1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG và CHỦ NGHĨA DUY vật LỊCH sử TRONG tác PHẨM LUTVICH PHOI o BAC về sự cáo CHUNG của TRIẾT học cổ điển đức

15 510 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sự ra đời triết học Mác xít có ý nghĩa to lớn trong lịch sử nhân loại. chủ nghĩa duy vật biến chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm này là sự kế thừa một cách biện chứng tư duy của nhân loại. Bằng bộ óc thiên tài, Enghen đã luận giải những vấn đề tự nhiên và xã hội một cách hết sức khách quan, làm nền tảng cho một hệ thống lý thuyết cách mạng và khoa học

Trang 1

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm “lútvích phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển đức” của ph ăng-ghen

1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Sơ lợc về sự nghiệp của Ph Ăng-ghen

Ph Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 ở Bácmen thuộc tỉnh Ranh của nớc Phổ Ngay từ khi còn trẻ đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt và nghị lực nghiên cứu khoa học; năm 1837 làm việc cho hãng buôn của bố ở Bácmen Năm 1841 Ph Ăng-ghen đi làm nghĩa vụ quân sự ở Béclin; năm

1841 nghiên cứu tác phẩm “Bản chất đạo Thiên chúa” của Phoi-ơ-bắc; năm

1842 ông bắt đầu cộng tác với tờ nhật báo của tỉnh Ranh; cuối tháng 10 năm

1842 hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về Bácmen Năm 1844 ông viết “Tình cảnh nớc Anh” gửi chi tạp chí “Niên giám Pháp-Đức”, khoảng tháng 8- 1844 sang Pari, ở đây Ph Ăng-ghen đã gặp C Mác Tình bạn vĩ đại giữa hai ông

đ-ợc vun đắp trên cơ sở cùng chung chí hớng Năm 1886 ông viết tác phẩm

“Lútvích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”

Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Sau Công xã Pari năm 1871 phong trào công nhân tạm lắng xuống, lúc này chủ nghĩa cơ hội phát triển mạnh và lũng đoạn trong phong trào công nhân Hoảng sợ trớc phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, trong hệ t tởng

t sản đã nảy sinh một số khuynh hớng triết học, xã hội học phản động, nh học thuyết duy tâm của Sôpenhauơ, Hátman, chủ nghĩa Cantơ mới, chủ nghĩa Hium mới… Trớc tình hình đó, đòi hỏi các nhà kinh điển phải tập trung tất cả các hoạt động lý luận và chính trị để chống lại chủ nghĩa cơ hội xét lại với mọi biến tớng của nó; chống lại hệ t tởng t sản để bảo vệ và phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Mặt khác trớc đây C Mác và Ph Ăng-ghen đã có ý định trình bày quan điểm đối lập của mình với những quan điểm

t tởng triết học cổ điển Đức Khi Ban biên tập tạp chí Neue Zeit (Thời mới) đề nghị Ph Ăng-ghen viết bài phê bình cuốn sách của Stác-cơ nói về Phoi ơ-bắc, Ông đã nắm lấy cơ hội đó để viết tác phẩm này, bài của Ph Ăng-ghen viết sau khi Mác mất (14/3/1883) đợc ba năm và đợc đăng trên tạp chí đó vào năm 1886 Ph Ăng-ghen đã trình bày quan điểm của hai ông về chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen, chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc và chỉ rõ bớc ngoặt

Trang 2

cách mạng trong lịch sử phát triển t tởng triết học do C Mác và Ph Ăng-ghen thực hiện

Tác phẩm “Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của tiết học cổ điển

