1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

65 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi ngân sách nhà nước là hết sức cần thiết góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và cùng với sự phát triển kinh tế -

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HOÀNG THU LỤA

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ

CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2014

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HOÀNG THU LỤA

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH TUYÊN QUANG Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ TRUNG THÀNH

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

“Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” là công trình nghiên cứu

của cá nhân tôi Đề tài hoàn toàn trung thự

ử dụng trong đề , các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ, mọi sự giúp đỡ

Thái nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Thu Lụa

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu, điều tra thu thập số liệu và thực hiện luận văn này, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp, các cơ quan đơn vị đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thu thập số liệu, được cung cấp thông tin, được sự phối hợp chặt chẽ trong công tác phỏng vấn thu thập số liệu để tôi hoàn thành bài luận văn của mình Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu; Phòng Đào tạo - Trường Đại học Kinh tế và QTKD cùng các thầy

cô giáo, những người đã mang hết tâm sức và trí tuệ để truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và hướng dẫn các bước viết luận văn tốt nghiệp

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư - Tiến sĩ Lê Trung Thành Giám đốc Trung tâm đào tạo từ xa - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, người thầy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Sở Tài chính, Cục Thuế tỉnh, Ủy ban nhân các huyện, thành phố; Phòng Tài chính - Kế hoạch; các đơn vị dự toán trên địa bàn tỉnh đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc

Xin trân trọng cảm ơn!

Tuyên Quang , ngày 25 tháng 11 năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 3

Hoàng Thu Lụa

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5

1.1 Cơ sở lý luận về Ngân sách nhà nước 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước và vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước 8

1.1.3 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước và đặc điểm của quản lý chi ngân sách nhà nước 11

1.1.4 Các nội dung liên quan đến quản lý chi NSNN 13

1.1.5 Nội dung cơ bản của công tác quản lý chi ngân sách nhà nước 18

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước 37

1.2 Cơ sở thực tiễn 38

1.2.1 Kinh nghiệm của các địa phương 38

1.2.2 Bài học rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương trên 43

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 46

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 46

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 47

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 49

2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 50

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 51

3.1 Đặc điểm tình hình cơ bản của tỉnh Tuyên Quang 51

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 51

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 54

3.2 Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012 59

3.2.1 Thực trạng công tác xây dựng tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển, chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 59

3.2.2 Thực trạng công tác lập và phân bổ dự toán (bao gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang) 63

3.2.3 Thực trạng công tác quyết toán chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 85

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012 87

3.4.1 Về hệ thống văn bản của nhà nước 87

3.4.2 Tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý Ngân sách Nhà nước 88

3.4.3 Về trình độ phát triển kinh tế - xã hội 88

3.3 Đánh giá về công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012 89

Trang 4

3.3.1 Những kết quả đạt được 89

3.3.2 Những tồn tại 93

3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 95

Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 98

4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 98

4.1.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước ở tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới 98

4.1.2 Định hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước ở tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới 100

4.1.3 Mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 100

4.2 Giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 101

4.2.1 Đối với hệ thống văn bản ban hành xây dựng định mức phân bổ chi NSNN trình độ phát triển kinh tế - xã hội 96

4.2.2 Củng cố tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước 106

4.2.3 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội 109

4.3 Kiến nghị 109

4.3.1 Kiến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính 109

4.3.2 Kiến nghị đối với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh 110

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT

NSNN : Ngân sách Nhà nước NSTW : Ngân sách Trung ương NSĐP : Ngân sách địa phương HĐND : Hội đồng nhân dân UBND : Ủy ban nhân dân

NS : Ngân sách GTGT : Giá trị gia tăng XHCN : Xã hội chủ nghĩa

NN : Nhà nước

DN : Doanh nghiệp ĐTPT : Đầu tư phát triển XDCB : Xây dựng cơ bản KBNN : Kho bạc nhà nước

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân phối tần số người trả lời 48

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của tỉnh

Tuyên Quang, giai đoạn 2010 - 2012 54

Bảng 3.2: Chi Ngân sách tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2012 55

Bảng 3.3: Tổng hợp chi ngân sách nhà nước trên điạ bàn tỉnh Tuyên

Quang giai đoạn 2010-2012 55

Bảng 3.4: Ý kiến về định mức phân bổ và định mức chi thường xuyên

ngân sách năm 2011 và áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân

sách địa phương giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh

Tuyên Quang 62

Bảng 3.5: Cơ cấu phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh Tuyên Quang,từ

năm 2010 đến năm 2012 64

Bảng 3.6: Chi thường xuyên từ năm 2010 đến 2012 65

Bảng 3.7: Ý kiến về công tác xây dựng dự toán ngân sách trên địa bàn

tỉnh Tuyên Quang 67

Bảng 3.8: Tình hình thực hiện dự toán chi ngân sách nhà nước trên địa

bàn tỉnh Tuyên Quang từ năm 2010 đến năm 2012 69

Bảng 3.9: Kết quả thực hiện chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn

2010 - 2012 81

Bảng 3.10: Ý kiến về công tác quản lý và điều hành chi ngân sách trên

địa bàn tỉnh Tuyên Quang 83

Bảng 3.11: Ý kiến về công tác quyết toán chi ngân sách nhà nước trên

địa bàn tỉnh Tuyên Quang 86

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước (NSNN) có vai trò quan trọng trong việc thực hiện

các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và đối ngoại của

Nhà nước, là nguồn lực để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

NSNN là một khâu quan trọng trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô, vì vậy quản

lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm

của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN, củng

cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền và tài sản của Nhà

nước, tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Trong hệ thống tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước (NSNN) là bộ phận

quan trọng để nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình

Tuyên quang là một tỉnh miền núi phía bắc có diện tích 5.868 km²

(đứng thứ 25 trên cả nước) và dân số 727.751 người (đứng thứ 53 trên cả

nước), mật độ trung bình khoảng 124 người/1 km² Dân cư Tuyên quang phát

triển rất nhanh phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông Bắc giáp Cao Bằng,

phía Đông giáp Bắc Cạn và Thái nguyên, phía Nam giáp Vĩnh Phúc, phía

Tây-Nam giáp Phú Thọ, phía Tây giáp Yên Bái

Kinh tế của tỉnh đang phát triển, để khai thác có hiệu quả các tiềm năng,

thế mạnh của tỉnh, từng bước rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển so

với bình quân chung cả nước, bảo đảm phát triển các thành phần kinh tế;

tranh thủ tối đa nguồn nội lực, đồng thời thu hút mạnh nguồn ngoại lực để

phát triển kinh tế của tỉnh Hiện nay về cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất

nông lâm nghiệp, nguồn thu ngân sách sách của tỉnh chủ yếu từ ngân sách

Trung ương cấp bổ sung, chiếm khoảng 70% tổng chi NSNN hàng năm còn

đối với nguồn thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% tổng chi ngân sách Trong khi đó nhu cầu chi cho đầu

tư phát triển - kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh rất lớn

Từ khi thực hiện Luật NSNN năm 2002, qua hơn 10 thực hiện Luật NSNN, thu cân đối NSNN trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn, từ đó tỉnh cũng đã cân đối được một phần nguồn kinh phí đáng kể cho đầu tư phát triển và thực hiện các cơ chế, chính sách về nông nghiệp nông dân, nông thôn; việc đầu tư đã có tác dụng tích cực trong việc phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho nhân dân Tuy nhiên trên thực tế công tác quản lý ngân sách vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, hiệu quả thấp, chi cho đầu tư phát triển còn dài trải, chưa tập trung, còn gây lãng phí, kém hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách; đối với chi thường xuyên còn chi vượt dự toán Vậy việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi ngân sách nhà nước là hết sức cần thiết góp phần vào

sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, vấn đề cần phải hoàn thiện như: việc xây dựng hệ thống định mức; việc lập và phân bổ ngân sách; sử dụng

và quản lý ngân sách; chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách; quan hệ giữa các cấp ngân sách, vv

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc quản lý, điều hành và sử dụng

NSNN, nên việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” là cần thiết được chọn làm đề

tài nghiên cứu cho bản luận văn này; mục đích của Luận văn này tìm ra nguyên nhân những hạn chế trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Tuyên Quang và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, góp phần

Trang 7

sử dụng ngân sách nhà nước có hiệu quả thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát

triển nhanh và bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung: Từ nghiên cức thực trạng công tác quản lý chi

ngân sách tỉnh Tuyên Quang, từ đó chỉ ra những kết quả đã đạt được và

những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chủ

yếu đề xuất với địa phương nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới

2.2.Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi ngân

sách địa phương

- Đánh giá được thực trạng về công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn

tỉnh Từ đó nêu ra những kết quả đã đạt được và chỉ ra những tồn tại, hạn chế

yếu kém, bất cập và nguyên nhân của những thành công và bất cập; đưa ra

được những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý chi NSNN trên

địa bàn tỉnh Tuyên Quang thời gian qua

- Phát hiện được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NSNN

trên địa bàn tỉnh

- Đưa ra được các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý

chi NSNN của tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh

Tuyên Quang, giai đoạn 2010 - 2012

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu trong luận văn chỉ giới hạn ở Hoàn

thiện công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, không bao

gồm các khoản chi từ ngân sách trung ương ủy quyền, kinh phí viện trợ và các

quỹ do tỉnh quản lý

- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng hiệu quả công tác quản lý chi ngân

sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012

- Về không gian: tỉnh Tuyên Quang

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Đề tài góp phần hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn

cơ bản về Hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012

- Đề tài đánh giá được thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012, chỉ ra được những kết quả đã đạt được, những tồn tại hạn chế, nguyên nhân từ đó đề xuất những giải pháp

- Đề xuất được những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước của tỉnh; góp phần sử dụng NSNN có hiệu quả thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Hoàn thiện công tác quản lý

chi NSNN trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng về công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn tỉnh

Tuyên Quang, từ năm 2010 đến năm 2012

Chương 4: Giải pháp Hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN trên địa

bàn tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOÀN THIỆN

CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Cơ sở lý luận về Ngân sách nhà nước

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước (NSNN)

Tại điều 1 Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002,”Ngân sách nhà

nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực

hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (trang số 05 Luật NSNN số

01/2012/QH11)

NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu

các khoản thu và chi của nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng

giá trị tiền tệ; phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào

NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy

động được để thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội NSNN được lập và thực

hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê

chuẩn thông qua

NSNN Việt Nam gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Phù hợp với mô hình tổ chức chính

quyền nhà nước hiện nay, ngân sách địa phương bao gồm: ngân sách cấp tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) ngân sách

cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách xã phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)

Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau (tại trang số 06 Luật NSNN

Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung

là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;

Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp;

Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó; Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối

từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định 3 đến 5 năm Số

bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;

Trang 9

Trong thời kỳ ổn định ngân sách các địa phương được sử dụng nguồn

tăng thu hàng năm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế

- xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời ký ổn định ngân sách, phải tăng khả năng

tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dân số bổ sung từ

ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân

sách cấp trên;

Ngoài việc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy

định tại điểm đ và điểm e khoản 2 Điều này, không được dùng ngân sách của

cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy

định của Chính phủ

1.1.1.2 Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước

a Khái niệm chi NSNN:

Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân

phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy quản

lý Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm

nhận theo những nguyên tắc nhất định

Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ

NSNN Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình

thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng; quá trình sử dụng là quá trình

trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách nhà nước không trải qua

việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng

Tại khoản 2, điều 2 Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002, đã xác định

“Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo

đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ

của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”

Mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, chi NSNN

có những nội dung và cơ cấu khác nhau, song đều có những đặc trưng cơ

bản như sau:

- Chi NSNN luôn gắn chặt với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế chính trị - xã hội mà nhà nước đó đảm nhiệm

- Chi ngân sách nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư

ở các vùng hay phạm vi quốc gia; điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội

b Khái niệm quản lý chi NSNN:

Quản lý chi ngân sách là việc tổ chức quản lý giám sát quá trình phân

phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách

1.1.1.3 Khái niệm quản lý chi đầu tư phát triển

Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng - xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

1.1.1.4 Khái niệm quản lý chi thường xuyên

Chi thường xuyên cuả NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm

vụ của nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng

1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước và vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước

1.1.2.1 Vai trò của NSNN

Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước Trong

Trang 10

nền kinh tế thị trường có sự định hướng XHCN ở nước ta hiện nay thì NSNN

có vai trò chủ yếu sau

Thứ nhất, với chức năng phân phối, NSNN có vai trò huy động nguồn

tài chính để đảm nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu

chi tài chính của Nhà nước

Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy

sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng

NSNN như là công cụ tài chính để kiểm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá

cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiểm ẩn bất ổn về kinh tế - xã hội

Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm

khuyết của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường,

thúc đẩy phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo

phương thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt

trái của nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra bất bình

đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định trong xã hội

Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế

và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã

hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, trong đó chú ý phát triển

cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo cho công bằng xã hội, bảo vệ môi

trường sinh thái

Thứ tư, góp phần ổn định giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh

vực thị trường)

NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội,

an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của

NSNN luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định

Đối với nền kinh tế thị trường, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với

toàn bộ nền kinh tế, xã hội

1.1.2.2 Vai trò của quản lý chi NSNN

Tất cả những khiếm khuyết của cơ chế thị trường đòi hỏi có sự can thiệp của Nhà nước là tất yếu, là một nhu cầu khách quan nhằm khôi phục lai những cân đối và mở đường cho sức sản xuất phát triển

Trong cơ chế điều chỉnh của Nhà nước, bên trong kết cấu của nó, ngoài việc tổ chức một cách khoa học, thì những công cụ tài chính, tiền tệ, kế hoạch, luật pháp được coi là những công cụ điều chỉnh cơ bản và quan trọng NSNN là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều chỉnh vĩ

mô nền kinh tế, xã hội Mục tiêu của NSNN không phải để Nhà nước đạt được lợi nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Ngân sách nhà nước ngoài việc duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động NSNN được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư thấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao túng trên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những hàng hoá mà Chính phủ khuyến dụng Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế

Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá, dịch vụ NSNN cũng được sử dụng như là công cụ đảm bảo sự ổn định giá

cả của thị trường Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những người có thu nhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức giá cao nhất mà người bán được phép đưa ra và mức này thường là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên thị trường để duy trì hiệu lực của giá trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp bằng cách cung phần thiếu của hàng hoá, lượng hàng hoá này được lấy từ quỹ dự trữ của Nhà nước thuộc NSNN, tức là trong khoản chi ngân sách phải có khoản dự phòng này

Trang 11

Trái lại khi Chính phủ muốn bảo hộ cho người sản xuất, muốn hàng

hoá của một ngành nào đó được khuyến khích thì sẽ đặt giá sàn là mức giá

thấp nhất mà người bán được phép đưa ra và mức này thường lớn hơn giá cân

bằng trên thị trường Điều này sẽ dẫn đến sự dư thừa hàng hoá trên thị trường

và khi đó là sự can thiệp của Chính phủ bằng cách mua hết lượng hàng thừa

Khoản tiền sử dụng để thanh toán cho người bán cũng là từ NSNN

Một vai trò được coi là không kém phần quan trọng của NSNN là giải

quyết các vấn đề xã hội: bất công, ô nhiễm môi trường… Chẳng hạn trước

vấn đề công bằng xã hội Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã hội

văn minh và ổn định, Chính phủ thường sử dụng các biện pháp tác động tới

thu nhập để thiết lập lai sự công bằng xã hội Điều chỉnh thu nhập của các

nhóm dân cư khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những người có thu

nhập thấp hoặc hoàn toàn không có thu nhập Một cách khác, Chính phủ có

thể sử dụng biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả

năng tạo thu nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân theo đánh giá thì

đây là biện pháp tích cực nhất, đồng thời làm tăng thu nhập quốc dân; nói

cách khác, nó làm cho một số người dân giàu lên mà không ai nghèo đi;

hoặc qua chính sách thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với người

có thu nhập cao và ngược lại

1.1.3 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước và đặc điểm của quản lý chi ngân

sách nhà nước

1.1.3.1 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước (NSNN)

Trong hệ thống tài chính quốc gia cũng như trong khu vực tài chính NN

nói riêng, NSNN đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo nguồn tài chính cho

sự tồn tại cũng như hoạt động của NN NSNN bao gồm quan hệ tài chính nhất

định trong tổng thể các quan hệ tài chính quốc gia, gồm các quan hệ: quan hệ

tài chính NN với dân sự, quan hệ tài chính NN với các DN thuộc mọi thành

phần kinh tế, quan hệ tài chính NN với các tổ chức xã hội, các quan hệ trên

mang 4 đặc điểm cụ thể:

Thứ nhất, tạo lập và sử dụng NSNN gắn liền quyền lực với việc thực

hiện các chức năng của NN, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các khoản tài chính khác Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chi NSNN mang tính cấp phát “không hoàn trả trực tiếp’’ Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - Xã hội Nhà nước đã sử dụng

để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho NN với tư cách là một chủ thể Các hoạt động thu chi NSNN đều tiến hành theo cơ sở nhất định đó là các luật thuế, chế độ thu chi…do Nhà nước ban hành, đồng thời các hoạt động luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan nhà nước

Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với Nhà nước chứa đựng lợi ích chung

và công, hoạt động thu chi NSNN là thể hiện các mặt KT-XH của nhà nước,

dù dưới hình thức nào thực chất cũng là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa nhà nước và xã hội thể hiện qua các khoản cấp phát từ NSNN cho các mục đích tiêu dùng và đầu tư Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội do đó thể hiện ở phạm vi rộng lớn

Thứ ba, cũng như các quỹ tiền tệ khác NSNN cũng có đặc điểm riêng

của một quỹ tiền tệ, nó tập chung lớn nhất của Nhà nước là nguồn tài chính nên NSNN là giá trị thặng dư của xã hội do đó nó mang đặc điểm khác biệt

Thứ tư, hoạt động thu cho của NSNN được thể hiện theo nguyên tắc

không hoàn lại trực tiếp đối với người có thu nhập cao nhằm mục đích rút ngắn khoản thời gian giữa người giàu và nghèo để công bằng xã hội Bên cạnh đó Nhà nước còn trợ cấp cho gia đình chính sách, thương binh…’’

1.1.3.2 Đặc điểm của quản lý chi Ngân sách nhà nước (NSNN)

Chi NSNN gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước phải đảm đương trong từng thời kỳ

Các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô và mang tính toàn diện của mọi đời sống kinh tế - chính trị - xã hội nghĩa là các

Trang 12

khoản chi của NSNN phải được xem xét một cách toàn diện dựa trên cơ sở

hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra

Các khoản chi NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp

Các khoản chi của NSNN luôn gắn chặt với sự vận động của các phạm

trù gía trị khác nhau như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng,

v.v (các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ)

1.1.4 Các nội dung liên quan đến quản lý chi NSNN

1.1.4.1 Khái niệm về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp và mỗi

cấp đều được phân giao những nhiệm vụ nhất định Để thực hiện những

nhiệm vụ đó, mỗi cấp lại được phân giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự,

kinh tế, hành chính và ngân sách Việc hình thành hệ thống ngân sách nhà

nước gồm nhiều cấp thì việc phân cấp ngân sách nhà nước là một tất yếu

khách quan Bởi vì mỗi cấp ngân sách nhà nước đều có nhiệm vụ thu, chi

mang tính độc lập Trong việc tổ chức quản lý tài chính nhà nước nếu cơ chế

phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thiết lập phù hợp thì tình hình

quản lý tài chính và ngân sách nhà nước sẽ được cải thiện góp phần thúc đẩy

sự phát triển ổn định của nền kinh tế - xã hội

Sự phân giao về ngân sách cho các cấp chính quyền làm nảy sinh khái

niệm về phân cấp quản lý ngân sách Có thể hiểu về phân cấp quản lý ngân

sách nhà nước như sau:

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân định phạm vi trách

nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương tới địa

phương trong quá trình tổ chức tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước phục

vụ cho việc thực thi chức năng nhiệm vụ của nhà nước

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chỉ xảy ra khi ở đó có nhiều cấp

ngân sách, phân cấp ngân sách thể hiện mối quan hệ giữa các cấp chính

quyền địa phương

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của ngân sách nhà nước, từ đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực về quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính quyền

1.1.4.2 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước về cơ bản bao gồm 3 nội dung chủ yếu sau:

Một là, Về quyền lực: Phân cấp ban hành chế độ, chính sách, tiêu

chuẩn, định mức:

Trong quản lý ngân sách nhà nước, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức có vai trò và vị trí hết sức quan trọng Đó không chỉ là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách và kiểm soát chi tiêu, mà còn là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quản lý và điều hành ngân sách của các cấp chính quyền

Thông qua việc phân cấp nhằm làm rõ vấn đề cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền ban hành ra các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, phạm

vi, mức độ của mỗi cấp chính quyền Cơ sở pháp lý này được xây dựng dựa trên hiến pháp hoặc các đạo luật tổ chức hành chính, từ đó định ra hành lang pháp lý cho việc chuyển giao các thẩm quyền gắn với các trách nhiệm tương ứng với quyền lực đã được phân cấp, đảm bảo tính ổn định, tính pháp lý, không gây sự rối loạn trong quản lý ngân sách nhà nước

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố quyết định một số chế độ thu phí gắn với quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nước của chính quyền địa phương và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; việc huy động vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp thành phố Được quyết định chế

độ chi ngân sách phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương Riêng chế độ chi có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp, trước khi quyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực

Trang 13

Hai là, Phân cấp về mặt vật chất, tức là phân cấp về nguồn thu và

nhiệm vụ chi:

Có thể nói đây luôn là vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, gây nhiều

bất đồng nhất trong quá trình xây dựng và triển khai các đề án phân cấp quản

lý ngân sách Sự khó khăn này bắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều

giữa các địa phương, sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

giữa các vùng miền trong cả nước

Ngân sách trung ương hưởng các khoản thu tập trung quan trọng không

gắn trực tiếp với công tác quản lý của địa phương như: Thuế xuất khẩu, thuế

nhập khẩu, thu từ dầu thô…hoặc không đủ căn cứ chính xác để phân chia như:

thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành, đồng thời đảm

bảo nhiệm vụ chi cho các hoạt động có tính chất đảm bảo thực hiện các nhiệm

vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như: Chi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã

hội, chi quốc phòng, an ninh, chi giáo dục, y tế, chi đảm bảo xã hội do Trung

ương quản lý…và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách

Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để đảm bảo chủ động

thực hiện những nhiệm vụ được giao, gắn trực tiếp với công tác quản lý tại

địa phương như: Thuế nhà đất, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất,

thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao…

Nhiệm vụ chi ngân sách địa phương gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh

tế - xã hội, quốc phòng, an ninh do địa phương trực tiếp quản lý Việc đẩy

mạnh phân cấp quản lý ngân sách trong điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ

quản lý ở các vùng, miền khác nhau là động lực quan trọng để khơi dậy các

khả năng của địa phương, xử lý kịp thời các nhiệm vụ của Nhà nước trên

phạm vi từng địa phương

Ngân sách cấp trên thực hiện nhiệm vụ bổ sung ngân sách cho ngân

sách cấp dưới dưới hai hình thức: Bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu

Nội dung phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp được quy định cụ thể tại các điều 30, 31, 32, 33, 34 Luật NSNN năm 2002 Trong đó quy định nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương như sau:

- Chi đầu tư phát triển:

Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phương quản lý;

Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;

Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;

- Chi thường xuyên:

Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý;

Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương); Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam

và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương;

Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật; Thực hiện các chính sách xã hội đối với đối tượng do địa phương quản lý; Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;

Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;

Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư;

Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh;

Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

Ngân sách địa phương được sử dụng nguồn thu hưởng 100%, số thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia và

số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên để cân đối thu, chi ngân sách cấp mình, bảo đảm các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh được giao

Trang 14

- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp

chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp thành phố quyết định Các

khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:

Các khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác ngân sách địa

phương hưởng 100% theo quy định tại Điểm 1.3.1 phần II của Thông tư

59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003;

Các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa

phương phần ngân sách địa phương được hưởng theo quy định tại Điểm 1.1.2

phần II của Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003;

- Số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới ở

địa phương được xác định theo nguyên tắc xác định số chênh lệch giữa số chi

và nguồn thu ngân sách các cấp dưới (thu 100% và phần được hưởng theo tỷ

lệ phần trăm (%) từ các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách chính

quyền địa phương)

Ba là, phân cấp về quản lý chu trình ngân sách, tức là phân công, phân

định trách nhiệm, quyền hạn trong lập, chấp hành và quyết toán NSNN:

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa các

cấp chính quyền nhà nước trong một chu trình ngân sách nhà nước gồm tất cả

các khâu: lập ngân sách, duyệt, thông qua tới chấp hành, quyết toán, thanh tra,

kiểm tra ngân sách Yêu cầu của nội dung này đặt ra là giải quyết mối quan hệ

về mức độ tham gia, điều hành và kiểm soát của các cơ quan quyền lực, cơ

quan quản lý nhà nước và các cơ quan chuyên môn trong từng khâu quản lý

chu trình ngân sách

Hội đồng nhân dân các cấp có quyền hạn, trách nhiệm trong việc quyết

định dự toán ngân sách địa phương; phân bổ ngân sách địa phương; phân bổ

dự toán chi cho các sở, ban, ngành theo từng lĩnh vực cụ thể, quyết định số bổ

sung từ ngân sách cấp mình cho ngân sách cấp dưới, phê chuẩn quyết toán

ngân sách Ngoài ra Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố còn có nhiệm vụ:

+ Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương

+ Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phân ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương

và các khoản thu có phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương

Ngoài ra, việc tổ chức lập ngân sách ở các địa phương được phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định cụ thể cho từng cấp ở địa phương Thảo luận về dự toán với cơ quan tài chính chỉ thực hiện vào năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, các năm tiếp theo chỉ tiến hành khi địa phương có đề nghị

1.1.5 Nội dung cơ bản của công tác quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh bao gồm nhiều nội dung, tuy nhiên để đi sâu phân tích, luận văn chỉ tập trung nêu hai nội dung chủ yếu là quản lý chi xây đầu tư phát triển và quản lý thường xuyên ngân sách địa phương

1.1.5.1 Quản lý chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước

Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng - xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tại khoản 1, điều 33 Luật NSNN quy định chi đầu tư phát triển gồm các khoản chi cơ bản sau:

- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phương quản lý;

- Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;

Chi đầu tư phát triển của NSNN bao gồm nhiều khoản chi với những mục đích khác nhau, có tính chất và đặc điểm khác nhau Để phục vụ cho

Trang 15

công tác quản lý, người ta có thể dựa vào những tiêu thức nhất định để xác

định nội dung chi đầu tư phát triển cụ thể của NSNN

Căn cứ vào mục đích của các khoản chi thì nội dung chi đầu tư phát

triển của NSNN bao gồm:

- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

không có khả năng thu hồi vốn nhằm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã

hội của nền kinh tế quốc dân, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc thực

hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Các công trình kết cấu hạ tầng

kinh tế - xã hội thuộc đối tượng đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư phát triển của

ngân sách nhà nước bao gồm các công trình giao thông; các công trình đê

điều, hồ đập, kênh mương; các công trình bưu chính viễn thông, điện lực cấp

thoát nước; các công trình giáo dục, khoa học, công nghệ, y tế, văn hóa, thể

thao, công sở của cơ quan nhà nước, phúc lợi công cộng, v.v

- Chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài

chính của nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc

lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật

Những khoản chi này nhằm thực hiện vai trò dẫn dắt, điều chỉnh và định hướng

cho sự phát triển của nền kinh tế theo đúng mục tiêu của nhà nước trong từng

thời kỳ, bảo đảm sự phát triển ổn định và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân

- Chi dự trữ nhà nước là khoản chi để mua hàng hóa vật tư dự trữ nhà

nước có tính chiến lược của quốc gia hoặc hàng hóa, vật tư dự trữ nhà nước

mang tính chất chuyên ngành Chỉ dự trữ nhà nước có vai trò đặc biệt quan

trọng để ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân khi nền kinh

tế gặp phải những biến cố bất ngờ như thiên tai, dịch bệnh, địch họa

- Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà

nước như chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình

135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án định canh định cư ở các xã nghèo, dự

án chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử, cách mạng và kháng chiến

- Các khoản chi đầu tư phát triển khác

* Đặc điểm quản lý đầu tư phát triển của NSNN

Chi đầu tư phát triển là khoản chi lớn của ngân sách nhà nước nhưng

không có tính ổn định

- Chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trước hết, chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước nhằm để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất phục vụ và vật tư hàng hóa dự trữ cần thiết của nền kinh tế; đó chính là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đồng thời, chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước còn có

ý nghĩa là vốn mồi để tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút các nguồn vốn trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển các hoạt động kinh

tế - xã hội theo định hướng của nhà nước trong từng thời kỳ Quy mô và tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển trong từng thời kỳ phụ thuộc vào chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước và khả năng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Đối với Việt Nam mặc dù khả năng NSNN còn hạn chế Song nhà nước luôn có sự ưu tiên NSNN chi cho đầu tư phát triển Chi đầu phát triển là một khoản chi lớn của NSNN, có xu hướng ngày càng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng chi NSNN

Tuy vậy, cơ cấu chi đầu tư phát triển của NSNN lại không có tính ổn định giữa các kỳ phát triển kinh tế - xã hội Thứ tự và tỷ trọng ưu tiên chi đầu

tư phát triển của NSNN cho từng nội dung chi, cho từng lĩnh vực kinh tế - xã hội thường có sự thay đổi giữa các thời kỳ Chẳng hạn, sau một thời kỳ ưu tiên tập trung đầu tư vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thì thời kỳ sau sẽ không cần ưu tiên đầu tư nhiều vào lĩnh vực đó nữa, vì hạ tầng giao thông đã tương đối hoàn chỉnh

Xét theo mục đích kinh tế - xã hội và thời hạn tác động thì chi đầu tư phát triển của NSNN mang tính chất chi cho tích lũy

Trang 16

Chi đầu tư phát triển là những khoản chi nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ

thuật, năng lực sản xuất phục vụ, tăng tích lũy tài sản của nền kinh tế quốc

dân Cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất phục vụ được tạo ra thông qua

các khoản chi đầu tư phát triển của NSNN là nền tảng vật chất đảm bảo cho

sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của NSNN là chi cho tích lũy

Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của NSNN luôn gắn liền với

việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước

trong từng thời kỳ

Chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển là nhằm để thực hiện các

mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ Kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước trong từng kỳ có ý nghĩa quyết định

đến mức độ và thứ tự ưu tiên chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển

Chi đầu tư phát triển của NSNN gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

nhằm đảm bảo phục vụ tốt nhất việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã

hội và hiệu quả chi đầu tư phát triển

* Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản:

Những vấn đề chung về quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản

- Nguyên tắc quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân

sách nhà nước

Chi đầu tư xây dựng cơ bản là một khoản chi lớn và chiếm tỷ trọng chủ

yếu trong tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước Sự

vận động của tiền vốn dùng để trang trải chi phí đầu tư xây dựng cơ bản chịu

sự chi phối trực tiếp bởi đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản

Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng gắn liền

với đất xây dựng công trình Mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây

dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi

trường, khí hậu, thời tiết …của nơi đầu tư xây dựng công trình; nơi đầu tư xây

dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác sử dụng Sản

phẩm xây dựng cơ bản chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng Chính vì

vậy, quản lý vốn đầu tư xây dựng các công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình

Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết của nơi đầu tư xây dựng công trình Mục đích đầu tư và các điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết…của nơi đầu tư xây dựng công trình quyết định đến kế hoạch, kiến trúc, quy mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công, …và dự toán chi phí đầu tư của từng hạng mục công trình, vì vậy, quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư

Những đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản có tác động chi phối đến

sự vận động của vốn đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư Chính vì vậy quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản của luật ngân sách nhà nước cần phải có những nguyên tắc, biện pháp và trình tự quản lý và cấp phát vốn riêng dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận động phù hợp với đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản Sau đây là các nguyên tắc quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN + Đúng đối tượng

+ Thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đủ các tài liệu thiết kế và dự toán được duyệt

+ Đúng mục đích, đúng kế hoạch

+ Theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi giá dự toán được duyệt

+ Giám đốc bằng tiền đồng

Trang 17

- Quy trình và thời gian lập, trình, duyệt, giao kế hoạch vốn đầu tư

xây dựng cơ bản hàng năm các dự án đầu tư thuộc vốn NSNN thực hiện

theo Luật NSNN

Bước 1: Hướng dẫn lập và thông báo số kiểm tra

Bước 2: Lập, tổng hợp và trình phê duyệt kế hoạch

Bước 3: Phân bổ, thẩm tra và thông báo kế hoạch

Trên cơ sở quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Thủ tướng

Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp

quyết định dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ dự toán ngân

sách cấp tỉnh và mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp dưới

trước ngày 10 tháng 12 năm trước; báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và

Đầu tư dự toán ngân sách tỉnh và kết quả phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh

đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định Quyết định giao kế hoạch

vốn đầu tư cho từng dự án, công trình đã đủ điều kiện theo quy định, thủ tục

đầu tư thuộc phạm vi quản lý

- Thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư XBCB hàng năm

Căn cứ vào tình hình thực tế đối với các dự án do tỉnh, huyện quản lý,

Sở Tài chính hoặc phòng tài chính kế hoạch huyện thông báo kế hoạch thanh

toán vốn đầu tư cho KBNN cùng cấp để làm căn cứ thanh vốn cho các công

trình, dự án đồng thời gửi cho ngành để theo dõi quản lý

- Cấp phát vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN

Cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN nhằm để

trang trải các chi phí đầu tư và xây dựng các công trình thuộc các dự án đầu tư

sử dụng nguồn vốn NSNN Nhà nước thực hiện quản lý chi phí đầu tư và xây

dựng các công trình thuộc dự án đầu tư thông qua việc ban hành các chế độ

chính sách, các nguyên tắc và phương pháp lập đơn giá, dự toán; các định mức

kinh tế kỹ thuật; định mức chi phí tư vấn đầu tư và xây dựng và suất vốn đầu tư

để xác định tổng mức vốn đầu tư dự án, tổng dự toán và dự toán công trình

Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN bao gồm cấp phát tạm ứng, thu hồi tạm ứng và cấp phát thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành

* Quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản:

Để đánh giá kết quả của quá trình đầu tư, rút kinh nghiệm nhằm tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây dựng; tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN cấp phát đều phải thực hiện quyết toán vốn đầu tư khi kết thúc năm kế hoạch hoặc khi công trình, hạng mục công trình, dự án đầu tư hoàn thành để xác định số vốn đầu tư cấp phát thanh toán trong năm hoặc số vốn đầu tư cấp phát thanh toán cho hạng mục công trình, công trình, dự án kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành

Quyết toán thực hiện vốn đầu tư năm: Kết thúc năm kế hoạch, chủ đầu tư

phải lập bảng đối chiếu số liệu thanh toán vốn đầu tư cho từng dự án về số thanh toán trong năm và số lũy kế số thanh toán từ khởi công đến hết niên độ NSNN gửi Kho bạc nhà nước xác nhận Kho bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm tra đối chiếu, xác nhận số vốn đã cấp phát trong năm và lũy kế từ khởi công đến hết niên độ NSNN cho từng dự án do chủ đầu tư lập Đồng thời chủ đầu tư phải báo cáo thực hiện vốn đầu tư trong năm của từng dự án gửi cấp quyết định đầu tư, Kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính đồng cấp (đối với dự án địa phương quản lý)

Quyết toán vốn đầu tư hoàn thành: Khi hạng mục công trình, tiểu dự

án, dự án thành phần và dự án đầu tư hoàn thành; chủ đầu tư có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi cơ quan thẩm tra và phê duyệt quyết toán, cơ quan cấp trên trực tiếp của chủ đầu tư nếu có, Kho bạc nhà nước Quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư thực hiện hàng năm và tổng mức vốn đã đầu tư thực hiện dự án; phân tích rõ nguồn vốn đầu tư; chi phí đầu tư được phép không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư dự án; giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động hình thành qua đầu tư; giá trị tài sản bàn giao vào sản xuất sử dụng; quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt giá trị tại thời điểm bàn giao đưa dự án vào vận hành để xác định giá trị tài sản mới

Trang 18

tăng và giá trị tài sản bàn giao nếu dự án đầu tư kéo dài trong nhiều năm; xác định

rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, các nhà thầu, cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước,

cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong quá trình đầu tư dự án

Vốn đầu tư được quyết toán giới hạn trong tổng mức đầu tư được cấp

có thẩm quyền phê duyệt hoặc điều chỉnh nếu có và là toàn bộ chi phí hợp

pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng

Chi phí hợp pháp là chi phí được thực hiện trong phạm vi thiết kế- dự toán đã

phê duyệt cả phần điều chỉnh, bổ sung, đúng hợp đồng đã ký kết, phù hợp với

quy định của pháp luật

1.1.5.2 Quản lý chi thường xuyên

Nội dung chi thường xuyên của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa

dạng về hình thức Trong quản lý NSNN ở nước ta hiện nay người ta chủ yếu

phân loại nội dung chi của nó theo một số nhóm lớn như: chi đầu tư phát

triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi viện trợ và chi khác

Chi thường xuyên của NSNN quá trình phân phối, sử dụng nguồn vốn

NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ

của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tu pháp, và một số dịch vụ công công

khác mà Nhà nước phải cung ứng

Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nhiệm vụ thường

xuyên mà nhà nước đảm nhận ngày càng tăng, đã làm phong phú thêm nội

dung chi thường xuyên của NSNN.Tuy vậy, trong công tác quản lý chi người

ta có thể lựa chọn một số cách phân loại các hình thức chi để tập hợp chúng

vào nội dung chi thường xuyên nhanh và thống nhất

* Nếu xét theo lĩnh vực chi:

- Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn - xã: Hoạt động

sự nghiệp văn - xã thuộc phạm vi chi thường xuyên của NSNN bao gồm

nhiều loại hình đơn vị tham gia vào lĩnh lực này như: các đơn vị Giáo dục-

Đào tạo; sự nghiệp y tế; sự nghiệp văn hóa- nghệ thuật; thể dục- thể thao;

thông tấn - báo chí; phát thanh - truyền hình vv một khi các đơn vị đó do nhà nước thành lập và giao nhiệm vụ cho nó hoạt động

- Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: Việc thành lập các đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mỗi ngành và phục vụ chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là hết sức cần thiết Trong điều kiện của nước ta hiện nay, hầu như ngành nào cũng có một số đơn vị sự nghiệp kinh tế do ngành quản lý

- Chi cho các hoạt động quản lý Nhà nước: Khoản chi này phát sinh ở hầu hết các ngành trong nền kinh tế quốc dân Bởi chức năng quản lý toàn diện mọi hoạt động kinh tế - xã hội nên bộ máy quản lý nhà nước đã thiết lập

từ trung ương đến địa phương và mọi thành phần kinh tế

- Chi cho các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác được cấp kinh phí từ NSNN: bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức Chính trị - Đoàn thể - Xã hội như Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ

- Chi cho quốc phòng - An ninh và trật tự an toàn xã hội: Phần lớn số chi NSNN cho Quốc phòng- An Ninh được tính vào cơ cấu chi thường xuyên của NSNN (trừ chi đầu tư XDCB cho các công trình an ninh quốc phòng)

- Chi khác: Ngoài khoản chi lớn đã được sắp sếp vào lĩnh vực trên, còn

có một số khoản chi khác cũng được xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như chi trợ giá theo chính sách của nhà nước, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội, phần chi thường xuyên thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, dự án của nhà nước vv

* Nếu xét theo nội dung kinh tế của các khoản chi thường xuyên

Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp

Đây được coi là nội dung chi quan trọng đầu tiên để có thể có được một trong ba yếu tố đầu vào của bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào muốn tồn tại và hoạt động Thuộc các khoản chi cho con người của khu vực hành chính - sự nghiệp, bao gồm: Tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng,

Trang 19

các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá

nhân Ngoài ra, ở một số đơn vị đặc thù là các trường còn có khoản chi về học

bổng cho học sinh và sinh viên theo chế độ nhà nước đã quy định cho mỗi

loại trường cụ thể và mức học bổng mà mỗi sinh viên được hưởng cũng được

tính trong cơ cấu chi thường xuyên thuộc nhóm mục này

Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn

Hoạt động nghiệp vụ chuyên môn trong các đơn vị hành chính - sự

nghiệp được đảm bảo bằng nguồn kinh phí thường xuyên của NSNN ở mỗi

ngành rất khác nhau Nếu như ở cơ quan Công chứng nhà nước, hoạt động

nghiệp vụ chuyên môn là xác nhận tính hợp lệ, hợp pháp của các loại giấy tờ

cho mỗi tổ chức, cá nhân có nhu cầu; thì ở các đơn vị sự nghiệp Giáo dục -

Đào tạo là hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học; ở các đơn vị

sự nghiệp Y tê lại là hoạt động phòng bệnh , khám bệnh và chữa bệnh;.v.v

Các khoản chi mua sắm, sửa chữa

Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính - sự nghiệp còn được

NSNN cấp kinh phí để mua sắm thêm các tài sản (kể cả tài sản cố định) hay

sửa chữa các tài sản đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho

nhu cầu hoạt động và nâng cao hiệu suất sử dụng của các tài sản đó Các nhà

kinh tế đều khuyến cáo rằng: Nếu biết chi những đồng tiền để đáp ứng ngay

cho các nhu cầu duy tu, bảo dưỡng tài sản trong quá trình sử dụng một cách

đúng lúc, kịp thời thì sẽ góp phần tích cực trong việc kéo dài tuổi thọ của tài

sản, chất lượng phục vụ của tài sản không bị sụt giảm; và vị thế hiệu quả của

vốn đầu tư được nâng cao đáng kể

Các khoản chi khác

Thuộc phạm vi các khoản chi khác nằm trong cơ cấu chi thường xuyên

của NSNN, có thể nói một cách khái quát nhất là những khoản chi có thời hạn

tác động ngắn nhưng chưa được đề cập tới ở 03 nhóm mục trên

Nếu tiếp cận theo góc nhìn từ phía các đơn vị sử dụng ngân sách, thì cơ cấu chi thường xuyên cho các đơn vị này còn thiếu những nội dung thuộc về chi phí chung cho hoạt động của mỗi đơn vị đó

* Đặc điểm chi thường xuyên của NSNN

Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định

khá rõ nét Những chức năng vốn của nhà nước như: Bảo lực, trấn áp và tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội đều đòi hỏi phải được thực thi dù

có sự thay đổi về thể chế chính trị Để đảm bảo cho Nhà nước có thể thực hiện được các chức năng đó, tất yếu phải cung cấp nguồn vốn từ NSNN cho

nó Mặt khác, tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận cụ thể thuộc guồng máy của Nhà nước phải thực hiện Ví dụ: Cho dù nền kinh tế quốc dân đang trong thời kỳ hưng thịnh, hay suy thoái thì những công việc thuộc về quản lý Nhà nước tại mỗi cơ quan chính quyền vẫn cứ phải duy trì đều đặn và đầy đủ; có khác chăng là ở thứ tự ưu tiên trong giải quyết các công việc mà thôi

Thứ hai, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử

dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội Nếu chi đầu tư phát triển nhằm tạo ra các cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai, thì chi thường xuyên lại chủ yếu đáp ứng cho các nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tại

Khi nghiên cứu cơ cấu chi NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát, người ta thường phân loại các khoản chi thành hai nhóm: Chi tích luỹ và chi tiêu dùng Theo tiêu thức này thì đại bộ phận chi các khoản thường xuyên được xếp vào chi tiêu dùng (tiêu dùng chung cho toàn

xã hội) Bởi lẽ, ở trong từng niên độ ngân sách đó các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính; về

