Loại hình thức hoạt động đầu tư này được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như việc mua chứng chỉ, đơn giá, trái phiếu, tín phiếu, cổ Vốn tín dụng đầu tư xây dựng nước ngoài: là n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
š&›
PHOM MA SEN BOUN MA
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở TỈNH XÊ KÔNG
NƯỚC CHDCND LÀO
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Mã số: 60.31.12 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS Trần Hoàng Ngân
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011
Trang 48. Nghị định số 374/TTg, ngày 22/10/2007 của Thủ tướng chính Phủ nước CHDCND Lào về tổ chức và hoạt động của của Bộ kế hoạch và đầu tư.
9. Nghị định số 221/TTg, ngày 17/08/2007 của Thủ tướng chính Phủ nước CHDCND Lào về việc thực hiện kế hoạch phát triển KTXH và NSNN năm 20072008.
10.Nghị định số 145/TTg, ngày 22/10/2007 của Thủ tướng chính Phủ nước CHDCND Lào về việc thực hiện kế hoạch phát triển KTXH và NSNN năm 20082009.
11.Thông tư 58/TC của Bộ tài chính Nước CHDCND Lào, ngày 22/5/2002
về việc hướng dẫn quản lý, cấp phát vốn đầu tư từ NSNN.
12.Web site Bộ tài chính Lào:www.mof.gov.la
13.Website Bộ kế hoạch và đầu tư Lào:www.investlaos.gov.la
Trang 5Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN 1
1.1 ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN: 1
1.1.1 Đầu tư: 1
1.1.2 Vốn đầu tư: 5
1.2 QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN 7
1.2.1 Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 7
1.2.3 Yêu cầu quản lý vốn đầu tư từ NSNN 12
1.2.4 Ưu và nhược điểm khi sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN 14
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 14
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN ở Canada15 1.3.2 Kinh nghiệm của Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY ỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN Ở TỈNH XÊ KÔNG – NƯỚC CHDCND LÀO 23
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH XÊ KÔNG 23
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên: 23
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội 24
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN26 2.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN Ở TỈNH XÊ KONG – CHDCND LÀO 28
2.2.1 Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN ở Tỉnh Xê Kông 28
2.2.2 Tình hình quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN cho các dự án31 2.2.4 Tình hình cấp phát và đầu tư từ NSNN cho các công trình 33
2.2.5 Việc nghiệm thu và bàn giao các công trình đầu tư xây dựng do NSNN cấp: 36
2.2.6 Tình hình quản lý quyết toán: 37
2.2.7 Bộ máy quản lý và cán bộ quản lý: 38
2.2.8 Các cơ chế chính sách trong quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản 40
2.3 ĐÁNH GIÁ 42
2.3.1 Kết quả đạt được: 42
2.3.2 Những tồn tại: 44
2.3.3. Nguyên nhân: 46
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN Ở 50
TỈNH XÊ KONG NƯỚC CHDCND LÀO 50
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TỈNH XÊ KONG – CHDCND LÀO 50
3.1.1 Định hướng chung: 50
3.1.2 Mục tiêu đầu tư phát triển của tỉnh đến năm 2015 52
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN 56
3.2.1 Giải pháp về huy động vốn đầu tư 56
3.2.1.1 Tạo nguồn vốn và tăng thu ngân sách 56
3.2.1.2 Thu hút nguồn vốn đầu tư trong tỉnh và trong nước 57
3.2.1.3 Thu hút nguồn vốn đầu tư ngoại Tỉnh và nước ngoài 57
3.2.2 Đổi mới cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN: 58
3.2.2.1 Đổi mới kế hoạch đầu tư 58
3.2.2.2 Đổi mới công tác xác định nhu cầu về vốn: 60
3.2.2.3 Hoàn thiện cơ chế quản lý nguồn vốn 61
3.2.2.4 Cải tiến khâu chuẩn bị và quy trình quản lý vốn đầu tư 62
3.2.2.5 Cải tiến quy trình cấp phát vốn 67
Trang 6Mặt khác, Nhà nước Lào đã và đang có nhiều chính sách đổi mới và tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và vốn từ NSNN nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Tuy nhiên, về quản lý vốn đầu tư còn nhiều vấn đề đang được đặt ra và đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện nhằm không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý trong lĩnh vực này. Chính vì vậy,
Trang 7Thứ ba: đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện để từng bước thực
hiện cơ chế quản lý vốn đầu tư nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội
Trang 8Đầu tư xây dựng cơ bản phải tuân thủ tính hiệu quả theo những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Vậy hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực đều phải xác định được mục tiêu cụ thể về thời gian và không gian trên cơ sở phân tích,
Trang 9cổ phần trong doanh nghiệp sẽ không làm thay đổi vốn của doanh nghiệp.
Nhưng lại có khả năng tạo ra năng lực quản lý và năng lực sản xuất kinh doanh
nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao.
Với hình thức đầu tư này người mua lại mong muốn hoạt động của
doanh nghiệp có hiệu quả cao hơn. Do đó có thể tạo ra những phương thức
quản lý và bước phát triển mới cho doanh nghiệp.
a 2 Đầu tư phát triển:
Đây là hình thức đầu tư quan trọng và chủ yếu nhất, chủ sở hữu vốn đầu
tư gắn liền với hoạt động kinh tế của quá trình đầu tư. Hình thức đầu tư này
nhằm nâng cao năng lực sản xuất hiện có để tạo ra năng lực sản xuất mới về
chất lượng. Đầu tư phát triển chính là hình thức đầu tư tái sản xuất mở rộng.
tỷ lệ điều tiết, tỷ lệ lãi suất và xây dựng các chính sách khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng và ổn định nền kinh tế.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một lĩnh vực của hoạt động đầu tư có tác động rất quan trọng đối với nền kinh tế và góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định để nâng cao sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Mặt khác, đầu tư xây dựng cơ bản là một trong những nhân tố có vai trò tạo nên lực lượng sản xuất ngày càng cao và có trình độ cao hơn.
đạt được về kinh tế xã hội.
a. Đầu tư gián tiếp:
Là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế và người sử dụng vốn không phải là một chủ thể mà người bỏ vốn đó không trực tiếp tham gia vào điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Loại hình thức này người bỏ vốn không cần biết mục tiêu cụ thể của hoạt động đầu tư mà
Trang 10Loại hình thức hoạt động đầu tư này được biểu hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau như việc mua chứng chỉ, đơn giá, trái phiếu, tín phiếu, cổ
Vốn tín dụng đầu tư xây dựng nước ngoài: là nguồn vốn do tổ chức cá nhân ở nước ngoài cho Nhà nước và các doanh nghiệp trong nước vay như ngân hàng thế giới (WB), ADB,… đầu tư cho phát triển kinh tế hoặc đầu tư cho các chương trình khác như phục vụ về mục tiêu y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, phòng chống thiên tai, xoá đói giảm nghèo… Vốn tín dụng nước ngoài
có nhiều hình thức cho vay như cho vay dài hạn, ngắn hạn, trung hạn hoặc cho vay khoảng một thời gian mới trả lãi.
Vốn đầu tư từ NSNN và vốn viện trợ:
Vốn đầu tư từ NSNN và vốn viện trợ thường được tách riêng cho từng công trình, từng dự án đầu tư. Nhưng trong thực tế một dự án cũng có thể có cả phần NSNN và phần vốn viện trợ mà phần vốn viện trợ cũng được Nhà nước quản lý theo luật định giống như vốn NSNN.
Vốn viện trợ thường rất ít, loại vốn này chỉ dành cho những đầu tư nhân đạo như rừng phòng hộ, trường đại học, trạm xá hoặc giao thông miền núi.
Vốn đầu tư tích luỹ của doanh nghiệp:
Đầu tư do vốn tích luỹ của doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì do chủ dự án đầu tư định đoạt mà Nhà nước chỉ quản lý bằng giải pháp thuế. Nhưng ở tỉnh Xê Kông thì loại vốn này thì hầu như chưa
có hoặc có rất ít.
Vốn đầu tư từ nguồn tiết kiệm của tầng lớp dân cư:
Vốn loại này được hình thành từ nhiều hoạt động khai thác khác nhau như là tiết kiệm ngắn hạn, dài hạn, trung hạn, trái phiếu Nhà nước, trái phiếu doanh nghiệp…
Các nguồn vốn huy động ngoài nước cho đầu tư xây dựng cơ bản:
Trang 11thể hiện ở chỗ hiện nay Đảng và Nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế
nhiều thành phần theo cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Để thực hiện tốt các chính sách xã hội thì NSNN phải đầu tư vào các lĩnh vực sau:
Đầu tư cho chương trình xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho các đối tượng nghèo đói hoặc là đối tượng chính sách xã hội.
Đầu tư cho các chương trình khác như cho các đối tượng chính sách xã
hội
Thứ ba: Định hướng phát triển nền kinh tế
Trong việc định hướng phát triển nền kinh tế, ngân sách Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất trong nền kinh
tế, có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội thu nhập quốc dân và có mối quan hệ với tất cả các khâu trong hệ thống tài chính. NSNN không thể tách rời với sự quản lý của Nhà nước, sử dụng ngân sách để thực hiện chức năng và
nhiệm vụ của mình.
1.2.2 Nội dung quản lý vốn đầu tư từ NSNN
Sự vận hành của vốn NSNN trong quá trình đầu tư được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Trang 12và thanh toán.
Cơ chế cấp phát vốn:
Nhà nước quy định chi tiết việc cấp phát vốn khi tiến hành thực hiện: + Quy định đối tượng như điều kiện được cấp phát tạm ứng, mức tạm ứng, thu hồi tạm ứng.
+ Quy định cấp phát theo khối lượng công việc.
+ Quy định chế độ báo cáo, quyết toán, kiểm tra…
Quy trình cấp phát được thực hiện + Theo kế hoạch Nhà nước cấp phát cho chủ đầu tư + Cơ quan quản lý căn cứ vào báo cáo của đơn vị thi công được chủ đầu
tư xác nhận để chuyển số vốn cho đơn vị thi công. Đây là sự phối hợp giữa cơ quan quản lý và chủ đầu tư trong việc cấp phát vốn để nhằm đảm bảo cho tiến
độ thi công liên tục, không thiếu vốn.
Giai đoạn thứ hai: Quá trình đấu thầu để chọn đơn vị thi công (1) . Trong đấu thầu điều quan trọng là có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ chống các tiêu cực, gian lận trong đấu thầu, hậu quả sẽ dẫn đến tham nhũng
tiêu cực về tài chính, gây thất thoát tài sản, nguồn vốn Nhà nước.
(1): Nghị định 03 /TTg của Thủ tướng nước CHDCND Lào, ngày 9 /1/
2004 về việc đấu thầu, thuê mua từ vốn NSNN
Trang 13Ba là: Bộ tài chính, kho bạc Nhà nước có trách nhiệm:
+ Có trách nhiệm kiểm tra và cấp vốn thanh toán đầy đủ và kịp thời. + Yêu cầu chủ đầu tư cấp hồ sơ, tài liệu để phục vụ công tác quản lý và thanh toán.
+ Nếu chủ đầu tư sử dụng vốn sai mục đích, không đúng đối tượng thì được phép tạm ngừng cấp vốn.
+ Được cấp bổ sung các khoản đã đủ điều kiện cấp vốn mà chưa cấp hoặc cấp chưa đủ.
+ Thực hiện quyết toán và báo cáo theo quy định.
Cơ quan đầu tư phát triển có trách nhiệm tổ chức công tác quản lý và cấp phát thanh toán vốn theo đúng quy trình và đảm bảo quản lý chặt chẽ, cấp vốn thanh toán kịp thời, đầy đủ, đảm bảo nguồn vốn NSNN để cấp phát cho chủ đầu tư theo luật NSNN. Ngoài ra, còn báo cáo và quyết toán vốn theo quy định
của luật NSNN.
1.2.3 Yêu cầu quản lý vốn đầu tư từ NSNN
Trong các nguồn vốn để phục vụ cho đầu tư xây dựng cơ bản thì nguồn vốn từ NSNN là quan trọng nhất và có tỷ trọng lớn nhất hiện nay của nền kinh
tế quốc gia và là nguồn vốn được quản lý theo pháp luật Nhà nước một cách chặt chẽ. Do đó, quản lý vốn đầu tư từ NSNN phải đáp ứng theo yêu cầu cơ bản sau đây:
Trang 14hoạch kinh tế quốc dân hàng năm. Tức là cần phải xem xét trên ở khía cạnh
phải đúng quy mô của công trình, nghĩa là công trình cần bao nhiêu vốn để
+ xác định được quan hệ thuế trong tổng sản phẩm để đảm bảo cho NN có nguồn thu nhập thường xuyên và ổn định.
+ Khích thích tạo hành lang, môi trường và gây sức ép trong khi NN thực hiện chính sách thuế.
+ Tạo điều kiện thuận lợi trên các mặt tài chính và khuyễn khích các thành phần kinh tế.
+ Nâng cao đời sống nhân dân và tạo điều kiện ổn định chính trị + Kiểm tra và bảo về tài sản quốc gia, tài sản NN, chống thất thu, lãng phí
v Nhược điểm khi sử dủng vốn đầu tư XDCB từ NSNN:
+ Nhu cầu sử dụng vốn NSNN thì nhiều nhưng nguồn thu có hạn.
+ Không đáp ứng nhu cầu phát triển trong các thòi kỳ có tình trạng dự án chờ vốn ( NSNN).
+ Kéo dài thời gian thi công công trình xây dựng + Dễ gây thất thoát hơn so với vốn đầu tư của các công ty hoặc tổ chức.
+ Nhiều thủ tục, cách thức tổ chức.
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
Trong việc sử dụng và quản lý vốn đầu tư từ NSNN có rất nhiều nhân tố tác động đến. Trong đó, quan trọng nhất là nhờ có đường lối đổi mới của Đảng đúng đắn và có những chính sách thích hợp và cơ chế quản lý tốt. Đối với nước CHDCND Lào là một nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém, kinh nghiệm quản lý còn thấp nên cần phải học hỏi những kinh nghiệm của các nước. Nhưng vì điều kiện tìm hiểu có hạn nên tác giả luận văn giới hạn
Trang 15và Hội đồng ngân khố phân tích, xem xét đưa ra kiến nghị, mà căn cứ vào ý
kiến của Bộ tài chính Hội đồng ngân khố thì Hội đồng Bộ trưởng mới quyết
chi thường xuyên.
Theo cơ chế quản lý tam quyền, Quốc hội có quyền đề xuất ngân sách, nhưng Quốc hội có quyền chấp nhận và thông qua các kế hoạch ngân sách của Chính phủ. Để đảm bảo việc đó Chính phủ và Quốc hội phải thảo luận với nhau nhiều lần. Nếu Quốc hội không thông qua thì thể hiện Chính phủ yếu
kém, không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành đất nước.
Cơ chế quản lý vốn đầu tư từ NSNN cấp cơ sở:
Ở Canada, Nhà nước được tổ chức theo chế độ liên bang, vì vậy quản lý ngân sách cũng như quản lý vốn NSNN ở mỗi địa phương khác nhau cũng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của địa phương đó. Vốn đầu tư NSNN chủ yếu tập trung vào:
+ Bảo dưỡng đường xá, cầu, cống, phục vụ chiếu sáng.
+ Cấp thoát nước, đặc biệt là xử lý tuyết trên các đường phố trong mùa Đông.
Vậy việc xác định dự án đầu tư cấp địa phương hàng năm tương đối đơn giản và việc xác định dự án đầu tư được thực hiện như sau:
Các khoản đầu tư theo dự án lớn của địa phương là do Chính phủ tính toán và quyết định, Chính phủ can thiệp, giúp địa phương và tài trợ kinh phí để địa phương thực hiện các dự án. Đối với các địa phương lớn cơ chế hoạt động như các Bộ, tức là Bộ tài chính, Hội đồng ngân khố và Chính phủ phê duyệt và quyết định các dự án. Còn ở địa phương nhỏ, Bộ sẽ phối hợp địa phương và giúp địa phương tính toán, chi phí dự án đầu tư.
Hàng năm chính quyền địa phương căn cứ vào các điều kiện yếu tố của địa phương xây dựng kế hoạch NSNN, nó thể hiện rõ ở phần chi thường xuyên
và chi đầu tư phát triển.
Kế hoạch mà chính quyền địa phương xây dựng thường là 5 năm, 3 năm trong kế hoạch dự án đầu tư phải công khai cho mọi công dân biết. Sau đó, trình lên Hội đồng tỉnh xem xét và phê duyệt. Việc quản lý vốn đầu tư từ
Trang 16ý kiến của dân về dự thảo ngân sách, nhờ đó mới đảm bảo được sự giám sát
của dân. Trong đầu tư ở địa phương vấn đề hay phát sinh là ở nguồn vốn mà
Giai đoạn lập kế hoạch hoá NSNN: Theo quy trình kế hoạch hoá kinh
tế quốc dân hàng năm Bộ, ngành, địa phương khi lập kế hoạch phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN được ghi vào kế hoạch và báo cáo lên Bộ kế hoạch
và đầu tư. Trong báo cáo đó phải ghi rõ từng dự án theo thông tin như tổng số vốn đầu tư là bao nhiêu, thời gian đầu tư, tức là bắt đầu thi công vào thời gian nào và thi công trong thời gian bao lâu, phân bố vốn cho từng thời kỳ là bao nhiêu.
Lấy kế hoạch hàng năm đó để làm căn cứ cho Chính phủ và Quốc hội phê duyệt. Sau khi phê duyệt song Bộ kế hoạch và đầu tư thông báo kế hoạch phân bổ vốn đầu tư xây dựng trong năm đó cho các cơ quan có liên quan như sau:
+ Các Bộ, Ngành, các Tỉnh, thành phố trực thuộc TW.
+ Bộ tài chính, kho bạc Nhà nước, để làm căn cứ vào tổng vốn được phân bổ cho các Bộ, Ngành, địa phương tiến hành phân bổ cho các chủ đầu tư trực thuộc sau đó báo cho các chủ đầu tư và kho bạc Nhà nước.
Giai đoạn cấp phát và quyết toán vốn:
Dựa vào kết quả thi công đã hoàn thành được nó thể hiện qua bảng quyết toán từng khối lượng công việc của nhà thầu và có sự thẩm định và ý kiến phê duyệt của chủ dự án đầu tư, trình lên kho bạc Nhà nước để kho bạc Nhà nước chuyển tiền về đơn vị thi công. Số tiền được giải ngân tuỳ thuộc vào khối lượng công việc đã hoàn thành sau khi trừ đi tỷ lệ bảo hành công trình đó. Đến cuối năm khi hoàn thành dự án có sự đối chiếu, so sánh giữa chủ đầu tư, kho bạc Nhà nước và đơn vị thi công để quyết toán.
Quản lý vốn đầu tư từ NSNN theo các giai đoạn trên quan trọng nhất quản lý cấp phát vốn, mà theo quy định của luật pháp hiện nay cơ chế quản lý
Trang 17tư vấn mua sắm vật tư, thiết bị, xây lắp theo đúng quy chế đấu thầu. Các dự án đầu tư xây dựng cơ bản chỉ được cấp phát khi có khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành đủ điều kiện cấp phát vốn hoặc đủ điều kiện được cấp phát vốn tạm ứng.
Những căn cứ để cấp phát: phụ thuộc vào các loại dự án thì có những căn cứ khác nhau. Chẳng hạn đối với dự án quy hoạch, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn phải có căn cứ.
+ Quyết định của cấp có thẩm quyền cho phép tiến hành công tác quy hoạch. + Dự tính chi phí do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Trang 18năm kế hoạch chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo vốn đầu tư thực hiện năm
trước gửi tới cơ quan cấp phát chậm nhất là một năm. Khi dự án hoàn thành
đưa vào vận hành thì chủ đầu tư cũng phải hoàn thành báo cáo quyết toán vốn
gửi tới cơ quan cấp phát vốn chậm nhất không quá 6 tháng.
Tóm lại, việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về quản lý vốn đầu
tư xây dựng cơ bản đều có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển nền
kinh tế xã hội của nước CHDCND Lào, nhất là kinh nghiệm của các nước
trong khu vực gần với Lào
Kết luận chương 1
Chương 1 đã tập trung nêu bật lý luận về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN, góp phần làm rõ lý luận và ý nghĩa thực sự trong sự cần thiết khách quan trong quản lý vốn đầu tư từ NSNN của nước CHDCND Lào nói chung và của tỉnh Xê Kông nói riêng. Những lý luận đã nêu trên làm cơ sở cho việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra trong nghiên cứu của luận văn là hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước ở tỉnh Xê Kông, nước CHDCND Lào
Trang 19 1700mm/năm. Tỉnh Xê Kông có 2 mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Trong đó, mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 11 trong năm, mùa khô bắt
có 4.072 hộ gia đình làm nương rẫy là chủ yếu.
Về giáo dục trong thời gian qua việc giáo dục đã có nhiều thay đổi, hệ thống giáo dục đã phát triển đến vùng sâu, vùng xa. Theo số liệu năm học 2009
2010 toàn tỉnh có 7 trường mẫu giáo, 184 trường cấp I, 11 trường cấp II và 3 trường cấp III và 1 trưởng bổ túc văn hoá. Trong năm học 2009 2010 có học sinh cấp I 13.973 người, trong đó nữ 6.968 người, trẻ em từ 610 tuổi là 11.884 người. Trong đó nữ 6.029 người, trong số đó được đi học 8.791 người,
nữ 4.547 người, chiếm khoảng 73,96% tổng số trẻ em toàn tỉnh. Hiện nay cả tỉnh có 9.846 người mù chữ.
Về y tế cũng có nhiều thay đổi, đến nay đã mở rộng hệ thống y tế đến tận cơ sở địa phương, chất lượng chữa trị của bệnh viện cũng được nâng cao,
Trang 20Sau 5 năm phấn đấu thực hiện nghị quyết đại hội Đảng nhân dân cách
mạng Lào và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh (2006
2010) lần thứ III vừa qua, GDP toàn tỉnh tăng lên đạt được 7,5%/năm.
mà chỉ còn 52,01% năm 2010. Điều này cho biết tốc độ giảm dần của ngành này là làm cho cơ cấu kinh tế bị thay đổi theo hướng cơ chế thị trường. Kết quả tổng hợp nhất là nhờ có chủ trương phát triển kinh tế xã hội, đầu tư xây dựng cơ bản đúng đắn mà vị thế của tỉnh đã nâng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Tình hình chính trị ổn định, tạo đà tiếp tục cho tỉnh Xê Kông phát triển
đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Bảng 01 cho thấy GDP bình quân đầu người trong năm 2006 chỉ đạt được 259.36 USD /người/ năm. Mà đến năm 2010 GDP đạt tới 344.76 USD/người /năm. Điều này góp
phần làm thay đổi cuộc sống của nhân dân trong tỉnh.
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN
Nhân tố về tự nhiên:
Với những điều kiện vị trí, địa lý địa hình phức tạp và điều kiện về khí hậu ở tỉnh Xê Kông nước CHDCND Lào đã có ảnh hưởng rất nhiều đến việc xây dựng cơ bản, nhất là việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, đường giao thông vận tải từ trung tâm tỉnh đi đến các huyện miền núi (diện tích toàn tỉnh vùng miền núi chiếm tới 65%), lượng mưa nhiều và kéo dài vị trí như huyện Thà
Teng và Đặc Trưng, lượng mưa hàng năm 2500mm/năm.
Nhân tố về văn hoá, xã hội
Do mức độ tăng trưởng của dân số tương đối cao 3.2%/1năm. Nhưng mức độ phát triển về kinh tế xã hội của tỉnh lại ở mức độ thấp, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực còn chậm hoặc phát triển không đúng mục tiêu, các ngành giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá của địa phương chưa được triển khai trong
Trang 21Bộ máy tổ chức cán bộ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản còn bất cập,
công tác quản lý chất lượng công trình còn nhiều thiết sót, cán bộ chủ chốt
còn cấp huyện thì hầu như chưa có, nếu có thì một vài người lại có trình độ
trung cấp.
Về cơ chế chính sách trong quản lý:
Việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản là một lĩnh vực vừa quan trọng vừa khó khăn và bức xúc. Nhưng các chính sách chưa đồng bộ, còn nhiều mâu thuẫn nảy sinh, caần được khắc phục những chồng chéo trong sự phân công quản lý. Cơ chế đấu thầu lỏng lẻo, quá trình phân công phân cấp chưa rõ ràng…. tức là các chính sách về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước chưa được hoàn chỉnh. Vì vậy, cần phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hơn nữa trong lĩnh vực này.
Tóm lại, chủ trương chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế tự nhiên sang
cơ cấu kinh tế thị trường hàng hoá, thúc đẩy sản xuất bằng cách phát huy thế mạnh trong nước, phát triển kinh tế gia đình chưa được khuyến khích, chưa được cổ vũ bằng chính sách và biện pháp tổ chức thực hiện một cách đồng bộ. Các chính sách về lấy công nghiệp và dịch vụ gắn liền với nông lâm nghiệp chưa hoàn chỉnh cũng như phương pháp phát triển công nghiệp trong những năm trước mặt và lâu dài, khuyến khích và phát triển thủ công nghiệp chưa
Trang 22Ngành, lĩnh vực Tổng vốn
Vốn trong nước
Vốn nước ngoài Tổng vốn
Vốn trong nước
Vốn nước ngoài Tổng vốn đầu tư 103.965,39 84.938,59 19.026,80
Đối với nguồn vốn từ NSNN đã tập trung chi vào các lĩnh vực chủ yếu trọng tâm của tỉnh như tham gia vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ưu tiên cho ngành mũi nhọn. Còn đối với nguồn vốn huy động từ nước ngoài thì dành ưu tiên cho những công trình để tạo ra được bước nhảy vọt cho kinh tế của tỉnh, sử dụng đúng mục đích tiết kiệm và có hiệu quả cao.
Đầu tư từ NSNN tỉnh Xê Kông chọn những trọng tâm chính đề đầu tư như đối với nông nghiệp tập trung vào chọn giống mới và đổi mới cơ cấu mùa
vụ. Trong lâm nghiệp thì tập trung vào trồng rừng, khoanh nuôi rừng, bảo vệ rừng, trồng cây ăn quả.
Về thú y thì tập trung vào để phòng bệnh dịch. Về thuỷ lợi, là mở rộng nâng cấp hồ đập giữ nguồn nước, cải tạo hệ thống tưới tiêu, để nâng diện tích tưới lên từng bước. Trong thời gian 5 năm qua trong ngành nông lâm nghiệp vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là 14,307.12 triệu kíp với 18 dự án. Số vốn đầu tư hàng năm tăng lên qua các năm ( từ năm 20072010 ). Đến năm 2010 vốn ngân sách Nhà nước đầu tư vào ngành này chỉ là 4,463.04 triệu kíp. Đối với ngành giao thông vận tải thì vốn ngân sách Nhà nước tập trung vào cải tạo lại kết cấu cơ sở hạ tầng giao thông, nâng cấp các tuyến đường từ trung tâm tỉnh đi các huyện miền núi hoặc là giao thông ở vùng nông thôn. Tại tỉnh Xê Kông hiện nay, từ trung tâm tỉnh đi các huyện đều đã có đường ô tô nhưng đường đó chưa được rải nhựa và chưa đi được cả năm. Điều đó, không thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế hàng hoá, nhất là hai huyện như
Ka Lum và Đặc Trưng chỉ đi được mùa khô và chỉ có huyện Thà Teng là
Trang 23Làm như vậy mà có nhiều dự án đã được phê duyệt phù hợp với thực tế khi cân đối được vốn là có thể triển khai được ngay và có hiệu quả. Nhưng có hiện tượng các ngành, huyện tranh thủ lập dự án nhưng nguồn vốn cân đối lại hạn chế mà chi phí lại phát sinh, nên có các dự án không được triển khai. Do
đó, hiện tượng này cần phải được quản lý tốt hơn để làm cho các dự án hướng vào thiết thực với thực tế đồng thời phù hợp với khả năng đầu tư của NSNN. Kết quả việc lập dự án đầu tư xây dựng cơ bản của các huyện, các ngành phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng, có nguồn vốn là đã có dự án khả thi để thực hiện. Trong thời gian qua (20062010) đã có 192 dự án với tổng giá trị vốn đầu tư là 141,184.43 triệu kíp đã được thực hiện.
Về cơ quan lập dự án ở tỉnh Xê Kông tập trung vào một số đơn vị chuyên ngành như giao thông, thủy lợi… trong khi các cơ quan này hoạt động cũng chưa được tốt lắm. Trong tỉnh chưa có cơ quan tư vấn thiết kế của Nhà nước và công ty tư nhân của các cơ quan đơn vị chuyên ngành nói trên, các thiết bị dụng cụ vẫn còn thiếu thốn. Đối với các dự án có giá trị đầu tư lớn vốn
phải đi thuê các công ty tư nhân ở nơi khác để thực hiện.
2.2.3 Tình hình quản lý khâu lập dự án:
Định mức dự toán xây dựng cơ bản là định mức kinh tế kỹ thuật quy định mức hao phí trực tiếp, cần thiết, hợp lý về vật liệu, nhân công, máy móc, thiết bị thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp của công trình.
Dự toán được lập ra trên cơ sở thiết kế và các định mức kinh tế kỹ thuật.
Do đó, việc quản lý dự toán là phải quản lý ngay từ khâu định mức đơn giá, không phải chỉ quản lý qua các số liệu dự toán. Tuy vậy do định mức kinh tế
kỹ thuật chưa chặt chẽ, bộ đơn giá kỹ thuật không sát thực tế, quy chế sử dụng
Trang 24trình lập đến khi phê duyệt vẫn còn sai lệch quá lớn. Dẫn đến tình trạng một
thông suốt từ khâu thiết kế dự toán đến quyết toán đều cho cấp có thẩm phê
duyệt và đã xuất toán những khoản bất hợp lý, nhưng khi cấp phát vốn để
thanh toán khối lượng mà họ nhận được chỉ 95% giá quyết toán được duyệt.
Còn 5% được để lại coi là tiết kiệm trong xây dựng cơ bản.
2.2.4 Tình hình cấp phát và đầu tư từ NSNN cho các công trình
so với tiến độ thi công, ở tỉnh Xê Kông nước CHDCND Lào về việc chi tiêu vốn thường được thông qua chính thức vào quý II. Hàng năm, còn việc cấp phát thường được thực hiện ở trong quý 3 hoặc là cuối năm ngân sách. Cho nên làm cho nhiều công trình khối lượng hoàn thành, nhưng thực hiện việc giải ngân không hết. Do nguồn vốn đầu tư không tập trung tức là có những công trình không lớn lắm, nhưng lại phải đầu tư nhiều năm mới hoàn thành ví dụ như công trình xây dựng hồ chứa nước Tóc Lóc Thà Teng, công trình xây dựng hội trưởng của tỉnh, 2 công trình này vốn đầu tư không nhiều với giá trị là 5.230,00 triệu kíp nhưng phải đầu tư vào đó là 3 năm mới thực hiện hết việc giải ngân.
Về cơ chế điều hành quản lý nguồn vốn này còn chồng chéo gây khó khăn cho chủ dự án. Một khoản vốn trước khi cấp phát vốn này, Sở kế hoạch đầu tư phải ký thẩm định xem xét lại và sau đó mới đến Sở tài chính cũng phải thẩm định xem xét lại mới đến được công trình. Các chủ đầu tư không muốn cấp vốn NSNN qua Sở kế hoạch đầu tư, họ muốn cấp thẳng vào Sở tài chính cho công trình. Trong thực tế loại nguồn vốn này là do 2 cơ quan như Sở kế
hoạch đầu tư và Sở tài chính cùng quản lý và cấp phát.
Hai là: Trình tự và cách giải ngân cho dự án đầu tư xây dựng cơ bản
hiện nay:
+ Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN hoặc những khoản viện trợ không hoàn lại của chương trình quốc gia vẫn được coi như vốn NSNN và thường được hình thành trong tài khoản thực hiện vào các dự án chương trình, nhưng việc cấp phát do đầu tư xây dựng cơ bản lại phải theo tiến độ thi công theo khối lượng hoàn thành. Theo giai đoạn quy ước nên việc cấp phát thường không theo kịp tiến độ này. Đó là chưa kể khi có nguồn rồi, nhưng công tác thẩm định để cấp phát vốn, để thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành cho bên thi công thường làm chậm, thậm chí có những trường hợp nhận thức, thông