Đức”đợc in trong bộ C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1995

2 Kết cấu và nội dung cơ bản của tác phẩm

Tác phẩm gồm Lời tựa và bốn chơng; nội dung cơ bản trong tác phẩm này Ph Ăng-ghen đã nghiên cứu hàng loạt những vấn đề cơ bản của lịch sử triết học, trong đó nổi bật là vấn đề đối tợng nghiên cứu của lịch sử triết học; phơng pháp luận mácxít; chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Lời tựa: Ph Ăng-ghen viết tháng 2/1888, Ông trình bày lý do viết tác

phẩm này: do tình hình đấu tranh t tởng lúc bấy giờ đồng thời làm rõ trách

nhiệm của C Mác và Ph Ăng-ghen đối với triết học “Trong hoàn cảnh đó,

càng ngày tôi càng thấy cần phải kịp thời trình bày vắn tắt và có hệ thống thái

độ của chúng tôi đối với triết học Hê-ghen: chúng tôi đã xuất phát từ triết học Hê-ghen nh thế nào và đoạn tuyệt nó ra sao.”0

Chơng I: Ph Ăng-ghen đánh giá lại triết học của Hêghen, ông coi triết

học của Hêghen là đỉnh cao của triết học cổ điển Đức và là một trong những nguồn gốc lý luận của triết học C Mác Trong khi đánh giá vai trò to lớn của phép biện chứng trong triết học Hê-ghen, Ăng-ghen đã chỉ ra mâu thuẫn cơ bản trong triết học này là mâu thuẫn giữa phơng pháp biện chứng và hệ thống

duy tâm siêu hình: “Song nh thế có nghĩa là tuyên bố rằng toàn bộ nội dung

giáo điều của hệ thống Hêghen đều là chân lý tuyệt đối và nh thế là trái với phơng pháp biện chứng của ông ta, phơng pháp đã phá bỏ mọi cái có tính chất giáo điều Nh thế nghĩa là mặt cách mạng của học thuyết Hêghen đã bị

đè bẹp bởi sự trởng thành quá khổ của mặt bảo thủ của nó.”1 Ăng-ghen đã chỉ ra phơng pháp t duy cách mạng của Hê-ghen nhng lại có thái độ chính trị

ôn hoà, đây là biểu hiện tính 2 mặt trong triết học của Hê-ghen và tính phi-li-xtanh của ngời Đức

Chơng II: Ph Ăng-ghen đã phân tích những vấn đề cơ bản của triết học,

quan hệ giữa t duy và tồn tại nh: “Song vấn đề quan hệ giữa t duy với tồn tại

0 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 527

1 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 396.

Trang 3

còn có một mặt khác: những suy nghĩ của chúng ta về thế giới xung quanh ta

có quan hệ nh thế nào với bản thân thế giới ấy? T duy của chúng ta có thể nhận thức đợc thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh đợc một hình ảnh đúng đắn của hiện thực không?”2 Ăng-ghen đã chỉ ra đối tợng của lịch sử triết học mácxít là nghiên cứu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật

và chủ nghĩa duy tâm, chỉ ra sự phụ thuộc của t tởng triết học vào thực tiễn xã hội và nhận thức khoa học tự nhiên Đồng thời, ông cũng chỉ ra những hạn chế

của chủ nghĩa duy vật trớc Mác, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc: “chủ

nghĩa duy vật thuần tuý khoa học tự nhiên là “cơ sở của toà kiến trúc tri thức con ngời, nhng không phải là bản thân toà kiến trúc đó”.Vì chúng ta không những sống trong giới tự nhiên, mà còn sống trong xã hội loài ngời khoa học lịch sử và khoa học triết học phù hợp với cơ sở duy vật chủ nghĩa và xây dựng lại khoa học xã hội phù hợp với cơ sở đó”3

Chơng III: Ăng-ghen tập trung phê phán tính chất không triệt để của

triết học Phoi-ơ-bắc, thể hiện ở quan điểm duy tâm về xã hội nhất là vấn đề tôn giáo và đạo đức, đồng thời ông cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế

đó: “Phoi-ơ-bắc không tìm thấy con đờng thoát khỏi vơng quốc của sự trừu

t-ợng, mà bản thân ông ghét cay ghét đắng, để đi tới hiện thực sinh động Ông bám hết sức chặt lấy giới tự nhiên và con ngời; song đối với ông, cả tự nhiên lẫn con ngời vẫn chỉ là những danh từ mà thôi.”4

Chơng IV: Tác phẩm đề cập một cách khái quát về hệ thống những quan

điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,

đồng thời ông khẳng định rằng sự ra đời của triết học Mác là một bớc ngoặt trong sự phát triển của lịch sử triết học

Qua kết cấu tác phẩm, Ăng-ghen muốn chỉ ra rằng, triết học Mác cũng

có tiền đề lý luận là triết học của Hêghen và triết học của Phoiơbắc, C Mác và

Ph Ăngghen kế thừa những giá trị triết học trớc đó và khái quát thực tiễn xã hội, nhận thức khoa học, triết học Mác là hình thức phát triển cao của lịch sử triết học

3 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm

2 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 405.

