1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC

53 763 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 5,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên địa bàn Lào Cai có diện tích nhãn và xoài tương đối tập trung ở một số huyện vùng thấp, đặc biệt là Bảo Thắng, Bảo Nhai, Bảo Yên và Thành phố Lào Cai. Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp, hiệu quả thấp là do đa phần là các giống cũ hoặc cây được nhân giống bằng hình thức gieo hạt. Diện tích nhãn có năng suất cao, chất lượng tốt rất ít. Mặt khác, người dân chưa quan tâm đúng mức trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, mức độ đầu tư thâm canh còn thấp nên hiệu quả kinh tế của các vườn nhãn còn rất thấp. Do vậy, cần có những giống mới với các kỹ thuật tiến bộ, phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người sản xuất

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ

BÁO CÁO KHOA HỌC TỔNG KẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỬ GIỐNG NHÃN CHÍN MUỘN

VÀ XOÀI ĂN XANH TẠI LÀO CAI

Cơ quan quản lý: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai

Cơ quan chủ trì thực hiện: Viện nghiên cứu Rau quả

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Quốc Hùng

Thời gian thực hiện: 30 tháng (từ tháng 7/2012 đến 12/2014)

Hà Nội, tháng 7 năm 2015

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ

BÁO CÁO KHOA HỌC TỔNG KẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỬ GIỐNG NHÃN CHÍN MUỘN

VÀ XOÀI ĂN XANH TẠI LÀO CAI

Cơ quan quản lý: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai

Cơ quan chủ trì thực hiện: Viện nghiên cứu Rau quả

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Quốc Hùng

Những người thực hiện: TS Đào Quang Nghị

ThS Đinh Thị Vân Lan ThS Nguyễn Thị Hiền ThS Ngô Xuân Phong ThS Đào Kim Thoa ThS Đào Thị Liên

KS Nguyễn Hữu Lý ThS Đào Thu Hằng

Hà Nội, tháng 7 năm 2015

Trang 3

DANH MỤC CÁC SẢN PHẨM ĐÃ HOÀN THÀNH

TT

Tên sản phẩm Đơn vị đo Mức chất lượng

Khối lượng, quy mô sản phẩm tạo ra

I Mô hình trống mới (1,0

ha nhãn chín muộn và

1,0 ha xoài ăn xanh)

Mô hình

Mô hình các giống mới đạt năng suất, chất lượng và mang lại hiệu quả cao

Mắt ghép đạt tỷ lệ sống >

70%, nhanh cho hiệu quả Nhãn: 160 cây

Xoài: 100 cây

III 9 báo cáo chuyên đề

1 Chuyên đề 1: Điều tra

Đánh giá cụ thể về giống trồng, diện tích, năng suất, sản lượng và thực trạng áp dụng các kỹ thuật thâm canh nhãn, xoài tại Bảo Thắng và thành phố Lào Cai

01

2 Chuyên đề 2: Đánh giá

khả năng sinh trưởng,

khả năng ra hoa, đậu

quả, năng suất, chất

Đánh giá đầy đủ về khả năng sinh trưởng ra hoa, đậu quả

và năng suất cũng như tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống nhãn thử nghiệm

01

3 Chuyên đề 3 Đánh giá

khả năng sinh trưởng,

khả năng ra hoa, đậu

quả, năng suất, chất

lượng và tình hình sâu

bệnh hại của các giống

xoài ăn xanh trên địa

bàn Lào Cai

Chuyên đề

Đánh giá đầy đủ về khả năng sinh trưởng ra hoa, đậu quả và năng suất cũng như tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống xoài thử nghiệm

Bản hướng dẫn kỹ thuật ngắn gọn, dễ hiểu, dễ áp dụng trong điều kiện của địa phương

01

Trang 4

5 Chuyên đề 5: Xây

dựng bản hướng dẫn

ghép cải tạo thay thế

giống xoài Chuyênđề

Thay thế 100 cây xoài giống

cũ bằng giống xoài ăn xanh Bản hướng dẫn kỹ thuật ngắn gọn, dễ hiểu, dễ áp dụng trong điều kiện của địa phương

Đánh giá đầy đủ về ảnh hưởng của các công thức bón phân, phòng trừ sâu đục quả

và xác định được công thức phù hợp cho giống nhãn thử nghiệm.

01

7 Chuyên đề 7: Nghiên

cứu ứng dụng các biện

pháp kỹ thuật thâm

canh xoài ăn xanh trên

địa bàn Lào Cai

Chuyên đề

Đánh giá đầy đủ về ảnh hưởng của các công thức bón phân, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp và xác định được công thức phù hợp cho giống xoài thử nghiệm.

Bản hướng dẫn kỹ thuật trồng

và chăm sóc nhãn chín muộn

cô đọng, xúc tích, dễ áp dụng, làm tăng năng suất 15 - 20%

Bản hướng dẫn kỹ thuật trồng

và chăm sóc xoài ăn xanh cô đọng, xúc tích, dễ áp dụng, làm tăng năng suất 15 - 20%

so với không áp dụng

01

III 01 Bài báo khoa học:

Đánh giá khả năng sinh

trưởng, phát triển và

năng suất của một số

giống nhãn chín muộn

và xoài ăn xanh trên

địa bàn tỉnh Lào Cai

Bài báo Phản ánh được các kết quả

nghiên cứu thu được của đề tài

Được đăng trên tạp chí Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn

Trang 5

Mục lục

Trang 6

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở nước ta, tổng diện tích cây ăn quả cả nước khoảng 786.200 ha, sản lượng tấn Trong đó, cây nhãn và cây xoài là một trong những loại cây ăn quả quan trọngđược xếp vào nhóm các cây ăn quả chủ lực với diện tích 85.232 ha đối với cây xoài,sản lượng đạt 678.479 tấn và 77.959 ha đối với cây nhãn, sản lượng đạt 552.207 tấn(Số liệu của Cục Trồng trọt, 2013) Diện tích hai loại cây này chiếm 20,8% tổng diệntích cây ăn quả của cả nước

Các giống nhãn, xoài nổi tiếng vùng miền như: nhãn lồng Hưng Yên, nhãnmuộn Hà Tây, Nhãn Tiêu da bò, xoài cát Hòa Lộc, xoài tượng, Đến nay, đã cónhiều cải tiến về các giống nhãn, xoài phục vụ nhu cầu ngày càng cao của thị trườngtiêu dùng Những giống nhãn chín muộn như PHM99-1.1, HTM1, Xòai ăn xanh nhưVRQ-XX1, GL4 đang được phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước

Lào Cai là một tỉnh phía Đông Bắc, với đặc trưng địa hình bị chia cắt mạnhnên tạo ra các tiều vùng sinh thái khác nhau, phù hợp với nhiều đối tượng cây ăn quả:đào, mận , lê đến cam quýt, nhãn, xoài, dứa

Theo số liệu của Cục Trồng trọt, năm 2013, tổng diện tích cây ăn quả của LàoCai là 7.510 ha, sản lượng trên 530 ngàn tấn Trong đó, diện tích Mận là 733ha, sảnlượng 2.785 tấn; chuối: 1.377ha, sản lượng 32.861 tấn; cây có múi 532ha, sản lượng1.558 tấn; nhãn 1.376ha 3.906 tấn, xoài 337 ha, 823 tấn Như vậy, năng suất các loạicây ăn quả nói chung, cây nhãn, cây xoài nói riêng đang ở mức rất thấp

Trên địa bàn Lào Cai có diện tích nhãn và xoài tương đối tập trung ở một sốhuyện vùng thấp, đặc biệt là Bảo Thắng, Bảo Nhai, Bảo Yên và Thành phố Lào Cai.Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp, hiệu quả thấp là do

đa phần là các giống cũ hoặc cây được nhân giống bằng hình thức gieo hạt Diện tíchnhãn có năng suất cao, chất lượng tốt rất ít Mặt khác, người dân chưa quan tâm đúngmức trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, mức độ đầu tư thâm canh còn thấp nênhiệu quả kinh tế của các vườn nhãn còn rất thấp Do vậy, cần có những giống mới vớicác kỹ thuật tiến bộ, phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người sản xuất

Việc Nghiên cứu sản xuất thử giống nhãn chín muộn và xoài ăn xanh tại Lào

Cai sẽ tạo cơ sở cho việc phát triển các giống cây ăn quả mới có giá trị, từng bước

nâng cao năng suất, chất lượng, tạo sản phẩm quả an toàn và tăng hiệu quả kinh tếcho người trồng không những trên địa bàn Lào cai mà còn trên các địa bàn khác cóđiều kiện sinh thái tương tự

2 MỤC TIÊU

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Phát triển các giống cây ăn quả mới: nhãn PHM99-1.1 và xoài GL4 trên địa

bàn Lào Cai, cải thiện năng suất, tạo sản phẩm quả chất lượng, đảm bảo an toàn vệsinh thực phẩm và nâng cao thu nhập cho người nông dân

2.2 Mục tiêu cụ thể:

Trang 7

- Xây dựng được 2,0 ha mô hình các giống mới: 01ha nhãn chín muộn và 1,0haxoài ăn xanh năng suất, chất lượng và đạt hiệu quả cao

- Hoàn thiện được một số biện pháp kỹ thuật thâm canh nhãn chín muộn vàxoài ăn xanh phù hợp với điều kiện Lào Cai

- Xây dựng được mô hình (200 cây) ghép cải tạo thay thế giống nhãn, xoài kémhiệu quả bằng các giống nhãn chín muộn và xoài ăn xanh

