Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên và đánh giá tác động của sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở vùng cửa sông ven biển từ c
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
- -
THÁI NGỌC TRÍ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CHÚNG
DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2015
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
- -
Thái Ngọc Trí
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CHÚNG DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 62.42.01.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Hoàng Đức Đạt
Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam
2 GS TS Richard Lee Mayden
Khoa Sinh học, Đại học Saint Louis, bang Missouri, Hoa Kỳ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Những trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận án, có nguồn gốc rõ ràng, xác thực.Các số liệu được sử dụng và tham khảo là kết quả từ các công trình nghiên cứu
mà tôi đã thực hiện trong các đề tài, dự án do tôi chủ trì hoặc tham gia Việc sử dụng các kết quả này đã được sự đồng ý bằng văn bản, của các cơ quan có thẩm quyền và các cá nhân có liên quan
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan của mình
Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
Người cam đoan
Thái Ngọc Trí
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Luận án này là kết quả nghiên cứu trong quá trình tham gia, Chủ trì thực hiện các chương trình đề tài, dự án có liên quan về Bảo tồn Đa dạng sinh học nói chung
và ngư loại, nghề cá nói riêng Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, cổ vũ và động viên của các thầy, cô, bạn bè đồng nghiệpvà gia đình Với những thành quả mà luận án đạt được, tôi xin chân thành cảm ơnquý thầy,
cô và cơ sở đào tạo, các bạn bè đồng nghiệp ở Việt Nam và ở khoa Sinh học, Trường Đại học Saint Louis, Missouri, Hoa Kỳ và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và các bạn bè đồng nghiệp thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới, đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án.Đặc biệt, với sự động viên hỗ trợ nhiệt tình củaPGS TS Hoàng Nghĩa Sơn, Viện Trưởng Viện Sinh học Nhiệt đới, TS Nguyễn Thị Phương Thảovà TS Lê Công Nhất Phương, Phó Viện Trưởng Viện Sinh học Nhiệt đới
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai thầy giáo hướng dẫn, đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu về mặt khoa học cũng như phương pháp luận trong nghiên cứu thực hiện luận án:
PGS TS Hoàng Đức Đạt, Viện Sinh học Nhiệt đới
GS TS Richard Lee Mayden, Trường Đại học Saint Louis, Missouri Hoa Kỳ Nhân đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Bùi Văn Lai, PGS TS Nguyễn Thị Quỳnh, ThS Qiu Ren, TS Susana Schonhuth và ThS Ninon Martinez, đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện và hoàn thành luận án
Cho tôi được gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng đánh giá Chuyên
đề, Hội đồng đánh giá Luận án cấp Cơ sở; Các thầy, cô Phản biện độc lập và các thầy, cô trong Hội đồng đánh giá Luận án cấp Nhà nước, đã xem xét, đánh giá và cho các ý kiến để giúp tôi chỉnh sửa, hoàn thiện Luận án Tiến sĩ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Lãnh đạo và cán bộ thuộc các cơ quan quản lý đề tài, dự án mà tôi đã tham gia, chủ trì thực hiện, cùng với bà con
Trang 5ngư dân ở địa phương, nơi tôi triển khai nghiên cứu ở thực địa Đặc biệt, với sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình và cho phép sử dụng các kết quả nghiên cứu có liên quan đến luận án, của Lãnh đạo và các cá nhân sau:
- Lãnh đạo CPO, Dự án WB-MARD/Cr3198VN và TF 026488/(2001-2007)
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho phép sử dụng kịch bản BĐKH và NBD ở vùng ĐBSCL (Bản cập nhật năm 2011)
- Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF):một phần ngân sách từ dự án của GS
TS Richard L Mayden (NSF DEB-1.021.840), khoa Sinh học, Đại học Saint Louis, bang Missouri; Và GS TS Lawrence M Page (NSF DEB-1.090.715),
Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, Đại học Florida, Gainesville, bang Florida
- CN Hứa Quang Lập, PGĐ Ban quản lý Dự án DANIDA-MARD “Chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II ở tỉnh An Giang”, (2006-2012); CN Lý Huỳnh Nhật Tiến và CN Nguyễn Xuân Lý, cán bộ dự án
- ThS Đoàn Văn Phúc, PGĐ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre - Phó Chánh Văn phòng Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre, (2010-2015)
- ThS Trần Anh Dũng, chi Cục Trưởng chi Cục Thủy sản tỉnh An Giang
- PGS TS Hoàng Đức Đạt, Chủ nhiệm các đề tài, dự án từ năm 1999-2007 Nhân đây tôi xin kính dâng mẹ tôi lòng biết ơn đã động viên, cổ vũ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án và tôi xin chân thành cảm tạ lên hương hồn người Cha quá cố Tôi cũng xin chân thành biết ơn ba mẹ vợ đã động viên, ủng hộ tôi trong thời gian thực hiện luận án Và tôi chân thành cảm ơn vợ cùng hai con tôi là nguồn động viên rất lớn đối với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu,thực hiện và hoàn thành luận án
Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
Thái Ngọc Trí
Trang 6TÓM TẮT
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần hạ lưu của châu thổ sông Mê Công Sông Mê Công bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, có độ cao 5.500 m so với mực nước biển và đổ ra biển Đông Sông Mê Công có chiều dài 4.880 km, diện tích lưu vực 795.000 km2 Lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam có diện tích khoảng 71.000
km2, chiếm 8% diện tích toàn lưu vực.ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương, với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước Dân số vùng ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.478.900 người Kết quả nghiên cứu, đã phân tích và xác định được 216 loài cá, thuộc 60 họ, 19 bộ ở đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, bộ cá vược (Perciformes) có số lượng loài nhiều nhất, với 66 loài thuộc 27 họ, chiếm tỷ lệ 30,6%; Xếp thứ hai là bộ cá chép (Cypriniformes), có 55 loài thuộc 3 họ, chiếm tỷ lệ 25,5%; Xếp thứ ba là bộ cá nheo (Siluriformes), có 40 loài thuộc 7 họ, chiếm tỷ lệ 18,5% Các bộ còn lại có số lượng loài dao động từ 1 loài - 12 loài, chiếm tỷ lệ từ 0,5% - 5,6% trong cấu trúc thành phần loài của khu hệ Có 19 loài nằm trong sách Đỏ Việt Nam (2007) và danh lục
Đỏ thế giới (IUCN, 2014).Giải mã trình tự DNA của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes)và xây dựng cây phát sinh chủng loài của chúng
Khu hệ cá vùng ĐBSCL, có hai nhóm cá điển hình: (1) Nhóm cá có nguồn gốc ngọt hoàn toàn chiếm ưu thế vào mùa lũ, (2) Nhóm cá có nguồn gốc mặn, lợ sống rộng muối chiếm ưu thế vào mùa khô Kết quả khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn ngư dân vùng ĐBSCL, đã xác định được 79 loài cá thuộc 30 họ, 9 bộ chiếm tỷ lệ 36,57%, chúng được xem là những đối tượng có giá trị kinh tế ở ĐBSCL Ngư cụkhai thác phong phú và đa dạng, gồm: Lưới, Cào, Vó (hứng), Vó gạt, Đáy sông, Đáy hàng khơi, Chài, đánh Côn, Dớn, Đăng mé, Câu cắm, Câu giăng, v.v
Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên và đánh giá tác động của sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên, nhằm góp phần quản lý nghề cá bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 7The Mekong Delta, Vietnam is a part of the lower Mekong river The Mekong river originates in Tibetan Plateau at the elevation of 5.500 m The total length of the main flow is 4.880 km making a basin of 795,000 km2 in area The downstream basin in Vietnam is 71.000 km2, 8% of wich The Mekong Delta is the most southern region of Vietnam of 39.734 km2 covers 12 provinces and Can Tho city, accounts for 12% of Vietnam’s total land area and is home to 17.478.900 inhabitants (2013)
There were 216 fishes species belonging to 60 families in 19 orders in the Mekong Delta, Vietnam Of the total species collected, there were 66 species, 27 families of Perciformes or 30,6%; the second is the oder Cypriniformes comprised 55 species,