3 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 412.

4 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 426.

Trang 4

Sự ra đời của triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử của nhân loại Mác và Ăng-ghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của t duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật mới

về chất và triệt để ở đó có sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng; giữa quan niệm duy vật về tự nhiên, duy vật về đời sống xã hội, giữa việc giải thích hiện thực về mặt triết học với việc cải tạo hiện thực bằng cách mạng C Mác và Ăng-ghen đã xây dựng lý luận triết học của mình trên cơ sở khái quát những thành trựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Triết học Mác đã trở thành thế giới quan và phơng pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và chính Đảng của mình, trên cơ sở đó nhận thức và cải tạo thế giới Đó là bớc ngoặt cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện

3.1 C Mác và Ph Ăng-ghen đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng

C Mác và Ph Ăng-ghen đã xây dựng đợc chủ nghĩa duy vật biện chứng với nội dung hoàn toàn đúng đắn và khoa học, làm cho triết học Mác triệt để

và cách mạng

Trớc hết, Ăng-ghen đã chỉ ra sự hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng

là kết quả của quá trình cải tạo phép biện chứng của Hê-ghen Hê-ghen là ngời

đầu tiên trong lịch sử triết học trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và t duy dới dạng một hệ thống, nghĩa là sự vận động biến đổi và phát triển không ngừng của những quy luật, phạm trù của phép biện chứng Ăng-ghen nêu ra cơ

sở của Hê-ghen khi trình bày hệ thống phép biện chứng mà điểm xuất phát là

ý niệm tuyệt đối: “ở Hêghen, biện chứng là sự tự phát triển của ý niệm ý

niệm tuyệt đối không những tồn tại vĩnh viễn-không biết ở đâu- mà còn là linh hồn sinh động thật sự của toàn bộ thế giới tồn tại.”5 Phạm trù trung tâm

xuyên suốt toàn bộ phép biện chứng của Hê-ghen là từ “ý niệm tuyệt đối, tha

hoá thành giới tự nhiên” điểm xuất phát của phép biện chứng là ý niệm tuyệt

đối và tha hoá ở dạng t duy con ngời dới dạng hình thức phạm trù lôgíc và tiếp tục vận động tha hoá thành giới tự nhiên và tiếp tục tha hoá trở lại trạng thái ban đầu của ý niệm tuyệt đối, sự vận động của ý niệm tuyệt đối là vòng tròn khép kín Đây là hạn chế của Hê-ghen khi xem xét quá trình vạn động và phát

triển của sự vật hiện tợng Hê-ghen đã nói “Tất cả cái gì là hiện thực, đều là

hợp lý, và tất cả cái gì là hợp lý đều là hiện thực”6 Đó là luận điểm thể hiện tính hai mặt trong lập trờng của Hê-ghen: vừa mang tính cách mạng khoa học

5 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 429.

6 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 392

Trang 5

vừa bảo thủ, phản động về mặt triết học Luận điểm trên của Hê-ghen không chỉ muốn bảo vệ, duy trì mọi cái đang tồn tại nền chuyên chế nhà nớc quân chủ Phổ, mà điều cơ bản nhất theo ông, không phải tất cả những gì hiện đang tồn tại cũng là hiện thực mà thuộc tính hiện thực chỉ thuộc về những gì đồng thời là tất yếu Rõ ràng mâu thuẫn lớn nhất của triết học Hê-ghen là mâu thuẫn giữa hệ thống và phơng pháp hệ thống duy tâm đã bóp nghẹt phơng

pháp biện chứng Ăngghen viết: “Hê-ghen không bị gạt ra một bên một cách

đơn giản… Trái lại, ngời ta lấy khía cạnh cách mạng đã trình bày trên kia của triết học Hê-ghen, tức là phơng pháp biện chứng, làm điểm xuất phát

