Yêu cầu đối với thông tin kế toán quản trị Để thật sự hữu ích cho những người sử dụng, thông tin do hệ thống kế toán quản trị cung cấp phải đảm bảo được các yêu cầu sau đây: - Tính kịp
Trang 11) Sự cần thiết của đề tài:
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu của các Công ty trong nước và của các Công
ty đa quốc gia ngày càng khốc liệt, nhằm mở rộng và nâng cao vị thế của mình và
nhằm tối đa hoá lợi nhuận, thì cần phải quản lý và kiểm soát được chi phí thì mới thực
hiện được tốt tất cả các mục tiêu của các Doanh nghiệp Vì vậy, đối với các Doanh
nghiệp thì bên cạnh hệ thống KTTC là công cụ cần thiết để quản lý Doanh nghiệp, còn
phải tổ chức hệ thống KTQT, để hổ trợ cho nhà quản lý trong việc hoạch định, tổ chức
điều hành, kiểm soát và đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với các mục tiêu
Doanh nghiệp đặt ra.Và Công ty Cổ phần Đồng Tâm cũng không nằm ngoài bối cảnh
đó
Điều đó được thể hiện qua các khía cạnh sau:
- Thông tin kế toán không chỉ cung cấp cho bên ngoài mà còn cung cấp cho nội
bộ, để trong kinh doanh nhà lãnh đạo nắm bắt kịp thời và nhanh chóng cho các quyết
định của mình thông qua việc phân tích và đánh giá các chỉ tiêu tài chính
- Thông tin do kế toán quản trị cung cấp đặt trọng tâm cho tương lai là thông tin
cần thiết và trực tiếp cho nhà lãnh đạo là cơ sở là trung tâm điều khiển mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh để làm sao Doanh nghiệp luôn tồn tại và phát triển
- Do nhận thức và hiểu biết về kế toán quản trị còn nhiều hạn chế và chưa thống
nhất cả về lý luận và thực tiễn, nên việc tìm hiểu lý luận về KTQT và vận dụng KTQT
tại Công ty là cấp bách và cần thiết
Như vậy, nếu Doanh nghiệp tổ chức được hệ thống KTQT song hành cùng
KTTC một cách đồng bộ, chặt chẽ và logic để nhằm thực hiện tốt nhất chức năng thông
tin của mình thì sẽ tăng cường được tính hữu hiệu cũng như sức mạnh thông tin kế toán
trong thời kỳ cạnh tranh
2) Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hoá các lý luận về KTQT
- Phân tích thực trạng việc vận dụng KTQT tại Công ty CP Đồng Tâm
- Tìm ra những hạn chế và hoàn thiện hệ thống KTQT tại Công ty CP Đồng Tâm
3) Phạm vi nghiên cứu :
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng về việc vận dụng KTQT tại Công ty CP Đồng Tâm
4) Phương pháp nghiên cứu đề tài
Tác giả sử dụng các phương pháp hổ trợ như: phương pháp thống kê-phân tích, phương pháp toán học và một số kỹ thuật hổ trợ khác
5) Những đóng góp của luận văn
Về cơ sở lý luận: luận văn hệ thống hoá những vấn đề liên quan đến KTQT trong việc vận dụng KTQT tại Doanh nghiệp
Về ý nghĩa thực tiễn:(1)Đánh giá xem thực trạng việc vận dụng KTQT có vận hành tốt và hiệu quả hay không.(2)Tìm ra những hạn chế của của vận dụng mô hình KTQT tại Công ty (3)Tìm ra hướng khắc phục và hoàn thiện hệ thống KTQT tại Công
ty CP Đồng Tâm
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN : luận văn gồm 97 trang Ngoài lời mở đầu và kết luận
được bố cục thành 3 chương:
- CHƯƠNG 1: Tổng quan về kế toán quản trị Doanh nghiệp
- CHƯƠNG 2: Thực trạng về việc vận dụng kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Đồng Tâm
- CHƯƠNG 3: Các giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại Công
ty Cổ phần Đồng Tâm
Trang 2CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1 1 Khái niệm kế toán quản trị
Theo luật kế toán Việt Nam, KTQT “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung
cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính
trong nội bộ đơn vị kế toán
Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa kỳ thì KTQT “là quá trình
nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực
hiện các mục đích của tổ chức Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá
trình quản lý, và nhân viên quản lý là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội
ngũ quản lý của tổ chức
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị
Kế toán quản trị là kế toán theo chức năng quản lý, vì thế vai trò của nó là cung
cấp thông tin hữu ích liên quan đến việc lập kế hoạch; tổ chức, điều hành hoạt động;
kiểm tra và ra quyết định của nhà quản trị
Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch:
Việc lập kế hoạch trong một tổ chức liên quan đến hai vấn đề, đó là: xác định mục tiêu
của tổ chức và xây dựng những phương thức để đạt được mục tiêu đó Dự toán ngân
sách trong kế toán quản trị sẽ là một công cụ để kế toán viên giúp ban quản trị trong
quá trình lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch Vì vậy, kế toán quản trị
phải trên cơ sở đã ghi chép, tính toán, phân tích chi phí, doanh thu, kết quả từng loại
hoạt động, từng sản phẩm, từng ngành hàng …., lập các bảng dự toán chi phí, doanh
thu, lợi nhuận, dự toán vốn, ….để cung cấp thông tin trong việc phác họa, dự kiến
tương lai nhằm phát triển doanh nghiệp
Để đáp ứng thông tin cho tổ chức, điều hành hoạt động của các nhà quản trị, kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin cho các tình huống khác nhau với các phương án khác nhau để nhà quản trị có thể xem xét, đề ra quyết định đúng đắn nhất quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã vạch ra Và như vậy, kế toán quản trị phải tổ chức ghi chép, xử lý thông tin đầu vào và hệ thống hóa các
số liệu chi tiết theo hướng đã định
Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát:
Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, kế toán quản trị sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện, trong đó: so sánh những số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch hoặc dự toán, liệt kê tất cả sự khác biệt và đánh giá việc thực hiện Các báo cáo này có tác dụng như một hệ thống thông tin phản hồi để nhà quản trị biết được kế hoạch đang được thực hiện như thế nào, đồng thời nhận diện các vấn đề hạn chế cần có sự điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức về mục tiêu đã xác định
Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định:
Chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án khác nhau được đưa ra Các quyết định trong một tổ chức có thể có ảnh hưởng ngắn hạn đến tổ chức hoặc có thể là các quyết định chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến tổ chức Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin, và phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm để phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị Vì vậy, kế toán quản trị phải cung cấp thông tin linh hoạt kịp thời và mang tính hệ thống, trên cơ sở đó phân tích các phương án được thiết lập để lựa chọn phương
án tối ưu nhất cho việc ra quyết định Các thông tin này cũng có thể diễn đạt dưới dạng
mô hình toán học, đồ thị, biểu đồ, … để nhà quản trị có thể xử lý nhanh chóng
1.1.3 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị
Từ những phân tích về vai trò của kế toán quản trị ở phần trên, có thể nhận thấy nội dung cơ bản của kế toán quản trị sẽ bao gồm những phần sau đây:
Trang 3viên để giúp các nhà quản trị trong việc hoạch định và kiểm soát, bao gồm
dự toán ngân sách chủ đạo, dự toán ngân sách linh hoạt, dự toán vốn
2 Kế toán theo các trung tâm trách nhiệm: là một công cụ để có thể đánh giá
và kiểm soát trong các công ty phân quyền, thông tin qua việc xác định các
trung tâm trách nhiệm và nhiệm vụ báo cáo của chúng
3 Hệ thống kế toán chi phí và yêu cầu phân tích về các sai biệt trong quản lý
chi phí sản xuất kinh doanh
4 Thiết lập thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định và dự báo:
Phân tích mối quan hệ nội tại giữa các nhân tố chi phí – khối lượng – lợi
nhuận ( C – V – P ) và điểm hoà vốn để ra quyết định về sản xuất, tiêu
thụ
Phân tích thông tin kế toán quản trị để ra các quyết định đầu tư ngắn hạn,
dài hạn
1.1.4 Phân biệt giữa KTTC và KTQT:
Những điểm giống nhau cơ bản của KTTC và KTQT:
- Đều quan tâm đến việc lượng hoá thông tin của các sự kiện kinh tế
- Cùng sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán
- Thể hiện trách nhiệm của người quản lý
Những điểm khác nhau cơ bản của KTTC và KTQT
Tiêu thức so sánh Kế toán quản trị Kế toán tài chính
Chức năng cơ bản
- Hổ trợ cho việc ra quyết định
- Cung cấp thông tin cho quản
lý trong việc hoạch định và kiểm soát, điều hành hoạt động
- Ghi chép các sự kiện kinh tế
- Công bố báo cáo tài chính cho bên ngoài
Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu đặc
hai mặt: vốn và nguồn hình thành
- Quá trình cung cấp, sản xuất
và tiêu thụ của Doanh nghiệp
- Các quan hệ kinh tế-pháp lý phát sinh trong hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