- Tập huấn được 2 lớp kỹ thuật ghép cải tạo thay thế giống và sản xuất và nhãn,xoài theo VietGAP cho 100 nông dân

3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

3.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn, xoài trên thế giới

Cây nhãn (Nephelium longana.L.) là một trong 3 loài có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao nhất thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae) là nhãn, vải và chôm chôm Trung

Quốc là nước có diện tích trồng nhãn nhiều nhất thế giới với diện tích trồng nhãn đạt

444 000 ha và sản lượng 495 800 tấn vào năm 2010 Trong đó, Phúc Kiến là nơitrồng nhiều và lâu đời nhất, chiếm 48,7% diện tích của cả nước

Tại Đài Loan, đến năm 1998, diện tích trồng nhãn chỉ đạt 11 808 ha và tổng sảnlượng 53 385 tấn Đến năm 2012, diện tích trồng tăng không đáng kể nhưng tổng sảnlượng tăng hơn 2 lần, đạt tới 110 925 tấn

Ở Thái Lan, nhãn được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc và Đồng bằng miềnTrung Năm 2000, tổng diện tích nhãn đạt 82 240 ha và sản lượng 358 000 tấn TháiLan là nước xuất khẩu nhãn lớn nhất thế giới, khoảng 50% tổng sản lượng nhãn của

cả nước Sản phẩm xuất khẩu bao gồm nhãn quả tươi, nhãn sấy khô, nhãn đông lạnh

và nhãn đóng hộp

Các khu vực sản xuất xoài chủ yếu trên thế giới hiện nay là Châu Á - Thái BìnhDương, Trung - Nam Mỹ và Châu Phi, Trong khoảng 20 năm trở lại đây, sản lượngxoài bình quân của thế giới đạt khoảng 18 triệu tấn và mức tăng sản lượng hàng nămkhoảng 2- 3% Theo thống kê của FAO, trong năm 1980, sản lượng xoài của vùngChâu Á - Thái Bình Dương đạt 12,1 triệu tấn, bằng 14% tổng sản lượng cây ăn quảtrong vùng, chiếm 78% sản lượng xoài của thế giới Ấn Độ là nước có diện tích vàsản lượng xoài lớn nhất Vùng Trung - Nam Mỹ có sản lượng xoài chiếm 13%, chủyếu tập trung ở Mêhicô và Braxin Các nước Châu Phi và các nước khác chiếmkhoảng 10% sản lượng

Năm 1995, sản lượng xoài của cả thế giới đạt 18,495 triệu tấn, trong đó Ấn Độchiếm 54,07% (khoảng 10 triệu tấn), tiếp đến là Trung Quốc chiếm 6,38% khoảng1,18 triệu tấn, sau đó là Mêhicô 1,09 triệu tấn, Pakixtan 0,839 triệu tấn, Thái lan 0,62triệu tấn, Braxin 0,4 triệu tấn,…(FAO 1996) Đến 2005, sản lượng xoài của thế giớiđạt 27,966 triệu tấn Sản lượng xoài của Ấn Độ chỉ tăng chút ít, đạt 10,8 triệu tấn.Trong khi đó Trung Quốc, nước mà vùng trồng xoài được đặc trưng bởi điều kiện á

Trang 8

nhiệt đới có mùa đông lạnh lại có sản lượng tăng rất mạnh, đạt tới 3,573 triệu tấn, xếpthứ 2 sau Ấn Độ và gấp 2 lần sản lượng xoài của Mêhicô, nước có sản lượng đứngthứ 3 là 1,8 triệu tấn.

3.1.2 Những nghiên cứu về giống nhãn, xoài và các giống được trồng chủ yếu trên thế giới:

Cây nhãn có lịch sử trồng trọt lâu đời và chủ yếu được trồng bằng hạt nên trong

tự nhiên, tồn tại nguồn gen rất đa dạng và phong phú Cây nhãn còn là loại cây ăn quảlâu năm nên công tác nghiên cứu tuyển chọn giống tốt trong sản xuất được chú trọng

ở hầu khắp các nước trồng nhãn trên thế giới

Trung Quốc hiện lưu giữ khoảng 400 mẫu giống nhãn khác nhau và đã tuyểnchọn được 40 giống nhãn trồng với mục đích thương mại Những giống tuyển chọn

có thời chín và thu hoạch tập trung từ cuối tháng 7 đến cuối tháng 9 và được chiathành các nhóm chín sớm, chín chính vụ và chín muộn Các giống nhãn trồng nổitiếng như Đại Ô Viên, Trữ Lương, Quảng Nhãn, Thạch Hiệp, Ô Long Linh, ĐôngBích, Băng Đường Nhục

Ở Thái lan, các giống nhãn chủ lực cho sản xuất thương mại gồm có E-Daw, Chompoo, Haew, Biew-Kiew, Dang, Baidum, Talub Nak, Phestakon và Chom Pu.Các giống nhãn kể trên có thời gian chín và thu hoạch sớm, từ tháng 6 đến cuối tháng8

Đài Loan là khu vực trồng nhiều nhãn trên thế giới, đồng thời cũng là nơi cónguồn gen cây nhãn rất phong phú Nhiều giống nhãn tốt đã được tuyển chọn từ trongsản xuất và đang được phát triển quy mô lớn như Nhãn vỏ phấn, Nhãn vỏ đỏ, Nhãn

vỏ xanh và Nhãn tháng 10 Đáng chú ý là bộ giống nhãn của Đài Loan có thời gianchín kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12 nên giá trị hàng hoá rất cao Các giống kể trênđược trông nhiều tại Đài Nam, Đài Trung và Cao Hùng

Đối với cây xoài, hiện nay, số lượng các giống xoài được trồng trên thế giớikhoảng trên 1.500 giống khác nhau, trong đó Ấn Độ đã có trên 1.100 giống (Trần ThếTục, 1997) Các giống được trồng phổ biến như Cecil, Faizason, Himsagar, Zardalu,Krishnabhog, Fazli, Keser, Rajapuri, Jamadar, Bangalora, Meelum, Mulgoa , đặcbiệt một số giống chất lượng cao, có giá trị xuất khẩu như Madoe, Pairi, Gedong,Alphonso, Mammouth, Bombay Green…

Ở Australia, một số giống xoài được trồng phổ biến và có giá trị kinh tế caogồm Haden, Irwin, Kent, Zill, Kensington Pride, Ngoài ra còn một số giống xuấtkhẩu được phát triển mạnh ở các nước như Kent, Haden, Malina (Mexico); Okrong,Namdokmai, Rat, Tongdum, (Thái Lan); Ngowe, Boribo, Aplle (Kênya); Carabao,Pico (Philippin); Golek, Arumanis, Godong (Indonesia); Tokboon, Kuala Selangor,Maha (Malaixia), xoài Hoa Tím, Quế Hương, xoài Mang, xoài Nanh Voi Hồng, xoàiXanh Vỏ chín muộn (Trung Quốc)

3.1.3 Kết quả nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống nhãn, xoài và ứng dụng trong việc ghép cải tạo, thay thế giống

Trang 9

Trước đây, cây nhãn được nhân giống chủ yếu bằng gieo hạt, rất lâu được thuhoạch và chất lượng vườn nhãn không đồng đều Vì thế, nhân giống bằng gieo hạt đãđược thay thế dần bởi nhân giống bằng chiết cành và gần đây là phương pháp ghép.Cho đến nay phương pháp nhân giống nhãn bằng ghép đã và đang được áp dụng vớiquy mô lớn ở hầu khắp các nước và vùng trồng nhãn trên thế giới.

Nhiều kết quả nghiên cứu khẳng định sự không tương tác giữa chồi ghép và gốcghép là một vấn đề lớn Trong số 1844 cây nhãn ghép được theo dõi ở Trung Quốc,

có tới 708 cây (38,4%) có các biểu hiện xung khắc như chân voi, chân hương hoặcsinh trưởng kém Nhiệt độ khi ghép trong khoảng từ 20-300C thích hợp đối với ghépnhãn, tỷ lệ ghép thành công cao và cây ghép sinh trưởng khoẻ

Kết quả nghiên cứu của WongKaichoo (1992) chỉ ra rằng tuổi của gốc ghép cóảnh hưởng rất lớn đến kết quả ghép Tỷ lệ cây ghép bật mầm đạt đến 75% nếu tuổicủa gốc ghép là 6 tháng Giá trị tương ứng đạt được chỉ là 60% trong trường hợp tuổicủa gốc ghép già hơn, đến 18 tháng Thời vụ ghép nhãn thích hợp nhất là vào vụ xuân

và vụ thu Tuổi của cây gốc ghép đạt tỷ lệ sống và bật mầm cao nhất là khoảng 12tháng Phần lớn các kết quả nghiên cứu đều khẳng định tốt nhất là sử dụng cây gốcghép và cây cành ghép của cùng một giống Có rất nhiều phương pháp ghép nhãnnhưng đạt hiệu quả cao hơn cả là phương pháp ghép đoạn cành

Cây xoài được nhân giống bằng nhiều hình thức Tuy nhiên, phương pháp ghépvẫn được khuyến cáo sử dụng giống ‘Turpentine’ là giống thuộc nhóm đa phôithường được sử dụng làm gốc ghép xoài ở Florida bởi có khả năng sinh trưởng khoẻcủa cây con Mắt ghép tốt là những mắt có độ tuổi từ 3 - 4 tuần và ở vị trí trongkhoảng 30 cm từ đỉnh sinh trưởng trở xuống Phương pháp ghép thường dùng là ghépđoạn cành Đoạn mắt ghép có 2 - 3 mắt ngủ phía trên vết cắt

