Qua kết quả thanh tra ở một số địa phương nguyên nhân chủ quan của việc sai phạm là chủ yếu do cơ quan, xí nghiệp trong khi tiến hành thực hiện giảm biên chế, sắp xếp lại lực lượng sản x
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
TIÊU THỊ THU HIỀN
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TP.HCM
TIÊU THỊ THU HIỀN
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TP.HCM LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã ngành: 60340102
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ QUANG HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 09 năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS LÊ QUANG HÙNG
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 08 tháng 11 năm 2014
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
TT
5 TS TRƯƠNG QUANG DŨNG Ủy viên, Thư ký
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: TIÊU THỊ THU HIỀN Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 16/03/1972 Nơi sinh: Hà Tĩnh Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh MSHV: 1341820019
I- Tên đề tài:
“ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh”
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống Kiểm soát nội bộ tại Bảo Hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh từ đó xây dựng hệ thống hóa các lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ trong đơn vị hành chính sự nghiệp
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối bộ với hoạt động Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh
III- Ngày giao nhiệm vụ: 24/03/2014
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 27/09/2014
V- Cán bộ hướng dẫn: TS.Lê Quang Hùng
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
TS Lê Quang Hùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
của quý Thầy, Cô, Ban lãnh đạo Bảo Hiểm Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh, bạn bè
và các đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn TS LÊ QUANG HÙNG, người hướng dẫn khoa học
cho luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ cho em về mọi mặt để hoàn thành
luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Phòng
Quản Lý Khoa Học – Đào Tạo sau Đại Học đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá
trình hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong Hội Đồng chấm luận văn đã có
những ý kiến đóng góp để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Cho em cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô trường Đại Học Công Nghệ
Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức
quý báu
Tác giả luận văn: TIÊU THỊ THU HIỀN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc TP.Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 09 năm 2014
Học viên thực hiện luận văn
TIÊU THỊ THU HIỀN
Trang 4TÓM TẮT
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một
quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà
nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia
đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội Chế độ BHXH phát triển cùng
với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội của đất nước Việc thực hiện việc chi trả
lương hưu và các chế độ theo quy định của pháp luật, quyền lợi của người tham gia
ngày càng được mở rộng các đối tượng tham gia Việc giám sát, kiểm soát và ngăn
ngừa các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động của BHXH là rất cần thiết
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ hoạt động tại BHXH Thành phố Hồ Chí Minh; trong đó hoạt động
đáng quan tâm nhất là quản lý thu – quản lý chi - quản lý quỹ BHXH
Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ trong đơn vị hành chính
sự nghiệp
Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại BHXH Thành
Phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở phân tích các ưu, nhược điểm nghiên cứu đề xuất các giải pháp
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động BHXH tại BHXH TP HCM
Hy vọng rằng với những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn
thiện một bước công tác kiểm soát nội bộ hoạt động BHXH trong giai đoạn hiện
nay và trong tương lai để hoạt động của BHXH Việt Nam nói chung và BHXH
TP.Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng có hiệu quả, thực sự là mạng lưới an toàn xã
hội góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước, làm cho dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
ABSTRACT
Social Insurance gurantees alternative compensations of income within cases defined by laws Regulations of SI develop together with development of the state economy, so supervising , examining and preventing risks from occurring in SI is definitely necessary
This study aimed to suggest some solutions for perfecting internal control system of HCMC Social Insurance - especially focussing on account receivable management, as well as expenditure and fund management The study sytemized basic reasons of internal control in aministration agency Furthermore, analyzing, evaluating the actual state of internal control of HCMC Social Insurance From the analysis, the strengths and weaknesses of the internal control system of HCMC Social Insurance, this study promoted some solutions for perfecting its operation Hoping that the results of this thesis will play a role in perfecting the internal control work of social insurance in this period and in the future at HCMC Social Insurance These suggestions aims to help Vietnamese SI in general and HCMC Social Insurance in specific to operate more effectively Also the result of this study will help to build a network of safe society in Social Insurance
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HỆ THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 4
1.1 Tổng quan về hoạt động BHXH 4
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động BHXH 4
1.1.1.1 Khái niệm 4
1.1.1.2 Sơ lược lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội nói chung 5
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động BHXH đối với khu vực Nhà nước 6
1.1.2.1 Mục tiêu chung 6
1.1.2.2 Nhà nước quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH 7
1.1.2.3 Hệ thống các chế độ BHXH 7
1.1.3 Sự phát triển của hoạt động BHXH tại Việt Nam 9
1.1.3.1 Thời kỳ trước 1995 9
1.1.3.2 Thời kỳ sau 1995 11
1.2 Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong hoạt động BHXH 17
1.2.1 Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về KSNB trong hoạt động BHXH 17
1.2.1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về KSNB nói chung 17
1.2.2 Đặc điểm về Kiểm soát nội bộ của hoạt động BHXH 20
1.2.2.1 Khái niệm BHXH 20
1.2.3 Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB trong khu vực Nhà Nước (INTOSAI) 22
1.2.3.1 Định nghĩa về KSNB trong hoạt động BHXH ở khu vực Nhà nước 22
1.2.3.2 Các yếu tố của hệ thống KSNB trong hoạt động BHXH khu vực nhà nước 23
1.3 Kiểm soát nội bộ về hoạt động BHXH của một số quốc gia 24
1.3.1 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động BHXH tại Philippin 24
1.3.2 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động BHXH tại Mỹ và Canada 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TP HỒ CHÍ MINH 28
2.1 Giới thiệu tổng quan về TP Hồ Chí Minh 28
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh 28
2.1.1.1 Lịch sử hình thành 28
2.1.1.2 Vị trí - Dân số - Khí hậu 28
2.1.1.3 Kinh tế - Văn hoá du lịch và dịch vụ giải trí 29
2.1.1.4 Tiềm năng kinh tế 30
2.1.2 Giới thiệu về BHXH TP Hồ Chí Minh 30
2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức 32
2.1.2.3 Đặc điểm hoạt động tại BHXH TP HCM 34
2.2 Thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại BHXH TP Hồ Chí Minh 41
2.2.1 Thực trạng kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý sổ, thẻ BHXH – BHYT 41
Thực trạng kiểm soát nội bộ trong công tác cấp sổ BHXH 42
2.2.2 Thực trạng kiểm soát nội bộ công tác quản lý Thu BHXH, BHYT, BHTN 45
2.2.2.1 Quy trình Thu BHXH, BHYT bắt buộc: 46
2.2.2.2 Tình hình nợ BHXH, BHYT: 49
2.2.3 Thực trạng kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý Chi từ quỹ BHXH
55
Trang 62.3 Nhận dạng và phân tích các nguyên nhân dẫn đến rủi ro của hoạt động
BHXH tại cơ quan BHXH TP Hồ Chí Minh 58
2.3.1 Nhận xét về hoạt động kiểm soát nội bộ tại BHXH TP Hồ Chí Minh 58 2.3.1.1 Nhận xét hoạt động kiểm soát nội bộ tại BHXH TP Hồ Chí Minh 58
2.3.1.2 Đánh giá hoạt động kiểm soát nội bộ tại BHXH TP Hồ Chí Minh 59 2.3.2 Những ưu điểm và tồn tại của kiểm soạt nội bộ với các hoạt động BHXH tại BHXH TP.Hồ Chí Minh 60
2.3.2.1 Nhận dạng rủi ro 60
2.3.2.2 Phân tích các nguyên nhân 66
2.3.3 Những ưu điểm và tồn tại của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động BHXH tại BHXH TP.Hồ Chí Minh 68
2.3.3.1 Môi trường kiểm soát 69
2.3.3.2 Các hoạt động kiểm soát 70
2.3.3.3 Thông tin và truyền thông 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TP HỒ CHÍ MINH 74
3.1 Quan điểm phát triển 74
3.1.1 Quan điểm phát triển 74
3.1.2 Phương hướng phát triển 74
3.1.3 Dự báo 76
3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại BHXH TP Hồ Chí Minh 77
3.2.1 Giải pháp hạn chế nợ đọng đối với các đơn vị nợ BHXH 77
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý quỹ BHXH 78
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phôi thẻ khám chữa bệnh 80
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ khác 82
3.2.4.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động BHXH 82