Phương pháp nghiên cứu
- Về nguyên tắc cũng sử dụng
hệ thống các phương pháp kế toán như kế toán tài chính, ngoài ra còn sử dụng thêm các phương pháp phân tích, thống
kê, toán học,…
-Sử dụng hệ thống các phương pháp kế toán bao gồm: phương pháp chứng từ; tài khoản và ghi sổ kép; tính giá
và phương pháp tổng hợp cân đối
Đối tượng sử dụng thông tin
- Các cấp quản lý khác nhau trong nội bộ Doanh nghiệp
- Chủ yếu là các thành phần ngoài Doanh nghiệp
Kết cấu cơ bản
- Các thông tin được cấu trúc phù hợp với yêu cầu của nhà quản lý các cấp trong Doanh nghiệp; chủ yếu là 3 dạng thông tin: kế toán giá phí đầy đủ; kế toán các sai biệt; và kế toán các trung tâm trách nhiệm
- Là đẳng thức: Tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Các nguyên tắc chuẩn mực
- Chỉ cần thông tin mang tính hữu ích và linh hoạt để có thể
sử dụng
- Phải tôn trọng các chuẩn mực quốc tế về kế toán và các nguyên tắc chung được thừa nhận
Trang 4Thước đo sử dụng hoặc hiện vật, giờ lao động,giờ
- Định kỳ trên cơ sở đều đặn:
tháng, quý, năm
Độ chính xác của
thông tin
- Nặng tính chủ quan vì mục đích kế hoạch, mặc dù các dữ liệu khách quan được sử dụng khi thích hợp; có tính chất tương lai
-Khách quan, có thể kiểm toán, đáng tin cậy, nhất quán, chính xác; có tính chất lịch sử
Nguồn thông tin
- Hệ thống kế toán cơ bản của
tổ chức, và các nguồn thông tin khác
- Gần như được rút ra duy nhất từ hệ thống kế toán cơ bản của tổ chức; hệ thống thu thập thông tin tài chính
Đặc điểm của thông tin
- Bí mật trong nội bộ doanh nghiệp, sử dụng trong hoạch định và kiểm soát hoạt động
Mang tính linh hoạt và thích hợp
- Công khai, giải thích các nghiệp vụ đã xảy ra trong qua khứ
Tính pháp lý
- Các báo cáo chỉ sử dụng nội
bộ Doanh nghiệp, không phát hành ra bên ngoài nên không
- Các báo cáo tài chính được phát hành ra bên ngoài Vì vậy, Doanh nghiệp phải chịu
TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị chủ yếu là: những nhà quản lý, điều hành nội bộ của tổ chức Các nhà quản lý và điều hành doanh nghiệp luôn luôn đứng trước các quyết định phải làm gì, làm như thế nào và liệu rằng kết quả đạt được
có đúng với kế hoạch hay không Những nhà quản lý thành công luôn có những quyết định đúng đắn trên cơ sở thông tin có giá trị và kịp thời Phần lớn những quyết định này dựa trên số liệu thông tin kế toán và sự phân tích các số liệu đó Do đó, ban lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp là một trong những thành phần sử dụng thông tin kế toán quan trọng nhất
Yêu cầu đối với thông tin kế toán quản trị
Để thật sự hữu ích cho những người sử dụng, thông tin do hệ thống kế toán quản trị cung cấp phải đảm bảo được các yêu cầu sau đây:
- Tính kịp thời: Yêu cầu này đòi hỏi thông tin kế toán phải được cung cấp đúng
lúc, đúng thời điểm theo yêu cầu của các nhà quản trị, nhằm giúp cho các nhà quản trị nắm được tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhanh chóng, trên cơ sở đó có thể phát huy được ưu điểm và khắc phục được các khuyết điểm một cách kịp thời, qua đó hạn chế được thiệt hại xảy ra đối với doanh nghiệp Đồng thời, có thể quyết định đúng lúc các vấn đề thời cơ có thể mang đến lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp
- Tính đầy đủ và hệ thống: Yêu cầu này đòi hỏi hệ thống thông tin kế toán được
thiết lập phải phản ánh đầy đủ các mặt hoạt động cũng như mọi khía cạnh của toàn bộ các sự việc kinh tế tài chính phát sinh, nhằm giúp người sử dụng có thể nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách toàn diện và hệ thống
Trang 5kịp thời và đầy đủ mà đòi hỏi còn phải có tính thích hợp với những nhu cầu ra
quyết định kinh tế của người sử dụng Thông tin chỉ có tính thích hợp khi nó
hướng đến tương lai và có sự khác biệt giữa các phương án kinh doanh cần
xem xét
- Tính bảo mật: là tính chất quan trọng của hệ thống thông tin kế toán quản trị,
bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến tiềm năng kinh tế, tính độc lập cũng như khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, thông tin kế toán nói chung và
thông tin kế toán quản trị nói riêng được cung cấp cho các bộ phận hữu quan
phải phù hợp với các nguyên tắc quản lý và quy định của pháp luật
CÁC PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.3.1 Phương pháp nghiệp vụ sử dụng trong kế toán quản trị: cũng giống như
KTTC, KTQT cũng vận dụng và sử dụng hệ thống các phương pháp kế toán, nhưng có
khác là việc thu thập, xử lý các thông tin chi tiết cụ thể hơn, và linh hoạt hơn để phục
vụ tốt cho nội bộ trong Doanh nghiệp, cụ thể:
1.3.1.1 Phương pháp chứng từ kế toán: ngoài việc sử dụng những chứng từ bắt buộc
theo qui định của chế độ kế toán hiện hành, kế toán quản trị còn sử dụng các chứng từ
hướng dẫn nhằm phục cho yếu tố quản trị trong Doanh nghiệp, những chứng từ này
được Doanh nghiệp tự thiết kế nhằm thể hiện các tiêu chí phục vụ trực tiếp cho việc
thu thập, xử lý và cung cấp thông tin nội bộ về quá trình lập dự toán, hạch toán chi
phí,…
1.3.1.2 Phương pháp đối ứng tài khoản: để quản lý và theo dõi các đối tượng kế
toán được tốt hơn, thì bên cạnh hệ thống tài khoản theo qui định kế toán sẽ mở thêm tài
khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4, cấp 5 để phản ánh chi tiết những đối tượng kế toán thuộc các
chỉ tiêu quản trị
1.3.1.3 Phương pháp tính giá: Kế toán quản trị cũng phải tuân thủ nguyên tắc và trình
tự tính giá giống như kế toán tài chính Tuy nhiên, do đặc điểm riêng của KTQT nên
pháp đặc thù, nhất là trong việc phân bổ chi phí sản xuất chung, hoặc trong việc phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí để phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng
- lợi nhuận, trong việc tính giá thành sản phẩm theo chi phí toàn bộ và chi phí trực tiếp
1.3.1.4 Phương pháp tổng hợp cân đối: Trong quá trình quản lý, các nhà quản trị
Doanh nghiệp rất cần các thông tin mang tính hệ thống, những thông tin được xử lý qua sàng lọc, lựa chọn để có những quan hệ cân đối cơ bản cho những quyết định quản
lý Nhu cầu thông tin này thể hiện theo phương pháp tổng hợp cân đối là hoàn toàn phù hợp cho cả kế toán nói chung và kế toán quản trị nói riêng Hình thức thể hiện cụ thể của phương pháp được thể hiện qua Báo cáo kế toán Hệ thống Báo cáo kế toán quản trị bao gồm các báo cáo phục vụ các chức năng hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản trị sẽ được thiết kế tùy thuộc vào quy mô hoạt động của DN cũng như phù hợp với yêu cầu quản lý của các nhà quản trị các cấp trong DN
1.3.2 Các công cụ cơ bản của kế toán quản trị 1.3.2.1 Phương pháp lập dự toán:
Dự toán tiêu thụ
Đầu tiên dự toán tiêu thụ là nền tảng để lập các dự toán khác của doanh nghiệp, vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, kết hợp với năng lực hoạt động của mình để lên kế hoạch và lập dự toán tiêu thụ cho sát với tình hình thị trường Khi lập dự toán tiêu thụ cần dựa trên các cơ sở sau đây:
Tình hình tiêu thụ các kỳ trước
Chính sách quảng cáo, khuyến mãi của doanh nghiệp
Thu nhập của người tiêu dùng
Chính sách giá cả sản phẩm, chính sách tín dụng đối với khách hàng
Tình hình biến động kinh doanh theo mùa vụ
Trang 6 Lợi thế của các đối thủ cạnh tranh đối với sản phẩm cùng loại, hoặc tương tự
nhau hay các sản phẩm có khả năng thay thế
Năng lực hoạt động của doanh nghiệp
Môi trường kinh tế xã hội, chính trị
Xu hướng phát triển của ngành kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động
Dự toán tiêu thụ được lập dựa trên mức tiêu thụ ước tính và đơn giá bán
Ta có:
Lập dự toán sản xuất:
Dự toán sản xuất được lập dựa trên cơ sở dự toán tiêu thụ, đồng thời phải căn cứ vào
dự toán tồn kho nhằm đảm bảo mức tồn kho tối thiểu cho quá trình tiêu thụ được liên
tục
Lập dự toán mua nguyên vật liệu:
Dự toán mua nguyên vật liệu được lập dựa trên các cơ sở:
Dự toán sản xuất sản phẩm; định mức nguyên vật liệu tiêu hao; và nhu cầu nguyên vật
liệu tồn kho
Số tiền thu vào Khoản nợ phải thu Doanh thu bán hàng
trong kỳ kỳ trước ước thu + ước tính thu bằng
được trong kỳ tiền mặt trong kỳ
=
Dự toán sản phẩm Dự toán sản phẩm Dự toán sản phẩm Dự toán sản phẩm
sản xuất trong kỳ tiêu thụ trong kỳ tồn kho cuối kỳ tồn kho đầu kỳ = + -
Dự toán Dự toán nhu cầu Dự toán nhu cầu Dự toán nhu cầu
nguyên vật liệu = nguyên vật liệu + nguyên vật liệu - nguyên vật liệu
thu mua trong kỳ tồn kho cuối kỳ tồn kho đầu kỳ
mua hàng cho nhà cung cấp, doanh nghiệp lập dự toán chi tiền trả cho nhà cung cấp:
Lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được lập dựa trên cơ sở dự toán sản xuất và định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp:
