1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế xã hội (TT)

28 601 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 864,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình hình đó, để đánh giá đúng về hiện trạng đa dạng sinh học các loài cá, các nhân tố đã và đang tác động đến sự phát triển bền vững của nguồn lợi cá, góp phần quản lý nghề cá thí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-  -

THÁI NGỌC TRÍ

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CHÚNG DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ

SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 62.42.01.20

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2015

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Học viện Khoa học và Công nghệ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người Hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Đức Đạt

GS TS Richard Lee Mayden

Có thể tìm hiểu luận án tại:

1 Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

2 Thư viện Quốc Gia Hà Nội

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những “vựa thủy sản” lớn của cả nước, không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm trong nước mà còn đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, lưu giữ nguồn gen quý hiếm và các loài cá có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi cá ở ĐBSCL chịu những tác động không nhỏ từ phương thức quản lý, khai thác sử dụng, cùng với sự thay đổi bất thường của điều kiện tự nhiên (Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng), các hoạt động phát triển Kinh tế - Xã hội: phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông, thủy lợi, thủy điện, phương thức quản lý, khai thác nguồn lợi cá, v.v Trước tình hình đó, để đánh giá đúng về hiện trạng đa dạng sinh học các loài cá, các nhân tố đã và đang tác động đến sự phát triển bền vững của nguồn lợi cá, góp phần quản lý nghề cá thích ứng, bền vững ở ĐBSCL, đồng thời bước đầu nghiên cứu về sinh học phân tử của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes), góp phần xây dựng

cơ sở dữ liệu trong công tác bảo tồn nguồn gen của các loài cá ở

ĐBSCL, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu Đa dạng sinh học

khu hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - xã hội”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng sinh học (ĐDSH) và các yếu tố ảnh hưởng đến khu hệ cá ĐBSCL, lồng ghép quản lý nghề cá thích ứng gắn với bảo tồn ĐDSH

3 Nội dung nghiên cứu

(1) Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá ĐBSCL: thành phần loài, đặc điểm sinh thái học của khu hệ cá ở ĐBSCL Nghiên cứu sinh học phân tử của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes);

Trang 4

2 (2) Nghiên cứu sự ảnh hưởng và tác động của Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng và các hoạt động phát triển Kinh tế - Xã hội đến sự

đa dạng sinh học khu hệ cá và hoạt động nghề cá ở ĐBSCL;

(3) Nghiên cứu Lồng ghép xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá gắn với bảo tồn Đa dạng sinh học ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên, huyện An Phú, tỉnh An Giang

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả đạt được của luận án trong nghiên cứu cơ bản về đa dạng khu hệ cá và thực tiễn về quản lý nghề cá bền vững, có sự tham gia

của cộng đồng ngư dân - Đồng quản lý nghề cá, đóng góp cơ sở

khoa học và thực tiễn trong công tác bảo tồn nguồn lợi cá, quản lý nghề cá thích ứng và cơ sở dữ liệu về gen (DNA), trong nghiên cứu bảo tồn đa dạng nguồn gen các loài cá bản địa ĐBSCL

5 Điểm mới của luận án

Điểm mới, đồng thời là lý do để NCS lựa chọn thực hiện đề tài nghiên cứu này, trước NCS đã có nhiều công trình nghiên cứu về khu

hệ cá, hoạt động nghề cá, bảo tồn nguồn lợi cá ở ĐBSCL Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào về lồng ghép giữa quản lý khai thác, gắn với bảo tồn Đa dạng sinh học khu hệ cá có sự tham gia của

cộng đồng - Đồng quản lý nghề cá Các công trình nghiên cứu trước

đây, chủ yếu đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển Kinh tế - Xã hội đến sự đa dạng khu hệ cá, chưa đánh giá các yếu tố cực đoan của thiên nhiên (BĐKH, NBD) NCS đã thực hiện nội dung mới là xem xét và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cực đoan (BĐKH, NBD) đến sự đa dạng của khu hệ cá và hoạt động nghề cá vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến cửa Cổ Chiên (Bến Tre), ở các giai đoạn vào năm 2020, 2050 và 2100, kịch bản (B2 và A1F1) Gần đây, đã có một số ít các công trình nghiên cứu về DNA của một