3.2.4.2 Nâng cao vai trò giám sát, đánh giá hệ thống KSNB hoạt động BHXH của bộ máy kiểm tra pháp chế thuộc BHXH Việt Nam 83
3.2.4.3 Tạo lập các kênh thông tin đáng tin cậy cho hoạt động BHXH và các đối tượng tham gia BHXH 84
3.3 Kiến nghị 86
3.3.1 Kiến nghị với Ủy ban Nhân Dân TP Hồ Chí Minh 86
3.3.2 Kiến nghị với BHXH Việt Nam 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH TP.: Bảo hiểm xã hội TP.Hồ Chí Minh
BHYT: Bảo hiểm y tế
BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
NSNN: Ngân sách nhà nước
NLĐ: Người lao động
KSNB: Kiểm soát nội bộ
ILO : Tổ chức lao động Quốc Tế
INTOSAI : Tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế (Guideline for
International Standard)
COSO: Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ (Committee of Sponsoring
Organizations)
QLST: Phần mềm quản lý sổ thẻ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới 9
Bảng 1.2: Đối tượng đồng thời tham gia BHXH, BHYT, BHTN 15
Bảng 1.3: Người lao động là phu nhân (phu quân) hưởng lương từ Ngân sách của Nhà nước 15
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện công tác cấp sổ BHXH từ 2011- 2013 42
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện công tác cấp thẻ BHYT từ 2011- 2013 44
Bảng 2.3: Tình hình thực hiện công tác cấp phôi sổ BHXH, thẻ BHYT bị hư hỏng từ 2011- 2013 45
Bảng 2.4: Tình hình thực hiện công tác Thu BHXH từ 2011- 2013 47
Bảng 2.5: Số lao động tham gia BHXH năm 2011 – 2013 48
Bảng 2.6: Tình hình thực hiện công tác nợ đọng BHXH từ 2011- 2013 50
Bảng 2.7: Tình hình nợ BHXH - BHYT tính đến 31/07/2014 52
Bảng 2.8: Tình hình khởi kiện năm 2013 54
Bảng 2.9: Tình hình chi BHXH năm 2011 - 2013 57
Trang 8Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá trình đổi mới toàn diện trong tất cả các lĩnh vực của đất nước đang diễn ra từng ngày Nền kinh tế đất nước đang phát triển mạnh mẽ theo định hướng đa thành phần kinh tế Thực hiện tốt chế độ, chính sách BHXH trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là yếu tố hết sức quan trong để đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau Đó là sự công bằng về nghĩa vụ đóng góp cho đất nước, cho xã hội cũng như công bằng về các quyền lợi mà họ cần được hưởng từ nhà nước, từ xã hội Chính sự bình đẳng này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Nói cách khác, đó là sự thúc đẩy quá trình sản suất phát triển lên một trình độ mới, cao hơn
Trong số các đơn vị BHXH ở Việt Nam, BHXH Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị BHXH có mức đóng góp vào Quỹ BHXH Việt Nam cao nhất Với địa bàn quản lý rộng, số lượng các doanh nghiệp nhiều, đa dạng và ngày càng phát triển đang là một vấn đề khó khăn đặt ra cho cơ quan trong quá trình quản lý hoạt động BHXH
Trang 9kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu Với những lý do trên đây, tôi chọn đề tài "Hoàn
thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh” là yêu
cầu tất yếu
2 Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thấy môi trường kiểm soát là nền tảng của kiểm soát nội bộ trong hoạt
động BHXH Các yêu cầu về môi trường kiểm soát trong hoạt động BHXH về cơ
bản khá tương đồng với hoạt động của doanh nghiệp Bao gồm các chính sách, thủ
tục, kỹ thuật và cơ chế nhằm thực hiện các chỉ đạo của người lãnh đạo Các hoạt
động kiểm soát cũng hỗ trợ cho cho việc đối phó với rủi ro
Kiểm soát công tác quản lý tài chính và nghiệp vụ kế toán BHXH quận
huyện và đại diện chi trả, bảo đảm công tác tài chính ngày càng chặt chẽ, đúng quy
định hơn Việc chi bảo hiểm thất nghiệp được quản lý ngày càng chặt chẽ, thuận
tiện
3 Mục tiêu đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài:
Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống Kiểm soát nội bộ tại BHXH
thành phố Hồ Chí Minh từ đó xây dựng hệ thống hóa các lý luận cơ bản về kiểm soát
nội bộ trong đơn vị hành chính sự nghiệp Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn
thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối bộ với hoạt động Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ
Chí Minh
Mục tiêu cụ thể:
- Kiểm soát chặt chẽ có hiệu quả việc thực hiện chính sách pháp luật về
BHXH – BHYT – BHTN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
- Kiểm soát quá trình thực hiện công tác thu – công tác chi – giải quyết chế độ
chính sách BHXH – BHYT – BHTN cho người lao động, người dân trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh
- Đảm bảo tuân thủ các qui định và luật BHXH hiện hành một cách khoa học
mang lại hiệu quả cao
- Bảo vệ tài sản, nguồn tiền, nguồn lực để chống thất thoát quỹ, lãng phí
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
soát nội bộ:
Quản lý thu – quản lý chi - quản lý phôi thẻ BHXH, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội
- Phạm vi nghiên cứu: Bảo Hiểm Xã Hội TP Hồ Chí Minh
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp thống kê toán học; phương pháp phân tích, dự báo
Các phương pháp này được sử dụng kết hợp hoặc riêng rẽ trong quá trình nghiên cứu
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có rất nhiều công tình nghiên cứu về lĩnh vực BHXH Phần lớn các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu rộng, tầm bao quát cao ở các lĩnh vực định hướng chiến lược BHXH, quản lý quỹ BHXH như đề tài luận án tiến
sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” năm 2005 – TS
5 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu; phần kết luận ; Nội dung nghiên cứu gồm có 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động BHXH và hệ thống kiểm soát nội bộ trong hệ thống BHXH
Chương 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại BHXH TP Hồ Chí Minh
Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện thống kiểm soát nội bộ tại BHXH
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ
HỘI VÀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HỆ
THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Tổng quan về hoạt động BHXH
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động BHXH
1.1.1.1 Khái niệm
“Bảo hiểm là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có
cùng khả năng góp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên” Định nghĩa này chỉ
mới đề cập đến phương pháp lập quỹ dự trữ bảo hiểm, mà chưa rõ phương thức sử
dụng nó
“ Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường cho
người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo
hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho
người thứ ba” Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người
bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ Khi người tham gia
gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường
thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia Phạm vi bảo hiểm là những
rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm
Đây là những định nghĩa mang tính chất chung của bảo hiểm Có định nghĩa
chỉ rõ đặc trưng riêng của loại bảo hiểm xã hội Chẳng hạn:
“BHXH là sự đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động và gia đình họ
khi có nguy cơ mất an toàn về kinh tế do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông
qua việc sử dụng nguồn quỹ huy động từ người tham gia và sự tài trợ của Nhà
nước” Định nghĩa này chỉ rõ mục đích của BHXH là đảm bảo đời sống cho người
lao động và gia đình họ thông qua sử dụng quỹ huy động từ người tham gia và sự
tài trợ của Nhà nước để trợ cấp cho người lao động bị giảm sức lao động hoặc mất
sức lao động
Bảo hiểm nói chung hay BHXH nói riêng đều mang lại những lợi ích kinh tế
– xã hội thiết thực Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham
gia trước tổn thất do rủi ro gây ra Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất,
giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho
mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp Ngoài ra, bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước
Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, công ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh Như vậy, ngân sách Nhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khi gặp rủi
ro, tất nhiên trừ trường hợp tổn thất có tính thảm họa, mang tính xã hội rộng lớn Bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế xã hội Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm Bảo hiểm thu hút số lượng lao động nhất định của xã hội, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội, góp phần tạo ra một bộ phận tổng sản phẩm trong nước của quốc gia Cuối cùng bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức kinh tế – xã hội; giúp họ yên tâm trong cuôc sống, sinh hoạt và trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1.2 Sơ lược lịch sử phát triển của bảo hiểm xã hội nói chung
BHXH là nhu cầu khách quan của người lao động, nó đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ gặp phải những sự kiện bảo hiểm làm giảm hoặc mất khả năng lao động nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ
BHXH mang tính cộng đồng và nhân đạo và nhân văn sâu sắc – BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và thể hiện mối quan hệ 3 bên, bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Trách nhiệm về quyền lợi các bên được luật pháp quy định rõ ràng
Bảo hiểm y tế (BHYT) được tách ra từ chế độ “chi phí y tế” trong hệ thống các chế độ BHXH Do đó, nó mang đầy đủ của tính chất của BHXH BHYT đáp ứng nhu cầu khám và chữa bệnh của mọi thành viên trong xã hội nên nó không chỉ dừng lại ở lực lượng lao động mà mở rộng đến mọi đối tượng có nhu cầu dưới hình thức tự nguyện