Để thay thế giống mà không phải phá huỷ cây để trồng mới, các kỹ thuật ghép đãđược áp dụng cho rất nhiều loại cây ăn quả trong đó có cây nhãn, và xoài Việc ghépcải tạo thường được áp dụng: đối với cây lớn, đốn thấp xuống theo chủ ý, ghép vàocác chồi bật từ gốc; Đối với cây có bộ tán vừa phải, ghép trực tiếp lên các đầu cành.Một cây gốc ghép có thể ghép nhiều giống khác nhau

3.1.4 Kết quả nghiên cứu biện pháp kỹ thuật sản xuất nhãn, xoài

Kỹ thuật bón phân

Bón phân được xem là khâu kỹ thuật quan trọng trong kỹ thuật thâm canh đểnâng cao năng suất và chất lượng quả Bón phân dựa vào tính chất nông hoá - thổnhưỡng, yêu cầu dinh dưỡng của cây, quy luật sinh trưởng, phát triển, năng suất dựkiến thu được và vào tuổi cây Một số nước đã ứng dụng kỹ thuật bón phân cho câydựa trên phân tích chuẩn đoán dinh dưỡng lá như ở Israel, Australia, Florida - Mỹ

Ở Trung Quốc, vườn nhãn cao sản 11-12 tấn quả/ha cần bón 22,5 tấn nước phân

và 15 tấn phân chuồng kết hợp với 180 kg urea, 225 kg supe lân và 300 kg kaliclorua.Khi phân tích 1000 kg quả tươi thì thấy rằng cây lấy đi của đất 4,01-4,08 kg N; 1,46-1,58 kg P2O5 và 7,54-8,96 kg K2O, tương ứng với tỷ lệ N: P: K là 1: 1,28-1,37: 1,76-

Trang 10

2,15 Từ kết luận trên đây, người ta đề nghị bón cho vườn nhãn cao sản theo liềulượng 2,7 kg urea, 3,5 kg supe lân và 3,0 kg kaliclorua Trong sản xuất có thể căn cứvào năng suất vụ quả trước để bón Thông thường, cứ thu hoạch 100 kg quả thì lượngphân bón sẽ là 2 kg N, 1 kg P2O5 và 2 kg K2O.

Đối với cây xoài, nghiên cứu và phân tích nhu cầu dinh dưỡng của cây xoài tạiSabour Roy et.al (1951) đã đưa ra đề nghị mức phân bón nền hàng năm 726g N - 0,4P2O5 - 6,71 K2O Tuy nhiên nhu cầu nitơ tăng gấp đôi nếu cây sai quả Mức bón nàyđược áp dụng cùng với 90,8kg phân chuồng, 1,82kg thầu dầu, 4,54kg bột xương,0,908kg (NH4)2SO4, 13,62kg tro bếp

Một nghiên cứu khác dựa vào lượng dinh dưỡng cây tiêu hao trong một khốilượng quả tại Saharapur (Singh;1962) đã chỉ ra rằng thêm vaò 20kg NPK và Mg với

tỉ lệ (6:3:10:3) sẽ bù lại lượng dinh dưỡng đã tiêu hao để sản xuất 1.000kg quả xoài.Tuy nhiên, khi điều tra thực tế sản xuất ở những vùng khác nhau thấy lượng bón đề ra

là quá thấp Lượng NPK được hấp thụ cho 1000kg quả được ước tính khoảng 0,98 1,5kg N; 0,25 - 0,57 kg P2O5; 1,37 - 2,19 kg K2O (Zhaong et.al, 1994)

Phun 0,5kg P2O5 - 1kg N - 1kg K2O - 3% urê sau khi cắt tỉa làm tăng sản lượngxoài đáng kể (Mallick et.al,1985) Malhi and Nijjar (1985) đưa ra công thức 100g N -200g P2O5 - 200g K2O/cây 1 năm tuổi sẽ cho hiệu suất tốt nhất và công thức nàycũng được Dayal và Misra, Chausa (1985) đề xuất

Phòng trừ sâu bệnh hại nhãn, xoài

Giống như nhiều loại cây ăn quả khác, cây nhãn cũng bị tấn công bởi nhiều loạisâu bệnh hại Theo các tài liệu của Trung Quốc, sâu hại nhãn chủ yếu gồm có bọ xít,rày hại hoa, xén tóc đốm sao, xén tóc mai rùa, ngài nhỏ vằn chéo, bướm ngài sáp nâuvàng, rệp sáp, sâu đục cành, nhện lông nhung Các loại bệnh nguy hiểm là sương mai,đốm lá, héo cành, muội đen, tổ rồng rồng Ngoài ra ở một số vùng, cây nhãn còn bịcác loại mối, chuột và dơi tấn công và gây hại

Ở Thái Lan, phòng trừ bọ xít hại nhãn bằng biện pháp sinh học đã được áp dụng

rộng rãi và đạt kết quả tốt Conopomorpha Cramella được xác định là đối tượng gây

hại nguy hiểm cho quả nhãn ở Đài Loan Theo Huang JC và Hsich FK (1989), loàicôn trùng này có khả năng sinh sản rất nhanh Trung bình, một con cái đẻ 114,1 quảtrứng/lần và tỷ lệ nở đạt tới 97% Sau khi nở, ấu trùng đục vào quả, ăn hạt và cùi quả

gây nên hiện tượng rụng quả Một số loại bệnh mới hại nhãn là cháy lá Pestalotiopsis Panciseta, đốm lá Ascochyta longan, xám lá Phomopsis guiyuan và đốm nâu Marssonina euphoriac.

Ở Trung Quốc, Đài Loan cũng như nhiều nước trồng nhãn khác, bọ xít được xác định là đối tượng gây hại nguy hiểm nhiều nước trồng nhãn Áp dụng phòng trừ tổnghợp IPM, sử dụng thiên địch và thuốc hoá học một cách hợp lý là những biện pháp phòng trừ bọ xít đạt hiệu quả cao

Trong các loài sâu bệnh gây hại cho xoài có 2 loài được coi là tàn phá nặng nhất

đó là rầy và rệp sáp Rầy gây hại trong suốt mùa hoa cho đến tháng 2 rầy ở ẩn dưới

Trang 11

đường nứt vỏ quả và hoạt động trở lại vào thời gian ra hoa Phòng trừ bằng cách phunmột số dung dịch malathion (0,15%); enrin (0,04%); carbaryl (0,15%);phosphomidon (0,05%)…Phun bắt đầu chùm hoa và bắt đầu giai đoạn quả.

Bệnh hại xoài phải kể đến bệnh phấn trắng: Phổ biến tất cả các vùng trồngxoài, thậm trí có thể gây mất mùa sợi nấm bùng phát trong giai đoạn mang hoa(Schoeman 1996) Nấm phát triển ở nhiệt ẩm thấp nhiệt độ thấp nhất hoạt động 11-14

oC cao nhất 27-31oC (Schoeman, 1996) Có biện pháp kiểm soát phòng trừ kịp thờiphun giai đoạn trước khi nở hoa bột lưu huỳnh (0,1%); bavistin (0,1%); benlate(0,1%)

Bệnh thán thư hại xoài: Bệnh nấm này gây hại rộng rãi đặc biệt là ở khu vực cólượng mưa và độ ẩm cao Gây hại ở lá, cụm hoa, chồi, quả Khi nấm gây hại xuấthiện các vết thối đen Phòng trừ là phun hỗn hợp Bordeaux (3:3:50); bilitoxorphitolan (0,3%), bavistin (0,1%); benlate (0,1%) ba lần/năm

3.1.5 Nghiên cứu thúc đẩy quá trình ra hoa, đậu quả và tăng năng suất nhãn, xoài

Hạn chế lớn của sản xuất nhãn hiện nay là năng suất thấp và sản lượng không ổnđịnh do nhãn ra hoa cách niên và tỷ lệ đậu quả kém Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô

Tố Phần, áp dụng các biện pháp kỹ thuật có thể khắc phục hiện tượng kể trên Đối vớicây có thể hoặc đã ra lộc đông nên dùng các biện pháp cắt đứt rễ, làm lộ rễ, khoanh

vỏ, bấm ngọn hoặc dùng thuốc, có thể dùng một biện pháp hoặc áp dụng tổng hợp cácbiện pháp để xử lý ức chế lộc đông sinh trưởng, đồng thời để nâng cao tỷ lệ đậu quảtrong thời gian cây nở hoa có thể thả ong, thụ phấn nhân tạo, lắc hoa sau mưa, phunnước khi khô hạn, cắt bớt chùm hoa Ở Thái Lan, các tác giả Pichai – Kongpitak,Pongthep - Akratanakul và Savitree - Malaiphan (1986) thấy rằng sử dụng ong mật vàcôn trùng để thụ phấn đã làm tăng tỷ lệ đậu quả nhãn

Một số kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy nếu trong quá trình ra hoa, đậu quả

áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tỉa hoa, tỉa chùm hoa, tỉa quả, phun thuốc kíchthích có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, khối lượng quả và năng suất nhãn Các loạiphân thiên nông đã hạn chế được sự rụng quả non, phân Komix làm tăng khối lượngquả Màu sắc vỏ quả của những cây được xử lý sáng đẹp hơn Ngoài ra còn có thểdùng hoá chất riêng rẽ hoặc hỗn hợp để bảo vệ quả Thời kỳ quả non sau khi hoa cái

nở rộ 21 ngày, phun 2,4 D nồng độ 5 ppm hỗn hợp với Gibberelin nồng độ 20 ppm cótác dụng giảm đáng kể tỷ lệ rụng quả