3 families or 25,5%; the third is the Siluriformes with 40 species, 7 families or 18,5%; the other orders comprise fewer numbers of species or percentage of total There are 19 threatened species were assigned to the highly vulnerable gulid according to the IUCN Red list status (2014) and Vietnam Red book (2007) Molecular research of 20 fishes species belonging to order Cypriniformes, and contribution phylogeny tree base on DNA sequences
In general, fishes species of Mekong Delta, Vietnam were divided into two groups as: (1) The fresh water fishes group prevail in the flood season; (2) The marine and brackish water fishes which are migration from marine and estuary to rivers and canals depend on the tidal level and during the dry season
There were 79 commercial species belonging to 30 families, 9 orders, 36,57% of which in Mekong Delta, Vietnam which have been identified by method
“Combining fisherman’s interview with catch survey data” Many kind of fishing tool were used catching fishes in Mekong Delta, Vietnam as: Gillnet, Trawl net, Liftnet on boat/flatform, Liftnet and barrage, small Dai in river, estuary Dai, Cast net, Mud chain, Long fence trap net, Inshore stake trap net, Hook long line with two fixed pole, Fixed single hook pole and line, etc
Trang 8Research on the model fishery co-management at Bung Binh Thien wetland area, and assessment of impacts of climate change and sea-level rise on coastal from Tien river to Co Chien river seemed to respond to climate change and development of fishes resources and consevation biodiversity in Mekong Delta, Vietnam
Trang 9MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iv
ABSTRACT v
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
DANH SÁCH BẢNG xiv
DANH SÁCH HÌNH xvi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 3
1.1.2 Khí hậu 3
1.1.3 Lưu vực sông Mê Công và vùng đồng bằng sông Cửu Long 4
1.1.4 Tổng quan về lũ ở đồng bằng sông Cửu Long 6
1.1.5 Đặc điểm thủy triều và diễn biến xâm nhập mặn ở vùng ĐBSCL 7
1.1.6 Tóm tắt Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng vùng ĐBSCL của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012) 8
1.2 HỆ SINH THÁI THỦY VỰC NỘI ĐỊA ĐBSCL 12
1.2.1 Hệ sinh thái thủy vực nước ngọt 13
1.2.2 Hệ sinh thái thủy vực nước lợ, mặn 14
1.3 Các tiểu vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long 16
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VÀ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 20
1.4.1 Tình hình nghiên cứu cá nước ngọt ở Việt Nam và vùng ĐBSCL 21
1.4.2 Hiện trạng Bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý nguồn lợi thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long 27
CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 31
Trang 102.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 31
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 31
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NGOÀI THỰC ĐỊA 33
2.2.1 Phương pháp thu mẫu nghiên cứu hình thái 33
2.2.2 Phương pháp thu mẫu nghiên cứu sinh học phân tử 33
2.2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp 34
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM 35
2.3.1 Phương pháp định loại, xác định tên khoa học dựa vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài 35
2.3.2 Phương pháp phân tích và giải trình tự DNA (DNA extraction, amplification and sequencing) 38
2.3.3 Phân tích, xử lý dữ liệu và lưu trữ dữ liệu 42
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 ĐA DẠNG KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 43
3.1.1 Thành phần loài khu hệ cá 43
3.1.1.1 Đa dạng về cấu trúc thành phần loài và số lượng 43
3.1.1.2 Đa dạng về cấu trúc thành phần loài theo mùa 46
3.1.1.3 Đa dạng về di truyền - nguồn gen 50
3.1.2 Đặc điểm sinh thái học khu hệ cá ĐBSCL 52
3.1.2.1 Đặc điểm phân bố địa lý 54
3.1.2.2 Đặc điểm di cư 55
3.1.2.3 Đặc điểm sinh sản 60
3.1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng 62
3.1.3 Các loài ghi nhận mới cho khu hệ cá vùng ĐBSCL: 64
3.1.4 Các loài cá quý hiếm, bị đe dọa và loài nhập nội ở ĐBSCL: 71
3.1.4.1 Các loài cá quý hiếm, bị đe dọa 71
3.1.4.2 Các loài nhập nội 75
3.1.5 Các loài cá có giá trị kinh tế: 80
3.2 TÁC ĐỘNG CỦA SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG VÀ PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN, CÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI, KHAI THÁC NGUỒN LỢI ĐẾN KHU HỆ CÁ ĐBSCL 88
Trang 113.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng 90
3.2.1.1 Tóm tắt kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng (chi tiết đến cấp xã) vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên 91
3.2.1.2 Dự báo xu thế tác động của Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với khu hệ cá và hoạt động nghề cá ở vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên (cửa Tiểu, cửa Đại, cửa sông Hàm Luông, cửa Ba Lai và cửa Cổ Chiên) 107
3.2.2 Tác động của các hoạt động phát triển Kinh tế - xã hội 110
3.2.2.1 Thủy điện 110
3.2.2.2 Các hệ thống công trình thủy lợi, đê bao 113
3.2.2.3 Phương thức khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản 117
3.3 THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ Ở VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC BÚNG BÌNH THIÊN, HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG 130
3.3.1 Kết quả lồng ghép xây dựng mô hình ĐQL nghề cá gắn với bảo tồn đa dạng sinh học ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên 131
3.3.1.1 Giới thiệu vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên 131
3.3.1.2 Hiện trạng KT-XH 133
3.3.1.3 Hiện trạng Môi trường hóa lý 134
3.3.1.4 Khu hệ thủy sinh vật 136
3.3.1.5 Nguồn lợi cá ở Búng Bình Thiên 137
3.3.1.6 Hiện trạng nghề cá ở Búng Bình Thiên 138
3.3.1.7 Đánh giá điều kiện, nhu cầu và tăng cường năng lực cộng đồng ngư dân và các bên tham gia có liên quan 142
3.3.1.8 Triển khai các hoạt động Đồng quản lý nghề cá gắn với Bảo tồn Đa dạng sinh học 142
3.3.2 Kết quả đạt được trong lồng ghép bảo tồn Đa dạng sinh học với Đồng quản lý nghề cá thích ứng 144
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 159 PHẦN PHỤ LỤC I
Trang 12Phụ lục 1 Danh lục thành phần loài cá đồng bằng sông Cửu Long I Phụ lục 2 Kết quả giải trình tự DNA 20 loài cá của bộ cá Chép (Cypriniformes) XX Phụ lục 3 Hình ảnh mã vạch 20 loài cá giải trình tự DNA XXIII Phụ lục 4 Một số hình ảnh về thủy vực sông Mê Công và ĐBSCL XXVIII Phụ lục 5 Hình ảnh một số ngư cụ và hoạt động khai thác cá ở ĐBSCL XXIX Phụ lục 6 Chất lượng môi trường nước mặt và trầm tích ở BBT XXXIII Phụ lục 7 Khu hệ thủy sinh vật và thành phần loài cá ở BBT XXXIV Phụ lục 8 Một số hình ảnh hoạt động về ĐQL nghề cá ở BBT XXXV Phụ lục 9 Mẫu phiếu điều tra thu thập thông tin XXXVI Phụ lục 10 Hình ảnh các loài cá ở ĐBSCL XXXVIII
Trang 13DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắtcác số đo hình thái
SL Chiều dài chuẩn (từ mõm đến cuống đuôi)
OcSnl Dài từ mõm đến cuối đỉnh đầu
Snl Chiều dài từ mõm đến trước mắt
DfoPci khoảng cách thẳng đứng từ gốc vây lưng trước đến gốc vây ngực trước DfoOcc Chiều dài từ đỉnh đầu đến trước gốc vây lưng
DfoPvfi Chiều dài từ gốc vây lưng trước đến gốc vây bụng
OccOpc Chiều dài sau đầu tới nắp mang
OpcSn Chiều dài từ mõm đến nắp mang
PvoSn Chiều dài từ mõm đến trước gốc vây ngực
DfoPvo Chiều dài từ gốc vây lưng đến gốc vây ngực
PvfiAfo Chiều dài từ gốc vây bụng đến gốc vây hậu môn
Afb Chiều dài vây hậu môn
Dfb Chiều dài vây lưng
Bd1 Chiều cao thân trước vây ngực
Dd2 Chiều cao thân trước vây lưng
Bd3 Chiều cao thân tại gốc vây hậu môn
Cpd1 Chiều cao thân giữa cuống đuôi với sau vây hậu môn
Cpd2 Chiều cao thân tại cuống đuôi
PbdfAfo Khoảng cách cuối vây lưng tới gốc vây hậu môn
PcfPvf Khoảng cách gốc vây ngực tới gốc vây bụng
AfoUcf Khoảng cách từ gốc vây hậu môn đến đỉnh gốc vây đuôi
Cpl Khoảng cách sau vây hậu môn tới giữa cuống đuôi
Ibw Khoảng cách giữa hai ổ mắt (Khoảng cách trên đầu nhìn thấy 2 mắt) DfoOpn Khoảng cách từ bờ trước ổ mắt đến lỗ mũi sau
DfpNTosn Khoảng cách từ mũi sau đến miệng
Hwop Chiều rộng đầu tại nắp mang
Hworb Chiều rộng đầu tại ổ mắt
Trang 14Chữ viết tắt
thôn
CITES (Convention on International Trade in