BHXH xuất hiện khá sớm và phát triển theo quá trình phát triển của xã hội Năm 1883, ở nước Phổ (Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo
Trang 11châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH BHXH lần
lượt xuất hiện ở các nước dưới mức độ khác nhau nhưng cũng chung mục đích là
đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ
BHXH đã trở thành một trong những quyền của con người và được xã hội
thừa nhận Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/08/1945) đã ghi: “ Tất
cả mọi người lao động với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo
hiểm xã hội…” Ngày 4 tháng 6 năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ký
công ước Giơ – ne – vơ (Công ước số 102) về “Bảo hiểm xã hội cho người lao
động” và khuyến nghị các nước thực hiện BHXH cho người lao động theo khả năng
và điều kiện kinh tế của mỗi nước Từ đó, các nước vận dụng khuyến nghị của ILO,
đã có chính sách, biện pháp phù hợp với từng điều kiện cụ thể, tạo môi trường cho
BHXH phát triển không ngừng
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động BHXH đối với khu vực Nhà
nước
1.1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người
lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này
đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hóa như sau:
- Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu
cầu sinh sống thiết yếu của họ
- Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật
- Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu
đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em
Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối
với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương
BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội, Ngoài
BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều
kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội, trong những trường hợp bị
bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản
Nhà nước, bằng tiền hoặc hiện vật, đóng góp của các tổ chức xã hội và những người hảo tâm
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã hội Chẳng hạn những người có công với đất nước, liệt sỹ và thân nhân liệt sỹ, thương binh, bệnh binh… đều là những đối tượng được hưởng sự đãi ngộ của nhà nước, của xã hội
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng, phạm vi và cách thức thực hiện, song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính sách xã hội không thể thiếu được của một Quốc gia
1.1.2.2 Nhà nước quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH
Đối với việc đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nước phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nước quy định Nếu những mô hình về đảm bảo vật chất cho BHXH do ngân sách Nhà nước cung cấp thì vai trò của nhà nước là trực tiếp và toàn diện Nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước đóng góp thì Nhà nước tham gia quản lý
Để quản lý BHXH, Nhà nước sử dụng các công cụ chủ yếu như luật pháp và
bộ máy tổ chức Nhìn chung, hầu hết các nước trên thế giới, việc quản lý vĩ mô BHXH đều được Nhà nước giao cho Bộ Lao động hoặc Bộ Xã hội trực tiếp điều hành
1.1.2.3 Hệ thống các chế độ BHXH
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mỗi quốc gia Việc ban hành chính sách BHXH phải dựa vào điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và xu hướng vận động khách quan của toàn bộ nền kinh tế, xã hội Chính sách này có thể biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật, Hiến pháp… Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với người lao động
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã nêu trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH gồm:
Trang 12- Trợ cấp cho người còn sống ( trợ cấp người nuôi dưỡng) (9)
Tùy điều kiện kinh tế – xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực
hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 5 chế
độ Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9)
Quỹ BHXH là qũy tái chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà
nước Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Quỹ BHXH ra đời, tồn tại và phát triển
gắn với sự phát triển kinh tế hàng hóa, với các mối quan hệ thuê mướn nhân công
Mặc dù thu và chi đều được Nhà nước quy định bằng các văn bản pháp luật, nhưng
chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia theo nguyên
tắc có tham gia mới được hưởng quyền lợi BHXH
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn sau đây:
Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH có khác nhau Về mức đóng góp BHXH thay đổi theo thời gian từ năm 1993
đến nay đã thay đổi mức đóng là 06 lần, một số nước quy định người sử dụng lao
động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động phải chịu toàn bộ chi phí
cho chế độ tai nạn lao động Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế
độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên
một phần bằng nhau Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…
Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới
Tỷ lệ đóng góp của người lao động so với tiền lương (%)
Tỷ lệ đóng góp của người sử dụng lao động so với quỹ lương (%)
Nguồn: tài liệu BHXH TP.HCM
1.1.3 Sự phát triển của hoạt động BHXH tại Việt Nam 1.1.3.1 Thời kỳ trước 1995
- Đặc điểm tổ chức quản lý BHXH Thời kỳ trước năm 1995, Nhà nước gần như bao cấp cho quá trình thực hiện chính sách BHXH Đối tượng được hưởng BHXH chủ yếu là người lao động trong biên chế thuộc khu vực Nhà nước Nội dung chế độ BHXH trong thời kỳ này quy định rất đơn giản, mức trợ cấp có tính chất hỗ trợ cho cán bộ, công nhân, viên chức
và quân nhân trong kháng chiến, mức hưởng còn mang tính bình quân, diện đối tượng hưởng chế độ BHXH còn ít, chưa có quỹ riêng để thực hiện
Trong giai đoạn từ 1954 đến 1993, nước ta thực hiện chữa bệnh miễn phí cho người dân và hoạt động BHXH y tế thời kỳ này nằm trong chương trình chăm sóc y
tế chung của quốc gia Do vậy, hàng năm Nhà nước phải đầu tư một khoản kinh phí không nhỏ từ ngân sách Nhà nước cho việc thực hiện chính sách chăm sóc y tế miễn phí toàn dân
Đến năm 1989, bắt đầu có Quyết định số 45/HĐBT ngày 24 – 4- 1989 của Chính phủ về việc thu một phần viện phí Do đặc điểm hoạt động BHXH và BHYT
Trang 13Trước năm 1995 nhà nước giao cho 3 cơ quan quản lý thu và chi các chế độ
BHXH như sau:
- Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam quản lý thu (mức 3,7% tổng lương
của đơn vị) và tổ chức chi các chế độ trợ cấp ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Bộ Nội vụ quản lý khoản thu (1% tổng quỹ lương) thông qua hệ thống ngân
sách Nhà nước và thực hiện giải quyết chế độ, tiến hành chi các chế độ trợ cấp dài
hạn: hưu trí, mất sức lao động, tử tuất cấp phát từ ngân sách
- Quỹ thu về Bộ Tài chính quản lý và tiến hành cấp phát kinh phí chi cho các
chế độ dài hạn hàng năm theo kế hoạch của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
- Công tác kiểm tra
Về nguyên tắc chung, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phải tổ chức thu
đủ và tự cân đối các khoản chi cho các chế độ ngắn hạn theo yêu cầu Trong những
năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, Chính phủ bổ sung chế
độ nên số thu cho các chế độ ngắn hạn không đủ bù chi, nên đầu những năm 90, Bộ
tài chính đã phải cấp bổ sung một phần kinh phí cho hoạt động này, làm cho tình
hình tài chính quốc gia đang bị thâm hụt lại càng thiếu hụt nghiêm trọng hơn
Vì chưa xác định rõ vị trí của hoạt động BHXH y tế nên quá trình thực hiện
chính sách y tế ở nước ta đã có lúc các nhà quản lý hoạt động BHYT điều hành cơ
quan BHYT Việt Nam theo kiểu Công ty bảo hiểm thương mại
Những năm cuối thập niên 60 và thập niên 70, kiểm tra các cấp Công đoàn
tại một số đơn vị Công đoàn cơ sở về công tác quản lý BHXH đã phát hiện thấy có
sự buông lỏng, chưa coi trọng việc kiểm tra, xác nhận các thủ tục thanh toán nghỉ
hưởng BHXH, để một số người xấu lợi dụng chế độ, chính sách BHXH của nhà
nước hưởng không đúng với chế độ quy định
Cuối những năm 1980 và đầu 1990, Chính phủ ra quyết định số 227/HĐBT
ngày 29/12/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc cho phép các đơn vị kinh tế quốc
doanh áp dụng điều kiện giảm bớt tuổi về hưu và quyết định số 176/HĐBT ngày
9/10/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về giải quyết trợ cấp nghỉ thôi việc một lần cho
người lao động
phạm “ Số người không đủ tiêu chuẩn được nhận lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động khá nhiều Qua kết quả thanh tra ở một số địa phương nguyên nhân chủ quan của việc sai phạm là chủ yếu do cơ quan, xí nghiệp trong khi tiến hành thực hiện giảm biên chế, sắp xếp lại lực lượng sản xuất đã chuyển những người chưa đủ tiêu chuẩn hưởng lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động sang ngành Lao động - thương binh và Xã hội bằng cách lập hồ sơ không đúng thực tế thường là khai tăng tuổi đời, tăng thời gian công tác, tăng mức lương… để hưởng chính sách BHXH” (trích Công văn số 4454/LĐTBXH – BHXH ngày 20/10/1994 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
1.1.3.2 Thời kỳ sau 1995
- Đặc điểm tổ chức quản lý BHXH Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập
tổ chức BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với chức năng, nhiệm vụ chính là: tổ chức thu BHXH; giải quyết chế độ, chính sách BHXH, chi trả cho đối tượng hưởng BHXH; đầu tư, bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH BHXH Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 606/TTg ngày 29/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ và đã chính thức đi vào hoạt động từ 01/10/1995
Theo các quy định trên, pháp luật về BHXH đã có những thay đổi cơ bản thể hiện nhiều mặt tích cực, đổi mới trên cả hai mặt chính sách và cơ chế quản lý
- Thống nhất về nghĩa vụ đóng BHXH và quyền lợi được hưởng, mở rộng đối tượng tham gia đóng BHXH và không có sự phân biệt giữa các thành phần kinh
tế, đảm bảo sự bình đẳng của người lao động tham gia đóng BHXH
- Thành lập quỹ BHXH tập trung, hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động , người lao động và một phần hỗ trợ của nhà nước
- Hình thành quỹ BHXH độc lập dùng để trả lương hưu và các khoản trợ cấp cho người tham gia đóng BHXH theo đúng quy định Phần quỹ nhàn rỗi được dùng đầu tư tăng trưởng quỹ dưới hình thức cho ngân sách Nhà nước vay để trả lương hưu cho người về hưu trước năm 1995 và cho ngân sách vay theo qui định của
Trang 14- Thống nhất về mặt tổ chức bộ máy quản lý sự nghiệp BHXH, khắc phục
tình trạng quản lý phân tán của cơ chế cũ
BHXH Việt Nam tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương
theo 3 cấp gồm có :
1 Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam
2 Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành
phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam
3 Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Bảo hiểm xã hội huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh
Tất cả điều hành, quản lý quỹ BHXH theo kế hoạch thu và dự toán chi trên
nguyên tắc thu đủ, chi đúng qui định Hàng năm việc thẩm định, xét duyệt quyết
toán thu, chi quỹ BHXH và chi hoạt động bộ máy được thực hiện theo 3 cấp dự
toán, BHXH Việt Nam là đơn vị dự toán cấp I trình Chính phủ phê duyệt quyết toán
của toàn hệ thống
Công tác kiểm tra
Để khuyến khích phát triển kinh tế đa thành phần ở nước ta, đòi hỏi phải sửa
đổi chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình đổi mới về kinh tế xã hội và khắc
phục những tồn tại trong hoạt động BHXH Chính phủ thực hiện theo nguyên tắc có
đóng có hưởng nhằm giảm việc bao cấp chi ngân sách Nhà nước đồng thời tăng
nguồn thu thông qua việc đóng góp vào Ngân sách Nhà nước về hoạt động BHXH
cho các đối tượng tham gia BHXH, cụ thể từ năm 1993 khi Bộ luật Lao động có
hiệu lực cho đến năm 2014 mức thu đã tăng từ 20% lên đến 32,5%
Quỹ BHXH được quản lý tập trung thống nhất, hạch toán độc lập và ngày
càng phát triển Việc hình thành quỹ BHXH tập trung thống nhất và giao cho
BHXH Việt Nam quản lý, đánh dấu một bước ngoặt trong cải cách BHXH ở nước
ta Mặt khác quỹ còn độc lập với Ngân sách Nhà nước, được thực hiện theo cơ chế
tự quản của ba bên tham gia đóng góp (Nhà nước, chủ sử dụng lao động và người
lao động) là phù hợp với tình hình thực tế ở nước ta Đương nhiên quỹ hạch toán
độc lập vẫn cần được Nhà nước hỗ trợ trong các trường hợp bất khả kháng dẫn đến
mất cân đối, quỹ BHXH không có khả năng thanh toán để bảo vệ lợi ích của người
Từ khi quỹ BHXH được quản lý tập trung thống nhất, hạch toán độc lập, số thu của quỹ ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước, đồng thời cũng giảm dần từ nguồn chi của Ngân sách Nhà nước
Bước ngoặt lớn trong quá trình cải cách thực hiện chính sách xã hội của Chính phủ đó là ngày 24-1-2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ –TTg về việc “chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam” Thực hiện Quyết định 20/2002/QĐ – TTG, ngày 6-12-2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2002/NĐ-CP quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam trên cơ sở hợp nhất 2 tổ chức: Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm Y tế Việt Nam
Căn cứ vào pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 6/7/1995, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 38/CP ngày 25/6/1996 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động trong đó có các hành vi vi phạm về pháp luật BHXH:
- Có hành vi gian lận, lừa dối để hưởng các chế độ BHXH
- Trong các doanh nghiệp áp dụng loại hình BHXH bắt buộc, người sử dụng lao động không đóng BHXH hoặc đóng BHXH không đúng quy định
- Người sử dụng lao động đóng BHXH chậm từ 30 ngày trở lên kể từ ngày đóng BHXH tháng trước liền kề
Trong công tác kiểm tra thời kỳ này, đã phát hiện một số vi phạm pháp luật
về BHXH tồn tại như:
Công tác quản lý thu
- Đối với cơ quan BHXH Một số BHXH các tỉnh, thành phố mới chỉ quan tâm đến việc đôn đốc thực hiện kế hoạch thu, nộp BHXH được BHXH Việt Nam giao, chưa có biện pháp cụ thể thực hiện đầy đủ quy trình, nghiệp vụ thu BHXH Hồ sơ thu chưa thực hiện theo đúng quy định của BHXH Việt Nam, chưa đảm bảo đầy đủ cơ sở và căn cứ pháp lý cho công tác ghi và xác nhận sổ BHXH làm cơ sở cho việc giải quyết các chế độ chính sách BHXH sau này
- Đối với đơn vị sử dụng lao động
Trang 15hợp đồng thử việc, hợp đồng lao động dưới 3 tháng
Giảm mức đóng BHXH bằng cách đăng ký giảm quỹ lương qua việc kê khai
không đúng mức lương của người lao động
Nộp chậm không theo thời hạn quy định hoặc trong trường hợp người lao
động được nâng lương thì việc báo cáo chậm nộp để quay vòng vốn kinh doanh
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nơi còn chưa tham gia
BHXH cho người lao động hoặc có tham gia thì kê khai không đúng số lao động và
mức lương tham gia BHXH
Mức đóng BHXH – BHYT – BHTN thay đổi từ năm 1993 đến 2014
- Năm 1993: Mức đóng BHXH là 20% trong đó: Đơn vị sử dụng lao động
đóng 15% BHXH ; Người lao động đóng 5%BHXH
- Năm 2003: Mức đóng BHXH – BHYT là 23% trong đó: Đơn vị sử dụng lao
động đóng 15% BHXH + 2% BHYT; Người lao động đóng 5% BHXH + 1% BHYT
(Từ ngày 24-1-2002, Thủ Tướng Chính Phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ –
TTg về việc “chuyển BHYT sang BHXH”, nên mức đóng có thay đổi)
- Năm 2009: Mức đóng BHXH – BHYT - BHTN là 25% trong đó: Đơn vị sử
dụng lao động đóng 15% BHXH + 2% BHYT +1% BHTN; Người lao động đóng
5% BHXH + 1% BHYT + 1% BHTN.(đối với đơn vị có từ 10 lao động trở xuống thì
không đóng BHTN)
- Năm 2010: Mức đóng BHXH – BHYT - BHTN là 28.5% trong đó: Đơn vị
sử dụng lao động đóng 16% BHXH + 3% BHYT +1% BHTN; Người lao động đóng
6% BHXH + 1.5% BHYT + 1% BHTN (đối với đơn vị có từ 10 lao động trở xuống
thì không đóng BHTN)
- Năm 2012: Mức đóng BHXH – BHYT - BHTN là 30.5% trong đó: Đơn vị
sử dụng lao động đóng 17% BHXH + 3% BHYT +1% BHTN; Người lao động đóng
7% BHXH + 1.5% BHYT + 1% BHTN (đối với đơn vị có từ 10 lao động trở xuống
thì không đóng BHTN)
- Năm 2014: Mức đóng BHXH – BHYT - BHTN là 32.5% trong đó: Đơn vị
sử dụng lao động đóng 18% BHXH + 3% BHYT +1% BHTN; Người lao động đóng
8% BHXH + 1.5% BHYT + 1% BHTN (đối với đơn vị có từ 10 lao động trở xuống
Từ 01/2010 đến 12/2011
Từ 01/2012 đến 12/2013
01/2014 trở đi
Nguồn: Trích từ báo cáo tài chính BHXH TP.HCM (năm 2014)
Theo Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội cho rằng nếu không tăng mức đóng thì quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt; Theo tính toán của BHXH Việt Nam, nếu giữ nguyên như mức đóng hiện nay đến năm 2033 quỹ BHXH sẽ thiếu hụt 39.000 tỷ đồng Vì vậy phải tăng và mở rộng diện tham gia BHXH và sử dụng quỹ BHXH một cách có hiệu quả, đầu tư vào những ngành có tính rủi ro thấp tránh thất thoát quỹ BHXH Việc này vừa làm tăng giá trị quỹ BHXH, vừa thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống xã hội
Đối tượng chỉ tham gia BHXH Bảng 1.3: Người lao động là phu nhân (phu quân) hưởng lương từ Ngân sách
của Nhà nước
động (%)
Người lao động (%)
Tổng cộng (%)
Trang 16chức Nhà nước nhưng đã có quá trình tham gia BHXH, BHYT bắt buộc
Công tác quản lý chi BHXH - BHYT
Một số đơn vị BHXH chưa có biện pháp cụ thể trong việc phối hợp với cơ
quan y tế để quản lý chặt chẽ về thẩm quyền, trách nhiệm của người thầy thuốc
trong việc cấp giấy nghỉ hưởng BHXH Xét duyệt còn sai sót (kể cả người, số ngày,
mức hưởng trợ cấp) chưa kiểm tra việc chi trả đến tận tay người lao động, một số
đơn vị sử dụng lao động hưởng lương từ ngân sách còn quyết toán trùng với kinh
phí của ngân sách hoặc lập chứng từ giả quyết toán khống với cơ quan BHXH, lập
quỹ riêng sử dụng vào mục đích khác
Tình trạng đối tượng hưởng trợ cấp có thời hạn khi hết hạn hưởng hoặc đã từ
trần không được cắt kịp thời do chưa mở đủ các sổ sách theo dõi, không thống nhất,
chưa khoa học Nhiều trường hợp không có khả năng thu hồi, thâm hụt công quỹ
nhà nước do chi quá thời hạn
Những trường hợp khai man hồ sơ trước năm 1995: tăng tuổi đời, thời gian
công tác, không đúng nghề nghiệp để được nghỉ hưu, mất sức lao động và hưởng tỷ
lệ % trợ cấp BHXH cao do thời điểm này BHXH chưa quản lý hết được quá trình
tham gia BHXH mà chỉ dựa vào hồ sơ của Bộ Lao Động Thương Binh xã hội cung
cấp quá trình tham gia của người lao động; Công tác chi trả chưa gắn với hồ sơ đối
tượng, việc sưu tập hoàn chỉnh hồ sơ thiếu sau khi nhận bàn giao từ ngành Lao động
- thương binh và Xã hội chuyển sang còn chậm, hiện tại vẫn còn một số BHXH
tỉnh, thành phố chi trả trợ cấp cho đối tượng trong khi không có hồ sơ gốc
Hồ sơ thai sản hoặc ốm đau vẫn chưa quản lý chặt, thậm chí có trường hợp
cùng một lúc hưởng 2 hay 3 chế độ trợ cấp BHXH hoặc 1 chế độ nhưng có 2 sổ