Trang 5

3

số loài cá ở ĐBSCL, nhưng rải rác ở nhiều bộ cá khác nhau NCS nghiên cứu DNA của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes), nhằm đóng góp cơ sở dữ liệu về gen từng bước đầy đủ và đồng bộ

6 Những đóng góp của luận án

1 Trong nghiên cứu cơ bản: Xây dựng cơ sở dữ liệu về đa

dạng sinh học khu hệ cá ĐBSCL, các yếu tố đã và đang tác động đến khu hệ cá, góp phần bảo tồn ĐDSH khu hệ cá ĐBSCL

2 Trong nghiên cứu ứng dụng thực tiễn: Kết quả xây dựng

kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD) ở 5 cửa sông vùng ven biển; Và xây dựng thành công mô hình Đồng quản lý nghề cá (ĐQL), làm cơ sở khoa học và thực tiễn trong lồng ghép quản lý nghề cá thích ứng gắn với bảo tồn Đa dạng sinh học (ĐDSH)

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận - Kiến nghị, Luận án có 3 Chương:

Không tính các trang thuộc: Danh mục công trình tác giả, Tài liệu tham khảo và các trang phụ lục, Luận án được trình bày trong 150 trang, với 53 biểu bảng và 49 hình ảnh, bản đồ, đồ thị minh họa

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Đặc điểm địa lý tự nhiên

ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương, với ổng

Trang 6

4 ĐBSCL là phần hạ lưu của châu thổ sông Mê Công, một miền trũng Kainozoi Mê Công, được lấp đầy chủ yếu bằng các trầm tích hỗn hợp sông - biển Ngoài ra, còn có các trầm tích nguồn gốc khác nhau như bồi tích, trầm tích trên các giếng cát có nguồn gốc biển, trầm tích nguồn gốc hồ và trầm tích hỗn hợp đầm lầy - sông, đầm lầy - biển Quan tâm của Việt Nam tại ĐBSCL về tài nguyên nước là lũ, lụt, xâm nhập mặn, xói lở bờ, biến đổi khí hậu, nước biển dâng v.v

Lưu vực sông Mê Công và vùng ĐBSCL: Sông Mê Công là sông lớn

nhất Đông Nam Á và là một trong những con sông lớn trên thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, có độ cao 5.500 m so với mực nước biển và đổ ra biển Đông Sông Mê Công có chiều dài 4.880 km,

, chảy qua lãnh thổ của 6 Quốc gia gồm các nước: Trung Quốc 21%, Myanmar 3%, Thái Lan 23%, Lào 25%, Campuchia 20% và Việt Nam 8% Hạ lưu vực Mê Công, từ

Sau Kratie, sông Mê Công đi vào vùng đồng bằng ngập lũ và nối với Biển Hồ qua Tonle Sap

, chiếm 20% diện tích lưu vực cả nước Lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam có các sông gồm: (1) Sông Nậm Rốm và Nậm Núa, bắt nguồn

từ Bắc huyện Điện Biên và chảy sang Lào; (2) Một số sông suối phía tây huyện Hương Hóa (tỉnh Quảng Trị); (3) Sông Sêkong bắt nguồn

từ dãy núi Trường Sơn (vùng Aso), huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế; (4) Lưu vực sông Mê Công ở Tây Nguyên gồm các sông Sê San và sông Srepok; (5) Sông Mê Công khi chảy xuống hạ lưu Pnompenh vào Việt Nam được chia thành hai nhánh chính là sông

Mê Công (sông Tiền) và sông Bassac (Sông Bassac bên hữu ngạn vào lãnh thổ Việt Nam gọi là sông Hậu, sông Mê Công bên tả ngạn,

Trang 7

5 chảy vào lãnh thổ Việt Nam gọi là sông Tiền) Sông Hậu và sông Tiền chảy trong lãnh thổ Việt Nam gọi là sông Cửu Long, chia ra 5 sông và đổ ra biển với chín cửa gồm: Sông Hậu đổ ra biển qua ba cửa (Định An, Ba Thắc - Bassac và Trần Đề), hiện nay cửa Ba Thắc

đã bị bồi lắng hoàn toàn nên chỉ còn hai cửa Sông Tiền chia thành 4 sông và đổ ra biển qua sáu cửa Sông Mỹ Tho đổ ra biển qua cửa Đại

và sông cửa Tiểu (nhánh nhỏ của sông Mỹ Tho) đổ ra cửa Tiểu Sông Hàm Luông đổ ra cửa Hàm Luông, sông Ba Lai đổ ra cửa Ba Lai Sông Cổ chiên đổ ra biển bằng hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu

Khí hậu

ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nền khí hậu quanh năm nắng và sự phân mùa khô - ẩm rất sâu sắc, tùy theo hoạt động của hoàn lưu gió mùa Mùa khô thường trùng với mùa ít mưa, đây cũng

là thời kỳ khống chế của gió mùa Đông Bắc (GMĐB) kéo dài khoảng từ tháng XI đến tháng IV năm sau, có khí hậu đặc trưng là khô, nóng và ít mưa Mùa ẩm trùng với mùa mưa, là thời kỳ khống chế của gió mùa Tây Nam (GMTN) kéo dài từ tháng V đến tháng X Khí hậu ở ĐBSCL là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa cận xích đạo, nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm Bức xạ tổng cộng trung bình

Số giờ nắng trung bình năm khoảng từ 2.200 - 2.800 giờ Nhiệt độ không khí trung bình năm biến

C

HỆ SINH THÁI THỦY VỰC NỘI ĐỊA ĐBSCL

Hệ sinh thái thủy vực nước ngọt

ĐBSCL có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt Hệ sinh thái vùng nước ngọt ở ĐBSCL, ngoài hệ thống đầu nguồn của sông Cửu Long, còn có hệ thống các sông: Vàm Cỏ Tây, với chiều dài trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 110 km Sông Sở Thượng, Sở Hạ, Cái Cỏ - Long

Trang 8

6 Khốt chạy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc các tỉnh Đồng Tháp, Long An, v.v Cùng với hệ thống hồ tự nhiên, vùng đất ngập nước và vùng đất bán ngập nước theo mùa, các cánh đồng ruộng trũng, bãi bồi ven sông, các khu bảo vệ, khu bảo tồn đặc trưng của vùng ĐBSCL, còn có hệ thống kênh đào, công trình thủy lợi phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và giao thông đường thủy, đường bộ

Hệ sinh thái thủy vực nước lợ, mặn

ĐBSCL có hai hệ sinh thái thủy vực đặc trưng gồm: nước ngọt và nước lợ, mặn Sự tương tác của thủy triều biển và hệ thống sông Cửu Long tạo ra vùng nước lợ, vào thời điểm tương tác của thủy triều mạnh hơn sông làm cho độ mặn tăng cao Từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến Hà Tiên (Kiên Giang) có nhiều sông, kênh, rạch đổ ra biển, trong

đó 17 sông và 3 kênh lớn đổ ra biển Đông và biển Tây, có tác động mạnh đến vùng ven bờ Hệ sinh thái thủy vực mặn, lợ ở ĐBSCL có vai trò quan trọng cũng không kém so với hệ sinh thái thủy vực nước ngọt ở ĐBSCL

Hệ sinh thái thủy vực nước lợ là hệ sinh thái chuyển tiếp, tạo nên sự phong phú và đa dạng, là vùng chuyển tiếp các quần thể và tạo cơ hội cho các loài sống rộng sinh thái, các loài di cư kiếm ăn, sinh sản Hệ sinh thái vùng CSVB ở ĐBSCL là một phần của vùng hạ lưu hệ thống sông Mê Công, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều biển Đông

và biển Tây, sự tương tác, giao thoa mạnh giữa sông và biển

Các tiểu vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long

Vùng ĐBSCL có hệ sinh thái thủy vực phong phú và đa dạng, gồm

hệ sinh thái nước ngọt, lợ, mặn Mang tính đặc trưng của vùng ngập

lũ, bán ngập, chịu tác động của thủy triều biển Đông, biển Tây Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia vùng sinh thái ở ĐBSCL,

Trang 9

7 tuỳ theo mục đích và đối tượng nghiên cứu (theo ngành, lĩnh vực chuyên môn), như: phân vùng sinh thái theo địa lý, môi trường, nuôi trồng thủy sản, v.v Theo Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Văn Trọng (2001), phân chia vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản ven biển ĐBSCL thành các vùng, gồm: Vùng I, từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Bồ Đề; Vùng II, từ cửa sông Bồ Đề đến sông Đồng Cùng; Vùng III, từ cửa sông Đồng Cùng đến Hà Tiên Theo Lương Quang Xô, phân chia vùng ĐBSCL thành 5 vùng chính gồm: Bán đảo Cà Mau (BĐCM); Tứ giác Long Xuyên (TGLX); vùng giữa sông Tiền và sông Hậu; vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) và tiểu vùng Vàm Cỏ