Endangered Species of Wild Fauna and Flora)
Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
DANIDA (Danish International Development
Agency)
Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch
FSPS-II (The second phase of the Fisheries
Sector Programme)
Chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II
GDP (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm quốc nội
GIS (Geographical Information System) Hệ thống thông tin địa lý
vuông IPCC (Intergovernmental Panel on Climate
Change )
Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu
Trang 15IUCN (International Union for Conservation
of Nature)
Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên
MRC (Mê Công River Commission) Ủy ban sông Mê Công
ODA (Official Development Assistance) Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 16DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Dự báo mực nước lũ lớn nhất tại một số địa điểm năm 2013 7
Bảng 2 Một số hệ sinh thái chính ở Việt Nam 12
Bảng 3 Sự phong phú thành phần loài ở Việt Nam 21
Bảng 4 Sự phong phú về thành phần loài sinh vật ở Việt Nam 22
Bảng 5 Thành phần loài cá vùng ĐBSCL và một số khu vực lân cận 24
Bảng 6 Sản xuất kinh doanh ngành thủy sản theo các vùng kinh tế năm 2006 26
Bảng 7 Thời gian thu mẫu ở tiểu vùng sinh thái ĐBSCL 31
Bảng 8 Tọa độ các điểm và vùng khảo sát, thu mẫu ngoài thực địa 32
Bảng 9 Phiếu phân tích hình thái các loài cá thuộc bộ cá chép (Cypriniformes) 37
Bảng 10 Phiếu phân tích hình thái các loài cá thuộc giống cá khoai (Acantopsis) 37
Bảng 11 Thời gian, hóa chất, primer thực hiện khuyếch đại gen COI 40
Bảng 12 Thời gian, hóa chất, primer thực hiện khuyếch đại gen Cyt b 41
Bảng 13 Tỷ lệ (%) về họ và loài của khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long 45
Bảng 14 Cấu trúc thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL theo mùa 46
Bảng 15 Cấu trúc thành phần loài trong mùa lũ ở một số vùng thuộc ĐBSCL và sông Tonlesap (Campuchia) 47
Bảng 16 Cấu trúc thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL trong mùa lũ 48
Bảng 17 Cấu trúc thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL trong mùa khô 48
Bảng 18 Các loài thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes) được phân tích DNA 50
Bảng 19 Số lượng trứng của 10 loài cá bị đánh bắt trong mùa mưa lũ ở vùng ĐTM 62
Bảng 20 Danh sách các loài ghi nhận mới cho khu hệ cá ĐBSCL 65
Bảng 21 Các số đo về hình thái của loài Acantopsis sp.1 66
Bảng 22 Các số đo về hình thái của loài Acantopsis sp.2 68
Bảng 23 Các số đo về hình thái của loài Acantopsis sp.3 69
Bảng 24 Danh sách các loài bị đe dọa có mặt trong sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ thế giới (2014) của IUCN 72
Bảng 25 Thông tin về các loài bị đe dọa được thu thập từ ngư dân 73
Bảng 26 Danh sách các loài nhập nội được nuôi ở ĐBSCL 77
Bảng 27 Danh lục các loài cá có giá trị kinh tế ở ĐBSCL 80
Trang 17Bảng 28 Các loài cá kinh tế ở ĐBSCL bị đe dọa 85
Bảng 29 Danh sách các loài cá nuôi ở ĐBSCL có nguồn gốc bản địa 86
Bảng 30 Độ mặn lớn nhất Smax (g/l) tại một số trạm từ năm 2005 - 2010 90
Bảng 31 Mức tăng nhiệt độ (oC) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 9
Bảng 32 Mức thay đổi (%) lượng mưa năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 10
Bảng 33 Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 11
Bảng 34 Danh sách các tiểu vùng tại vùng nghiên cứu chính 92
Bảng 35 Kịch bản trị số nước biển dâng ở vùng nghiên cứu 95
Bảng 36 Diễn biến độ mặn thực đo (g/l) tháng IV năm 1998 tại vùng nghiên cứu 101
Bảng 37 Độ mặn lớn nhất Smax (g/l) tại một số trạm từ năm 2005 - 2010 102
Bảng 38 Tiềm năng về thủy điện của hệ thống sông Mê Công 111
Bảng 39 Các ngư cụ được sử dụng phổ biến ở 5 tiểu vùng sinh thái thuộc ĐBSCL 118
Bảng 40 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 122
Bảng 41 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 123
Bảng 42 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 124
Bảng 43 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 125
Bảng 44 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 126
Bảng 45 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 128
Bảng 46 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 129
Bảng 47 Các nhóm/loài thủy sản đánh bắt chính và sản lượng đánh bắt 130
Bảng 48 Độ sâu của Búng Bình Thiên 132
Bảng 49 Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt ở Búng Bình Thiên 134
Bảng 50 Diễn biến chất lượng môi trường trầm tích ở Búng Bình Thiên 136
Bảng 51 Danh lục các loài cá bị đe dọa ở Búng Bình Thiên 138
Bảng 52 Các loại ngư cụ sử dụng khai thác thủy sản ở Búng Bình Thiên 139
Bảng 53 Kết quả các hoạt động xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá 145
Trang 18DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 Đồ thị biểu diễn thời tiết ở các trạm thuộc ĐBSCL 4
Hình 2 Hình ảnh một số sông thuộc lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam 6
Hình 3 Một số khu Bảo vệ, khu Bảo tồn và Vườn Quốc Gia ở ĐBSCL 28
Hình 4 Bản đồ khảo sát, thu mẫu ở thực địa 33
Hình 5 Sơ đồ đo hình thái các loài cá thuộc bộ cá Chép và giống cá khoai 36
Hình 6 Phân tích DNA ở phòng thí nghiệm 40
Hình 7 Tỷ lệ phần trăm về thành phần loài (tính theo bộ) của khu hệ cá ĐBSCL 43
Hình 8 Cấu trúc về số lượng loài họ của khu hệ cá ở vùng ĐBSCL 44
Hình 9 Cấu trúc thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL theo mùa 46
Hình 10 Tỷ lệ thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL trong mùa lũ 48
Hình 11 Tỷ lệ thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL trong mùa khô 49
Hình 12 Sơ đồ cây phát sinh chủng loài 51
Hình 13 Biển hồ Tonlesap và nghề cá ở Kampong Khleang và PreaK Toal 56
Hình 14 Một số hình ảnh đánh bắt cá ở ĐBSCL 56
Hình 15 Báo cáo các loài cá mang trứng dọc theo dòng chính Mekong 57
Hình 16 Hình ảnh hai loài thuộc nhóm thực vật nổi (Phytoplankton) 63
Hình 17 Hình ảnh hai loài thuộc nhóm động vật nổi (Zooplankton) 63
Hình 18 Hình các loài cá được ghi nhận mới cho khu hệ cá ĐBSCL 65
Hình 19 Sơ đồ cấu trúc cấp đánh giá theo IUCN (1994) 71
Hình 20 Một số loài cá bị đe dọa có mặt trong SĐVN (2007) và IUCN (2014) 72
Hình 21 Một số loài cá nhập nội nuôi ở ĐBSCL 76
Hình 22 Một số loài cá có giá trị kinh tế ở ĐBSCL 84
Hình 23 Vòi rồng tại vùng cửa sông Hàm Luông, Bến Tre 90
Hình 24 Hệ thực vật ở vùng CSVB Cổ Chiên 91
Hình 25 Bản đồ vùng nghiên cứu từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên 92
Hình 26 Kịch bản ngập lụt và tổng thời gian ngập tại vùng nghiên cứu vào năm 2020 (B1) trong trường hợp có và không có giải pháp thích ứng 96
Hình 27 Kịch bản ngập lụt và tổng thời gian ngập tại vùng nghiên cứu vào năm 2050 (B1) trong trường hợp có và không có giải pháp thích ứng 97
Trang 19Hình 28 Kịch bản ngập lụt và tổng thời gian ngập tại vùng nghiên cứu vào năm 2100
(kịch bản phát thải A1F1) trong trường hợp có và không có GPTU 98
Hình 29 Kịch bản xâm nhập mặn tại vùng nghiên cứu vào năm 2020 (kịch bản phát thải B2) trong trường hợp có và không có giải pháp ứng phó (GPUP) 104
Hình 30 Kịch bản xâm nhập mặn tại vùng nghiên cứu vào năm 2050 (kịch bản phát thải B2) trong trường hợp có và không có giải pháp ứng phó (GPUP) 105
Hình 31 Kịch bản xâm nhập mặn tại vùng nghiên cứu vào năm 2100 (kịch bản phát thải B2) trong trường hợp có và không có giải pháp ứng phó (GPUP) 106
Hình 32 Cấu trúc về số lượng thành phần loài ở VCSVB 107
Hình 33 Diễn biến cấu trúc số lượng thành phần loài ở VCSVB từ 2009 - 2013 108
Hình 34 Dự báo diễn thế về cấu trúc thành phần loài ở VCSVB do BDKH và NBD theo kịch bản B2 đến 2050 (trường hợp không có giải pháp công trình) 109
Hình 35 Hiện trạng cống đập Ba Lai lúc đóng và lúc đang xả 114
Hình 36 Sạt lở - Bồi xói tự nhiên và công trình thủy lợi ở vùng CSVB ĐBSCL 114
Hình 37 Sử dụng ngư cụ cấm và ngư cụ lạm sát ở ĐBSCL 117
Hình 38 Ngư cụ lạm sát: Bẫy rập và Đáy mùng ở VCSVB 120
Hình 39 Sản phẩm của Ngư cụ “lạm sát” 120
Hình 40 Ngư cụ lưới kéo (lưới mùng) và sản phẩm khai thác được 121
Hình 41 Lưới rùng và thuyền đánh bắt cá 122
Hình 42 Ngư cụ Lưới giăng 123
Hình 43 Ngư cụ câu giăng 125