Nh-ng hình thức hiểu Hê-ghen thì phơNh-ng pháp ấy lại khôNh-ng dùNh-ng đợc”7

Phép biện chứng duy vật đã kế thừa tất cả yếu tố tiến bộ của các hình thức trớc đó của hệ thống triết học của Hê-ghen, trong đó trực tiếp là phép biện chứng Nhng phép biện chứng của chủ nghĩa Mác hoàn toàn đối lập với

phép biện chứng của Hêghen xét về mặt hình thức, Ăng-ghen viết: “ở

Hêghen, sự phát triển biện chứng biểu hiện trong giới tự nhiên và trong lịch sử chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của ý niệm, một sự tự vận động diễn

ra vĩnh viễn, không biết ở đâu, nhng dù sao cũng độc lập đối với mọi bộ óc

đang t duy của con ngời Sự xuyên tạc có tính chất t tởng hệ ấy là cái cần phải gạt bỏ Chúng tôi lại trở về với quan điểm duy vật và thấy rằng những ý niệm trong đầu óc của chúng ta là những phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không phải xem những sự vật hiện thực là những phản ánh của giai đoạn này hay giai đoạn khác của ý niệm”8 Trên cơ sở đó, Ăng-ghen nhắc lại định nghĩa kinh điển về phép biện chứng duy vật: phép biện chứng đợc quy thành khoa học về các quy luật chung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng nh của

t duy con ngời, thành hai loại quy luật đồng nhất về chất nhng về biểu hiện thì khác nhau theo ý nghĩa là bộ óc con ngời có thể áp dụng những quy luật đó một cách có ý thức, và chỉ ra tính thứ nhất của biện chứng khách quan và biện chứng thứ hai của tính chủ quan; biện chứng của ý niệm chỉ là sự phản ánh vào ý thức sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực, cho nên quá trình

cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen bằng cách: “nh vậy, là phép biện

chứng của Hê-ghen đã đợc đặt ngợc lại, nay nói đúng hơn, từ chỗ trớc kia nó

đứng bằng đầu, bây giờ ngời ta đặt nó đứng bằng chân.”9

7 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 428-429

8 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 429

9 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 430.

Trang 6

Ph Ăng-ghen nhắc lại cơ sở khoa học tự nhiên dẫn đến sự cáo chung của phép siêu hình và sự hình thành phép biện chứng duy vật Chính việc phát triển của khoa học tự nhiên đã giáng một đòn rất mạnh vào phép siêu hình trong quan niệm về thế giới, tất cả cái gì là cố định đều trở thành mây khói,, dẫn đến làm sụp đổ phơng pháp t duy siêu hình và khẳng định phơng pháp t duy biện chứng Ăng-ghen cũng đánh giá một lần nữa ba phát minh vĩ đại của thời đó là phát minh ra tế bào, phát minh ra định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lợng và học thuyết tế bào của Đácuyn Ăng-ghen cho rằng nhờ ba phát minh vĩ đại đó khoa học tự nhiên có thể chứng minh những nét lớn của mối liên hệ giữa các quá trình của tự nhiên không những trong các lĩnh vực riêng biệt, mà cả mối liên hệ giữa các lĩnh vực trong tự nhiên

C Mác và Ph Ăng-ghen đã chỉ ra cơ sở duy tâm của triết học Hê-ghen, vạch ra mâu thuẫn chủ yếu giữa hệ thống triết học bảo thủ, giáo điều với

ph-ơng pháp biện chứng cách mạng Hệ thống triết học của Hê-ghen đã coi thờng nội dung đời sống thực tế và xuyên tạc bức tranh khoa học hiện thực Phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen đã bất lực trớc sự phân tích thực tiễn, phân tích sự phát triển của nền sản xuất vật chất