hưởng trợ cấp ở các địa bàn khác nhau
Việc xét cho đối tượng thuộc diện được hưởng trợ cấp mất sức lao động còn
có trường hợp chưa đúng quy định, sai về quy trình, thủ tục và thẩm quyền giải quyết Nhưng từ khi luật BHXH ra đời 2007 cơ quan BHXH đã không giải quyết nghĩ theo chế độ này
1.2 Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong hoạt động BHXH
1.2.1 Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về KSNB trong hoạt động BHXH 1.2.1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về KSNB nói chung
Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là KSNB của đơn vị Trong hơn một thế kỷ qua, khái niệm KSNB đã phát triển từ chỗ được xem là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu
Khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu
về kiểm toán Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa
Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán
Đến thập niên 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cục kiểm toán Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977, các báo cáo của Cohen Commission và FEI ( Financial Execituives Istiture) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ – AICPA đã thành lập một Ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB Năm 1977, Quốc hội Hoa kỳ thông qua Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài, Viện nghiên cứu tài chính (Financial Execituives Research Foundation – FERF) tiến hành cuộc khảo sát về phương pháp KSNB trong các công ty Hoa Kỳ Giai đoạn năm 1980 đến 1985, có sự sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán viên độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB do Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ Hiệp Hội kế toán nội bộ (Institute of
Trang 17về bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy
trì và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn
Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Treadway Commision)
được thành lập năm 1985 Hoạt động này cũng đã đưa ra một loạt các vấn đề về
KSNB, nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo
đức, các ủy ban Kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ Vì thế Ủy ban tổ
chức đồng bảo trợ COSO (Committee of Sponsoring Organizations) của Hội đồng
quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu
kiểm soát nội bộ:
- Thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của
các đối tượng khác nhau
- Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh
gía hệ thống KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện
Báo cáo COSO năm 1992 đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB
Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời như:
- Phát triển theo hướng quản trị: năm 2001, dựa trên Báo cáo COSO 192,
COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp
- Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo cáo
Basle 1998 của Ủy ban Basle các Ngân hàng Trung ương công bố về khuôn khổ
KSNB trong ngân hàng, dựa vào lý luận cơ bản của báo cáo COSO 1992
- Phát triển theo hướng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh
hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB Điển hình là báo cáo
COSO 1995 (Canada), báo cáo Turnbull 1999 (Anh) Các báo cáo này không có sự
khác biệt lớn so với Báo cáo COSO 1992
Định nghĩa hệ thống KSNB
Khái niệm KSNB đã hình thành và phát triển dần trở thành một hệ thống lý
luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức Đến nay, định nghĩa được chấp nhận khá
phổ biến như sau:
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị, các
nhằm thực hiện ba mục tiêu sau đây:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ
- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”
Định nghĩa trên được đưa ra bởi COSO (Committee of Sponsoring
Organizations) trong báo cáo của COSO
Các yếu tố cấu thành của hệ thống KSNB
Theo COSO, hệ thống KSNB có 5 yếu tố cấu thành sau:
- Môi trường kiểm soát: trong yếu tố này đề cập đến triết lý quản lý phong cách điều hành; cơ cấu tổ chức; phương pháp phân chia quyền hạn và trách nhiệm; năng lực của đội ngũ nhân viên; chính sách nhân sự; sự liêm chính và giá trị đạo đức; Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán
- Đánh giá rủi ro: đề cập đến nội dung của đánh giá rủi ro; tiêu chí đánh giá
- Hoạt động kiểm soát: bao gồm việc phân chia trách nhiệm; kiểm soát quá trình xử lý thông tin; bảo vệ tài sản; phân tích rà soát
- Thông tin và truyền thông
- Giám sát là bộ phận cuối cùng của KSNB, là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống KSNB trong suốt thời kỳ hoạt động để có các điều chỉnh và cải tiến thích hợp
Hạn chế của KSNB
Một hệ thống KSNB hữu hiệu chỉ có thể hạn chế tối đa các sai phạm chứ không thể đảm bảo rủi ro, gian lận và sai sót không xảy ra Những hạn chế vốn có của KSNB bao gồm:
- Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như bất cẩn, vô ý…
- Sự gian lận của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các
bộ phận bên ngoài tổ chức
- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà ít chú ý những nhiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua
- Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho
Trang 18gây ra
- Luôn có khả năng là các cá nhân chịu trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng
quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng
- Điều kiện hoạt động của tổ chức thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm
soát không còn phù hợp
Tóm lại, KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải bảo đảm
tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện Báo cáo COSO về kiểm soát nội bộ đã đóng
góp phần quan trong tạo ra khuôn khổ chung về kiểm soát nội bộ Từ nền tảng báo
cáo COSO, nhiều quốc gia vận dụng linh hoạt và đã phát triển thêm các lý luận
khác về KSNB ở một số ngành nghề cụ thể
1.2.2 Đặc điểm về kiểm soát nội bộ của hoạt động BHXH
1.2.2.1 Khái niệm BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao
động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp , tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài
chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà Nước
theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ,
đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội
1.2.2.2 Đặc điểm về kiểm soát nội bộ của hoạt động BHXH
Theo như báo cáo của COSO về kiểm soát nội bộ bất kỳ tổ chức nào dù khác
nhau về quy mô, đặc điểm hoạt động thì cũng đều tồn tại năm yếu tố cấu thành hệ
thống KSNB và báo cáo COSO đã tạo ra một khuôn khổ chung về kiểm soát nội bộ
nhưng hoạt động của BHXH lại có những đặc điểm đặc thù, đòi hỏi phải có thêm
những tiêu chuẩn khác về KSNB dành riêng cho nó
- Xét đến ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, hoạt động của BHXH có
những đặc điểm đối với các doanh nghiệp khác Trước hết, BHXH là một bộ phận
quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội BHXH là hệ thống đảm bảo khoản thu
nhập bị giảm hoặc bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc, ốm đau, thai sản, tai nạn, già yếu… Đối tượng của BHXH chính là
thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi bị giảm hoặc mất khả
BHXH được sử dụng để chi trả cho các mục đích như: chi trợ cấp cho các chế độ BHXH, chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH, chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
- Xét dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ BHXH, những đặc điểm của hoạt động BHXH ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống KSNB:
- BHXH có số lượng lớn các ngiệp vụ và giao dịch trực tiếp bằng tiền Điều này dẫn đến rủi ro về thất thoát tài sản và gian lận cả trong công việc bảo quản tài sản và thực hiện giao dịch
- BHXH thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch cả về số lượng
và giá trị Điều này đòi hỏi các hoạt động BHXH phải thiết lập hệ thống kế toán và KSNB cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong xử lý nghiệp vụ
- BHXH có mạng lưới hoạt động rộng lớn, có nhiều cấp, phân tán về mặt địa
lý Điều này đòi hỏi việc phân cấp trách nhiệm và quyền hạn lớn trong chức năng kế toán và giám sát nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ hệ thống kế toán và kiểm soát thống nhất Ngoài ra, cũng bị ảnh hưởng đến yếu tố thông tin và truyền thống trong toàn
ro của ngành cũng như quốc gia, đặc biệt là trong bộ máy chuyên gia hoạch định chính sách kinh tế xã hội
Từ những điểm nêu trên, hệ thống KSNB hoạt động BHXH cần chú trọng đến các vấn đề sau:
- Bảo đảm an toàn tài sản của quỹ BHXH, hạn chế tối đa sự biển thủ tiền và tình trạng thất thoát quỹ thông qua cơ chế phân công, phân nhiệm trên phạm vi rộng
và xây dựng các thủ tục kiểm soát chặt chẽ quá trình xử lý nghiệp vụ, tuân thủ nghiêm ngặt việc kiểm tra, đối chiếu và kiểm soát vật chất định kỳ
- Bảo đảm hệ thống ghi chép, xử lý thông tin của BHXH an toàn và cung
Trang 19và chi
- Đảm bảo sự tuân thủ nhưng có thể dễ dàng điều chỉnh khi có sự thay đổi
của các luật lệ quy định
- Giám sát, kiểm soát và ngăn ngừa các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt
động của BHXH thông qua việc phân tích kỹ càng các khả năng xảy ra rủi ro, loại
hình rủi ro, mức độ rủi ro và cách thức quản lý rủi ro của từng loại nghiệp vụ
1.2.3 Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB hoạt động BHXH đối với khu vực
Nhà Nước (INTOSAI)
1.2.3.1 Lịch sử ra đời của KSNB hoạt động BHXH đối với khu vực Nhà Nước