Kỹ thuật cắt tỉa cành, khoanh thân, khoanh cành, sử dụng chất điều hoà sinhtrưởng, phân vi lượng làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, chống rụng quả, ra hoaquả trái vụ, khống chế lộc đông Những nghiên cứu này đã được tiến hành ở cácnước như Trung Quốc, Thái Lan, Israel,, và Đài Loan Các chất điều tiết sinh trưởng

và phân bón qua lá được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp với những kỹ thuật trên làKClO3, NaClO3, NaOCl, Ca(ClO3)2, GA3 và Ethrel Hiệu quả nhất là KCLO3,Ca(CLO3 )2, GA3 và Ethrel

Trang 12

Chen và cộng sự (1984) thấy rằng phun GA3,nồng độ 100 mg/ lít và Ethrel nồng

độ 500 - 1000mg/lít vào thời kỳ phân hoá mầm hoa đã làm tăng khả năng ra hoa, kíchthước hoa và số lượng hoa cái và làm giảm số lá dị hình trên chùm hoa Năng suấttrung bình của các công thức thí nghiệm trong 2 năm là 7,5 tấn/ ha đối với phun GA3

và 5,5 tấn/ ha đối với phun Ethrel so với đối chứng không phun chỉ đạt 2,8 tấn/ha Đối với xoài, sự ra hoa, đậu quả của xoài có thể điều chỉnh bằng việc sử dụngcác hoá chất Ethephon làm tăng khả năng ra hoa và đậu quả khi sử dụng vào cuốinăm trên cây trưởng thành (Nakasone and Paull, 1998) Bondad abd Apostol, 1979)

sử dụng KNO3 10 và 40 ppm phun trên giống Carabao và Pahutan khi lộc bật ra hơnmột tháng đã làm quá trình ra hoa được tốt hơn Sử dụng Paclobutrazol tưới vào đấthoặc phun trên lá cũng là tăng khả năng phân hoá mầm hoa (Nagao and Nishina,1993) Một số chất như GA3 (1000ppm phun khi ra hoa), NAA (100 ppm phun sau tắthoa) cũng làm tăng khả năng đậu quả và năng suất của xoài

3.2 Những nghiên cứu trong nước:

3.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn, xoài của Việt Nam

Tính đến năm 2010, tổng diện tích nhãn của cả nước đạt 89.500 ha với tổng sảnlượng 590.600 tấn, phân bổ ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng Nhãn là cây ănquả được chú trọng phát triển ở hầu khắp các vùng miền trong cả nước Theo số liệuthống kê của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2010), các vùng trồng códiện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long (37.200 ha), Tây Bắc (14.000 ha và Đồngbằng sông Hồng (11.800 ha) Trong số trên 60 tỉnh thành trồng nhãn trong cả nước,tỉnh Sơn La có diện tích trồng nhãn lớn nhất là 11.300 ha Trong đó, diện tích cho thuhoạch là 10.700 ha, sản lượng 19.400 tấn/năm

Năng suất nhãn bình quân của cả nước hiện rất thấp, chỉ đạt 7,18 tấn/ha VùngĐồng bằng sông Cửu Long đạt năng suất cao nhất (10,9 tấn/ha) Vùng Đông bắc đạtnăng suất 2,98 tấn/ha, chỉ đngs trên có Tây Bắc (2,0 tấn/ha) Trong đó, Lào Cai códiện tích nhãn đạt 1.500 ha với sản lượng 3.800 tấn, tập trung ở các huyện BảoThắng, Bảo Yên, thành phố Lào cai

Sản xuất nhãn của nước ta phục vụ nhu cầu tiêu thụ quả tươi ở trong nước làchính nên giá trị hàng hoá không cao Những năm được mùa, quả nhãn được mất giá

và khó tiêu thụ Những năm trước đây, sản phẩm nhãn sấy khô được bán sang TrungQuốc bằng con đường tiểu ngạch Trước đây, cây nhãn đa số đều được nhân giốngbằng phương pháp gieo hạt, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc nên cây rất cao,năng suất không ổn định, quả nhỏ, chất lượng quả kém, mã quả xấu và sâu bệnh pháhại nặng, do vậy hiệu quả kinh tế của các vườn nhãn rất thấp

Đối với cây xoài, năm 2007, tổng diện tích xoài của nước ta là 85,2 ngàn ha, sảnlượng đạt434,9 ngàn tấn Đến năm 2008, diện tích cũng chỉ ở mức 85,5 ngàn ha với sảnlượng 509,2 ngàn tấn Chủ yếu xoài được trồng tại các tỉnh miền Nam với diện tích 73,4ngàn ha, sản lượng 471,4 ngàn tấn năm 2008 Trong khi đó, diện tích xoài ở miền Bắc chỉđạt 12,1 ngàn ha, sản lượng 37,7 ngàn tấn (bằng 8% sản lượng xoài của miền Nam)

Trang 13

3.2.2 Các nghiên cứu về giống nhãn, xoài và các giống đang được trồng phổ biến

Ở miền Bắc có 2 nhóm giống chính là nhãn cùi và nhãn nước Các giốngthuộc nhóm nhãn cùi là: nhãn lồng, Giống đường phèn, Giống Hương Chi Ngoài racòn có các giống bàm bàm, cùi và cùi điếc Các giống thuộc nhóm nhãn nước baogồm: nhãn nước, nhãn thóc (nhãn trơ, nhãn cỏ) Các giống nhãn trồng phổ biến ởmiền Nam gồm có tiêu da bò, xuồng cơm vàng, tiêu lá bầu Ngoài ra còn có nhãnlong và nhãn giống da bò

Ở các tỉnh miền Nam, hiện có khoảng gần 100 giống xoài được trồng ở các hộ giađình (Trung tâm cây ăn quả Long Định, 1998), trong đó có 21 giống có nhiều đặcđiểm quý về năng suất và phẩm chất như giống xoài cát Hoà Lộc, Cát Trắng, CátĐen, Xoài Bưởi Năm 1995, Công ty Giống cây trồng TP HCM thu thập được 11giống xoài từ Thái Lan

Miền Bắc có khoảng trên 60 giống xoài do Viện Nghiên cứu Rau quả thu thập

từ các vùng trong nước và nước ngoài Hiện có rất nhiều giống đang được trồng khảonghiệm, khu vực hoá và tuyển chọn Một số giống được Bộ NN&PTNT công nhậnnhư giống xoài GL1, GL2, GL6 Đến nay, Bô Nông nghiệp đaX công nhận tạm thờiđược giống xoài ăn xanh chất lượng VRQ-XX1, đặc biệt là giống GL4, là giống cókhả năng sinh trưởng tốt, quả hình bầu dài, khi chín có màu xanh vàng, vai quả tímhồng, thịt quả màu vàng, tỷ lệ thịt quả 81,8- 82,7%, hạt mỏng với ưu thế nổi bật củaxoài GL4 là có thể sử dụng cho ăn chín và cả ăn xanh Ở giai đoạn quả già (sau tắthoa 80 ngày) có thể sử dụng cho ăn xanh, vỏ quả xanh hơi vàng, thịt quả vàng nhạt,giòn và ngọt, chất khô 22-24%, đường tổng số 8,0-9,6%, vị chua khá, Vitamin C 53-

56 mg/100g, không chát, tanin 0,12-0,14

Những năm gần đây, Viện Nghiên cứu Rau quả đã tuyển chọn được một sốgiống nhãn chất lượng theo các thời vụ: chín sớm, chính vụ, chín muộn nhằm rải cụthu hoạch, nâng cao hiệu quả sản xuất Kết quả điều tra tuyển chọn giống của ViệnNghiên cứu Rau quả đã tuyển chọn được bộ giống gồm 15 giống nhãn thuộc cácnhóm chín sớm, chín chính vụ và chín muộn từ các tỉnh Hưng Yên, Lào Cai, Yên Bái.Trong đó có 3 giống chín muộn: PHM99-1.1, PHM99-2.1 và MTM1 (có thời gian thuhoạch có thể kéo dài từ đầu tháng 9 đến đầu tháng 10) đã được công nhận giống tạmthời và được phép sản xuất thử quy mô lớn ở các vùng trồng nhãn phía Bắc

Đặc điểm của giống PHM99-1.1 là giống nhãn được tuyển chọn ở Hưng Yên,được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống cho sản xuất thử tại vùng Đồngbằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc (Quyết định số 1147 QĐ/BNN-KHCN ngày 19 tháng 4 năm 2006.) Giống PHM99-1.1 có đặc điểm:

+ Cây sinh trưởng khỏe, lá màu xanh sáng, phiến lá to, mỏng, khả năng phâncành trung bình, tán hình bán cầu, chùm quả dạng chổi xể, quả hình tròn, hơi thuôn,

vỏ quả màu nâu, bề mặt có gai nỏi rõ; cùi dầy, ráo, giòn, dễ tách và có màu trắng đục

+ Khối lượng quả: 11,8 – 12,5 g (80 - 85 quả/kg)

+ Tỷ lệ thịt quả: 68 – 70%

Trang 14

+ Độ Brix: 20 - 21%

+ Hương thơm vị ngọt

+ Thời gian thu hoạch: 15/8 - 10/9

Giống nhãn HTM1 được tuyển chọn tại xã Đại Thành - huyện Quốc Oai - Hà

Tây (cũ) Cây sinh trưởng khoẻ, phân cành mạnh, giai đoạn kiến thiết cơ bản có 4 - 5đợt lộc/năm Lá màu xanh nhạt, hơi bóng, mép lá ít lượn sóng, phiến lá rộng, mỏng.Chùm hoa dạng chùm dâu da, to, có nhiều nhánh nhỏ Quả vẹo, màu vàng nâu, bềmặt vỏ quả nhẵn, vỏ mỏng Xuất hiện hoa từ đầu đến giữa tháng 2 và đậu quả từ đầuđến giữa tháng 4 Khối lượng quả: 11,0 – 11,5 g (87 - 90 quả/kg) Tỷ lệ thịt quả: 66 –68% Độ Brix: 21 - 22% Thời gian thu hoạch: 25/8 - 20/9 Giống nhãn HTM1 được

Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống chính thức tháng 01/2011

Đặc điểm của giống xoài GL4: Là giống nhập nội từ Đài Loan được BộNN&PTNT công nhận là giống sản xuất thử cho các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng

và Trung du miền núi phía Bắc (Quyết định số 365/QĐ-TT-CTT về việc công nhậngiống cây trồng nông nghiệp, ngày 22/9/2010), ưu điểm của giống này là quả to, mẫu

mã đẹp, hạt mỏng, ngọt đậm, thơm và có thể ăn xanh, rất phù hợp với xu thế tiêudùng hiện nay Các giống này cũng chưa được trồng thử một cách bài bản trên địabàn Lào Cai

Giống xoài ăn xanh VRQ-XX1 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt Sautrồng 3 năm cây cao trung bình 1,60-2,0m; đường kính tán đạt 1,80-2,20m Thời gian

ra hoa tập trung vào 2 đợt từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 4 Quả khá to, hình thuôndài, khối lượng trung bình 300-400g/quả Tỷ lệ thịt quả đạt trên 70% là tỷ lệ khá cao.Khi quả còn xanh vỏ quả màu xanh sáng, thịt trắng ngà, mịn, chắc, ăn ngọt và giòn.Lúc chín vỏ quả có màu vàng, thịt quả màu vàng đậm, ăn ngọt và thơm, ít xơ

3.2.3 Kỹ thuật nhân giống và ứng dụng trong việc ghép cải tạo thay thế giống

Ở Việt Nam đã ứng dụng thành công phương pháp nhân giống cây ăn quả, trong

đó có nhãn, xoài bằng kỹ thuật ghép đoạn cành Đây là kỹ thuật ghép đạt hiệu quả caonhất so với các kỹ thuật ghép khác như ghép mắt, ghép cành bên và ghép nêm Tuynhiên mức độ thành công của kỹ thuật này cũng phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố nhưthời tiết khí hậu, giống gốc ghép, kỹ thuật chăm sóc trước và sau khi ghép

Ngô Hồng Bình, Hồ Huy Cường (2006) đã cải tạo thay thế giống xoài bằngphương pháp ghép (ghép thấp, ghép cao) đã làm tăng hiệu quả kinh tế lên nhiều sovới đối chứng Trên cây nhãn, Đào Quang Nghị, Đỗ Đình Ca (2006) sử dụng phươngpháp ghép đoạn cành ghép trực tiếp lên đầu cành vào tháng 7 - 8 đạt tỷ lệ ghép sống75,1 - 82,3% Khả năng sinh trưởng của cành ghép tốt

Ứng dụng phương pháp ghép trong nhân giống, các kỹ thuật ghép cải tạo đối vớicây nhãn, xoài đã và đang được Viện Nghiên cứu Rau quả hoàn thiện Ứng dụng cáckết quả nghiên cứu, nhằm thay thế các giống cũ bằng các giống mới có nhiều ưu điểmhơn hoặc rải vụ thu hoạch, nhiều chương trình cấp Bộ và nhiều địa phương đã ghép

Trang 15

cải tạo thay thế giống thành công trên các đối tượng: vải (ở Bắc Giang, Quảng Ninh),nhãn (ở Hưng Yên, Hoà Bình, Sơn La), Xoài (ở Hà Nội, Vĩnh Phúc)

3.2.4 Kết quả nghiên cứu biện pháp kỹ thuật sản xuất nhãn, xoài

Kỹ thuật bón phân cho nhãn

Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã kết luận: năng suất nhãn tăng lênmột cách có ý nghĩa ở công thức bón phân NPK cao 450 - 240 - 330; 350 - 180 - 270,(N - P2O5 - K2O g/cây/vụ) + phân hữu Các công thức bón lượng kali cao và bón thêmphân hữu cơ đã làm gia tăng độ Brix (%), màu sắc vỏ trái cũng sáng đẹp hơn

Lượng phân bón thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi cây, tình trạng sinh trưởng và pháttriển của cây, vào độ phì nhiêu của đất Tuỳ theo từng nơi mà thay đổi dạng phân chophù hợp Theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả, có thể áp dụng lượng phânbón như sau:

Lượng phân bón cho nhãn ở thời kỳ kiến thiết cơ bản:

Tuổi cây

Chủng loại phân bón (kg/cây/năm)

0,7 1,01,0 - 1,21,2 - 1,5

0,2 - 0,30,2 - 0,30,3 - 0,5

Lượng phân bón cho nhãn ở thời kỳ mang quả:

Loại phân Lượng phân bón theo tuổi cây (kg/năm)

Cây 4 - 6 năm tuổi Cây 7 - 10 năm tuổi Cây trên 10 tuổiPhân chuồng

Đạm urê

Supe lân

Kaliclorua

30 - 500,3 - 0,50,7 - 1,00,5 - 0,7

50 - 700,8 - 1,01,5 - 1,71,0 - 1,2

70 - 1001,2 - 1,52,0 - 3,01,2 - 2,0

Kỹ thuật bón phân cho xoài:

Theo quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc xoài của Viện Nghiên cứu Rau quả,lượng bón cho cây xoài cụ thể:

- Đối với cây trong thời kỳ kiến thiết cơ bản: bón vào hai đợt: tháng 3 - 4: rắc

phân NPK (14:14:14) trên mặt đất phân diện tích quanh tán với lượng 0,5 - 0,6kg/cây Sau đó dùng cuốc xới nhẹ mặt đất để phân lọt xuống dưới rồi tủ rơm rác lêntrên mặt; tháng 8: dùng 30 - 50 kg phân chuồng hoai mục cộng 0,5 - 0,8 kg NPK (tỷ

lệ 14: 14: 14) bón sâu cách mặt đất 10 cm xung quanh gốc cây theo độ rộng của tán

- Đối với cây trong thời kỳ kinh doanh: có thể bón phân làm nhiều đợt trongnăm, nhưng đợt bón quan trọng nhất là đợt bón sau thu quả, nhằm cung cấp kịp thờidinh dưỡng cho cây tái tạo đợt lộc thu Bón theo rãnh sâu 20 cm, rộng 20 cm xungquanh gốc theo hình chiếu của tán Sau khi bón phân, lấp đất kín, dùng rơm rác, cỏ

Trang 16

khô phủ lên trên và tưới ẩm ngay Ngoài ra có thể bón thêm 1 - 2 đợt vào tháng 4nhằm hạn chế quá trình rụng quả non và tháng 5 – 6 nhằm tăng cường quá trình lớncủa quả

Lượng phân bón sau thu quả cho xoài

Các biện pháp kỹ thuật phòng trừ, quản lý sâu bệnh hại cũng đã được các cơ

quan nghiên cứu như Viện Bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam,Viện nghiên cứu Rau quả và Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Phủ Quỳ tiến hành ởcác vùng trồng nhãn từ những năm 1997 - 1998 Kết quả đã phát hiện 12 loại bệnh và

38 loại sâu hại Các đối tượng gây thiệt hại đáng kể nhất là bọ xít, rệp sáp, sâu đụcquả, sâu đục thân, sâu tiện vỏ, bệnh sương mai Việc sử dụng các loại thuốc bảo vệthực vật để phòng và trừ các loại sâu bệnh đã mang lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, gópphần làm tăng năng suất và chất lượng của quả nhãn

Nguyễn Xuân Hồng (2006) với những nghiên cứu cho thấy, bọ xít (Tessaratoma papillosa Drury) và bệnh do nấm Phytopthora sp gây hại nặng nhất trên nhãn.

Trên cây xoài, có nhiều đối tượng sâu, bệnh gây hại Trong đó, ruồi đục quả

(Dacus dosalis), rệp vẩy (Idioscopus sp.), bệnh thán thư (Colletotrichum gloesporioides), bệnh đốm đen vi khuẩn (Xanthomonas campestris) Bùi Quang Đãng

(2006) đã báo cáo, sử dụng biện pháp bao quả đã làm giảm tỷ lệ sâu bệnh hại trênquả, tăng năng suất thương phẩm và cải thiện mã quả

* Các biện pháp kỹ thuật làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất nhãn, xoài

Sử dụng KClO3 riêng rẽ hoặc kết hợp khoanh cây, cành xử lý cho nhãn ra hoatrái vụ hoặc ra hoa đồng loạt đã được thực hiện tại Viện cây ăn quả miền Nam và một

số vùng trồng nhãn ở Đồng bằng sông Cửu Long Ở miền Bắc, sử dụng chất điều tiếtsinh trưởng, trong đó có KClO3 kết hợp với các biện pháp cơ giới đã góp phần quantrọng khắc phục hiện tượng ra hoa, quả không ổn định ở cây nhãn

Theo Trần Thế Tục (1999) biện pháp làm tăng khả năng đậu hoa, đậu quả của

vải, nhãn tốt nhất là phun các chất kích thích sinh trưởng như NAA, GA3, Axit Boric

Có thể dùng riêng rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên tố vi lượng với các chất kích thíchsinh trưởng phun khi hoa bắt đầu nở và khi hoa nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậuquả, giảm tỷ lệ rụng quả non