C Mác và Ph Ăng-ghen đã khắc phục tính phiến diện, không triệt để của chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoi-ơ-bắc Ông phê phán triết học của Cantơ

và triết học của Hê-ghen và khẳng định: thế giới tự nhiên là vật chất, không do

ai sinh ra, nó vĩnh viễn và vô hạn, nguyên nhân của tự nhiên ngay trong bản thân nó, ngoài tự nhiên và con ngời không còn gì nữa Bàn về vấn đề ý thức Phoi-ơ-bắc cho rằng ý thức là thuộc tính của bộ óc: quan hệ thực sự của t duy

đối với tồn tại là: tồn tại là chủ thể, t duy là thuộc tính Con ngời là một bộ phận của tự nhiên và là chủ thể, còn t duy là thuộc tính của nó, có nghĩa là t duy là thuộc tính của con ngời Nhng khi bàn về con ngời, ông không thấy tính hiện thực của con ngời, không thấy bản chất xã hội của con ngời, không thấy tính thực tiễn của con ngời, hiểu con ngời một cách chung chung phi lịch

sử, phi giai cấp Trong lĩnh vực xã hội ông đa ra đạo đức, tình yêu và tôn giáo; theo ông đạo đức của con ngời là tình yêu ngời với ngời, hạn chế hợp lý của bản thân mình để đạt đến hạnh phúc Ông cũng cho rằng hạnh phúc là bẩm sinh, hạnh phúc là cơ sở của đạo đức Mặt khác, ông mong muốn xoá bỏ tôn giáo nhng lại muốn xây dựng một thứ ttôn giáo mới là tôn giáo tình yêu

Ăngghen viết: “ông không biết bác bỏ Hê-ghen bằng vũ khí phê phán, mà chỉ

đơn thuần vứt bỏ Hê-ghen, coi là vô dụng, trong khi ấy thì so với sự phong

Trang 7

phú bách khoa của hệ thống Hê-ghen, bản thân ông cũng không đa ra đợc

điều gì tích cực, nếu không phải là chỉ đa ra đợc một tôn giáo huênh hoang về tình yêu và một đạo đức học nghèo nàn, bất lực”10 Mác và Ăng-ghen đã xây dựng chủ nghĩa duy vật triết học chân chính khoa học bằng cách xuất phát từ con ngời hiện thực, con ngời hoạt động thực tiễn mà trớc hết là thực tiễn sản xuất vật chất và thực tiễn đấu tranh chính trị- xã hội

Tóm lại, với việc kết hợp một cách tài tình giữa việc giải phóng chủ

nghĩa duy vật khỏi tính chất trực quan, máy móc siêu hình và giải phóng phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí, C Mác và Ph Ăng-ghen, lần đầu tiên trong lịch sử, đã sáng tạo ra một chủ nghĩa duy vật triết học, ở đó chủ nghĩa duy vật thì biện chứng, còn phép biện chứng thì duy vật; đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng

10 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 427.

Trang 8

3.2 Các-Mác và Ph Ăng-ghen đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử

Lần đầu tiên trong lịch sử C Mác và Ph Ăng-ghen đã xây dựng đợc hệ thống quan điểm triết học khoa học về lĩnh vực xã hội, đó là một trong những phát minh vĩ đại, là sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử

Về sự hình thành các quan điểm duy vật lịch sử Ph Ăng-ghen đã phân tích lịch sử và coi cái đã đúng với giới tự nhiên mà do đó chúng ta coi là một quá trình phát triển lịch sử, thì cũng đúng với tất cả các bộ môn của lịch sử xã hội và cũng đúng với toàn bộ các khoa học nghiên cứu những cái thuộc về con ngời Theo Ăng-ghen, phải loại bỏ những mối liên hệ nhân tạo và phải tìm ra những mối liên hệ hiện thực, nhất là phải phát hiện ra các quy luật chung chi phối sự phát triển của lịch sử Đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Ph Ăng-ghen viết: “triết học về lịch sử, đặc biệt triết học về lịch sử mà

Hê-ghen là đại biểu, thừa nhận rằng những động cơ bề ngoài và cả những động cơ hoạt động thực sự của những nhân vật hoạt động trong lịch sử, quyết không phải là những nguyên nhân cuối cùng của các sự biến lịch sử, rằng đằng sau những động cơ đó, còn có những động lực khác cần phải phát hiện ra”11