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VÀ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI CÁ ĐBSCL

Công trình nghiên cứu đầu tiên liên quan đến phân loại về cá nước ngọt ở Việt Nam của H.E Sauvage (1881) “Nghiên cứu về khu hệ cá

Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương” Công trình đã thống kê 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam Kế tiếp là các công trình nghiên cứu của

G Tirant (1883), H.E Sauvage (1884), L Vallant (1891), J Pellegrin (1906, 1907, 1928, 1932); P Chabanaud (1924), v.v Kế tiếp là các công trình nghiên cứu của một số các nhà khoa học trong nước và nước ngoài như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958, 1959); Đào Văn Tiến và cs (1961); Mai Đình Yên (1962); Hoàng đức Đạt (1964); Nguyễn Văn Hảo (1964); P Bănărescu (1967, 1970, 1971); Mai Đình Yên (1978); Nguyễn Hữu Dực (1982); Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991); Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994), v.v Ở miền Nam, trước năm 1975 có một số công trình nghiên cứu của các tác giả: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanir (1965); M Yamarmura (1966); Kawamoto và cs (1972);

Trang 10

8

Y Taki (1975); Từ sau năm 1975 đến nay, được biết thêm một số tài liệu của các tác giả: Akihito và Merguro (1976); Mai Đình Yên (1982); Mai Đình Yên và cs (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993); Hoàng Đức Đạt và Thái Ngọc Trí (2001), v.v Bên cạnh các công trình nghiên cứu về khu hệ cá ở ĐBSCL, còn có một số công trình nghiên cứu về sinh học cá thể, sinh sản nhân tạo,

cá bột, cá con, sinh học phân tử, có thể kể một vài tác giả: Phạm Văn Khánh (1996); Nguyễn Bạch Loan và Nguyễn Hữu Phụng (2002); Nguyễn Tuần (2000); Nguyễn Văn Trọng (1997); Bùi Lai và cs (2002, 2012); Hoàng Đức Đạt và cs (2003); Thái Ngọc Trí và cs (2011, 2012); Nguyễn Thanh Tùng (2005); Nguyễn Bạch Loan (2012); Vũ Đặng Hạ Quyên và cs (2014); v.v

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Hình 1 Bản đồ thu mẫu nghiên cứu ở thực địa

Trang 11

9

- Thu mẫu: Mẫu cá được thu thập bằng nhiều loại ngư cụ khác nhau, gồm: Lưới giăng (nhiều loại mắt lưới khác nhau), Câu (giăng, cắm), Chài, Vó gạt, Vó bè, Te, Xiệp, Đáy, Dớn, Đăng mé, Lợp, v.v., đánh bắt trực tiếp cùng với ngư dân Mẫu cá được sử dụng nghiên cứu hình thái và sinh học phân tử

- Điều tra, thu thập thông tin bằng phiếu phỏng vấn theo từng hộ gia đình, các cơ quan quản lý tại địa phương, hội thảo cộng đồng

- Thiết bị và hóa chất sử dụng: thiết bị giải phẫu ngư loại, Ethanol (EtOH) 70% và EtOH 90%, Formaldehyt 10%, lọ đựng mẫu

mô thể tích 1,5 ml có gắn mã vạch (Barcoding), Máy ảnh, GPS, v.v

Dữ liệu thứ cấp ở thực địa; Các hình ảnh, cùng với sinh cảnh được

mô tả, thời gian, địa điểm (tọa độ địa lý), người thu thập, v.v được ghi chép vào nhật ký thực địa và lưu giữ trong máy tính xách tay

XỬ LÝ TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

- Nghiên cứu về hình thái học (Định loại, xác định tên khoa học dựa vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài), xử lý dữ liệu, hoàn thành luận án tại phòng Thí nghiệm Viện Sinh học Nhiệt đới, Việt Nam

- Nghiên cứu sinh học phân tử được thực hiện tại phòng Thí nghiệm tích hợp Đa dạng sinh học, Bảo tồn và Gen, Khoa Sinh học, Đại học Saint Louis, Missouri, Hoa Kỳ