Trang 20

quốc phòng, an ninh; về các hoạt động sự nghiệp; các hoạt động xã hội khác

do Nhà nước tổ chức Kết quả các hoạt động trên hầu như không tạo ra của

cải vật chất hoặc không gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất cho xã

hội ở mỗi năm đó Xong điều đó cũng không thể làm mất đi ý nghĩa chiến

lượng của một số khoản chi thường xuyên Và theo đó, người ta có thể coi

nó như là những khoản chi có tính chất tích luỹ đặc biệt Ví dụ: Ngày nay

người ta cho rằng khoản chi cho Giáo dục - Đào tạo, cho Khoa học - công

nghệ là những khoản chi tích luỹ

Thứ ba, phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ

cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung

ứng các hàng hoá công cộng Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà

nước, nên tất yêu quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN luôn phải hướng

vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước đó Nếu một

khi bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường

xuyên cho nó được giảm bớt và ngược lại Hoặc quyết định của Nhà nước trong

việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hoá công cộng cũng sẽ có

ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN

* Chi đầu tư thường xuyên gồm các khoản chi cơ bản sau:

Theo khoản 2, điều điều 33, Luật NSNN quy định chi thường xuyên

gồm các khoản chi như sau:

- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn

hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ,

môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý;

- Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương);

- Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt

Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương;

- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;

- Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý;

- Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý;

- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;

- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật này;

- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh

- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

* Tổ chức quản lý chi thường xuyên

Định mức chi thường xuyên gồm hai loại:

Loại định mức chi tiết theo từng mục chi của Mục lục NSNN (hay còn

gọi là định mức sử dụng): Dựa trên cơ cấu chi của NSNN cho mỗi đơn vị được

hình thành từ các mục chi nào, người ta sẽ tiến hành xây dựng định mức chi cho từng mục đó Do vậy, quy mô, phạm vi và tính chất hoạt động của các đơn

vị khác nhau sẽ có số lượng các định mức chi cho các khoản khác nhau Chính

vì vậy, việc xây dựng loại định mức chi này đòi hỏi phải có một sự phối hợp

chặt chẽ giữa cơ quan chủ quản của mỗi ngành với các cơ quan Tài chính

Loại định mức chi tổng hợp theo từng đối tượng được tính định mức

chi của NSNN (hay còn gọi là định mức phân bổ): Định mức chi tổng hợp

Trang 21

thường được sử dụng nhiều nhất trong quá trình lập dự toán NSNN, nhằm xây

dựng được dự toán ngân sách sơ bộ để giao số kiểm tra và hướng dẫn các

ngành, các đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán kinh phí Định mức chi tổng

hợp đối tượng được phép áp dụng khi xây dự toán ngân sách kỳ kế hoạch

Chính vì thế, người ta gọi những định mức này là định mức phân bổ Định

mức phân bổ được dùng nhiều nhất trong quan hệ giữa các cấp ngân sách với

nhau trong quá trình lập dự toán chi thường xuyên của NSNN Hiện tại giữa

ngân sách trung ương và ngân sách địa phương ở nước ta đang sử dụng các

định mức phân bổ ngân sách cho nhu cầu chi thường xuyên dựa trên tiêu chí

dân số bình quân kỳ kế hoạch

* Yêu cầu đối với Định mức chi thường xuyên của NSNN:

Trong hoạt động thực tiễn cả 2 loại định mức chi (định mức sử dụng và

định mức phân bổ) đã nêu ở trên đều được sử dụng cho công tác quản lý chi

thường xuyên cuả NSNN Tuy nhiên muốn cho định mức trở thành chuẩn

mực để phân bổ kinh phí hay kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng kinh phí và

quyết toán kinh phí chi thường xuyên thì các định mức chi được xây dựng

phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

- Các định mức chi phải được xây dựng một các khoa học Từ việc

phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến

hành một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học xác đáng Nhờ đó mà các định

mức chi đảm bảo được tính phù hợp với mỗi loại hình hoạt động, phù hợp với

từng đơn vị

- Định mức chi phải có tính thực tiễn cao Tức là, nó phải phản ánh

mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động

Chỉ có như vậy thì định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình

quản lý kinh phí chi thường xuyên

- Định mức chi phải đảm bảo tính thống nhất đối với từng khoản chi và đối

với từng đối tượng thụ hưởng NSNN cùng loại hình hoặc cùng loại hoạt động

- Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao

Hai là: Lập dự toán chi thường xuyên

Lập dự toán chi thường xuyên là một bộ phận rất quan trọng của chi NSĐP, khi lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên các căn cứ sau:

- Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động thuộc

bộ máy quản lý Nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, hoạt động quốc phòng -

An ninh và các hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn nhất định Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi thường xuyên của NSNN có một cách nhìn tổng quát về những mục tiêu và nhiệm vụ mà phải hướng tới Trên cơ sở đó mà xác lập các hình thức, các phương pháp phân phối nguồn vốn của NSNN vừa tiết kiệm, vừa đạt hiệu quả cao

- Dựa vào chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi thường xuyên của NSNN kỳ kế hoạch Đây chính là việc cụ thể hoá các chủ trương của Nhà nước trong từng giai đoạn thành các chỉ tiêu cho kỳ kế hoạch Các chỉ tiêu này của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với các định mức chi thường xuyên sẽ là những yếu tố cơ bản để xác lập dự toán chi thường xuyên của NSNN Tuy nhiên, khi dựa trên căn cứ này để xây dựng dự toán chi thường xuyên của NSNN nhất thiết phải thẩm tra, phân tích tính đúng đắn, hiện thực, tính hiệu quả của các chi tiêu thuộc kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó, mà có kiến nghị điều chỉnh lại chi tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp

+ Khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi thường xuyên kỳ kế hoạch Muốn dự đoán được khả năng này, người ta phải dựa vào

cơ cấu thu NSNN kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch Nhờ đó mà thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi thường xuyên của NSNN

+ Các chính sách, chế độ chi thường xuyên của NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch Đây sẽ

là cơ sở pháp lý cho việc tính toán và bảo vệ dự toán chi thường xuyên của NSNN Đồng thời nó cũng tạo điều kiện cho quá trình chấp hành dự toán

Trang 22

không bị rơi vào tình trạng hẫng hụt khi có sự điều chỉnh hoặc thay đổi một

hay một số chính sách, chế độ chi nào đó

+ Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí

thường xuyên kỳ báo cáo sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập dự

toán chi theo phương diện:

Tình phù hợp của các định mức chi hay các chính sách, chế độ chi hiện

hành; trên cơ sở đó mà hoàn chỉnh bổ sung cho kịp thời;

Tính phù hợp của các hình thức cấp phát, phương thức quản lý tài

chính đối với mỗi loại hình đơn vị Từ đó đặt ra vấn đề cần cải tiến các hình

thức cấp phát kinh phí và phương thức quản lý tài chính sao cho tiên tiến hơn;

Xem hướng gia tăng các khoản chi cả về tốc độ và cơ cấu thường diễn

ra như thế nào? Kết quả của các loại hoạt động được đảm bảo bởi nguồn kinh

phí chi thường xuyên của NSNN ra sao?

Có thể nói các thông tin thu thập được từ kết quả phân tích, đánh giá

tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi thường xuyên của NSNN kỳ báo

cao là căn cứ mang tính thực tiễn cao đối với quá trình lập kế hoạch chi

thường xuyên Tuy nhiên, muốn tăng tính chính xác của các chi tiêu dự đoán

cần phải có sự kết hợp với nhiều tham số khác nữa Chính vì vậy, việc sử

dụng và tôn trọng tất cả các căn cứ là yêu cầu không thể lơ là khi xây dựng dự

toán chi thường xuyên của NSNN kỳ kế hoạch

*Trình tự lập dự toán: Quá trình lập dự toán chi thường xuyên của

NSNN được tiến hành theo các bước sau:

- Căn cứ vào Quyết định của Thủ tướng chính phủ, Bộ Tài chính hướng

dẫn yêu cầu về nội dung, thời hạn lập dự toán NSNN; thông báo số kiểm tra

dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các bộ, cơ

quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan khác của Trung ương và

tổng số thu, chi một số lĩnh vực quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hướng

dẫn của Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách các cấp ở địa phương

- Dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, các đơn vị dự toán cơ sở tiến hành lập dự toán kinh phí của mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan Tài chính

- Căn cứ vào dự toán chi thường xuyên đã được cơ quan quyền lực nhà nước đồng cấp thông qua và được sự chấp thuận của của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; cơ quan Tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ đề nghị cơ quan quyền lực Nhà nước đồng cấp chính thức phân bổ và

dự toán chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị Theo luật NSNN số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Quốc hội khóa XI, thì Quốc hội phải phân bổ dự toán ngân sách trung ương; Hội đồng nhân dân các cấp phải phân bổ dự toán ngân sách cấp mình

Ba là: Chấp hành dự toán chi thường xuyên

Căn cứ tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên

Chấp hành dự toán chi thường xuyên là một trong những nội dung quan trọng của chấp hành dự toán chi NSNN - khâu thứ hai của chu trình quản lý NSNN Thời gian tổ chức chấp hành NSNN ở nước ta được tính thừ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương dịch Trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cần dựa trên những căn cứ sau:

Thứ nhất, dựa vào mức chi của từng chỉ tiêu (hoặc tổng mức chi nếu là

kinh phí đã nhận khoán) đã được duyệt trong dự toán Có thể nói đây là căn

cứ mang tính quyết định nhất trong chấp hành dự toán chi thường xuyên của NSNN Bởi lẽ, hầu hết nhu cầu chi thường xuyên đã có định mức, tiêu chuẩn,

đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý NSNN ngày càng được hoàn thiện Do đó chi tiêu của NSNN nói chung, chi

Trang 23

thường xuyên nói riêng ngày càng được luật hoá Nhờ đó mà kỷ cương trong

công tác quản lý chi NSNN ngày càng được củng cố

Thứ hai, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể danh cho nhu cầu chi

thường xuyên trong mỗi kỳ báo cáo Trong quản lý và điều hành hoạt động

của NSNN ta luôn phải tuân theo quan điểm “lương thu mà chi” Riêng chi

thường xuyên của NSNN luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động các khoản

thu thường xuyên Do vậy, mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghi

trong dự toán nhưng một khi số thu thường xuyên không đảm bảo vẫn phải

cắt giảm một phần nhu cầu chi Đây cũng là một trong những giải pháp thiết

lập lại sự cân đối giữa thu và chi NSNN trong quá trình chấp hành dự toán

Thứ ba, dự vào các chính sách, chế độ chi NSNN hiện hành Đây là căn

cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức chấp hành dự toán chi NSNN, Bởi

lẽ, tính hợp lệ, hợp lý của các khoản chi của NSNN sẽ được phán xét dựa trên

cơ sở các chính sách, chế độ chi của Nhà nước hiện đang có hiệu lực thi hành

Tuy nhiên, muốn làm được điều đó, đòi hỏi các chính sách, chế độ chi của

NSNN phải phù hợp với thực tiễn Trong điều kiện nước ta hiện nay để cho

chính sách , chế độ chi NSNN thực sự trở thành căn cứ pháp lý trong quá

trình chấp hành chi NSNN thì đòi hỏi bản thân chính sách, chế độ đó phải

không ngừng được hoàn thiện để vừa đáp ứng được các yêu cầu của quản lý

NSNN lại vừa nâng cao tính thực tiễn của nó

Yêu cầu cơ bản trong tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên

Chấp hành dự toán chi thường xuyên, là một trong những nội dung

quan trọng của chấp hành dự toán chi NSNN, là khâu thứ hai của chu trình

quản lý NSNN; để đạt được mục tiêu cơ bản đó, trong quá trình tổ chức chấp

hành dự toán chi thường xuyên của NSNN cần trú trọng đến các yêu cầu sau:

- Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập trung có trọng

điểm trên cơ sở dự toán chi đã xác định

- Phải đảm bảo việc cấp phát vốn, kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽ tránh mọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn NSNN

- Trong quá trình sử dụng các khoản vốn, kinh phí do NSNN cấp phát phải hết sức tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗi khoản chi đó

Bốn là, Quyết toán chi thường xuyên

Công tác quyết toán các khoản chi thường xuyên của NSNN là công việc cuối cùng trong mỗi chu trình quản lý các khoản chi thường xuyên nói riêng và chi NSNN nói chung Nó chính là quá trình nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp sau Bởi vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi thường xuyên phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:

+ Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo đó cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã quy định + Số liệu trong các báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được phê duyệt và theo đúng mục lục NSNN đã quy định

+ Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp và của ngân sách các cấp chính quyền trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn phải có xác nhận của Kho bạc nhà nước đồng cấp

+ Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm theo dõi các khoản chi thường xuyên của NSNN mới được tiến hành thuận lợi Đồng thời, nó tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích, đánh giá quá trình dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan

Trang 24

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước

Chế độ xã hội quyết định đến bản chất, nhiệm vụ kinh tế - xã hội của

Nhà nước trong khi đó Nhà nước lại là chủ thể của chi NSNN Vì vậy nội

dung cơ cấu chi ngân sách nhà nước chịu sự ràng buộc của chế độ xã hội

Sự phát triển của lực lượng sản xuất: khi sản xuất phát triển kéo theo

nhu cầu vốn để phát triển kinh tế tăng lên, khi đó nhà nước với vai trò quản lý

vĩ mô nền kinh tế phải có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu đó Khả năng tích lũy

nền kinh tế càng lớn thì khả năng chi đầu tư phát triển càng cao

Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, mỗi mô hình tổ chức bộ máy nhà

nước khác nhau thì nhu cầu chi tiêu nhằm duy trì quyền lực chính trị của bộ

máy đó cũng khác nhau Nhìn chung nhà nước càng có bộ máy quản lý nhẹ

thì càng tiết kiệm được các khoản chi tiêu nhằm duy trì bộ máy đó

Như vậy các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, điều hành

NSNN có thể hiểu như sau:

* Các nhân tố chủ quan:

Thứ nhất, Về hệ thống văn bản của nhà nước:

Quá trình điều hành ngân sách nhà nước các cấp từ khâu lập dự toán,

phân bổ ngân sách, điều hành ngân sách nhà nước đều bị chi phối hệ thống

các văn bản của Nhà nước như Luật ngân sách nhà nước; các nghị định của

Chính Phủ; thông tư hướng dẫn của bộ ngành liên quan và văn bản quy phạm

pháp luật địa phương ban hành theo Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp

luật 2004 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và Luật ngân sách nhà

nước quy định rõ nhiệm vụ, chức năng của từng cấp ngân sách; từng loại hình

cơ quan đơn vị; các nguyên tắc, tiêu chí xây dựng và phân bổ dự toán ngân

sách nhà nước ngắn hạn và dài hạn

Các văn bản quy phạm pháp luật và Luật ngân sách nhà nước điều

chỉnh tất các mối quan hệ, các cơ quan đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước,

do vậy hệ thống văn bản của nhà nước ban hành phải đảm bảo tính chuẩn mực

có tính pháp lý cao, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, vùng miền trên phạm vi cả nước có như vậy, Luật, các văn bản dưới luật mới đi vào cuộc sống của nhân dân

Do vậy việc đòi hỏi nhà nước phải ban hành các văn bản về quản lý chi ngân sách nhà nước cần phải khảo sát kỹ các đối tượng bị tác động bởi chính sách, đánh giá tính khả thi của chính sách vv thì việc ban hành chính sách của nhà nước mới đạt được kết quả

Thứ hai, Về tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý Ngân sách Nhà nước

Bộ máy quản lý và điều hành thu chi ngân sách Nhà nước rất quan trọng nó quyết định đến việc quản lý ngân sách nhà nước có hiệu quả hay không, thì nhân tố bộ máy, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thu - chi ngân sách nhà nước các cấp

Hiện nay theo chức năng nhiệm được giao như cơ quan Tài chính các cấp; cơ quan Thuế các cấp; Kho Bạc Nhà nước là những cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu cho UBND các cấp trong việc quản lý, điều hành các hoạt động thu chi của ngân sách, ngoài ra còn một số cơ quan khác có liên quan

* Các nhân tố khách quan:

Về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Công tác quản lý thu - chi ngân

sách địa phương cũng bị chịu ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, khi trình độ kinh tế xã hội phát triển thì nguồn lực đóng góp cho xã hội ngày càng tăng, thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng lên, thu ngân sách nhà nước sẽ tăng, và các tệ nạn xã hội giảm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên; việc cân đối, bố trí ngân sách nhà nước cho việc đảm bảo an sinh xã hội sẽ giảm, ý thức tuân thủ pháp luật và các chế độ chính sách của nhà nước được nâng lên, năng lực tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách

nhà nước sẽ có hiệu quả hơn

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm của các địa phương

1.2.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Nguyên

Trang 25

Công tác quản lý chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái nguyên, trong

thời gian vừa qua cũng đã đạt được một số kết quả như sau;

Quản lý, điều hành thu - chi ngân sách đảm bảo theo quy định của Luật

Ngân sách nhà nước và các văn bản hiện hành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của tỉnh

Hàng năm lập và giao dự toán ngân sách đảm bảo theo quy định, ngay

từ đầu năm giao đầy đủ dự toán cho các cấp ngân sách, để tạo điều kiện cho

các cấp ngân sách chủ động điều hành phân bổ, sử dụng các nguồn lực để

thực hiện các nhiệm vụ chi đã được phân cấp, đảm bảo theo quy định Đối với

sự nghiệp giáo dục - Đào tạo và sự nghiệp khoa học công nghệ được tỉnh

quan tâm giao dự toán không thấp hơn mức Trung ương giao

Hệ thống chế độ định mức phân bổ ngân sách, được ban hành thực hiện

kịp thời, thuận lợi cho việc triển khai thực hiện, hạn chế được việc xin cho

Sau khi giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cũng đã chủ động lập dự

toán chi tiết, được cơ quan tài chính phê duyệt Căn cứ vào đó Kho bạc Nhà

nước kiểm soát chi, cấp phát kinh phí cho các đơn vị thụ hưởng ngân sách,

kịp thời đảm bảo theo quy định

Việc quản lý, điều hành ngân sách được thực hiện theo Luật ngân sách

nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật ngân sách nhà nước và chủ

trương, biện pháp điều hành dự toán chi ngân sách hàng năm chue Chính phue

và các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính; việc quản lý điều hành, dự phòng

ngân sách các cấp thuộc dự toán ngân sách năm được thực hiện đúng quy định

như: phục vụ các nhu cầu cấp bách của địa phương như thiên tai, dịch bệnh, an

sinh xã hội, v v và các nhiệm vụ đột xuất khác phát sinh ngoài dự toán

Đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tự chủ, tự chịu trách

nhiệm cũng được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh

phí quản lý hành chính theo Nghi định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số

130/2005/NĐ-CP của Chính phủ, tạo sự chủ động cho đơn vị sử dụng ngân

sách, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của đơn vị trong việc sử dụng tiền và tài sản của nhà nước

Công tác quyết toán và tổng hợp quyết toán ngân sách địa phương đều được thực hiện nghiêm túc về thời gian theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước Số liệu quyết toán đều được cơ quan Tài chính các cấp kiểm tra, thẩm định theo quy định Hàng năm công khai dự toán, quyết toán đảm bảo theo quy định của luật ngân sách nhà nước

Công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc quản lý, sử dụng tiền và tài sản của ngân sách nhà nước, đảm bảo tiết hiện hiệu quả

Quá trình quản lý chi ngân sách của tỉnh Thái Nguyên vẫn còn một số nội dung tồn tại, yếu kém như sau:

Việc xây dựng hệ thống định mức phân bổ dự toán cho thời kỳ ổn định ngân sách, giai đoạn 2011-2015, còn có nội dung chưa phù hợp với thực tiễn Việc sử dụng dự phòng ngân sách có lúc chưa đảm bảo theo quy định của Luật ngân sách, một số nội dung chi chưa thực sự cấp bách như xây dựng trụ sở, mua sắm v v v

Hệ thống ngân sách hiện nay còn mang tính lồng ghép, giữa ngân sách các cấp dẫn đến trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp ngân sách làm cho quy trình ngân sách phức tạp kéo dài Việc quyết toán ngân sách ở mỗi cấp ngân sách bị lệ thuộc vào cấp dưới; việc quyết định dự toán ở cấp dưới mang tính hình thức vì còn phụ thuộc vào quyết định giao dự toán của ngân sách cấp trên

1.2.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Giang

Công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước trên đị bàn tỉnh Hà Giang thời gian qua được thực hiện đảm bảo theo Luật Ngân sách nhà nước

và các văn bản hướng dẫn thực hiện luật ngân sách nhà nước

Hàng năm công tác lập dự toán, phân bổ ngân sách được thực hiện đúng trình tự quy định; dự toán chi ngân sách các cấp, các ngành, các đơn vị

Trang 26

dự toán được xây dựng chi tiết và phân bổ theo đúng định mức quy định, sát

với nhiệm vụ phù hợp với khả năng cân đối ngân sách địa phương đảm bảo

công bằng, tiết kiệm và hiệu quả Việc điều hành, phân bổ ngân sách được

thực hiện hướng dẫn của Bộ tài chính về phân bổ dự toán ưu tiên chi ngân

sách cho sự nghiệp khoa học và sự nghiệp giáo dục - đào tạo trên địa bàn tỉnh

Công tác điều hành ngân sách được thực hiện đảm bảo theo quy định của

Luật Ngân sách nhà nước, đặc biệt trong 2011, 2012 thực hiện sự chỉ đạo của

Thủ tướng Chính phủ về Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính

phủ trong việc rà soát, sắp sếp điều chuyển vốn, cắt giảm đầu tư công và tiết

kiệm thêm 10% chi thường xuyên bước đầu cũng đã đạt được một số kết quả

nhất định như thực hiện các biện pháp hỗ trợ sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội

Công tác quyết toán và tổng hợp quyết toán ngân sách địa phương đều

được thực hiện nghiêm túc về thời gian theo quy định của Luật ngân sách Nhà

nước Số liệu quyết toán đều được cơ quan Tài chính các cấp kiểm tra, thẩm

định theo quy định Hàng năm công khai dự toán, quyết toán đảm bảo theo

quy định của luật ngân sách nhà nước

Ngoài những kết quả đã đạt được công tác quản lý chi ngân sách của

tỉnh Hà Giang cũng còn những khó khăn, hạn chế nhất định đó là:

Việc xác định các tiêu chí để xây dựng hệ thống định mức chưa phù hợp

với tình hình thực tiễn tại cơ sở, như tiếu chí về diện tích đất tự nhiên, tiêu trí về

trình độ phát triển v v vv Việc tính thang điểm chưa sát với vùng, miền vì vậy

định mức được phân phổ còn thấp chưa phù hợp với thực tiễn tại địa phương

Chi ngân sách chi lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, chưa

tập trung, hiệu quả của một số dự án còn thấp

Hệ thống ngân sách hiện nay còn mang tính lồng ghép, giữa ngân sách

các cấp dẫn đến trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các

cấp ngân sách làm cho quy trình ngân sách phức tạp kéo dài

Đối với chương trình 135, chương trình mục tiêu Trung ương giao

muộn cho tỉnh dẫn đến trong quá trình tổ chức hiện còn khó khăn

1.2.1.3 Kinh nghiệm của tỉnh Yên Bái

Việc quản lý chi ngân sách nhà nước hàng năm trên địa bàn tỉnh Yên Bái được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sach nhà nước và các văn bản của hướng dẫn của Trung ương cũng như địa phương về một số biện pháp điều hành chi ngân sách nhà nước hàng năm Qua quá trình quản lý đã đạt được một số kết quả như sau:

Thời kỳ ổn định ngân sách, giai đoạn 2011-2015, Ủy ban nhân dân tỉnh

đã kịp thời trình Hội đồng nhân dân tỉnh đề ban hành Nghị quyết về định mức phân bổ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Yên bái cho giai đoạn 2011-2015 Việc giao dự toán ngân sách hàng năm được thực hiện theo đúng quy định của Luật ngân sách nhà nước, ngay từ đầu năm tỉnh đã phân bổ, giao dự toán ngân sách cho các huyện, thành phố đề chủ động điều hành ngân sách đảm bảo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn

Việc thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hàng năm bảo bảo theo dự toán được giao và một số chế độ và nhiệm vụ phát sinh trong năm, quá trình thực hiện đảm bảo theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, một số sự nghiệp chi tăng cao so với dự toán giao như: như chi an ninh quốc phòng, tăng 70,1%; đảm bảo xã xội tăng 40,4%; chi sự nghiệp y tế tăng 29,9%; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo tăng 24,1% Về tổng chi thường xuyên bình quân hàng năm tăng khoảng từ 20 đến 38%/năm, do một số chính sách và các chương trình mực tiêu không có tính chất xây dựng cơ bản trong năm mới được giao bổ sung; đồng thời quá trình điều hành ngân sách thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ như Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ trong việc rà soát, sắp sếp điều chuyển vốn, cắt giảm đầu tư công và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên bước đầu cũng đã đạt được một số kết quả nhất định như thực hiện các biện pháp hỗ trợ sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội

Việc lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm được Kho bạc nhà nước kiểm soát, đối chiếu chi tiết đảm bảo theo dự toán được duyệt

và đúng chế độ, chính sách, Báo cáo Quyết toán của đơn vị được Kho bạc nhà nước xác nhận và được ngành tổng hợp quyết toán ngân sách địa phương đảm

Trang 27

bảo theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước Số liệu quyết toán đều được

cơ quan Tài chính các cấp kiểm tra, thẩm định theo quy định Hàng năm công

khai dự toán, quyết toán đảm bảo theo quy định của luật ngân sách nhà nước

Quá trình thực hiện còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cụ thể như sau:

Việc xây dựng hệ thống định mức phân bổ dự toán cho thời kỳ ổn định

ngân sách, giai đoạn 2011-2015, trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định,

định mức phân bổ dự toán, còn có nội dung chưa sát với thực tiễn, như tiêu

chí về trình độ phát triển, tiêu chí về diện tích đất tự nhiên v v.v

Quá trình điều hành ngân sách, do một số chế độ chính sách chờ văn

bản hướng dẫn của cấp trên nên chậm được thực hiện, chưa đáp ứng được yêu

cầu nhiệm vụ của các cấp ngân sách

Việc phê chuẩn quyết toán ngân sách cấp trên còn phụ thuộc vào

việc phê chuẩn quyết toán ngân sách cấp dưới, theo quy định của Luật

Ngân sách nhà nước quy định cơ quan Tài chính cấp trên phải nắm và giải

trình được những vấn đề có liên quan đến quyết toán ngân sách cấp dưới

là chưa hợp lý

1.2.2 Bài học rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương trên

1.2.2.1 Bài học thành công

Thứ nhất, Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm

(%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, thành phố

và ngân sách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh áp dụng cho thời kỳ ổn

định ngân sách địa phương từ 3 đến 5 năm đã tạo điều kiện cho địa phương

chủ động hơn trong việc xác định nguồn thu, nhiệm vụ chi và phân bổ, sử

dụng các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ chi đã được phân cấp; hạn chế

được việc trông chờ ỷ lại hay phụ thuộc vào ngân sách cấp trên

Thứ hai, Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đã khuyến khích các

đia phương phấn đấu tăng thu ngân sách để có nguồn lực để chủ động thực hiện

một số nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cũng như một số nhiệm

vụ phát sinh khác Đồng thời góp phần tăng cường trách nhiệm của chính

quyền địa phương các cấp trong việc quản lý, sử dụng, điều hành ngân sách Việc quy định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi và thẩm quyền ban hành chế độ, chính sách, định mức phân bổ ngân sách đã góp phần xóa bỏ tình trạng các địa phương quy định các khoản thu - chi trái với quy định của pháp luật

Thứ ba, công tác xây dưng hệ thống định mức chi, lập và và bổ dự toán,

quyết toán ngân sách nhà nước hàng được thực hiện bảo bảo theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dân thực hiện Luật ngân sách nhà nước

Thứ tư, Quá trình điều hành ngân sách nhà nước các cấp chủ động, linh

hoạt xử lý các nhiệm vụ phát sinh thuộc ngân sách các cấp; các chương trình

dự án để khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển cũng được cân đối nguồn kinh phí thực hiện kịp thời, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra

Thứ năm, công tác kiểm tra, kiểm soát được tăng cường đã có tác dụng

tích cực trong việc nâng cao trách nhiệm của người đúng đầu ngân sách các cấp và các đơn vị dự toán

1.2.2.2 Bài học chưa thành công

Thứ nhất, việc thực hiện định mức phân bổ theo thời kỳ ổn định ngân

sách từ 3 đến 5 năm cũng làm hạn chế nguồn lực của các tỉnh do các tỉnh tăng thu thì được tăng chi trong thời kỳ ổn định ngân sách song qua mỗi thời kỳ ổn định ngân sách thì tỷ lệ điều tiết về Trung ương buộc phải tăng lên

Thứ hai, theo Luật NSNN quy định HĐND cấp tỉnh được quyết định

một số chế độ chi, chính sách, phí, lệ phí nhưng trên thực tế theo quy định HĐND họp mỗi năm 02 kỳ, trừ trường hợp đặc biệt có kỳ họp đột xuất Vì vậy một số chế độ chi đã được Trung ương ban hành khung hoặc giới hạn ở mức tối đa, tối thiểu, còn mức cụ thể do HĐND quyết định để phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương; nhưng quá trình thực hiện nhiều chế độ, chính sách, mức thu các loại phí, lệ phí ở địa phương cần được thực hiện ngay nhưng chưa có văn bản hướng dẫn của trung ương hoặc khi trung ương có văn

Trang 28

bản hướng dẫn thì HĐND tỉnh chưa đến kỳ họp vì vậy UBND tỉnh cũng

không tổ chức thực hiện được chính sách một cách kịp thời

Thứ ba, Việc quản lý chi NSNN đối với lĩnh vực đầu tư phát triển còn

hạn chế, quá trình phân bổ vốn còn mang tính dàn trải, dẫn đến tiến độ thực

hiện dự án kéo dài, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao thể hiện rõ nhất ở khâu kế

hoạch phân bổ vốn đầu năm, nhiều dự án phải kéo dài hơn so với quy định

của nhà nước, đặc biết các dự án nhóm B và nhóm C

Chương 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề tài chính là việc phải trả lời những câu hỏi sau:

a Cơ sở khoa học của việc quản lý chi ngân sách nói chung và chi ngân sách tỉnh nói riêng là gì?

b Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách tỉnh Tuyên Quang trong những năm vừa qua như thế nào?

c Để Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới cần phải căn cứ vào những định hướng gì? và thực hiện những giải pháp nào?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

Bản thân là người đang công tác tại Ban Kinh tế và Ngân sách, HĐND tỉnh Tuyên Quang, với những kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình trong thời gian công tác ở đây nên tôi quyết định chọn điểm nghiên cứu cho Luận văn của mình ở tỉnh Tuyên Quang (Giai đoạn nghiên cứu 2010-2012)

Đề tài lựa chọn điều tra, phỏng vấn cán bộ làm việc tại Phòng Tài chính

- Kế hoạch thuộc 7 huyện, thành phố và các đợ vị dự toán đại diện cho vùng cao, vùng sâu vùng xa, vùng thấp, vùng thành phố trên phạm vi toàn tỉnh Tuyên Quang

Vùng cao, vùng sâu, vùng xa: gồm các huyện Lâm Bình, Na Hang Vùng thấp: gồm các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên, Sơn Dương, Yên Sơn Vùng thành phố: gồm thành phố Tuyên Quang

Trang 29

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Thông tin, các số liệu, tài liệu thứ cấp là những tài liệu được công bố

chính thức của các cơ quan nhà nước; các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội

của UBND tỉnh, Báo cáo Quyết toán ngân sách từ năm 2010 đến năm 2012

của UBND tỉnh trình tại các kỳ họp HĐND tỉnh

+ Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết Đại hội; các quy

hoạch, kế hoạch của tỉnh đã được phê duyệt công bố; các chương trình nghiên

cứu đã được xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã được công bố của các cơ

quan nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước

+ Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế xã hôi, kinh tế

của các ngành sản xuất thu thập từ UBND tỉnh Tuyên Quang; Sở Tài chính;

Sở Kế hoạch và đầu tư; Cục Thống kê tỉnh, phòng Tài chính các huyện, thành

phố; Niêm giám thống kê tỉnh Tuyên Quang và các đơn vị có liên quan

Ngoài ra còn có các số liệu thu thập từ các tạp chí, sách báo, internet và số

liệu trên các phương tiên thông tin đại chúng

Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho

công tác nghiên cứu, Luận văn cũng kế thừa có chọn lọc các công trình

nghiên cứu có liên quan đã được công bố của một số tác giả về quản lý chi

NSNN ở một số địa phương trong nước để rút ra kinh nghiệm và kết luận bổ

ích trong việc hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN

2.2.2.2 Phương pháp thu thấp số liệu sơ cấp

Thu thập thông tin sơ cấp bằng phiếu phỏng vấn Là số liệu chưa được

công bố, tính toán chính thức, nó phản ánh hiệu quả công tác quản tác quản lý

chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh, các nhân tố ảnh hưởng và các vấn

đề khác có liên quan

Để thu thập được số liệu sơ cấp tác giả sử dụng phương pháp phỏng

vấn thực tế Đây là phương pháp quan trọng để đánh giá thực trạng công tác

quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý quản lý chi NSNN

Đối tượng phỏng vấn trực tiếp là cán bộ thuộc các cơ quan quản lý ngân sách nhà nước như cán bộ phòng Tài chính các huyện, thành phố, các đơn vị dự toán, kế toán các đơn vị