Ph Ăng-ghen phân biệt sự khác nhau giữa quy luật lịch sử với đối tợng nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử; với các quy luật tự nhiên với đối t -ợng nhận thức của các khoa học tự nhiên Trong giới tự nhiên, các quy luật diễn ra tự động, bên ngoài ý thức của con ngời trái lại các quy luật xã hội diễn

ra thông qua hoạt động có ý thức của con ngời Nhng cũng giống với các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội cũng bị chi phối bởi vô số những ngẫu nhiên Thông qua vô số ngẫu nhiên đó, chúng ta phát hiện ra quy luật nội tại bị che giấu Khi bàn về động lực của lịch sử Ăng-ghen phân tích sâu sắc động lực

bên trong nội tại của lịch sử và ông kết luận: “Nếu nh trong tất cả các thời kỳ

trớc, việc nghiên cứu những nguyên nhân thúc đẩy ấy của lịch sử đã hầu nh không thể làm đợc, vì những mối liên hệ giữa những nguyên nhân ấy và những

ảnh hởng của chúng là phức tạp và bị che lấp, thì ngày nay, thời đại chúng ta

đã giảm đơn hoá những mối liên hệ đó đến một mức mà cuối cùng điều bí ẩn

là có thể giải đáp đợc”12

Ph Ăng-ghen cũng chỉ ra đặc trng của các quy luật xã hội Ông cho rằng: Con ngời làm ra lịch sử của mình bằng cách là mỗi ngời theo đuổi những mục

đích riêng, mong muốn một cách có ý thức, và chính kết quả chung của vô số

11 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 437

12 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 438- tr 439.

Trang 9

những ý muốn tác động theo nhiều hớng khác nhau đó và của những ảnh hởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới bên ngoài đã tạo nên lịch sử

Nh vậy, theo Ăng-ghen khi xem xét đến một vấn đề rất quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đó là vấn đề động lực của lịch sử Chủ nghĩa duy vật

cũ không bao giờ đặt vấn đề đó ra cả và vì vậy quan điểm của họ về lịch sử,

về bản chất, là quan điểm thực dụng chủ nghĩa; nó đánh giá mọi cái theo động cơ của hành động Ăng-ghen đã phê phán quan điểm trên và cho rằng: chủ nghĩa duy vật cũ không trung thành với bản thân mình, vì nó coi những động lực lý tởng tác động trong lĩnh vực lịch sử là những nguyên nhân cuối cùng, chứ không nghiên cứu xem cái gì ẩn sau những động lực đó là những gì Tuy nhiên Hê-ghen cũng có công lao đặt ra vấn đề này, song theo Ăng-ghen thì Hê-ghen lại không tìm động lực đó ở trong bản thân lịch sử mà lại du nhập những động lực đó từ ngoài đó là sự tha hoá

Đối lập với quan điểm của chủ nghĩa duy vật cũ và chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen, Ăng-ghen cho rằng để xác định động lực thực tế cuối cùng của lịch sử thì không thể nghiên cứu những động cơ của các cá nhân, mà phải nghiên cứu những động cơ của những ngời đã lay chuyển những quần chúng

đông đảo, những dân tộc trọn vẹn; rồi đến những giai cấp trọn vẹn trong mỗi một dân tộc; những động cơ đã đẩy họ đến chỗ tiến hành những hành động lâu dài đa đến những biến đổi lịch sử vĩ đại Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, động lực của toàn bộ lịch sử hiện đại chính là cuộc đấu tranh giai cấp và những xung