Hình 44 Đặt chà và dỡ chà (thu hoạch cá) 126
Hình 45 Ngư cụ cào và sản phẩm sau một mẻ cào 127
Hình 46 Ngư cụ đáy bè và thu cá từ đụt lưới của đáy bè 128
Hình 47 Ghe cào và sản phẩm khai thác từ đụt lưới cào ở vùng CSVB 130
Hình 48 Bản đồ vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên, huyện An Phú, An Giang 131
Hình 49 Mặt cắt dọc độ sâu của Búng Bình Thiên 133
Trang 20MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm phần lớn châu thổ Mê Công, với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước Dân số ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.478.900 người, mật độ dân số 431 người/km2 [Tổng cục Thống kê (2013)] ĐBSCL là một trong những “vựa thủy sản” lớn của cả nước, không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm trong nước mà còn đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, lưu giữ nguồn gen quý hiếm và các loài cá có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi cá ĐBSCL chịu những tác động không nhỏ từ phương thức quản lý, khai thác, cùng với sự thay đổi bất thường của điều kiện tự nhiên (Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng), các hoạt động phát triển Kinh tế - xã hội: phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông, thủy lợi, thủy điện, nhiệt điện, v.v
Trước tình hình đó, để đánh giá đúng về hiện trạng Đa dạng sinh học các loài cá, các nhân tố đã và đang tác động đến sự phát triển bền vững của nguồn lợi cá, góp phần trong công tác quản lý thích ứng và khai thác, sử dụng bền vững nguồn lợi cá ĐBSCL,đồng thời bước đầu nghiên cứu về sinh học phân tửmột số loài cá, nhằm góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu trong công tác bảo tồn nguồn gen của các loài cá
ởĐBSCL,chúng tôi thực hiện luận án: “Nghiên cứu Đa dạng sinh học khu hệ cá
Đồng bằng sông Cửu Long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - xã hội”
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu đa dạng sinh học (ĐDSH) và các yếu tố ảnh hưởng đến khu hệ cá ĐBSCL, lồng ghép quản lý nghề cá thích ứng gắn với bảo tồn ĐDSH Với những nội dung sau:
1 Đa dạng khu hệ cá ĐBSCL, thành phần loài,sự phân bố theo mùa, các loài quý hiếm bị đe dọa, các loài có giá trị kinh tế, các loài nhập nội, nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học phân tử của một số loài thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes)
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học của khu hệ cá ĐBSCL
3 Giải pháp quản lý nghề cá bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học ở ĐBSCL Những điểm mới của luận án:kết quả nghiên cứu cập nhật hiện trạng đa dạng sinh học của khu hệ cá ĐBSCL; kết quả nghiên cứu lồng ghép giữa quản lý khai thác,
Trang 21gắn với bảo tồn Đa dạng sinh học khu hệ cá có sự tham gia của cộng đồng - Đồng
quản lý nghề cá; kết quả nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cực đoan
(BĐKH, NBD) đến sự đa dạng của khu hệ cá và hoạt động nghề cá vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến cửa Cổ Chiên (Bến Tre), ở các giai đoạn vào năm 2020, 2050 và 2100, kịch bản (B2 và A1F1); kết quả nghiên cứu về DNA của
20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes), nhằm đóng góp cơ sở dữ liệu về gen từng bước đầy đủ và đồng bộ
Với những kết quả đạt được,hy vọng luận án sẽ đóng góp phần nào về cơ sở khoa học và thực tiễn chocông tác bảo tồn nguồn lợi, quản lý nghề cá thích ứng và cơ sở
dữ liệu về sinh học phân tử, trong nghiên cứu bảo tồn đa dạng nguồn gencác loài cá ĐBSCL
Trang 22CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu,Cà Mau và thành phố Cần Thơ), với tổng diện tích tự nhiên 39.734
km2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước
Dân số vùng ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.478.900 người, mật độ dân số 431 người/km2 Dân cư đô thị trên 4 triệu người Số dân trong độ tuổi lao động 10.129 triệu người[Tổng cục Thống kê, 2013], [84] Mối quan tâm của Việt Nam tại ĐBSCL về tài nguyên nước là lũ, lụt, xâm nhập mặn, xói lở bờ, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, v.v [131].ĐBSCL là phần hạ lưu của châu thổ sông Mê Công, một miền trũng Kainozoi Mê Công, được lấp đầy chủ yếu bằng các trầm tích hỗn hợp sông - biển Ngoài ra, còn có các trầm tích nguồn gốc khác nhau như: bồi tích, trầm tích trên các giếng cát có nguồn gốc biển, trầm tích nguồn gốc hồ và trầm tích hỗn hợp đầm lầy - sông và đầm lầy - biển.ĐBSCL có 5 nhóm đất chính: đất phèn, đất mặn, đất phù sa, đất xám và đất cát ở các "giồng" cát ven sông và ven biển Ngoài
ra, còn có một số đất khác như đất đỏ vàng, than bùn ĐBSCL khá bằng phẳng và hơi thấp, cao độ phổ biến từ 0,3 m - 2,0 m, trừ một số đồi núi ở phía tây bắc thuộc tỉnh An Giang, Kiên Giang, toàn bộ đất đai còn lại có cao độ dưới 5 m Ngoài ra, còn có những gờ đất ven sông và cồn cát ven biển tương đối cao, hai vùng trũng nhất là Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên Bờ biển thấp với các bãi ngang ngập nước khi triều lên[133]
1.1.2 Khí hậu
ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nền khí hậu quanh năm nắng và sự phân mùa khô - ẩm rất sâu sắc, tùy theo hoạt động của hoàn lưu gió mùa Mùa khô thường trùng với mùa ít mưa, đây cũng là thời kỳ khống chế của gió mùa ĐôngBắc (GMĐB) kéo dài khoảng từ tháng XI đến tháng IV năm sau, có khí hậu đặc trưng là
Trang 23khô, nóng và ít mưa Mùa ẩm trùng với mùa mưa, là thời kỳ khống chế của gió mùa TâyNam (GMTN) kéo dài từ tháng V đến tháng X Khí hậu ở ĐBSCL là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa cận xích đạo, nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm Bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng từ 150 - 160 kcal/cm2 Số giờ nắng trung bình năm khoảng từ 2.200 - 2.800 giờ Nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi 26oC - 29oC[133] Do tác động chính bởi yếu tố khí hậu, chế độ thủy văn hàng năm của sông Cửu Long chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa lũ từ tháng VI đến tháng XII với lượng dòng chảy chiếm 90% tổng lượng dòng chảy năm và mùa khô
từ tháng I đến tháng V Tháng III và tháng IV có dòng chảy cạn nhất [131]
Các số liệu về nhiệt độ (Nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao tuyệt đối, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối), tổng lượng mưa, số giờ nắng, thời tiết đặc biệt (số ngày có dông) từ năm 2001 đến năm 2013 ở ĐBSCL được cập nhật từ Bộ NN&PTNT [14], (Hình 1)
Hình 1 Đồ thị biểu diễn thời tiết ở các trạm thuộc ĐBSCL
1.1.3 Lưu vực sông Mê Công và vùng đồng bằng sông Cửu Long
Sông Mê Cônglà sông lớn nhất Đông Nam Á và là một trong những con sông lớn trên thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, có độ cao 5.500 m so với mực nước biển và đổ ra biển Đông Sông Mê Công có chiều dài 4.880 km, diện tích lưu
26.8
29.0
27.8 28.2
26.5 26.6
29.0 28.0 27.7 28.7
26.1
28.9
26.0 25.9
28.5
27.3 26.6 25.9 26.5
Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2001 của một số
tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Ttb (Mộc Hoá) Ttb (Châu Đốc) Ttb (Mỹ Tho) Ttb (Sóc Trăng) Ttb (Cà Mau)
26.2
29.9
27.7 27.6
26.8 25.6
28.7 27.0 26.5 25.9 26.3
30.0
26.3 25.9
23.0 24.0 25.0 26.0 27.0 28.0 29.0 30.0 31.0
Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2010 của một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Ttb (Mộc Hoá) Ttb (Mỹ Tho) Ttb (Châu Đốc) Ttb (Sóc Trăng) Ttb (Cà Mau)
25.9
29.4
27.2 28.0
25.5 25.9
29.1 27.4 26.8
25.4 26.1
29.6
27.7 27.3
24.9 26.0
28.8
27.2 27.4
25.7 26.5
Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2013 của một số
tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Ttb (Mộc Hoá) Ttb (Mỹ Tho) Ttb (Châu Đốc) Ttb (Sóc Trăng) Ttb (Cà Mau)
21
11 101
247
89 30
153 99 437
9 1
160 282 359
33
139 206
17
160 427
57 0
50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
Trang 24vực 795.000 km2, chảy qua lãnh thổ của 6 Quốc gia gồm các nước: Trung Quốc 21%, Myanmar 3%, Thái Lan 23%, Lào 25%, Campuchia20% và Việt Nam 8% [79].Hạ lưu vực Mê Công, từ Chiang Saen đến biển dài 2.400 km với diện tích 600.000 km2.Sau Kratie, sông Mê Công đi vào vùng đồng bằng ngập lũ và nối với Biển Hồ qua Tonlesap[8], [89]