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được lập căn cứ vào dự toán sản phẩm sản xuất, định mức thời gian sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ, và định mức đơn giá theo đơn vị thời gian
Ta có:
Lập dự toán chi phí sản xuất chung:
Là một khoản mục chi phí gián tiếp đối với từng đơn vị sản phẩm nên thông thường chi phí sản xuất chung tính cho các sản phẩm thông qua đơn giá phân bổ chi phí sản xuất chung được xây dựng theo các tiêu thức phân bổ phù hợp với sản phẩm, dịch vụ sẽ thực hiện
Dự toán tiền chi ra Số tiền chi ra để thanh Số tiền chi ra để thanh
để thanh toán cho nhà = toán nợ kỳ trước cho + toán nợ kỳ này cho cung cấp trong kỳ nhà cung cấp nhà cung cấp
Dự toán chi phí Dự toán sản Định mức chi phí nguyên vật liệu = phẩm sản xuất X nguyên vật liệu trực tiếp trong kỳ trực tiếp
Dự toán nhu cầu thời Dự toán sản phẩm sản Định mức thời gian sản gian lao động ( giờ ) xuất, dịch vụ thực hiện xuất, thực hiện dịch vụ =
Dự toán chi phí Dự toán nhu cầu Định mức đơn giá giờ nhân công trực tiếp thời gian lao động công lao động trực tiếp =
X
X
Đơn giá phân bổ Tổng chi phí sản xuất chung ước tính chi phí sản xuất chung Tổng tiêu thức được chọn để phân bổ dự kiến =
Trang 7được sự biến động của chi phí, khi xây dựng dự toán chi phí sản xuất chung sẽ phân
biệt theo hai nhóm biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất chung Theo đó, khi
lập dự toán biến phí sản xuất chung có thể căn cứ theo phương pháp thống kê thực
nghiệm để ước tính tỷ lệ tiêu hao biến phí sản xuất chung theo từng khoản mục biến
phí trực tiếp sản xuất Còn định phí sản xuất chung thường không thay đổi so với kỳ
thực tế, vì vậy có thể căn cứ vào chi phí thực tế phát sinh kỳ trước làm cơ sở ước tính
cho kỳ kế hoạch nhưng có chú ý đến vấn đề tiết giảm chi phí, nhằm giảm giá thành kế
hoạch vì chi phí này thường không làm tăng giá trị sản phẩm sản xuất
Ngoài ra, để có cơ sở xây dựng dự toán tiền, khi lập dự toán cho chi phí sản xuất chung
cần phải dự toán được dòng tiền chi liên quan đến hoạt động này Theo đó, khoản chi
phí sản xuất chung chi trực tiếp bằng tiền được xác định bằng dự toán chi phí sản xuất
chung trừ cho các yếu tố được xác nhận là chi phí sản xuất chung nhưng không phải
trực tiếp được chi bằng tiền, như chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị, các
khoản trích trước về chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, …
Lập dự toán hàng tồn kho cuối kỳ:
Hàng tồn kho cuối kỳ cần dự toán đối với doanh nghiệp sản xuất chủ yếu là nguyên,
vật liệu và thành phẩm Việc lập các dự toán này thường dựa vào kinh nghiệp từ việc
khảo sát tình hình thực tế của các kỳ trước kết hợp với khả năng dự toán sự biến động
của thị trường cung cấp nguyên vật liệu cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm của kỳ
dự toán Trên cơ sở đó ước tính tỷ lệ hàng tồn kho cuối kỳ để đáp ứng nhu cầu vật liệu
cho sản xuất cũng như nhu cầu dự trữ thành phẩm phục vụ cho việc tiêu thụ
Dự toán trị giá Dự toán số lượng Định mức giá mua
Nguyên vật liệu, nguyên vật liệu nguyên vật liệu
( thành phẩm ) ( thành phẩm ) ( giá thành ước tính )
Tồn kho cuối kỳ tồn kho cuối kỳ
Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp ở các nước tiên tiến trên thế giới từ nhiều năm nay đã áp dụng hệ thống tồn kho kịp thời, để giảm dần và đi đến cắt bỏ việc tồn kho nhằm làm chi phí lưu kho – vốn được xem là một khoản chi phí cồng kềnh và khá tốn kém nhưng lại không làm tăng giá trị của hàng tồn kho Đặc điểm của hệ thống này là nguyên vật liệu sẽ được nhận đúng lúc để đưa vào sản xuất, các bộ phận chi tiết được sản xuất ra kịp thời để tạo nên sản phẩm, và cuối cùng các thành phẩm được hoàn thành đúng hạn để giao cho khách hàng Mặc dù để thực hiện được phương pháp này cần rất nhiều điều kiện hổ trợ từ khoa học kỹ thuật, mà với một nền sản xuất nhỏ đại đa phần là sản xuất thủ công và bán thủ công như nước ta mới buớc đầu chuẩn bị đi vào giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá thì quả là một vấn đề nan giải Thế nhưng, xuất phát từ lợi ích to lớn của nó thiết nghĩ các doanh nghiệp Việt Nam cần phải quan tâm đến vấn đề này, và cố gắng vận dụng nhanh chóng
Lập dự toán giá vốn hàng bán:
Trên cơ sở đã xác định được dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp và dự toán chi phí sản xuất chung, kế toán quản trị sẽ tính được tổng chi phí sản xuất theo dự toán Sau đó kết hợp với chỉ tiêu thành phẩm dự kiến tồn kho đầu kỳ ( trên bảng cân đối tài sản dự toán ), và dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ ( trên bảng dự toán thành phẩm tồn kho ) để xác định giá vốn hàng bán theo dự toán
Dự toán số lượng Nhu cầu nguyên vật liệu Tỷ lệ (%) Nguyên vật liệu ( thành = ( thành phẩm ) cần cho sản X tồn kho phẩm ) tồn kho cuối kỳ xuất, ( tiêu thụ ) kỳ dự toán ước tính
Dự toán tổng Dự toán chi phí Dự toán chi phí Dự toán chi phí chi phí sản xuất chung vật liệu trực tiếp nhân công trực tiếp sản xuất chung = + +
Dự toán Dự toán tổng Dự toán thành Dự toán thành giá vốn = chi phí + phẩm tồn kho - phẩm tồn kho hàng bán sản xuất đầu kỳ cuối kỳ
Trang 8 Lập dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:
Do mang bản chất là chi phí gián tiếp nên việc lập dự toán cho các khoản chi phí này
cũng tương tự như việc lập dự toán chi phí sản xuất chung Có thể lập riêng dự toán cụ
thể theo từng yếu tố biến phí và định phí đối với mỗi loại chi phí
Đối với biến phí quản lý doanh nghiệp: Do chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí có
tính chất chung liên quan đến toàn doanh nghiệp mà không liên quan trực tiếp đến bộ
phận cụ thể nào, nên việc dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp thường dựa vào
phương pháp thống kê kinh nghiệm Dựa vào tỷ lệ biến phí quản lý doanh nghiệp so
với tổng biến phí sản xuất ở các kỳ trước để xác định tỷ lệ biến phí quản lý doanh
nghiệp bình quân giữa các kỳ
Còn đối với định phí bán hàng và định phí quản lý doanh nghiệp do thường không thay
đổi trong một giới hạn nhất định khi khối lượng sản phẩm tiêu thụ thay đổi, nên có thể
căn cứ vào định phí bán hàng và định phí quản lý doanh nghiệp của kỳ thực hiện trước
đó kết hợp với chính sách tiết kiệm chi phí ( % tiết giảm chi phí so với kỳ trước ) để
xác định dự toán định phí bán hàng và dự toán định phí quản lý doanh nghiệp cho kỳ
kế hoạch
Tương tự như trên, sau khi lập dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp, kế toán cũng phải dự tính được dòng tiền chi cho hoạt động bán hàng và hoạt
động quản lý doanh nghiệp, bằng cách lấy tổng dự toán chi phí bán hàng hay chi phí
Dự toán biến Dự toán số lượng Định mức chi
phí bán hàng sản phẩm tiêu thụ phí bán hàng = X
Dự toán biến phí Dự toán biến Dự toán định
quản lý doanh nghiệp phí bán hàng phí bán hàng = +
Dự toán tổng chi phí Dự toán biến phí Dự toán định phí
quản lý doanh nghiệp quản lý doanh nghiệp quản lý doanh nghiệp = +
quản lý doanh nghiệp trừ đi các yếu tố chi phí thuộc khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý nhưng không phải thực hiện bằng chi tiền
Lập dự toán kết quả kinh doanh:
Trên cơ sở các dự toán doanh thu, dự toán giá vốn hàng bán và dự toán chi phí bán hàng, kế toán quản trị lập được bảng dự toán kết quả kinh doanh Ngoài tác dụng phản ánh lợi nhuận dự kiến thu được, dự kiến kết quả kinh doanh còn là cơ sở để so sánh, đánh giá quá trình hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện kế hoạch lợi nhuận, kế hoạch sản xuất kinh doanh khi kết thúc kỳ thực hiện dự toán Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố chi phí – khối lượng – lợi nhuận để tính toán được các mức lợi nhuận mong muốn làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh doanh, dự toán kết quả kinh doanh sẽ được thể hiện theo hình thức số đảm phí hay còn gọi là dự toán kết quả kinh doanh theo phương pháp chi phí trực tiếp Theo hình thức này, chi phí được ghi nhận để xác định kết quả kinh doanh được phân tích theo mô hình ứng xử của chúng, thể hiện qua các dòng biến phí, và định phí, đây cũng cũng chính là một hình thức báo cáo kết quả kinh doanh phổ biến nhất trong kế toán quản trị
Lập dự toán tiền mặt:
Căn cứ vào các dự toán trên, kế toán quản trị lập bảng dự toán tiền bao gồm 4 phần:
Phần khả năng thu tiền: phản ánh dòng tiền có được trong kỳ dự toán gồm số
tiền tồn đầu kỳ và dòng tiền ước tính thu vào trong kỳ
Phần nhu cầu chi tiêu: phản ánh dòng tiền chi ra trong kỳ bao gồm toàn bộ các khoản chi theo các dự toán đã lập và dự chi mua sắm tài sản cố định, chi trả lãi
cổ phần ( nếu có ), …
Phần cân đối thu, chi: phản ánh khoản chênh lệch giữa khả năng thu tiền mặt và
nhu cầu chi tiêu cần thiết, phần còn lại có thể dùng vào việc trả nợ trước hạn, hoặc đầu tư tài chính ngắn hạn, … Ngược lại, nếu khả năng tiền mặt không đảm
Trang 9thiếu hụt thông qua hình thức huy động vốn cụ thể
Phần tài chính: Phản ánh một cách chi tiết số tiền vay, trả nợ vay trong từng kỳ
kế toán
Lập bảng cân đối tài sản dự toán:
Căn cứ vào bảng cân đối tài sản dự toán kỳ trước và các bảng dự toán đã lập ở trên kết
hợp với tình hình biến động của một số tài sản, nguồn vốn chưa được tính đến trong
các dự toán đã lập để soạn thảo bảng cân đối tài sản dự toán
1.3.2.2 Công cụ sử dụng để kiểm soát trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm:
Hoạt động của các trung tâm trách nhiệm thường được xem xét trên cả hai mặt, đó
là hiệu quả và hiệu năng, và việc đánh giá hai tiêu chí này sẽ được thực hiện trên cả hai
mặt định tính và định lường Trong đó, việc đánh giá về mặt định tính sẽ được thực
hiện thông qua các bảng điều tra khảo sát thăm dò về thái độ phục vụ khách hàng, về
chất lượng sản phẩm dịch vụ, tiến độ giao hàng, hậu mãi, … còn việc đánh giá về mặt
định lượng sẽ được thực hiện thông trách nhiệm khác nhau, vì vậy các chỉ tiêu đánh giá
cho từng loại trung tâm cũng khác nhau
Đối với trung tâm chi phí:
Cần phân biệt làm hai dạng đó là trung tâm chi phí định mức và các trung tâm chi phí
tự do
Trung tâm chi phí định mức: Là trung tâm chi phí mà đầu ra có thể xác định và lượng
hoá được bằng tiền trên cơ sở đã biết phí tổn ( đầu vào ) cần thiết để tạo ra một đơn vị
đầu ra Ví dụ, một phân xưởng sản xuất sẽ là trung tâm chi phí định mức vì giá thành
mỗi đơn vị sản phẩm tạo ra có thể xác định thông qua định mức chi phí vật liệu trực
tiếp, định mức chi phí nhân công trực tiếp và định mức chi phí sản xuất chung, Vì vậy,
đối với trung tâm này:
sản lượng sản xuất trên cơ sở đảm bảo đúng thời hạn và tiêu chuẩn kỹ thuật quy định không
Về mặt hiệu năng: được đo lường thông qua việc so sánhgiữa chi phí thực tế với chi
phí định mức Trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ phân tích biến động chi phí và xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến tình hình thực hiện định mức chi phí
Trung tâm chi phí tự do: Là trung tâm chi phí mà đầu ra không thể lượng hoá được
bằng tiền một cách chính xác và mối quan hệ giữa đầu ra và đầu với đầu vào ở trung tâm này là không chặt chẽ Trong doanh nghiệp điển hình về các trung tâm này là phòng tổ chức hành chính ( đầu ra là các nhân sự có năng lực phù hợp ), phòng kế toán ( đầu ra là các báo cáo trung thực và đáng tin cậy ) bộ phận pháp lý ( đầu ra là các tư vấn hướng dẫn về pháp lý ), bộ phận nghiên cứu và phát triển ( R & D ) … Đối với các trung tâm chi phí này:
Sự hiệu quả: thường được đánh giá thông qua việc so sánh giữa đầu ra và mục tiêu
phải đạt được của trung tâm
Về hiệu năng: được đánh giá chủ yếu dựa vào việc đối chiếu giữa chi phí thực tế phát
sinh và dự toán ngân sách đã được phê duyệt Thành quả của các nhà quản lý bộ phận này sẽ được đánh giá dựa vào vào khả năng kiểm soát chi phí của họ trong bộ phận
Đối với trung tâm doanh thu:
Về mặt hiệu quả: sẽ đối chiếu doanh thu thực tế đạt được so với doanh thu dự toán của
bộ phận Xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên cơ sở đó phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan như đơn giá bán; khối lượng sản phẩm tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
Sai biệt chi phí = Chi phí thực tế - Chi phí định mức
Sai biệt doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán
Trang 10nhưng đầu vào thì không vì trung tâm doanh thu không chịu trách nhiệm về giá thành
hay giá vốn sản phẩm hàng hoá Trong khí đó chi phí phát sinh tại trung tâm doanh thu
thì không thể nào so sánh được với doanh thu của trung tâm Vì vậy, khi đo lường hiệu
năng hoạt động của trung tâm này, chúng ta sẽ so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí
dự toán của trung tâm
Đối với trung tâm lợi nhuận: ( hay còn gọi là trung tâm kinh doanh )
Về mặt hiệu quả: Xem xét tình hình thực hiện dự toán lợi nhuận, so sánh giữa lợi
nhuận đạt được thực tế với lợi nhuận ước tính theo dự toán Qua đó phân tích khoản sai
biệt lợi nhuận do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan như: doanh thu, giá vốn, chi
phí bán hàng và chi phí quản lý ( thông thường dự toán lợi nhuận thường được thiết lập
theo dạng đảm phí ) Trên cơ sở đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan
làm biến động lợi nhuận so với dự toán
Về hiệu năng hoạt động: Do có thể lượng hoá được bằng tiền cả đầu ra và đầu vào, nên
hiệu năng hoạt động của trung tâm này có thể đo lường bằng các chỉ tiêu sau đây:
Số dư đảm phí bộ phận
Số dư bộ phận kiểm soát được
Số dư bộ phận
Lợi nhuận trước thuế
Đối với trung tâm đầu tư:
Thực chất trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó
người quản lý có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, vì ngoài việc đưa ra các quyết
định ngắn hạn như cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí sản phẩm, phương thức sản xuất,
…) họ còn kiểm soát được các quyết định về đầu tư ( trung tâm đầu tư thường được
thiết lập ở các công ty sản xuất có quy mô lớn) Vì vậy về mặt hiệu quả hoạt động của
Sai biệt lợi nhuận = Lợi nhuận thực tế - Lợi nhuận dự toán
năng hoạt động thì cần có sự so sánh lợi nhuận đạt được với tài sản hay giá trị đã đầu
tư vào trung tâm Cụ thể sử dụng các chỉ tiêu sau đây để đo lường hiệu năng hoạt động của các trung tâm đầu tư:
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ( ROI: Return On Investerment ): Là tỷ lệ giữa lợi nhuận trước
thuế so với vốn đầu tư đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó ở một trung tâm đầu tư
Lợi nhuận còn lại ( RI: Residual Income ): Là số tiền còn lại sau khi trừ chi phí vốn sử
dụng
Do RI là một chỉ tiêu được thể hiện bằng số tuyệt đối nên không thể so sánh được giữa các trung tâm với nhau Vì vậy, khi đo lường hiệu năng hoạt động của các trung tâm chúng ta có thể dựa vào kết quả so sánh giữa RI thực tế với RI dự toán
1.3.2.3 Phân tích các sai biệt về chi phí sản xuất kinh doanh:
Phân tích các sai biệt về chi phí sản xuất kinh doanh là một công cụ kiểm tra rất quan trọng trong việc thực hiện hệ thống dự toán chi phí Có thể nói, những sai biệt chi phí biểu hiện những sai lệch trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức là một cơ sở thông tin quan trọng cho một hệ thống kiểm tra hiệu quả đối với các nhà quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, để các sai biệt này phản ánh chính xác hiện tượng “ nhân - quả “ về
sự sai lệch của các hoạt động thì điều kiện tiên quyết đối với các doanh nghiệp là phải
có một hệ thống định mức ( hoặc dự toán ) chi phí được xây dựng khoa học, và hiện thực Trên cơ sở phân tích, tính toán được các sai biệt thuận lợi và bất lợi, ban điều hành quản trị doanh nghiệp sẽ tập trung sự chú ý vào các hoạt động hoặc các bộ phận
Lợi nhuận trước thuế Công thức: ROI =
Vốn đầu tư
RI = Lợi nhuận - Chi phí vốn ( 1 )
RI = Lợi nhuận - ( Vốn đầu tư X Tỷ suất chi phí vốn ) ( 2 )
Trang 11và tận dụng cơ hội dựa trên những sai biệt thuận lợi
Việc phân tích tình hình biến động chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
thường được thực hiện chi tiết theo từng khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp;
chi phí nhân công trực tiếp; chi phí sản xuất chung; chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp Trong đó, cũng như việc lập dự toán, khi phân tích các khoản mục chi
phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cần phân tích
riêng rẽ các khoản mục chi phí này thành biến phí và định phí
Để phân tích sự biến động của một khoản mục chi phí cần phải thực hiện theo một
trình tự như sau:
Xác định chỉ tiêu chi phí cần phân tích và biểu diễn chi phí đó dưới dạng một
biểu thức đại số chịu sự tác động của nhiều nhân tố có liên quan
Xác định đối tượng cần phân tích: đối tượng cần phân tích ở đây là chênh lệch
giữa chi phí thực tế và chi phí định mức hoặc có thể là chênh lệch giữa chi phí
thực tế phát sinh kỳ này và chi phí thực tế của kỳ trước
Tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan đến sự biến động của
khoản mục chi phí cần phân tích thông qua các phương pháp phân tích chủ yếu
như phương pháp so sánh hay phương pháp thay thế liên hoàn, … đồng thời có
thể báo cáo các sự biến động này thông qua đồ thị và các bảng biểu
Xác định nguyên nhân, xu hướng của sự biến động chi phí và đề nghị các giải
pháp khắc phục