Để thu thập số liệu tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 35 cán bộ thuộc 7 phòng Tài chính các huyện, thành phố và 65 các đơn vị dự toán (kế toán các đơn vị) theo mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước, qua đó thấy được hiệu quả công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

sử dụng phương pháp đơn giản là lấy mẫu ngẫu nhiên

Bảng 2.1 Phân phối tần số người trả lời

Mẫu điều tra

Số người đăng ký trả lời (N)

Trang 30

n1+n2= 100

- Nội dung phiếu điều tra: Được trình bày cụ thể ở phần phụ lục

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

* Phương pháp so sánh:

Là phương pháp chủ yếu được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác

định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy để tiến hành

so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau: xác định số gốc để so sánh;

xác định điều kiện so sánh; xác định mục tiêu so sánh Mục tiêu so sánh trong

phân tích kinh tế là xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương

đối theo xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích Sử dụng phương pháp so

sánh thông qua các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ

phát triển từ đó đưa ra các kết luận có căn cứ khoa học

- So sánh là việc đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội

đã được lượng hóa có cùng một nội dung, tính chất tương tự nhau

- Biểu hiện bằng số: có thể tính theo giá trị tuyệt đối, số lần hay phần

+ So sánh các yếu tố, hiện tượng cá biệt với trung bình hay tiên tiến

+ So sánh các đơn vị thuộc các vùng khác nhau

Sử dụng phương pháp so sánh thống kê trong nghiên cứu đề tài để so

sánh kết quả hoạt động thu chi ngân sách nhà nước giữa các năm, các thời kỳ

hoặc cơ cấu các loại thu, chi ngân sách trong tổng số

* Phương pháp phân tích thống kê:

Phân tích thống kê là xác định mức độ nêu lên sự biến động biểu hiện

tính chất và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ hiện tượng Phân tích thống kê phải lấy con số thống kê làm tư liệu, lấy các phương pháp thống kê làm công

cụ nghiên cứu

Có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý kinh tế Nhờ có lý luận

và phương pháp phong phú mà thống kê có thể vạch ra nguyên nhân của việc hoàn thành kế hoạch và các quyết định quản lý

2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng hệ thống thông tin nghiên cứu chủ yếu sau: Nhóm chỉ tiêu phản ánh hoạt động chi ngân sách địa phương

- Tốc độ và trọng chi NSĐP với GDP (%)

- Cơ cấu và tỷ trọng chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên NSĐP (%)

- Chỉ tiêu về công tác xây dựng tiêu chí, định mức chi ngân sách ngân sách trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

- Chỉ tiêu về công tác lập, phân bổ dự toán, quyết toán NSNN hảng năm

Trang 31

Chương 3

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG

3.1 Đặc điểm tình hình cơ bản của tỉnh Tuyên Quang

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Tuyên Quang là tỉnh miền núi nằm ở vùng Đông Bắc

nước ta, cách Hà Nội khoảng 160 km về Phía Bắc, Phía Bắc và Tây Bắc giáp

tỉnh Hà Giang và Cao Bằng, Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, Phía

Đông giáp tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên, Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái

Tỉnh Tuyên Quang nằm ở trung tâm lưu vực sông Lô, sông Gâm có

tổng diện tích tự nhiên là 587.038,5 ha, bằng 1,78% tổng diện tích cả nước,

trong đó có 70 % diện tích là đồi núi

Về hành chính, tỉnh có 6 huyện (Na Hang, Chiêm Hoá, Lâm Bình, Hàm

Yên, Yên Sơn, Sơn Dương) và 1 thành phố (Tuyên Quang) với 129 xã, 7

phường và 5 thị trấn

- Địa hình- địa mạo: Địa hình của Tuyên Quang khá phức tạp, bị chia

cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, đặc biệt ở phía Bắc tỉnh Ở Phía Nam

tỉnh, địa hình thấp dần, ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và thung lũng chạy

dọc theo các sông Tỉnh Tuyên Quang có 5 kiểu địa hình như: Kiểu địa hình

núi trung bình (độ cao từ 700- 1.500 m, Kiểu địa hình núi thấp (độ cao từ 300-

700 m, Kiểu địa hình đồi thấp (độ cao thấp hơn 300 m), Kiểu địa hình karst,

Kiểu địa hình thung lũng

- Đặc điểm khí hậu: Khí hậu Tuyên Quang được chi thành 4 mùa rõ rệt:

Xuân, Hạ, Thu, Đông; trong đó mùa Đông khô, lạnh và mùa Hạ nóng, ẩm,

mưa nhiều

Do ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên Tuyên Quang có hai vùng khí hậu với nhiều nét riêng biệt: vùng phía Bắc có mùa đông kéo dài, nhiệt độ thấp, mùa hè mưa nhiều hơn; vùng phía Nam khí hậu đa dạng hơn, mùa đông ngắn hơn, mùa hè nóng hơn và thường có mưa dông Mưa dông với cường độ lớn thường gây ra những trận lụt kéo dài nhiều ngày, đôi khi cả lũ quét, gây nhiều tổn thất cho nhân dân địa phương Các hiện tượng thời tiết khí hậu đặc biệt tuy ít xảy ra nhưng những tác động của nó cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và cuộc sống của nhân dân trong tỉnh

- Tài nguyên đất: Với tổng diện tích tự nhiên là 587.038,5 ha, tỉnh

Tuyên Quang có quy mô diện tích ở mức trung bình so với các tỉnh khác trong toàn quốc Đất Tuyên Quang được chia thành 7 nhóm và 17 loại chính: Nhóm đất phù sa, Nhóm đất dốc tụ, Nhóm đất bạc màu, Nhóm đất đen, Nhóm

đất đỏ vàng, Nhóm đất vàng đỏ, Nhóm đất vàng đỏ tích mùn

Nhìn chung tài nguyên đất tỉnh Tuyên Quang khá đa dạng về nhóm và loại, đã tạo ra nhiều tiểu vùng sinh thái nông- lâm nghiệp thích hợp với nhiều loại cây trồng

- Tài nguyên nước: Tuyên Quang là tỉnh có nguồn tài nguyên nước mặt

phong phú, đủ khả năng cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của địa phương Mạng lưới sông ngòi của tỉnh rất dày, có tiềm năng lớn về thuỷ điện Tuy nhiên do độ dốc dòng chảy lớn, lòng sông hẹp nên vào mùa mưa, sông

suối ở Tuyên Quang hay gây lũ lụt cho các vùng thấp

Tài nguyên nước mặt lớn, đáp ứng đủ nhu cầu cấp nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và có tiềm năng về thuỷ điện Tài nguyên nước dưới đất khá dồi dào, chất lượng nước tốt, đáp ứng tiêu chuẩn làm nguồn cấp nước cho

Trang 32

ăn uống và sinh hoạt Có nguồn nước khoáng chứa nhiều loại muối khoáng có

giá trị về y tế và kinh tế

- Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng của Tuyên Quang là 386.382

ha Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 284.673 ha, diện tích rừng trồng là

101.709 ha Sản lượng gỗ khai thác là 215.369 m3

- Tài nguyên khoáng sản: Tuyên Quang có nguồn tài nguyên khoáng

sản rất đa dạng như: đá vôi, đất sét, vonfram, kẽm, pirit, cao lanh, sét chịu lửa,

nước khoáng, vàng, cát, sỏi

- Tài nguyên sinh vật: Tuyên Quang là tỉnh có hệ động thực vật rất

phong phú và đa dạng Đây là một kho tàng về gien quý hiếm

Hiện Tuyên Quang có nhiều loài thực vật quý hiếm được ghi trong sách

đỏ Việt Nam như trầm hương, nghiến, lát hoa, tuế đá vôi, hoàng đàn, mun,

pơmu Tuyên Quang có 4 lớp động vật có xương sống là thú, chim, bò sát và

ếch nhái với 274 loài thuộc 79 họ, 28 bộ

- Tài nguyên du lịch: Tuyên Quang có căn cứ địa cách mạng mà

ngày nay vẫn còn ghi đậm dấu ấn từ mái lán Nà Lừa, mái đình Hồng Thái,

cây đa Tân Trào, nơi ngọn lửa cách mạng đã được Đảng và Bác Hồ lãnh

đạo Cũng tại đây, trong thời kỳ chống Pháp, Tuyên Quang còn là một

trong những tỉnh an toàn khu và Thủ đô kháng chiến Bên cạnh đó, Tuyên

Quang còn có khu du lịch sinh thái Na Hang, Hàm Yên, Núi Dùm, suối

khoáng Mỹ Lâm,…

Điều kiện tự nhiên trên địa bàn tỉnh Tuyên quang, với địa hình khá

phức tạp, bị chia cắt nhiều dãy núi cao và sông suối, có nhiều thung lũng

đã phần nào làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý chi NSNN trên

địa bàn tỉnh Tuyên Quang như việc đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trên địa bàn tỉnh đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, hiệu quả kinh tế mang lại rất thấp

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn

2010 - 2012

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2010 - 2012 Ngành, kinh tế ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tăng bình

quân %/ năm 1- Tổng sản phẩm

trên địa bàn (tính theo giá cố định)

Tỷ đồng 4.313,10 4.827,99 5.360,88 11,19

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

Tỷ đồng 1.069,25 1.141,41 1.172,14 10,27

- Công nghiệp, xây dựng Tỷ

đồng 1.225,51 1.421,12 1.511,76 11,0

- Thương Mại, dịch vụ Tỷ

đồng 2.018,34 2.265,46 2.676,98 11,8

2-Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn so với năm trước

3- Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn theo ngành kinh tế (giá hiện hành)

Tỷ đồng 955,12 1.116,78 1.292,62 11,3

Ngày đăng: 03/08/2016, 22:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phân phối tần số người trả lời - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 2.1. Phân phối tần số người trả lời (Trang 29)
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế  của tỉnh Tuyên Quang,  giai đoạn 2010 - 2012 - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 32)
Bảng 3.3: Tổng hợp chi ngân sách nhà nước trên điạ bàn - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.3 Tổng hợp chi ngân sách nhà nước trên điạ bàn (Trang 33)
Bảng 3.4: Ý kiến về định mức phân bổ và định mức chi thường xuyên  ngân sách năm 2011 và áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân sách  địa phương giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.4 Ý kiến về định mức phân bổ và định mức chi thường xuyên ngân sách năm 2011 và áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân sách địa phương giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (Trang 36)
Bảng 3.5: Cơ cấu phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh Tuyên Quang, - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.5 Cơ cấu phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh Tuyên Quang, (Trang 37)
Bảng 3.6: Chi thường xuyên từ năm 2010 đến 2012 - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.6 Chi thường xuyên từ năm 2010 đến 2012 (Trang 38)
Bảng 3.7: Ý kiến về công tác xây dựng dự toán ngân sách - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.7 Ý kiến về công tác xây dựng dự toán ngân sách (Trang 39)
Bảng 3.8: Tình hình thực hiện dự toán chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.8 Tình hình thực hiện dự toán chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (Trang 40)
Bảng 3.9: Kết quả thực hiện chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2010 - 2012 - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.9 Kết quả thực hiện chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 46)
Bảng 3.10: Ý kiến về công tác quản lý và điều hành chi ngân sách - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.10 Ý kiến về công tác quản lý và điều hành chi ngân sách (Trang 47)
Bảng 3.11: Ý kiến về công tác quyết toán chi ngân sách nhà nước - Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.11 Ý kiến về công tác quyết toán chi ngân sách nhà nước (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w