1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN - HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH tế xã hội và sự lựa CHỌN CON ĐƯỜNG đi lên CNXH ở nước TA HIỆN NAY

31 599 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 289 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy vậy, cho đến nay đất nước ta vẫn đang đứng trước những thách thức và nguy cơ không thể xem thường.Việc nhận thức đúng, bảo vệ và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác Lênin về hình thái kinh tế xã hội hiện nay đang trở thành nhiệm vụ chính trị cấp bách trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận tư tưởng để làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Trang 1

HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ LỰA CHỌN

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

Việt Nam sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy vậy, cho đến nay đất nước ta vẫn đang đứng trước những thách thức và nguy

cơ không thể xem thường Chính vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng để nắm vững, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển di sản lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ và khả năng lên chủ nghĩa

xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, mà cơ sở của nó là Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C Mác Đó là học thuyết khoa học và cách mạng trong phân tích về lịch sử và nhận thức xã hội

Hơn lúc nào hết, việc nhận thức đúng, bảo vệ và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã hội hiện nay đang trở thành nhiệm vụ chính trị cấp bách trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận tư tưởng đang diễn

ra rất gay go phức tạp giữa chủ nghĩa Mác - Lê nin với chủ nghĩa cơ hội các loại Đặc biệt, từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội cùng một số học giả tư sản thường xuyên vu cáo, xuyên tạc và bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê nin Trong đó Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội

là một trọng điểm lý luận thường bị công kích, phê phán từ nhiều phía Hầu hết những luận điểm phê phán này đều có chủ định nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin Chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin trong đó có học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã lỗi thời, lạc hậu, cần phải được thay thế

Trang 2

Ngoài ra, có quan điểm lại muốn giải thích Học thuyết hình thái kinh tế -

xã hội theo kiểu máy móc, vụ lợi để chứng minh rằng không nhất thiết phải làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà cứ để xã hội đi vào con đường tư bản chủ nghĩa như “quá trình lịch sử tự nhiên” theo quan điểm của Mác và sẽ tự động chuyển sang xã hội - xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, thực tiễn của chặng đường sôi động và phức tạp trong những năm vừa qua đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được làm sáng tỏ về mặt lý luận

Mặc dù thắng lợi của sự nghiệp đổi mới là rất to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Song có quan điểm vẫn cho rằng, con đường xã hội chủ nghĩa mà nước ta đã lựa chọn là “trái với quá trình lịch sử tự nhiên”, nó không

có khả năng thực hiện, nhất là trong điều kiện hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới

đã không còn tồn tại Ngoài ra, trong điều kiện nền kinh tế mở với sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, sự triển khai chiến lược “Diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc luôn đặt ra nguy cơ đi chệch khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cần nhận thức sâu sắc học thuyết của C Mác về hình thái kinh tế - xã hội để tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước

ta và củng cố cơ sở khoa học để tin rằng con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội

bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là tất yếu và có khả năng, đó là con đường duy nhất đúng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử

1 Một số vấn đề về học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa mác - lênin

1.1 Sự khác nhau về bản chất giữa phương pháp tiếp cận lịch sử của chủ nghĩa mác - lê nin với các phương pháp tiếp cận khác.

Học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội ra đời là một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội Mác đã nhìn thấy động lực

Trang 3

của lịch sử không phải do một tinh thần thần bí nào, mà do hoạt động thực tiễn của con người dưới tác dộng của các quy luật khách quan.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử tiếp cận xã hội bằng học thuyết hình thái kinh

tế xã hội, đây là phương pháp khoa học và hoàn bị nhất, là một cuộc cách mạng trong nghiên cứu sự phát sinh, phát triển của xã hội loài người