Trang 17

Nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học cũng như các loại phân vi lượngbón qua lá: kích phát tố hoa trái Thiên nông, Atonic, Bayfolan, Orgamin, Spray - N -Grow (SNG), Bill’s perfect fertilize (BPF) và FITO vv để làm tăng tỷ lệ đậu quả,tăng cường phẩm chất quả cũng được Viện nghiên cứu Rau quả, Viện cây ăn quảmiền Nam thực hiện và đạt kết quả tốt khi ứng dụng tại một số vùng trồng nhãn ởHưng Yên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Bùi Quang Đãng (2006) cũng đã báo cáo: sử dụng komix đã làm tăng khả năngsinh trưởng của cành xoài; Xử lý 1g ai/m đường kính tán không làm ảnh hưởng đếnsinh trưởng của cành mẹ, hoa nở rộ vào đầu tháng 3, năng suất cao hơn nhiều so vớiđối chứng không xử lý; Xử lý GA3 100 ppm trên giống GL6 vào đầu tháng 1 đã làmtăng tỷ lệ cành ra hoa đạt tới 95,38% và làm tăng năng suất; Xử lý α - NAA 60 ppmcho xoài GL6 khi tắt hoa làm năng suất tăng 27,2% so với đối chứng

Các biện pháp kỹ thuật thâm canh các giống mới nhãn và xoài, đặc biệt là kỹthuật ghép cải tạo đã và đang được áp dụng rộng rãi và đạt hiệu quả cao ở nhiều địaphương Tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Lào cai, chưa có những nghiên cứu hoàn thiện đểquy trình phù hợp với điều kiện cụ thể của Lào Cai Các kỹ thuật tiến bộ mới chưađược phổ biến rộng rãi tới người sản xuất Do vậy trình độ sản xuất cây ăn quả củangười dân cũng bị hạn chế và có phần lạc hậu

4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất nhãn, xoài tại Bảo Thắng và thành phố Lào Cai

- Đánh giá thực trạng về giống trồng, diện tích, năng suất, sản lượng nhãn,xoài

- Đánh giá thực trạng áp dụng các kỹ thuật thâm canh nhãn, xoài: bón phân,phòng trừ sâu bệnh, mức đầu tư

Nội dung 2: Xây dựng mô hình sản xuất giống nhãn chín muộn và xoài ăn xanh tại Lào Cai

Thực hiện các hoạt động:

- Trồng mới 1,0 ha nhãn chín muộn (cây 1 năm tuổi tính từ khi xuất vườn).Trong đó: 440 cây PH99M-1.1 và 60 cây nhãn HTM1 Tổng số 500 cây

- Trồng mới 1,0 ha xoài ăn xanh (cây 1 năm tuổi tính từ khi xuất vườn) Trong

đó 440 cây xoài GL4 và 60 cây xoài VRQ-XX1 Tổng số 500 cây

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, chất

lượng và tình hình sâu bệnh hại của các giống nhãn chín muộn trên địa bàn Lào Cai

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, chất

lượng và tình hình sâu bệnh hại của giống xoài ăn xanh trên địa bàn Lào Cai

Địa điểm thực hiện: Huyện Bảo Thắng và thành phố Lào Cai

Nội dung 3: Xây dựng mô hình ghép cải tạo thay thế giống nhãn và xoài kém hiệu quả bằng giống nhãn chín muộn và xoài ăn xanh tại tại Bảo Thắng, Lào Cai

Trang 18

Thực hiện các hoạt động:

- Xây dựng mô hình ghép cải tạo giống nhãn kém hiệu quả bằng giống nhãnchín muộn Tổng số 100 cây

- Xây dựng mô hình ghép cải tạo giống xoài chất lượng thấp bằng giống xoài

ăn xanh Tổng số 100 cây

- Xây dựng bản hướng dẫn ghép cải tạo thay thế giống nhãn

- Xây dựng bản hướng dẫn ghép cải tạo thay thế giống xoài

Địa điểm thực hiện: Huyện Bảo Thắng

Nội dung 4: Nghiên cứu ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật sản xuất nhãn chín muộn và xoài ăn xanh trên địa bàn Lào Cai (thực hiện trên mô hình trồng mới ở nội dung 1)

Thực hiện các hoạt động:

+ Nghiên cứu ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh nhãn chín muộn

trên địa bàn Lào Cai

+ Nghiên cứu ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh xoài ăn xanh trên

địa bàn Lào Cai

+ Xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc nhãn chín muộn

+ Xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc xoài ăn xanh.

Nội dung 5: Tập huấn kỹ thuật ghép cải tạo thay thế giống và kỹ thuật trồng, chăm sóc nhãn, xoài theo VietGAP

Tổ chức 2 lớp tập huấn cho nông dân, mỗi lớp 50 người về kỹ thuật trồng, chăm

sóc và ghép cải tạo nhãn, xoài

4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm và kỹ thuật sử dụng

* Phương pháp điều tra: Điều tra thu thập số liệu thứ cấp qua các tài liệu thống

kê từ các cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn về lĩnh vực thống kê, nông nghiệp.Thu thập số liệu sơ cấp theo phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham giacủa người dân (PRA) và phỏng vấn trực tiếp người sản xuất

* Các nghiên cứu, đánh giá về sinh trưởng, phát triển được bố trí, theo dõi theocác phương pháp chuẩn Để có thể đánh giá kết quả trong thời gian thực hiện đề tài,

cây giống được sử dụng trồng thử nghiệm là cây 1 năm tuổi tính từ khi xuất vườn

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, chất

lượng và tình hình sâu bệnh hại của giống nhãn chín muộn, trên địa bàn Lào Cai:Theo dõi đánh giá trên các vườn mô hình, mỗi vườn 30 cây/giống

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng và tình

hình sâu bệnh hại của giống xoài ăn xanh trên địa bàn Lào Cai:

Theo dõi đánh giá trên các vườn mô hình, mỗi vườn 30 cây/giống Đối chứng làgiống được trồng đại trà ở địa phương

Trên cơ sở các vườn mô hình, nghiên cứu ứng dụng và hoàn thiện một số biện

pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện Lào Cai:

Trang 19

- Bố trí các thí nghiệm nghiên cứu ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm

canh nhãn chín muộn trên địa bàn Lào Cai:

- Thí nghiệm nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho nhãn chín muộn 2 năm tuổi gồm 3 công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công

thức 3 cây, nhắc lại 3 lần Tổng số 36 cây):

Công thức 1 (đối chứng): Theo quy trình trồng và chăm sóc nhãn của ViệnNghiên cứu Rau quả (Công thức nền): 30 kg Phân chuồng + 0,3kg ure + 1,2kgsupelân + 0,3kg Kaliclorua

Công thức 2: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,05kg Ure

Công thức 3: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,1kg Ure

Công thức 4: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,15kg Ure

Thời kỳ bón: Toàn bộ lượng phân vô cơ được chia 4 lần bón, chủ yếu để thúc

các đợt lộc, toàn bộ lượng phân chuồng được bón làm 1 lần vào cuối năm Phân hữu

cơ vi sinh được sử dụng là phân hứu cơ vi sinh Sông Gianh

Cách bón: Hoà với nước tưới hoặc bón trực tiếp.

- Hoà các loại phân vô cơ với nước và tưới cho cây theo hình chiếu tán cây

- Bón trực tiếp: Khi trời mưa rào có thể rắc phân xung quanh hình chiếu tán cây

- Phân chuồng: Xẻ rãnh quanh hình chiếu tán cây để bón

- Thí nghiệm nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho nhãn chín muộn 3 năm tuổi gồm 4 công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công

thức 3 cây, nhắc lại 3 lần Tổng số 36 cây):

Công thức 1 (đối chứng): theo quy trình trồng và chăm sóc nhãn của ViệnNghiên cứu Rau quả (Công thức nền): 30 kg Phân chuồng + 0,5g ure + 1,5g supelân+ 0,5g Kaliclorua

Công thức 2: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,1kg Kaliclorua

Công thức 3: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,2kg Kaliclorua

Công thức 4: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,3kg Kaliclorua

Thời kỳ bón: Toàn bộ lượng phân bón được chia làm 3 lần bón trong năm.

Phân hữu cơ vi sinh được sử dụng là phân hứu cơ vi sinh Sông Gianh

- Lần 1: Bón thúc hoa vào cuối tháng 2 - đầu tháng 3 Bón 30% phân đạm, 20%kali và 10 - 20% phân lân

- Lần 2: Bón thúc quả vào tháng 4 - 5 Bón 40% phân đạm và 40% phân kali

- Lần 3: Bón sau thu hoạch quả vào giữa tháng 9 Bón toàn bộ lượng phân visinh, 80 – 90% phân lân và lượng phân đạm, kali còn lại

Trang 20

Thí nghiệm gồm 3 công thức Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 3 lần Tổng số 27 cây):Công thức 1(đối chứng): phun nước lã

Công thức 2: Selecron 500 ND

Công thức 3: Regrent 800WG

Thuốc được phun 5 lần: Lần 1 sau tắt hoa, 4 lần tiếp theo vào giữa các tháng 4,

5, 6 và 7

- Bố trí các thí nghiệm nghiên cứu ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh

xoài GL4 trên địa bàn Lào Cai:

- Thí nghiệm nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho xoài ăn xanh 2 năm tuổi gồm 4 công thức bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công thức 3

cây, nhắc lại 3 lần Tổng số 36 cây):

Công thức 1 (đối chứng): theo quy trình trồng và chăm sóc xoài của ViệnNghiên cứu Rau quả (Công thức nền): 20 kg phân chuồng + 0,3 kg ure + 0,5 kg supelân + 0,2 kg kaliclorua