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐBSCL

Đa dạng về thành phần loài

Đa dạng về thành phần loài: Kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở vùng

đồng bằng sông Cửu Long, đã phân tích và xác định được 216 loài cá, thuộc 60 họ, 19 bộ Trong đó, lớp cá sụn có hai bộ: Bộ cá mập (Carcharhiniformes) và bộ cá đuối ó (Myliobatiformes); Lớp cá

Trang 12

Bộ cá chình 2,3%

Bộ cá mù làn 0,5%

Bộ cá mang liền 2,8%

Bộ cá ngựa xương 0,5% Bộ cá kìm Bộ cá cóc 2,3% 0,5%

Bộ cá đèn sông 0,9%

Bộ cá hồng nhung 0,5%

xương có 17 bộ Trong 19 bộ cá đã được xác định, bộ cá vược (Perciformes) có số lượng loài nhiều nhất, với 66 loài thuộc 27 họ, chiếm tỷ lệ 30,6%; Xếp thứ hai là bộ cá chép (Cypriniformes), có 55 loài thuộc 3 họ, chiếm tỷ lệ 25,5%; Xếp thứ ba là bộ cá nheo (Siluriformes), có 40 loài thuộc 7 họ, chiếm tỷ lệ 18,5% Các bộ còn lại có số lượng loài dao động từ 1 loài - 12 loài, chiếm tỷ lệ từ 0,5% - 5,6% trong cấu trúc thành phần loài của khu hệ (Hình 2)

Hình 2 Tỷ lệ thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL

Các loài ghi nhận mới cho khu hệ cá vùng ĐBSCL: Kết quả nghiên

cứu, đã ghi nhận mới 6 loài cá thuộc 3 họ 2 bộ, cho khu hệ cá vùng

ĐBSCL, gồm: cá Lòng tong đuôi vàng Rasbora tornieri Ahl, 1922;

cá Cóc nhiều râu Cyclocheilichthys heteronema (Bleeker, 1854); cá Khoai (Acantopsis sp.1); cá Khoai (Acantopsis sp.2); cá Khoai (Acantopsis sp.3) và cá Mang rổ Toxotes microlepis Günther, 1860

Các loài cá quý hiếm và loài nhập nội ở ĐBSCL: Trong 216 loài cá

thuộc 60 họ, 19 bộ ở vùng ĐBSCL, có 19 loài nằm trong sách Đỏ Việt Nam (2007) và danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2014), với tình trạng bị đe dọa ở các mức độ khác nhau (Bảng 1)