Tuy nhiên, khi xem xét, phân tích các sai biệt không nên chỉ xem xét thuần tuý
về mặt giá trị đối với các khoản sai biệt này mà phải có sự phân tích kỹ lưỡng
chúng Mức độ phân tích sẽ tuỳ thuộc vào bản chất của sai biệt là kiểm soát được
hay không kiểm soát được; và độ lớn của mức sai biệt này cũng như tần suất xuất
Sai biệt không thể kiểm soát được là các phát sinh do các nguyên nhân nằm ngoài
tầm kiểm soát của các cá nhân hay bộ phận nào đó trong tổ chức Ví dụ như sai biệt
về mức giá nguyên vật liệu, sai biệt về mức tiền công,… các sai biệt này xảy ra phần lớn do điều kiện khách quan của nền kinh tế Vì vậy, giải pháp đưa ra để khắc phục các sai biệt này là Ban điều hành quản trị doanh nghiệp cần phải xem xét lại các định mức tương ứng
Đối với độ lớn và tần suất xuất hiện của sai biệt nếu trị số sai biệt càng lớn và tần suất xuất hiện của các sai biệt đó càng dày thì ban điều hành quản trị doanh nghiệp càng phải tập trung sự chú ý vào nó Độ lớn của các sai biệt được xác định tuỳ thuộc vào tính chất trọng yếu của sai biệt cũng như tuỳ theo quy mô của từng doanh nghiệp hoặc từng bộ phận trong doanh nghiệp, đồng thời có sự chú ý đến xu hướng vận động của các sai biệt này trong quá khứ Trên cơ sở đó có thể thiết lập một giới hạn để đánh giá độ lớn của sai biệt
1.3.2.4 Các công cụ sử dụng để chứng minh cho các quyết định:
Phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố chi phí–khối lượng–lợi nhuận ( C –
V – P ) và điểm hoà vốn để ra quyết định về sản xuất, tiêu thụ
Phân tích mối quan hệ nội tại giữa các nhân tố chi phí – khối lượng – lợi nhuận là việc phân tích mối quan hệ nội tại để tìm ra một sự kết hợp có hiệu quả nhất giữa các nhân tố: giá bán sản phẩm; khối lượng hoạt động; biến phí của một đơn vị sản phẩm; định phí hoạt động và kết cấu chi phí cũng như kết cấu của sản lượng tiêu thụ, nhằm tìm ra khả năng tạo ra lợi nhuận cao nhất cho Doanh nghiệp
Trang 12 Phân tích các tình huống kinh doanh để ra quyết định ngắn hạn thông qua
bản dự toán thu nhập theo hình thức số dư đảm phí:
Kết quả về chỉ tiêu số sư đảm phí là mối quan tâm chủ yếu của các nhà quản trị cho
việc quyết định kết cấu có lợi nhất giữa các nhân tố giá bán, chi phí bất biến, chi phí
khả biến và doanh số
Phân tích chi phí thích hợp gắn với việc sử dụng dự toán kết quả kinh doanh theo
hình thức số dư đảm, trong đó trình bày chi phí theo mô hình ứng xử của nó là một
công cụ định lượng hữu hiệu đối với việc ra quyết định trong những tình huống đặc
biệt, không thường xuyên như: chấp thuận hay từ chối một đơn đặt hàng đặc biệt, quyết
định tự sản xuất hay mua ngoài một bộ phận chi tiết của thành phẩm, ngừng hay quyết
định kinh doanh một mặt hàng nào đó
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong thời buổi cạnh tranh, và cơ chế thị trường hiện nay, thông tin kế toán không chỉ cung cấp cho bên ngoài, mà còn cung cấp cho bên trong phục vụ cho các nhà quản lý Doanh nghiệp, ý nghĩa đó nói lên là bên cạnh hệ thống KTTC thì rất cần KTQT Vì vậy, trong Chương một đã hệ thống hoá những lý luận liên quan về kế toán quản trị, thông qua đó nói lên bản chất của kế toán quản trị được thể hiện cụ thể qua việc so sánh giữa KTTC và KTQT Vì vậy, đây là cơ sở là nền tảng cho việc vận dụng
và hoàn thiện mô hình kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Đồng Tâm
Khi xem xét việc sử dụng các phương pháp trong kế toán, thì kế toán quản trị vẫn sử dụng hệ thống các phương pháp kế toán đó là: phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá và báo cáo kế toán nhưng các phương pháp này
sẽ được thiết kế phù hợp với đặc thù và nội dung phản ánh của kế toán quản trị Đồng thời qua quá trình tìm hiểu, trong kế toán quản trị còn sử dụng các phương pháp kỹ thuật đặc thù của kế toán quản trị và các nghiệp vụ cơ bản của kế toán quản trị Tất cả các nội dung trên là cơ sở để hổ trợ luận án, xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Đồng Tâm
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY ĐỒNG TÂM
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỒNG TÂM (DONG TAM
GROUP):
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Quá trình phát triển:
Công ty cổ phần Đồng Tâm có trụ sở chính tại số 7 khu phố 6, Thị Trấn Bến
Lức, Huyện Bến Lức Tỉnh Long An.Văn phòng đại diện tại số 236A, Đường Nguyễn
Văn Luông, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
Xuất thân từ cơ sở sản xuất gạch bông tư nhân Đồng Tâm, Công ty CP Đồng
Tâm được thành lập ngày 25/6/1969 bởi ông Võ Thành Lân Từ khi mới thành lập,
Gạch Đồng Tâm đã bắt tay ngay vào thực hiện chiến lược đầu tư dài hạn vào sản xuất
vật liệu xây dựng với việc cho ra đời nhà máy sản xuất gạch ceramic tư nhân đầu tiên
tại Việt Nam
Ngày nay, không chỉ dừng lại ở gạch men, gạch granite, Đồng Tâm đã phát triển
sản phẩm sang cả chủng loại gạch ngói màu, sơn nước, bột trét tường, thiết bị vệ sinh
Cùng hệ thống sản phẩm đa dạng, Đồng Tâm còn xây dựng cả mạng lưới trung tâm tư
vấn, giới thiệu và phân phối sản phẩm không chỉ ở trong nước (với gần 3.000 cửa hàng
đại lý tiêu thụ sản phẩm trên khắp mọi miền đất nước) và còn cả thị trường quốc tế như
Pháp, Hà Lan, Séc, Mỹ…
Ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh truyền thống, Đồng Tâm còn đầu tư vào các
dự án thuộc những lĩnh vực như bất động sản, ngân hàng, thương mại, dịch vụ… qua
đó, đa dạng hóa ngành nghề nhằm hỗ trợ và giảm thiểu rủi ro kinh doanh
Chiếm tới 15% thị phần tại thị trường trong nước, hiện nay Gạch Đồng Tâm đã
là thành viên của Hiệp Hội Gốm Sứ Xây dựng Việt Nam, cơ quan đại diện cho ngành gốm sứ xây dựng tại Việt Nam cung ứng gần 90 triệu m2 gạch men - gạch Granite cho thị trường trong nước và xuất khẩu trong đó công suất các nhà máy của Gạch Đồng Tâm là 12 triệu m2/năm, gần 1/7 sản lượng trong nước Từ năm 1996 đến 2000, tốc độ tăng trưởng của Gạch Đồng Tâm vào khoảng 60%; doanh số bán hàng năm 2004 của các nhà máy đạt gần 900 tỷ đồng, nộp ngân sách gần 50 tỷ đồng
Sản phẩm Gạch Đồng Tâm ra đời phù hợp về mặt kinh tế cho phần lớn các hộ gia đình do giá cả không quá rẻ, cũng không quá đắt, thế nhưng sản phẩm lại luôn đáp ứng được nhu cầu của mọi tầng lớp khách hàng cả về mẫu mã và chất lượng
Với chủ trương thâm nhập thị trường nước ngoài trọng điểm, đặc biệt là ASEAN
và Mỹ, Đồng Tâm đã thành lập và đi vào vận hành ổn định một kho hàng tại Los Angeles (Mỹ), dần tạo nên những sản phẩm “Made in Vietnam” uy tín
Cùng 40 nhà máy sản xuất gạch tại Việt Nam, Gạch Đồng Tâm luôn phát huy thế mạnh tiên phong trong việc tìm tòi đưa ra những chủng loại sản phẩm mới như gạch granite giả đá, giả cổ vừa độc đáo, vừa kết hợp nhiều hoa văn đá thiên nhiên sáng tạo, thổi hồn Việt vào từng sản phẩm
Về nhân sự:
Đồng Tâm có đội ngũ cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm (18% trên tổng số 3.000 CBCNV có trình độ từ cao đẳng trở lên, trong đó có 15% có trình độ đại học và trên đại học) và đội ngũ công nhân viên có tay nghề cao nhiều năm gắn bó với công ty (có những nhân viên đã gắn bó với công ty trên 20 năm)
Trang 14Với các dây chuyền sản xuất hiện đại của Ý, Nhật và các nước tiên tiến trên thế
giới Công suất hiện nay của 6 nhà máy công ty cổ phần Đồng Tâm đạt sản lượng 15
triệu m2 gạch ốp lát /năm, đáp ứng nhu cầu cho thị trường trong nước và xuất khẩu
Sản phẩm ngói với công nghệ hiện đại đã đưa công suất lên 15 triệu viên/năm (gồm hai
nhà máy); sơn nước 1,8 triệu lít/năm
Hệ thống phân phối:
Trải qua sự phát triển và phấn đấu không ngừng suốt 38 năm qua, Công ty cổ
phần Đồng Tâm hiện nay có một văn phòng giao dịch, 8 công ty thành viên trong đó có
05 nhà máy hoạt động sản xuất và 24 chi nhánh, văn phòng đại diện trên toàn quốc
Trong năm nay, Đồng Tâm tiếp tục xây dựng thêm hơn 10 chi nhánh tại các tỉnh thành
như Cà Mau, Tiền Giang, Quảng Ngãi, Huế, Nghệ An
Quá trình phát triển thể hiện cụ thể qua các năm:
25/6/1969
Thương hiệu Đồng Tâm được Ông Võ Thành Lân sáng lập tại
Phú Định Sài Gòn (nay là Quận 6, Tp HCM)
Sản phẩm đầu tiên là Gạch Bông truyền thống
1976
Cơ sở Đồng Tâm cùng với nhiều đơn vị sản xuất gạch bông
truyền thống khác sáp nhập lại thành hợp tác xã và lấy tên là Tổ
hợp Đồng Hiệp
1986
Ông Võ Quốc Thắng (sinh năm 1967) là con trai Ông Võ Thành
Lân đã tái lập cơ sở và phát triển thương hiệu Đồng Tâm
Phát triển và mở rộng sản xuất trong ngành vật liệu xây dựng và
trang trí nội thất
1993
Thành lập Công ty TNHH SX-XD-TM Đồng Tâm, trụ sở đặt tại
453A Tân Kiên – Huyện Bình Chánh – TP.HCM
Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm gạch bông truyền thống, ngói màu, ván ép formica, tôn kẽm và kinh doanh vật liệu xây dựng.
Chuyên sản xuất các sản phẩm như ngói màu, gạch men lát nền,
ốp tường, gạch Porcelain, được giới chuyên môn trong và ngoài nước đánh giá “là nhà máy sản xuất hiện đại nhất Đông Nam Á”.
2000
Thành lập Công ty TNHH Thể Thao Đồng Tâm và tiếp nhận đội bóng đá hạng nhì của tỉnh Long An và đổi tên thành đội Bóng Đá Gạch Đồng Tâm – Long An
2002, đội bóng vô địch và thăng hạng chuyên nghiệp
2005 đội Bóng Đá Gạch Đồng Tâm đã dành được Cúp đúp: Vô địch của Giải Bóng Đá Chuyên Nghiệp và Vô định Cúp Quốc Gia
Đặc biệt, được Liên Đoàn Bóng Đá Châu Á chọn vào chương trình tầm nhìn châu Á và được dùng làm mô hình bóng đá chuyên nghiệp của Việt Nam
2006 Đội Bóng Đá Gạch Đồng Tâm Long An đã bảo vệ thành công chức Vô địch V-League
Trang 152004
Thành lập Công ty Cổ Phần Đồng Tâm Miền Bắc, trụ sở đặt tại
88 Phan Đình Phùng – Cẩm Thượng – Hải Dương
Xây dựng khu liên hợp trên diện tích 45 ha bao gồm:
- Các nhà máy sản xuất gạch Ceramic, Porcelain, Ngói màu, Sơn,
Khởi công mở rộng nhà máy Đồng Tâm miền Trung
Đầu tư thêm dây chuyền sản xuất gạch Porcelain kích cỡ lớn
100cmx100cm Đây là sản phẩm đầu tiên có kích thước lớn nhất
ở Việt Nam, duy nhất do Công ty Đồng Tâm sản xuất đã được
vào Sách Kỷ Lục Việt Nam năm 2006
2006
Tháng 6/2006, Đồng Tâm mua lại 60% cổ phần và tham gia quản
lý, điều hành Công Ty Cổ Phần Sứ Thiên Thanh
Đầu tư dây chuyền sản xuất ngói màu theo công nghệ của Italia,
công nghệ sơn ướt
Ngày 01/9/2006 hợp nhất Công ty TNHH Thắng Lợi vào Công ty
Cổ phần Đồng Tâm và dời về trụ sở mới tại Số 07 Khu phố 06,
Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An
Triển khai đầu tư xây dựng Khu liên hợp sản xuất vật liệu xây
dựng – trang trí nội thất tại tỉnh Hải Dương
2007
Ký kết hợp tác với Công ty CP Vĩnh Cửu- chuyên sản xuất mặt
hàng đá trang trí
Hợp tác với Công ty TNHH Khải Vy để thành lập Công ty CP
Đồng Tâm – Khải Vy, lấy thương hiệu là DK
Khởi công xây dựng Khu công nghiệp Đồng Tâm – Bến Lức giai
đoạn 2
Đầu tư xây dựng Khu hành chánh đô thị mới Tân An- tỉnh Long
Đồng Tâm mở rộng hoạt động kinh doanh và đầu tư sang các lãnh vực như Ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm v v
2.1.2 Tình hình hoạt động của Công ty trong những năm gần đây
Từ một cơ sở sản xuất gạch bông lúc khởi nghiệp, ngày nay Đồng Tâm đang hoạt động mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực sản xuất, thương mại, đầu tư xây dựng, địa ốc
và thể thao Đã có 8 nhà máy đang hoạt động hết công suất và 4 dự án khác đang được gấp rút triển khai để kịp đi vào hoạt động trong năm 2009 này Riêng về sản phẩm gạch men, Đồng Tâm hiện đang dẫn đầu tại Việt Nam về sản lượng, 12 triệu mét vuông/ năm với 3 nhà máy được đầu tư công nghệ vào loại hiện đại nhất Châu Á, chiếm gần 30% thị phần trong tổng số gần 40 nhà sản xuất gạch men trên phạm vi toàn quốc Đến cuối năm 2009, một nhà máy nữa sẽ đi vào hoạt động, nâng tổng công suất thiết kế lên thành 18 triệu mét vuông/ năm, phân bố đồng đều trên cả 3 miền đất nước Các sản phẩm khác từ các dự án mới sẽ bao gồm sơn nước, thiết bị vệ sinh, ngói lợp bê-tông Tất cả đều có tiêu chuẩn chất lượng vượt trội, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại nhất của Italia
Một hệ thống các văn phòng chi nhánh, showroom, trung tâm tư vấn đã được thiết lập, cùng với một mạng lưới hơn 3000 cửa hàng cộng tác phân phối đã đưa sản phẩm Đồng Tâm đến tận tay người tiêu dùng tại hầu hết 64 tỉnh thành trên phạm vi cả nước Các chi nhánh và đại lý ở nước ngoài cũng được thiết lập giúp Đồng Tâm không ngừng mở rộng và lớn mạnh trên thị trường xuất khẩu
Trang 16năm, đóng góp ngân sách cũng tăng đều qua các năm Doanh thu năm 2008 đạt gần
1000 tỷ đồng, nộp ngân sách gần 50 tỷ đồng
Các dự án mới hiện đang được triển khai không chỉ là kết quả đánh giá tiềm
năng to lớn của thị trường, mà còn là thành quả tích lũy được tiếp tục đầu tư mở rộng
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
GĐ MARKETING P.TK QCÁO
P KD BĐS
GĐ TÀI CHÍNH P.TÀI CHÍNH KTQT P.KẾ TOÁN
P ĐT TÀI CHÍNH
TỔ HỔ TRỢ
CỔ ĐÔNG
P.HC
TỔ PHÁP CHẾ
GĐ NHÂN SỰ P.NSỰ
GĐ HC
GĐ R & D
Sơ đồ 2.1:SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỒNG TÂM
Trang 172.1.4.1 Tổ chức công tác kế toán
2.1.4.1.1 Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
- Công ty thực hiện chế độ chứng từ kế toán được ban hành theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006
- Do Công ty Đồng Tâm là Công ty lớn, qui mô hoạt động trải dài trên khắp đất
nước, có nhiều Công ty thành viên, phân xưởng và chi nhánh.Vì vậy, việc lập, luân
chuyển, xử lý, cũng như lưu trữ chứng từ sẽ đuợc thực hiện theo từng công ty thành
viên
2.1.4.1.2 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán
- Công ty thực hiện hệ thống tài khoản kế toán được ban hành theo Quyết định
số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 Đồng thời, để đáp ứng nhu cầu quản lý, thì bên
cạnh tài khoản cấp một, cấp hai theo qui định của nhà nước, công ty tổ chức thêm tài
khoản cấp ba chi tiết lên tới tám chữ số Vì vậy, một mã tài khoản chi tiết của Công ty
có dạng: XXX(X).XXXX
Theo đó:
Nhóm thứ nhất gồm ba (hoặc bốn) ký số dùng để chỉ số hiệu tài khoản cấp 1
(hoặc cấp 2) thuộc hệ thống tài khoản được ban hành theo quyết định 15
/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006
Nhóm thứ hai gồm bốn ký số dùng để xác định tài khoản chi tiết cấp ba, để công
ty cần theo dõi chi tiết và bao quát được hết tất cả những nghiệp vụ phát sinh tại thời
điểm hiện tại và sau này Vì vậy, Công ty đã thiết kế tài khoản chi tiết lên tới bốn chữ
số Vì vậy, tài khoản CPSX chung được xây dựng chi tiết cụ thể như sau:
Tài khoản cấp 1: chi phí sản xuất chung: TK 627
Tài khoản cấp 2: chi phí nhân viên phân xưởng : TK 6271
Tài khoản cấp 3: chi phí tiền lương nhân viên phân xưởng: TK 62710001
2.1.4.1.3 Tổ chức hệ thống sổ kế toán
chung Công ty đang sử dụng chương trình ERP do ORACLE của Mỹ và FPT triển khai năm 2007
2.1.4.1.4 Tổ chức hệ thống Báo cáo kế toán
Về báo cáo tài chính:
- Công ty thực hiện chế độ báo cáo tài chính được ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 bao gồm các mẫu biểu sau:
+ Bảng cân đối kế toán + Bảng kết quả hoạt động kinh doanh + Bảng lưu chuyển tiền tệ
+ Thuyết minh báo cáo tài chính
- Đồng thời để phục vụ cho nhu cầu của quản lý và kiểm soát của hội đồng cổ đông và ban giám đốc, công ty đã tổ chức thực hiện thêm các báo cáo sau:
+ Bảng báo cáo kế toán hợp nhất + Bảng kết quả kinh doanh hợp nhất + Bảng lưu chuyển tiền tệ hợp nhất
Báo cáo kế toán quản trị:
Công ty đã tổ chức thực hiện các báo cáo kế toán quản trị bao gồm:
- Báo cáo lãi lỗ theo khu vực
- Báo cáo lãi lỗ theo mặt hàng
- Báo cáo phân tích điểm hòa vốn