(INTOSAI)
Tháng 6/1992, Internal Control Standards Committee of the International
Organization of Supreme Audit Institutions (INTOSAI) đã ban hành Guidelines for
Internal Control Standards Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Nhà nước do INTOSAI
(tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế) ban hành Tổ chức này bao gồm 178
thành viên Các chuẩn mực đã đưa ra những hướng dẩn đầu tiên cho các nhà quản lý
Nhà nước về việc sử dụng công cụ KSNB hiệu quả và cung cấp cho các kiểm toán
viên Nhà nước những công cụ để đánh giá hoạt động của hệ thống này
Trong Hướng dẫn chuẩn mực của KSNB (Guidelines for Internal Control
Standards) tháng 6/1992 của INTOSAI (Internal Control Standards Committee of
the International Organization of Supreme Audit Institutions) đưa ra định nghĩa về
KSNB như sau “ những chính sách của tổ chức, bao gồm phương pháp, thái độ của
nhà quản lý, thủ tục kiểm soát và những đánh giá khác để đảm bảo rằng mục tiêu
chung của tổ chức được thực hiện” :
- Những hoạt động có tính kỷ luật, hiệu quả kinh tế và chất lượng của sản
phẩm và dịch vụ trong nhiệm vụ của tổ chức
- Sự đảm bảo an toàn về nguồn lực chống mất mát do lãng phí, lạm dụng,
thiếu quản lý, cố ý làm sai và những sơ suất khác hoặc những vi phạm kỷ luật khác
Và chỉ thị của lãnh đạo:
- Phát triển và duy trì những thông tin quản lý và tài chính đáng tin cậy và
trình bày rõ ràng những thông tin đúng lúc và kịp thời
nền tảng về trách nhiệm trong các cơ quan Nhà nước Trong đó, đề cập đến “Kiểm soát nội bộ là một công cụ quản lý để các nhà quản lý sử dụng nhằm cung cấp một
sự đảm bảo hợp lý dể thực hiện mục tiêu của mình” (Guideline for International Standard – INTOSAI)
Các nhà quản lý chịu trách nhiệm về việc thiết lập môi trường kiểm soát hữu hiệu trong tổ chức Đó chính là một phần trong trách nhiệm quản lý nguồn lực của Nhà Nước Ngoài ra, nhà quản lý xây dựng các hành động, chính sách và các mối liên hệ để có thể đạt được kết quả thông qua việc kiểm soát Lên kế hoạch, thi hành,
hỗ trợ và giám sát là các yếu tố cơ bản của KSNB Chúng ta có thể thực hiện những hoạt động quen thuộc này để giúp đảm bảo trách nhiệm được thực hiện mà không cần phải nghĩ đến chúng, nhưng hoạt động đó là: KSNB, kiểm soát quản lý, giúp có được sự đảm bảo hợp lý để tổ chức:
Tuân thủ được luật pháp, các nguyên tắc và chỉ đạo của cấp trên
1.2.3.2 Các yếu tố của hệ thống KSNB trong hoạt động BHXH khu vực nhà nước
ITOSAI đã thiết lập những chuẩn mực chung về KSNB theo những vấn đề sau:
Sự đảm bảo đáng tin cậy
Hệ thống KSNB phải đảm bảo rằng mục tiêu chung của tổ chức phải được thực hiện Sự đảm bảo này phải tương xứng, phù hợp với mức độ thỏa mãn của sự tin cậy được xem xét dưới góc độ chi phí, lợi nhuận và rủi ro Điều này có nghĩa là chi phí cho việc KSNB không vượt quá kết quả đạt được Các nước thành viên của INTOSAI đã có kinh nghiệm về việc áp dụng chuẩn mực này
Thái độ ủng hộ (hỗ trợ)
Một chuẩn mực chung khác về KSNB quy định rằng các nhà quản lý và nhân viên phải duy trì và chứng minh rằng có sự tồn tại của thái độ ủng hộ và hỗ trợ trong KSNB trong suốt hoạt động của nó Các quốc gia thành viên của INTOSAI đã biết được tầm quan trọng của chuẩn mực này trong việc thiết lập môi trường KSNB
để đạt được hiệu quả
Sự liêm chính và năng lực
Trang 20về ngành nghề và phải duy trì một trình độ năng lực nhất định để có thể hiểu được
tầm quan trọng của việc phát triển, thực hiện và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ
hiệu quả và đạt được mục tiêu Một số thành viên của INTOSAI thấy rằng, nếu
chuẩn mực này bị thay đổi thì kết quả của Mục tiêu kiểm soát:
Chuẩn mực chung của INTOSAI cho cần phải có mục tiêu kiểm soát cụ thể,
riêng biệt cho từng hoạt động Những mục tiêu này phải được xác định rõ ràng, phù
hợp với mục tiêu chung của KSNB của tổ chức
Hoạt động giám sát
Chuẩn mực này yêu cầu các nhà quản lý tiếp tục giám sát các hoạt động và
xử lý ngay, phản ứng lập tức những hành động vi phạm kỷ luật, phí kinh tế, không
hiệu quả Hoạt động giám sát sẽ giúp cho hệ thống KSNB đạt được kết quả như
mong đợi Chuẩn mực sẽ giúp xây dựng được những thủ tục, phương pháp để thực
hiện hoạt động kiểm soát
1.3 Kiểm soát nội bộ về hoạt động BHXH của một số quốc gia
1.3.1 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động BHXH tại Philippin
Chính phủ đã thay đổi, bắt đầu cải cách công tác quản lý, làm rõ nhiệm vụ và
phương hướng phải đề ra được chuẩn mực để các tổ chức phấn đấu để quản lý tốt cả
về mặt tổ chức và Người lao động; hệ thống BHXH Philippin kết hợp nhiệm vụ và
hướng thực hiện nhiệm vụ như sau: Nhiệm vụ cung cấp trợ cấp BHXH nhằm đảm
bảo cho các thành viên và gia đình của họ chống lại những phát sinh bất ngờ vì bị
mất thu nhập, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Phương
hướng thực hiện: Tạo nên chất lượng dịch vụ tốt nhất trên thế giới, phổ biến, đồng
bộ và có ý nghĩa an sinh xã hội Người lao động thường quan niệm về cải cách quản
lý như một sự cố gắng của các tổ chức để giảm chi phí hoạt động Một trong những
điều bị họ phê phán nhất là các tổ chức BHXH chưa tạo dựng được quan hệ mật
thiết với người lao động và Liên đoàn lao động để tranh thủ sự ủng hộ của họ trong
việc cải cách Các tổ chức BHXH nhận thấy: thiết lập mối quan hệ gắn bó với người
lao động là điều vô cùng quan trọng của công tác BHXH để tranh thủ sự ủng hộ của
họ trong chương trình cải cách và phân phối các loại hình trợ cấp Trước khi tiến
hành cải tạo cách quản lý của mình, các tổ chức BHXH vẫn còn duy trì phương
trong công việc Phần lớn các tổ chức BHXH có được lợi thế trong việc cải tiến phương pháp quản lý và phát triển, nâng cao phạm vi thực hiện, theo dõi sự phát triển của tổ chức trong việc phân phối các dịch vụ sao cho tốt hơn và chi phí thấp hơn trong suốt thời gian thực hiện đổi mới và sau khi thực hiện Nâng cao việc tự động hoá để quản lý dữ liệu chính xác, bao quát hơn, các tổ chức tiến tới việc giới hạn các dữ liệu không quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cho người lao động Ngay cả khi đưa ra hướng thay đổi trên quy mô lớn, phần lớn các tổ chức BHXH ủng hộ việc thực hiện cải tiến đặc trưng, cố gắng mang lại một sự thay đổi lớn trong cùng một lúc Đây là bước khởi đầu cho phép các tổ chức này đạt được mục đích nhanh chóng, đặc biệt là trong việc cải tiến và dần dần thành công trong việc đào tạo lao động dành cho những thay đổi ngắn hạn trong khi làm việc để đạt tới mục đích trung và dài hạn Kết quả đã mang lại cho họ một cơ hội để tạo dựng lòng tin, sự tín nhiệm của người lao động
1.3.2 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động BHXH tại Mỹ và Canada
Bằng việc phát triển mạng lưới điện thoại; Các tổ chức có thể sắp xếp trên nhiều quốc gia để kết nối từng thông tin riêng biệt khác yêu cầu của người quản lý các chương trình BHXH của họ cho mục đích đặc biệt là phát hiện và ngăn chặn hiện tượng gian lận Công việc sắp xếp đối với trợ giúp qua lại trong việc tìm ra và ngăn chặn hiện tượng gian lận bao gồm cả các đại diện của BHXH Mỹ, Anh và Canada và giữa Ireland và Anh Mặt khác, Uỷ ban các nước Châu Âu cũng đang phát triển “mô hình dự phòng” trợ giúp song phương, điều này có thể coi như là cơ
sở cho các điều trong Hiệp định song phương về BHXH Cuối cùng, một số các tổ chức BHXH đã khuyến khích cộng đồng tham gia để sử dụng ảnh hưởng của họ tới việc chống nạn gian lận bởi những báo cáo nghi ngờ có hoạt động gian lận liên quan đến BHXH bằng cách cung cấp đường dây điện thoại đặc biệt dành cho mục đích này và việc xử lý theo pháp luật sẽ được thực hiện nhanh chóng Trước sự biến động về kinh tế, chính trị và xã hội, các quốc gia đã không ngừng đưa ra những chính sách nhằm ổn định xã hội
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, các nước có những quy định cụ thể khác nhau về mức đóng, điều kiện được hưởng và mức
Trang 21Tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở các nước khác nhau cũng khác nhau,
không có mô hình chung cho cả các nước; thông thường mỗi chế độ BHXH đều do
một tổ chức thực hiện, ít có tổ chức thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ khác nhau
Trong quá trình thực hiện chính sách BHXH, Nhà nước vẫn có vai trò rất
quan trọng trong quản lý hoạt động BHXH, thông qua việc định hướng, xây dựng
pháp luật, chính sách, khi cần thiết mới hỗ trợ từ Ngân sách cho các quỹ đồng thời
thực hiện nghiêm ngặt việc thanh tra, kiểm tra
Chúng ta có thể hoàn toàn có thể tiếp thu những kinh nghiệm quý báu này để
tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nội bộ với hoạt động BHXH ở Việt Nam,
nhằm đem lại kết quả, hiệu quả cao nhất, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho
những người tham gia, bảo đảm được độ chính xác cũng như các nguyên tắc quản lý
tài chính chặt chẽ
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quỹ BHXH được hiểu là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH, bao gồm: người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác phụ thuộc vào khả năng quản lý quỹ của cơ quan BHXH qua từng thời kỳ
Tóm lại, BHXH ra đời rất lâu và đến nay được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới Với tính tất yếu khách quan cũng như vai trò của mình trong đời sống
