Đẩy mạnh hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp sẽ đa dạng hoá các công cụ đầu tư, đồng thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụ cho các trung gian tài chính như nghiệp vụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-
MAI NGỌC KHA
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG
XU THẾ HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỔC TẾ
XU THẾ HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỔC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Thị Việt Hoa
Hà Nội - 2008
Trang 2MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục các ký hiệu viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Mở đầu………
Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán và các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán………
1.1 Các vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán………
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán………
1.1.3 Phân loại thị trường chứng khoán………
1.1.3.1 Phân loại theo hàng hóa 1.1.3.2 Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn 1.1.3.3 Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường 1.1.4 Vai trò của thị trường chứng khoán………
1.1.5 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán………
1.1.5.1 Chính phủ 1.1.5.2 Các doanh nghiệp 1.1.5.3 Các nhà đầu tư cá thể 1.1.5.4 Các trung gian tài chính 1.2 Các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán………
1.2.1 Khái niệm trung gian tài chính ………
1.2.2 Phân loại trung gian tài chính………
1.2.2.1 Các tổ chức nhận tiền gửi 1.2.2.2 Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng 1.2.2.3 Các trung gian đầu tư 1.2.3 Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán
1.2.3.1 Hoạt động phát hành chứng khoán 1.2.3.2 Hoạt động kinh doanh chứng khoán 1.2.3.3 Đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán 1.2.3.4 Môi giới chứng khoán 1.2.3.5 Tư vấn đầu tư chứng khoán 1.2.3.6 Quản lý danh mục đầu tư 1.2.3.7 Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán 1.2.3.8 Thanh toán và lưu ký chứng khoán 1.2.3.9 Các hoạt động khác Chương 2 Thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam ………
2.1 Sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam………
2.2 Các trung gian tài chính Việt Nam………
2.2.1 Sơ lược về hệ thống tài chính Việt Nam………
2.2.2 Các ngân hàng thương mại………
2.2.3 Các tổ chức bảo hiểm………
2.2.4 Các công ty chứng khoán………
2.2.5 Các công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư………
2.2.6 Các công ty tài chính………
2.2.7 Các công ty cho thuê tài chính………
2.3 Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam………
2.3.1 Các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam………
2.3.1.1 Luật các tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi luật các tổ chức tín dụng 2.3.1.2 Luật Doanh nghiệp 2.3.1.3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2.3.1.4 Luật chứng khoán 2.3.2 Hoạt động phát hành chứng khoán………
2.3.3 Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán………
2.3.3.1 Hoạt động bảo lãnh, phát hành trái phiếu chính phủ 2.3.3.2 Hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp 2.3.3.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành cổ phiếu 2.3.4 Hoạt động kinh doanh chứng khoán………
2.3.5 Hoạt động tư vấn niêm yết, đầu tư chứng khoán………
2.3.6 Các hoạt động khác………
2.4 Đánh giá kết quả hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam………
2.4.1 Kết quả hoạt động………
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân………
Trang 3Chương 3 Giải pháp thúc đẩy hoạt động của các Trung gian tài chính trên
thị trường chứng khoán Việt Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính
quốc tế………
3.1 Xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế………
3.1.1 Các cam kết trong lĩnh vực tài chính và lộ trình hội nhập…………
3.1.2 Cơ hội và thách thức với thị trường chứng khoán Việt Nam trong xu
thế hội nhập tài chính quốc tế………
3.1.2.1 Cơ hội
3.1.2.2 Thách thức
3.2 Mục tiêu phát triển thị trường tài chính, chứng khoán Việt Nam đến năm
2010 và định hướng 2020………
3.3 Hoạt động của các trung gian tài chính - nhân tố quan trọng thúc đẩy sự
phát triển của thị trường chứng khoán ở Việt Nam………
3.4 Giải pháp thúc đẩy hoạt động của các Trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế……
3.4.1 Các giải pháp vĩ mô………
3.4.1.1 Các giải pháp tạo đà cho sự phát triển kinh tế………
3.4.1.2 Giải pháp hoàn thiện chức năng và tăng cường sự phối hợp
giữa các cơ quan quản lý Nhà nước………
3.4.1.3 Các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán………
3.4.2 Các giải pháp vi mô………
3.4.2.1 Tăng cường tiềm lực tài chính của các Trung gian tài chính
3.4.2.2 Phát triển các nghiệp vụ mới trên thị trường chứng khoán …
3.4.2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các
Trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán………
3.4.2.4 Đa dạng hóa các tổ chức tài chính nhằm tạo ra sự cạnh tranh
lành mạnh trên thị trường tài chính quốc gia………
3.4.2.5 Hình thành và phát triển các công ty đầu tư chứng khoán…
Kết luận………
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán
UBCKNN Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
WTO Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô niêm yết tại SGDCK Tp.HCM
Bảng 2.2 Quy mô niêm yết tại TTGDCK Hà Nội
Bảng 2.3 Một vài chỉ tiêu của SGDCK Tp.HCM qua các năm
Bảng 2.4 Một vài chỉ tiêu của TTGDCK Hà Nội qua các năm
Bảng 2.5 Doanh thu ngành bảo hiểm qua các năm
Bảng 2.6 Số lượng các Công ty chứng khoán qua các năm
Bảng 2.7 Một số cuộc đấu giá và IPO lớn của các Trung gian tài
chính năm 2007
Bảng 2.8 Giá trị giao dịch chứng khoán qua các năm
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các dòng vốn qua hệ thống tài chính Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng Tín dụng Ngân hàng so với GDP
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang
diễn ra vô cùng mạnh mẽ Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung khi chúng
ta đã chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào cuối
năm 2006 Hội nhập kinh tế quốc tế trong đó hội nhập thị trường tài chính - một cấu
thành quan trọng của nền kinh tế đang đứng trước rất nhiều những cơ hội và thách
thức trong bối cảnh mới
Thị trường chứng khoán, bộ phận quan trọng của thị trường tài chính trong
thời gian qua đã có được những bước phát triển nhất định Lý thuyết và thực tiễn
cho thấy thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng huy động nguồn vốn trung và
dài hạn cho nền kinh tế Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn
đầu tư trong và ngoài nước được thu hút vào nền kinh tế là rất lớn Huy động và sử
dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của thị
trường chứng khoán và của cả hệ thống tài chính quốc gia
Các trung gian tài chính là những chủ thể quan trọng bậc nhất trên thị trường
tài chính, hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là tất
yếu và có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển của thị trường Phát triển hoạt
động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là hướng đi chiến
lược trong sự phát triển lâu dài của các trung gian tài chính trong xu thế hội nhập
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn bảy năm,
đã gặt hái được những thành tựu bước đầu tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn nhiều
bất cập Thực tế cho thấy trong những năm qua, hoạt động của các trung gian tài
chính trên thị trường chứng khoán đã thúc đẩy sự phát triển bứt phá của thị trường,
góp phần huy động một nguồn vốn khổng lồ cho phát triển kinh tế Bên cạnh đó, sự
tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán cũng còn nhiều
hạn chế, chưa phát huy được hết vai trò quan trọng của mình trong xu thế hội nhập
2
tài chính quốc tế Vì vậy phân tích hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán và đưa ra các giải pháp để thúc đẩy hoạt động của các trung gian tài chính góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế là vô cùng cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng như thị trường chứng khoán đã thu hút được nhiều đề tài nghiên cứu về chứng khoán và trung gian tài chính Tuy nhiên trong xu thế hội nhập, hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán ngày càng đa dạng và phát triển đòi hỏi sự
nghiên cứu sâu rộng về các hoạt động này Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài: “Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong
xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế”
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động của các trung gian trên thị trường chứng khoán nhằm phù hợp với xu thế hội nhập tài chính quốc tế - xu thế tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế thế giới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống và làm rõ một số vấn đề lý luận chung về thị trường chứng khoán, hoạt động của trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán
- Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế về tài chính hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán trong xu thế hội nhập
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi hình thành tháng 07/2000 đến nay
Trang 63
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, với việc sử dụng các phương pháp cụ
thể như phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích (phân tích định tính và phân
tích thống kê) Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để làm sáng tỏ
hơn các kết luận rút ra trong từng hoàn cảnh cụ thể
7 Kết cấu luận văn
Tên Luận văn: “Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế.”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán và các trung
gian tài chính trên thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động của các trung gian tài chính Việt
Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế
4
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC
TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Các vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên thị trường chứng khoán Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, được hiểu một cách chung nhất, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh) giữa các chủ thể tham gia Việc trao đổi mua
bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và rất sơ khai, xuất phát từ một sự cần thiết đơn lẻ của buổi ban đầu Vào giữa thế kỷ 15, tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi việc mua bán trao đổi các vật phẩm hàng hoá Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuối thế kỷ 15, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ thống nhất các quy ước và dần dần các quy ước được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia “thị trường”
Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber tại thành phố Bruges (Vương quốc Bỉ) Trước lữ quán có một bảng hiệu vẽ hình ba túi da và chữ Bourse Ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của thị trường, là thị trường hàng hoá, thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán Còn chữ Bourse biểu tượng cho sở giao dịch Vì thế sở giao dịch sau này còn gọi là Bourse
Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ và được dời tới thành phố cảng Antwepen, từ đó, thị trường này phát triển nhanh chóng Một thị trường như vậy cũng được thành lập ở London (Vương quốc Anh) vào thế kỷ 18
và sau đó là một loạt thị trường tại Pháp, Đức, Ý cũng được thành lập Sau một
Trang 75
thời gian hoạt động đã cho thấy, thị trường không có khả năng đáp ứng được yêu
cầu của ba loại giao dịch khác nhau Vì thế, thị trường hàng hoá được tách ra
thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị
trường hối đoái Thị trường chính thức trở thành thị trường chứng khoán Như
vậy, thị trường chứng khoán được hình thành cùng với thị trường hàng hoá và thị
trường hối đoái
1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các
loại chứng khoán Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ hay bút toán ghi sổ,
nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát
hành Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo
tính chất sở hữu của chúng
Với chứng khoán nợ, chẳng hạn như trái phiếu, chủ sở hữu có quyền được
nhận lãi định kỳ và nhận toàn bộ giá trị cam kết, sau một thời hạn nhất định, từ giá
trị tài sản của tổ chức phát hành
Khác với chứng khoán nợ, cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối
với một phần tài sản khi công ty được bán đi, kèm theo với một phần lợi nhuận do
tài sản đó làm ra Ngoài ra, cổ đông còn có quyền tham gia quản lý công ty thông
qua quyền tham gia và bỏ phiếu tại Đại hội cổ đông, quyền mua trước đối với cổ
phiếu phát hành mới
Với các đặc tính đó, chứng khoán được xem là các tài sản tài chính mà giá
trị của nó phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền của chủ sở hữu đối
với tổ chức phát hành
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ
cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại thị trường
chứng khoán tập trung - Sở giao dịch (Stock Exchange) hay thị trường giao dịch
phi tập trung – thị trường giao dịch qua quầy (Over - the Counter Market), ở thị
trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market) Các
quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như
6
vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh
Điều này xuất phát từ chức năng cơ bản của thị trường tài chính là dẫn vốn
từ những người có vốn sang những người cần vốn Các thành viên quan trọng của
hệ thống tài chính bao gồm Chính phủ, các tổ chức kinh tế, các hộ gia đình, các tổ chức và cá nhân nước ngoài Sự chuyển dịch vốn này được thực hiện theo sơ đồ :
tài chính
Vốn
Trực tiếp
Sơ đồ 1.1.Các dòng vốn qua hệ thống tài chính
Sơ đồ trên cho thấy, sự chuyển dịch vốn trong hệ thống tài chính được thực hiện thông qua hai con đường, trực tiếp và gián tiếp Những người cần vốn có thể huy động trực tiếp từ những người có vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ Các chứng khoán này được mua bán rộng rãi trên thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Cách thức thứ hai là dẫn vốn gián tiếp, thông qua các trung gian tài chính Các trung gian tài chính như các ngân hàng thương mại, các tổ chức bảo hiểm và các trung gian tài chính khác có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, đồng thời, các tổ chức này cũng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính như các dịch vụ đại lý, bảo lãnh, thanh toán
Trang 87
1.1.3 Phân loại thị trường chứng khoán
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, người ta có thể phân loại thị trường chứng
khoán theo nhiều tiêu thức khác nhau Tuy nhiên, thông thường, ta có thể xem xét
ba cách thức cơ bản là phân loại theo hàng hoá, phân loại theo hình thức tổ chức
của thị trường và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn Các phân tích sau đây
sẽ thể hiện từng cách thức phân loại đó
1.1.3.1 Phân loại theo hàng hoá
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân
thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị
trường các công cụ dẫn suất
Thị trường trái phiếu (Bond Markets) là thị trường mà hàng hoá được mua
bán tại đó là các trái phiếu Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát
hành các công cụ này là, nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn
trả cả gốc lẫn lãi Người cho vay sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả
hoạt động sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành
phải có trách nhiệm hoàn trả cho trái chủ theo các cam kết đã được xác định trong
hợp đồng vay Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trung hạn hay dài
hạn
Khác với thị trường nợ, thị trường cổ phiếu (Stock Markets) là nơi giao
dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông Cổ
đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của
mình Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của
công ty cũng như đối với tài sản của công ty, khi tài sản này được đem bán Cổ
phiếu không có thời hạn xác định
Thị trường các công cụ dẫn suất (Derivative Markets) là nơi các chứng
khoán phái sinh được mua và bán Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng kỳ
hạn (Future Contracts), hợp đồng quyền chọn (Options) Thị trường này ngày càng
trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài chính Nó cung cấp các công cụ
phòng vệ hữu hiệu, đồng thời cũng là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà đầu tư
8
1.1.3.2 Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Theo cách thức này, thị trường được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (Primary Market) là thị trường phát hành các chứng khoán Tại thị trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành Thông qua việc phát hành chứng khoán, Chính phủ có thêm nguồn thu để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng của Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư
Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (Secondary Market) là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội Quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp thể hiện trên các giác độ sau:
Thứ nhất, thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đã
phát hành Việc này làm tăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư Các nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn, thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà phát hành trong việc huy động và sử dụng vốn Việc tăng tính lỏng của tài sản sẽ tạo điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý, làm cơ sở cho việc tăng hiệu quả quản
lý doanh nghiệp
Thứ hai, thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công ty Thông qua việc xác định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho các nhà phát hành cũng như các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp Thông qua cơ chế bàn tay vô hình, vốn sẽ được chuyển tới những công ty nào làm ăn có hiệu quả cao nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế
xã hội
Trang 99
1.1.3.3 Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường
Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách Cách thứ nhất
là tổ chức thành các Sở giao dịch (Stock Exchange), tại đây, người mua và người
bán (hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến
hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán Chính vì vậy, người ta còn gọi Sở
giao dịch chứng khoán là thị trường tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các
chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả Sở giao dịch chứng
khoán được quản lý một cách chặt chẽ bởi Uỷ ban chứng khoán quốc gia, các giao
dịch chịu sự điều tiết của Luật Chứng khoán và thị trường chứng khoán
Khác với thị trường tập trung, thị trường giao dịch phi tập trung - thị trường
giao dịch qua quầy (Over - the - Counter Market) là thị trường của các nhà buôn,
những người tạo lập thị trường (Market Makers) Các nhà buôn có một danh mục
chứng khoán và họ sẵn sàng mua và bán với các nhà buôn khác cũng như các nhà
đầu tư khi những người này chấp nhận giá cả của họ Ở thị trường này không có
địa điểm giao dịch chính thức mà có thể diễn ra qua điện thoại hay mạng máy tính
Khối lượng giao dịch của thị trường này thường lớn hơn rất nhiều so với thị
trường Sở giao dịch
1.1.4 Vai trò của thị trường chứng khoán
Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ có tính thanh
khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù
hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có
của các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm
soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại Thị trường chứng khoán khuyến
khích tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường Sự tồn tại của thị trường
chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đây
chính là các yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong một
quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế
Thứ hai, thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công
bằng hơn, thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra
10
công chúng, giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn, song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế Việc tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và dân chủ
Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở
hữu và quản lý doanh nghiệp Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát cao của thị trường chứng khoán đã làm giảm tác động của các tiêu cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản lý và những người làm công
Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hoá thị trường chứng khoán Việc mở cửa thị
trường chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế Điều này cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cường đầu tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và
mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước
Thứ năm, thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các
nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ
Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu
kỳ kinh doanh trong tương lai Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanh cho phép Chính phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ Thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế
1.1.5 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp mà ở đó có sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau Các chủ thể này có thể tham gia với mục đích huy động vốn, đầu tư vốn, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hay quản lý Nhà nước
1.1.5.1 Chính phủ
Trang 1011
Chính phủ tham gia vào thị trường chứng khoán với hai tư cách:
Thứ nhất, Chính phủ với tư cách là người tổ chức và quản lý thị trường mà
đại diện ở đây là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà
nước, các bộ chủ quản Chính phủ tổ chức, hướng dẫn và quản lý thị trường chứng
khoán, đồng thời soạn thảo các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán
Thứ hai, Chính phủ tham gia thị trường như là một nhà phát hành và kinh
doanh chứng khoán Để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng, Chính phủ
có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu
Kho bạc là những loại hàng hoá quan trọng của thị trường chứng khoán Ngân
hàng Nhà nước có thể tham gia thị trường khi sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để
thực thi chính sách tiền tệ Chính phủ cũng có thể tham gia thị trường cổ phiếu khi
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước hoặc muốn tham gia quản lý, nắm quyền
kiểm soát các doanh nghiệp
1.1.5.2 Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng trên thị trường chứng khoán Các
doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hoá chính cho thị trường chứng khoán
Pháp luật từng nước quy định cụ thể loại hình doanh nghiệp nào được phép
phát hành chứng khoán Về cơ bản, các công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu
hoặc trái phiếu để thu hút vốn trên thị trường Công ty có thể tự mình phát hành
chứng khoán hoặc phát hành thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành
Đẩy mạnh hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp sẽ đa
dạng hoá các công cụ đầu tư, đồng thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụ cho
các trung gian tài chính như nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, nghiệp vụ ngân
hàng tín thác, nghiệp vụ tư vấn phát hành
1.1.5.3 Các nhà đầu tư cá thể
Các nhà đầu tư cá thể là các cá nhân và các hộ gia đình Họ mua bán chứng
khoán nhằm mục đích kiếm lời và qua đó, một lượng tiết kiệm khổng lồ được huy
động cho phát triển kinh tế Các nhà đầu tư có thể tham gia một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua các nhà đầu tư có tổ chức, các trung gian tài chính Hoạt
12
động kinh doanh chứng khoán của các nhà đầu tư cá thể tạo ra tính sôi động của thị trường, đồng thời tạo điều kiện để các trung gian tài chính phát triển các dịch
vụ hỗ trợ thị trường
1.1.5.4 Các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính là một chủ thể quan trọng của thị trường chứng khoán, với tư cách là nhà phát hành chứng khoán, nhà kinh doanh chứng khoán và
là thành viên hỗ trợ cho hoạt động của thị trường qua các nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, tư vấn và môi giới đầu tư, cho vay chứng khoán và cho vay để mua chứng khoán, thanh toán và quản lý chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư
và quản lý quỹ đầu tư Sự tham gia của các trung gian tài chính thực sự thúc đẩy phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng
1.2 Các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán 1.2.1 Khái niệm trung gian tài chính
Chức năng cơ bản của thị trường tài chính là chuyển tiền từ những người tiết kiệm tới những nhà đầu tư Việc chuyển tiền trong hệ thống tài chính được thực hiện thông qua hai con đường, trực tiếp và gián tiếp Phần lớn lượng vốn trong nền kinh tế được chuyển bằng con đường gián tiếp, thông qua các trung gian tài chính
Trung gian tài chính (Financial Intermediaries) là tổ chức tài chính, một loại hình doanh nghiệp mà tài sản chính của nó là các tài sản tài chính Điều này khác với các doanh nghiệp thông thường với các tài sản chính là các tài sản thực như nhà cửa, trang thiết bị, nguyên vật liệu [23]
Các tổ chức tài chính cho các khách hàng vay hoặc mua các chứng khoán trên thị trường đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, từ việc cung cấp các phương tiện thanh toán, bảo quản tài sản, tư vấn, môi giới đến các dịch vụ bảo hiểm v.v cho các nhà đầu tư Trung gian tài chính nắm giữ các giấy nhận nợ được phát hành bởi những người đi vay (Chứng khoán sơ cấp) và đồng thời bán các giấy nhận nợ của chính nó (Chứng khoán thứ cấp) cho những người tiết kiệm
Trang 1113
Nói một cách khác, trung gian tài chính là cầu nối giữa những người cần
vốn và những người có vốn Các tổ chức này tích tụ, tập trung vốn từ những người
có vốn và phân phối tới những người cần vốn
Có nhiều hình thức trung gian:
Trung gian về quy mô diễn ra khi các tổ chức tài chính chấp nhận những
khoản tiết kiệm nhỏ từ phía các cá nhân và tổ chức, trên cơ sở đó, tích tụ, tập trung
thành những lượng vốn lớn để cho vay các tổ chức kinh tế và Chính phủ
Trung gian về rủi ro phá sản là việc các tổ chức tài chính sẵn sàng cho các
tổ chức và cá nhân vay với mức mạo hiểm cao hơn trong khi cung cấp các công cụ
ít rủi ro hơn cho các nhà đầu tư
Trung gian về thời hạn thanh toán được thực hiện khi các trung gian tài
chính cung cấp những công cụ có tính thanh khoản cao cho những người tiết kiệm
và sẵn sàng chấp nhận các công cụ có tính lỏng thấp từ phía các nhà đầu tư Bằng
cách này, trung gian tài chính đã chuyển được thời hạn của vốn từ ngắn hạn sang
trung hạn và dài hạn
Các trung gian tài chính có thể đảm nhiệm trung gian về thông tin, bằng
cách thu thập và xử lý thông tin thay cho những người tiết kiệm Trên cơ sở
chuyên môn hoá và tiết kiệm nhờ quy mô, các trung gian tài chính có thể làm
giảm chi phí thông tin một cách đáng kể Thực hiện nguyên tắc sàng lọc và giám
sát, các trung gian tài chính đã thay mặt những người tiết kiệm để giám sát những
người đi vay Dịch vụ tư vấn và các thông tin gián tiếp do các trung gian cung cấp
(chẳng hạn ngân hàng bảo lãnh hay mở rộng cho vay với một doanh nghiệp nào
đó), có thể làm tăng hiệu quả cho quyết định của những người đầu tư
Các trung gian tài chính cũng chia sẻ rủi ro và tận dụng lợi thế về quy mô
trong việc đa dạng hoá đầu tư của mình làm tăng tính an toàn cho những người tiết
kiệm Hoạt động trung gian của các tổ chức tài chính có thể làm giảm rủi ro, làm
giảm chi phí và tăng hiệu quả trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn cho
nền kinh tế Để nghiên cứu cụ thể hơn các trung gian tài chính, cần phân loại trung
1.2.2.1 Các tổ chức nhận tiền gửi
Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tương trợ và các liên hiệp tín dụng Các trung gian tài chính này nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức để cho vay
Do bộ phận tiền gửi thường chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn nên để đảm bảo khả năng thanh toán, các tổ chức này thường đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao như Tín phiếu, Trái phiếu Chính phủ
Với chức năng tạo tiền, hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi có tác động lớn tới lượng tiền cung ứng Đây là loại hình trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong thị trường tài chính, song với lý do để đảm bảo an toàn cho thị trường, các tổ chức này cũng được sự quan tâm quản lý chặt chẽ của các cơ quan quản lý Nhà nước
1.2.2.2 Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là các trung gian tài chính mà nhiệm
vụ chủ yếu và thường xuyên là thu nhận vốn một cách định kỳ trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm nhằm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm dựa trên
quy luật số lớn Các tổ chức này có thể lượng hoá được các khoản chi trả cho việc
hạn chế, phòng ngừa, khắc phục những tổn thất do các rủi ro gây ra, và do đó, có thể xác định lượng tiền đầu tư và các tài sản kém lỏng hơn trên thị trường chứng khoán như Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu Các tổ chức này bao gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ, các công ty bảo hiểm cháy và tai nạn, các quỹ trợ cấp tư nhân, các quỹ hưu trí
Trang 1215
1.2.2.3 Các trung gian đầu tư
Các trung gian đầu tư bao gồm các công ty tài chính, các quỹ, các công ty
chứng khoán Các công ty tài chính nhận vốn bằng cách bán các cổ phiếu và trái
phiếu Các tổ chức này có thể cho vay tiêu dùng thông qua cho vay mua trả góp
các tài sản như nhà cửa, ô tô, xe máy Các công ty tài chính thành viên của tập
đoàn, ngoài việc cho vay hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, còn tham gia huy động và điều
hoà vốn giữa các đơn vị thành viên
Các quỹ đầu tư huy động vốn bằng cách bán các chứng chỉ quỹ đầu tư sau
đó đầu tư vào các danh mục chứng khoán có mức độ rủi ro phù hợp Việc này tạo
cơ sở cho việc đa dạng hoá đầu tư, tăng tính chuyên nghiệp và giảm chi phí đầu
tư
Các công ty chứng khoán cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài
chính, bao gồm cả dịch vụ môi giới, tư vấn và quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ
ngân hàng đầu tư (bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành các chứng khoán thuộc khu
vực công và khu vực tư nhân, trợ giúp trong lĩnh vực hợp nhất và sáp nhập các
công ty), thực hiện giao dịch mua bán (với tư cách là đối tác trong giao dịch) các
cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ của thị trường tiền tệ
Các hoạt động này đem lại một phần thu nhập quan trọng cho các công ty
chứng khoán dưới dạng phí và chênh lệch giá chứng khoán Bên cạnh đó, các
công ty này còn hoạt động với tư cách là trung gian tài chính khi thực hiện các
hoạt động vay và cho vay với mục đích tăng thu nhập
Việc phân loại các loại hình trung gian tài chính trên đây chỉ có ý nghĩa
tương đối Bởi lẽ, các trung gian tài chính đã và đang phát triển theo xu hướng đa
năng, cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu
của khách hàng Sự phát triển đa dạng của các trung gian tài chính tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư, song hoạt động của các trung gian tài chính cũng
cần được quản lý chặt chẽ để tăng tính hiệu quả
1.2.3 Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán
16
Thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp, ở đó có sự tham gia của rất nhiều đối tượng khác nhau, với các mục đích khác nhau Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán được chia thành hai nhóm
Thứ nhất, các trung gian tài chính phát hành các chứng khoán nhằm huy
động vốn cho chính họ và thực hiện mua bán chứng khoán với tư cách là nhà đầu
tư chứng khoán
Thứ hai, trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thị trường qua các
nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh chứng khoán, tư vấn, môi giới, quản lý danh mục đầu tư
và quản lý quỹ đầu tư, thanh toán và lưu ký chứng khoán, cho vay
Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là khác nhau, phụ thuộc vào quy định của luật pháp từng nước Trên thế giới tồn tại ba mô hình cơ bản:
Thứ nhất, mô hình ngân hàng đa năng toàn phần Trong mô hình này,
không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Các ngân hàng đa năng được phép cung cấp đầy đủ các dịch vụ: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Mô hình này được áp dụng tại các nước thuộc Bắc Âu như Hà Lan, Thuỵ Sỹ và Áo
Mô hình ngân hàng đa năng toàn phần cho phép các trung gian tài chính tận dụng triệt để các lợi thế về nhân lực, vật lực để cung cấp các dịch vụ tổng hợp cho khách hàng Việc đa dạng hoá các dịch vụ tài chính cũng cho phép các trung gian tài chính đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, san sẻ rủi ro giữa các lĩnh vực đầu tư, tăng khả năng chống đỡ của các trung gian tài chính trước các biến động kinh tế Tuy vậy, hoạt động ngân hàng đa năng gây khó khăn cho công tác quản lý thị trường và ảnh hưởng tới việc kiểm soát khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng
Thứ hai, mô hình ngân hàng đa năng một phần Trong mô hình này, các
ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con, có tư cách pháp nhân độc lập, do vậy loại bỏ được nhược điểm của mô hình đa năng toàn phần, tạo ra sự độc lập tương đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Mô hình đa năng một phần được áp dụng tại Vương
Trang 1317
quốc Anh, Canada và Úc Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là tạo ra sự
trùng chéo về tổ chức, làm giảm hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính
Thứ ba, mô hình chuyên doanh Mô hình này thể hiện sự phân biệt có tính
pháp lý giữa hai ngành ngân hàng và chứng khoán Hoạt động kinh doanh chứng
khoán do các công ty chứng khoán thực hiện và các ngân hàng thương mại không
được phép kinh doanh chứng khoán Mô hình này được áp dụng tại Mỹ, Nhật Bản
Tuy nhiên, mô hình chuyên doanh tỏ ra không còn phù hợp trước xu thế
phát triển các tổ chức tài chính theo hướng đa năng Hiện nay, các nước áp dụng
mô hình chuyên doanh cũng đang chuyển sang áp dụng mô hình đa năng một phần
bằng cách nới lỏng các điều kiện để cho phép các ngân hàng tham gia thị trường
chứng khoán
Các phân tích trên cho thấy, mỗi mô hình đều có những ưu nhược điểm
riêng và không có mô hình nào là tối ưu đối với một quốc gia Việc lựa chọn mô
hình hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán phụ thuộc
vào quan điểm của các nhà quản lý thị trường, vào sự phát triển của các trung gian
tài chính và phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng khoán Cho dù theo
mô hình nào, hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán
bao gồm các hoạt động sau:
1.2.3.1 Hoạt động phát hành chứng khoán
Trung gian tài chính trước hết là một doanh nghiệp và thị trường chứng
khoán được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đối với loại hình doanh nghiệp
đặc biệt này Luật pháp từng nước có quy định khác nhau, song về cơ bản, các
trung gian tài chính có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư để
huy động vốn trên thị trường
Việc phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính chịu sự điều tiết
của nhiều luật khác nhau như Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân
hàng và Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm…
Các ngân hàng thương mại cổ phần, các công ty bảo hiểm, các công ty tài
chính, công ty chứng khoán thường phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ
Với tính chất chuyên nghiệp, với uy tín cao trên thị trường tài chính, hoạt động phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp thông thường khác, do đó, thường có khối lượng huy động lớn và chi phí vốn thấp hơn Các trung gian tài chính cũng là những tổ chức tiên phong trong việc sáng tạo ra các công cụ huy động mới có tính hấp dẫn cao Các trung gian tài chính cũng được xem là đối tượng huy động vốn quan trọng trên thị trường chứng khoán quốc tế
1.2.3.2 Hoạt động kinh doanh chứng khoán
Với tư cách là nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng
và hiệu quả của thị trường Bởi lẽ, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính có tính chuyên nghiệp cao, có quy mô lớn và có tính đa dạng hoá cao
Tuỳ theo tính chất của từng loại hình trung gian tài chính, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính cũng khác nhau Tuy nhiên có thể chia hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính thành hai nhóm: Hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán
Trong hoạt động ngân quỹ, các trung gian tài chính thường đầu tư ngắn hạn
vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ Các chứng khoán thường được lựa chọn cho mục đích này là tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi
có thể được chuyển nhượng
Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khác hoạt động chủ yếu trên thị trường tín dụng Do đặc điểm nguồn vốn, các tổ chức này thường tập trung
Trang 1419
cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và cho vay thế chấp Nhu cầu thanh toán
và dự phòng đối với tổ chức tín dụng là rất lớn và việc đáp ứng các nhu cầu này
không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động của các tổ chức tín dụng mà còn ảnh hưởng
không nhỏ tới vấn đề an toàn của nền kinh tế Do vậy, hoạt động kinh doanh
chứng khoán của các tổ chức này thường tập trung nhiều hơn ở hoạt động ngân
quỹ và các tổ chức tín dụng là thành viên quan trọng của thị trường tín phiếu kho
bạc
Hoạt động ngân quỹ là cầu nối quan trọng giữa thị trường tín dụng và thị
trường chứng khoán Khi thị trường tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị
trường tín dụng sẽ được dịch chuyển sang thị trường chứng khoán thông qua hoạt
động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính Ngược lại, khi nhu cầu
tín dụng tăng lên, các trung gian tài chính sẽ bán các chứng khoán để tăng lượng
vốn cho hoạt động tín dụng
Việc dịch chuyển vốn giữa hai thị trường giúp cho các tổ chức tín dụng có
thể sử dụng tối đa các nguồn vốn để nâng cao hiệu quả hoạt động Mặt khác, sự
cạnh tranh giữa hai thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán làm tăng hiệu
quả hoạt động của thị trường tài chính
Sự phát triển của thị trường chứng khoán ảnh hưởng lớn đến hoạt động
ngân quỹ của các trung gian tài chính Hoạt động này đòi hỏi sự sẵn có các công
cụ có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và tính ổn định của thị trường
Đôi khi, sự thiếu ổn định của thị trường chứng khoán đã ảnh hưởng xấu tới khả
năng thanh toán của các tổ chức tín dụng và qua đó, có những ảnh hưởng tiêu cực
đối với thị trường tín dụng Trong thực tế, nhiều tổ chức tín dụng đã gặp khó khăn
về khả năng thanh toán, thậm chí mất khả năng thanh toán do những biến động
của thị trường chứng khoán
Việc mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại thường dẫn
theo những phản ứng dây chuyền gây đổ vỡ hệ thống ngân hàng và làm mất an
ninh kinh tế Đây chính là lý do các nhà quản lý thường muốn hạn chế hoạt động
kinh doanh chứng khoán của các tổ chức tín dụng
20
Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của các trung
gian tài chính tập trung vào các chứng khoán có tính thanh khoản thấp hơn và với thời hạn đầu tư dài hơn Chiến lược đầu tư chứng khoán của các trung gian tài chính được xây dựng với các danh mục đầu tư đa dạng: Danh mục đầu tư trái phiếu, danh mục đầu tư cổ phiếu, danh mục đầu tư hỗn hợp
Các loại trung gian tài chính khác nhau thường lựa chọn các danh mục đầu
tư khác nhau, với các mức độ rủi ro khác nhau: Các ngân hàng thương mại, các tổ chức bảo hiểm và các tổ chức tín dụng khác thường đầu tư nhiều hơn vào trái phiếu Chính phủ, các Quỹ đầu tư chứng khoán đầu tư vào các chứng khoán được giao dịch trên thị trường tập trung, các Quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vào chứng khoán do các doanh nghiệp mới phát hành, thường được giao dịch trên thị trường giao dịch qua quầy
Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính ngày càng phát triển Sự phát triển của thị trường chứng khoán cùng với sự xuất hiện và phát triển thị trường các công cụ dẫn suất đã làm tăng khả năng đầu tư chứng khoán của các trung gian tài chính Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính làm tăng tính chất chuyên nghiệp của hoạt động đầu tư chứng khoán
và làm tăng tính sôi động của thị trường
1.2.3.3 Đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán
Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc các trung gian tài chính giúp cho tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, phân phối chứng khoán hộ tổ chức phát hành, nhận mua chứng khoán của
tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán chưa phân phối hết của tổ chức phát hành
Cơ sở để các trung gian tài chính có thể thực hiện hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành bắt nguồn từ vị thế của các trung gian tài chính trên thị trường Như chúng ta đã biết, các doanh nghiệp khi có nhu cầu vốn, họ có thể tìm cách phát hành chứng khoán Doanh nghiệp có thể tự đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán Song trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết
Trang 1521
Thứ nhất, doanh nghiệp phải thực hiện các công việc trước khi phát hành
Các công việc này bao gồm: phân tích thị trường để xác định khả năng huy động
vốn và các yếu tố có liên quan như chi phí vốn, chi phí phát hành, lựa chọn công
cụ huy động vốn với các tính chất đặc trưng, làm các hồ sơ giấy tờ và các thủ tục
xin phép phát hành
Để thực hiện các công việc này, đòi hỏi doanh nghiệp phải am hiểu các
kiến thức về pháp lý, về thị trường, phải thu thập và xử lý các thông tin để đánh
giá kỹ lưỡng khả năng phát hành, mà điều này không phải bao giờ cũng là dễ dàng
đối với doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp thực hiện tất cả các công việc đó, với tư
cách không phải là tổ chức chuyên nghiệp, chi phí và thời gian cho việc phát hành
sẽ là yếu tố quan trọng cần cân nhắc đối với doanh nghiệp
Các trung gian tài chính với lợi thế chuyên môn hoá cao có thể dễ dàng hỗ
trợ cho các doanh nghiệp thực hiện các công việc đó với chi phí thấp hơn, đồng
thời, tư vấn cho doanh nghiệp về các yếu tố pháp lý và kỹ thuật (Chẳng hạn: Giúp
doanh nghiệp lựa chọn loại chứng khoán phù hợp, xác định lãi suất danh nghĩa,
chuẩn bị các hồ sơ giấy tờ có liên quan…)
Thứ hai, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với rủi ro không huy động đủ
vốn, và trong trường hợp đó, chi phí phát hành trên một đồng vốn huy động sẽ gia
tăng đáng kể, thậm chí doanh nghiệp có thể bị lỡ cơ hội kinh doanh khi thời hạn
huy động vốn kéo dài, hoặc không huy động đủ vốn Trong khi đó, các trung gian
tài chính, các tổ chức có uy tín và có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức huy
động vốn trên thị trường, có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát hành chứng
khoán
Thứ ba, trong nhiều trường hợp, theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp
bắt buộc phải thực hiện phát hành qua hình thức bảo lãnh hoặc đại lý
Trong hình thức đại lý, bảo lãnh phát hành, tổ chức đại lý, bảo lãnh được
hưởng phí đại lý, bảo lãnh Phí này thường được xác định bằng một tỷ lệ phần
trăm nhất định trên khối lượng chứng khoán được phân phối Tỷ lệ này phụ thuộc
vào quy định của pháp luật, vào tính chất của đợt phát hành, loại hình bảo lãnh và
phụ thuộc quan hệ giữa tổ chức phát hành với tổ chức phân phối chứng khoán
22
Nói chung, phí phát hành có thể thay đổi từ một vài phần trăm tới trên mười phần trăm lượng vốn huy động
1.2.3.4 Môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Nghề môi giới xuất hiện cùng
với sự xuất hiện của thị trường chứng khoán và thường được xem là đặc quyền của các công ty chứng khoán Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các trung gian tài chính, nhiều tổ chức khác cũng tham gia vào thị trường môi giới như các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính
Sự tham gia ngày càng nhiều hơn của các trung gian trong hoạt động môi giới làm tăng tính cạnh tranh, và trên cơ sở đó, làm giảm chi phí trong giao dịch chứng khoán cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới Việc thực hiện nguyên tắc trung gian của thị trường chứng khoán (mua bán các chứng khoán thông qua môi giới) nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư tiết kiệm chi phí về giao dịch cũng như đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư và cho cả thị trường
Để có thể thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, các trung gian tài chính phải có đủ các điều kiện cần thiết theo yêu cầu của Luật chứng khoán Các yêu cầu này bao gồm: Yêu cầu về vốn pháp định, yêu cầu về giấy phép hành nghề đối với giám đốc và các môi giới, các yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật và phải được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hoạt động môi giới
Trang 1623
Có hai hình thức tư vấn là tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp Hình thức tư
vấn trực tiếp được thực hiện khi các trung gian tài chính phân tích, xử lý các tình
huống đầu tư của chính khách hàng, từ đó có những khuyến nghị trực tiếp trên cơ
sở một khoản lệ phí tư vấn thoả thuận Với cách thức thứ hai, các trung gian tài
chính có thể chia sẻ các thông tin của mình thông qua việc phát hành các báo cáo
phân tích trên các tạp chí, sách báo chuyên đề Việc phát hành các tài liệu này làm
tăng uy tín và tạo thu nhập cho các trung gian tài chính
Có thể nói, tất cả các trung gian tài chính đều tham gia hoạt động này, bằng
cách trực tiếp hay gián tiếp Các trung gian tài chính phải chịu trách nhiệm về tính
trung thực của những lời tư vấn của mình đối với khách hàng và trong nhiều
trường hợp, hoạt động tư vấn phải được quản lý và cấp phép Tuy nhiên, trong
hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư vẫn phải tự chịu trách nhiệm
về các quyết định đầu tư của mình
1.2.3.6 Quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý tài sản của khách hàng thông
qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán theo uỷ thác và vì quyền lợi của
khách hàng Hoạt động này có thể được thực hiện bởi các công ty chứng khoán,
các ngân hàng thương mại Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các trung
gian tài chính phải đảm bảo tách biệt giữa tài sản của khách hàng với tài sản của
mình Việc mua, bán, nắm giữ các chứng khoán chỉ được thực hiện khi có sự uỷ
thác hoặc theo lệnh của khách hàng
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các trung gian tài chính sẽ nhận
được lệ phí quản lý tài sản từ phía khách hàng Hoạt động này cũng góp phần tăng
uy tín và phát triển các hoạt động khác như hoạt động lưu ký, thanh toán, tư vấn
Tuy nhiên, các trung gian tài chính phải tôn trọng và ưu tiên quyền lợi của khách
hàng trước quyền lợi của bản thân, và chỉ có vậy, các trung gian tài chính mới tạo
lòng tin của công chúng đầu tư
1.2.3.7 Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư
mà tài sản chủ yếu của quỹ là các chứng khoán được đầu tư theo các mục tiêu đã
24
được xác định trong điều lệ quỹ Các quỹ này có thể được tổ chức theo mô hình công ty hoặc mô hình tín thác Đây là loại hình đầu tư phát triển nhất, phổ biến đối với công chúng đầu tư Do lợi ích từ chuyên môn hoá, lợi thế từ quy mô và từ đa dạng hoá hoạt động đầu tư, các quỹ đầu tư có thể tăng tính an toàn và hiệu quả của hoạt động đầu tư chứng khoán
Sự xuất hiện đa dạng các loại hình quỹ đầu tư với các chứng chỉ quỹ đầu tư
có các mức độ rủi ro khác nhau đã tạo nhiều cơ hội lựa chọn hơn đối với các nhà đầu tư, từ đó tăng mức hấp dẫn của thị trường đối với công chúng đầu tư Các quỹ này được uỷ thác cho các công ty quản lý quỹ quản lý
Các công ty quản lý quỹ là pháp nhân và phải được cấp phép và chịu sự quản lý của Uỷ ban chứng khoán Các trung gian tài chính muốn thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thường phải thành lập công ty thành viên Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có thể mang lại một phần thu nhập đáng kể cho các công ty quản lý quỹ dưới dạng phí và các khoản thưởng theo kết quả hoạt động của quỹ Đồng thời, nó còn giúp các trung gian tài chính duy trì và phát triển mối quan hệ với các khách hàng của mình Điều này đã thúc đẩy các trung gian tài chính trong việc giành giật quyền được tham gia phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư
1.2.3.8 Thanh toán và lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán Hoạt động này thường được các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chứng khoán thực hiện
Bảo quản các chứng chỉ chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, tránh mất mát, hư hỏng chứng khoán, đảm bảo cho các chứng khoán được mua bán là chứng khoán thực, giảm chi phí cho việc kiểm định, vận chuyển chứng khoán Đồng thời, việc quản lý chứng khoán tại các trung tâm cũng giúp cho quá trình phi vật chất hoá các chứng khoán được thuận lợi Trung gian tài chính thực hiện lưu giữ, bảo quản chứng khoán cũng tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật của mình để tăng thu nhập
Trang 1725
Thực hiện nghiệp vụ thanh toán, các trung gian tài chính có thể làm tăng
nguồn vốn và thu nhập của mình đồng thời có cơ hội để thực hiện các dịch vụ theo
uỷ quyền của khách hàng Cũng giống như nghiệp vụ lưu ký, nghiệp vụ thanh toán
chứng khoán cũng giúp cho việc đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư và tăng
tính an toàn, tăng khả năng giám sát của thị trường
1.2.3.9 Các hoạt động khác
Các trung gian tài chính cũng có thể tham gia hỗ trợ thị trường trong vai trò
của ngân hàng giám sát, hay cho vay tiền hoặc cho vay chứng khoán, v.v Các
hoạt động này có thể tạo thu nhập cho các trung gian tài chính, đồng thời phát
triển quan hệ của họ đối với khách hàng
Tóm lại, việc trình bày logic và hệ thống về khái niệm, phân loại, vai trò
của thị trường chứng khoán và các trung gian tài chính, các hoạt động cơ bản của
các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán có ý nghĩa rất lớn về mặt lý
luận, nó là cơ sở để phân tích thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính
trên thị trường chứng khoán Việt Nam
26
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò của thị trường chứng khoán (TTCK) trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và việc hoàn thiện thị trường tài chính nói riêng, việc thiết lập và phát triển TTCK đã được đặt ra ngay từ đầu thập niên cuối của thế kỷ XX Ngày 21 tháng 12 năm 1990, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Công ty nhằm điều chỉnh hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Luật này sau đó được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 Đạo luật này đã mở đường quan trọng cho sự phát triển công ty cổ phần, đối tượng chủ yếu cung cấp hàng hoá cho thị trường
Ngày 28 tháng 11 năm 1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/CP về việc thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), cơ quan quản lý Nhà nước về Chứng khoán và TTCK Trong một thời gian không dài, UBCKNN đã hoàn thành một khối lượng công việc quan trọng nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của TTCK Nhờ quá trình chuẩn bị tích cực đó, ngày 11 tháng 07 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và TTCK, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 127/1998/QÐ-TTg thành lập hai Trung tâm giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) trực thuộc UBCKNN
Ngày 20 tháng 7 năm 2000 đánh dấu một bước quan trọng đối với TTCK Việt Nam, TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) khai trương và chính thức hoạt động với hai công ty niêm yết đầu tiên là Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE)
và Công ty vật liệu Viễn thông (SAM) Ngày 8 tháng 3 năm 2005, TTGDCK Hà Nội cũng ra đời, tiếp theo đó ngày 14 tháng 7 năm 2005, TTGDCK Hà Nội khai trương Sàn giao dịch Chứng khoán thứ cấp
Cùng với sự phát triển của Thị trường chứng khoán, ngày 29 tháng 6 năm
2006, Luật Chứng khoán đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua Đây là văn bản pháp luật cao nhất về chứng
Trang 18khoán và thị trường chứng khoán Luật Chứng khoán ra đời góp phần hoàn chỉnh
thể chế về kinh tế thị trường ở nước ta, quán triệt tinh thần đổi mới của Đảng và
Nhà nước thể hiện trong Nghị quyết Trung ương khoá IX cũng như Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ X, khắc phục những khiếm khuyết, bất cập trong khuôn khổ pháp
luật chứng khoán và TTCK, đồng bộ hoá với Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà
Quốc hội đã thông qua Điều này hết sức quan trọng vì tạo ra môi trường pháp luật
ổn định cho các nhà đầu tư hoạt động trên thị trường
Ngày 8 tháng 8 năm 2007, TTGDCK Tp.HCM nhận quyết định của Thủ
tướng và chính thức chuyển thành Sở giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (SGDCK
Tp.HCM), với tên giao dịch quốc tế: HoChiMinh Stock Exchange (HOSE) HOSE
có nhiệm vụ tổ chức thị trường giao dịch cho chứng khoán của các tổ chức phát
hành đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch
Qua hơn bảy năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK
thế giới, tính đến hết năm 2007, quy mô thị trường chứng khoán chính thức của Việt
Nam đã đạt được những con số đáng ghi nhận sau:
Tổng số công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ tại SGDCK Tp.HCM và
TTGDCK Hà Nội là 284 (SGDCK Tp.HCM 150, TTGDCK Hà Nội 134) Tổng
khối lượng cổ phiếu của tất cả các công ty niêm yết trên 2 sàn giao dịch đạt khoảng
6,0 tỉ đơn vị, của trái phiếu là 1,4 tỷ đơn vị
Bảng 2.1 Quy mô niêm yết tại SGDCK Tp.HCM
(Tính đến 31/12/2007)
Toàn thị trường
Nguồn: Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
Tổng giá trị vốn hóa thị trường - một trong những con số có tầm quan trọng hàng đầu phản ánh quy mô thị trường chứng khoán - tính đến thời điểm cuối năm
2007 đạt khoảng 500 nghìn tỉ đồng So với tổng thu nhập quốc nội (GDP) tính theo giá thực tế năm 2007 (ước đạt 1.140 nghìn tỉ đồng), thì tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 40% [42], cao hơn rất nhiều so với các thời gian trước đây, thuộc loại khá cao đối với một số nước mà thị trường chứng khoán mới ra đời cách đây bảy năm, vượt xa mục tiêu đề ra cho đến năm 2010 [39] Tuy nhiên, nếu tính bằng đôla Mỹ (USD) theo tỷ giá hối đoái, thì tổng giá trị vốn hóa thị trường của Việt Nam mới đạt khoảng 30 tỉ USD[42], còn thấp xa so với quy
mô của các thị trường trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới Giá trị giao dịch hàng ngày tăng dần qua các năm, đặc biệt tăng cao trong năm 2007 Tính trung bình, giá trị giao dịch tại SGDCK Tp.HCM đạt 700-800 tỷ đồng và TTGDCK Hà Nội đạt 250 tỷ đồng mỗi phiên
Trang 19Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM
Bảng 2.4 Một vài chỉ tiêu của TTGDCK Hà Nội qua các năm
(đơn vị : tỷ đồng)
Tổng giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu 1.900 73.000 98.000
Nguồn: Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
Số tài khoản nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán chính thức là trên 300
nghìn tài khoản, mặc dù tăng nhanh so với các thời điểm trước đây, nhưng so với
dân số thì chiếm chưa đến 0,4%, thấp rất xa so với nhiều nước trong khu vực, ở
châu Á và trên thế giới (Trung Quốc là 7%)[42]
Về cơ cấu nhà đầu tư, nếu như ở các nước, nhà đầu tư tổ chức chiếm khoảng
70%, còn nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm khoảng 30%, thì trên thị trường chứng
khoán Việt Nam các con số trên là ngược lại: số nhà đầu tư cá nhân chiếm 70%, các
nhà đầu tư tổ chức chỉ chiếm 30%[42] Chính tỷ trọng đảo ngược này cộng với
nguồn vốn còn phụ thuộc lớn từ nguồn vay ngân hàng của các nhà đầu tư cá nhân,
nên tính đầu tư theo phong trào còn khá nặng kéo theo sự biến động thất thường
trên TTCK
2.2 Các trung gian tài chính Việt Nam
2.2.1 Sơ lược về hệ thống tài chính Việt Nam
Trong giai đoạn đổi mới, đặc biệt là giai đoạn 1995 - 2000, Việt Nam đã tiến
hành cải cách mạnh mẽ hệ thống tài chính Một cải cách quan trọng hàng đầu là
30
chuyển hoạt động của hệ thống ngân hàng theo mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp Việc tăng cường và hoàn thiện chức năng của Ngân hàng Trung ương đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu duy trì hệ thống tài chính vững mạnh
và đáng tin cậy
Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, góp phần quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và tạo đà cho tăng trưởng kinh tế Các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại đã thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ bước đầu có hiệu quả Việc điều hành Ngân sách nhà nước cũng đạt những thành tựu khả quan với việc giảm bao cấp từ Ngân sách, chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt Ngân sách Thay vào đó, Chính phủ phát hành các công cụ nợ để bù đắp thâm hụt Ngân sách và tài trợ cho đầu tư
Hệ thống doanh nghiệp cũng được cải cách mạnh mẽ, tạo điều kiện mở rộng hoạt động của các trung gian tài chính Các trung gian tài chính phát triển mạnh cả
về số lượng và chất lượng Đến cuối năm 2007, Việt Nam đã có 6 Ngân hàng sở hữu nhà nước, 33 Ngân hàng thương mại cổ phần, 5 Ngân hàng liên doanh, 29 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, 1 quỹ tín dụng trung ương, 23 quỹ tín dụng khu vực,
897 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, 13 công ty cho thuê tài chính, 9 công ty tài chính,
40 công ty bảo hiểm, 74 công ty chứng khoán, 30 công ty quản lý quỹ và 45 quỹ đầu tư trong và ngoài nước [26]
2.2.2 Các ngân hàng thương mại
Nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Ngân hàng Việt Nam nói riêng đã trải qua gần hai mươi năm đổi mới, đã thu được những thành tựu rất khả quan, đồng thời cũng đã và đang tiếp tục phải đối mặt với những thách thức suốt tiến trình đổi mới Trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế đang vận động mạnh
mẽ theo xu hướng toàn cầu hoá, ngành Ngân hàng Việt Nam không nằm ngoài tiến trình khách quan này Với trọng trách là một ngành kinh tế huyết mạch trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế đất nước, những năm qua, ngành Ngân hàng Việt Nam đã có những đóng góp rất quan trọng, trước hết là trong việc đổi mới hoạt động và đổi mới chính sách tiền tệ
Trang 20Tính từ tháng 10 năm 1998 từ khi đưa 2 Luật Ngân hàng vào điều chỉnh hoạt
động đến nay đã gần mười năm Trong quá trình đó, toàn ngành Ngân hàng Việt
Nam đã cơ bản đạt được những thành tựu lớn như: Giữ vai trò then chốt trong việc
bảo đảm sự ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi và
kiểm soát được động thái của lạm phát hàng năm Phát triển một cấu trúc hạ tầng
ngân hàng mới với sự có mặt của bốn hình thức sở hữu ngân hàng cùng hoạt động
và phát triển đã tạo thành một mạng lưới đủ rộng để góp phần làm chủ quá trình
từng bước tiền tệ hoá nền kinh tế Hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ quốc
gia đã liên tục phát triển và hoàn thiện theo hướng ngày càng giảm dần sự can thiệp
chi tiết, trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào các hoạt động kinh doanh
của Tổ chức Tín dụng (TCTD)
Về quy mô vốn của hệ thống Ngân hàng, tính đến hết tháng 12/2007, khối
Ngân hàng Thương mại (NHTM) Nhà nước có vốn điều lệ cao nhất, đứng đầu là
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) với 10.400 tỷ đồng,
tiếp theo là Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank) với 7.554 tỷ đồng,
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với 7.490 tỷ đồng, Ngân hàng
Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long với 744 tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam (Vietcombank) đang trong quá trình cổ phần hóa (CPH), vốn điều lệ
trước khi CPH là 4.279 tỷ đồng Ngoài ra là 1 Ngân hàng Chính sách xã hội với vốn
điều lệ 5.988 tỷ đồng, 1 Ngân hàng Phát triển vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng[26]
Đối với khối NHTM cổ phần, tính đến tháng 04/2008 có 48 NHTM cổ phần
đang hoạt động, tổng vốn điều lệ đạt 48.381 tỷ đồng Trong số này có tới 24 Ngân
hàng có vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng trở lên[26]
Riêng khối Ngân hàng liên doanh, vốn điều lệ cao nhất là Indovina Bank 50
triệu USD, kế đến là Shinhanvina Bank 30 triệu USD, Việt Nga 30 triệu USD,
Vinasiambank 20 triệu USD, Vid Public 20 triệu USD
Trong khối chi nhánh Ngân hàng nước ngoài vốn điều lệ cao nhất là Bank of
Tokyo Misubishi 45 triệu USD, Chinfon Commercial Bank 30 triệu đô la, số còn lại
vốn điều lệ đăng ký từ 15 đến 20 triệu đô la Mỹ Đây đều là chi nhánh của những
0 10 20 30 40 50 60 70 80
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Biều đồ 2.1 Tỷ trọng Tín dụng Ngân hàng so với GDP (%)
Như vậy, hệ thống ngân hàng với các NHTM là những trung gian tài chính rất quan trọng trên thị trường tài chính Việt Nam Nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế của hệ thống Ngân hàng là rất lớn, với bề dày kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, với cơ sở vật chất tương đối tốt và hệ thống chi nhánh rộng khắp,
sự tham gia của các NHTM trên TTCK là rất lớn và ngày càng phát triển
2.2.3 Các tổ chức bảo hiểm
Ở Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) mới chính thức đi vào hoạt động Trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu viễn dương… Kể từ thời điểm đó, ở Việt Nam chỉ có một mình Bảo Việt hoạt động cho đến năm 1994 Từ năm 1994 đến 1998 ngoài Bảo Việt, nhà nước đã cấp
Trang 21phép hoạt động cho Bảo Minh, VINARE (Tái Bảo hiểm Quốc gia), Bảo Long (Bảo
hiểm Nhà Rồng), PJICO (Bảo hiểm Petrolimex), PVI (Bảo hiểm Dầu khí), PTI (Bảo
hiểm Bưu điện) và Bảo Việt được tiến hành thí điểm Bảo hiểm nhân thọ Cùng thời
gian này, 03 công ty liên doanh được cấp phép gồm VIA (Bảo Việt và công ty của
Nhật), UIC (Công ty TNHH Bảo hiểm Liên hiệp - liên doanh của Bảo Minh và công
ty của Nhật) và công ty môi giới Bảo Việt - AON (chuyển thành công ty Bảo hiểm
100% vốn nước ngoài từ 5/2004)
Giai đoạn 1998 – 2004 lần đầu tiên cấp phép cho một công ty bảo hiểm cổ
phần ngoài quốc doanh (Viễn Đông) và 02 công ty phi nhân thọ 100% vốn nước
ngoài (Allianz, Group Pama), 04 công ty bảo hiểm nhân thọ (Bảo Minh CMG),
Prudential, ManuLife, AIA (Bảo hiểm Quốc tế Mỹ) và tiếp tục cấp phép cho các
công ty liên doanh khác: Việt Úc, SVI (Công ty liên doanh Bảo hiểm
Samsungvina), IAI (Công ty liên doanh Bảo hiểm Châu Á - Ngân hàng Công
thương)
Giai đoạn 2005 – 2006 được đánh giá là có lộ trình mở cửa nhanh nhất với
sự cấp phép hoạt động cho các công ty trong nước: BIC (Công ty Bảo hiểm Ngân
hàng Đầu tư Phát triển), Bảo hiểm AAA, Toàn Cầu, Bảo Nông, Bảo Tín và các
công ty bảo hiểm nước ngoài Bảo hiểm AIG, Bảo hiểm QBE, Bảo hiểm ACE,
Liberty, ACE Life, Prevoir, New york Life
Để điều tiết hoạt động kinh doanh bảo hiểm, Quốc hội đã thông qua Luật
Kinh doanh bảo hiểm ngày 9/12/2000 Chính phủ cũng đã triển khai việc soạn thảo
và đưa vào thực thi các văn bản hướng dẫn thi hành luật bao gồm Nghị định chi tiết
thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm và Nghị định quy định chế độ
tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Môi
trường pháp lý, môi trường kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm ngày càng thuận lợi
với sự ra đời của một số Bộ luật, Luật, văn bản pháp quy liên quan đến bảo hiểm
như Luật hàng hải, Luật hàng không, Luật giao thông đường bộ, Luật giao thông
đường thuỷ, Luật phòng cháy chữa cháy
3.051 4.863 7.708 10.327 14.232 15.561 17.752 24.039 Vốn tái đầu
lý [11] Nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế có xu hướng tăng qua các năm và năm
2007 chiếm khoảng 4% GDP Như vậy, việc thu hút các tổ chức bảo hiểm tham gia TTCK có một ý nghĩa quan trọng cho việc phát triển thị trường Với tính chất là tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, các tổ chức bảo hiểm có thể lượng hoá được nhu cầu thanh toán chi trả các hợp đồng bảo hiểm nên phần vốn đầu tư của họ có thể được
sử dụng để đầu tư trên thị trường chứng khoán Thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng phát triển và mang tính cạnh tranh cao Điều này hứa hẹn một khả năng lớn trong việc tham gia thị trường của một loại trung gian tài chính, nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường là các tổ chức bảo hiểm
2.2.4 Các công ty chứng khoán
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển về quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán (CTCK) Sự trưởng thành của các CTCK Việt Nam không chỉ thể hiện về sự tăng trưởng số lượng và quy mô vốn mà còn thể hiện rõ nét qua phương thức và chất lượng cung cấp dịch vụ cho khách hàng Tính đến cuối năm
2007, UBCKNN đã cấp phép hoạt động kinh doanh chứng khoán cho 74 công ty,
Trang 22với tổng số vốn điều lệ đạt gần 6.000 tỷ đồng [43] Trong đó, có gần 50 công ty
được cấp phép 4 nghiệp vụ là môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự
doanh chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảng 2.6 Số lƣợng các Công ty chứng khoán qua các năm
Số lượng
CTCK
Nguồn: Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Trong quá trình hoạt động, các CTCK luôn đẩy mạnh việc phát triển mạng
lưới, tính đến cuối năm 2007, ngoài 74 trụ sở chính, mạng lưới hoạt động của các
công ty gồm 30 chi nhánh, 22 phòng giao dịch, 32 đại lý nhận lệnh (so với mạng
lưới gồm 12 chi nhánh, 9 phòng giao dịch và 13 đại lý nhận lệnh tại thời điểm
31/12/2006)[43] Cùng với việc mở rộng chi nhánh, hoàn thiện bộ máy tổ chức,
nhiều CTCK đã thực hiện tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực tài chính và đáp
ứng quy định về vốn pháp định
Sự tăng trưởng về số lượng cũng như sự cạnh tranh nâng cao chất lượng
cung cấp dịch vụ của các CTCK đã góp phần đáp ứng được nhu cầu dịch vụ cho số
lượng đông đảo nhà đầu tư đang ngày một gia tăng, đồng thời tạo ra áp lực cạnh
tranh buộc các CTCK phải tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng dịch vụ khách
hàng và đảm bảo lợi ích cho khách hàng
2.2.5 Các công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tƣ
Thị trường tài chính Việt Nam đang hình thành ngày càng nhiều các công ty
quản lý quỹ với các quỹ đầu tư với tiềm lực và khả năng cho vay rất đáng kể Quỹ
đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng được thành lập với mục
đích thu hút tiền nhàn rỗi từ các tổ chức tài chính, quỹ hưu trí, bảo hiểm, công đoàn,
doanh nghiệp và cả các nhà đầu tư Số tiền mà nhà đầu tư đóng góp sẽ được đầu tư
theo chiến lược do một công ty quản lý quỹ vạch ra, việc giám sát đầu tư và quản lý
tiền sẽ do một ngân hàng giám sát đảm nhiệm Lợi nhuận của quỹ có được sau khi
trừ đi phí phải trả phí cho công ty quản lý quỹ sẽ được chia lại cho nhà đầu tư theo
36
tỷ lệ góp vốn Các quỹ đầu tư ở Việt Nam chủ yếu được phân loại như sau: Quỹ đầu
tư vào công nghệ, đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư vào bất động sản, quỹ đầu tư vào cổ phiếu niêm yết, đầu tư cơ hội Các quỹ đầu tư được xem là nguồn cung cấp vốn dài hạn cho doanh nghiệp trong bối cảnh mới hiện nay Tính đến thời điểm cuối năm
2007, tổng cộng trên thị trường chứng khoán Việt Nam có 30 công ty quản lý quỹ với tổng số vốn điều lệ lên đến hàng ngàn tỷ đồng quản lý 45 quỹ đầu tư với tổng số vốn huy động nhiều ngàn tỷ đồng hoạt động đa dạng trong đó có nhiều quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán [42]
2.2.6 Các công ty tài chính
Theo luật TCTD, công ty tài chính (CTTC) được xem là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là loại hình TCTD được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Việc hình thành và phát triển TTCK là cơ hội cho các công ty tài chính tham gia trong một lĩnh vực kinh doanh mới và đầy tiềm năng Nền kinh tế Việt Nam trong xu thế hội nhập đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư hiệu quả, trong đó có mô hình thành lập các CTTC Hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đã được ban hành tương đối đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các CTTC phát triển, hoạt động an toàn có hiệu quả
Việc thành lập thêm các công ty tài chính sẽ góp phần tạo thêm một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu vay vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phục vụ kịp thời nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân - một lĩnh vực mà các TCTD vừa qua chưa đáp ứng được Ở góc độ quản lý vĩ mô, CTTC là một công cụ hữu hiệu được sử dụng để điều tiết hoạt động của các trung gian tài chính khác, các NHTM và của hệ thống tài chính Các CTTC cũng là một chủ thể quan trọng tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường tài chính, mang lại xung lực mới cho sự phát triển thị trường tài chính nói riêng và thị trường nói chung
Trang 23Sự ra đời của các CTTC ở Việt Nam nhằm mục tiêu ban đầu là huy động và
điều hoà nguồn vốn trong nội bộ tổng công ty, phục vụ sự phát triển của tổng công
ty (sau này phát triển thành các tập đoàn kinh tế) Hiện nay, bên cạnh việc thực hiện
các nhiệm vụ của tập đoàn, các CTTC đã đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ để mở rộng
thị trường, phục vụ nhiều đối tượng khách hàng trên thị trường tài chính nói chung
Đồng thời, một số CTTC đang chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần, phát
hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng Điển hình cho xu hướng này là CTTC Dầu
khí và CTTC Dệt - May
Mặc dù CTTC ở nước ta mới thực sự phát triển mạnh khoảng 5 năm trở lại
đây, nhưng các công ty đã sớm khẳng định được vai trò quan trọng trong việc tạo
lập thêm một kênh tài trợ tín dụng mới, hữu hiệu cho các đơn vị thành viên trong
Tập đoàn và mở rộng phục vụ tổ chức, cá nhân ngoài Tập đoàn Hoạt động của các
CTTC cũng đồng thời góp phần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính - ngân
hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài chính - tiền tệ trong nền
kinh tế thị trường Cá biệt một số CTTC đã đạt được những kết quả khả quan, tạo
được vị thế trên thị trường, là các đối tác tin tưởng của các định chế tài chính lớn
trong nước và quốc tế Tiểu biểu cho nhóm này là: CTTC Dầu khí và CTTC công
nghiệp Tàu thuỷ Tuy nhiên, những kết quả đạt được của các CTTC chưa tương
xứng với tiềm năng và vai trò của mình trong hệ thống tài chính, thị trường tài chính
và nền kinh tế Tham gia tích cực trên thị trường chứng khoán là một cơ hội để các
CTTC đẩy mạnh sự phát triển của mình
2.2.7 Công ty cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho
thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở
hợp đồng giữa bên thuê và bên cho thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết
bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm
giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh
toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã thoả thuận Khi kết thúc thời hạn thuê, bên
thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê Đối tượng phục vụ của
38
Công ty cho thuê Tài chính (CTCTTC) là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực
mà các ngân hàng thương mại mới chỉ đáp ứng một phần, trong khi các doanh nghiệp đang cần nhiều vốn đầu tư Do đó, các CTCTTC đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường này Tuy nhiên, các CTCTTC mới chỉ tập trung chủ yếu tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp HCM
Tính đến cuối năm 2007, có 9 CTCTTC Việt Nam đã được thành lập, chủ yếu bởi các ngân hàng thương mại (trong đó có 4 ngân hàng quốc doanh là BIDV, Agribank, Vietcombank, Incombank) Ngoài ra, còn có 4 CTCTTC nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam Tổng vốn điều lệ của 9 CTCTTC trong nước tính đến cuối năm 2007 là 1.700 tỷ đồng, tăng 47% so với năm 2006; tổng dư nợ cho thuê đạt 11.749 tỷ đồng, tăng 58%; tổng lợi nhuận trước thuế đạt 215,8 tỷ đồng, tăng 34,6%; tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng tăng cao hơn năm 2006, có công ty lên đến 10,97% [22] Như vậy, các CTCTTC cũng là các tổ chức trung gian tham gia đầu tư đáng kể vào nền kinh tế, tuy nhiên mới chỉ tồn tại dưới hình thức là các Công ty thuộc sở hữu của các NHTM nhà nước và của nước ngoài, số lượng cũng khiêm tốn, hoạt động chưa thực sự phát trỉển Cần đẩy mạnh hơn nữa hình thức của các trung gian này trong sự phát triển chung của thị trường tài chính
Các phân tích trên cho thấy, các trung gian tài chính là đối tác quan trọng trên TTCK Các trung gian tài chính Việt Nam trong thời gian qua đã có sự tăng trưởng đáng kể về số lượng, đa dạng về hình thức, mô hình hoạt động và cơ cấu sở hữu Thị trường hoàn hảo là thị trường mà trong đó, không có bất cứ rào cản nào cho việc gia nhập và rút khỏi thị trường, không có hiện tượng độc quyền và sự can thiệp của Chính phủ phải ở mức độ hợp lý Để thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên TTCK cần phải khắc phục các điểm yếu của các Trung gian tài chính
2.3 Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán chính thức của Việt Nam bắt đầu hoạt động từ thời điểm tháng 7 năm 2000 Qua hơn bảy năm hoạt động của TTCK có thể nhận thấy,
Trang 24sự tham gia của các trung gian tài chính (TGTC) đã góp phần tăng hiệu quả và tính
sôi động của thị trường trong xu thế hội nhập với thị trường tài chính quốc tế Điều
này sẽ được minh chứng qua phân tích hoạt động của các TGTC trên TTCK và qua
phân tích các nguyên nhân dẫn đến thành công cũng như hạn chế trong hoạt động
của các TGTC trên thị trường Việc phân tích hoạt động của các TGTC trên thị
trường chứng khoán theo từng loại hình TGTC là khó khăn và có thể dẫn tới những
trùng lặp Vì vậy, trong phần tiếp theo các hoạt động của các TGTC trên TTCK
được phân tích theo các nhóm hoạt động: Hoạt động phát hành chứng khoán, hoạt
động kinh doanh chứng khoán, hoạt động môi giới, hoạt động quản lý danh mục
đầu tư và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và các hoạt động khác Để tìm hiểu hoạt
động của các trung gian tài chính trước hết chúng ta xem xét các văn bản pháp lý
điều chỉnh các hoạt động này
2.3.1 Các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của các trung gian tài chính
trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hoạt động của các trung gian tài chính trên TTCK có thể được thực hiện trên
thị trường tập trung và thị trường tự do, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Các
hoạt động này chịu chi phối bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau Về tổng thể,
hoạt động của các trung gian tài chính chịu sự chi phối, điều tiết bởi Luật Các tổ
chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Doanh nghiệp, Luật chứng khoán
và các văn bản dưới luật khác
2.3.1.1 Luật các tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi bổ sung luật các tổ chức tín
dụng
Luật Các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 và
có hiệu lực từ ngày 1/10/1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ
chức tín dụng ban hành ngày 15/06/2004 và có hiệu lực từ 01/10/2004 Luật đã thể
hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển các loại hình tổ chức tín
dụng là: Thống nhất quản lý mọi hoạt động ngân hàng, xây dựng hệ thống các tổ
chức tín dụng hiện đại, đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền
kinh tế và dân cư, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn
40
hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Đầu tư vốn và các nguồn lực khác để phát triển các tổ chức tín dụng nhà nước, tạo điều kiện cho các tổ chức này giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trên thị trường tiền tệ Các quan điểm này là cơ sở quan trọng cho việc lành mạnh hoá và phát triển các tổ chức tín dụng
Theo Điều 12 Luật sửa đổi bổ sung Luật các tổ chức tín dụng quy định, các
tổ chức tín dụng bao gồm: Tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài Tổ chức tín dụng nước ngoài được mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện tại Việt Nam Tổ chức tín dụng nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ Việc mở rộng quyền hoạt động của các Ngân hàng bao gồm cả các tổ chức tín dụng nước ngoài và cho phép mọi tổ chức, cá nhân có thể tham gia góp vốn đã tạo điều kiện phát triển các loại hình và các hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng Việt Nam
2.3.1.2 Luật Doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2005 thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã tạo lập môi trường pháp lý chung cho hoạt động của các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam Luật tạo điều kiện phát huy thế mạnh của mọi thành phần kinh tế, thực hiện chính sách mở cửa, hợp tác kinh tế, khơi dậy tiềm năng và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật Luật Doanh nghiệp 2005 đã thể hiện được những nội dung chủ đạo sau đây:
Luật thể hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, coi các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát huy tối đa nội lực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Kế thừa những quy định tiến bộ, tích cực của Luật doanh nghiệp năm 1999
Trang 25và Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, khắc phục những tồn tại, hạn chế như
tính thiếu nhất quán, phân biệt đối xử, thiếu bình đẳng đối với các loại hình doanh
nghiệp thuộc các hình thức sở hữu
Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của mọi chủ thể, doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm;
có quyền tự chủ và phải tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, nhà nước
tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp
Đổi mới một cách cơ bản chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp Nhà nước không can thiệp trực tiếp bằng các biện pháp
hành chính, mà hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi thông qua cơ chế, chính sách và có sự
quản lý nhà nước để doanh nghiệp phát triển lành mạnh; coi việc khuyến khích,
hướng dẫn và trợ giúp là một trong những chức năng chính; coi nhà đầu tư và doanh
nghiệp là đối tượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước
Nội dung luật phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế nước
ta đang chuyển đổi, vừa đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới, đón trước được xu thế hội nhập, góp phần xây dựng và tiếp tục hoàn thiện môi
trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng, đủ mức hấp dẫn và
có sức cạnh tranh so với khu vực
2.3.1.3 Luật kinh doanh bảo hiểm
Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thông qua ngày 9/12/2000 và bắt
đầu có hiệu lực từ 1/4/2001 Chế độ quản lý nhà nước được hoàn thiện thêm một
bước bằng việc ban hành NĐ 45 và NĐ 46 ngày 27/3/2007 và Thông tư 155, Thông
tư 156 ngày 20/12/2007 hướng dẫn thi hành luật kinh doanh bảo hiểm theo xu
hướng minh bạch công khai chế độ quản lý nhà nước và thủ tục hành chính, tăng
cường tính chủ động cho doanh nghiệp bảo hiểm, nâng cao chất lượng đội ngũ quản
lý kinh doanh bảo hiểm, nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo quyền lợi hợp
pháp chính đáng cho người tham gia bảo hiểm phù hợp với chuẩn mực quốc tế và
cam kết WTO
42
Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm, doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài
Trong các nội dung hoạt động được đề cập trong Luật, doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ và đầu tư vốn Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm được nhấn mạnh tính an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm
Các tổ chức này chỉ được sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư ở Việt Nam trong các lĩnh vực: Mua trái phiếu của Chính phủ, mua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, kinh doanh bất động sản, góp vốn vào doanh nghiệp khác, cho vay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và gửi tiền tại tổ chức tín dụng Các tổ chức bảo hiểm là các trung gian tài chính có khả năng lớn trong việc tham gia các hoạt động đầu tư trên TTCK Đây là các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng nên có thể dễ dàng lượng hoá các hoạt động chi trả và có thể đầu tư vào các chứng khoán có độ thanh khoản thấp như trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu Các tổ chức này cũng dễ tiếp cận khách hàng và phát triển các nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư hoặc các nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán Luật Kinh doanh bảo hiểm ra đời là điều kiện căn bản để các tổ chức này phát triển các hoạt động nói chung và các hoạt động kinh doanh chứng khoán nói riêng
2.3.1.4 Luật chứng khoán
Luật chứng khoán ra đời 29/6/2006 là một văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết về chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết chứng khoán, kinh doanh chứng khoán, đầu tư chứng khoán, dịch
vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán Luật và nghị định cũng quy định chi tiết về các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán như: Công ty chứng
Trang 26khoán, công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán,
ngân hàng giám sát…
Về khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng: Luật quy định cụ thể
việc chào bán chứng khoán ra công chúng là quá trình bắt đầu từ việc tổ chức phát
hành chào mời người đầu tư mua chứng khoán của mình và kết thúc bằng việc phát
hành chứng khoán Để bảo vệ công chúng đầu tư và qua đó duy trì lòng tin đối với
thị trường chứng khoán, luật pháp về chứng khoán trên thế giới đều có những quy
định quản lý hoạt động này, chủ yếu thông qua việc yêu cầu và giám sát tổ chức
phát hành thực hiện công bố thông tin ngay từ khi bắt đầu chào mời công chúng đầu
tư mua chứng khoán Các văn bản trước đây như Nghị định 48/1998 và 144/2003 đã
sử dụng khái niệm “phát hành chứng khoán ra công chúng” là chưa phù hợp với
chuẩn mực quốc tế và trong thực tiễn đã tạo nên nhiều kẽ hở để các tổ chức phát
hành lách luật, thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng mà không công khai
thông tin theo quy định (Với lý do là khi chào bán, họ chưa biết là sẽ dẫn đến việc
phát hành ra công chúng hay không)
Vì vậy, Luật chứng khoán sử dụng khái niệm “chào bán chứng khoán ra công
chúng” thay cho khái niệm “phát hành chứng khoán ra công chúng” của các Nghị
định 48/1998 và 144/2003 để điều chỉnh bất kỳ hành vi chào mời, bán hay phát
hành chứng khoán cho công chúng Như vậy, khái niệm “chào bán chứng khoán ra
công chúng” liên quan chặt chẽ đến phạm vi điều chỉnh của Luật trong lĩnh vực
chào bán và phát hành chứng khoán, góp phần khắc phục một trong những trở ngại
cơ bản đối với sự phát triển của thị trường chính thức hiện nay, đó là sự thiếu đồng
bộ trong luật pháp điều chỉnh việc chào bán chứng khoán ra công chúng của các loại
hình doanh nghiệp
Về điều kiện và đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng: Theo nguyên
tắc, việc chào bán chứng khoán ra công chúng của mọi loại hình doanh nghiệp phải
tuân thủ Luật chứng khoán Các tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng phải
đáp ứng đủ điều kiện quy định Luật chứng khoán ủy quyền cho Chính phủ quy
định điều kiện chào bán ra công chúng đối với Doanh nghiệp nhà nước (DNNN),
44
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần, doanh nghiệp mới thành lập thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao, chào bán chứng khoán ra nước ngoài và các trường hợp cụ thể khác để phù hợp với thực tế và chủ trương, chính sách của nhà nước trong từng thời kỳ
Việc chào bán chứng khoán ra công chúng phải được đăng ký với UBCKNN Trường hợp DNNN chuyển đổi thành công ty cổ phần thực hiện chào bán cổ phiếu
ra công chúng được miễn trừ nghĩa vụ đăng ký nhưng phải thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ công bố thông tin và chịu sự giám sát của cơ quan quản lý chuyên ngành Việc đăng ký với UBCKNN không phải là để cấp phép mà chỉ là để kiểm tra tính đầy đủ
và hợp lệ của hồ sơ trước khi tuyên bố việc đăng ký có hiệu lực
Về phương thức quản lý chào bán chứng khoán ra công chúng: Theo Luật
chứng khoán thì quản lý việc đăng ký chào bán chứng khoán tại Việt Nam là sự kết hợp cả hai mô hình, mô hình quản lý phát hành chứng khoán của Nghị định 48/1998
là cấp phép căn cứ vào các tiêu chuẩn cụ thể Mô hình quy định tại Nghị định 144/2003 về cơ bản là quản lý theo chất lượng, tuy đã bước đầu chuyển sang chế độ đăng ký Trên thế giới đây là hai mô hình quản lý phổ biến đối với việc chào bán chứng khoán ra công chúng: Quản lý trên cở sở xem xét điều kiện, tiêu chuẩn của tổ chức phát hành (còn gọi là quản lý theo chất lượng) và chế độ đăng ký trên cơ sở công bố thông tin đầy đủ, không có quy định về điều kiện cụ thể
Mô hình quản lý theo công bố thông tin đầy đủ đòi hỏi các chuẩn mực công
bố thông tin phải rõ ràng, các tổ chức phát hành ý thức được trách nhiệm công bố thông tin đầy đủ và chính xác, các tổ chức trung gian trên thị trường có đủ năng lực chuyên môn và chịu trách nhiệm trước pháp luật trong hoạt động kiểm toán, tư vấn
và đưa ra ý kiến đánh giá về tổ chức phát hành trong các tài liệu công bố thông tin Trên những cơ sở đó, người đầu tư tự cân nhắc và ra quyết định đầu tư Trách nhiệm của Cơ quan quản lý Nhà nước là quy định các chuẩn mực công bố thông tin
và giám sát việc công bố thông tin theo đúng quy định
Trang 27Trong khi đó, mô hình quản lý theo chất lượng đặt ra một số điều kiện đối
với Tổ chức phát hành và cơ quan quản lý là người đánh giá sự “xứng đáng” của Tổ
chức phát hành cũng như mức độ công bố thông tin cần thiết
Tuy nhiên, khi thị trường phát triển đến một mức độ nhất định, chế độ cấp
phép sẽ ít mang tính thị trường và là gánh nặng đối với cơ quan quản lý; hơn nữa
các điều kiện đặt ra cho Tổ chức phát hành chứng khoán dễ bị lạc hậu theo thời gian
và gây trở ngại cho hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Vì vậy, hầu hết
các nước phát triển hoặc các nước mới xây dựng thị trường sau này đều quản lý việc
chào bán chứng khoán theo chế độ công bố thông tin đầy đủ Ví dụ như Mỹ, Nhật,
Ba-lan…
Quản lý theo chế độ công bố thông tin đầy đủ cũng chính là một trong những
nguyên tắc cơ bản của Tổ chức các Uỷ ban chứng khoán quốc tế (IOSCO) mà Việt
nam là một thành viên Nội dung của nguyên tắc đó là tổ chức phát hành phải công
bố đầy đủ các thông tin quan trọng đối với việc ra quyết định của người đầu tư và
hoạt động quản lý cần đảm bảo tính đầy đủ và chính xác của thông tin Việc bảo vệ
người đầu tư dựa trên cơ sở công bố thông tin chứ không dựa trên bất kỳ sự bảo
đảm nào từ phía cơ quan quản lý
Trước đây, khi thị trường chứng khoán mới ra đời, việc quản lý theo chế độ
cấp phép có điều kiện là hợp lý, do người đầu tư chưa quen với các hoạt động của
TTCK, cơ quan quản lý cũng như các tổ chức trung gian trên thị trường chưa có
kinh nghiệm, khung pháp lý chưa đầy đủ Việc đặt ra các điều kiện sẽ loại bỏ ngay
từ đầu các công ty quá nhỏ, không có triển vọng phát triển và có thể làm mất lòng
tin của người đầu tư đối với các tổ chức phát hành
Sau hơn bảy năm hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức
ở Việt Nam, nhận thức về TTCK trong công chúng đã được nâng lên, các tổ chức
trung gian trên thị trường đang phát triển mạnh mẽ, nhưng về cơ bản thị trường vẫn
kém phát triển; hệ thống luật pháp còn chưa hoàn chỉnh và chưa đồng bộ; các tổ
chức phát hành chưa ý thức đầy đủ nghĩa vụ Công bố thông tin trong một bối cảnh
chung của nền kinh tế còn rất thiếu minh bạch Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay,
46
việc lựa chọn mô hình quản lý một mặt cần đáp ứng yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế cũng như yêu cầu về cải cách hành chính là quản lý theo hướng thị trường, mặt khác phải căn cứ vào mức độ phát triển của thị trường Xuất phát từ những lý
do đó mà luật chứng khoán đã quy định việc quản lý chủ yếu là trên cơ sở công bố thông tin đầy đủ có kết hợp với quy định một số điều kiện cụ thể nhằm ngăn ngừa những tổ chức phát hành quá nhỏ, không đủ uy tín để huy động vốn trên TTCK Như vậy, các trung gian tài chính có thể thực hiện việc phát hành chứng khoán cho mình, đại lý, bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán cho khách hàng
Về hình thức bảo lãnh phát hành cổ phiếu: Theo quyết định QĐ
27/2007/BTC chỉ có công ty chứng khoán có mức vốn pháp định từ 165 tỷ đồng trở lên và có thực hiện nghiệp vụ tự doanh mới được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh Và
Về phát hành trái phiếu ra công chúng: Luật chứng khoán quy định bắt buộc
cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác Hoạt động phát hành trái phiếu còn được quy định cụ thể theo Nghị định 52/2006/NĐ-CP Theo đó, chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ là các doanh nghiệp Nhà nước như trước đây mà còn có các công ty Trách nhiệm hữu hạn
Trang 28(TNHH), công ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với một
nguyên tắc chung là các doanh nghiệp phải tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm và
công khai minh bạch thông tin
Về niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán: Điều kiện về vốn
tại thời điểm đăng ký niêm yết là từ 80 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế
toán Điều kiện về vốn để niêm yết trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán là vốn
điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị
ghi trên sổ kế toán
Tổ chức đã niêm yết tại TTGDCK Tp.HCM trước khi Nghị định
14/2007/NĐ-CP có hiệu lực, nếu không đáp ứng đủ các điều kiện niêm yết tại Sở
Giao dịch chứng khoán quy định tại Nghị định này, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành phải điều chỉnh để đáp ứng đủ điều kiện niêm
yết tại Sở Giao dịch chứng khoán
Về vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán,
công ty quản lý quỹ: Luật và nghị định hướng dẫn cũng quy định cụ thể, theo đó,
vốn pháp định cho nghiệp vụ môi giới là 25 tỷ đồng, tự doanh: 100 tỷ đồng, bảo
lãnh phát hành: 165 tỷ đồng và tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Mức vốn
pháp định của công ty quản lý quỹ tối thiểu là 25 tỷ đồng Bộ Tài chính quy định cụ
thể mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ dựa trên quy mô vốn được uỷ thác
quản lý
Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đã được cấp giấy phép hoạt động
kinh doanh chứng khoán mà không đáp ứng đủ điều kiện về vốn pháp định theo quy
định tại Nghị định này phải làm thủ tục tăng vốn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày
Nghị định có hiệu lực thi hành
Ngoài ra, Luật cũng quy định về các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán, việc
thành lập quỹ đầu tư chứng khoán, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, đại hội các
nhà đầu tư Thêm vào đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường, đa dạng
hóa các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán, Luật Chứng khoán quy định về thành
lập, tổ chức và hoạt động của công ty đầu tư chứng khoán (thực chất là Quỹ Đầu tư
48
chứng khoán dạng pháp nhân) được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần để đầu tư vào chứng khoán Công ty đầu tư chứng khoán dạng này là loại hình công ty mới, hiện chưa được thành lập ở Việt Nam Tổ chức và bộ máy của loại hình công ty này mang tính đặc thù cao, do vậy, trong luật chỉ quy định những nguyên tắc cơ bản về việc thành lập và hoạt động của nó, còn các nội dụng cụ thể sẽ do Chính phủ hướng dẫn để đảm bảo tính thực thi và phù hợp với thực tế Về ngân hàng giám sát, luật không đặt ra các quy định về cấp phép đối với ngân hàng giám sát mà chỉ quy định ngân hàng giám sát thực hiện giám sát việc quản lý quỹ đại chúng khi có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán
Hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, sự phát triển các tổ chức tài chính theo hướng đa năng, khuyến khích cạnh tranh, chống độc quyền và phân biệt đối xử
là một xu hướng có tính tất yếu Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế và các cam kết của WTO, việc phát triển các tổ chức tài chính theo hướng đa năng đã được Đảng và Nhà nước đặt ra trong giai đoạn trước mắt, do đó, cần phải xoá bỏ các phân biệt đối xử, các rào cản trong hệ thống pháp luật Theo luật quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán độc lập và công ty này phải được Uỷ ban chứng khoán cấp phép Việc thực hiện mô hình tổ chức tín dụng đa năng một phần làm cho các tổ chức này không tận dụng triệt để lợi thế về cơ sở vật chất, trang bị,
hệ thống chi nhánh, đội ngũ cán bộ cũng như gây trùng chéo về tổ chức và hoạt động
Sự tham gia của các tổ chức tài chính nước ngoài trên thị trường chứng
khoán Việt Nam được quy định trong quyết định số 238/2005/QĐ-TTg: Tối đa 49% tổng số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch của một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Đối với tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần theo Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm
2003 thì tổng số cổ phiếu niêm yết là số cổ phiếu phát hành ra công chúng theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt Tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ
Trang 29đầu tư niêm yết, đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán và không giới
hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành Đối với lĩnh
vực Ngân hàng theo Nghị định 69/2007/NĐ-CP: Mức sở hữu cổ phần của một tổ
chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan của tổ chức tín dụng nước ngoài đó
không vượt quá 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Mức sở hữu cổ
phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư
chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt
Nam Trường hợp đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ căn cứ đề nghị của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, quyết định mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược
nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó vượt quá
15%, nhưng không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam
Những quy định cụ thể này đã tăng tính minh bạch cho thị trường góp phần hướng
dẫn và khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài trong đó có nhiều tổ chức trung gian tài
chính tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Tóm lại, qua việc phân tích các văn bản pháp lý liên quan tới hoạt động của
các trung gian tài chính trên TTCK, có thể thấy rằng trong thời gian qua, Việt Nam
đã có nhiều cố gắng trong việc soạn thảo, phê chuẩn và ban hành các văn bản pháp
luật để điều chỉnh các hoạt động theo kịp với sự thay đổi của môi trường kinh tế
Điều này đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và
các trung gian tài chính nói riêng trong xu thế hội nhập quốc tế về thị trường chứng
khoán Tiếp theo chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về các hoạt động của các trung
gian tài chính trên thị trường chứng khoán
2.3.2 Hoạt động phát hành chứng khoán
Như đã phân tích ở phần trước, TTCK chính là nơi cung cấp vốn quan trọng
cho các doanh nghiệp, trong đó có các trung gian tài chính Trong một thời gian
qua, cùng với sự tăng trưởng vượt bậc của TTCK, các trung gian tài chính đã huy
động được hàng trăm ngàn tỷ đồng qua TTCK, trong đó chủ yếu dưới hình thức
phát hành cổ phiếu, trái phiếu Các trung gian tài chính là đối tượng huy động vốn
quan trọng trên thị trường Các chứng khoán được phát hành bởi các trung gian tài
50
chính Việt Nam được xem là các chứng khoán có chất lượng cao và có sức thu hút lớn Đặc biệt, chứng chỉ quỹ đầu tư được xem là loại công cụ tích tụ, tập trung vốn quan trọng của các thị trường phát triển
Trong hơn bảy năm phát triển của thị trường, hoạt động phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) và phát hành thêm chứng khoán huy động vốn của các trung gian tài chính đặc biệt sôi động và đáng kể trong năm 2007 Trong năm 2007, UBCK đã chấp thuận đăng ký chào bán hơn 2,68 tỷ cổ phiếu ra công chúng cho 192 công ty, thu về trên 50.000 tỷ đồng; 3,968 triệu trái phiếu cho 4 ngân hàng TMCP, thu về 4.250 tỷ đồng Tính chung cả hoạt động phát hành và đấu giá trên thị trường tập trung, số tiền mà các doanh nghiệp huy động được là gần 100.000 tỷ đồng, gấp gần 3 lần năm 2006 [43]
Năm 2007 đã diễn ra một số cuộc đấu giá và IPO của các trung gian tài chính lớn với số lượng cổ phần chào bán kỷ lục trong bảy năm lịch sử hoạt động của TTCK với một số tên tuổi tiêu biểu sau:
Bảng 2.7 Một số cuộc đấu giá và IPO lớn của các Trung gian tài chính
năm 2007
Tên doanh nghiệp
Vốn điều lệ (triệu đồng)
Số lƣợng cổ phần đấu giá
Giá trúng thầu bình quân (đồng)
Vốn huy động (tỷ đồng)
Thời gian đấu giá
Tập đoàn Bảo
Tài chính dầu khí
5.000 59.638.900 69.974 4.130 19/10/07
Vietcombank 15.000 97.500.000 107.680 10.490 26/12/07
Nguồn: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Hàng loạt Ngân hàng thương mại cũng đã phát hành trái phiếu và cổ phiếu thu hút được lượng vốn khổng lồ từ TTCK trong đó có thể kể đến như:
NHTM cổ phần Nhà Hà Nội phát hành 60 triệu cổ phiếu để chia cổ tức cho
cổ đông, bán cho cổ đông hiện hữu, bán cho cổ đông chiến lược Deutsche Bank của Đức và bán cho cán bộ nhân viên, tương ứng tổng số vốn trên 1.000 tỷ đồng vào
Trang 30tháng 11/2007 NHTM cổ phần Quân đội (MB) cũng phát hành 45,28 triệu cổ
phiếu, mệnh giá 10.000 đồng và giá bán là 15.000 đồng, tăng vốn điều lệ từ 1.547,2
tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng, cổ đông được mua với tỷ lệ 28% vào 12/2007 NHTM cổ
phần Quốc tế (VIB) phát hành 500 tỷ đồng tăng vốn từ 1.500 tỷ đồng lên 2.000 tỷ
đồng, cổ đông hiện hữu được mua với tỷ lệ 32,66% vào tháng 12/2007 NHTM cổ
phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (VP Bank) cũng phát hành 500 tỷ đồng cổ
phiếu để tăng vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng, cổ đông hiện hữu
được mua với tỷ lệ 31,67% vào tháng 12/2007 Cổ đông hiện hữu của NHTM cổ
phần Kỹ thương (Techcombank) cũng được mua cổ phiếu mới với tỷ lệ 43%, thực
hiện kế hoạch tăng thêm gần 1.000 tỷ đồng vốn điều lệ vào tháng 12/2007 NHTM
cổ phần Đông Á (EAB) phát hành 200 tỷ đồng vốn điều lệ bán với giá gấp 6 lần
mệnh giá để tăng vốn điều lệ từ 1.400 tỷ đồng lên 1.600 tỷ đồng, vào tháng
11/2007 Tổng số vốn dự kiến cổ đông phải nộp trong đợt này là 1.200 tỷ
đồng NHTM cổ phần Á châu (ACB) đấu giá 100 tỷ đồng vốn cổ phần, nếu với giá
bán bình quân là 190.000 đồng/cổ phiếu, thu về số vốn 1.900 tỷ đồng Ngân hàng
Standard Chartered Bank của Anh trả giá tới 200.000 đồng/cổ phiếu để sở hữu 30 tỷ
đồng vốn điều lệ của ACB, còn lại 70 tỷ đồng được bán cho các đối tác trong nước
cũng theo hình thức đấu giá NHTM cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB) cũng phát
hành cổ phiếu mới cho cổ đông với tỷ lệ được mua 1 mua thêm 1,4 (1:1,4), ước tính
cũng thu hút khoảng 1.000 tỷ đồng NHTM cổ phần Phát triển nhà TP.HCM phát
hành thêm 50 triệu cổ phiếu, tương đương 500 tỷ đồng, tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ
đồng[44]
Các công ty chứng khoán cũng không chịu thua kém khối NHTM cổ phần
với những đợt phát hành cổ phiếu lớn như Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI) công
bố kế hoạch thực hiện 3 đợt phát hành cổ phiếu mới tăng vốn Đợt 1 chia cổ phiếu
thưởng cho cổ đông với tỷ lệ 2:1, thực hiện trong tháng 12/2007; đồng thời tiến
hành chuyển đổi 1,66 triệu trái phiếu thành 16,6 triệu cổ phiếu phổ thông; tổng cộng
sẽ có khoảng 56,4 triệu cổ phiếu SSI xuất hiện trên thị trường tương ứng với số vốn
52
huy động hơn 560 tỷ đồng Công ty chứng khoán Bảo Việt bán 30 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, nếu bằng mệnh giá thì số tiền tương ứng là 300 tỷ đồng Các công ty bảo hiểm cũng không nằm ngoài xu thế chung với những đợt phá hành chứng khoán như: Bảo Minh (BMI), Tái bảo hiểm Quốc gia (VNR), Bảo hiểm Dầu khí (PVI)… Quỹ đầu tư công chúng niêm yết trên thị trường, VFMVF1 cũng đã phát hành tăng vốn điều lệ từ 500 tỷ lên 1000 tỷ đồng[42]
Như vậy trong hơn 7 năm phát triển, TTCK đã thực sự trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế, đặc biệt là trong năm 2007 với những đợt phát hành chứng khoán có số lượng và giá trị lớn trong đó có nhiều trung gian tài chính Tuy vậy việc thúc đẩy các trung gian tài chính huy động vốn trên TTCK là giải pháp quan trọng để tăng vốn chủ sở hữu, tăng vốn hoạt động, tăng cường tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập tài chính quốc tế, đồng thời, qua việc phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính sẽ cung cấp các hàng hoá có chất lượng cho TTCK Việt Nam
2.3.3 Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán
Đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc các trung gian tài chính hỗ trợ cho các tổ chức phát hành trong việc thực hiện các thủ tục và thực hiện phân phối chứng khoán tới công chúng đầu tư Nghiệp vụ này mang lại thu nhập cho các trung gian tài chính dưới dạng hoa hồng và có thể cả chênh lệch giá chứng khoán khi trung gian thực hiện bảo lãnh cam kết chắc chắn và bao tiêu chứng khoán Việc
mở rộng hoạt động này phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu phát hành chứng khoán của các tổ chức phát hành
Nhu cầu vốn của Chính phủ, các doanh nghiệp và của chính các trung gian tài chính Việt Nam là rất lớn, mở ra một tiềm năng lớn cho các trung gian tài chính thực hiện nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành
2.3.3.1 Hoạt động bảo lãnh, phát hành trái phiếu chính phủ
Những năm trước đây (2000), việc huy động vốn của Chính phủ chủ yếu thông qua hai phương thức bán lẻ tại các đơn vị kho bạc và đấu thầu qua ngân hàng nhà nước Hai phương thức huy động vốn này đã đáp ứng nhiệm vụ huy động vốn
Trang 31trong giai đoạn đầu khi thị trường vốn chưa phát triển nhưng nó cũng bộc lộ những
hạn chế nhất định: khối lượng thấp, kỳ hạn ngắn không phù hợp với nhu cầu sử
dụng vốn
Từ năm 2000, khi TTGDCK đi vào hoạt động đã mở ra hai kênh huy động
vốn mới là đấu thầu qua TTGDCK và bảo lãnh phát hành Tuy nhiên, việc đấu thầu,
bảo lãnh phát hành Trái phiếu Chính phủ (TPCP) trong giai đoạn này (trước tháng
6/2007) đã hình thành hơn 200 loại TPCP khác nhau cả về ngày thanh toán và lãi
suất danh nghĩa nên tính thanh khoản của trái phiếu rất thấp, dẫn đến khối lượng
TPCP giao dịch trên thị trường là không đáng kể, thậm chí có nhiều loại bị đóng
băng Từ thực tế trên đây, năm 2007 Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã triển khai đề án
phát hành TPCP lô lớn Cách làm này sẽ tạo thuận lợi cho các cơ quan quản lý cũng
như các nhà đầu tư trong quá trình quản lý phát hành, giao dịch thanh toán Việc
phát hành TPCP lô lớn đã nâng cao tính thanh khoản của TPCP, từ đó tăng khả
năng huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) và cho đầu tư phát triển, tiết
kiệm chi phí cho ngân sách Thực tế phát hành TPCP lô lớn đã giảm số lượng các
loại TPCP lưu hành trên thị trường, giúp các nhà đầu tư cũng như các tổ chức trung
gian dễ theo dõi, nắm bắt diễn biến về giá của các loại TPCP Ðây là cơ sở cho việc
đặt giá mua, bán Mặt khác, với khối lượng phát hành lớn đã tạo điều kiện cho nhiều
nhà đầu tư cùng sở hữu một loại trái phiếu, làm cho tính khả mại của trái phiếu tăng
lên, từ đó thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, nên Chính phủ có thể huy động
một khối lượng vốn lớn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, tiết kiệm được chi phí
vay nợ
Khi giao dịch trên thị trường thứ cấp nó sẽ được coi là trái phiếu chuẩn và lãi
suất của trái phiếu này là lãi suất chuẩn để các công cụ nợ khác trên thị trường tham
chiếu, góp phần hình thành đường cong lãi suất chuẩn Hiện nay, cách thức phát
hành TPCP theo lô lớn là phù hợp với thông lệ của các nước có thị trường vốn phát
triển, tạo điều kiện hội nhập với thị trường vốn khu vực và quốc tế trong thời gian
tới
54
Từ kết quả bước đầu cho thấy phát hành TPCP theo lô lớn đã góp phần phát triển thị trường chứng khoán, chủ động và nâng cao hiệu quả huy động vốn của KBNN, giảm bớt chi phí cho ngân sách
Ðể đạt được kết quả cao thì vai trò của các trung gian tài chính trong vai trò bảo lãnh phát hành và với chức năng là hệ thống đại lý cấp I là hết sức quan trọng, góp phần tích cực cho sự thành công của việc phát hành trái phiếu Chính phủ
2.3.3.2 Hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trong những năm qua, hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên TTCK đang từng bước phát triển Các trung gian tài chính đã bảo lãnh phát hành trái phiếu thành công cho một số Tổng công ty và các doanh nghiệp, các đợt bảo lãnh chủ yếu trong năm 2006 và 2007, huy động được nguồn vốn đáng kể từ TTCK, tiêu biểu là một số đợt phát hành trái phiếu như:
Ngân hàng Quốc tế và Công ty Chứng khoán Bảo Việt sẽ bảo lãnh phát hành trái phiếu của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam với tổng giá trị bảo lãnh là 600 tỷ đồng (1/9/2006) Ngày 27/3/2007, CTCK Habubank phát hành 500 tỷ đồng trái phiếu cho Tổng công ty lắp máy Việt Nam Ngày 10/5/2007, Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tư vấn
và bảo lãnh phát hành và bảo lãnh thanh toán trái phiếu cho Tổng công ty Thép Việt Nam tương đương giá trị 400 tỷ đồng Ngày 16/7/2007, Ngân hàng Quốc tế và Công ty chứng khoán Quốc tế công bố đã phát hành thành công 500 tỷ đồng trái phiếu của Công ty cổ phần đầu tư hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (CII) Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình là đơn vị tư vấn, đại lý phát hành và đại lý thanh toán, bảo lãnh phát hành và phát hành 720 tỷ đồng trái phiếu của Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực vào tháng 07/2007 Ngày 26/12/2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam và Công ty CP Chứng khoán Âu Việt là hai đơn vị làm đại lý và bảo lãnh phát hành trái phiếu cho CTCP Thủy hải sản Minh Phú với tổng giá trị bảo lãnh phát hành trái phiếu: 500 tỷ đồng [12]
Việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp tuy phát triển nhanh nhưng đến nay quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá nhỏ với tổng
Trang 32giá trị khoảng 16 ngàn tỷ đồng, tương đương với 1,5% GDP [12], chưa tương xứng
với nhu cầu vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Hiện nay, Chính phủ khuyến
khích các doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp trên thị trường chứng khoán, hạn
chế sự phụ thuộc quá mức vào cấp vốn qua kênh tín dụng và phát hành trái phiếu là
một hình thức nhiều tiềm năng và do đó hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu của
các Trung gian tài chính (Công ty chứng khoán) còn nhiều cơ hội phát triển
2.3.3.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành cổ phiếu
Luật Chứng khoán hiện nay quy định các Doanh nghiệp khi tiến hành phát
hành cổ phiếu phải có một tổ chức tài chính tư vấn chứ không bắt buộc phải có một
đơn vị bảo lãnh cho đợt phát hành này Nếu luật bắt buộc phải có bảo lãnh phát
hành thì Nhà đầu tư có thể an tâm bởi giá cổ phiếu đó đã được bảo chứng và ở một
chừng mực nào đó sẽ trở nên chuẩn hơn; tình trạng IPO không thành công và phát
hành cổ phiếu phải chào bán lại, chào bán lần hai đã không xảy ra Tuy nhiên hiện
nay chỉ có một số đợt phát hành của các doanh nghiệp có công ty chứng khoán và
ngân hàng được phép đứng ra bảo lãnh Vì quy định theo pháp luật là chưa bắt buộc
nên bảo lãnh phát hành cổ phiếu chưa thực sự sôi động
2.3.4 Hoạt động kinh doanh chứng khoán
Hoạt động kinh doanh chứng khoán như kinh doanh trái phiếu, sản phẩm
phái sinh, cho vay chứng khoán, môi giới, tự doanh rất phát triển trong hơn hai năm
qua Về hoạt động kinh doanh trái phiếu, thực chất là hoạt động chiết khấu, tạo
thanh khoản cho thị trường Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh trái phiếu, công trái
với các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng có tiềm năng phát triển lớn, nhưng chưa được tổ
chức thật sự chuyên nghiệp Một ưu điểm nữa của hình thức kinh doanh này là
không bị giới hạn bởi thời gian giao dịch của thị trường chứng khoán tập trung Về
sản phẩm phái sinh, các NHTM thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ
hạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường
Ở đây, sự kết hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị trường chứng khoán
sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm
rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản của thị trường Về hoạt động cho vay chứng
56
khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát triển Nghiệp vụ cho vay chứng khoán giữa các trung gian tài chính có phạm vi rộng cả về danh mục chứng khoán Việc cho vay chứng khoán thực sự góp phần làm tăng tính thanh khoản của thị trường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối với các trung gian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh chứng khoán Cho vay giữa các trung gian tài chính và các nhà đầu tư trong thời gian qua cũng rất phát triển, tuy nhiên hoạt động này cũng hàm chứa nhiều rủi ro với thị trường chứng khoán cũng như thị trường tiền tệ với sự biến động bất thường về giá chứng khoán
Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các Công ty chứng khoán tiêu biểu
là hoạt động môi giới chứng khoán và hoạt động tự doanh chứng khoán
Hoạt động môi giới chứng khoán rất phát triển trong thời gian qua, tính đến hết năm 2007, số tài khoản giao dịch chứng khoán tại các CTCK đạt trên 300 nghìn tài khoản Tổng giá trị giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư đạt hàng ngàn tỷ đồng mỗi phiên giao dịch mang lại mức thu phí lớn cho các công ty chứng khoán
Bảng 2.8 Giá trị giao dịch chứng khoán qua các năm
Số lượng TKNĐT 2.908 8.774 13.520 15.735 21.616 31.316 95.000 300.000 Tổng giá trị
giao dịch (tỷ đồng)
92 1.033 1.087 2.998 19.887 27.100 42.000 268.000
Nguồn: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Về hoạt động tự doanh, tổng giá trị chứng khoán tự doanh tính tại thời điểm ngày 30/6/2007 đạt 9.667 tỷ đồng (tăng 4.671 tỷ đồng, tương đương 48,31% so với thời điểm 01/01/2007) Đối với 14 CTCK đã hoạt động lâu năm, giá trị chứng khoán tự doanh tính tại thời điểm ngày 30/6/2007 đạt 5.997 tỷ đồng (tăng 1.000 tỷ đồng, tương đương 16,69% so với giá trị ngày 01/1/2007) Một số công ty có giá trị
tự doanh cuối kỳ tăng khá nhanh và đạt giá trị cao Đối với khối CTCK được cấp phép vào cuối năm 2006, tại thời điểm đầu kỳ, giá trị tự doanh không đáng kể vì công ty chưa triển khai hoạt động thì đến thời điểm 30/6/2007, giá trị chứng khoán
Trang 33tự doanh của khối công ty này đạt 3.345 tỷ đồng (chiếm 35,63% giá trị tự doanh của
59 CTCK) Một số công ty đã đẩy nhanh nghiệp vụ tự doanh mặc dù hoạt động
chưa lâu như: CTCK Ngân hàng Sacombank (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 571
tỷ đồng), CTCK Vndirect (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 587 tỷ đồng), CTCK
Ngân hàng Đông Nam Á (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 458 tỷ đồng)[43]
Hoạt động kinh doanh của các quỹ đầu tư trên thị trường với sự xuất hiện
ngày càng nhiều các quỹ đầu tư khiến thị trường tài chính Việt Nam trở nên sôi
động Các Quỹ đầu tư luôn là địa chỉ tốt để các công ty có nhu cầu tăng vốn chủ sở
hữu tìm đến, không phải chỉ vì họ là người có nguồn tài chính dồi dào mà hơn thế
nữa, sự có mặt của họ với tư cách là cổ đông lớn sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu công
ty Các quỹ đầu tư kinh doanh chứng khoán trên thị trường đã làm tăng thêm tính
chuyên nghiệp và góp phần bình ổn thị trường Tuy nhiên việc quản lý dòng vốn
đầu tư của các quỹ đầu tư đặc biệt là nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài trên
thị trường chứng khoán là vô cùng quan trọng trong việc đối phó với những tác
động của luồng ngoại tệ vào nền kinh tế, đặc biệt là lượng vốn ngắn hạn
Tóm lại, hoạt động kinh doanh chứng khoán là một trong những hoạt động
có vai trò lớn của các trung gian tài chính Việt Nam Các trung gian tài chính đã thu
hút và cũng đầu tư hàng ngàn tỷ đồng trên TTCK và các tổ chức này đều có danh
mục đầu tư chứng khoán khá quy mô Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các
trung gian tài chính đã làm sôi động hóa thị trường thứ cấp và đã đưa TTCK Việt
Nam trong thời gian qua phát triển lên một mức mới, thu hút được một lượng lớn
nhà đầu tư trên thị trường và quảng bá những hiểu biết về thị trường chứng khoán,
một phần quan trọng của thị trường vốn cũng như của thị trường tài chính quốc gia
Qua đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính trong nước đưa nền tài chính
từng bước hội nhập thị trường tài chính quốc tế
2.3.5 Hoạt động tƣ vấn niêm yết, đầu tƣ chứng khoán
Về hoạt động tư vấn đầu tư, mảng hoạt động này nhìn chung đã tiến triển với
số hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán của các công ty tăng dần theo thời gian
Điều này cho thấy trong sự phát triển, các CTCK đang dần chuyển sang hướng quan
58
tâm, chú trọng hơn đến hoạt động chăm sóc khách hàng Tuy nhiên, so với trên 300.000 tài khoản giao dịch chứng khoán tại các CTCK hiện nay, số hợp đồng tư vấn đầu tư vẫn là chưa đáng kể và tiềm năng để các CTCK phát triển mảng hoạt động này là không nhỏ
Về hoạt động tư vấn niêm yết, với tổng số công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ tại SGDCK Tp.HCM và TTGDCK Hà nội là 284 (SGDCK Tp.HCM 154, TTGDCK Hà Nội 130) thì số hợp đồng tư vấn niêm yết của các công ty chứng khoán cũng tương ứng Quá trình cổ phần hóa đang diễn ra mạnh mẽ và xu hướng
cổ phần hóa gắn liền với niêm yết cổ phiếu sẽ làm cho hoạt động tư vấn niêm yết của của các CTCK có nhiều tiềm năng phát triển
Nhìn chung, hoạt động tư vấn đã có những phát triển rất đáng kể trong một vài năm qua Không chỉ những công ty chứng khoán đã hoạt động lâu năm mà những công ty mới được cấp phép cũng đã triển khai hoạt động này khá tốt Hoạt động tư vấn của các công ty chứng khoán đã góp phần tăng thêm số lượng hàng hóa niêm yết trên thị trường và tăng tính chuyên nghiệp trong đầu tư trên thị trường
chứng khoán
2.3.6 Các hoạt động khác
Trong hoạt động thanh toán trên thị trường chứng khoán, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam được chỉ định là Ngân hàng thanh toán Việc phát triển hệ thống thanh toán và lưu ký đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo giao dịch của thị trường chính thức
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam còn thực hiện các dịch vụ cho các thành viên lưu ký như dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ nối mạng và cung cấp phần mềm, dịch vụ cung cấp thông tin, cho vay để giải quyết tình trạng tạm thời mất khả năng thanh toán Hiện nay, thời hạn thanh toán chứng khoán là 3 ngày làm việc Trung tâm giao dịch chứng khoán và Ngân hàng chỉ định thanh toán
đã thực hiện các biện pháp tích cực để đảm bảo hoạt động thanh toán diễn ra thông suốt và đảm bảo an toàn, kịp thời
2.4 Đánh giá hoạt động của các trung gian tài chính trên TTCK Việt Nam