái độ và hành vi, từ đó giải thích nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của SV về KNQLTG trong HĐHT, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
7.2.Cá c phương pháp nghiên cứu đề tài
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 137.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Xây dựng bảng hỏi dành cho
SV, để tìm hiểu KNQLTG trong HĐHT của SV một số trường Đại học tại TP HCM
b Phương pháp TNg phát hiện
Cách thức TNg là cho SV tham gia vào các hoạt động, các tình huống cụ thể
để đo các thao tác và mức độ biểu hiện của KNQLTG Đây sẽ là cứ liệu thực tế và
có giá trị để đánh giá mức độ thực trạng KNQLTG của SV
7.2.2.4 Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý thống kê như: tính tần số, tỷ
lệ phần trăm, ĐTB , ĐLC, kiểm nghiệm T-Test, kiểm nghiệm ANOVA, tương quan PEARSON để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số nghiên cứu về KNQLTG ở nước ngoài
Thuật ngữ KNQLTG được Thế giới bắt đầu quan tâm sau khi khái niệm KNS được bàn luận vào những năm 1970, KNQLTG được nhìn nhận dưới góc độ là một nhánh của KNS - thường được sử dụng rộng rãi trong giáo dục và xã hội Đồng thời thuộc loại kỹ năng thành phần trong nhóm phân loại KNM - được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây, dành cho các đối tượng đang trong quá trình lập thân - lập nghiệp trong đó có thanh niên SV Giai đoạn đầu, KNQLTG chưa được đào sâu trong nghiên cứu, cốt lõi vẫn là KNS vì tình hình chung của Thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ, nhất là kinh tế - chính trị - xã hội, đòi hỏi con người cần phát triển một số KNS cần thiết để thích ứng với xu thế toàn cầu, trong đó:
Năm 1989, Bộ lao động Mỹ đã thành lập một Ủy ban Thư ký về rèn luyện các
kỹ năng cần thiết (SCANS), thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao” [19] Năm 1994, cuộc thử nghiệm mô hình kiểm tra quy trình QLTG đã được thực hiện nhằm chứng minh lý thuyết cho rằng hành vi QLTG sẽ làm tăng hiệu quả lao động, sự hài lòng và giảm bớt căng thẳng trong công việc Có 353 người được thử nghiệm phải hoàn tất một loạt các công việc và được giám sát hiệu suất lao động Kết quả thử nghiệm cho thấy, hành vi QLTG có thể có tác động đến
sự hài lòng và giảm bớt căng thẳng công việc Tuy nhiên lại không liên quan đến hiệu suất công việc, từ đó đi đến kết luận nghiêm khắc rằng đào tạo QLTG không tìm thấy được hiệu quả [48]
Tại Châu Phi, cụ thể là Nepal, KNS được xem là một phương thức để ứng phó hay những kỹ năng cần để tồn tại bao gồm: kỹ năng tồn tại; kỹ năng chung về giải quyết vấn đề; kỹ năng dịch chuyển tức là sự thích ứng với nghề nghiệp, kết hợp giữa kỹ năng tồn tại, kỹ năng chung và kỹ năng nghề nghiệp Một nghiên cứu lý
Trang 15thuyết và cả TNg năm 2010 về việc chứng minh yếu tố QLTG ảnh hưởng đến kết quả thấp trong học tập của SV kỹ thuật Phi, tuy nhiên kết luận hoàn toàn ngược lại, không có mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê giữa KNQLTG và kết quả học tập [43]
Tại Lào, từ năm 1997 – 2002, lần đầu tiên việc giáo dục KNS được thực hiện tại năm trường THCS thuộc một tỉnh thành, sau đó mở rộng ra 700 trường tiểu học
và trung học thuộc 8 tỉnh, tuy nhiên nội dung chương trình chưa đề cập đến việc sử dụng thời gian mà tập trung vào kỹ năng giao tiếp có hiệu quả, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề [20]
Tại Campuchia, tìm việc, kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những
kỹ năng quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn, quốc gia này cho rằng KNS là năng lực cần phải có để nâng cao điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, trong đó bao gồm ba nhóm kỹ năng: kỹ năng chung, kỹ năng tiền nghề nghiệp,
kỹ năng nghề nghiệp Trong giáo dục KNS, Campuchia đã đề ra những mục tiêu về việc tích hợp kỹ năng vào môn học, đồng thời các kỹ năng nghề được lựa chọn thực hiện dựa trên khả năng của từng trường Như vậy, KNQLTG của người học nói chung và SV nói riêng chưa thật sự được quan tâm trong điều kiện đất nước gặp khó khăn về nhiều mặt [20]
Một số nước khác tại Châu Á như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ,… cũng đã dần nghiên cứu và triển khai chương trình dạy KNS vào các bậc học phổ thông từ mầm nom cho đến THPT Những nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nước là trang bị cho người trẻ những kỹ năng sống cần thiết để họ thích nghi dần với cuộc sống sau này [20]
Trong giai đoạn sau những năm 90 đến nay, con người bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến QLTG trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển, từ đó mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới về loại kỹ năng này và giáo dục là một trong những hướng nghiên cứu mang tính tiềm năng nhất
Năm 1990, trên Journal of Educational Psychology đã công bố kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả người Mỹ gồm Macan và cộng sự về mối tương quan giữa QLTG của SV trường Đại học với thành tích học tập và stress Một chiến lược tiềm năng được đề xuất bởi các dịch vụ tham vấn trong trường Đại học được thực hiện thường xuyên đó là QLTG Kết quả nghiên cứu cho thấy những SV nhận thức rõ
Trang 16việc QLTG của chính mình thường nhận được sự đánh giá tốt năng suất làm việc,
họ có công việc tốt, hài lòng với cuộc sống, ít mơ hồ, ít bị quá tải và căng thẳng do công việc gây ra, ngoài ra nghiên cứu cũng phát hiện động lực QLTG của SV phức tạp hơn nhiều so với lý thuyết và dự kiến trước đó [47] Cùng chủ đề nghiên cứu, nhóm tác giả Misra, Ranjita McKean, Michelle được đăng trên tạp chí American Journal of Health Studies năm 2000, với bài báo “Quan hệ giữa stress, lo âu, QLTG
và vui chơi giải trí của SV Đại học”, nghiên cứu được thực hiện trên 249 SV Đại học Kết quả cho thấy hành vi QLTG là yếu tố tạo nên căng thẳng trong học tập và hơn cả các hành vi giải trí, nữ giới có hành vi QLTG hiệu quả hơn nam giới nhưng lại căng thẳng và lo âu trong học tập nhiều hơn Giảm lo âu và QLTG kết hợp với các hoạt động giải trí có thể là một chiến lược hiệu quả để giảm căng thẳng trong học tập SV Đại học [48]
Năm 1991, trên Journal of Educational Psychology đã công bố kết quả nghiên cứu về Ảnh hưởng thực tiễn của QLTG trong lớp học do nhóm tác giả Britton, Bruce K, Tesser và Abraham thực hiện Nghiên cứu được thực hiện trên 90 SV vào năm 1983, sau bốn năm các nhà nghiên cứu cho biết QLTG có thể ảnh hưởng đến thành tích học Đại học [43] Tuy nhiên, một nghiên cứu khác vào năm 1996, so sánh KNQLTG và kết quả học tập của SV thuộc 3 độ tuổi: dưới 21 tuổi (N = 172),
21 tuổi đến 25 tuổi (N = 50), hơn 25 tuổi (N = 71) Phân tích kết quả cho thấy, SV
nữ ở độ tuổi dưới 21 tuổi có KNQLTG tốt hơn nam SV thuộc 21 đến 25 tuổi, SV hơn 25 tuổi có KNQLTG tốt hơn hai nhóm còn lại Trong khi đó, thành tích học tập chỉ có mối liên hệ với yếu tố độ tuổi và một số thành phần trong KNQLTG nói chung [50]