Lưu vực sông Mê Côngở Việt Nam có diện tích khoảng 71.000 km2, chiếm 8% diện tích toàn lưu vực và 20% diện tích lưu vực cả nước Lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam có các sông gồm: (1) Sông Nậm Rốm và Nậm Núa, bắt nguồn từ Bắc huyện Điện Biên và chảy sang Lào; (2) Một số sông suối phía tây huyện Hương Hóa (tỉnh Quảng Trị) chảy về hướng tây, đổ vào sông Xê Bang Hiêng (Lào) rồi hòa vào dòng
Mê Công; (3) Sông Sêkong bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn (vùng Aso), huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế (quanh sông A Sáp và một chi lưu nhỏ của Sêkong bắt nguồn từ Kon Tum); (4) Tây nguyên là thượng nguồn đối với Campuchia trong khi Đồng bằng sông Cửu Long là hạ nguồn cuối cùng của lưu vực sông Mê Công Lưu vực sông Mê Công ở Tây Nguyên gồm các sông Sê San và sông Srepok Hai nhánh chính của sông Srepok là Krông Knô và Krông Ana.(5) Sông Mê Công khi chảy xuống hạ lưu Pnompenh vào Việt Nam được chia thành hai nhánh chính là sông Mê Công bên tả ngạn vào lãnh thổ Việt nam gọi là sông Tiền và sông Bassac bên hữu ngạn vào lãnh thổ Việt Nam gọi là sông Hậu
Sông Hậu và sông Tiền chảy trong lãnh thổ Việt Nam, gọi là sông Cửu Long, chia
ra năm sông và đổ ra biển với chín cửa gồm:Sông Hậu đổ ra biển qua ba cửa(Định
An, Ba Thắc - Bassac và Trần Đề),hiện nay cửa Ba Thắc đã bị bồi lắng hoàn toàn nên chỉ còn hai cửa Sông Tiền chia thành 4 sông và đổ ra biển qua sáu cửa Sông
Mỹ Tho đổ ra biển qua cửa Đại và sông cửa Tiểu (nhánh nhỏ của sông Mỹ Tho) đổ
ra cửa Tiểu Sông Hàm Luông đổ ra cửa Hàm Luông, sông Ba Lai đổ ra cửa Ba Lai Sông Cổ chiên đổ ra biển bằnghai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu Hiện nay, cửa Ba Lai bị bồi lắng đã cạn dần do cống đập ngăn mặn, giữ ngọt trên sông Ba Lai và chế
độ thủy văn cũng thay đổi có phần phụ thuộc vào hoạt động của cống đập Ba Lai[88, 89], [115, 117], [131](Hình 2)
Trang 25Đánh cá ở sông Srepok (thuộc Buôn Drangphok) Đáy bè và quăng chài mùa lũ ở sông Hậu
Hình 2 Hình ảnh một số sông thuộc lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam
1.1.4 Tổng quan về lũ ở đồng bằng sông Cửu Long
Lũ sông Mê Công cho đến Kratie mang tính chất lũ miền núi, với biên độ lớn (10 m
- 15 m) và lên xuống với cường suất cao (0,7 m - 1,5 m/ngày), truyền về hạ lưu với tốc độ 7 - 10 km/h Lũ ở ĐBSCL là một trong những yếu tố quan trọng, tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển của phần lớn ĐBSCL Hàng năm ĐBSCL có khoảng 1,4 - 1,8 triệu ha bị ngập lũ Lũ thượng nguồn Mê Công và mưa nội đồng ĐBSCL hầu như không có quan hệ chặt chẽ Tuy nhiên, nếu gặp năm mưa trong nội đồng nhiều, mực nước triều cao, thì khi có lũ lớn, mức độ ngập lụt sẽ lớn
và kéo dài hơn, ví dụ lũ năm 1994, 1996 và năm 2001[8] Hàng năm, mùa lũ xảy ra đồng thời với mùa mưa, kéo dài liên tục thường từ tháng VI đến tháng XI (khoảng 4
- 5 tháng) Lũ ĐBSCL thường có hai đỉnh, đỉnh đầu thường xảy ra cuối tháng VII đến giữa tháng VIII (còn gọi là lũ đầu vụ, lũ tháng VIII), đỉnh sau cuối tháng IX đến đầu tháng X (lũ chính vụ) Tuy vậy, lũ chính vụ có thể xảy ra muộn hơn và một số năm không có lũ hay lũ rất nhỏ, như năm 1998, năm 2012 Lũ đồng bằng lên và xuống chậm, theo đúng bản chất của lũ lưu vực lớn Nói chung, cường suất lũ từ 2 -
3 cm đến 10 - 15 cm/ngày (Bảng 1)
Lũ đầu vụ có cường suất lớn hơn lũ chính vụ Trong thời gian qua, lũ ở ĐBSCL đang có những biến đổi khác với trước đây, lũ lớn dường như xuất hiện ít hơn trong khi đó lũ vừa và nhỏ nhiều hơn Lũ vào ĐBSCL theo hai hướng:(1) dòng chính Mê Công; Và (2) tràn qua biên giới Lũ tràn qua biên giới có tác động gây ngập lớn trên
Trang 26đồng bằng Hiện nay, lũ tràn ở Tứ giác Long Xuyên đã được kiểm soát khá tốt, còn
ở Đồng Tháp Mười gần như chưa kiểm soát”[134]
Như vậy, có thể nói lũ ở vùng ĐBSCL là một quy luật của tự nhiên Bên cạnh những tác động tiêu cực của lũ gây ra, những tác động tích cực và lợi ích mà lũ đem lại cho ĐBSCL cũng không nhỏ, như mang lượng phù sa về cho ĐBSCL và nguồn lợi thủy sản, thủy sinh vật đồng thời giúp cho các loài di cư mở rộng phạm vi phân
bố, trong di cư sinh sản hoặc kiếm ăn[34, 38], [120, 121, 126]
Bảng 1 Dự báo mực nước lũ lớn nhất tại một số địa điểm năm 2013
Trạm
Thực đo (Hiện trạng)
Dự báo
Dự báo Đài KTTVNB
Dự báo của Viện Khoa học Thủy lợi
+3,1 ÷ +3,3
(20÷25/10)
Lũ cao kéo dài Mộc Hóa
1.1.5 Đặc điểm thủy triều và diễn biến xâm nhập mặn ở vùng ĐBSCL
Chiều dài bờ biển thuộc ĐBSCL với hơn 700 km, từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến Hà Tiên (Kiên Giang) có rất nhiều sông, kênh rạch đổ ra biển trong đó có 17 sông, 3 kênh lớn đổ ra biển Đông và biển Tây[8].Vùng ven biển ĐBSCL từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến bán đảo Cà Mau chịu ảnh hưởng và tác động của chế độ bán nhật triều không đều biển Đông Vùng ven biển Tây từ bán đảo Cà Mau chịu ảnh hưởng củathủy triều biển Tây TheoViện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), thủy triều vùng ven biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày nước lên xuống hai lần, có hai đỉnh và hai chân Hai đỉnh triều chênh lệch nhau ít nhưng hai chân chênh lệch nhau nhiều Dạng triều này sẽ có tác dụng đưa nước vào nội địa nhiều hơn Thủy triều ven biển Tây thuộc loại hỗn hợp thiên
Trang 27vềnhật triều Trong ngày có hai đỉnh, hai chân nhưng những dao động lớn hoàn toàn chiếm ưu thế và thiên về nhật triều, hai đỉnh chênh lệch nhau đáng kể nhưng hai chân xấp xỉ nhau Dạng triều này có thời gian duy trì mức nước thấp dài nên tạo ra việc tiêu tháo nước thuận lợi[133]
1.1.6 Tóm tắt Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng vùng ĐBSCL
của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012)
“Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và công bố Ấn phẩm này có thể được tái xuất bản một phần hoặc toàn bộ nội dung để cung cấp thông tin phục
vụ nghiên cứu, giáo dục hoặc các mục đích phi lợi nhuận khác mà không cần xin phép bản quyền, miễn là có lời cảm ơn và dẫn nguồn xuất bản Ấn phẩm này không được sử dụng để bán hoặc vì bất cứ mục đích thương mại nào khác Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), thông qua dự án CBCC, đã tài trợ xuất bản
ấn phẩm này[18], (Nguồn: Bộ TN&MT, 2012)”
Năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và công bố Kịch bản biến đổi khí hậu , nước biển dâng cho Việt Nam dựa trên kịch bản phát thải khí nhà kính
và kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) Kịch bản được cập nhật năm 2011 đã bổ sung các dữ liệu, kiến thức mới về
hệ thống khí hậu và các phương pháp tính toán mới để đưa ra các kịch bản chi tiết hơn, có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn hơn[18] Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu, bao gồm: kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B), kịch bản phát thải cao (A2, A1FI) Các yếu tố của kịch bản bao gồm: mức tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa trung bình mùa và trung bình năm; Các cực trị khí hậu (nhiệt độ tối cao trung bình, tối thấp trung bình, thay đổi số ngày
có nhiệt độ lớn hơn hơn 35oC và mức thay đổi của lượng mưa ngày lớn nhất); Mực nước biển dâng cho các khu vực ven biển Mức độ chi tiết của kịch bản biến đổi khí hậu với quy mô ô lưới tính toán là 25 km x 25 km (tương đương cấp huyện) Kịch bản nước biển dâng được xây dựng cho 7 khu vực ven biển
Kết quả cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng về nhiệt độ:
Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng 1,6 - 2,2oC trên phần lớn diện tích của Việt Nam Nhìn chung, nhiệt độ phía Bắc tăng
Trang 28nhanh hơn phía Nam Mức tăng nhiệt độ (oC) trung bình năm của từng thập kỷ trong thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) cho 63 tỉnh, thành phố Riêng thập kỷ giữa và cuối thế kỷ 21 đã xác định khoảng dao động của mức tăng nhiệt độ (Bảng 2)
Bảng 2 Mức tăng nhiệt độ ( o C) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2012)
Kết quả cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng về lượng mưa:
Kịch bản phát thải thấp: đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng phổ biến khoảng trên 6%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn Kịch bản phát thải trung bình: đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng trên hầu hết lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2 - 7% Kịch bản phát thải cao: lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng trên hầu hết lãnh thổ nước ta với mức tăng phổ biến khoảng 2 - 10% Mức thay đổi lượng mưa (%) năm qua từng thập kỷ so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phátthải trung bình (B2) cho 63 tỉnh, thành phố Tương tự như đối với nhiệt độ, vào giữa và cuối thế kỷ 21 đã xác định khoảng dao động của mức thay đổi lượng mưa đối với tỉnh, thành phố (Bảng 3)
Trang 29Bảng 3 Mức thay đổi (%) lượng mưa năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2012)
Một số cực trị khí hậu:
Theo kịch bản phát thải trung bình, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng 2,2 -3,0oC; nhiệt độ cao nhất trung bình tăng 2,0 -3,2oC trên phạm vi cả nước Nơi có dấu hiệu tăng nhiều hơn là phía Đông Bắc Bộ và Nam Tây Nguyên.Vào cuối thế kỷ 21, số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35oC tăng từ 15 đến
30 ngày trên phần lớn cả nước theo kịch bản phát thải trung bình B2.Trong tương lai, xu thế chung là lượng mưa ngày lớn nhất tăng ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm
ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ
Mực nước biển dâng:
Ba kịch bản nước biển dâng do BĐKH được xây dựng cho 7 khu vực ven biển của Việt Nam, bao gồm:(1) Móng Cái đến Hòn Dáu; (2) Hòn Dáu đến Đèo Ngang; (3) Đèo Ngang đến Đèo Hải Vân; (4) Đèo Hải Vân đến Mũi Đại Lãnh;(5) Mũi Đại Lãnh đến Mũi Kê Gà; (6) Mũi Kê Gà đến Mũi Cà Mau; và (7) Mũi Cà Mau đến Hà Tiên.Theo kịch bản phát thải thấp (B1), vào cuối thế kỷ 21 trung bình toàn dải ven biển Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 49 - 64cm
Trang 30Theo kịch bản phát thải trung bình (B2), vào cuối thế kỷ 21 trung bình toàn dải ven biển Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57- 73cm, khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang là nơi có mực nước biển tăng nhiều hơn so với các khu vực khác Theo kịch bản phát thải cao (A1FI), vào cuối thế kỷ 21 trung bình toàn dải ven biển Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78 - 95cm, mực nước biển ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang có thể dâng tối đa đến 105cm (Bảng 4)
Bảng 4 Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2012)
Bản đồ nguy cơ ngập:
Các bản đồ nguy cơ ngập tương ứng với các mực nước biển dâng đã được xây dựng cho khu vực Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh; 15 tỉnh ven biển Miền Trung từ Thanh Hóa đến Bà Rịa - Vũng Tàu với tỷ lệ1:10.000 (tương đương cấp huyện); khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ 1:5.000.Từ kết quả tính toán, nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng
Trang 31bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp Trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ
và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng[18]
1.2 HỆ SINH THÁI THỦY VỰC NỘI ĐỊA ĐBSCL
Ở Việt Nam có hai kiểu hệ sinh thái gồm: Hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái ở nước Trong đó, hệ sinh thái trên cạn có mười kiểu sinh thái đặc trưng và hệ sinh thái ở nước có tám kiểu sinh thái đặc trưng[15, 16], [17], [111] (Bảng 5)
Bảng 5 Một số hệ sinh thái chính ở Việt Nam
A Hệ sinh thái trên cạn
1 Rừng nguyên sinh Đa dạng sinh học giàu, hệ sinh thái bền vững
2 Rừng thứ sinh ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững
3 Rừng nghèo kiệt ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững
4 Trảng cỏ ĐDSH nghèo, hệ sinh thái đơn giản
5 Rừng ngập mặn ĐDSH giàu, hệ sinh thái kém bền vững
6 Trảng cát ven biển ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững, nhạy cảm
7 Núi đất ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững
9 Hệ sinh thái Nông nghiệp ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững
10 Đô thị và khu Công
nghiệp ĐDSH rất nghèo, hệ sinh thái kém bền vững
B Hệ sinh thái ở nước (đất ngập nước và biển)
11 Nước chảy (suối, sông) ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững
12 Hồ, mặt nước lớn ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững
13 Ao, mặt nước nhỏ ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm
14 Bán ngập nước ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm
15 Nước lợ, cửa sông ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động
16 Biển ven bờ ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động
17 Biển sâu ĐDSH trung bình, hệ sinh thái bền vững
18 Thủy vực ngầm, hang động ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm
[Nguồn: Bộ TN&MT (2005)]
Vùng ĐBSCL có hệ sinh thái thủy vực phong phú và đa dạng, gồm hệ sinh thái nước ngọt, lợ, mặn Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia vùng sinh thái ở ĐBSCL, tùy theo mục đích và đối tượng nghiên cứu (theo ngành, lĩnh vực chuyên môn), như: phân vùng sinh thái theo địa lý, môi trường, nuôi trồng thủy sản,v.v.Kết
quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Văn Trọng (2001) về “Định
Trang 32hướng phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển ĐBSCL”, đã phân chia vùng
sinh thái thủy sản ven biển ĐBSCL thành các vùng gồm: Vùng I, từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Bồ Đề; Vùng II, từ cửa sông Bồ Đề đến sông Đồng Cùng; Vùng III, từ cửa sông Đồng Cùng đến Hà Tiên[50].Kết quả nghiên cứu của Lương Quang Xô,phân chia vùng ĐBSCL thành 5 vùng chính gồm: Bán đảo Cà Mau (BĐCM);
Tứ giác Long Xuyên (TGLX); vùng giữa sông Tiền và sông Hậu; vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) và tiểu vùng Vàm Cỏ[134]
1.2.1 Hệ sinh thái thủy vực nước ngọt
Vùng ĐBSCL có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt, các ao, hồ, lung đầm, các vùng đất ngập nước theo mùa Hệ sinh thái nước ngọt ở ĐBSCL có thể chia thành
ba kiểu hệ sinh thái: hệ sinh thái nước chảy, hệ sinh thái nước đứng, hệ sinh thái bán ngập (ngập nước theo mùa)
1.2.1.1 Hệ sinh thái nước chảy: gồm hệ thống đầu nguồn của sông Cửu Long, hệ
thống các sông: Vàm Cỏ Tây, với chiều dài trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 110
km Sông Sở Thượng, Sở Hạ, Cái Cỏ - Long Khốt chạy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc các tỉnh Đồng Tháp, Long An, v.v [9, 11]; hệ thống kênh rạch tự nhiên và nhân tạo làm thành mạng lưới chằng chịt khắp cả vùng đồng bằng, thường nối liền với các sông Hệ thống kênh đào ở ĐBSCL rất lớn là các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp, giao thông thủy Đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái này là có dòng chảy thường xuyên, thông thoáng là môi trường sinh sống của nhóm
cá ưa nước chảy, nhóm “cá trắng”
1.2.1.2 Hệ sinh thái thủy vực nước đứng: gồm các ao hồ tự nhiên, ao hồ nhân tạo,
các lung đầm có hoặc không liên hệ với sông, kênh rạch; nước đứng, thường có thực vật thủy sinh, độ pH thấp, DO thấp là môi trường sống của nhóm “cá đen” Các lung đầm trong rừng tràm là dạng điển hình của hệ sinh thái nước đứng ở ĐBSCL
1.2.1.3 Hệ sinh thái vùng bán ngập theo mùa: Mùa nước lũ hằng năm dâng cao làm
ngập một vùng rộng lớn của ĐBSCL trong suốt mùa nước lũ tạo vùng bán ngập nước theo mùa Vùng bán ngập nước theo mùa xóa đi ranh giới của thủy vực nước
Trang 33chảy và thủy vực nước đứng trong mùa khô Các loài “cá trắng” và “cá đen” đều kiếm ăn sinh sống trong vùng bán ngập rộng lớn, giàu dinh dưỡng trong mùa lũ của ĐBSCL
Cùng với hệ thống hồ tự nhiên, vùng đất ngập nước và vùng đất bán ngập nước theo mùa, còn có hệ thống kênh đào, công trình thủy lợi phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và giao thông đường thủy, đường bộ Các hệ thống kênh trục nối sông Hậu với biển Tây, nối giữa sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây và nối giữa sông Tiền với sông Hậu Ngoài ra, tại vùng ĐTM còn có các trục chạy dọc từ biên giới Việt Nam - Campuchia với sông Tiền[133].Các cánh đồng ruộng trũng và vùng bãi bồi ven sông ở ĐBSCL là những vùng đất ngập nước theo mùa (bán ngập), các vùng đất ngập nước (ao, hồ), các khu bảo vệ, khu bảo tồn đặc trưng của vùng