- Báo cáo dự toán ngân sách
- Báo cáo kế hoạch sản xuất
- Báo cáo giá thành
- Báo cáo phân tích báo cáo tài chính
Đối với báo cáo tài chính:
Trang 18báo cáo Công ty thực hiện theo đúng quy định của chế độ kế toán được ban hành
- Các công ty mẹ và các công ty thành viên có trách nhiệm lập các báo cáo trên:
+ Nếu báo cáo tài chính tháng thì 10 tây tháng sau, công ty thành viên báo
cáo sẽ gửi về Công ty mẹ; ngày 15 tây sẽ có báo cáo tài chính hợp nhất
+ Nếu báo cáo tài chính quí thì 12 tây tháng đầu tiên của quí sau, công ty
thành viên báo cáo sẽ gửi về Công ty mẹ; ngày 15 tây sẽ có báo cáo tài chính hợp nhất
+ Nếu báo cáo tài chính năm thì 30 tây tháng đầu tiên của năm tiếp theo,
công ty thành viên báo cáo sẽ gửi về Công ty mẹ; ngày 20 tây tháng thứ hai của năm
sau sẽ có báo cáo tài chính hợp nhất
Đối với báo cáo quản trị:
- Báo cáo lãi lỗ theo mặt hàng: Định kỳ một tháng một lần
- Báo cáo kế hoạch sản xuất: Định kỳ một tháng một lần
- Báo cáo giá thành: Định kỳ một tháng một lần
- Báo cáo lãi lỗ theo khu vực: Định kỳ ba tháng một lần
- Báo cáo phân tích điểm hòa vốn: Định kỳ một năm một lần
- Báo cáo dự toán ngân sách: Định kỳ một năm một lần
- Báo cáo phân tích báo cáo tài chính: Định kỳ một năm một lần
2.1.4.1.5 Chính sách kế toán tại Công ty
Niên độ kế toán tại Công ty: được bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào
ngày 31 tháng 12 theo năm dương lịch
Đơn vị tiền tệ sử dụng: là đồng Việt Nam
Phương pháp tính giá hàng tồn kho: Hàng tồn kho được xác định trên cơ sở
giá gốc Giá gốc hàng tồn kho gồm chi phí mua và các chi phí liên quan trực tiếp khác
phát sinh để có được hàng tồn kho ở hiện tại
Giá gốc hàng tồn kho được tính theo phương pháp bình quân gia quyền Kế toán
tổng hợp hàng tồn kho được thực hiện theo phương pháp kê khai thường xuyên
thuần có thể thực hiện được Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trừ chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng
Phương pháp hạch toán ngoại tệ: tất cả các đồng ngoại tệ đều qui đổi theo ra
Việt nam đồng theo tỷ giá thực tế tại thời điểm qui đổi Cuối năm đánh giá lại số dư các tài khoản có gốc ngoại tệ theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng do ngân hàng nhà nước Việt nam công bố tại thời điểm đánh giá
Phương pháp khấu hao TSCĐ: tất cả các tài sản tại Công ty đều khấu hao
theo phương pháp đường thẳng
2.1.4.2 Tổ chức bộ máy kế toán 2.1.4.2.1 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
Do Công ty Đồng Tâm là một Công ty lớn, bao gồm Công ty mẹ và có nhiều Công ty con, nhiều chi nhánh và nhiều phân xưởng, rải rác khắp địa bàn đất nước Để quản lý, bao quát được tình hình tài chính, kinh tế của Công ty, công ty đã xem Công
ty mẹ, và mỗi Công ty con đều là các đơn vị kế toán độc lập Vì vậy, hình thức tổ chức
bộ máy kế toán đứng trên góc độ tổng công ty là hình thức tổ chức phân tán Căn cứ vào sự phân cấp hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý từ tổng công ty mà các đơn
vị trực thuộc ( gồm công ty thành viên và công ty mẹ ) đều phải tổ chức thực hiện công tác kế toán ( từ việc lập chứng từ ban đầu đến việc lập báo cáo kế toán theo qui định ) Phòng kế toán ở tổng công ty thực hiện công tác kế toán tổng hợp chung cho toàn đơn vị trực tiếp hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thuộc tổng công ty, kiểm tra các báo cáo từ các công ty thành viên gởi về và hợp nhất các báo cáo theo quy định của Nhà nước cũng như yêu cầu quản lý
Trang 192.1.4.2.2 Cơ cấu nhân sự bộ máy kế toán
Phòng kế toán ở Công ty thành viên và Tổng Công ty đều có các bộ phận kế
toán như sau:
- Nếu là Công ty thành viên thì kế toán trưởng kiêm trưởng phòng kế toán là cao
nhất, là người tham mưu những vấn đề liên quan về tài chính kế toán, dưới là
Kế toán tổng hợp kiêm phó phòng kế toán và các kế toán viên với chức năng và
nhiệm vụ của mỗi người là khác nhau
- Nếu là Tổng Công ty thì trên hết là Giám đốc tài chính dưới là kế toán trưởng,
tổ chức và điều hành Tổng công ty và điều hành các Công ty thành viên thông
qua các kế toán trưởng ở Công ty thành viên
Vì vậy, cơ cấu nhân sự bộ máy kế toán gồm: Giám đốc tài chính, Kế toán
trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán giá thành, kế toán chi nhánh và các kế toán viên theo
(Kiêm trưởng phòng kế toán)
Kế toán thuế
Kế toán phải trả
Kế toán NVL
Kế toán nợ phải thu
Kế toán
NH
Kế toán Tiền mặt Thủ Quỹ
Kế toán chi nhánh
Trưởng phòng
Kế toán tài chính (Cty mẹ)
Trưởng phòng
Kế toán quản trị (Cty mẹ)
Các bộ phận kế toán tương tự như
kế toán Công ty thành viên
Trang 202.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG
TY CP ĐỒNG TÂM
2.2.1 Nội dung công việc KTQT đã thực hiện:
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của KTQT, trong những năm gần đây bên cạnh tổ
chức kế toán tài chính theo qui định của Nhà nước, Công ty còn tổ chức thực hiện một
số phần hành về KTQT, để phục vụ cho công tác quản lý nội bộ của Công ty, đây là
công việc quan trọng để các nhà quản trị thực hiện tốt chức năng quản lý của mình
trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định về hoạt động
kinh doanh của Doanh nghiệp Sự cần thiết trong quản lý là làm sao thông tin đến ngay
và kịp thời để nhà quản trị ra quyết định phù hợp với các mục tiêu đặt ra Chính vì thế
mà Công ty đã tổ chức thực hiện các phần hành của KTQT như sau:
2.2.1.1 Hệ thống dự toán ngân sách:
- Nhằm phục vụ cho chức năng hoạch định và kiểm soát của nhà quản trị đối
với Doanh nghiệp, Công ty đã thực hiện dự toán ngân sách thông qua sơ đồ cụ thể như
Dự toán chi phí Sản xuất chung
Dự toán tiêu thụ
Dự toán chi phí QLDN
Dự toán chi phí Bán hàng
Dự toán chi phí NVL TT
Dự toán kết quả HĐKD hợp nhất
Dự toán cân đối
kế toán hợp nhất
Sơ đồ 2.3:HỆ THỐNG DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
DOANH NGHIỆP
Mức doanh thu dự toán
Sản lượng tiêu thụ dự toán x
=
Đơn giá bán
dự kiến
Trang 21+ Chỉ tiêu của Ban Giám đốc
+ Năng lực sản xuất của các Nhà máy
+ Sản lượng tiêu thụ thực tế trong quá khứ
Từ những căn cứ này, sẽ đưa ra kế hoạch doanh thu, sản lượng (theo mã hàng)
tháng, quý, năm; và kế hoạch đặt hàng theo mã số (loại bỏ các mã số đã ngưng sản xuất
và bỏ mẫu)
Phụ lục 01 : Kế hoạch sản lượng tiêu thụ năm 2009
Căn cứ vào các chỉ tiêu trong phần dự toán tiêu thụ từng mặt hàng cụ thể để lập
kế hoạch tiêu thụ hàng năm Sau đó căn cứ vào giá bán để đưa ra dự toán tiêu thụ cho
Công ty theo từng quí và cho cả năm
Bảng 2.1: Dự toán tiêu thụ
Công ty cổ phần Đồng Tâm
Dự toán tiêu thụ năm …
(Đơn vị tính :1.000 đ) Quý
Khi lập dự toán tiêu thụ xong, Doanh nghiệp cũng tiến hành dự kiến kế hoạch
thu tiền ( dòng thu từ sản lượng tiêu thụ )
Dự kiến kiến kế hoạch thu tiền này sẽ thông qua:
+ Kế hoạch sản lượng tiêu thụ tháng, quý, năm
+ Hạn mức công nợ theo quy định
Từ những căn cứ này sẽ đưa ra kế hoạch thu tiền
Dự toán sản xuất:
Căn cứ trên cơ sở dự toán tiêu thụ, công ty sẽ lập dự toán sản xuất, khi lập dự
toán sản xuất sẽ căn cứ vào :
- Kế hoạch sản lượng ( theo mã hàng ) tháng, quý, năm
- Kế hoạch đặt hàng theo mã số
- Định mức thành phẩm tồn kho an toàn
- Năng lực sản xuất của các Nhà máy
- Thực xuất bán của kinh doanh theo mã hàng, chủng loại sản phẩm
Từ những căn cứ này sẽ đưa ra :
- Kế hoạch sản xuất
- Phản hồi khách hàng đặt hàng kinh doanh
- Theo dõi tình hình cung ứng ( đặt hàng – sản xuất – nhận hàng – thực xuất bán của kinh doanh )
- Báo cáo sản xuất mẫu mới
Trên cơ sở kế hoạch tiêu thụ và các chỉ tiêu liên quan đến phần dự toán sản xuất nêu trên đưa ra chỉ tiêu sản xuất năm
Phụ lục 02: Kế hoạch sản xuất
Dự toán mua nguyên vật liệu :
Để dự toán Nguyên vật liệu Công ty dựa vào:
- Kế hoạch sản xuất
- Định mức nguyên nhiên vật liệu
- Định mức tồn kho nguyên nhiên vật liệu tối thiểu
- Báo cáo tồn kho thực tế + tồn kho kế hoạch
- Đơn giá nguyên nhiên vật liệu ( giá nhập đến kho do kế toán cung cấp )
Trang 22Từ những căn cứ này, bộ phận dự toán của Công ty sẽ đưa ra :
- Kế hoạch thanh toán công nợ mua nguyên nhiên vật liệu
- Kế hoạch chi phí nguyên nhiên vật liệu cần mua
Đồng thời với dự toán mua nguyên vật liệu, căn cứ và phương thức thanh toán,
hợp đồng mua hàng, đơn mua hàng, bộ phận dự toán sẽ đưa ra kế hoạch thanh
toán chi phí Nguyên vật liệu (lập dự toán chi trả tiền cho nhà cung cấp)
Dự toán chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp:
Để dự toán chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp Công ty cũng dựa vào:
- Kế hoạch sản xuất
- Định mức chi phí nguyên nhiên vật liệu trực tiếp
Cụ thể công thức tính như sau:
Từ những căn cứ này, bộ phận dự toán của Công ty sẽ đưa ra :
- Dự toán chi phí nguyên nhiên vật liệu Trực tiếp
Dự toán nguyên
vật liệu TT
trong kỳ
Dự toán nhu cầu nguyên vật liệu TT cho sản xuất
Dự toán nhu cầu nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ
Dự toán nhu cầu nguyên vật liệu tồn kho đầu kỳ
Số tiền chi ra để thanh toán nợ kỳ này cho nhà cung cấp +
Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
X
=
Để dự toán chi phí nhân công trực tiếp Công ty dựa vào:
- Tổng chi phí nhân công theo định biên và dự kiến kế hoạch sản xuất (lương và bảo hiểm)
- Định biên nhân sự
- Dự báo tăng ca
Từ những căn cứ này, bộ phận dự toán của Công ty sẽ đưa ra :
- Báo cáo chi tiết tiền lương của Bộ phận Sản xuất
Dự toán chi phí sản xuất chung
Để dự toán chi phí sản xuất chung Công ty dựa vào:
- Bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung
- Danh mục tài sản cố định các Công ty thành viên
- Định biên nhân sự của Khối sản xuất chung
Từ những căn cứ này, bộ phận dự toán của Công ty sẽ đưa ra :
- Dự toán chi phí sản xuất chung
Dự toán chi phí bán hàng – chi phí quản lý doanh nghiệp:
Để dự toán chi phí nhân công trực tiếp Công ty dựa vào:
- Số lượng sản phẩm tiêu thụ
- Biến phí bán hàng cho mỗi sản phẩm
- Lương (định biên nhân sự khối gián tiếp)
- Khấu hao, quảng cáo
- Chi phí khác bằng tiền
- Kế hoạch chi phí kinh doanh phân bổ cho các chi nhánh
Từ những căn cứ này, bộ phận dự toán của Công ty sẽ đưa ra :
- Dự toán chi phí bán hàng
- Dự toán chi phí quản lý Doanh nghiệp
- Kế hoạch giá thành toàn bộ
Trang 23Để dự toán thu-chi Công ty dựa vào:
- Dự toán thu tiền của Khối kinh doanh
- Dự toán chi tiền mua nguyên nhiên vật liệu
- Dự toán chi trả chi phí sản xuất chung
- Dự toán chi trả chi phí bảo hiểm, quản lý
Từ những căn cứ này, bộ phận dự toán của Công ty sẽ đưa ra :
- Dự toán cân đối thu – chi
- Kế hoạch vay tiền
- Kế hoạch trả nợ
Dự toán kết quả kinh doanh trong kỳ:
Để dự toán kết quả kinh doanh trong kỳ Công ty dựa vào:
- Doanh thu Khối kinh doanh
- Giá thành sản phẩm
- Chi phí bán hàng – chi phí quản lý
Từ những căn cứ này, bộ phận dự toán của Công ty sẽ đưa ra :
- Dự toán kết quả kinh doanh trong kỳ
Bên cạnh việc thể hiện kết quả kinh doanh hàng năm trên các BCTC theo qui
định của Nhà nước, hàng năm bộ phận KTQT còn thực hiện Báo cáo tình hình thực
hiện kế hoạch hàng năm, để so sánh tình hình thực hiện thực tế so với kế hoạch có thực
hiện hoàn thành hay không, thông qua Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch kinh
doanh năm 2009
(Phụ lục 03 : Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2009)
2.2.1.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử với mức độ hoạt động
Dựa trên nguyên lý chung và tùy theo sự biến đổi của chi phí trước sự thay đổi
của khối lượng hoạt động, thì tại Công ty chi phí cũng được chia thành hai loại: biến
phí và định phí Khối lượng hoạt động của Công ty được hiểu gồm những chỉ tiêu:
Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo cách ứng xử của chi phí với mức độ hoạt động được thể hiện cụ thể thông qua bảng Hệ thống Tài khoản chi phí của Công ty Đồng Tâm
(Phụ lục 04 : Bảng hệ thống tài khoản kế toán tại Công ty)
2.2.1.3 Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận (C-V-P) :
Kỹ thuật phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng – lợi nhuận là việc phân tích mối quan hệ nội tại để tìm ra một sự kết hợp có hiệu quả nhất giữa các nhân tố : giá bán sản phẩm, khối lượng hoạt động, biến phí của một đơn vị sản phẩm, định phí hoạt động và kết cấu chi phí cũng như kết cấu sản lượng tiêu thụ, nhằm tìm ra khả năng tạo ra lợi nhuận cao nhất cho Doanh nghiệp Ứng dụng đầu tiên của Kỹ thuật phân tích C-V-P tại Công ty là phân tích điểm hoà vốn
Công ty thực hiện kỹ thuật này thường là một năm một lần, và trình tự thực hiện như sau: thông qua bảng Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009, và lập bảng biến phí, định phí năm 2009, Công ty đưa ra bảng kết quả kinh doanh năm 2009 dạng số dư đảm phí và cuối cùng tính ra sản lượng hòa vốn năm 2009
Trang 24NĂM 2009 ĐVT :VNĐ
Năm 2009 CHỈ TIÊU
Trên D.thu
3 DT thuần về bán hàng và CC DV 120.225.293.470 100,0%
5 LN gộp về bán hàng và CC DV 31.133.375.421 25,90%
6 Doanh thu hoạt động tài chính 1.396.549.335 1,16%
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 6.337.358.731 5,27%
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD 10.377.564.817 8,63%
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 12.765.340.265 10,62%
18 CP thuế TNDN hiện hành (25%) 3.613.251.250 3,01%
6211 Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp 66,894,107,282
622 Chi phí nhân cơng trực tiếp 7,701,831,061
6271 Chi phí nhân viên phân xưởng 4,197,212,445
6411 Chi phí nhân viên bán hàng 7,727,849,533
6421 Chi phí nhân viên quản lý 2,835,764,974