C Mác đã nghiên cứu xã hội từ nền sản xuất vật chất, đi từ nghiên cứu

tự nhiên, đem đối lập xã hội với tự nhiên để tìm ra những quy luật tự nhiên, từ đó rút ra quy luật xã hội Chủ nghĩa Mác - Lê nin đã khẳng định quy luật tự nhiên

và quy luật xã hội đều có thuộc tính chung là tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, mặc dù quy luật xã hội vận động thông qua hoạt động của nhân tố chủ quan là con người nhưng nó vẫn mang nội dung khách quan Mác đã tiếp cận lịch sử xã hội đi từ vật chất, đời sống vật chất đến tinh thần và đời sống tinh thần của xã hội

C Mác cho rằng xã hội là một chỉnh thể có hệ thống và cấu trúc, trong mỗi giai đoạn nhất định đều có các yếu tố cơ bản và phổ biến: lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất; cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng tương ứng trên cơ

sở hạ tầng Trong đó lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất của xã hội, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các thời đại kinh tế, là yếu tố xét đến cùng quy định sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội Quan hệ sản xuất là quan hệ khách quan cơ bản hình thành trong quá trình sản xuất, là quan hệ quyết định chi phối mọi quan hệ xã hội, là tiêu chuẩn để phân biệt bản chất các xã hội khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử

Kiến trúc thượng tầng thể hiện bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội, do

cơ sở hạ tầng quyết định, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối tác động trở lại cơ sở hạ tầng Sự tác động lẫn nhau của các yếu tố trong hình thái kinh tế- xã hội, hình thành hai quy luật cơ bản, đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với

Trang 4

tớnh chất, trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất và quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trỳc thượng tầng Sự tỏc động tổng hợp của hai quy luật ấy là động lực thỳc đẩy xó hội phỏt triển mà suy đến cựng do yếu tố lực lượng sản xuất quyết định.

Học huyết Mỏc - Lờnin về hỡnh thỏi kinh tế xó hội nhấn mạnh vai trũ quyết định, xột đến cựng của yếu tố kinh tế, song khụng bao giờ coi kinh tế là yếu tố quyết định duy nhất trong lịch sử: Ph.Ăngghen viết: “theo quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyết định trong lịch sử, xét đến cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Cả Mỏc lẫn tụi chưa bao giờ khẳng định gỡ hơn thế Do đú nếu ai xuyờn tạc cõu đú khiến cho nú cú nghĩa là nhõn tố kinh tế quyết định duy nhất thỡ như vậy họ đó biến cõu đú thành một cõu trống rỗng, trừu tượng, vụ nghĩa, tỡnh hỡnh kinh tế là cơ sở, như mọi yếu tố khỏc của kiến trỳc thượng tầng cũng đều ảnh hưởng đến quỏ trỡnh của những cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp, lại chiếm ưu thế trong việc quyết định hỡnh thức của những cuộc đấu tranh đú”1

Khi nghiờn cứu quan hệ sản xuất trong mối quan hệ biện chứng với lực lượng sản xuất, Mỏc tập trung luận giải toàn diện cả ba mối quan hệ: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phõn phối; trong đú quan hệ sở hữu về

tư liệu sản xuất là quan hệ quyết định chi phối cỏc quan hệ khỏc Từ đõy, Mỏc tỡm ra mõu thuẫn kinh tế đú là sự đối lập giữa sở hữu và sử dụng dẫn đến mõu thuẫn về mặt xó hội trong xó hội tư bản, đú là kẻ sở hữu tư liệu sản xuất (giai cấp

tư sản) thỡ khụng sử dụng tư liệu sản xuất, mà người sử dụng tư liệu sản xuất (giai cấp vụ sản) thỡ lại khụng sở hữu Trong đú, người nào sở hữu tư liệu sản xuất dẫn đến vị trớ làm chủ, cũn người nào sử dụng tư liệu sản xuất tất yếu rơi vào vị trớ làm thuờ và từ đõy biểu hiện ra mõu thuẫn giữa người chủ và người làm thuờ, trong xó hội tư bản đú là mõu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vụ sản