đột về quyền lợi của họ Nh vậy theo ông đấu tranh giai cấp là động lực thúc

đẩy xã hội có giai cấp phát triển Ăngghen viết: “ở đây, ta thấy rõ ràng và cụ

thể rằng nguồn gốc và sự phát triển của hai giai cấp lớn đó là những những nguyên nhân thuần tuý về kinh tế Và cũng rõ ràng là trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp chiếm hữu ruộng đất và giai cấp t sản, cũng nh trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp t sản và giai cấp vô sản, thì trớc hết, vấn đề là ở những lợi ích kinh tế-để thoả mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ đợc sử dụng làm một phơng tiện đơn thuần”13 Để tìm ra động lực của sự vận động phát triển Ăng-ghen đi sâu vào xem xét nguồn gốc của giai cấp và đấu tranh giai cấp, ông chỉ ra rằng, nguồn gốc của giai cấp và kết cấu của giai cấp xã hội

là do nguyên nhân thuần tuý kinh tế quy định và cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp chiếm hữu ruộng đất và giai cấp t sản, cũng nh cuộc đấu tranh giữa giai cấp t sản và giai cấp vô sản, thì trớc hết, vấn đề là ở những lợi ích kinh tế

13 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 439.

Trang 10

Chính mâu thuẫn trong kinh tế phản ánh qua mâu thuẫn giữa các giai cấp Những lực lợng sản xuất, do giai cấp t sản đại biểu, nổi dậy chống lại chế độ sản xuất do bọn chiếm hữu ruộng đất phong kiến, ngày nay đại công nghiệp cũng lại đã đi đến chỗ xung đột với chế độ sản xuất t sản là chế độ đã thay thế chế độ sản xuất phong kiến Mâu thuẫn đó tất yếu sẽ dẫn đến phải phá gông xiềng cho lực lợng sản xuất bằng cách thay đổi phơng thức sản xuất mới thông qua cuộc đấu tranh giai cấp

Từ những phân tích trên, Ăng-ghen đi đến kết luận: “Tất cả các cuộc đấu

tranh chính trị đều là đấu tranh giai cấp, và tất cả các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, dù hình thức chính trị tất yếu của chúng là thế nào đi nữa-vì bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh chính trị-xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh tế”14

Ph Ăng-ghen tiếp tục xem xét mối quan hệ cơ sở kinh tế của một số yếu

tố của kiến trúc thợng tầng nh nhà nớc và pháp luật, chính trị và hệ t tởng chính trị, triết học và tôn giáo Khi xem xét mối quan hệ giữa nhà nớc và xã hội công dân, Ăng-ghen khẳng định nhà nớc là yếu tố tuỳ thuộc, còn xã hội công dân, tức là lĩnh vực của những quan hệ kinh tế, là yếu tố quyết định Nếu

nh nhà nớc và công pháp là do các quan hệ kinh tế quyết định thì t pháp cũng thế, vì t pháp, theo Ăng-ghen, về thực chất, chỉ xác nhận những quan hệ kinh

tế hiện có “nếu quy tắc pháp luật t sản chỉ là sự biểu hiện, dới hình thức pháp

lý, của những điều kiện sinh hoạt kinh tế của xã hội, thì điều đó có thể diễn ra tốt hay xấu tuỳ theo hoàn cảnh”15

Vấn đề chính trị và hệ t tởng chính trị cũng vậy, nhng dờng nh trong thực

tế ý thức về mối liên hệ giữa chính trị và hệ chính trị với cơ sở kinh tế bị mờ dần Còn những hệ t tởng cao hơn, xa hơn cơ sở kinh tế nh triết học và tôn giáo, thì do những khâu trung gian mà mối liên hệ đó bị lãng quên Song, dù sao theo Ăng-ghen, “mối quan hệ đó vẫn tồn tại” và những t tởng triết học từ thế kỷ XV trở đi qua triết học Pháp, triết học Anh và đến triết học của Hê-ghen đều phản ánh sự phát triển của giai cấp t sản

Đối với tôn giáo, Ăng-ghen cho rằng tôn giáo là hình thái ý thức xã hội,

xa đời sống vật chất Nhng thực ra xét đến cùng, tôn giáo cũng nh các hình thái ý thức xã hội khác đều gắn liền với những điều kiện sinh hoạt vật chất của con ngời Để làm rõ luận điểm ấy, Ăng-ghen chỉ ra sự phát triển của tôn giáo

14 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 441.

15 C Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t 21, tr 443.

Ngày đăng: 03/08/2016, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w