Công thức 2: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,05kg Ure

Công thức 3: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,1kg Ure

Công thức 4: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,15kg Ure

Toàn bộ lượng phân vô cơ được chia làm 5 lần bón dưới dạng dung dịch tưới xungquanh gốc cây Phân hữu cơ vi sinh được sử dụng là phân hứu cơ vi sinh Sông Gianh

Lượng phân vi sinh được rắc đều trên mặt đất dưới tán cây vào tháng 4

- Thí nghiệm nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho xoài ăn xanh 3 năm tuổi: gồm 4 công thức bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công thức 3

cây, nhắc lại 3 lần Tổng số 36 cây):

Công thức 1 (đối chứng): theo quy trình trồng và chăm sóc xoài (tiêu chuẩn

ngành 10TCN 487-2001) (Công thức nền): 20 kg phân chuồng +0,5 kg ure + 0,75 kg supe lân + 0,35 kg kaliclorua

Công thức 2: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,1kg Kaliclorua

Công thức 3: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,2kg Kaliclorua

Công thức 4: nền + 2 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,3kg Kaliclorua

Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 3 lần Phân hữu cơ vi sinh được sử dụng là phânhứu cơ vi sinh Sông Gianh Toàn bộ lượng phân được chia làm 4 lần bón:

Lần 1: Sau thu hoạch, bón 100% lượng phân chuồng +100% phân hữu cơ visinh + 60% lượng ure + 60% lượng supelân và 40% kaliclorua

Lần 2: Đầu tháng 11, bón 40% lượng supe lân + 30% lượng kaliclorua

Lần 3: khoảng 3 tuần sau khi đậu quả, bón 20% lượng ure + 15% lượng kaliclorua

Lần 4: 10 tuần sau đậu quả bón toàn bộ lượng phân còn lại

Bón vôi với lượng 500 kg/ha vào cuối mùa nắng bằng cách rải vôi đều trên mặtđất và xới đất để vôi phân tán đều vào trong tầng đất mặt

- Thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả của pháp kỹ thuật phòng trừ một số loại bệnh cho xoài

Trang 21

Thí nghiệm gồm 5 công thức bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗicông thức 3 cây, nhắc lại 3 lần Tổng số 27 cây):

Công thức 1: phun Score 250EC

Công thức 2: phun Ridomil MZ72

Công thức 3(đối chứng): Để tự nhiên

Phun vào các đợt lộc (khi lộc xuất hiện được 5 7 ngày); khi nhú hoa được 5

-10 ngày; sau tắt hoa 5 - 7 ngày và sau tắt hoa 30 ngày

Các mô hình ghép cải tạo nhãn, xoài được thực hiện dựa vào việc ứng dụng cáckết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả trong những năm gần đây Câyđược ghép cải tạo thay thế có độ tuổi từ 5 năm trở lên Ghép bằng hai phương phápghép trực tiếp và ghép gián tiếp Ghép trực tiếp là phương pháp ghép thay thế giốngcho những cây có bộ tán còn vừa phải, có thể ghép trực tiếp lên đầu cành (thay tán)

có đường kính 1,5 - 2,5 cm Ghép gián tiếp được áp dụng cho cây có bộ khung tánlớn, không thể hoặc khó khăn trong việc ghép trực tiếp lên đầu cành bằng cách cưađốn làm thấp bộ khung của cây Sau đó ghép lên chồi bật ra từ cây gốc ghép

4.3 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm EXCEL và IRRISTAT 5.0

5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

5.1 Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất nhãn, xoài tại Bảo Thắng và thành phố Lào Cai

5.1.1 Một số điều kiện chung về khí hậu, đất đai tại vùng nghiên cứu

* Điều kiện khí hậu

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùngTây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường

bộ Diện tích tự nhiên: 6.383,88 km2 (chiếm 2,44% diện tích cả nước) Do Địa hìnhLào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh đã tạo ra nhữngtiểu vùng khí hậu khác nhau Về cơ bản, Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song

do nằm sâu trong lục địa bị chia phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thờitiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian Đột biến về nhiệt độthường xuất hiện ở dạng nhiệt độ chênh lệch trong ngày lên cao hoặc xuống thấp quá(vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 00C và có băng hoặc tuyết rơi)

Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10,mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình nằm ở vùngcao từ 150C - 200C (riêng Sa Pa từ 140C – 160C và không có tháng nào lên quá 200C),lượng mưa trung bình từ 1.800mm - >2.000mm Nhiệt độ trung bình nằm ở vùng thấp

từ 230C – 290C, lượng mưa trung bình từ 1.400mm - 1.700mm Sương mù thườngxuất hiện phổ biến trên toàn tỉnh, có nơi ở mức độ rất dày Trong các đợt rét đậm, ởnhững vùng núi cao và các thung lũng kín gió còn xuất hiện sương muối, mỗi đợt kéodài 2 - 3 ngày Vì có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau Lào Cai thích hợp cho phát

Trang 22

triển nhiều loại cây ăn quả từ các loại cây nhiệt đới (dứa, xoài,) á nhiệt đới (nhãn,vải, cây có múi) đến cây ộn đới (mận, đào, lê ).

Ở thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng có khí hậu gió mùa chí tuyến, ánhiệt đới có mùa đông lạnh và khô, chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đếntháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình 22,80C vàlượng mưa 1792 mm Sự phân hoá về nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm trên địa bànthành phố không lớn Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất cũng chỉ là 160C, biên độdao động nhiệt năm là 110C, trong năm có trung bình 1 ngày có sương muối Đây là điềukiện khí hậu khá thuận lợi cho phát triển các cây ăn quả như nhãn, xoài, chuối, dứa

* Điều kiện đất đai:

Lào Cai có điều kiện đất đai đa dạng bao gồm 10 nhóm, 30 loại đất, phù hợpvới nhiều loại cây trồng khác nhau Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõràng, trong đó độ cao từ 300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh Điểm caonhất là đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với mặtnước biển, Tả Giàng Phình: 3.090m Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồmthành phố Lào Cai - Cam Đường - Bảo Thắng - Bảo Yên và phần phía đông huyệnVăn Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80 m thuộc địa phận huyệnBảo Thắng), địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng, là địabàn thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp hoặc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng

Thành phố Lào Cai nằm trong khu vực thung lũng sông Hồng, được tạo bởihai dãy núi Con Voi và Hoàng Liên Sơn Địa hình có xu thế dốc dần từ Tây Bắc -Đông Nam và bị chia cắt nhỏ bởi các sông suối, khe tụ thuỷ, đồi núi Ranh giớithành phố nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, xung quanh có các dãy đồi núi bao bọc.Phần địa hình đồi núi chiếm 60% diện tích của thành phố tập trung ở các xã Tả Phời

và Hợp Thành, một phần của Vạn Hoà và Đồng Tuyển có độ cao trung bình từ 80

-100 m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 12-180 Đỉnh cao nhất có độ cao1.260 m ở phía Tây Nam thành phố Phần địa hình thấp nằm ở ven sông Hồng vàgiữa các quả đồi, phân bố chủ yếu ở khu vực các phường nội thành và các xã ngoạithành như Cam Đường và một phần Vạn Hoà, Đồng Tuyển với độ dốc trung bình từ6-90, độ cao trung bình từ 75-80 m so với mực nước biển

Địa hình Bảo Thắng là một dải thung lũng hẹp chạy dài ven sông Hồng có phíaTây là dải núi thấp của dãy Phan-Xi-Păng – Pú Luông và Đông là của dãy thượngnguồn sông Chảy án ngữ Đất đai Bảo Thắng chủ yếu là đất lâm nghiệp Đất canh tác

ít, tập trung ở các thung lũng ven sông, suối còn lại là đất Feralít thuận lợi cho nhiềuloại cây trồng, đặc biệt thicha hợp cho nhiều loại cây ăn quả

Bên cạnh những thuận lợi về địa hình, khí hậu, đất đai, thành phố Lào Cai vàhuyện Bảo Thắng còn là đầu mối giao thông có đường sông, đường bộ, đường sắt toả

đi khắp các khu vực Bắc Nam, thuận lợi phát triển kinh tế thương mại và du lịch

Trang 23

5.1.2 Diện tích sản lượng các loại cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Lào Cai và định hướng phát triển đến 2020.