1 C.Mác, Ph Ăngghen Tuyển tập Tập 6 NXB ST Hà Nội 1984 Tr 726.

Trang 5

Có thể nói đây là cách luận giải rất khoa học đi từ tất yếu của các quan hệ kinh tế

xã hội, từ mâu thuẫn kinh tế đến mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp, đấu tranh giai cấp và tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản Mác coi đây là động lực trực tiếp chủ yếu của sự phát triển xã hội loài người chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn

C Mác không dừng lại khi tiếp cận lịch sử ở đời sống vật chất của xã hội

mà còn nghiên cứu đời sống tinh thần và chính trị từ một lĩnh vực mà Mác gọi là kiến trúc thượng tầng Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: toàn bộ những quan điểm chính trị pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật Cùng với những thiết chế xã hội tương ứng của chúng như là: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội là cái được hình thành, được xây dựng trên nền tảng của những cơ sở hạ tầng nhất định, hợp thành kiến trúc thượng tầng của

xã hội Bởi lẽ, theo Ăngghen: vai trò của các yếu tố trong kiến trúc thượng tầng rất quan trọng, “Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật là dựa trên sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cũng tác động đến cơ sở kinh tế”1

C Mác nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể có cấu trúc, là một hình thái kinh tế - xã hội, cái cơ sở để cắt nghĩa lịch sử Cho nên xã hội có đời sống vật chất tất yếu sẽ có đời sống tinh thần của con người Theo Mác: “Xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”2 Ăngghen cũng khẳng định: “Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu sản xuất kinh tế

và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành

cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mời cắt nghĩa được lịch sử đó”3 Mác và Ăngghen đã chỉ rõ từ những sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa những quan hệ

1 C.M¸c, Ph ¡ngghen TuyÓn tËp TËp 4 NXBST Hµ Néi 1984 Tr 788.

2 C.M¸c, Ph ¡ngghen Toµn tËp NXB CTQG Hµ Néi 1996 T 27 trang 657.

3 C.M¸c, Ph ¡ngghen Toµn tËp NXB CTQG Hµ Néi 1996 TËp 27 Tr 657.

Trang 6

kinh tế của xã hội tất yếu sẽ nảy sinh những quan hệ chính trị tinh thần, từ quan

hệ trong đời sống kinh tế có quan hệ với tinh thần, trong xã hội có giai cấp và nhà nước sẽ có quan hệ chính trị Cho nên, khi nghiên cứu xã hội tất yếu phải nghiên cứu vấn đề chính trị

Ở mỗi chế độ xã hội có trình độ và cơ sở kinh tế nhất định sẽ được xây dựng trên đó một kiến trúc thượng tầng tương ứng, giai cấp thống trị xã hội sẽ gắn cho xã hội hệ tư tưởng của mình và tính chất giai cấp được thể hiện rất rõ ở

sự đối lập về quan điểm tư tưởng và cuộc đấu tranh về chính trị tư tưởng của giai cấp đối kháng Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị xã hội về kinh tế thì nó cũng chiếm luôn vị trí thống trị trong kiến trúc thượng tầng xã hội

Trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng với tính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội không chỉ sản sinh ra kiến trúc thượng tầng tương ứng, quy định tính chất mà còn kéo theo sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng khi nó thay đổi Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng không chỉ thực hiện trong giai đoạn chuyển tiếp có tính chất cách mạng từ xã hội này sang xã hội khác, mà còn được thực hiện ngay trong bản thân mỗi một hình thái kinh tế - xã hội Mác nhận định: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ các kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng”1 Theo Mác sự biến đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến

sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng là cả một quá trình diễn ra hết sức phức tạp Nguyên nhân của quá trình đó xét cho cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên sự phát triển của lực lượng sản xuất chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi của cơ sở hạ tầng, còn sự biến đổi của cơ sở hạ tầng, đến lượt nó mới làm cho kiến trúc thượng tầng biến đổi một cách căn bản

Chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn nhấn mạnh tính độc lập tương đối của kiến trúc thượng tầng, vì kiến trúc thượng tầng có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ

1 C.M¸c, Ph ¡ngghen Toµn tËp NXB CTQG Hµ Néi 1993 TËp 13 Tr 15.

Trang 7

tầng Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng không trực tiếp và không đơn giản, cũng không phải là sản phẩm thụ động của cơ sở hạ tầng, mà chúng có khă năng tác động đến cơ sở hạ tầng một cách mạnh mẽ Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng cũng có tính độc lập tương đối, các bộ phận này cùng tác động đến cơ sở hạ tầng, trong đó vai trò của nhà nước, đảng phái, hệ tư tưởng

có vai trò đặc biệt quan trọng Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đến cơ

sở hạ tầng theo hai chiều hướng: nếu tác động cùng chiều với qui luật phát triển kinh tế - xã hội, nó sẽ làm cho cơ sở hạ tầng vận động phát triển theo quy luật khách quan; Ngược lại, nếu nó tác động ngược chiều với những quy luật khách quan, nó sẽ là trở lực, gây tác hại cho sự phát triển của xã hội

Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thông qua chức năng xã hội cơ bản của nó là xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng hiện tồn, chống lại những lực lượng cản trở, nguy cơ phá hoại sự tồn tại của chế độ kinh tế - xã hội đang tồn tại Trong đó nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng chi phối, thậm chí trong những trường hợp nhất định nó quyết định khả năng tác động của các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng đến toàn bộ đời sống xã hội nói chung và cơ sở hạ tầng nói riêng Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng không tuyệt đối hoá vai trò của kiến trúc thượng tầng, của các yếu

tố chính trị đến sự phát triển của xã hội mà trong mối quan hệ tác động qua lại đó suy cho cùng vẫn là nhân tố kinh tế đóng vai trò quyết định

Như vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã luận giải quy luật vận động đời sống chính trị của xã hội trên cơ sở đời sống kinh tế, tạo thành điều kiện đủ khi nghiên cứu, tiếp cận lịch sử xã hội Đây là một phương pháp tiếp cận khoa học dựa trên tư duy biện chứng trong luận giải các vấn đề về xã hội Phương pháp tiếp cận lịch sử bằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội giúp Mác nhìn thấy động lực của lịch sử là do hoạt động thực tiễn của con người dưới tác động của các quy luật khách quan chứ không phải một thứ tinh thần thần bí nào Xuất phát

Trang 8

từ “Cái sự thật hiển nhiên là trước hết con người cần phải ăn uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học ”1 Chừng nào cái sự thật hiển nhiên đó vẫn tồn tại thì chừng đó quan niệm duy vật về lịch sử vẫn không thể bác bỏ được.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là quan niệm duy vật biện chứng được cụ thể hoá trong việc xem xét đời sống xã hội, trước hết học thuyết này gắn

bó hữu cơ với việc mở rộng các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào sự nhận thức các hiện tượng xã hội Chính việc mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nhận thức lĩnh vực lịch sử xã hội đã cho phép vạch ra sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên, sự thống nhất của toàn bộ thế giới vật chất

Trong tất cả mọi quan hệ xã hội Mác đã làm nổi bật những quan hệ xã hội vật chất, tức là những quan hệ sản xuất, những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác Bằng cách này, chủ nghĩa duy vật lich sử cung cấp cho khoa học xã hội một tiêu chuẩn hoàn toàn khách quan để thấy được các quy luật xã hội Do đó, “có thể đem những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy nhất là hình thái xã hội Chỉ

có sự khái quát đó mới cho phép chuyển từ việc mô tả (và từ việc đánh giá theo quan điểm lý tưởng) những hiện tượng xã hội sang việc phân tích hiện tượng đó một cách hết sức khoa học”2

Việc xem xét lịch sử loài người theo đúng quan diểm duy vật đã giúp Mác tìm ra những nét chung, cơ bản lặp đi lặp lại trong các chế độ xã hội của các nước khác nhau Mác đã chỉ ra rằng: xã hội loài người phải sản xuất để tồn tại và phương thức sản xuất xuất ra của cải vật chất là cái quyết định các quan hệ chính trị và pháp lý hiện hành trong một xã hội nhất định, cũng như quyết định các trào