1.2.2 Hệ sinh thái thủy vực nước lợ, mặn
Vùng ĐBSCL có hai hệ sinh thái thủy vực đặc trưng: nước ngọt đặc trưng cho vùng thượng lưu của hệ thống sông Cửu Long và nước lợ, mặn đặc trưng cho vùng cửa sông ven biển (sự tương tác của thủy triều biển và hệ thống sông Cửu Long tạo ra vùng nước lợ, vào thời điểm tương tác của thủy triều mạnh hơn sông làm cho độ mặn tăng cao) Vùng ĐBSCL có địa hình tương đối bằng phẳng và hệ thống kênh, rạch chằng chịt Sự tương tác giữa sông và biển lớn, chịu ảnh hưởng mạnh của chế
độ thủy triều biển, tạo ra hệ sinh thái nước lợ đặc trưng ở vùng ĐBSCL Các yếu tố
vô sinh và diện tích của hệ sinh thái thủy vực nước lợ, phụ thuộc nhiều vào quá trình tương tác, giao thoa giữa sông và biển, theo mùa (mùa mưa, mùa khô), chế độ thủy triều của biển, mức độ lũ và thời gian ngập lũ ở vùng ĐBSCL Hệ sinh thái này
có vai trò quan trọng cũng không kém đối với quần xã sinh vật ở ĐBSCL Hệ sinh thái thủy vực nước lợ, được xem là hệ sinh thái chuyển tiếp tạo nên sự phong phú
và đa dạng, là vùng chuyển tiếp các quần thể và tạo cơ hội cho các loài sống rộng sinh thái, các loài di cư kiếm ăn, sinh sản
Trong những thập kỷ qua đến nay, do phát triển hệ thống kiểm soát lũ ở biển Tây, các hệ thống đê và công trình thủy lợi phục vụ cho mục tiêu nông nghiệp (ở vùng
Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và Bán đảo Cà Mau) Đặc biệt, hiện nay
Trang 34các hệ thống công trình, đã và đang được xây dựng nhằm ứng phó với các hiện tượng cực đoan của thời tiết như: sự biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng(NBD), đã ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến hệ sinh thái và các tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL Điều này có thể thấy rõkhi hệ thống kiểm soát lũ ở vùng Tứ Giác Long Xuyên hoạt động, bên trong vùng thuộc hệ sinh thái thủy vực nước lợ dần bị thu hẹp (sự tác động của thủy triều biển Tây bị hạn chế) Hiện nay, hệ sinh thái nước lợ ở vùng ĐBSCL, chủ yếu diễn ra ở các vùng giao thoa giữa thủy triều với hệ thống sông Cửu Long ở vùng cửa sông ven biển (VCSVB) và vùng BĐCM
Hệ sinh thái thủy vực nước lợ ở ĐBSCL, phụ thuộc mạnh vào chế độ tương tác thủy động lực giữa sông và biển và theo mùa (mùa lũ và mùa khô)[8, 9], [119], [133] Vùng cửa sông ven biển ĐBSCL, gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Chiều dài bờ biển thuộc ĐBSCL hơn 700 km[131],[133] Từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến Hà Tiên (Kiên Giang) có nhiều sông, kênh, rạch đổ ra biển, trong đó 17 sông và 3 kênh lớn đổ ra biển Đông và biển Tây,
có tác động mạnh đến vùng ven bờ Bên cạnh hệ thống sông Cửu Long đổ ra biển Đông qua chín cửa sông, còn có các hệ thống sông, kênh khác thuộc vùng ĐBSCL
đổ ra biển Đông và biển Tây Gồm hệ thống sông Cái Lớn - Cái Bé, thuộc vùng Bán đảo Cà Mau (BĐCM); Hệ thống sông Mỹ Thanh, gồm có sông chính Mỹ Thanh, các chi lưu Cổ Cò, Nhu Gia; Hệ thống sông Gành Hào, gồm có sông chính là Gành Hào và các chi lưu Tắc Thủ, Đầm Dơi và Đầm Chim Hệ thống sông Đốc (sông ông Đốc), gồm có sông Đốc, các chi lưu Cái Tàu, Biện Nhị - Cán Gáo, v.v
Hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển (CSVB) là hệ sinh thái quan trọng, có độ đa dạng sinh học cao, có năng suất sinh học lớn và rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương bởi các tác động do con người và các tác động cực đoan của thiên nhiên (BĐKH và NBD) Hệ sinh thái vùng CSVB không chỉ cung cấp các giá trị về tài nguyên đa dạng sinh học (năng lượng - gỗ, than củi, gió, năng lượng mặt trời, thực phẩm, v.v.),
mà còn là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản, ương dưỡng ấu trùng, con non của nhiều loài thủy hải sản, chim nước, chim di cưvà một số loài động vật khác Rừng ngập mặn được xem là giải pháp phi công trình, có vai trò và tác dụng quan trọng trong
Trang 35bảo vệ bờ biển, hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn chế sự xâm nhập mặn, bảo vệ đê, đồng ruộng, nơi ở của cư dân ven biển trước sự tàn phá của gió, bão, nước biển dâng, sóng thần, v.v.[31], [52], [53, 54], [119].Hệ sinh thái vùng CSVB ở ĐBSCL là một phần của vùng hạ lưu hệ thống sông Mê Công, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều biển Đông và biển Tây, sự tương tác, giao thoa mạnh giữa sông
và biển, có thể chia hệ sinh thái thuỷ vực nước lợ, mặn ở ĐBSCL thành ba tiểu vùng sinh thái:
Tiểu vùng hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM)
Tiểu vùng hệ sinh thái bãi bồi ven sông (bên trong RNM), cù lao ven sông, kênh rạch
Tiểu vùng hệ sinh thái vùng ven biển bên ngoài RNM
1.3 CÁC TIỂU VÙNG SINH THÁI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên
Tứ giác Long Xuyên là một vùng đất hình tứ giác thuộc ĐBSCL, trên địa phận của
ba tỉnh thành Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ Bốn cạnh của tứ giác này là biên giới Việt Nam Campuchia, vịnh Thái Lan, kênh Cái Sắn và sông Bassac (sông Hậu), địa hình trũng, tương đối bằng phẳng với độ cao tuyệt đối từ 0,4 m - 2 m, có tổng diện tích tự nhiên 488.935 ha Trong đó, An Giang 239.203 ha, Kiên Giang 237.879
ha, Tp Cần Thơ 15.178 ha Vùng này được giới hạn bởi Kênh Vĩnh Tế, sông Hậu, Quốc lộ 80 và kênh Rạch Giá - Hà Tiên [http://wcag.mard.gov.vn, 2014] Vùng TGLX, được xem là thượng nguồn của vùng ĐBSCL, thường đón lũ về sớm hơn so với các tiểu vùng khác ở ĐBSCL Hệ thống thủy vực ở đây bị chi phối và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hệ thống sông Mê Công, đồng thời đây cũng là vùng nhiễm phèn đặc trưng ở ĐBSCL Ngoài ra còn chịu sự tác động của chế độ thủy triều biển Đông, chế độ thủytriều của biển Tây gần như ít tác động, sau khi hệ thống kiểm soát lũ ở vùng TGLX được xây dựng và vận hành Thành phần loài cá ở tiểu vùng TGLX, đặc trưng cho vùng hạ lưu của hệ thống sông Mê Công, có nguồn gốc ngọt, sống rộng muối và một số loài di cư.Thành phần loài cá ở tiểu vùng TGLX phong phú và
đa dạngtrong mùa (lũ) mưa[76],[87],[120, 125], [126], [130]
Trang 36Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng Đồng Tháp Mười
Đồng Tháp Mười không phải là địa danh hành chính, mà là địa danh chỉ vùng, một khu vực rộng lớn không có ranh giới rõ ràng ở đồng bằng sông Cửu Long, do nhân dân tự phát đặt vào đầu thế kỷ XIX[http://hkhls.dongthap.gov.vn, 2014]
Đồng Tháp Mười là một vùng đất ngập nước theo mùa của đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tự nhiên 696.946 ha, chiếm 17,7% diện tích tự nhiên của vùng ĐBSCL trải rộng trên 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang Trong đó, hơn 50% diện tích thuộc tỉnh Long An, đây là vùng đất phèn (chiếm khoảng 39,27%, có địa hình trũng, thấp) [http://iasvn.org, 2014].Tiểu vùng ĐTM, được xem là thượng nguồn của vùng ĐBSCL, các sông, kênh, rạch, vùng ngập thông thương với nhau và nước bạn (Campuchia) Hệ thống thủy vực ở đây bị chi phối và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hệ thống sông Mê Công, đồng thời đây là vùng nhiễm phèn đặc trưng ở ĐBSCL, ít chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông[8, 9], [11], [133] Thành phần loài cá ở tiểu vùng ĐTMmang đặc trưng của khu hệ cá vùng hạ lưu hệ thống sông Mê Công,các loài có nguồn gốc ngọt chiếm ưu thế [38, 75],[39], [42],[75]
Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng Trung tâm ĐBSCL
Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng trung tâm ĐBSCL (TTĐBSCL) là vùng giữa sông Tiền và sông Hậu gồm: một phần của tỉnh An Giang, (không thuộc TGLX), một phần của tỉnh Đồng Tháp (không thuộc ĐTM), một phần của tỉnh Tiền Giang (không thuộc ĐTM), một phần của tỉnh Bến Tre, một phần của tỉnh Trà Vinh (không thuộc VCSVB), toàn bộ tỉnh Vĩnh Long Tiểu vùng sinh thái TTĐBSCL là thủy vực nước ngọt với hệ thống sông Cửu Long, gồm hai sông lớn: sông Tiền, sông Hậu, các phụ lưu của chúng và các kênh rạch, nước chảy, vùng ngập lụt vừa
và nông về mùa mưa lũ; mùa khô chịu tác động của thủy triều biển Đông, nước lợ (độ mặn trên 4‰) có thể đi sâu vào sông chính và các kênh rạch cách cửa sông 30