Lào Cai có tiềm năng đất đai, khí hậu rất đa dạng, thích hợp cho phát triển cảcây ăn quả nhiệt đới và cây ôn đới Năm 2010 tổng diện tích cây ăn quả là 7.300 ha,phân bố tại tất cả các huyện, thành phố: Lào cai 473ha, Bát Xát 637 ha, MườngKhương 1.103ha, Bảo Yên 512ha, Sa Pa 350ha và Văn Bàn 661ha

Năm 2011, diện tích cây ăn quả của Lào cai tăng lên đến 7.510ha Trong đócác loại cây ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới chính (cây có múi, nhãn, vải, xoài, chuốidứa) chiếm 5.116,3ha Cây ôn đới (đào mận lê, hồng ) và các loại cây ăn quả khácchiếm 2.393,7ha

Cây ăn quả có diện tích lớn nhất là cây nhãn với diện tích 1.414,6ha, chiếm18,8% tổng diện tích cây ăn quả của toàn tỉnh, được trồng chủ yếu ở Bảo Thắng và vàBắc Hà Tiếp đến là cây chuối: 1.192,4ha, chiếm 15,9% được trồng chủ yếu ở BátXát, Bảo Thắng, Mường Khương, thành phố Lào Cai Cây dứa 918,6ha, chiếm12,2% được trồng chủ yếu ở Mường Khương và Bảo Thắng Cây xoài chỉ có 351,5

ha, chiếm 4,7% được trồng chủ yếu ở Bảo Thắng và rải rác ở hầu hết các huyện củaLào Cai

Đối với cây xoài, Lào cai cũng đã phát triển cây xoài ở các huyện vùng thấp:Bảo Yên, Bảo Thắng, Bảo Nhai, thành phố Lào cai với diện tích khoảng 400 ha vàonăm 2008, sản lượng khoảng 700 tấn (Số liệu Cục Trồng trọt) Tuy nhiên, tương tựnhư nhãn, đa số các giống xoài là các giống cũ hay là cây nhân giống bằng hạt nênchất lượng không đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng

Do vậy, đến 2011, diện tích xoài trên toàn tỉnh chỉ còn 351,5 ha với năng suất 24,5 tạ/

ha (30%) năng suất xoài bình quân của cả nước

Tuy diện tích cây ăn quả của Lào Cai khá lớn nhưng chỉ có ít loại cây có nhữngdiện tích trồng tập trung lớn như chuối, dứa, nhãn, mận tam hoa Còn lại các cây ănquả khác có diện tích trồng còn manh mún, không tập trung, vùng trồng chưa đủ lớn

để có nguồn sản phẩm phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp tỉnh Lào Cai đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030, diện tích cây ăn quả của toàn tỉnh phấn đấu đạt mức 9.800

ha Trong đó, diện tích cây ăn quả nhiệt đới và á nhiệt đới chính chiếm 6.500 ha Còn3.300ha là cây ăn quả ôn đới và cây khác Theo đó, đến năm 2020, diện tích cây ănquả nhiệt đới và á nhiệt đới chính (cam quýt, nhãn, vải, xoài, chuối, dứa) của huyệnBảo Thắng sẽ đạt 2.160ha, của thành phố Lào Cai sẽ đạt 250ha

Trang 24

Bảng 1 Diện tích cây ăn quả của Lào Cai và định hướng phát triển đến 2020

(Số liệu điều tra thu thập năm 2012)

Cây có múi Nhãn Vải Xoài Chuối Dứa diện tíchTổng CAQ á

nhiệt đới và nhiệt đới chính

CAQ

ôn đới

và cây khác

Trang 25

* Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và số liệu của Sở Nông nghiệp và PTNT Lào Cai 2012.

Trang 26

5.1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng xoài, nhãn qua các năm trên địa bàn huyện Bảo Thắng và thành phố Lào Cai

Bảng 2 Diện tích, năng suất và sản lượng nhãn, xoài tại Bảo Thắng

áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và mức độ đầu tư thâm canh còn thấp nên hiệu quảkinh tế của các vườn nhãn còn rất thấp Do vậy, cần có những giống mới với các

kỹ thuật tiến bộ, phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người sản xuất

Huyện Bảo Thắng của tỉnh Lào Cai cũng là vùng sản xuất nhãn tập trungvới diện tích năm 2009 và 2010 là 778ha (bằng 34,3 và 33,0% so với tổng diệntích cây ăn quả toàn huyện) Trong đó, diện tích cho sản phẩm là 770ha, sản lượng

1950 và 1.925 tấn Năng suất chỉ đạt 24,7 và 25,3tạ/ha Năm 2011, diện tích nhãngiảm xuống chỉ còn 714ha (bằng 32,7% diện tích cây ăn quả toàn huyện) Nhưngnăng suất đạt 27,1tạ/ha nên sản lượng vẫn duy trì ở mức 1.925tấn

Nhìn chung, năng suất nhãn trong huyện còn rất thấp, chỉ đạt 2,4 – 2,7tấn/ha, thua kém rất nhiều so với năng suất nhãn trung bình của cả nước là 7,2 tấn/

ha Đáng chú ý là nhãn quả tươi mới chỉ được tiêu thụ tại chỗ hoặc chợ địa phương

do chất lượng và giá trị hàng hoá thấp nên không cạnh tranh nổi với nhãn của cáctỉnh Hưng Yên và Hà Tây Nguyên nhân chính là trong sản xuất phổ biến là cácgiống nhãn gieo hạt, lẫn tạp chất lượng kém và thời gian thu hoạch quả ngắn Mặtkhác, mức độ đầu tư thâm canh chưa thoả đáng và các tiến bộ kỹ thuật chưa được

chú trọng áp dụng

Ngày đăng: 04/08/2016, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Thị Bích Hồng, Nguyễn Thị Hiền (2010), Kết quả nghiên cứu khảo nghiệm giống HTM2, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khảo nghiệm giống HTM2
Tác giả: Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Thị Bích Hồng, Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2010
3. Vũ Mạnh Hải, Phạm Văn Côn, Nguyễn Thị Bích Hồng (2002). Nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao và ổn định năng suất nhãn. Kết quả nghiên cứu KHCN Rau hoa quả giai đoạn 2000-2002. Viện nghiên cứu Rau quả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu KHCN Rau hoa quả giai đoạn 2000-2002
Tác giả: Vũ Mạnh Hải, Phạm Văn Côn, Nguyễn Thị Bích Hồng
Năm: 2002
4. Viện Nghiên cứu Rau quả (2006), Kết quả nghiên cứu KHCN Rau hoa quả và dâu tằm tơ giai đoạn 2001-2005. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kết quả nghiên cứu KHCN Rau hoa quả và dâu tằm tơ giai đoạn 2001-2005
Tác giả: Viện Nghiên cứu Rau quả
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Viện Nghiên cứu Rau qủa. Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây nhãn. Tiêu chuẩn ngành của Bộ NN và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây nhãn
6. Trần Thế Tục (1999). Cây nhãn kỹ thuật trồng và chăm sóc. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây nhãn kỹ thuật trồng và chăm sóc
Tác giả: Trần Thế Tục
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
7. Viện Quy hoạch và TKNN (2010). Số liệu 2010.Tài liệu ngoài nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu 2010
Tác giả: Viện Quy hoạch và TKNN
Năm: 2010
8. Wong Kai Choo (December 2000), Longan production in ASIA -Bangkok, Thai Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Longan production in ASIA -Bangkok
9. Menzel C.M., S.K. Mitra, G.K.Waite (2005), Litchi and longan: Bontany, production and uses, Cabi Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Litchi and longan: Bontany, production and uses
Tác giả: Menzel C.M., S.K. Mitra, G.K.Waite
Năm: 2005
10. Nakasone, H.Y. and Paull, R.E. (1998), Tropical Fruits, CAB International, Wallingford, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tropical Fruits
Tác giả: Nakasone, H.Y. and Paull, R.E
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Diện tích cây ăn quả của Lào Cai và định hướng phát triển đến 2020 - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 1. Diện tích cây ăn quả của Lào Cai và định hướng phát triển đến 2020 (Trang 25)
Bảng 6. Khả năng sinh trưởng của các giống tại các điểm thử nghiệm - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 6. Khả năng sinh trưởng của các giống tại các điểm thử nghiệm (Trang 30)
Bảng 7. Khả năng ra hoa, đậu quả và thời gian thu hoạch của các giống thử - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 7. Khả năng ra hoa, đậu quả và thời gian thu hoạch của các giống thử (Trang 31)
Bảng 10. Tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống nhãn thử nghiệm - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 10. Tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống nhãn thử nghiệm (Trang 33)
Bảng 11. Khả năng sinh trưởng của các giống xoài tại các điểm thử nghiệm - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 11. Khả năng sinh trưởng của các giống xoài tại các điểm thử nghiệm (Trang 34)
Bảng 12. Khả năng ra hoa, đậu quả và thời gian thu hoạch của các giống xoài - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 12. Khả năng ra hoa, đậu quả và thời gian thu hoạch của các giống xoài (Trang 35)
Bảng 14. Một số chỉ tiêu chất lượng của các giống trồng thử nghiệm - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 14. Một số chỉ tiêu chất lượng của các giống trồng thử nghiệm (Trang 36)
Bảng 15. Tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống xoài - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 15. Tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống xoài (Trang 36)
Bảng 16. Hiệu quả của các giống nhãn, xoài trồng thử nghiệm tại Lào Cai - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 16. Hiệu quả của các giống nhãn, xoài trồng thử nghiệm tại Lào Cai (Trang 37)
Bảng 18. Khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất của cây ghép cải tạo - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 18. Khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất của cây ghép cải tạo (Trang 39)
Bảng 22. Diễn biến về mật độ sâu đục quả trên các công thức thí nghiệm - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 22. Diễn biến về mật độ sâu đục quả trên các công thức thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 23. Ảnh hưởng của việc sử dụng một số chế phẩm thuốc trừ sâu đến - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 23. Ảnh hưởng của việc sử dụng một số chế phẩm thuốc trừ sâu đến (Trang 42)
Bảng 25. Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến khả năng  ra hoa  đậu quả và các yếu tố cấu thành năng suất của giống  xoài ăn xanh 3 năm tuổi - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 25. Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến khả năng ra hoa đậu quả và các yếu tố cấu thành năng suất của giống xoài ăn xanh 3 năm tuổi (Trang 43)
Bảng 26. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến một số chỉ tiêu về chất - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 26. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến một số chỉ tiêu về chất (Trang 44)
Bảng 28.  Ảnh hưởng của việc sử dụng một số chế phẩm thuốc trừ bệnh đến - Báo cáo tổng kết xoài nhãn LC
Bảng 28. Ảnh hưởng của việc sử dụng một số chế phẩm thuốc trừ bệnh đến (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w