1 C.M¸c, Ph ¡ngghen Toµn tËp NXB CTQG Hµ Néi 1993 TËp 19 Tr 166.

2 V.I Lªnin Toµn tËp NXB TiÕn bé M¸txc¬ va 1983 TËp 1 Tr 163.

Trang 9

lưu tư tưởng khác nhau của xã hội, tư tưởng học thuyết giá trị tinh thần đóng một vai trò tích cực trong đời sống xã hội, nhưng xét đến cùng thì nhân tố khách quan quyết định trong lịch sử vẫn là yếu tố kinh tế.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã khắc phục được quan niệm trừu tượng về xã hội Nó bác bỏ cách miêu tả một xã hội chung chung, phi lịch sử, không thay đổi về chất Do việc hình thành học thuyết hình thái kinh tế - xã hội mà quan điểm phi lịch sử về xã hội đã phải nhường chỗ cho quan điểm lịch sử cụ thể

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở phương pháp luận của sự phân tích khoa học về xã hội, là hòn đá tảng của khoa học xã hội, và do đó là một trong những nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin nói chung và triết học Mác - Lê nin nói riêng

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội lần đầu tiên cung cấp cho chúng ta những tiêu chuẩn thực sự duy vật về phân kỳ, và cho phép đi sâu vào bản chất của quá trình lịch sử, hiểu được lô gích khách quan của quá trình đó Học thuyết giúp cho việc hiểu được sự vận động của xã hội theo các quy luật khách quan, vạch ra sự thống nhất trong cái muôn màu, muôn vẻ của các sự kiện lịch sử ở các nước khác nhau trong các thời kỳ khác nhau Chính vì thế mà nó đem lại cho khoa học xã hội sợi dây dẫn đường để phát hiện ra những mối liên hệ nhân quả

để giải thích chứ không chỉ mô tả các sự kiện lịch sử Nó là cơ sở khoa học để tiếp cận đúng khi giải quyết những vấn đề cơ bản của các ngành khoa học xã hội rất đa dạng Bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, từ hiện tượng kinh tế đến hiện tượng tinh thần, đều chỉ có thể hiểu đúng khi gắn nó với một hình thái kinh tế -

xã hội nhất định

Với các quan niệm của Mác đã đánh đổ hẳn quan niệm cho rằng xã hội

là một tổ hợp có tính chất máy móc, có thể tuỳ tiện biến đổi theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hoá một cách ngẫu nhiên

Trang 10

Ngày nay, thực tiễn lịch sử có nhiều phát triển mới nhưng những cơ sở khoa học mà quan niệm duy vật về lịch sử đã đem đến cho khoa học xã hội thì vẫn nguyên giá trị Giá trị không thể bác bỏ của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chẳng những ở tính khoa học mà còn ở tính cách mạng khi phân tích quy luật vận động của một hình thái nhất định, học thuyết này chỉ ra những mâu thuẫn bên trong và chính sự vận động của mâu thuẫn này cuối cùng dẫn đến sự chuyển hoá từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác.

Giá trị khoa học của việc nghiên cứu lịch sử chính là ở chỗ nó giải thích

rõ những quy luật đặc thù chi phối sự phát sinh, tồn tại, phát triển và diệt vong của một cơ cấu xã hội nhất định và sự thay thế nó bằng một cơ cấu xã hội khác cao hơn Vì vậy, trong quan niệm duy vật về lịch sử, tính khoa học và tính cách mạng là thống nhất

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự thoái trào của chế độ xã hội chủ nghĩa