Trang 13

11

Bảng 1 Danh sách các loài bị đe dọa

2 Cá còm Chitala ornata (Gray, 1831) VU LC

III BỘ CÁ MĂNG BIỂN ELOPIFORMES

3 Họ cá Măng biển Elopidae

3 Cá cháo biển Elops saurus Linnaeus, 1766 VU LC

4 Họ cá Cháo Megalopidae

4 Cá Cháo lớn Megalops cyprinoides (Broussonet, 1782) VU DD

IV BỘ CÁ MÒI ĐƯỜNG ALBULIFORMES

5 Họ cá Mòi đường Albulidae

5 Cá Mòi đường Albula vulpes (Linnaeus, 1758) VU NT

V BỘ CÁ TRÍCH CLUPEIFORMES

6 Họ cá Trích Clupeidae

6 Cá mòi không răng Anodontostoma chacunda (Hamilton, 1822) VU

7 Cá cháy nam Tenualosa thibaudeaui (Durand, 1940) VU VU

8 Cá cháy bẹ Tenualosa toli (Valenciennes, 1847) VU

VI BỘ CÁ CHÉP CYPRINIFORMES

7 Họ cá Chép Family Cyprinidae

9 Cá chép Cyprinus carpio Linnaeus, 1758 VU

10 Cá duồng Cirrhinus microlepis Sauvage, 1878 VU VU

11 Cá hô Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898 EN CR

12 Cá trà sóc Probarbus jullieni Sauvage, 1880 VU EN

VII BỘ CÁ NHEO SILURIFORMES

8 Họ cá Lăng Bagridae

13 Cá chốt cờ Mystus bocourti (Bleeker, 1864) VU

9 Họ cá Tra Pangasiidae

14 Cá bông lau Pangasius krempfi Fang & Chaux, 1949 VU

15 Cá tra dầu Pangasianodon gigas Chevey, 1931 VU CR

16 Cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) EN

10 Họ cá Hường Datnioididae

17 Cá hường vện Datnioides polota (Hamilton, 1822) VU LC

18 Cá hường (Thái hổ) Datnioides microlepis Bleeker, 1854 VU

Trang 14

12

11 Họ cá Mang rổ Toxotidae

19 Cá mang rổ Toxotes chatareus (Hamilton, 1822) VU

Ghi chú: (1) Sách Đỏ Việt Nam, (2007) (2) IUCN Red list Status, (2014)

Trong 19 loài cá bị đe dọa có mặt ở ĐBSCL, hiện nay một số loài đã được sinh sản nhân tạo, gồm: cá Còm, cá Chép, cá Duồng, cá Hô, cá Trà sóc, cá Tra, cá Hường vện, một số loài trong chúng là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế như cá Chép, cá Tra, cá Còm

Ở Việt Nam, các loài cá nhập nội được di nhập vào từ những năm

1958, phục vụ cho nghề nuôi cá thịt và nghề nuôi cá cảnh Các loài

cá và các dòng cá nhập có nguồn gốc từ nhiều nước và châu lục, gồm: châu Phi, châu Mỹ (Brazil), châu Âu (Hungari), châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc,) và Đông Nam Á (Thái Lan, Philippine, v.v.) Cùng với nghề khai thác cá, nghề nuôi cá ở ĐBSCL có truyền thống và phát triển mạnh trong những thập niên gần đây Các đối tượng nuôi khá phong phú, có hai nguồn gốc: (1) Tuyển chọn sử dụng giống từ các loài cá có nguồn gốc bản địa ở ĐBSCL; (2) Sử dụng nguồn giống là các loài nhập nội hoặc từ vùng khác trong nước đến phục vụ cho nghề nuôi, nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt thực phẩm, hoặc di nhập phục vụ nghề cá cảnh Kết quả điều tra, thu thập thông tin từ ngư dân

và tham khảo các tài liệu, đã xác định ở ĐBSCL hiện nay có 14 loài

cá thuộc 7 họ, 5 bộ, là những loài nhập nội chủ yếu phục vụ nghề nuôi cá thịt phổ biến ở ĐBSCL Một số loài nhập nội đã hình thành quần thể tác động đến các loài bản địa, đến hệ sinh thái, môi trường Chúng thích nghi với môi trường sống tự nhiên ở ĐBSCL, phát triển nhanh về quần thể, cạnh tranh nguồn thức ăn, nơi sống của các loài

cá bản địa như: cá Tỳ bà (Hypostomus punctatus), cá Trê phi (Clarias gariepinus), cá Rô phi đen (Oreochromis mossambicus), v.v Hiện nay, loài cá Tỳ bà (Hypostomus punctatus) là vấn nạn ở các

Ngày đăng: 04/08/2016, 09:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.  Tỷ lệ thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL - Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế   xã hội (TT)
Hình 2. Tỷ lệ thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL (Trang 12)
Bảng 1. Danh sách các loài bị đe dọa - Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế   xã hội (TT)
Bảng 1. Danh sách các loài bị đe dọa (Trang 13)
Hình 3.  Sơ đồ cây phát sinh chủng loài - Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế   xã hội (TT)
Hình 3. Sơ đồ cây phát sinh chủng loài (Trang 15)
Hình 4.  Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá ĐBSCL theo mùa - Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế   xã hội (TT)
Hình 4. Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá ĐBSCL theo mùa (Trang 17)
Hình 5.  Kịch bản ngập lụt vùng CSVB (từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên) - Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế   xã hội (TT)
Hình 5. Kịch bản ngập lụt vùng CSVB (từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên) (Trang 20)
Hình 7.  Bản đồ vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên - Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế   xã hội (TT)
Hình 7. Bản đồ vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên (Trang 23)
Bảng 3. Kết quả các hoạt động xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá  Stt  Nội dung nghiên cứu  Thời gian  Kết quả - Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông cửu long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế   xã hội (TT)
Bảng 3. Kết quả các hoạt động xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá Stt Nội dung nghiên cứu Thời gian Kết quả (Trang 23)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm