Đề tài giúp cho Công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng có cái nhìn rõ hơn về tình hình quản trị tài chính của mình; từ đó đưa ra những quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
- * -
NGUYỄN THỊ HOA HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ THIẾT BỊ
TRƯỜNG HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số ngành : 60340102
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRƯƠNG QUANG DŨNG
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS Trương Quang Dũng
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP
HCM ngày tháng năm 2013
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn và Khoa quản lý chuyên ngành
sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV Khoa quản lý chuyên ngành
TRƯỜNG ĐH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHÒNG QLKH – ĐTSĐH
TP HCM, ngày 12 tháng 12 năm 2012
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Thị Hoa Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 11/03/1975 Nơi sinh: Quảng Nam Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1184011062
I- TÊN ĐỀ TÀI: Hoàn thiện quản lý tài chính Công Ty Sách Và Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG
1) Hệ thống cở sớ lý luận về tài chính và quản trị tài chính doanh nghiệp 2) Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công Ty CP Sách và TBTH Đà Nẵng
3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tại chính tại công ty Cổ Phần Sách- Thiết bị trường học Đà Nẵng
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 24/12/2012 V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS TRƯƠNG QUANG DŨNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc
TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 12 năm 2012
Học viên thực hiện Luận văn
LỜI CÁM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Trường Đại học Kỹ thuật công nghệ Tp.Hồ Chí Minh Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trương Quang Dũng, người đã hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này ngay từ lúc định hình các nghiên cứu ban đầu cho đến lúc hoàn chỉnh luận văn
Xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Quý thầy cô giáo Trường Đại học Kỹ thuật công nghệ Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin cám ơn Công ty cổ phần Sách – TBTH Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình quan sát, thu thập dữ liệu, khảo sát cũng như phân tích thực trạng và đề xuất chiến lược, giải pháp tài chính cho Công ty
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn đồng hành cùng tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả Luận văn: Nguyễn Thị Hoa
Trang 4TÓM TẮT
1 GIỚI THIỆU
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng trong hoạt động
của một doanh nghiệp nên đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính Công ty CP Sách -
TBTH Đà Nẵng” là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cho Công ty CP Sách và TBTH
Đà Nẵng Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý
1.2 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.3 Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.4 Tóm tắt chương 1
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty Cp Sách – TBTH
Đà Nẵng
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty CP Sách – TBTH Đà Nẵng
2.2 Quản lý tài chính tại Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng
2.3 Đánh giá về quản lý tài chính của Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thứ nhất, hệ thống cở sở lý luận về tài chính và quản trị tài chính doanh
nghiệp, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp như: Hoạch định tài chính, kiểm tra tài chính, quản lý vốn luân chuyển và phân tích tài chính
Thứ hai, phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sách - TBTH
Đà Nẵng qua việc khái quát về công ty và phân tích, đánh giá công tác quản lý tài chính Qua phân tích đã rút ra được 3 điểm mạnh và 6 điểm yếu trong công tác quản
lý tài chính
Thứ ba, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và rút ra 3 cơ hội, cùng 4 nguy cơ
ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại Công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng trong thời gian tới
Thứ tư, Phân tích SWOT và đề ra 5 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý tại chính tại công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng, bao gồm: 1) Hoàn thiện công tác hoạch định tài chính; 2) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động; 3) Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ; 4) Xây dựng nguồn nhân lực cho công tác phân tích và quản lý tài chính; 5) Củng cố các mối quan hệ trong nội bộ Đồng thời đề ra các kiến nghị với Nhà nước và Bộ tài chính
Trang 5ABSTRACT
1 INTRODUCTION
Corporate finance management is an important issue in the operation of a
business So subject "improve financial management at Da Nang books and school
equipment joint stock Company" is a real significant problempractices for the Da
Nang books and school equipment joint stock Company Research objectives of this
project is to propose solutions to improve financial management at Da Nang books
and school equipment joint stock Company
2 CONTENTS
Besides an introduction, conclusion, appendices and references, thesis is
organized into three chapters:
Chapter 1: Rationale for corporate financial management and corporate
finance
1.1 Enterprise
1.2 Overview of corporate finance
1.3 Financial management in the enterprise
1.4 Summary of Chapter 1
Chapter 2: Current status of financial management at the Da Nang
books and school equipment joint stock Company
2.1 Introduction overview of Da Nang Company
2.2 Financial management in Da Nang Company
2.3 Reviews on financial management of Da Nang Company
2.4 Summary of Chapter 2
Chapter 3: The complete solution of financial management in the Da
Nang books and school equipment joint stock Company
3.1 Analysis of factors affecting the management of financial at Da Nang
books and school equipment joint stock Company
3.2 SWOT Analysis
3.3 The content of the complete solution of financial management at Da Nang books and school equipment joint stock Company
3.4 A number of recommendations
3 RESULTS AND DISCUSSION
First, the theoretical basis system of financial and corporate financial
management, especially issues related to the content of corporate financial management including: financial planning, financial checks, management reasonable working capital and financial analysis
Second, the analysis of the state of financial management in Da Nang books
and school equipment joint stock Company through the overview of the company and the analysis and evaluation of financial management Through analysis drawn three strengths and six weaknesses in financial management
Third, the analysis of factors affecting and drawn three chances, and 4 risk
affecting financial management at Corporation Books and School Equipment in the future
Fourth, SWOT Analysis and 5 group solutions improve management at the
Corporation Books and School Equipment, including: 1) Completion of the financial planning; 2) Increase utilization of working capital; 3) to improve the efficiency of fixed assets; 4) Develop human resources for the financial analysis and management; 5) strengthen internal relationships At the same time proposing recommendations to the State and Treasury
4 CONCLUSION
Improve financial management Corporation Books and School Equipment is essential By the methods of scientific research, thesis system theoretical basis of corporate finance and corporate financial management, situation analysis and the factors to draw out the complete management solution financial management at
Trang 6Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ
1.2.2 Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp 7
1.2.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 10
1.3 Quản lý tài chính trong doanh nghiệp 11
1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp 11
1.3.2 Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp 12
1.3.3 Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp 13
1.3.4 Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp 15
1.3.5 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản lý tài chính doanh nghiệp 17
1.3.6 Nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp 19
2.2 Quản lý tài chính tại Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng 47 2.2.1 Công tác hoạch định tài chính của Công ty 47
2.3 Đánh giá về quản lý tài chính của Công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng 67
3.1.1 Mục tiêu và chiến lược kinh doanh của công ty 71
Trang 73.1.3 Nhận dạng các cơ hội và thách thức 74
3.3 Nội dung các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sách -
3.3.1 Hoàn thiện công tác hoạch định tài chính 77
3.3.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 79
3.3.4 Xây dựng nguồn lực cho công tác quản trị và phân tích tài chính 82
3.3.5 Củng cố mối quan hệ trong nội bộ Công ty 84
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm y tế
CP Cổ phần
GTGT Giá trị gia tăng KCN Khu công nghiệp PTTC Phân tích tài chính QNĐN Quảng Nam – Đà nẵng TBTH Thiết bị trường học TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định UBND Ủy ban nhân dân VPP Văn phòng phẩm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu cổ đông 366
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động 41
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản giai đoạn 2005-2011 554
Bảng 2.10: Kết quả hoạt động tài chính 2010-2011 677
Bảng 3.1: Phân tích SWOT cho Công ty CP sách – TBTH Đà nẵng 766
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Sơ đồ phân tích tài chính doanh nghiệp 26 Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức công ty CP Sách TBTH Đà Nẵng 38
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ty Sách và thiết bị Trường học Đà Nẵng là Doanh Nghiệp Nhà Nước
được thành lập theo Thông tư số 14/TT-TC ngày 10/06/1982 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, trực thuộc Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (QNĐN )
Nhiệm vụ của Công ty là đáp ứng nhu cầu sách vở, thiết bị giảng dạy và học tập cho
giáo viên và học sinh trên địa bàn tỉnh QNĐN Mục tiêu ban đầu của Công ty là
phục vụ cho công tác chuyên môn, phục vụ giáo dục chưa chú trọng đến hiệu quả
kinh doanh Từ năm 1986 nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển hướng sang
nền kinh tế thị trường, hoạt động của Công ty dần mang tính chất kinh doanh và
đồng thời phải bảo đảm hai nhiệm vụ chính : Kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm
phục vụ tốt công tác chuyên môn của ngành
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, Công ty đã xây
dựng phương án cổ phần hoá và ngày 24/02/2004 UBND Thành phố Đà Nẵng ra
Quyết định số 26/2004/QĐ-UB “Phê duyệt phương án cổ phần hóa, chuyển Công ty
Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng thành Công ty cổ phần Sách và Thiết bị
trường học Đà Nẵng.”
Giai đoạn từ năm 2004 đến nay.Thực hiện cổ phần hoá, Công ty chuyển sang
mô hình công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Đây là bước ngoặt
mới để Công ty thực hiện thay đổi phương thức quản trị, tận dụng khai thác nguồn
lực về tài chính và lao động để tham gia sâu và rộng hơn vào thị trường phát hành
sách và in ấn Tăng cường khả năng cạnh tranh và tăng thị phần tiêu thụ Mở rộng
loại hình kinh doanh và đa dạng hoá các mặt hàng sản phẩm
Nền kinh tế thị trường hiện nay phát sinh rất nhiều các mối quan hệ tài chính
phức tạp đòi hỏi công việc quản lý tài chính cần được Doanh Nghiệp đặc biệt chú
trọng Từ doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cổ phần hóa, doanh nghiệp không
thể tránh khỏi những khó khăn, lúng túng trong công tác quản lý điều hành tài chính
của mình Nhằm khắc phục tình trạng trên đồng thời giúp Doanh Nghiệp quản lý tài chính một cách hoàn thiện nhất, mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất tác giả đã
chọn đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính Công Ty Sách Và Thiết Bị Trường Học Đà Nẵng”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là thông qua phân tích thực trạng quản lý tài chính ở Công ty Cổ phần Sách - TBTH Đà Nẵng, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính ở Công ty Cổ phần Sách - TBTH Đà Nẵng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn tới Để thực hiện mục tiêu này, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống cở sở lý luận về tài chính và quản lý tài chính doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công Ty CP Sách và TBTH Đà Nẵng
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tại chính tại công ty Cổ Phần Sách- TBTH Đà Nẵng và kiến nghị với cấp trên
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn quản lý tài chính Tại Công ty Cổ phần Sách - TBTH Đà Nẵng giai đoạn từ 2005 - 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với nguồn số liệu thứ cấp
là chủ yếu, được thu thập từ các nghiên cứu trước đây và các tài liệu về tài chính doanh nghiệp, các báo cáo của tổng cục thống kê, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty CP Sách – TBTH Đà Nẵng Các dữ liệu sau khi thu thập được phân tích bằng các phương pháp như: thống kê, mô tả, so sánh và tổng hợp…
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 10Đề tài giúp cho Công ty CP Sách - TBTH Đà Nẵng có cái nhìn rõ hơn về
tình hình quản trị tài chính của mình; từ đó đưa ra những quyết định tài chính hợp
lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảo các quyết định tài chính
được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng
như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và quản lý tài chính
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân
Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân
Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
1.1.2 Phân loại
Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm : Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh sau đây:
1.1.2.1 Kinh doanh cá thể (sole proprietorship)
- Là loại hình được thành lập đơn giản nhất, không cần phải có điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lý cuả nhà nước
- Không trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân
Trang 11- Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các
khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp
- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của người
chủ
- Khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ
1.1.2.2 Kinh doanh góp vốn (Parnership)
- Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp Đối
với các hợp đồng phức tạp cần phải được viết tay Một số trường hợp cần có giấy
phép kinh doanh
- Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Mỗi
thành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần góp vốn Nếu như một
thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do các
Công Ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp giữa ba loại lợi ích:
Các cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà quản lý Theo
truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động
của công ty Cổ đông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn
ban quản lý Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lại
lợi ích tốt nhất cho cổ đông Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang
lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn:
- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới
- Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông
- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn)
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, có thể coi tất cả các loại hình đó là doanh nghiệp Về nguyên tắc là như nhau Trong bài tác giả nghiên cứu loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần
1.2 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hóa tài chính tiền tệ
Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng tiền tệ nhất định, đó là tiền đề cần thiết Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư cũng như mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Các luồng tiền bao gồm các luồng tiền
tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những mối quan hệ kinh tế diễn ra dưới hình thức giá trị giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh, nó phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản nhất đối với mỗi doanh nghiệp Hoạt động tài chính doanh nghiệp nếu được duy trì và phát triển một cách ổn định thì sẽ tạo tiền đề và nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động khác của doanh nghiệp vận động và phát triển Hoạt động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu như huy động, khai thác vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cũng như phân bổ và sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả
Trang 121.2.2 Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các vốn tiền tệ của
doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là các quan
hệ tài chính trong doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp, có những quan hệ tài
chính như sau:
1.2.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp Doanh
nghiệp muốn xuất hiện trên thị trường thì trước tiên doanh nghiệp phải có được giấy
phép hoạt động do Nhà nước cấp và doanh nghiệp muốn tồn tại thì mọi hoạt động
của doanh nghiệp phải diễn ra trên khuôn khổ của hiến pháp, pháp luật do Nhà nước
quy định Doanh nghiệp vừa nhận được các lợi ích từ Nhà nước vừa phải chịu các
nghĩa vụ đối với Nhà nước Doanh nghiệp có thể nhận được những khoản trợ cấp
của Nhà nước, sự hỗ trợ về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn thông qua các
khoản cho vay ưu đãi và doanh nghiệp cũng có thể nhận được sự bảo trợ của Nhà
nước trên thị trường trong nước và quốc tế… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải
đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước mà biểu hiện cụ thể nhất là các
khoản thuế phải nộp Nhà nước Doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên thị trường Bên cạnh
đó, Nhà nước cũng phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng ngày
càng hỗ trợ và khuyến khích cho các doanh nghiệp phát triển cũng như bảo hộ cho
quyền lợi cho các doanh nghiệp khi gia nhập thị trường quốc tế Trong điều kiện
kinh tế hội nhập hiện nay thì Nhà nước cũng có một vai trò vô cùng quan trọng là
phát hiện ra và có những điều chỉnh kịp thời các văn bản pháp luật cho phù hợp với
tình hình và nhu cầu mới của thị trường và doanh nghiệp để tạo ra một môi trường
ngày càng thông thoáng để doanh nghiệp có thể gia nhập thị trường cũng như tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả nhất
1.2.2.2 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trên thị trường thông qua việc trao đổi, mua bán các loại sản phẩm Trong quá trình này doanh nghiệp luôn tiếp xúc với các loại thị trường để thoả mãn các nhu cầu của mình bao gồm thị trường tài chính, thị trường hàng hoá, thị trường lao động…
Mối quan hệ với thị trường tài chính
Thị trường tài chính đóng một vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp
Vì vốn là điều kiện tiên quyết đối với mỗi doanh nghiệp khi xuất hiện trên thị trường, nó quyết định đến quá trình thành lập, quy mô và tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp Và thị trường tài chính là một kênh cung cấp tài chính cho nhu cầu của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể tạo được nguồn vốn thích hợp bằng cách phát hành các giấy tờ có giá trị như chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể tiến hành kinh doanh các mặt hàng này trên thị trường tài chính để thu lợi nhuận, góp phần giải quyết một phần nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Đồng thời thông qua các hệ thống tài chính - ngân hàng, doanh nghiệp có thể huy động được vốn, đầu tư vào thị trường tài chính hay thực hiện các quan hệ vay trả, tiền gửi, thanh toán…
Mối quan hệ với thị trường hàng hoá
Thị trường hàng hoá là một thị trường vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Đây chính là nơi diễn ra hoạt động trao đổi các sản phẩm giữa các doanh nghiệp và kết quả của quá trình này có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường Thông qua thị trường này doanh nghiệp có thể tiêu thụ được các sản phẩm mà mình sản xuất ra cũng như mua các sản phẩm của các doanh nghiệp khác mà mình có nhu cầu Quá trình này giúp cho thị trường hàng hóa vô cùng đa dạng và luôn luôn phát triển
Mối quan hệ với thị trường lao động
Các sản phẩm được tạo ra trên thị trường chính là kết tinh của sức lao động Chính vì vậy mà thị trường lao động có mối quan hệ rất mật thiết với các doanh
Trang 13nghiệp Doanh nghiệp là nơi thu hút và giải quyết công ăn việc làm cho một số
không nhỏ người lao động Ngược lại, thị trường lao động lại là nơi cung cấp cho
doanh nghiệp những doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, là cầu
nối giữa người lao động và doanh nghiệp
Mối quan hệ với các thị trường khác
Bên cạnh các thị trường trên thì doanh nghiệp cũng có mối quan hệ với rất
nhiều thị trường khác như thị trường khoa học công nghệ, thị trường tư liệu sản
xuất, thị trường bất động sản, thị trường thông tin… Đối với các thị trường này,
doanh nghiệp vừa đóng vai trò là nhà cung ứng các dịch vụ đầu vào vừa đóng vai
trò là khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đầu ra
Duy trì và phát triển được các mối quan hệ với các thị trường này sẽ giúp
cho doanh nghiệp chủ động hơn trong mọi hoạt động của mình trên thị trường
1.2.2.3 Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
Trong nội bộ doanh nghiệp cũng phát sinh rất nhiều mối quan hệ như mối
quan hệ giữa các bộ phận sản xuất - kinh doanh trong doanh nghiệp, quan hệ giữa
các phòng ban, quan hệ giữa người lao động với người lao động trong quá trình làm
việc, quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động, quan hệ giữa doanh nghiệp với
người quản lý doanh nghiệp, quan hệ giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng
vốn…
Các mối quan hệ này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp và doanh
nghiệp có thể kiểm soát được Nếu doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ này
thì sẽ tạo được động lực rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, khi đó hoạt động của doanh nghiệp sẽ diễn ra trôi chảy, các thành viên đều
có trách nhiệm đối với hoạt động của doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động sản xuất
kinh doanh diễn ra hiệu quả hơn Chính vì vậy, các nhà quản lý cần phải nắm vững
tầm quan trọng của các mối quan hệ này để có thể có những biện pháp hữu hiệu và
phù hợp với tình hình của doanh nghiệp mình để có thể duy trì và củng cố được các
mối quan hệ này và tạo ra một môi trường làm việc tích cực cho mọi thành viên
trong doanh nghiệp, tạo cơ hội và khuyến khích sự đóng góp của mọi thành viên trong quá trình phát triển doanh nghiệp
Từ những vấn đề trên có thể rút ra một số vấn đề sau:
• Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các
quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Các hoạt động
có liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
• Các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập , phân phối và sử
dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp Tổ chức tốt các mối quan hệ tài chính trên cũng nhằm đạt tới các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
1.2.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Chức năng phân phối
Đối với mỗi doanh nghiệp thì vấn đề tài chính là vô cùng quan trọng Để quá trình sản xuất kinh doanh có thể diễn ra thì vốn của doanh nghiệp phải được phân phối cho các mục đích khác nhau và các mục đích này đều hướng tới một mục tiêu chung của doanh nghiệp Quá trình phân phối vốn cho các mục đích đó được thể hiện theo các tiêu chuẩn và định mức được xây dựng dựa trên các mối quan hệ kinh
tế của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh Tiêu chuẩn và định mức phân phối
đó không phải cố định trong suốt quá trình phát triển của doanh nghiệp mà nó thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình từng giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp
1.2.3.2 Chức năng giám đốc bằng tiền
Bên cạnh chức năng phân phối thì tài chính doanh nghiệp cũng có chức năng giám đốc bằng tiền Chức năng này không thể tách khỏi chức năng phân phối, nó giúp cho chức năng phân phối diễn ra có hiệu quả nhất Kết quả của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính như thu, chi, lãi, lỗ… Các chỉ tiêu tài chính này tự thân nó đó phản ánh được
Trang 14tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình thực hiện các mục tiêu
kinh tế xã hội của doanh nghiệp và cũng giúp các nhà quản lý đánh giá được mức
độ hợp lý và hiệu quả của quá trình phân phối, để từ đó có thể tìm ra được phương
hướng và biện pháp điều chỉnh để đạt được hiệu quả cao hơn trong kỳ kinh doanh
tiếp theo
1.2.3.3 Mối quan hệ giữa hai chức năng của tài chính doanh nghiệp
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh
nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau Chức năng phân phối là tiền đề của hoạt
động sản xuất kinh doanh, nó xảy ra trước và sau một chu trình sản xuất kinh
doanh Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát chức năng phân phối, ở đâu có
sự phân phối thì ở đó có giám đốc bằng tiền và có tác dụng điều chỉnh quá trình
phân phối cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hai
chức năng này cùng tồn tại và hỗ trợ cho nhau để hoạt động tài chính doanh nghiệp
diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất
1.3 Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài
chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài
chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị
doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Quản lý tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ
vị trí quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp Hầu hết các quyết định quản
lý khác đều được dựa trên kết quả rút ra từ những đánh giá tài chính trong quản trị
tài chính doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có nhiều
vấn đề tài chính nảy sinh, đòi hỏi các nhà quản lý phải nhạy bén và năng động để
đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định ấy
một cách kịp thời và khoa học, có như vậy doanh nghiệp mới đứng vững và phát triển Để tồn tại và phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở công tác hoạch định cả về mặt chiến lược và chiến thuật Về mặt chiến lược phải xác định từ mục tiêu kinh doanh, các hoạt động dài hạn và các chính sách tài chính của doanh nghiệp Về mặt chiến thuật phải xác định những công việc trong thời hạn ngắn, cụ thể để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp Các quyết định về mặt chiến lược và chiến thuật của doanh nghiệp được lựa chọn chủ yếu trên cơ sở của sự phân tích, cân nhắc về mặt tài chính
Như vậy có thể thấy rằng quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình, từ việc phân tích tình hình của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc các nhà quản lý làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợi nhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp và đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động của doanh nghiệp phát
triển ổn định
1.3.2 Mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối
đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp v.v , song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định; chính
họ phải nhận thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên; khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trường, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện được mục tiêu đó
Trang 15Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp: Quyết định đầu tư, quyết định
huy động vốn, quyết định về phân phối, ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Trong quản lý tài chính, nhà quản lý phải cân nhắc các yếu tố bên trong và các yếu
tố bên ngoài để đưa ra các quyết định làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu, phù
hợp với lợi ích của chủ sở hữu
1.3.3 Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý
của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong
quá trình kinh doanh Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều
kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính
trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Bất kỳ ai liên kết, hợp tác với doanh nghiệp
cũng sẽ được hưởng lợi nếu như quản lý tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả,
ngược lại, họ sẽ bị thua thiệt khi quản lý tài chính kém hiệu quả
Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính
của doanh nghiệp Nó được thực hiện thông qua một cơ chế Đó là cơ chế quản lý
tài chính doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là một
tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các
hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định
Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động
khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm
khuyết trong trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân
nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho doanh nghiệp và
cho nền kinh tế Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường nhất
định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quan trọng đối với
việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia
Quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau :
Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các
nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nãy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Do vậy, vai trò của tài chính ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp
Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể chớp được các cơ hội kinh doanh Mặt khác, việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với sử dụng các hình thức thưởng , phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viện gắn liền với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn
Trang 16Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp Thông qua các hình thức, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và
thực hiện các chi tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có
thể đánh giá khái quát và kiểm sát các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện
được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh từ đó có thể đưa ra các
quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh
1.3.4 Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp dù nhỏ hay lớn căn bản là giống nhau
nên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho các loại hình doanh
nghiệp Tuy nhiên, giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định
nên khi áp dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải gắn với những điều kiện cụ thể
Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận Quản lý tài chính phải được dựa
trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Nhà đầu tư có thể lựa chọn những đầu tư khác
nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ
mong muốn Khi họ bỏ tiền vào những dự án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự
án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao
Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền Để đo lường giá tri tài sản của chủ
sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá tri thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và
chi phí của dự án về một thời điểm, thường là thời điểm hiện tại Theo quan điểm
của nhà đầu tư, dự án được chấp nhận khi lợi ích lớn hơn chi phí Trong trường hợp
này, chi phí cơ hội của vốn được đề cập như là tỷ lệ chiết khấu
Nguyên tắc chi trả Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần bảo
đảm mức ngân quỹ tối thiểu để thực hiện chi trả Do vậy, điều đáng quan tâm ở các
doanh nghiệp là các dòng tiền chứ không phải lợi nhuận kế toán Dòng tiền ra và
dòng tiền vào được tái đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí
Không những thế, khi đưa ra các quyết định kinh doanh, nhà doanh nghiệp cần tính
đến dòng tiền tăng thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế
Nguyên tắc sinh lợi Nguyên tắc quan trọng đối với nhà quản lý tài chính
không chỉ là đánh giá các dòng tiền mà dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng
tiền, tức là tìm kiếm các dự án sinh lợi Trong thi trường cạnh tranh, nhà đầu tư khó
có thể kiếm được nhiều lợi nhuận trong một thời gian dài, khó có thể tìm kiếm được nhiều dự án tốt Muốn vậy, cần phải biết các dự án sinh lợi tồn tại như thế nào và ở đâu trong môi trường cạnh tranh Tiếp đến, khi đầu tư, nhà đầu tư phải biết làm giảm tính cạnh tranh của thị trường thông qua việc tạo ra những sản phẩm khác biệt với sản phẩm cạnh tranh và bằng cách đảm bảo mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh
Nguyên tắc thị trường có hiệu quả Trong kinh doanh, những quyết định
nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của các chủ sở hữu làm thị giá cổ phiếu tăng Như vậy, khi đưa ra các quyết định tài chính hoặc định giá chứng khoán, cần hiểu rõ khái niệm thị trường có hiệu quả Thị trường có hiệu quả là thị trường mà ở đó giá trị của các tài sản tại bất kỳ một thời điểm nào đều phản ánh đầy đủ các thông tin một cách công khai Trong thị trường có hiệu quả, giá cả được xác định chính xác Thị giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin sẵn có và công khai về giá trị của một doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của các cổ đông có thể đạt được trong những điều kiện nhất định bằng cách nghiên cứu tác động của các quyết định tới thị giá cổ phiếu
Gắn kết lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông Nhà quản lý tài
chính chịu trách nhiệm phân tích, kế hoạch hóa tài chính, quản lý ngân quỹ, chi tiêu cho đầu tư và kiểm soát Do đó, nhà quản lý tài chính thường giữ địa vị cao trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp và thẩm quyền tài chính ít khi được phân quyền hoặc
uỷ quyền cho cấp dưới
Tác động của thuế Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định tài chính nào,
nhà quản lý tài chính luôn tính tới tác động của thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp Khi xem xét một quyết định đầu tư, doanh nghiệp phải tính tới lợi ích thu được trên cơ sở dòng tiền sau thuế do dự án tạo ra Hơn nữa, tác động của thuế cần được phân tích kỹ lưỡng khi thiết lập cơ cấu vốn của doanh nghiệp Bởi lẽ, khoản nợ có một lợi thế nhất định về chi phí so với vốn chủ sở hữu Đối với doanh nghiệp, chi phí trả lãi là chi phí giảm thuế Vì thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của
Trang 17Chính phủ nên thông qua thuế, Chính phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế tiêu
dùng và đầu tư Các doanh nghiệp cần cân nhắc, tính toán để điều chỉnh các quyết
định tài chính cho phù hợp, đảm bảo được lợi ích của các cổ đông
1.3.5 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản lý tài chính doanh
nghiệp
Quản trị tài chính ở những doanh nghiệp khác nhau đều có những điểm khác
nhau Sự khác nhau đó ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: Sự khác biệt về hình thức
pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và môi trường
kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.5.1 Hình thức pháp lý và đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Những đặc điểm riêng về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa các
doanh nghiệp trên có ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp như việc tổ
chức, huy động vốn, sản xuất kinh doanh, việc phân phối lợi nhuận
Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ
tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về
mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:
Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh Ảnh hưởng này thể hiện
trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy
mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng
chúng, do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lưu động)
ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả
Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh Tính thời vụ
và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu
tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn
lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp
cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng
đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như trong việc tổ chức đảm bảo
nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản
phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lượng vốn lưu động tương đối lớn, doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời vụ, thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả, cũng thường gặp những khó khăn Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn
1.3.5.2 Môi trường kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh bao gồm tất những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng mọi hoạt động của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt động tài chính Dưới đây chủ yếu xem xét tác động của môi trường kinh doanh đến các hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp
Sự ổn định của nền kinh tế Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh
tế, của thị trường có ảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Những biến động của nền kinh tế
có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay nguồn tài trợ cho việc mở rộng sản xuất hay việc tăng tài sản
Ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế Giá cả thị trường,
giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ có ảnh hưởng lớn tới doanh thu, do đó cũng có ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ảnh nếu có sự thay đổi về giá cả Sự tăng, giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy đông vốn vay Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư Tất cả các yếu tố trên có thể được các nhà quản trị tài chính sử dụng để phân tích các hình thức tài trợ và xác định thời
Trang 18gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị trường tài chính
Sự cạnh tranh trên thị trường và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ Sự cạnh
tranh sản phẩm đang sản suất và các sản phẩm tương lai giữa các doanh nghiệp có
ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên quan chặt chẽ đến
khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và tăng trưởng trong một nền kinh tế luôn
luôn biến đổi và người giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về việc cho doanh
nghiệp hoạt động khi cần thiết Cũng tương tự như vậy, sự tiến bộ kỹ thuật và công
nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải ra sức cải tiến kỹ thuật, quản lý, xem xét và đánh
giá lại toàn bộ tình hình tài chính, khả năng thích ứng với thị trường, từ đó đề ra
những chính sách thích hợp cho doanh nghiệp
Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp Các
chính sách về thuế, về kế toán, thống kê… ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
cũng như hoạt động tài chính doanh nghiệp Với tư cách là đối tượng chịu sự quản
lý của nhà nước, trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài
chính nói riêng, các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ tuân thủ chính sách, pháp
luật Các chính sách này được các nhà phân tích tài chính vận dụng trong quá trình
phân tích để đảm bảo tính phù hợp, tính sát thực của công tác phân tích với pháp
luật của nhà nước Ngoài ra, các chính sách đó còn có tính định hướng và là động
lực cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.6 Nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp
Nội dung của quản lý tài chính chính là việc thực hiện các chức năng của
quản lý tài chính, được thể hiện ở việc đảm bảo đủ nguồn tài chính cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh toán, khả năng huy
động và sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả
1.3.6.1 Hoạch định tài chính
Hoạch định tài chính là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ
các khâu khác trong quá trình quản lý tài chính Khâu này sẽ là cơ sở cho việc lựa
chọn các phương án hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong tương lai và cũng
đồng thời là căn cứ để tiến hành kiểm tra, kiểm soát các bộ phận trong tổ chức Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện theo 5 bước như sau:
Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường
Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tài chính của doanh nghiệp Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên ngoài để có thể xác định được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên trong tổ chức để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để có thể có những giải pháp hữu hiệu khắc phục những điểm yếu và phát huy cao độ những điểm mạnh
Bước 2: Thiết lập các mục tiêu
Mục tiêu tài chính của doanh nghiệp bao gồm các mục tiêu về lợi nhuận, mục tiêu doanh số và mục tiêu hiệu quả Các mục tiêu tài chính cần xác định một cách rõ ràng, có thể đo lường được và phải mang tính khả thi Do đó các mục tiêu này phải được đặt ra dựa trên cơ sở là tình hình của doanh nghiệp hay nói cách khác
là dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo môi trường Đồng thời, cùng với việc đặt ra các mục tiêu thì nhà quản lý cần phải xác định rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận trong doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu này
Bước 3: Xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu
Căn cứ vào các mục tiêu đó đề ra, dựa trên cơ sở tình hình hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản lý xây dựng các phương án để thực hiện các mục tiêu này Các phương án phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và chỉ những phương án triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích
Bước 4: Đánh giá các phương án
Các nhà quản lý tiến hành phân tích, tính toán các chỉ tiêu tài chính của từng phương án để có thể so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng phương án cũng như khả năng hiện thực hoá như thế nào, tiềm năng phát triển đến đâu…
Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu
Trang 19Sau khi đánh giá các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựa chọn Phương
án này sẽ được phổ biến tới những cá nhân, bộ phận có thẩm quyền và tiến hành
phân bổ nguồn nhân lực và tài lực cho việc thực hiện kế hoạch
1.3.6.2 Kiểm tra tài chính
Kiểm tra là hoạt động theo dõi và giám sát một hoạt động nào đó dựa trên
căn cứ là các mục tiêu chiến lược đó đề ra và trên cơ sở đó phát hiện ra những sai
sót và có những sửa chữa kịp thời Do đó, kiểm tra là một hoạt động có ý nghĩa vụ
cùng quan trọng và không thể thiếu trong mọi lĩnh vực hoạt động của mọi tổ chức
Tài chính là một vấn đề phức tạp có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mọi hoạt
động của tổ chức nên hoạt động kiểm tra tài chính lại càng trở nên quan trọng và
cần được tổ chức đóng quy trình và nghiêm túc Kiểm tra tài chính giúp cho cơ
quan quản lý theo dõi thực hiện các quyết định tài chính được ban hành và giúp
ngăn chặn, sửa chữa kịp thời những sai sót trong việc thực hiện quyết định của cấp
trên Nội dung của kiểm tra tài chính gồm 3 giai đoạn:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính
- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch đó được phê duyệt
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính
1.3.6.3 Quản lý vốn luân chuyển
Quản lý vốn luân chuyển bao gồm 3 nội dung quan trọng là: Quản lý vốn cố
định, Quản lý vốn lưu động và Quản lý vốn đầu tư tài chính
a Quản lý vốn cố định
Vốn cố định là tổng lượng tiền khi tiến hành định giá tài sản cố định Tài sản
cố định là những tư liệu lao động có giá trị sử dụng trong thời gian dài, tham gia
vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái vật chất không thay đổi từ khi đưa
vào sản xuất cho đến khi thanh lý Để quản lý vốn cố định một cách có hiệu quả, tổ
chức cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo
chu kỳ và phải đảm bảo chính xác
- Dựa vào đặc điểm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về tài sản của Bộ Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo thu hồi vốn nhanh, khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý
- Thường xuyên đổi mới, nâng cấp để không ngừng nâng cao hiệu suất sản xuất của tài sản cố định
- Sau mỗi kỳ hoạt động, doanh nghiệp sử dụng các tiêu chí để tính toán, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định Từ đó tìm ra các nguyên nhân để tìm biện pháp khắc phục những hạn chế và tiếp tục tăng cường những điểm mạnh của tài sản
- Khai thác hợp lý các nguồn tài trợ vốn lưu đông
- Thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tìm hiểu và phát hiện xem vốn lưu động bị ứ đọng ở mặt nào, khâu nào để kịp tìm kiếm những biện pháp xử lý hữu hiệu
Trong công tác quản lý vốn lưu động cần quán triệt các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm thoả mãn nhu cầu vốn cho sản xuất đồng thời bảo đảm sử dụng vốn có hiệu quả Trong công tác quản lý vốn lưu động thường xuất hiện những mâu thuẫn giữa khả năng vốn lưu động thì có hạn mà phải đảm bảo cho nhu cầu sản xuất kinh doanh rất lớn Giải quyết mâu thuẫn này, doanh nghiệp phải cải tiến quản lý, tăng cường hạch toán kinh doanh, đề ra những biện pháp thích hợp để hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư, hàng hoá Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hóa Luân chuyển vốn lưu động
và vận động của vật tư kết hợp chặt chẽ với nhau Cho nên quản lý tốt vốn lưu động phải đảm bảo sử dụng vốn trong sự kết hợp với sự vận động của vật tư, nghĩa là tiền
Trang 20chi ra phải có một lượng vật tư nhập vào theo một tỷ lệ cân đối, hoặc số lượng sản
phẩm được tiêu thụ phải đi kèm số tiền thu được về nhằm bù đắp lại phần vốn đó
chi ra
- Tự cấp phát vốn và bảo toàn vốn: Doanh nghiệp tự mình tính toán nhu
cầu vốn để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện bằng các
nguồn vốn được huy động Nguyên tắc này đề cao tinh thần trách nhiệm của doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất trong khuôn khổ các nhiệm vụ đề ra của mục tiêu kế
hoạch Doanh nghiệp phải tổ chức những nguồn vốn mình cần đến trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó những kết quả hoạt động của bản thân doanh
nghiệp là tiền đề để tiến hành sản xuất mở rộng theo kế hoạch Chính vì thế khả
năng phát triển trong tương lai của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào hoạt động
trong năm nay kết quả như thế nào Tuy nhiên không thể xuất phát một chiều hoàn
toàn từ những khả năng tài chính hiện có để kế hoạch hoá mở rộng sản xuất
c Quản lý vốn đầu tư tài chính
Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ phiếu,
trái phiếu hoặc tham gia vào góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác để góp
phần đảm bảo cho nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp cũng như tăng thu nhập
cho doanh nghiệp Trong xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại thì đầu tư tài
chính ngày càng phát triển và mang lại lợi ích ngày càng lớn cho các doanh nghiệp
Chính vì thế hoạt động quản lý vốn đầu tư tài chính ngày càng có vai trò quan trọng
đối với các doanh nghiệp
1.3.6.4 Phân tích tài chính
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công
cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý
nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và
chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của
doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết
định quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau : với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích( trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp )
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người bên ngoài doanh nghiệp Do
đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tin khác nhau
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy
sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước
Trang 21và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp trên các góc độ khác nhau
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài
chính là việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính của doanh
nghiệp, bao gồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốn
cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và
kết quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnh
hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có
hiệu quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm
tàng của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc
ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương lai của doanh
nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong phạm
vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các lĩnh vực :
- Các thông tin chung về kinh tế, thuế, tiền tệ
- Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương
pháp: phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài
chính
Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến
động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài
chính, còn phân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối
tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài
chính với nhau để rút ra kết luận Cụ thể, trong thực tế người ta thường sử dụng các
phương pháp như: So sánh, loại trừ, thay thế liên, số chênh lệch, liên hệ cân đối,
liên hệ thuận nghịch, liên hệ tương quan
Trình tự tiến hành phân tích tài chính tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích ứng với từng giai đoạn dự đoán tài chính theo sơ đồ ở Hình 1.1 sau:
Giai đoạn dự đoán Nghiệp vụ phân tích Chuẩn bị và xử lý các nguồn thông tin
- Thông tin kế toán nội bộ
- Thông tin khác từ bên ngoài
- Biểu hiện hoặc hội chứng khó khăn
- Điểm mạnh và điểm yếu - Cân bằng tài chính - Năng lực hoạt động tài chính
- Cơ cấu vốn và chi phí vốn
- Cơ cấu đầu tư và doanh lợi
Phân tích thuyết minh
- Nguyên nhân khó khăn
- Phương tiện thành công và điều kiện bất lợi
Tổng hợp quan sát
Tiên lượng và chỉ dẫn Xác định : - Hướng phát triển
- Giải pháp tài chính hoặc GP khác
Hình 1.1: Sơ đồ phân tích tài chính doanh nghiệp
Tuy nhiên, trình tự phân tích và một số tiểu tiết cũng có thể thay đổi hoặc bỏ qua một số bước tuỳ thuộc vào từng điều kiện của từng doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm: 1) Phân tích khái quát
và phân tích chi tiết tình hình tài chính; 2) Phân tích các hoạt động về vốn; 3) Phân tích các tỷ lệ tài chính
- Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính Phân tích khái quát tình hình tài chính: Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiên phải so sánh tổng tài sản và tổng nguồn vốn giữa kì và đầu năm Qua so sánh, có thể thấy được sự thay đổi quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, số tổng cộng của tài sản và nguồn vốn tăng giảm là do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần đi sâu phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán
Trang 22Phân tích chi tiết tình hình tài chính: Trong phân tích chi tiết tình hình tài
chính ta đi phân tích tình hình phân bổ vốn, xem xét doanh nghiệp đã phân bổ vốn
hợp lí và phát huy hiệu quả chưa? Để phân tích, ta tiến hành xác định tỉ trọng từng
khoản vốn ở thời điểm đầu kì và cuối kì và so sánh sự thay đổi về tỉ trọng giữa đầu
kì và cuối kì nhằm tìm ra nguyên nhân của sự chênh lệch này Qua so sánh ta thấy
được sự thay đổi về số lượng, quy mô và tỉ trọng của từng loại vốn Để có thể thấy
được tình hình thay đổi của tài sản là hợp lí hay không cần đi sâu nghiên cứu sự
biến động của tài sản Việc đầu tư chiều sâu, mua sắm trang thiết bị, đổi mới công
nghệ để tạo tiền đề tăng năng suất lao động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả hoặc
đầu tư tài chính dài hạn được xem xét thông qua các chỉ tiêu: Tỉ suất đầu tư chung,
tỉ suất đầu tư tài sản cố định, tỉ suất đầu tư tài chính dài hạn
- Phân tích các hoạt động về vốn như: Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử
dụng vốn; Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh
- Phân tích các tỷ lệ tài chính Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính
chủ yếu thường được phân thành 4 nhóm chính Đó là: nhóm tỷ lệ về khả năng
thanh toán, nhóm tỷ lệ về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động,
nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lãi Nhìn chung, mối quan tâm trước hết của các nhà
phân tích tài chính là tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh không?
Liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được những khoản nợ đến hạn không?
Nhưng tuỳ theo mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích tài chính chú trọng
nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ này hay nhóm tỷ lệ khác Chẳng hạn, các chủ nợ ngắn hạn
đặc biệt quan tâm đến tình hình khả năng thanh toán của người vay Trong khi đó,
các nhà đầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơn đến khả năng hoạt động có lãi và hiệu
quả sản xuất kinh doanh Họ cũng cần nghiên cứu tình hình về khả năng thanh toán
để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu chi trả hiện tại và xem xét
lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp Bên cạnh đó, họ
cũng chú trọng tới tỷ lệ cân đối vốn vì sự thay đổi tỷ lệ này sẽ ảnh hưởng đáng kể
tới lợi ích của họ
Các tỷ lệ tài chính cung cấp cho người phân tích khá đầy đủ các thông tin về từng vấn đề cụ thể liên quan tới tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của người phân tích là phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các nhóm tỷ lệ để từ đó đưa ra kết luận khái quát về toàn bộ tình hình tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình phân tích nên lưu ý rằng một tỷ lệ tài chính riêng rẽ thì tự nó không nói lên điều gì Nó cần phải được so sánh với tỷ lệ ở các năm khác nhau của chính doanh nghiệp đó và
so sánh với tỷ lệ tương ứng của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành Mỗi nhóm tỷ lệ trên bao gồm nhiều tỷ lệ và trong từng trường hợp các tỷ lệ được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích Dưới đây là bốn nhóm tỷ lệ thường dùng để phân tích và đánh giá hoạt động tài chính doanh nghiệp:
- Nhóm tỷ số về thanh toán , bao gồm: Tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh
Tỷ số thanh toán hiện hành là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu
động cho nợ ngắn hạn Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới một năm Tỷ lệ khả năng thanh toán chung là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứng với thời hạn của các khoản nợ đó
Tỷ số thanh khoản hiện hành Rc = Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán nhanh một tỷ lệ thanh toán chung cao chưa phản ánh
chính xác việc doanh nghiệp có thể đáp ứng nhanh chóng được các khoản nợ ngắn hạn trong thời gian ngắn với chi phí thấp hay không vì nó còn phụ thuộc vào tính thanh khoản của các khoản mục trong tài sản lưu động và kết cấu của các khoản mục này Vì vậy, chúng ta cần phải xét đến hệ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách chia tài sản quay vòng nhanh cho nợ ngắn hạn Tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán dự trữ (tồn kho)
Trang 23Tỷ số thanh toán nhanh = Tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
- Nhóm tỷ số hoạt động, bao gồm: Số vòng quay các khoản phải thu; Số
vòng quay hàng tồn kho; Hiệu suất sử dụng tài sản cố định; Hiệu suất sử dụng toàn
bộ tài sản; Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho các
khoản phải thu trong kỳ
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần
Các khoản phải thu
Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xác định bằng công thức dưới
đây Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho được bán ra
trong kỳ kế toán và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn luân chuyển
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định Tỷ số này nói lên một đồng tài sản cố
định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài
sản ở công ty
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần
Tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo
lường một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản càng lớn, hiệu quả sử dụng
tổng tài sản càng tăng và ngược lại, nếu Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản càng nhỏ
hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng giảm
Giá trị hàng tồn kho
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần
Toàn bộ tài sản
Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay
được mấy vòng trong kỳ Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển Đẩy nhanh tốc
độ luân chuyển vốn sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần đo lường mối quan hệ giữa doanh thu và vốn cổ phẩn
Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = Doanh thu thuần
Vốn cổ phần
- Nhóm tỷ số đòn bẩy tài chính, bao gồm: Tỷ số nợ trên tài sản; Tỷ số nợ/vốn cổ phần; Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần; Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần; Khả năng thanh toán lãi vay
Tỷ số nợ trên tổng tài sản thường gọi là tỷ số nợ, là một tỷ số tài chính đo
lường năng lực sử dụng và quản lý nợ của doanh nghiệp Tỷ số này được tính bằng cách lấy tổng nợ của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Công thức tính như sau
Tỷ số nợ trên tài sản = Tổng nợ
Tổng tài sản
Tỷ số nợ/vốn cổ phần đây là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty
được tính bằng cách chia tổng nợ cho vốn cổ phần Nó cho ta biết về tỉ lệ nợ và cổ phần mà công ty sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình Công thức tính:
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần = Tổng nợ
Vốn cổ phần
Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần Mục đích của việc sử dụng tỷ lệ nợ dài
hạn trên vốn chủ sở hữu là để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên (qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu) qua việc loại bỏ các khoản nợ ngắn hạn Tỷ số này nên biến động từ 0-dưới 1
Trang 24Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần = Tồng tài sản
Vốn cổ phần
Khả năng thanh toán lãi vay Sử dụng nợ nói chung tạo ra được lợi nhuận
cho công ty, nhưng cổ đông chỉ có lợi khi nào lợi nhuận tạo ra lớn hơn lãi phải trả
cho việc sử dụng nợ Nếu không, công ty sẽ không có khả năng trả lãi và gánh nặng
lãi gây thiệt hai cho cổ đông Để đánh giá khả năng trả lãi của công ty chúng ta sử
dụng tỷ số khả năng trả lãi Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước
thuế và lãi vay cho lãi tiền vay
Khả năng thanh toán lãi vay = Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT)
Lãi vay
- Nhóm tỷ số sinh lợi, bao gồm: Tỷ số sinh lợi trên doanh thu; Tỷ số sinh
lợi trên tổng tài sản; Tỷ số lợi nhuận trên vốn cổ phần; Tỷ số sinh lợi căn bản
Tỷ số sinh lợi trên doanh thu chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận sau thuế có
trong một đồng doanh thu Chỉ tiêu này có thể tăng giảm giữa các kỳ tuỳ theo sự
thay đổi của doanh thu thuần và chi phí Nếu doanh thu thuần giảm hoặc tăng không
đáng kể trong khi đó chi phí tăng lên với tốc độ lớn hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận sau
thuế giảm và kết quả là doanh lợi tiêu thụ sản phẩm thấp Khi đó, doanh nghiệp vẫn
cần xác định rõ nguyên nhân của tình hình để có giải pháp khắc phục
Tỷ số sinh lợi trên doanh thu = Lợi nhuận ròng
Doanh thu thuần
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản thường viết tắt là ROA từ các chữ cái đầu
của cụm từ tiếng Anh Return on Assets, là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả
năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số này được tính ra bằng
cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo
cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ
Tỷ số sinh lợi trên tổng tài sản = Lợi nhuận ròng
Tổng tài sản
Tỷ số lợi nhuận trên vốn cổ phần được xác định bằng cách chia lợi nhuận
sau thuế cho vốn chủ sở hữu Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu cũng là mục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình)
Tỷ số lợi nhuận trên vốn cổ phần = Lợi nhuận ròng
Vốn cổ phần
Tỷ số sức sinh lợi căn bản là một tỷ số tài chính để đánh giá khả năng sinh
lợi của doanh nghiệp mà không kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính
Tổng tài sản
1.3.7.5 Quyết định đầu tư tài chính
Đầu tư là hoạt động quan trọng nhất trong việc xử lý tài chính doanh nghiệp
Nó không những có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà cũng
có vai trò quan trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội và tiến bộ kỹ thuật
Quyết định đầu tư tài chính là một trong những quyết định quan trọng Nó quyết định sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp Một quyết định đầu tư được cho là đúng đắn phải dựa trên quyết định đầu tư tài chính phù hợp Đầu tư tài chính chủ yếu là đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, truớc sự biến động của môi trường thì rủi ro là điều không thể tránh khỏi, nên các nhà quản lý tài chính phải đưa ra các quyết định đầu tư tài chính hợp
Trang 25lý nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài chính của doanh nghiệp Các căn cứ để ra
quyết định đầu tư tài chính đúng đắn, bao gồm:
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp
- Khả năng doanh lợi có thể đạt được, thời gian thu hồi vốn
- Trình độ tiến bộ khoa học, kỹ thuật của doanh nghiệp
- Thị trường và sự cạnh tranh của các đối thủ
- Các chính sách kinh tế, những ràng buộc vĩ mô của nhà nước
1.4 Tóm tắt chương 1
Trong Chương 1 tác giả đã trình bày khái quát lý luận về tài chính doanh
nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp Với phạm vi nghiên cứu của đề tài quản
lý tài chính doanh nghiệp tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề cơ bản nhất,
chung nhất về quản lý tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường như:
khái niệm, vai trò, nội dung, ý nghĩa của quản lý tài chính doanh nghiệp và đặc biệt
chú trọng đến quản lý tài chính trong doanh nghiệp với hình thái tổ chức kinh doanh
khá quan trọng và phổ biến hiện nay đó là Công Ty Cổ Phần Hoạt động quản lý tài
chính doanh nghiệp cần được tuân theo những nguyên tắc nhất định và thường
hướng vào những khía cạnh chủ yếu như: tầm vóc, quy mô phát triển doanh nghiệp,
các hình thức nắm giữ tài sản của doanh nghiệp, thành phần và kết cấu nguồn tài trợ
của doanh nghiệp v.v Ngoài ra để đánh giá tình hình quản lý tài chính của doanh
nghiệp, có 4 nhóm tỷ lệ được dùng để phân tích như : nhóm tỷ số thanh toán, nhóm
tỷ số hoạt động, nhóm tỷ số đòn bẩy tài chính và nhóm tỷ số sinh lợi Trong chương
2, tác giả sẽ tiến hành phân tích cụ thể các nhóm tỷ số này Trên cơ sở đó, xây dựng
hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sách – TBTH Đà Nẵng trong những
chương sau
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY CP SÁCH – TBTH ĐÀ NẴNG 2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty CP Sách – TBTH Đà Nẵng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Sách và thiết bị Trường học Đà Nẵng là doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo Thông tư số 14/TT-TC ngày 10/06/1982 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (QNĐN) Nhiệm vụ của Công ty là đáp ứng nhu cầu sách vở, thiết bị giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh trên địa bàn tỉnh QNĐN Mục tiêu ban đầu của Công ty là phục vụ cho công tác chuyên môn, phục vụ giáo dục chưa chú trọng đến hiệu quả kinh doanh Từ năm 1986 nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường, hoạt động của Công ty dần mang tính chất kinh doanh và đồng thời phải bảo đảm hai nhiệm vụ chính trị: Kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm phục vụ tốt công tác chuyên môn của ngành Thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, Công ty đã xây dựng phương án cổ phần hoá và ngày 24/02/2004 UBND Thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 26/2004/QĐ-UB “Phê duyệt phương án cổ phần hóa, chuyển Công ty Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng thành Công ty cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng.” Quá trình phát triển Công ty đến nay có thể chia làm các giai đoạn:
- Giai đoạn từ năm 1986 trở về trước: Trong giai đoạn này, nền kinh tế còn
mang tính chất kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp nhà nước được bao cấp trong kế hoạch và nguồn lực nên hiệu quả kinh tế chưa được xem trọng Năm 1986, tổng doanh thu là: 8.000.000 đồng, nguồn vốn 160.000.000 đồng và lợi nhuận không đáng kể
- Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1995: Đây là giai đoạn Công ty làm
quen với những quy luật của nền kinh tế thị trường Khách hàng chủ yếu của Công
ty vẫn là các đơn vị trường học được chỉ định mua bằng nguồn kinh phí của nhà
Trang 26nước (KP 30) Trong giai đoạn này nhà cung cấp và khách hàng Công ty chỉ có vài
đơn vị Hoạt động bán lẻ chưa phát triển và không có hiệu quả Cuối năm 1994
bằng quyết định táo bạo có tính bản lề tạo sự chuyển hướng là việc thành lập Xưởng
in, thực hiện in sách cho các đối tác và bắt đầu mở các địa điểm bán lẻ, tạo nên thị
trường mới và khách hàng mới, Ban lãnh đạo Công ty đã xây dựng được cơ sở vững
chắc để tạo sức bật cho giai đoạn tiếp theo
- Giai đoạn từ năm 1995 đến 2003: Với kết quả thu được từ hoạt động sản
xuất và đẩy mạnh bán lẻ Công ty đã có nguồn để bảo đảm thực hiện tích luỹ và cải
thiện thu nhập của người lao động Trong giai đoạn này cơ sở vật chất Công ty
không ngừng được đầu tư và phát triển về qui mô Số lượng lao động tăng mạnh từ
vài chục người lên trên hai trăm người Doanh thu hàng năm trên 50 tỷ đồng
Nguồn vốn từ 2,78 tỷ đồng tăng lên 14,156 tỷ đồng do bổ sung từ quỹ đầu tư phát
triển sau thuế thu nhập doanh nghiệp Là doanh nghiệp nhà nước Hạng I liên tục
trong nhiều năm
- Giai đoạn từ năm 2004 đến nay: Thực hiện cổ phần hoá, Công ty chuyển
sang mô hình công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Đây là bước
ngoặt mới để Công ty thực hiện thay đổi phương thức quản trị, tận dụng khai thác
nguồn lực về tài chính và lao động để tham gia sâu và rộng hơn vào thị trường phát
hành sách và in ấn Tăng cường khả năng cạnh tranh và tăng thị phần tiêu thụ Mở
rộng loại hình kinh doanh và đa dạng hoá các mặt hàng sản phẩm Năm 2002 Công
Ty mở văn phòng đại diện ở miền nam tại TP.HCM (CN công ty CP Sách – TBTH
Đà Nẵng ) và đến đầu năm 2005 công ty đã xây dựng được 8 nhà sách, 6 tại Đà
Nẵng và 2 tại TPHCM
2.1.2 Thông tin chung
- Tên gọi đầy đủ tiếng Việt: Công Ty Cổ Phần Sách Và Thiết Bị Trường
Học Đà Nẵng
- Tên giao dịch: DANANG BOOKS AND SCHOOL EQUIPMENT
JOINT STOCK COMPANY
- Webside Http://danangbook.com
- Địa chỉ văn phòng trụ sở công ty: 76 – 78 Bạch Đằng, TP Đà Nẵng
- Vốn điều lệ: 30.000.000.000 đồng (Ba mươi tỷ đồng)
- Hồ sơ pháp lý: Công ty cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0400465793 do Sở kế hoạch và Đầu tư TP Đà Nẵng cấp lần đầu ngày 24 tháng 05 năm 2004, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 25 tháng 5 năm 2009
- Cơ cấu cổ đông: (xem Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Cơ cấu cổ đông
Cơ cấu cổ đông Tỷ lệ
tổ chức sản xuất gia công, in ấn phục vụ cho ngành giáo dục và các đơn vị cá nhân
có nhu cầu
Bên cạnh đó Công ty có trách nhiệm quản lý nguồn vốn của mình một cách
có hiệu quả Nhiệm vụ kinh doanh của Công ty là liên kết với Sở Giáo dục trực tiếp
in ấn các loại sách, hồ sơ, biểu dẫn phục vụ nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh Công ty còn xuất bản các loại sách theo đơn đặt hàng của khách hàng
Trang 27Công ty thực hiện tuyên truyền, giới thiệu, thu nhập dữ liệu về sách, thiết bị,
hướng dẫn, bồi thường, đôn đốc về nghiệp vụ, xây dựng tủ sách, phòng thí nghiệm
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của Công ty là đáp ứng nhu cầu sách vở, thiết bị giảng dạy và học
tập cho giáo viên và học sinh trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng
Ngoài ra Công ty còn có nhiệm vụ tổ chức cung ứng, khai thác trang thiết bị
cho phòng thí nghiệm, đồ chơi mẫu giáo, đồ dùng học tập, dụng cụ nghe nhìn Công
ty còn thực hiện xuất khẩu sản phẩm văn hóa, văn phòng phẩm Bên cạnh đó Công
ty còn có các nhiệm vụ khác như:
- Thực hiện đầy đủ yêu cầu và nghĩa vụ Nhà nước giao
- Kinh doanh đúng ngành nghề qui định
- Bảo tồn và phát triển nguồn vốn, tạo hiệu quả kinh tế xã hội, tăng cường
phát triển cơ sở vật chất, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng vững chắc để Công ty
ngày càng phát triển trên thị trường
- Thực hiện phân phối lao động trên cơ sở hiệu quả kinh tế và lợi nhuận
của Công ty đã đạt được, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân
viên, đảm bảo mức lương tối thiểu, ổn định và ngày càng cải thiện
- Bảo vệ cơ sở vật chất, môi trường, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội
- Tuân thủ pháp luật, hạch toán và báo cáo theo chế độ kế toán thống kê
hiện hành do Nhà nước qui định
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy của công ty
Bộ máy của Công ty được bố trí theo cơ cấu trực tuyến - chức năng Đặc
điểm của cơ cấu này là điều hành theo phương pháp mệnh lệnh hành chính, mọi
quyết định đưa ra đến các phòng ban triển khai thực hiện Với qua mô Công ty bố
trí theo cơ cấu này là hợp lý, tránh được sự cồng kềnh (Xem Hình 2.1)
IN
PHÒNG
KD TBTH, VPP
PHÒNG
KH TÀI VỤ
CÁC NHÀ SÁCH
PHÒNG TCHC – DỊCH
VỤ
PHÒNG
KD SÁCH