ở nhiều nước, và đặc biệt trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, khuynh hướng tuyệt đối hoá cách tiếp cận theo nền văn minh tăng lên nhằm hạ thấp, thậm chí loại bỏ cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội Họ cho rằng lý luận về hình thái đang mất đi cả ý nghĩa nhận thức luận lẫn cơ sở bản thể luận Vì thế nó không thể áp dụng vào bức tranh thế giới hiện đại Đây là một quan điểm không có cơ sở khoa học, bởi vì:

Họ cho rằng, cách tiếp cận theo nền văn minh đứng ở đỉnh cao hơn cách tiếp cận hình thái, vì nó xuất phát từ nền văn minh hậu công nghiệp, trong khi cách tiếp cận hình thái chỉ dựa trên nền văn minh công nghiệp

Nhận định này không đúng, vì bản thân phương pháp tiếp cận hình thái của Mác không hề giới hạn mình trong phạm vi một nền văn minh nhất định và

nó luôn đánh giá cao vai trò cách mạng của lực lượng sản xuất và công nghệ, tức

là vai trò của những trình độ văn minh vật chất

Trang 11

Họ cho rằng, cách tiếp cận hình thái để nhấn mạnh yếu tố kinh tế Trong khi đó cách tiếp cận theo nền văn minh coi mọi yếu tố đều có tác động lớn đến

sự phát triển xã hội Lập luận này là sự xuyên tạc trắng trợn, bởi những lý do sau: một là, cách tiếp cận hình thái không bao giờ chỉ coi kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định Trái lại, nó thừa nhận mọi yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng đều có tác động qua lại lẫn nhau và tất cả đều ảnh hưởng đến quá trình phát triển Hai là, dù các yếu tố chính trị, tư tưởng, văn hoá có ảnh hưởng to lớn đến đâu chăng nữa thì những quan hệ kinh tế xét đến cùng vẫn là quan hệ quyết định

Thật ra, cách tiếp cận theo nền văn minh đã phạm sai lầm căn bản là chỉ coi trình độ phát triển của khoa học công nghệ là yếu tố quyết định nhất, bỏ qua vai trò các quan hệ kinh tế, giai cấp, chế độ chính trị Họ cho rằng, cách tiếp cận hình thái xem xét thế giới theo cách nhìn “lưỡng phân” chỉ dẫn đến những xung đột đối kháng Cách tiếp cận theo nền văn minh tránh được sai lầm đó, vì nó lấy

sự thống nhất, hoà hợp làm nguyên lý cơ bản Lập luận này sai, bởi lẽ thế giới hiện nay có lưỡng phân hay không, có xung đột đối kháng hay không, đó là thực

tế lịch sử, đâu phải do cách xem xét tạo ra Hiện nay, trên thế giới số nước tiên tiến và phát triển rất ít, còn lại là đa số những nước chậm phát triển thuộc thế giới thứ ba và có nhiều nước rất nghèo khổ Trong từng nước phát triển và đang phát triển cũng có sự phân cực rất sâu sắc Giải quyết vấn đề này không thể chỉ bằng tiến bộ khoa học kỹ thuật, điểm mấu chốt là quan hệ kinh tế, vấn đề chế độ

xã hội nào, tức là vấn đề hình thái kinh tế - xã hội

Học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã hội đòi hỏi phải phân tích

sự phát triển của các xã hội như một quá trình tổng hợp các nhân tố và các quy luật khách quan Còn cách tiếp cận theo các nền văn minh thường chỉ tách ra một vài đặc trưng để phân biệt nền văn minh này với nền văn minh khác, có khi chỉ

là trình độ của lực lượng sản xuất, hoặc công cụ lao động; có khi là những nét đặc thù về văn hoá, về cộng đồng chủng tộc, dân tộc, mà bỏ qua quan hệ sản

Trang 12

xuất, kết cấu giai cấp xó hội, do đú bỏ qua tớnh chất xó hội của nền văn minh đú Đặc biệt, gần đõy cỏc lý thuyết của S.Huntingtơn lại thổi phồng vai trũ của sự đụng độ cỏc nền văn hoỏ đối với sự phỏt triển xó hội Thực ra, cỏch giải thớch xó hội chỉ bằng xung đột giữa cỏc nền văn hoỏ là cỏch giải thớch nửa vời Học thuyết hỡnh thỏi kinh tế- xó hội ngay từ thời Mỏc và Ăngghen đó khụng chấp nhận sự nửa vời đú, và tỡm đến những nguyờn nhõn căn bản hơn - những nguyờn nhõn vật chất: phương thức sản xuất.

Túm lại, phương phỏp tiếp cận cỏc nền văn minh, hay sự đụng độ của cỏc nền văn hoỏ đối với sự phỏt triển của xó hội tuy cũng cú những giỏ trị nhất định, nhưng cỏc cỏch tiếp cận này thường khụng chỳ ý đến nguồn gốc, bản chất cỏc động lực của sự vận động và phỏt triển của lịch sử, bỏ qua vai trũ của quan

hệ sản xuất, mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấ, cỏc mối quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp… nờn khụng thể đem cỏc phương phỏp tiếp cận này thay thế Học thuyết Mỏc - Lờnin về hỡnh thỏi kinh tế - xó hội

Vỡ, đõy là học thuyết khoa học và cỏch mạng để phõn tớch lịch sử và nhận thức cỏc vấn đề xó hội

1.2 Sự phỏt triển của cỏc hỡnh thỏi kinh tế - xó hội là một quỏ trỡnh lịch sử tự nhiờn.

Học thuyết hỡnh thỏi kinh tế - xó hội xem xột xó hội trong một quỏ trỡnh biến đổi và phỏt triển khụng ngừng Mỏc viết “ tụi coi sự phỏt triển của những hỡnh thức kinh tế - xó hội là một quỏ trỡnh lịch sử, tự nhiờn”1 Điều này được Lờnin giải thớch rừ: “ chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lợng sản xuất thì ngời ta mới đợc một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”1

1 C.Mác, Ph Ăngghen Tuyển tập NXB CTQG Hà Nội 1993 Tập 23 Tr.21.

1 V.I.Lênin Toàn tập NXB Tiến bộ Mátxcơva 1974 Tập 1 Tr.163.

Trang 13

C Mác coi lực lương sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là những yếu tố hợp thành không thể thiếu được của hình thái kinh tế - xã hội; đồng thời ông cũng coi mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố

đó chính là những quy luật phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội với tư cách là quá trình lịch sử tự nhiên Trong quan niệm, coi sự vận động xã hội như một quá trình lịch sử - tự nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin nêu lên những tư tưởng sau đây:

Một là, Xã hội vận động theo những quy luật không những phụ thuộc

vào ý thức, ý chí và ý định của con người mà ngược lại còn quyết định cả ý chí,

ý thức và ý định của họ nữa

Lịch sử là lịch sử hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình, nhưng không thể hoạt động tuỳ tiện, mà phải tuân theo những quy luật khách quan Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được coi như một cơ thể xã hội,

tự phát triển theo những quy luật vốn có của nó, một cơ thể xã hội riêng biệt có những quy luật riêng về sự ra đời, về hoạt động và bước chuyển của nó lên một hình thái cao hơn, tức là biến thành một cơ thể xã hội khác

Hai là, các quy luật xã hội nói riêng, xét về bản chất thì khác với các quy

luật của giới tự nhiên “Mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó Một khi cuộc sống đã vượt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác thì nó cũng bắt đầu bị quy luật khác chi phối”2

Ba là, những quy luật của xã hội như: quy luật về sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất; quy luật về mối quan

hệ biện chứng giữa cơ sở hạ với tầngkiến trúc thượng tầng đều thể hiện xu hướng vận động của xã hội xét trong phạm vi rộng và trong thời gian dài, tức là xét dưới dạng khái quát, trừu tượng hoá Vì vậy, sự vận động cụ thể của một xã

2 C.M¸c, Ph ¡ngghen Toµn tËp NXBCTQG Hµ Néi 1994 TËp 23 Tr.34.

Trang 14

hội cụ thể trong những thời gian và không gian nhất định thường có những biểu hiện dường như không trùng khớp với quy luật phổ biến.