xã hội, BHXH đã trở thành một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia Hệ thống đối tượng tham gia BHXH, công tác thu – chi các chế độ BHXH, cách sử dụng, quản lý quỹ BHXH đều tùy thuộc ở mỗi quốc gia Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động BHXH là một nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạt động sự nghiệp BHXH
Ở chương này, luận văn đã đưa ra được sự cần thiết khách quan của BHXH, những khái niệm, đặc điểm của BHXH, quản lý quỹ BHXH theo kế hoạch thu và dự toán chi trên nguyên tắc thu đủ, chi đúng qui định Từ những lý luận của chương I
sẽ làm cơ sở khảo sát thực trạng công tác kiểm soát nội bộ trong hoạt động BHXH
ở chương II; trên cơ sở đó sẽ đánh giá được những mặt đã đạt được, những mặt còn tồn tại để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý quỹ, nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm soát nội bộ trong hoạt động BHXH hiện tại và tương lai
Trang 22CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT
NỘI BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TP HỒ CHÍ MINH
2.1 Giới thiệu tổng quan về TP Hồ Chí Minh
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, được coi là thủ phủ kinh tế
của nước Việt Nam với diện tích lớn đô thị lớn nhất cả nước, cùng mật độ dân số
bình quân cao đang ở độ tuổi lao động Với lịch sử hình thành hơn 300 năm, thành
phố đã trải qua những thăng trầm lịch sử, những biến cố trong toàn cảnh đất nước
oằn mình qua hai trận chiến tranh, cũng như những biến động về đặc thù văn hoá
kinh tế Năm 1698, Chúa Nguyễn cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược
đất Phương Nam, khai sinh ra thành phố Sài Gòn Vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ
Bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước
Từ năm 1949, Sài Gòn đã là thủ đô của Quốc Gia Việt Nam
Năm 1954, thành phố tiếp nhận một lượng di dân mới từ miền Bắc Việt Nam
(phần đông là người Công Giáo, còn gọi là dân Bắc Kỳ Công giáo) Đến năm 1955,
Việt Nam Cộng Hoà được thành lập, Sài Gòn trở thành thủ đô và cũng là thành phố
lớn nhất của quốc gia non trẻ này với tên gọi chính thức "Đô thành Sài Gòn"
Vào nửa cuối thập niên 1950, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, Sài
Gòn trở thành một thành phố hoa lệ được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông"
Sau khi đất nước thống nhất, Sài Gòn được đổi tên thành “Thành phố Hồ Chí
Minh” vào ngày 2-7-1976 Tuy nhiên, cho đến nay, đối với những người con đã
sinh ra lớn lên ở mảnh đất này, cái tên Sài Gòn vẫn được mọi người ưu ái lưu giữ
và sử dụng cho đến tận ngày nay Thành phố trở thành một trung tâm về chính trị,
kinh tế, văn hóa, giải trí
2.1.1.2 Vị trí - Dân số - Khí hậu
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10o 10' – 10o38’ vĩ
độ Bắc và 1060
22' – 1060
54' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây
Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp
tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Với
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, thành phố Hồ Chí Minh có hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa bình quân hàng năm là 1.979 mm và mùa khô diễn ra từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,55 0C
2.1.1.3 Kinh tế - Văn hoá du lịch và dịch vụ giải trí
Trong quá trình phát triển và hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh luôn là một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, về quy mô năm 2013, TP Hồ Chí Minh dự kiến mục tiêu tăng trưởng GDP trên địa bàn ở mức từ 9,5% đến 10%, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.000 USD/người,
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không
Các địa điểm du lịch của thành phố tương đối đa dạng Với hệ thống 11 viện bảo tàng, chủ yếu về đề tài lịch sử, thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu Việt Nam về
số lượng bảo tàng Bảo tàng lớn nhất và cổ nhất thành phố là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với 30 nghìn hiện vật Trong khi phần lớn khách thăm Bảo tàng Chứng tích chiến tranh là người nước ngoài thì bảo tàng thu hút nhiều khách nội địa nhất là Bảo tàng Hồ Chí Minh
Có nhiều công trình kiến trúc đẹp, như Trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố, Nhà hát lớn, Bưu điện trung tâm, Bến Nhà Rồng, Dinh Độc Lập và Thư viện Khoa học Tổng hợp; các cao ốc, khách sạn, trung tâm thương mại Khu vực ngoài trung tâm, Khu địa đạo Củ Chi được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, Rừng ngập mặn
Trang 23Cần Giờ, Vườn cò Thủ Đức cũng là những địa điểm du lịch quan trọng
Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí
Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh
còn là một trung tâm mua sắm và giải trí với các phòng trà ca nhạc, quán bar, vũ
trường, sân khấu, cùng khá nhiều khu vui chơi như Công viên Đầm Sen, Suối Tiên,
Thảo Cầm Viên Các khu mua sắm, như Chợ Bến Thành, Diamond Plaza, Parkson,
Vincom, hệ thống các nhà hàng, quán ăn cũng là một thế mạnh của du lịch thành
phố
Vào năm 2013, thành phố Hồ Chí Minh ngành du lịch lữ hành ước đạt
74.800 tỷ đồng, đạt mức tăng tới 21% (năm 2012 tăng 19,5%) Khách quốc tế đến
thành phố ước đạt khoảng 3,8 triệu lượt, tăng 8% so với năm 2012 (trich nguồn
Vietstock.vn)
2.1.1.4 Tiềm năng kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam
Thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính -
tín dụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố trong những năm trước
chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc Tuy nhiên những năm gần đây do tình
hình kinh tế ngày càng khó khăn, nhất là tình hình nhà đất đang đóng băng nên
ngành ngân hàng đang còn nhiều khó khăn, hy vọng năm 2015 tình hình sẽ khởi
sắc
Trong tương lai, thành phố sẽ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, trở thành một
thành phố văn minh hiện đại có tầm cỡ ở khu vực Đông Nam Á
2.1.2 Giới thiệu về BHXH TP Hồ Chí Minh
2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
117C Nguyễn Đình Chính, Phường 15, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí
minh
Điện thoại:08.39979039; Fax: 08.39979010;
Email:vanphong@bhxhtphcm.gov.vn
Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh được thành lập và chính
thu chi và giải quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động có tham gia BHXH trên địa bàn Thành phố
Ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển Bảo hiểm y tế (BHYT) Việt Nam sang BHXH Việt Nam
và Ngày 06/12/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 100/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Như vậy, cùng với cả nước, từ năm 2003, ngoài việc bảo đảm thực hiện các chế độ BHXH được quy định tại Chương XII Bộ Luật lao động, Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Thủ tướng, BHXH Thành phố còn đảm nhận nhiệm vụ thực hiện chế độ BHYT cho các đối tượng tham gia theo quy định
- Chức năng
Bảo hiểm xã hội TP Hồ Chí Minh là cơ quan sự nghiệp nhà nước trực thuộc BHXH Việt Nam (là cơ quan thuộc Chính phủ), đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam, có chức năng giúp Tổng giám đốc tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý Quỹ BHXH, BHYT, chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp, tòan diện của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam; chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của UBND Thành phố Hồ Chí Minh BHXH Thành phố Hồ Chí Minh có tư cách pháp nhân, có
trụ sở đặt tại Thành phố, có dấu, tài khoản riêng
- Nhiệm vụ, quyền hạn
- Tổ chức xét duyệt hồ sơ, giải quyết các chính sách, chế độ BHXH; cấp các loại sổ, thẻ BHXH, BHYT;
- Tổ chức thực hiện thu các khoản đóng BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc và
tự nguyện; Tổ chức quản lý, phát triển và lưu trữ hồ sơ các đối tượng tham gia BHXH, BHYT;
- Tổ chức hợp đồng với cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp để phục vụ người
có thẻ BHYT theo quy định; Tổ chức thực hiện công tác giám định chi phí khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh, đảm bảo khám chữa bệnh của người có thẻ BHYT;
- Tổ chức thực hiện chi trả các chế độ BHXH, BHYT cho đối tượng đúng
Trang 24- Thực hiện quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí; chế độ kế toán, thống kê
theo quy định của nhà nước, của BHXH Việt Nam và hướng dẫn BHXH cấp quận,
huyện thực hiện;
- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi BHXH đối với cơ quan, đơn vị,
tổ chức sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn Thành phố;
kiến nghị với cơ quan pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan cấp trên của
đơn vị sử dụng lao động hoặc cơ sở khám chữa bệnh để xử lý những hành vi vi
phạm pháp luật về các chế độ BHXH;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân theo thẩm quyền;
- Tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ BHXH trên địa bàn Thành
- Quản lý tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức, tài chính và tài sản
thuộc BHXH thành phố theo phân cấp của BHXH Việt Nam; Thực hiện chế độ báo
cáo với Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
theo quy định
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức
* Ban Giám đốc
- Giám đốc: Cao Văn Sang
- Phó Giám đốc: Nguyễn Thị Thu
- Phó Giám đốc: Nguyễn Đăng Tiến
- Phó Giám đốc: Lưu Thị Thanh Huyền
* Các phòng chức năng: có 11 phòng
* Đơn vị trực thuộc: 24 quận, huyện
Trang 25BHXH QUẬN 2 BHXH QUẬN 3 BHXH QUẬN 4 BHXH QUẬN 5
BHXH QUẬN GÒ VẤP BHXH QUẬN PHÚ NHUẬN BHXH QUẬN TÂN BÌNH BHXH QUẬN TÂN PHÚ BHXH QUẬN THỦ ĐỨC
BHXH QUẬN BÌNH THẠNH BHXH QUẬN BÌNH TÂN
BHXH QUẬN 8 BHXH QUẬN 7 BHXH QUẬN 6