Năm 2010, nghiên cứu dành cho SV sư phạm trong mối quan hệ giữa KNQLTG và thành tích học tập được nhóm tác giả Cemaloglu, Necati, Filiz và Sevil công bố trên tạp chí Educational Research Quarterly tại Hoa Kỳ Nghiên cứu được tiến hành trên 849 SV tốt nghiệp thuộc khoa Giáo dục tại Đại học Gazi, kết quả cho thấy hành vi của SV trong lập kế hoạch thời gian ở mức cao và hành vi trong mục người sử dụng thời gian ở mức thấp nhất, sự thành công của SV là trên trung bình Có mối quan hệ ý nghĩa và tích cực giữa kế hoạch thời gian, người sử dụng thời gian và thành tích học tập của SV, đồng thời giữa QLTG và thành tích học tập [46]
Trang 17Năm 2013, tạp chí International Journal of Business and Social Science đã công bố công trình nghiên cứu của Abdülkadir PEHLİVAN về ảnh hưởng của KNQLTG của SV kế toán tài chính trường Karadeniz Technical University nước Thổ Nhĩ Kỳ lên trình độ và điểm số trung bình Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm QLTG của SV ở mức vừa phải, nữ sinh có điểm số cao hơn nam sinh và thông qua phân tích hồi quy đã chứng minh được KNQLTG của SV ảnh hưởng đến thành tích học tập của họ [42]
Tóm lại, đa số các nước đang dần chú trọng hơn về giáo dục KNS, đồng thời ngày càng có nhiều nghiên cứu khoa học đi sâu vào lĩnh vực KNQTG của SV Trước nhu cầu thực tiễn, xã hội ngày càng đặt ra nhiều yêu cầu mới và rất cần thiết không chỉ đối với trình độ chuyên môn mà còn cả kiến thức, các kỹ năng bổ trợ của nguồn nhân lực tương lai Cùng với xu thế chung của Thế giới, SV Việt Nam là thế
hệ tiếp nối, cần được trau dồi các kỹ năng cơ bản trong đó có KNQLTG để chuẩn bị tham gia lao động nghề nghiệp
1.1.2 Một số nghiên cứu KNQLTG trong nước
Tại khoản 3 điều 39 mục 4 chương số 2 của Luật giáo dục được bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 đã nêu mục tiêu của giáo dục Đại học:“Đào tạo trình độ Đại học giúp SV nắm vững kiến thức chuyên môn và
có k ỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo”, đồng thời tại khoản 2 điều
40 yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục Đại học trình độ cao đẳng, trình độ
Đại học “phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [3] Hệ thống
luật giáo dục và các văn bản hiện hành có giá trị về mặt pháp lý đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học nói chung và bậc Đại học nói riêng, đồng thời chú trọng đến công tác giáo dục kỹ năng
và phát huy tính tự lực, tự giác ở người học
Năm 1977, Bộ Giáo dục đã nghiên cứu, thực nghiệm một hình thức mới đào tạo SV Sư phạm với cơ chế, chế độ và chính sách mới tách biệt khỏi hình thức đào tạo truyền thống, mục đích của công trình này là tìm cách khơi dậy đến mức cao nhất có thể được tiềm năng về tự quản lý, tự đào tạo của SV, qua đó đánh giá thật
Trang 18đúng tiềm năng này, đánh bạt tư tưởng cho rằng chỉ những người thông minh đặc biệt mới có khả năng tự đào tạo cao, người bình thường bao giờ cũng phải có thầy kèm cặp thường xuyên TNg này đã gặp rất nhiều khó khăn, tuy nhiên kết quả rất khả quan và hiện nay có thể nói đã được ứng dụng vào hình thức giáo dục chủ động lấy người học làm trung tâm, phát huy năng lực tự quản lý HĐHT của chính SV [34]
Năm 2009, tác giả Đỗ Thu Hà cùng các cộng sự đã thực hiện đề tài: “Nghiên
c ứu việc sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của SV một số trường Đại học trên địa bàn Hà Nội”, với mục tiêu xác định được thực trạng sử dụng quỹ thời gian
ngoài giờ lên lớp của SV một số trường Đại học trên địa bàn Hà Nội từ đó đề xuất một số khuyến nghị về việc sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của SV Kết quả cho thấy việc sử dụng thời gian cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp có những mối liên hệ nhất định đến kết quả học tập của SV [52]
Năm 2010, tác giả Nguyễn Hữu Long bảo vệ đề tài: “Kỹ năng sống của học sinh Trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh”, kết quả khảo sát cho thấy
KNQLTG hiệu quả chưa được các nhà nghiên cứu và chuyên gia đánh giá cao về mức độ quan trọng, xếp thứ 10 trong tổng số 10 kỹ năng được tác giả hệ thống lại theo thứ bậc Điều này cho thấy sự cần thiết của những đề tài nghiên về KNQLTG hơn nữa so với nhu cầu thực tế [20]
Năm 2011, tác giả Huỳnh Văn Sơn công bố kết quả nghiên cứu: “Thực trạng KNQLTG c ủa SV một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, kết
quả nghiên cứu cho thấy phần lớn SV đã hiểu đúng về khái niệm QLTG nhưng những biểu hiện, hành động cụ thể trong KNQLTG của SV mới chỉ đạt ở mức trung bình [29]
Năm 2013, nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Văn Hiến và
Phương Diễm Hương đã công bố kết quả đề tài: “Thực trạng kỹ năng tự học ngoài
l ớp học của SV chính quy sư phạm trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” về yếu tố thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp của SV sư phạm chính quy cho thấy khuynh hướng các SV có kết quả học tập tốt thường dành nhiều thời gian tự học ngoài lớp hơn so với các SV có kết quả không tốt, đây chính là một phần trong KNQLTG trong HĐHT của SV [16]
Trang 19Sách bạn trẻ và kỹ năng sống của tác giả Huỳnh Văn Sơn đã đề cập đến
“Những kẻ cắp thời gian” và cho rằng “ QLTG là một trong những yếu tố rất quan
trọng để hướng con người đi đến sự hoàn thiện cũng như chuyên nghiệp trong công việc và cuộc sống” [25]
Sách “Ứng xử sư phạm và giáo dục KNS trong nền giáo dục hiện nay” của
nhóm tác giả Tăng Bình, Thu Huyền và Ái Phương đã bàn về các kỹ năng để đạt hiệu quả trong học tập, bên cạnh kỹ năng tự học và kỹ năng thuyết trình, KNQLTG
được phân tích rõ ràng, phù hợp với thực tiễn học tập của SV như: “khái quát KNQLTG; lập kế hoạch cụ thể; bảy sai lầm cần tránh; lập thời gian biểu hiệu quả;
11 m ẹo cần tránh tình huống nước đến chân mới nhảy; thời gian là tất cả…” [2]
Nhìn chung, tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu kỹ năng sống, kỹ năng mềm nói chung và về KNQLG nói riêng nhưng chưa có những nghiên cứu tiếp cận
cụ thể về KNQLTG trong HĐHT Các nghiên cứu tập trung vào một số kỹ năng mềm cần thiết, dễ thực hiện và thấy được hiệu quả nhanh chóng Đồng thời, nhiều tác giả nghiên cứu kỹ năng trên phạm vi hoạt động sống nói chung, chưa “đi” sâu hoạt động thành phần, cụ thể là HĐHT Chính vì vậy, đề tài “KNQLTG trong hoạt
động học tập của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh”
là một hướng nghiên cứu rất cần thiết
1.2 Lý luận nghiên cứu vấn đề về KNQLTG
1.2.1 Lý luận về kỹ năng
1.2.1.1 Khái ni ệm về kỹ năng
Thuật ngữ kỹ năng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước Mỗi quan niệm mang một ý nghĩa nhất định và thể hiện cụ thể lập trường của tác giả
Quan niệm thứ nhất xem kỹ năng là kỹ thuật hành động, thao tác:
Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là thói quen áp dụng vào thực tiễn những kiến thức đã học hoặc là những kết quả của quá trình luyện tập [18]
Từ điển tâm lý học Mỹ do tác giả J.P.Chaplin chủ biên 1968 định nghĩa kỹ năng là “thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [6] Từ điển tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa
“Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững phương thức hành động mới – dựa
Trang 20trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [21]