Chẳng hạn, Mác đã nhận xét: “Đối với nghệ thuật những thời kỳ hưng thịnh nhất định của nó hoàn toàn không tương ứng với sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tương ứng với sự phát triển của cơ sở vật chất của xã hội,

cơ sở này dường như cấu thành cái xương sống của tổ chức xã hội khó khăn chỉ là ở chỗ đưa ra được một công thức chung về mâu thuẫn đó giải thích được những mâu thuẫn đó”1

Như vậy, có thể nói lịch sử là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình, nhưng đó không thể là hoạt động tuỳ tiện, mà là hoạt động có ý thức hoặc vô thức tuân theo những quy luật khách quan Do đó, lịch

sử - tự nhiên nghĩa là quá trình lịch sử nhưng mang tính tự nhiên, tiếp tục lịch sử của giới tự nhiên, vận động theo quy luật và xét đến cùng thì không thể phụ thuộc vào ý muốn con người Chính là dựa vào tư tưởng vĩ đại này, dựa vào những định hình khách quan của các quan hệ kinh tế - xã hội tạo ra cơ cấu kinh

tế của xã hội Mác đã phân ra thành các hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thuỷ; chiếm hữu nô lệ; phong kiến và tư bản chủ nghĩa Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đó được coi là một cơ chế tự phát triển theo những quy luật vốn

có của nó, một cơ chế xã hội riêng biệt, có những quy luật riêng về sự ra đời của

nó, về hoạt động của nó bà bước chuyển biến của nó lên một hình thức cao hơn, tức là biến thành một cơ chế xã hội khác

Sự thay thế kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội: xã hội cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội chiếm hữu nô lệ được thay thế bằng xã hội phong kiến, xã hội phong kiến được thay thế bằng xã hội

tư bản chủ nghĩa tạo nên trục đường tiến triển trong lịch sử loài người

1 C.M¸c, Ph ¡ngghen NXB CTQG Hµ Néi 1993 TËp 12 Tr 889 - 890.

Trang 15

Khi nghiên cứu các quy luật của sự phát triển xã hội nói chung và nhất là chủ nghĩa tư bản nói riêng, Mác và Ăngghen đã dự đoán sự xuất hiện một hình thái kinh tế - xã hội mới, hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa, một hình thái kinh

tế - xã hội không có đối kháng giai cấp và không có tình trạng bóc lột người

Theo Mác, sự thay thế một hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác được thực hiện thông qua cách mạng xã hội Nguyên sâu xa của cuộc cách mạng đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, đặc biệt là khi quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất Trong thời kỳ cách mạng, cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng thay đổi theo cho phù hợp Từ những cơ sở khoa học luận giải như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê nin đã kết luận hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và sự thay thế này cũng là quá trình lịch sử - tự nhiên Sự thay thế được thực hiện thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa mà hai tiền đề quan trọng nhất của nó là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng thành của giai cấp công nhân Với những đặc điểm như vậy làm cho sự phát triển giữa các quốc gia thường diễn ra không đều, kể cả khả năng phát triển bỏ qua một hoặc vài hình thái kinh tế - xã hội nào đó

Nhìn chung, cho đến nay lịch sử nhân loại đã và đang trải qua bốn hình thái kinh tế - xã hội kế tiếp nhau: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ sang chủ nghĩa xã hội, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Tuy nhiên, do đặc điểm về lịch sử, về không gian, thời gian, không phải quốc gia nào cũng phải trải qua tất cả các hình thái kinh tế - xã hội theo một sơ

đồ chung Lịch sử cho thấy, có những nước do những điều kiện khách quan và chủ quan; bên trong và bên ngoài chi phối nên đã bỏ qua một hình thái kinh tế -

xã hội nào đó trong tiến trình phát triển của mình Chẳng hạn ở một số nước

Ngày đăng: 03/08/2016, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w