BHXH QUẬN 2 BHXH QUẬN 3 BHXH QUẬN 4 BHXH QUẬN 5
BHXH QUẬN GÒ VẤP BHXH QUẬN PHÚ NHUẬN BHXH QUẬN TÂN BÌNH BHXH QUẬN TÂN PHÚ BHXH QUẬN THỦ ĐỨC
BHXH QUẬN BÌNH THẠNH BHXH QUẬN BÌNH TÂN
BHXH QUẬN 8 BHXH QUẬN 7 BHXH QUẬN 6
Chức năng: Giúp Giám đốc BHXH Thành phố tổ chức tiếp nhận hồ sơ và
trả kết quả giải quyết; tư vấn chế độ, chính sách BHXH, BHYT; quản lý và tổ chức thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu thuộc hệ thống BHXH Thành phố theo quy định
Nhiệm vụ, quyền hạn
- Kiểm tra và tiếp nhận các loại hồ sơ liên quan đến việc tham gia và hưởng các chế độ BHXH, BHYT của BHXH quận/huyện và các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH;
- Chuyển hồ sơ tiếp nhận và nhận lại kết quả giải quyết từ các phòng nghiệp
vụ liên quan để trả lại cho BHXH quận/huyện và các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH;
- Hướng dẫn, tư vấn các vấn đề liên quan thủ tục hồ sơ, chế độ chính sách; Hướng dẫn các phòng nghiệp vụ liên quan và BHXH quận/huyện lập, quản lý và lưu trữ hồ sơ, tài liệu;
- Tiếp nhận hồ sơ, tài liệu đến hạn nộp lưu trữ của các phòng nghiệp vụ và BHXH quận/huyện; thực hiện việc lưu trữ, quản lý hồ sơ, tài liệu theo quy định;- Phân loại, xác định giá trị hồ sơ, tài liệu phục vụ công tác quản lý, thống kê, tra cứu;
- Lập kế hoạch xây dựng, nâng cấp và duy tu, bảo dưỡng kho tàng, mua sắm các thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác lưu trữ;
- Hướng dẫn, kiểm tra các phòng nghiệp vụ liên quan và BHXH quận/huyện thực hiện các quy định, quy trình giải quyết công việc liên quan đến việc thực hiện
cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan BHXH Thành phố
Phòng Thu
Chức năng: Phòng Thu có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh
quản lý và thực hiện nhiệm vụ thu, cấp sổ, thẻ bảo hiểm xã hội đối với đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ quyền hạn
- Xây dựng kế hoạch thu BHXH theo kế hạch hàng năm, quý, tháng và phân
bổ chi tiêu kế hoạch thu cho BHXH huyện trên cơ sở đã được BHXH Việt Nam giao;
Trang 26đối tượng bắt buộc khác theo quy định; Cung cấp hồ sơ tài liệu cho các phòng
nghiệp vụ có liên quan để thực hiện nhiệm vụ quản lý của BHXH tỉnh;
- Hướng dẫn kiểm tra đôn đốc việc thu BHXH bắt buộc đối với BHXH
huyện; thực hiện thẩm định số thu BHXH gửi về phòng kế hoạch tài chính
Phòng Kế hoạch Tài chính
Chức năng: Phòng Kế hoạch tài chính có chức năng giúp Giám đốc Bảo
hiểm xã hội tỉnh thực hiện công tác kế hoạch và quản lý tài chính, tổ chức hạch
toán, kế toán của hệ thống Bảo hiểm xã hội tỉnh theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn
- Chủ trì phối hợp với các phòng để lập, giao kế hoạch và tổng hợp đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch tài chính: thu, chi BHXH, chi quản lý bộ máy, chi đầu
tư xây dựng hàng quý, năm;
- Chuyển kịp thời tiền thu BHXH vào tài khoản của BHXH Việt Nam theo
quy định; Tổ chức cấp phát kịp thời kinh phí để chi trả cho đối tượng hưởng các chế
độ trợ cấp BHXH;
- Tổ chức cấp phát và quản lý kinh phí chi cho hoạt động quản lý bộ máy,
kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn, mua sắm trang, thiết bị và các
nguồn kinh phí khác của BHXH tỉnh Chủ trì phối hợp với các phòng chức năng
thực hiện xét duyệt và tổng hợp quyết toán tài chính của BHXH quận huyện;
- Thực hiện đầy đủ chế độ, định mức chi tiêu tài chính, tổ chức hạch toán, kế
toán đúng chế độ quy định; Hướng dẫn, kiểm tra BHXH quận huyện thực hiện đúng
các nghiệp vụ quản lý tài chính, hạch toán, kế toán theo chế độ quy định;
- Theo dõi, lưu trữ, quản lý chứng từ, sổ sách kế toán theo quy định;
Phòng Tổ chức Cán bộ
Chức năng: Phòng tổ chức - Cán bộ có chức năng giúp Giám Đốc Bảo hiểm
xã hội thành phố Hồ Chí Minh quản lý, tổ chức: công chức, viên chức, khen
thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ công chức, viên chức
theo phân cấp hiện hành
Nhiệm vụ, quyền hạn
- Giúp Giám đốc kiện toàn tổ chức bộ máy BHXH TP Hồ Chí Minh và
hợp công tác giữa BHXH thành phố với các cơ quan, đơn vị liên quan đóng trên địa bàn thành phố và giữa các đơn vị trực thuộc BHXH thành phố theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định;
- Hàng năm xây dựng kế hoạch biên chế, tuyển dụng, nâng bậc lương; kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng công chức, viên chức theo phân cấp và tổ chức thực hiện kế hoạch được phê duyệt; Quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo phân cấp hiện hành;
- Thực hiện công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ và công tác quân sự địa phương thuộc hệ thông BHXH thành phố; Thực hiện giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ công chức, viên chức theo phân cấp;
- Giúp Giám đốc xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính phù hợp với chương trình cải cách hành chính của BHXH Việt Nam và tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch được phê duyệt;
- Giúp Giám đốc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc BHXH Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật
và của ngành; Thực hiện công tác thi đua khen thưởng theo quy định;
- Quản lý hồ sơ nhân sự cán bộ, công chức, viên chức theo phân cấp; Thực hiện công tác tổng hợp báo cáo thống kê về tổ chức cán bộ, khen thưởng, kỷ luật theo định kỳ hàng tháng, quý, năm và đột xuất
Phòng Hành chính Tổng hợp
Chức năng: Phòng Hành chính – Tổng hợp có chức năng giúp Giám đốc
BHXH Thành phố Hồ Chí Minh quản lý công tác Hành Chính, quản trị và tuyên truyền
Nhiệm vụ quyền hạn
- Thực hiện công tác hành chính văn thư, lưu trữ, bảo mật và bảo quản hồ
sơ, tài liệu của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh; Chịu trách nhiệm về thể thức, nội dung và tính hợp pháp của văn bản khi trình Giám đốc ký ban hành;
- Lập chương trình, kế hoạch công tác định kỳ của lãnh đạo, trình Giám đốc
ký phê duyệt và giúp Giám đốc triển khai thực hiện; bố trí lịch làm việc của lãnh đạo; Đề xuất ý kiến giải quyết các nhiệm vụ phát sinh đột xuất không thuộc chức
Trang 27giải quyết;
- Xây dựng kế hoạch về công tác thông tin, tuyên truyền với nội dung và
hình thức phù hợp theo định hướng của BHXH Việt Nam và nhiệm vụ cụ thể của
đơn vị trong từng đơn vị trong từng giai đoạn tổ chức thực hiện kế hoạch được phê
duyệt
- Trang bị phương tiện làm việc và phục vụ hoạt động của cơ quan BHXH
TP Hồ Chí Minh; Tổ chức hậu cần phục vụ sinh hoạt, hội họp, tiếp khách của lãnh
đạo và của cơ quan; Tổ chức bảo vệ, quản lý tài sản và phương tiện hoạt động của
cơ quan; công tác bảo mật, vệ sinh cơ quan; công tác phòng cháy chữa cháy;
- Giúp Giám đốc tổ chức các cuộc giao ban, hội họp, tập huấn của BHXH TP
Hồ Chí Minh; Thực hiện công tác tổng hợp, báo cáo, thống kê theo định kỳ tháng,
quý, năm và đột xuất
Phòng Kiểm tra
Chức năng: Giúp giám đốc BHXH TP Hồ Chí Minh kiểm tra, giải quyết
khiếu nại , tố cáo của tổ chức cá nhân trong việc thực hiện các chế độ chính sách
thu, chi BHXH, quản lý tài chính trong hệ thống BHXH TP Hồ Chí Minh theo quy
định của pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn
- Xây dựng chương trình kế hoạch, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền
ở địa phương để kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách thu chi BHXH, quản lý
tài chính đối với cơ quan tổ chức, đơn vị sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở khám
chữa bệnh trên địa bàn Thành phố;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra đối với các đơn vị thuộc BHXH
Thành phố trong viện thực hiện các chế độ thu, chi BHXH và quản lý tài chính theo
quy định ; có quyền yêu cầu cá nhân, đơn vị liên quan cung cấp tài liệu để kiểm tra,
giải quyết khiếu nại tố cáo theo quy định, kiến nghị, xử lý và theo dõi, đôn đốc thực
hiện kết luận sau kiểm tra đã được giám đốc phê chuẩn;
- Thực hiện sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam về công tác kiểm tra, giải quyết
khiếu tố; giúp giám đốc BHXH TP Hồ Chí Minh phối hợp với BHXH tỉnh khác để
giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của BHXH Việt Nam;
cáo về việc thực hiện chính sách chế độ BHXH, thu, chi, quản lý tài chính đối với
cá nhân, cơ quan đơn vị , tổ chức sử dụng lao động tham gia BHXH;
- Đề xuất kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan cấp trên của đơn vị sử dụng lao động, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố để xử lý
vi phạm pháp luật về BHXH TP theo ủy quyền của Giám đốc BHXH TP Hồ Chí Minh;
- Hướng dẫn nghiệp vụ công tác kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với BHXH quận, huyện
Phòng Chế độ BHXH
Chức năng: Tham mưu cho Ban Giám đốc giải quyết các chế độ BHXH
đối với người lao động, đơn vị sử dụng lao động
Phòng Tiếp nhận và Quản lý hồ sơ
Chức năng: Giúp giám đốc BHXH TP Hồ Chí Minh tổ chức tiếp nhận hồ sơ
và trả kết quả giải quyết; tư vấn chế độ, chính sách BHXH, BHYT; quản lý và tổ chức thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu thuộc hệ thống BHXH TP Hồ Chí Minh theo quy định
Nhiệm vụ, quyền hạn
- Kiểm tra và tiếp nhận các loại hồ sơ liên quan đến việc tham gia và hưởng các chế độ BHXH, BHYT của BHXH quận/huyện và các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH; Chuyển hồ sơ tiếp nhận và nhận lại kết quả giải quyết từ các phòng nghiệp
vụ liên quan để trả lại cho BHXH quận/huyện và các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH; Tiếp nhận hồ sơ, tài liệu đến hạn nộp lưu trữ của các phòng nghiệp vụ và