Tác giả N.D.Levitov xem xét kỹ năng gắn liền với kết quả của hành động Theo ông người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động, nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động vừa phải biết vận dụng ý thuyết đó vào thực tế [19]
Tác giả Trần Trọng Thủy (1978) trong “Tâm lý học lao động” cũng cho rằng
KN là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là có kỹ thuật của hành động, có KN [32]
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng:
“Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” [1]
Với hệ thống khái niệm “kỹ năng” như trên, chỉ có thể vận dụng vào việc lý giải đối với loại kỹ năng được thực hiện bởi các thao tác, hành động đơn giản, tuy nhiên khi phân tích các loại kỹ năng phức tạp trong cấu trúc của một hoạt động đa dạng hơn như KNQLTG trong HĐHT thì hệ thống quan niệm kỹ năng về mặt thao tác, hành động chỉ là điều kiện cần Trong quá trình thao tác và hành động biểu hiện một loại kỹ năng, sẽ có các yếu tố môi trường tác động lên chủ thể, làm ảnh hưởng đến kết quả hành động, kết quả hoạt động vì vậy không thể đánh giá chủ thể thiếu
kỹ năng hoặc chủ thể thực hiện hành động một cách rập khuôn, máy móc, không có khả năng khái quát đối tượng một cách toàn thể, khó có thể kết luận chủ thể hoàn toàn có kỹ năng
Quan niệm thứ hai xem KN là một biểu hiện của năng lực con người:
Trong những năm 1970 trong các sách Tâm lý học của Liên Xô cũ thường nói đến hành động: hành động ý chí, hành động tự động hóa và kỹ năng được coi là giai đoạn đầu của các hành động tự động hóa Nhiều tác giả cho rằng để hình thành kỹ năng con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tiễn [25]
Từ điển Tiếng Nga (1968) định nghĩa: KN là khả năng làm một cái gì đó, khả năng này được hình thành bởi tri thức, kinh nghiệm Đồng quan điểm, hai nhà
Trang 21nghiên cứu K.K.Platonov và G.G.Golubev (1977) cũng cho rằng KN là năng lực của con người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong điều kiện mới và trong khoảng thời gian tương ứng [18]
A.V Petrovxki cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản của chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” [22]
Theo V.A.Crutexki (1974): “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước”, “Kỹ năng là sự thực hiện thành công một hay nhiều hoạt động phức tạp nào đó với những thủ thuật, những phương thức đúng đắn” [22]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của
con người để thực hiện các công việc có kết quả đã bao hàm cả quan niệm kỹ năng
là kỹ thuật hành động trong đó, bởi chỉ khi sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần thục thì mới có được kết quả công việc có chất lượng”, từ đó ra kết luận
“Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động,
mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [25]
Từ những quan niệm trên, nhận thấy kỹ năng không chỉ là thao tác, hành động
mà còn là biểu hiện của năng lực, giúp con người thực hiện hoạt động có hiệu quả hơn trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định
Trên cơ sở đó, đề tài xác lập kỹ năng là khả năng vận dụng có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm về phương thức hành động của chủ thể để thực
hi ện những hành động tương ứng một cách có hiệu quả trong hoàn cảnh nhất định Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người”
1.2.1.2 Đặc điểm của kỹ năng
Nếu kỹ xảo là một hành động đã được củng cố và tự động hóa [33], nói cách khác tuy mức độ tham gia của ý thức là ít, có đôi khi chủ thể không cảm thấy và đạt được năng xuất cao trong hành động thì ở kỹ năng – cấp độ thấp hơn, nhận thức đóng vai trò tích cực, thường trực Trong quá trình thực hiện hành động, chủ thể phải nhận biết rõ nhiệm vụ, nội dung, các thao tác và hành động cụ thể để thực hiện
Trang 22kỹ năng đó Ngoài ra, chủ thể cần chuẩn bị tâm thế sẵn sàng bên cạnh việc duy trì thái độ tích cực để có thể vượt qua khó khăn, trở ngại thực hiện kỹ năng một cách
dễ dàng
Một là tính chủ thể của kỹ năng, mỗi chủ thể khi thực hiện thao tác, hành động
phải phối hợp với các loại cảm giác, tri giác khác nhau để kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được, nhưng diễn trình này lại mang tính chủ quan, tùy vào năng lực thực hiện của mỗi chủ thể mà kỹ năng thuộc mức độ nào, chính vì thế việc tự giác rèn luyện, củng cố kỹ năng giúp chủ thể nâng cao và hoàn thiện bản thân hơn
Hai là tính đúng đắn của kỹ năng, tức trong quá trình thực hiện hành động, đặc
biệt ở những giai đoạn đầu hình thành kỹ năng, chủ thể thực hiện hành động vẫn còn sai phạm nhất định trong nhận thức và trong hành vi, thao tác thực hiện Càng ở những giai đoạn sau, kỹ năng càng hoàn hảo thì sự sai phạm của kỹ năng càng được loại bỏ dần Khi đó, chủ thể hầu như không còn gặp phải sai phạm trong quá trình thực hiện hành động, thao tác
Ba là tính thuần thục của kỹ năng, tức là trong quá trình thực hiện hành động,
chủ thể thực hiện các thao tác, hành vi một các thành thạo, thuần thục, không còn những thao tác thừa, không còn gặp vướng mắc khi triển khai hành động Đây là sự phù hợp giữa mục đích và điều kiện để thực hiện hoạt động Tính thành thục được thể hiện ở sự thành thạo của từng thao tác và sự kết hợp hợp lý các thao tác về số lượng và trình tự Có được sự thuần thục là một trong những biểu hiện đỉnh cao của
kỹ năng hành động
Bốn là, tính linh hoạt của kỹ năng, tức là không chỉ trong một trường hợp cố
định, duy nhất, chủ thể mới có thể thực hiện được có hiệu quả hành động đó mà trong nhưng trường hợp tương tự hoặc trong những hoàn cảnh khác nhau chủ thể vẫn biết sử dụng các tri thức, kinh nghiệm đã có và thao tác phù hợp để thực hiện có hiệu quả hoạt động Tính linh hoạt còn thể hiện được ở chỗ chủ thể biết tự mình bỏ
đi những thao tác không cần thiết trong những tình huống nhất định hoặc thêm vào những thao tác phù hợp để thực hiện có hiệu quả hành động Tính linh hoạt là biểu hiện đặc trưng của sự sáng tạo trong kỹ năng
Năm là tính hiệu quả, tức là sau khi chủ thể thực hiện hành động, thao tác phù
hợp phải mang lại được kết quả như mục tiêu ban đầu được đề ra Đây là yếu tố quyết định để đánh giá mức độ kỹ năng của chủ thể
Trang 23Ngoài ra kỹ năng còn có các đặc điểm khác, tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, sẽ sử dụng 5 đặc điểm đã phân tích trên để làm cơ sở lý luận bao gồm: tính chủ thể, tính đúng đắn, tính thuần thục, tính linh hoạt và tính hiệu quả
Bảng 1.1 Bảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm của K.K Platonov
và G.G Golubev
Theo quan điểm của V.P.Bexpalko, có năm mức độ kỹ năng sau:
- M ức độ một: Kỹ năng ban đầu
Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng kỹ năng nào đó, và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động nhất định Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này thì người học thường chỉ
thực hiện được yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy
1 M ức độ 1 Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo
cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