km - 40 km Quần xã thủy sinh vật ở đây gồm chủ yếu các nhóm loài nước ngọt ưa nước chảy, các loài “cá trắng” Ở vùng hạ lưu một số loài ở vùng biển ven bờ, cửa sông, sống rộng muối theo thủy triều đi vào trong mùa khô Dòng chính của sông Cửu Long cũng là con đường di cư của nhiều loài cá nước ngọt và một số loài cá
Trang 37biển di cư lên trung lưu sông Mê Công để sinh sản; về mùa lũ ấu trùng (cá bột) và
cá con của nhiều loài cá từ trung, thượng lưu sông Mê Công theo dòng nước di cư
về sông Cửu Long và đi vào các vùng ngập của toàn vùng ĐBSCL.Thành phần loài
cá ở tiểu vùng TTĐBSCL có nguồn gốc ngọt và nhóm có nguồn gốc mặn, lợ sống rộng muối di cư từ vùng CSVB chủ yếu từ vùng biển ven bờ của biển Đông[8, 9], [25],[34, 36],[75], [78]
Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng Bán đảo Cà Mau
Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng Bán đảo Cà Mau bao gồm thành phố Cần Thơ, các tỉnh: Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và phần phía Nam tỉnh Kiên Giang, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.721.500 ha[Lương Quang Xô (2014)
Đông và biển Tây và một phần dòng chảy của sông Hậu thông qua các hệ thống kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, kênh Ô Môn, kênh Xà No, kênh Nàng Mau, v.v Thủy triều biển Đông xâm nhập vào vùng BĐCM thông qua sông Mỹ Thanh, Gành Hào, thủy triều biển Tây tác động vào vùng BĐCM qua các sông Ông Đốc, sông Cái Lớn, Cái Bé, v.v.Hệ thống thủy vực ở tiểu vùng BĐCM, chịu sự tác động mạnh của chế
độ thủy triều biển Đông và biển Tây, sự tương tác giữa biển Đông và biển Tây Đồng thời cũng chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của hệ thống sông Mê Công qua sông Hậu, nhưng có sự kiểm soát của các hệ thống công trình thủy lợi (Quản lộ - Phụng Hiệp, Ô Môn - Xà No, Tiếp Nhật, Ba Rinh - Tà Liêm)
Quần xã thủy sinh vật ở BĐCM, mang tính đặc trưng cho vùng lợ, mặn có nguồn gốc của biển Đông, biển Tây, một số nhóm có nguồn gốc ngọt của hệ thống sông
Mê Công và các nhóm tại chỗ thích nghi với nước ngọt, phèn.Chương trình ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, đã làm cho vùng nội đồng BĐCM ngọt hóa với hệ thống công trình thủy lợi lớn: Ô Môn - Xà No, Quản Lộ - Phụng Hiệp, v.v nhằm ngăn mặn, ngọt hóa và phát triển nông nghiệp Các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu có diện tích trồng lúa lớn, đây là vùng sinh thái nước ngọt chiếm ưu thế, sau này có một vài vùng có sự giao thoa (tranh chấp) giữa ngọt - lợ - mặn để nuôi tôm nhưng không đáng kể Ngoài ra, còn có rừng tràm nguyên sinh U Minh Thượng, U Minh
Trang 38Hạ là hệ sinh thái ngọt, phèn và là nơi có vựa cá đồng hay “cá đen” lớn nhất ở vùng ĐBSCL Đây được xem là vùng bảo tồn nguồn cá đồng tự nhiên duy nhất còn lại ở ĐBSCL.Thành phần loài cá mang đặc trưng của khu hệ cá có nguồn gốc biển (mặn,
lợ sống rộng muối), một phần các nhóm loài cá có nguồn gốc ngọt thuộc hệ thống sông Mê Công thông qua các hệ thống kênh trục ở Sông Hậu để đi vào trong tiểu vùng và các loài cá tại chỗ gọi là cá đồng hay “cá đen” Nhóm cá có nguồn gốc biển
ở đây có sự biến động và phụ thuộc vào thủy triều của biển Đông và biển Tây, chiếm ưu thế tùy thuộc vào sự lấn át theo mùa của thủy triều thông qua chế độ GMĐB hay GMTN [33, 34], [36],[72],[86], [104], [72, 113], [133]
Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng cửa sông ven biển (từ cửa Tiểu Tiền Giang đến Kiên Giang)
Tiểu vùng sinh thái thuộc vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến Hà Tiên (Kiên Giang), gồm một phần lãnh thổ của các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Vùng CSVB của ĐBSCL gồm
hệ thống các cửa sông của các sông đổ ra biển Đông và biển Tây, đổ ra biển Đông gồm có hệ thống sông Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu), sông Mỹ Thanh, sông Gành Hào Hệ thống sông Cửu Long đổ ra biển Đông với chín cửa (Định An, Ba Thắc - Bassac và Trần Đề, cửa Đại, cửa Tiểu, cửa Hàm Luông, cửa Ba Lai, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu Đổ ra biển Tây có các sông Đốc, sông Cái Lớn, Cái Bé
Hệ thống thủy vực vùng CSVB, chịu tác động mạnh của chế độ thủy triều biển Đông và biển Tây Đồng thời cũng bị chi phối và tác động lớn của sông Mê Công thông qua hệ thống sông Cửu Long, đặc biệt là trong mùa lũ và mức độ lũ của từng năm Đối với vùng CSVB từ Tiền Giang đến Cà Mau (phía đông và đông nam), chịu sự tác động của thủy triều biển Đông Ảnh hưởng của sông Mê Công lên tiểu vùng CSVB có nhịp điệu và cường độ gần trùng khít với chế độ khí hậu gió mùa khống chế lưu vực hạ lưu sông Mê Công Vào mùa lũ, tác động dòng nước sông Mê Công lên chế độ thủy động lực (TĐL) gấp 3 4 lần hải lưu phi triều từ biển Đông Mùa lũ hàng năm, khoảng 80 85% lượng nước và 90 95% phù sa sông Mê Công chảy vào tới vùng CSVB Trong mùa kiệt, ảnh hưởng sông Mê Công lên vùng
Trang 39CSVB giảm dần từ tháng 12 năm trước cho đến cuối tháng 4 năm sau, và gần như không đáng kể vào cuối mùa kiệt, và ngược lại ảnh hưởng của biển sẽ tăng dần tỷ lệ
và trở thành yếu tố áp đảo vào thời gian cuối mùa kiệt, nước mặn và bùn cát từ biển xâm nhập sâu vào trong nội địa thông qua hệ thống sông Cửu Long Ảnh hưởng của thủy triều lên chế độ TĐL CSBVB rất lớn Độ lớn dao động mực nước triều đạt 2 m
4 m trong ngày Độ lớn thủy triều lớn nhất ở vùng cửa sông Trần Đề (Sóc Trăng)
và giảm dần về phía cửa Tiểu (Tiền Giang) Tốc độ dòng chảy khi triều dâng có thể vượt 1,3 m/s Vận tốc dòng chảy tổng hợp khi triều rút có thể lên đến 1,6 m/s Khi triều dâng, dòng chảy sẽ từ hướng Đông, Đông-Bắc chảy đến CSBVB sang hướng Tây Nam, và một phần dòng nước này hội tụ vào các cửa sông, đi sâu vào bên trong Khi triều rút, diễn theo chiều gần như ngược lại Tuy nhiên, do tác động của dòng chảy ven bờ, nên trong mùa lũ, trục dòng chảy có lệch sang phía Đông - Bắc, và trong mùa kiệt, trục dòng chảy có lệch sang phía Đông
Tuy tỷ trọng tuyệt đối của hải lưu phi triều từ biển Đông trong dòng chảy tổng cộng
là không lớn so với thành phần dòng triều, nhưng ảnh hưởng của nó lên CSBVB khá quan trọng, thể hiện qua cơ chế mang bùn cát xuống vùng mũi Cà Mau vào mùa GMĐB và ngược lại vào mùa GMTN; Do không đối xứng theo mùa khí hậu (dòng đi về mũi Cà Mau mạnh hơn), nên ngoài sự mở rộng xuống phía Nam (theo trục chính của sông Mê Công) ĐBSCL còn liên tục dịch chuyển sang phía Tây, bao gồm cả vùng CSBVB.Vùng CSBVB từ Cà Mau (ở phía Tây) đến Kiên Giang, chịu
sự tác động của chế độ thủy triều biển Tây (vịnh Thái Lan) [119].Tiểu vùng CSVB
có thành phần loài cá phong phú và đa dạng bao gồm ngọt, lợ và mặn, biến động theo mùa và phụ thuộc vào chế độ tương tác TĐL giữa sông Mê Công với biển, đồng thời phụ thuộc vào sự tương tác của chế độ thủy triều giữa biển Đông và biển Tây thông qua GMĐB hay GMTN.Thành phần loài cá ở tiểu vùng CSVB, chủ yếu
có nguồn gốc biển, sống rộng muối chiếm ưu thế[10], [18], [19, 20, 32], [32], [33, 34], [72, 73], [76], [78], [84], [95], [104], [121, 122], [123], [133], [134]
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VÀ HIỆN TRẠNG
NGUỒN LỢI CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 401.4.1 Tình hình nghiên cứu cá nước ngọt ở Việt Nam và vùng ĐBSCL
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới (Tropical) và cận nhiệt đới (Subtropical), được xem là một trong những vùng giao lưu của động, thực vật trong quá trình tiến hóa của tự nhiên, có nguồn tài nguyên khá phong phú và đa dạng Đa dạng thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản trong thủy vực nước ngọt Việt Nam rất lớnvới 1.027 loài cá nước ngọt thuộc 427 giống, 98 họ, 22 bộ Trong đó, bộ cá Chép (Cypriniformes)có 392 loài, bộ cá Nheo (Siluriformes) có 126 loài, bộ cá Vược (Perciformes) có 249 loài [48] Cá kinh tế có 97 loài thuộc 23 họ, 12 bộ [20] 36 loài cá quí hiếm ghi trong sách Đỏ Việt Nam (2007) [12] Khu hệ cá ở các vùng cửa sông chính Việt Nam có 580 loài thuộc 109 họ và 27 bộ Bộ cá Vược có số lượng loài nhiều nhất (300 loài) và có nhiều loài cá có giá trị kinh tế, cho sản lượng khai thác cao [20], (Bảng 6), (Bảng 7)
Bảng 6 Sự phong phú thành phần loài ở Việt Nam
Stt Nhóm sinh vật định được(VN) Số loài đã xác Số loài có trên Thế giới (TG) Tỷ lệ % giữa