2 Mức độ 2 Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
3 M ức độ 3 Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất
rời rạc, riêng lẻ
4 M ức độ 4 Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động
5 M ức độ 5 Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình
huống khác nhau
Trang 24trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới
- M ức độ ba: Kỹ năng trung bình
Người học tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển của các kỹ năng sang tình huống mới còn hạn chế
- Mức độ bốn: Kỹ năng cao
Một sự khác biệt thể hiện kỹ năng ở mức độ cao là người học đã tự lựa chọn các hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, người học đã biết di chuyển kỹ năng trong phạm vi nhất định
- M ức độ năm: Kỹ năng hoàn hảo
Đây là mức độ cao nhất của kỹ năng Người học nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì [14]
1.2.1.4 S ự hình thành kỹ năng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
Tác giả Rober J.Sternberg (2003) Đại học Yale nhìn nhận: “Thực chất của sự
hình thành k ỹ năng là tạo điều kiện để chủ thể nắm vững một hệ thống phức tạp các bước, các thao tác lám sáng tỏ thông tin chứa đựng những tình huống, các nhiệm
v ụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể” [50]
Theo tác giả Vũ Dũng thì kỹ năng hình thành qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Người học lần đầu làm quen với vận động và lần đầu lĩnh hội nó
Sự học vận động bắt đầu từ việc phát hiện các thành phần của vận động – tập hợp các thành tố vận động, trình tự thực hiện và mối liên kết của chúng Việc làm quen này diễn ra trên cơ sở người học được xem trình diễn lại, thuật lại, giảng giải và quan sát một cách trực quan quá trình thực hiện vận động Pha tiếp theo của giai đoạn thứ nhất đòi hỏi nhiều nỗ lực Người học phải lặp lại vận động nhiều lần để nắm được bức tranh bên trong của vận động Đồng thời học bản mã hóa những những tín hiệu từ các mệnh lệnh Việc tích lũy “Những từ điển chuyển mã” là một trong những sự kiện quan trọng nhất của giai đoạn này Cần phải lặp đi lặp lại nhiều
Trang 25lần để người học có thể tìm được “bảng mã” trong bất kỳ phương án nào của vận động, kể cả khi có sự lệch chuẩn
Giai đoạn 2: Giai đoạn tự động hóa vận động: Ở đây các thành phần chủ đạo
của vận động được giải phóng thành từng phần hoặc hoàn toàn khỏi sự liên quan đến nó, thoát khỏi sự kiểm soát của ý thức và sự “thoát khỏi” này có thể và cần sự trợ giúp
Giai đoạn 3: Diễn ra sự “mài bóng” kỹ năng nhờ quá trình ổn định hóa và tiêu
chuẩn hóa Trong quá trình ổn định hóa, kỹ năng đạt được tính bền vững và không
bị phá hủy trong bất kỳ tình huống nào Trong quá trình tiêu chuẩn hóa, kỹ năng dần được định khuôn nhờ lặp đi lặp lại vận động nhiều lần [9]
Như vậy, quá trình hình thành và phát triển KN cần chú ý một số vấn đề:
- Không tách rời KN ra khỏi hành động mà phải coi KN là những đặc điểm, những trình độ khác nhau của hành động
- Để đảm bảo sự điều khiển quá trình học tập, lĩnh hội tri thức, hình thành KN với các đặc tính đã đề ra thì cần phải có hai điều kiện là thiết lập cơ sở định hướng hành động và sự tuân thủ theo các giái đoạn hình thành hành động
- Hành động không thể bắt đầu từ sự tri giác hay ghi nhớ đối tượng mà phải bắt đầu từ sự triển khai các thao tác thực tiễn lên đối tượng, cụ thể là hành động với vật thật hay vật chất hóa Chính trong quá trình thao tác đó, một mặt bản chất của đối tượng được bộc lộ và nhận thức, mặt khác nó được biến đổi qua nhiều lần “ướm thử” với các thao tác để cuối cùng tạo ra sản phẩm phù hợp với logic các thao tác hành động
- Cơ chế của việc hình thành một hành động tâm lý mới nói chung là tuân theo các bước chuyển hóa từ ngoài vào trong theo lý thuyết Galpêrin
- Tiêu chuẩn để đánh giá kết quả luyện tập hành động với các vật liệu khác nhau là độ thuần thục, khái quát và tính sáng tạo linh hoạt Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là biến hành động thành các kỹ năng (đối với các hành động phức tạp), kỹ xảo (đối với các hành động đơn giản) tức là thành phương tiện hay khả năng để thực hiện các hành động [35]
Để kỹ năng được hình thành một cách hiệu quả, cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng như sau:
Trang 26- Nội dung nhiệm vụ:
Nội dung nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa sẵn hay bị che phủ bị những yếu tố phụ nào đó và làm lệch hướng tư duy và ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
Chính vì thế, cần thiết lập các thao tác xác định nội dung cua nhiệm vụ sao cho thật rõ ràng và cụ thể Nhất thiết cần trả lời câu hỏi: nhiệm vụ đó là gì? Thực hiện nhiệm vụ đó nghĩa là thực hiện yêu cầu cụ thể nào?
- Tâm thế và thói quen của chủ thể:
Khi con người tham gia vào việc tiếp nhận tri thức môn học thì sẽ dễ dàng hình thành những kỹ năng liên quan Các thói quen tích cực của cá nhân liên quan đến kỹ năng cũng tác động sâu sắc đến việc hình thành kỹ năng Vì vậy, tạo ra tâm thế và thói quen tích cực sẽ giúp chủ thể hình thành kỹ năng hiệu quả Cần chú ý đến việc phát huy những thói quen hỗ trợ sự hình thành kỹ năng và tiến hành làm thay đổi một thói quen nào đó là yếu tố cản trở cho quá trình hình thành kỹ năng
- Khả năng tư duy:
Trong quá trình thực hiện một nhiệm vụ, thông thường chủ thể phải sủ dụng nhiều thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp… để nhận biết nội dung nhiệm vụ
Vì vậy, khả năng phân tích, khái quát hóa đối tượng… tốt thì quá trình hình thành
kỹ năng sẽ diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn
Do vậy, khi hình thành kỹ năng cần lưu ý các yếu tố ảnh hưởng đến chủ thể như: tâm thế, thói quen, khả năng tư duy Cần chú ý rằng những khó khăn trong việc hình thành kỹ năng nào đó là cách mà ta nhận dạng kiểu nhiệm vụ, phát hiện thuộc tính và mối liên hệ có trong từng nhiệm vụ để lựa chọn, thao tác phù họp, hành động thực hiện mục đích nhất định [29]
1.2.2 Lý lu ận về QLTG
1.2.2.1 Thuật ngữ quản lý
Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học Với tầm quan trọng như vậy nên đã hình thành nên cả một ngành khoa học - Khoa học quản lý Do vậy, có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý Các nhà nghiên cứu nhiều góc độ tiếp cận để có những quan niệm khác nhau về khái niệm này L.I.LeNin cho rằng quản lý như một hoạt động xã hội không chỉ là thực tiễn
mà còn là lý luận Một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến sự tác động của quản lý
Trang 27đến con người Aunapu “Quản lý là hệ thống xã hội khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu nhằm vào những con người nhằm thành đạt các mục tiêu kinh tế xã hội xác định” [38]
Theo quan điểm chính trị xã hội: Quản lý được xem như quá trình liên kết thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó
Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,
có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống luật lên, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [28]
Theo Mary Parker Follet (Mĩ): Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng quản lý là một quá trình kĩ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn tác động tới hoạt động con người, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức
Theo Vũ Dũng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế
ho ạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” Theo ông bản
chất của quản lý bao gồm:
- Quản lý là những tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý
- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao, là một khoa học và là một nghệ thuật
- Quản lý đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
- Hiệu quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức – việc đổi mới cơ cấu tổ chức để phù hợp với hoàn cảnh và mục tiêu quản lý [10]
Tiếp thu các khái niệm trên, quản lý được hiểu là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đến một hiệu quả đã xác lập bằng cách vận dụng hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” NNC nhìn nhận khái niệm quản lý trên bình diện tổ chức là chủ
yếu, mà không phải lãnh đạo
Trang 281.2.2.2 Thuật ngữ thời gian
Thời gian là thuật ngữ được dùng phổ biến trong đời sống Hiểu một cách đơn giản theo đời thường thì thời gian là tài sản của mỗi người trong cuộc sống mà con người có được khi con người bắt đầu tồn tại
Theo Triết học thì thời gian là hình thức tồn tại của các khách thể vật chất được biểu hiện ở mức độ lâu dài hay mau chóng (độ dài về mặt thời gian), ở sự kế tiếp trước hay sau của các giai đoạn vận động [53]
Theo từ điển Tiếng Việt thì thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian mà trong đó vật chất vận động và phát triển liên tục không ngừng) [28]
Hiểu theo thông thường, thời gian là nguồn tài sản mà mỗi người có giống nhau như mỗi ngày có 24 giờ, mỗi tháng có 30 ngày, mỗi năm có 12 tháng Thời gian là sự tồn tại bên ngoài con người nhưng con người có thể quản lý nó một cách hiệu quả
Theo đề tài, “Thời gian là mức độ lâu dài của hành động mà con người thực hiện trong hoạt động và có thể quản lý nó một cách chủ động”
1.2.3 Lý luận về KNQLTG
1.2.3.1 Khái niệm QLTG
Trong một nghiên cứu năm 2004, J.C Claessens, Wendelien van Eerde, Christel G Rutte và Robert A Roe đã định nghĩa QLTG là việc tổ chức thực hiện hành vi có hiệu quả trong việc sử dụng thời gian khi thực hiện các hoạt động có mục tiêu và định hướng nhất định [45]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng hiểu một cách đơn giản, QLTG nghĩa là biết
hoạch định thời gian của mình đang có cho những mục tiêu và những nhiệm vụ thật
cụ thể QLTG không có nghĩa luôn tiết kiệm thời gian mà là biết làm chủ thời gian của mình khi đặt những khoảng thời gian mình đang có trong một kế hoạch thật cụ
Trang 29những khoảng thời gian mình đang có trong một kế hoạch thật cụ thể và chi tiết [28]
1.2.3.1 Khái niệm KNQLTG
Theo tác giả Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Ngọc Uyển, kỹ năng quản lý được hiểu là chủ thể đã biết tiến hành các hoạt động tư duy quản lý đúng, trong quá trình thực hiện các hành động quản lý nhằm tìm ra được những lời giải hợp lý và tối ưu nhất cho các bài toán, các vấn đề đang được đặt ra
Kỹ năng quản lý đóng vai trò quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết cá hoạt động
Kỹ năng quản lý được xem như một hệ thống cấu trúc, được bao gồm các kỹ năng bộ phận như biết định hướng đúng, biết tổ chức - chỉ đạo việc thực hiện tốt kế hoạch và biết kiểm tra - đánh giá - hiệu chỉnh một cách hợp lí [8]
Đồng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Hữu Long định nghĩa KNQLTG là kỹ năng nhận định, ước lượng và phân bố thời gian hợp lý cho từng công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất và cân bằng cuộc sống của bản thân [20]
Hầu hết những quan niệm về QLTG đều đề cập đến việc đạt được mục đích hoạt động hiệu quả, thông qua quy trình thực hiện các thao tác, hành động trong lượng thời gian nhất định Tuy nhiên chúng ta không thể không đề cập đến trường hợp chủ thể hoàn thành mục tiêu đề ra đúng hạn định nhưng chưa tối ưu nhất, đồng thời cần thể hiện
Dựa khái niệm kỹ năng, khái niệm QLTG đã xác lập, tiếp thu các quan điểm khác nhau Trong đề tài này, đồng ý với quan điểm của tác giả Huỳnh Văn Sơn:
“KNQLTG là kh ả năng con người sử dụng thời gian một cách hiệu quả nhằm đạt được những mục đích của mình thông qua việc lên kế hoạch, tổ chức và kiểm tra việc sử dụng thời gian một cách tối ưu” [28]
1.2.3.2 Giai đoạn hình thành KNQLTG
Hình thành KNQLTG không phải là thực hiện các công việc trong khoảng thời gian tiết kiệm nhất mà là tổ hợp các quá trình, các giai đoạn có sự thống nhất và logic theo trình tự sử dụng thời gian tối ưu và khoa học, trong đó bao hàm rất nhiều bước mà chủ thể cần phải nhận thức rõ như sau:
- QLTG thực chất là quá trình lập kế hoạch QLTG:
Trang 30Việc lên kế hoạch rất quan trọng, đây là yêu cầu đầu tiên và bắt buộc nếu muốn “quản lý” Việc lên kế hoạch sử dụng thời gian là đặc điểm cơ bản để sử dụng thời gian hiệu quả hay QLTG một cách khoa học Trước khi lập kế hoạch sử dụng phải phân tích thời gian, phải có tầm khái quát tất cả các công việc đảm nhận để có thể dành một sự đáp ứng hiệu quả nhât về mặt thời gian Việc này sẽ giúp mỗi người có thể hiểu được cách thức hiệu quả để sử dụng thời gian cả trong học tập Sắp xếp thứ tự công việc ưu tiên; xem xét thời gian để hoàn thành tốt nhất một hoạt động; ước lượng được khả năng của cá nhân theo từng loại hoạt động một cách phù hợp Người lập kế hoạch cần đưa ra thời gian sử dụng cụ thể cho từng nhiệm vụ đã được xác lập trước đó và phải nắm rõ những yêu cầu của nhiệm vụ cần hoàn thành
để có thể đưa ra thời hạn chuẩn xác và phù hợp Bên cạnh đó, kế hoạch sử dụng thời gian cần có tính dự đoán về những khó khăn có thể sẽ gặp phải trong quá trình tổ chức thực hiện về sau, dự đoán nguồn lực hỗ trợ từ cá nhân, nhóm, tập thể để bản thân có điều kiện thuận lợi nhất, vượt qua khó khăn hoàn thành kế hoạch đã định Cuối cùng, chủ thể cần xem xét lại một cách bao quát về tính hợp lý và khả thi để
có những điều chỉnh kịp thời tránh sai sót [28]
- QLTG là quá trình tổ chức sử dụng thời gian:
Đây chính là những thao tác cụ thể hóa của việc thực thi kế hoạch đã được lên
kế hoạch và xác lập Khi tổ chức sử dụng thời gian cần lưu ý đến chế độ sinh học của bản thân hay cụ thể hơn là sức khỏe, thói quen về thời gian của cơ thể , nếu yếu
tố này được quan tâm thì sẽ góp phần tăng cường sự tập trung vào công việc; bên cạnh đó chia nhỏ những kế hoạch dài hạn thành những chương trình hành động ngắn hạn và tiến hành tuần tự, khi xử lý những công việc khó thì hãy xử lý từng phần nhỏ của nó mà không hẳn là cố công hay bằng mọi giá để đạt được Nếu công việc luôn không hiệu quả thì hãy định hướng lại chúng bằng cách cập nhật hay xây dựng lại bước lập kế hoạch công việc [28]
Trong quá trình tổ chức sử dụng thời gian, chủ thể cần phải nhận thức rõ những mặt hạn chế của bản thân, đồng thời vận dụng nguồn lực xung quanh về người hoặc vật để hỗ trợ chính mình
- QLTG là quá trình giám sát, kiểm tra và đánh giá quá trình sử dụng thời gian khoa học:
Trang 31Việc lên kế hoạch và tổ chức thực hiện sử dụng thời gian hiệu quả sẽ thực sự hữu ích nếu như chủ thể biết giám sát và kiểm tra việc sử dụng thời gian một cách nghiêm khắc và tối đa Để có thể thực hiện việc giám sát thì cần chú ý những biểu hiện: luôn chú tâm đến việc kiểm tra xem trong ngày – đảm bảo sự nghiêm khắc; dành một khoảng thời gian để thực hiện việc kiểm tra kế hoạch cũng như đánh giá khả năng thực hiện kế hoạch Khi đánh giá phải có hành động tự đánh giá xem nguyên nhân sự cố xảy ra hoặc sự xuất hiện của khuyết điểm, khó khăn gặp phải Nên sử dụng các công cụ kỹ thuật để hỗ trợ trong quá trình thực hiện Có nhiều cách đánh giá KNQLTG như so sánh mục tiêu sử dụng thời gian được hoạch định ban đầu với mức độ thành công của công việc và thời gian đã tiêu hao cho công việc đó; đánh giá theo thang điểm dựa vào mức độ hoàn thành mục tiêu sử dụng thời gian hoặc đánh giá sau khi so sánh kết quả của bản thân với một đối tượng khác trong việc QLTG, đồng thời rút ra nhận xét chung về KNQLTG của bản thân [28]
Những quá trình hình thành KNQLTG được phân tích như trên mang đầy đủ những đặc điểm của loại kỹ năng này, đồng thời trong quá trình chủ thể thực hiện sẽ
có thể hình thành và phát triển các kỹ năng khác như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng xử lý thông tin…bởi giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ với nhau
1.2.3.3 Nguyên tắc sử dụng KNQLTG
KNQLTG sẽ không thể hình thành và phát triển nếu chủ thể không tuân theo những nguyên tắc chung, vì đòi hỏi phải có sự quyết tâm, tập trung ý chí cao Những thói quen xấu như trì hoãn công việc, lười biếng, dễ bỏ cuộc, sa đà theo những hoạt động vô ích khác sẽ không chỉ phá vỡ kế hoạch sử dụng thời gian mà còn mang lại hậu quả xấu, những rắc rối và tạo áp lực lớn lên chủ thể
Jan Yager đã từng đề cập đến bảy nguyên tắc để QLTG sáng tạo như sau: Chủ động, không đối phó; Đặt ra các mục đích; Ưu tiên hóa các hành động; Sự chú tâm;
Đề ra hạn chót thực tế; D-O-I-T N-O-W (làm ngay); Cân đối cuộc sống [17]
Những nguyên tắc trên dù chưa làm nổi bật được các yêu cầu về mặt tâm lý
mà cụ thể là yêu cầu kỹ năng nhưng cũng đã đề cập đến một vài yếu tố như hành động, mục đích, phương tiện trong quá trình hình thành KNQLTG
Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã nêu ba nguyên tắc QLTG dành cho SV:
Trang 32- Nguyên tắc 1 Thay đổi những thói quen xấu của bản thân liên quan đến việc QLTG và tập những thói quen tích cực
- Nguyên tắc 2 Bắt đầu rèn luyện KNQLTG từ những hành động nhỏ nhặt liên quan đến việc sử dụng thời gian
- Nguyên tắc 3 QLTG là cân bằng việc sử dụng thời gian cho hoạt động của mình chứ không hẳn là tiết kiệm thời gian [28]
Các nguyên tắc trên mang tính khái quát cao và xem xét trong hoạt động sống nói chung của SV, vì vậy cần có hệ thống nguyên tắc rõ ràng và cụ thể hơn về KNQLTG trong HĐHT của SV
Trong đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu thiết lập các nguyên tắc sử dụng KNQLTG trong HĐHT như sau:
- Nguyên t ắc 1: Quản lý không gian học tập trong quá trình sử dụng thời gian t ối ưu
Không gian học tập là môi trường để SV thực hiện các HĐHT cụ thể một cách
có hiệu quả và thuận lợi nhất Phần lớn HĐHT của SV diễn ra tại lớp học và nhà, chính vì thế việc quản lý không gian học tập còn phụ thuộc vào cơ sở học tập, tuy nhiên SV có thể chủ động cải thiện môi trường học tập của mình bằng việc lựa chọn
và sắp xếp mọi vật dụng có liên quan trong góc học tập sao cho ngăn nắp, gọn gàng Những tài liệu, dụng cụ học tập thường xuyên sử dụng và quan trọng cần được đưa vào danh sách ưu SV viên cần trả các dụng cụ học tập trở về vị trí cũ để tránh việc tìm kiếm về sau gây mất thời gian Không gian học tập thuận lợi sẽ giúp cho HĐHT diễn ra được dễ dàng và nhanh chóng, mang lại sự thoải mái cho người học, đồng thời tiết kiệm thời gian đáng kể cho những công việc không cần thiết Ngoài ra, SV cần chú trọng việc vệ sinh không gian học tập và thực hiện việc này như thói quen nhằm duy trì tính tự giác của KNQLTG và đảm bảo sức khỏe, tinh thần trong quá trình học tập
- Nguyên t ắc 2: Hình thành thói quen tích cực khi sử dụng thời gian trong HĐHT
SV loại bỏ những thói quen xấu trong học tập, ngoài việc bố trí và thường xuyên giữ gọn ghẽ nơi học tập, cần đảm bảo duy trì việc lên kế hoạch sử dụng thời gian mỗi ngày cho việc học nói riêng và các hoạt động sống khác nói chung, sử dụng hiệu quả một số công cụ QLTG như: đồng hồ báo thức, điện thoại di động,
Trang 33kiên quyết với những dự định của chính mình theo thời gian đã xác lập Các thói quen xấu làm cho SV trở nên lười biếng hơn và thiếu sự nghiêm túc, thiếu cam kết với bản thânh Bên cạnh đó, SV cần chủ động hình dung những hậu quả và tác hại của việc duy trì thói quen xấu trong QLTG Đồng thời cần có hình phạt dành cho chính mình để ngăn chặn sự tái lặp thói quen tiêu cực
Để duy hình thành thới quen tích cực, rèn luyện KNQLTG, SV cần nỗ lực và
sự cố gắng trong từng hành động nhỏ nhặt có liên quan đến QLTG Những hành động như: liệt kê những công việc học tập cần làm, cố định chúng trong thời gian cụ thể, vẽ sơ dồ theo dõi,… nếu được lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian dài sẽ hình thành thói quen tích cực trong sử dụng thời gian, bên cạnh đó, SV cần chú ý đến thói quen sinh học của bản thân như giấc ngủ, sự tập trung chú ý trong ngày nhằm tạo điều kiên tốt nhất trong sự tương thích giữa tâm trí và khả năng hoàn thành công việc
- Nguyên tắc 3: Cân bằng thời gian trong HĐHT và các hoạt động khác
Sử dụng thời gian có hiệu quả không phải là tận dụng và tiết kiệm thời gian một cách quá mức, quá sức với bản thân Trong quá trình lập kế hoạch QLTG cần dành cho mình khoảng thời gian để giải lao, nhằm đảm bảo năng lượng cho các hoạt động khác, đảm bảo sức khỏe cho bản thân, đồng thời đây cũng được xem là “quà thưởng” cho sau những nỗ lực có hiệu quả trước đó QLTG không có nghĩa là dồn hết công việc vào hầu hết thời gian trống, mà phải tuân theo những nhu cầu cơ bản của cơ thể như vui chơi – giải trí, hoạt động thể thao, giao lưu bạn bè,… đây là những hoạt động cần có của con người trong xã hội và rất cần thiết Mặt khác, trong quá trình QLTG học tập, SV cần chủ định dành một ít thời gian để giải quyết những việc nhỏ nhặt mà không thể bỏ qua, vì có thể chúng sẽ là tác nhân gây ra các trở ngại về sau
- Nguyên tắc 4: Tận dụng nguồn lực hỗ trợ và dự đoán sự việc
HĐHT bao gồm rất nhiều thành phần, đối tượng tham gia không chỉ có SV, chính vì vậy sự tương tác giữa SV và nguồn lực là không thể phủ nhận SV có thể nhờ sự hỗ trợ khi gặp trở ngại trong học tập từ thầy cô bạn bè Việc cố công duy trì những sai lầm, giữ những lỗi gặp phải, từ chối lời nhận xét từ người khác, phản ứng gay gắt trước những phê bình chân thật và đúng đắn về mình là những điều SV cần khắc phục và loại bỏ, có được sự giúp đỡ SV sẽ mau chóng tiến bộ và rút ngắn được
Trang 34thời gian hoàn thành mục tiêu học tập, mang lại hiệu quả cao hơn so với dự kiến Ngoài ra, trong quá trình QLTG trong HĐHT, cần rèn luyện khả năng dự đoán trước những sự việc sẽ gặp phải, thời gian bị tiêu hao, tuy nhiên đây phải là những
dự đoán gần nhất có thể xảy đến, không viễn vong, đây chính là sự chuẩn bị về tâm thế lẫn điều kiện ngoại cảnh để SV có thể thích nghi với những tình huống không được báo trước, ngẫu nhiên, chuẩn bị những giải pháp cụ thể cho từng trường hợp
dự đoán để có thể vượt qua một cách dễ dàng và ít hao phí thời gian
1.2.3.4 Phương pháp QLTG
Vilfredo Parto (1844 – 1923) đã phát hiện ra, theo nguyên lý 20/80, một phần nhỏ đầu vào sẽ tạo ra một phần lớn kết quả Khoảng 20% công việc mà ta hoàn thành sẽ tạo ra 80% giá trị của những gì ta đã làm Chỉ cần sử dụng 20% khoảng thời gian làm việc hiệu quả nhất trong ngày, sẽ tạo ra đến 80% kết quả công việc mỗi ngày Phải biết cách tổ chức và QLTG của mình, ưu tiên sử dụng thời gian cho những công việc nào tạo ra giá trị cao nhất [20]
Phương pháp hình thành KNQLTG là cách thức tiến hành những hành động tuân QLTG nhất định đạt kết cao nhất Tuy nhiên, những phương pháp này phải tuân thủ những nguyên tắc QLTG, phải khoa học và phù hợp với chủ thể về bản thân và điều kiện khách quan
* X ác định mục tiêu QLTG:
Việc xác định động cơ, mục đích, mục tiêu sẽ giúp SV luôn được thúc đẩy và
có đường hướng phát triển công việc cần thực hiện rõ ràng cũng như trong việc lập
kế hoạch QLTG Mục tiêu QLTG tuân theo nguyên tắc SMART như sau:
S – Specific: Cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu
M – Measurable: Đo đếm được
A – Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình Achievable
R – Realistic: Thực tế, không viển vông Realistic
T – Time bound: Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra
Khi xác lập mục tiêu phải tính đến hết tất cả 5 yếu tố trên Mục tiêu đo đếm được nghĩa là phải được đo lường bằng những con số cụ thể dựa trên năng lực bản thân và thực tế khi thực hiện Nếu có những mục tiêu quá lớn thì cần phải chia nhỏ
nó ra thành những mục tiêu ngắn hạn, cụ thể, rõ ràng và có thời hạn thực hiện cũng như thời hạn đạt được kết quả Cần viết tất cả các mục tiêu ra giấy để SV có thể
Trang 35đảm bảo không bỏ sót mục tiêu nào SV sẽ học cách thiết lập, sắp xếp ưu tiên, làm việc tích cực, hướng về mục đích đề ra Tuy nhiên mục tiêu của SV cần phải có sự cân bằng cả về việc học lẫn công việc khác Mọi mục tiêu đưa ra đều quan trọng nhưng phải xác định cái nào quan trọng hơn trong thời điểm hiện tại
*X ác định nội dung việc QLTG học tập:
SV có thể hệ thống danh sách những việc cần phải làm để quản lý tốt thời gian học tập bằng cách trả lời những câu hỏi từ phương pháp 5W1H2C5M gồm: What (công việc gì liên quan đến QLTG mà SV phải làm), Why (mục đích, mục tiêu của công việc đó?), Where (công việc này sẽ được tiến hành cụ thể ở đâu?), When (khi nào thì bạn bắt đầu làm và hạn chót hoàn thành của công việc?), Who (ai sẽ làm người chịu trách nhiệm thực hiện chính và ai sẽ là người chịu trách nhiệm giám sát tiến độ thực hiện công việc này?), How (công việc này sẽ được thực hiện như thế nào? Bằng cách nào?), Control (SV sẽ đặt ra hình thức nào để kiểm soát tiến độ công việc?), Check (SV sẽ dùng cách nào và khi nào để kiểm tra kết qủa công việc?), Manpower (những ai sẽ được huy động thêm để hỗ trợ thực hiện công việc của SV?), Money (ngân sách dành cho việc thực hiện công việc này là bao nhiêu?), Material (những nguyên vật liệu nào được phép sử dụng?), Machines (các phương tiện nào được dùng?), Method (gợi ý hoặc chỉ định phương pháp thực hiện công việc?)
Ngoài ra cần lưu ý những yếu tố liên quan đến con người nên trình bày cụ thể bằng tên, chức danh, vị trí công tác, tránh trường hợp ghi chung chung…
* Xác định cách thức thực hiện thứ tự ưu tiên:
Trước khi xác định thứ tự ưu tiên của từng công việc để QLTG, SV cân phân loại theo mức độ thường xuyên tức là tần suất thực hiện các công viên, bên cạnh đó cần chú ý đến những việc không ổn định, đột xuất
Có 3 cấp thứ tự ưu tiên (A – B – C) tương ứng với 4 loại công việc như sau:
1 Quan trọng và khẩn cấp (A): Đối với công việc này, SV phải thực hiện ngay
2 Quan trọng nhưng không khẩn cấp (B)
3 Khẩn cấp nhưng không quan trọng (B): Các công việc này (B) có thứ tự ưu
tiên thứ hai sau công việc (A) quan trọng và khẩn cấp Đối với hai loại công việc này, SV có thể thực hiện song song Việc thực hiện công việc còn tùy thuộc vào:
Trang 36 Thời hạn giải quyết vấn đề
Hãy tách công việc chính thành nhiều công việc khác nhau, trên cơ sở đó,
SV có thể xác định lịch cho từng công việc
4 Không khẩn cấp và không quan trọng (C)
* Xác định phương pháp giám sát, kiểm tra và đánh giá:
SV cần xem xét lại cách quản lý thông tin, tài liệu của bản thân Sắp xếp chúng theo loại, nguồn và quản lý bằng việc đánh dấu hoặc lưu giữ thông tin trên máy tin thông qua các folder cụ thể
Ngoài ra SV cần lập kế hoạch QLTG mỗi ngày, nên lập công việc thực hiện ngày mới vào buổi tối trước khi đi ngủ và kiểm tra lại ngay khi một ngày mới bắt đầu Kiểm tra các công việc đã thực hiện sau khi kết thúc một ngày Đánh dấu vào những công việc đã hoàn thành và những công việc chưa hoàn thành theo thời hạn, cần phải làm rõ bằng bút nhiều màu và đưa ngay vào ngày kế tiếp để xử lý
Tóm lại, phương pháp hình thành KNQLTG đạt hiệu quả khi SV áp dụng và
xử lý công việc đúng mục tiêu đã đề ra, SV phải lưu ý đến những yếu tố cản trở trong quá trình thực hiện – kẻ cắp thời gian, loại bỏ những thói quen tiêu cực, nói không với sự trì hoãn
1.2.4 Lý luận về HĐHT
1.2.4.1.Khái ni ệm hoạt động
Tác giả Phạm Minh Hạc: “Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình và Thế giới bên ngoài – Thế giới tự nhiên và Thế giới xã hội, giữa mình và người khác, giữa mình và bản thân Trong quá trình đó, con người bộc
lộ tâm lý (năng lực, ý chí, mong muốn, tính nết…) ra bên ngoài [12]
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Quang Uẩn, cho rằng: “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và Thế giới để tạo ra sản phẩm cả về Thế giới và cả về phía con người [40] Với góc nhìn này có thể chia hoat động gồm hai quá trình diễn
ra đồng thời đó gồm quá trình khách thể hóa (quá trình xuất tâm) và quá trình chủ thể hóa (quá trình nhập tâm) [40]
Chính vì vậy, hoạt động có những đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng: Đối tượng của hoạt động là “cái” con người cần chiếm lĩnh, cần làm ra Trong quá trình hoạt động con người cần phải xác định rõ đối tượng hoạt động của mình Đó chính là động cơ Động cơ luôn thúc đẩy
Trang 37con người hoạt động nhằm tác động vào khách thể thay đổi nó biến thành sản phẩm, hoặc tiếp nhận chuyển vào đầu óc mình tạo nên một cấu tạo tâm lý mới, một năng lực mới
- Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể: Hoạt động do chủ thể thực hiện, chủ thể hoạt động có thể là một hay nhiều người
- Hoạt động bao giờ cũng có mục đích: Mục đích của hoạt động là làm biến đổi Thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng Tính mục đích bị chế ước bởi nội dung xã hội
- Hoạt động vận động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: Trong hoạt động, con người gián tiếp tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu, qua việc sử dụng công cụ lao động và sử dụng ngôn ngữ Như vậy công cụ tâm lý, ngôn ngữ và công cụ lao động giữ chức năng trung gian giữa chủ thể và khách thể, tạo ra tính gián tiếp của hoạt động [4]
Trong đề tài hoạt động được hiểu là mối liên hệ tác động qua lại giữa con người và Thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía Thế giới, cả về phía con người (chủ thể) [27]
1.2.4.2 Khái niệm HĐHT
a) Hoạt động học tập
Trước hết cần phân biệt “học” và “hoạt động học” Trong cuộc sống, ngay từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, lúc nào con người cũng học được một cái gì đó Đây là học theo phương pháp của cuộc sống hàng ngày Cách học này chỉ đưa lại cho chúng ta các tri thức tiền khoa học, các tri thức kinh nghiệm Nếu chỉ có những tri thức như vậy thì không thể giải quyết được một loạt vấn đề của cuộc sống đặt ra Chỉ có học theo phương pháp nhà trường mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành một hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua đó mà hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học; những năng lực mới đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống
Theo Đ.B Encônin thì: “Hoạt động học, trước hết là hoạt động nhờ nó diễn ra
sự thay đổi trong bản thân học sinh Đó là là hoạt động nhằm tự biến đổi mà sản
ph ẩm của nó là những biến đổi diễn ra trong chính bản thânchủthể tong quá trình thực hiện nó” [12]
Trang 38Tác giả Nguyễn Quang Uẩn và cộng sự cho rằng: “Sự học, việc học, học tập
về sắc thái có chút ít khác nhau nhưng về thực chất là một”, từ đó đi đến định nghĩa:
“Sự học là sự biến đổi hoạt động vững chắc hợp lý nhờ một hoạt động xảy ra trước
đó, chứ không phải là do các phản ứng sinh học bẩm sinh của cơ thể” [12]
Nhóm tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ cho rằng bản chất của HĐHT được thể hiện qua một số ý sau:
- Tri thức và kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với tri thức ấy là đối tượng của hoạt động học
- Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi và phát triển chính chủ thể của hoạt động này
- Hoạt động học là hoạt động tiếp thu (lĩnh hội) những nội dung và hình thức
lý luận của tri thức, kĩ năng, kĩ xảo xã hội
- Hoạt động học không phải là hoạt động chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kỉ xảo xã hội, mà còn hướng vào việc tiếp thu chính tri thức của bản thân hoạt động học (những hành động học tập thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao) [31]
Tác giả Lý Minh Tiên: “Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người,
được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, giá trị, kỹ năng, kỹ
x ảo, phương thức hành vi, một cách khoa học và hệ thống” [34]
Qua đó, ta nhận thức HĐHT khác với các dạng họat động khác là hướng vào hoạt động làm thay đổi chính bản thân chủ thể
Nhìn chung, mặc dù còn có những quan điểm khác nhau về HĐHT nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng khi nói đến HĐHT đó là hoạt động nhận thức căng thẳng, là sự tiếp thu tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử để tạo ra sự phát triển tâm
lý ở người học
Trong phạm vi đề tài, HĐHT được xác lập là hoạt động đặc thù của con
người, trong môi trường lớp học và tại nhà, trong mối quan hệ giữa con người nhau, có phương pháp học tập khoa học và sử dụng phương hiện học tập hiệu quả nhằm lĩnh hội tri thức, giá trị, kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi,… một cách tự giác
b) HĐHT của SV
Trang 39HĐHT ở bậc Đại học mang tính chất chuyên ngành, phạm vi hẹp nhưng sâu hơn, do vậy sẽ có nhiều điểm khác biệt về phương pháp tiếp cận, nội dung và vận dụng các kỹ năng vào việc chiếm lĩnh tri thức so với lại bậc THPT
Đặc điểm HĐHT của SV
- Có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả của hoạt động Hoạt động lao động làm biến đổi đối tượng vật chất thành sản phẩm có giá trị phục vụ cuộc sống của con người HĐHT không làm biến đổi đối tượng mà làm biến đổi chính chủ thể của hoạt động SV học tập để tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ năng kĩ xảo tương ứng và các cách thức hoạt động để hình thành nên các phẩm chất tâm lý cần
có của một người chuyên gia trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể trong tương lai
- HĐHT là hoạt động diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, có tổ chức vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức cũng như thời gian đào tạo do nhà nước qui định
- Phương tiện để SV tiến hành HĐHT là hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo, cách thức tiến hành HĐHT (cách học), đặc biệt là các hành động học tập, phương tiện tư duy mà SV đã tích luỹ được từ trước và ngay chính trong bản thân hoạt động học đang diễn ra
- HĐHT của SV là hoạt động với nhịp độ căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ Họ phải đối mặt với nhiều sức ép, đặc biệt là sức ép về khối lượng tri thức khổng lồ mà
họ phải tiếp thu do đòi hỏi của nội dung đào tạo
- HĐHT của SV là hoạt động trí tuệ mang tính độc lập cao Không giống như hoạt động học ở phổ thông Học tập ở bậc Đại học đòi hỏi người học phải tiếp thu một khối lượng kiến thức lớn trong một thời gian được kiểm soát rất sát sao Nếu không có sự chủ động, tích cực từ việc xác định mục đích học tập, kế hoạch học tập,
tự đề ra các phương pháp và cách thức thực hiện đến việc tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập thì người SV không thể hoàn thành được nhiệm vụ học tập ở bậc Đại học Trong suốt tiến trình đó, ý chí đóng vai trò quan trọng Đôi khi cùng với động
cơ, mục đích học tập, ý chí có vai trò quyết định đến kết quả học tập của SV Sự thành công chỉ đến với những SV có ý thức rõ về động cơ học tập của mình là nhằm hình thành những tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo của một nghề nghiệp trong tương lai và sự duy trì một sự nổ lực ý chí, một cường độ chú ý cao trong suốt quá trình học tập để đạt được mục tiêu đó
Trang 40- HĐHT của SV bao gồm cả hoạt động trên giảng đường và hoạt động ngoài giảng đường HĐHT trên giảng đường được qui định bởi một kế hoạch chặt chẽ của nhà trường, còn hoạt động ngoài giảng đường như các hoạt động ngoại khoá, trao đổi khoa học và hoạt động tự học của SV ở nhà, ở thư viện nhằm hoàn thành một cách có kết quả các công việc được người thầy giao cho Trong tình hình chuyển đổi từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ thì việc học tập ở ngoài giảng đường, đặc biệt là hoạt động tự học của SV càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Giảng viên
sẽ chỉ gợi ý những vấn đề cần đọc, trao đổi với SV những vấn đề khó, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, còn chủ yếu là SV phải tự giành lấy tri thức thông qua việc
tự học ở nhà, ở thư viện, các buổi thảo luận nhóm
Hình thành ho ạt động học của SV
Cần nhắc lại cấu trúc HĐ của Leonchiev Cấu trúc gồm 6 thành tố có mối quan
hệ qua lại, chuyển hóa cho nhau theo cơ chế vòng Áp dụng vào hoạt động học, tên các thành tố và mối quan hệ thể hiện theo sơ đố sau: