1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức Đời sống cộng đồng người Bana ở xã Kông Bờ La, huyện KBang, tỉnh Gia Lai hiện nay

104 829 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng tồn tại và phát triển trong những điều kiện địa lí tự nhiên, xã hộigần giống nhau, nên giữa người Bana và các dân tộc ít người ở Tây Nguyêncó nhiều nét tương đồng về đời sống văn hó

Trang 1

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA VĂN HÓA HỌC

NGUYỄN THỊ KIỀU GIANG

ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI BANA Ở XÃ KÔNG BỜ LA

HUYỆN K’BANG TỈNH GIA LAI HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC

Mã số: 52220340

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: 2009-2013

TP HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 2

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA VĂN HÓA HỌC

NGUYỄN THỊ KIỀU GIANG

ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI BANA Ở XÃ KÔNG BỜ LA

HUYỆN K’BANG TỈNH GIA LAI HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và cán bộ Trường Đạihọc Văn hóa TP Hồ Chí Minh, nhất là quý thầy cô Khoa Văn hóa học, tất cảbạn bè và người thân, những người đã động viên nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi

hòan thành khóa luận với đề tài “Đời sống cộng đồng người Bana ở xã Kông

Bờ La huyện K’Bang tỉnh Gia Lai hiện nay”.

Xin chân thành cảm ơn Thư viện Trường Đại học Văn hóa TP Hồ ChíMinh đã cung cấp nguồn tài liệu quý cho chúng tôi hòan thành khóa luận

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các cô chú và anh chị trong Ủy Ban

nhân dân xã Kông Bờ La huyện K’Bang tỉnh Gia Lai, đã tạo mọi điều kiện

thuận lợi tốt nhất trong thời gian chúng tôi thực tế ở địa phương, và được tìmhiểu về người Bana

Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơnsâu sắc nhất đến thầy PGS TS Trần Văn Ánh đã tận tình hướng dẫn chúng tôihòan thành khóa luận này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013

Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và cán bộ Trường Đạihọc Văn hóa TP Hồ Chí Minh, nhất là quý thầy cô Khoa Văn Hóa Học, tất cảbạn bè và người thân, những người đã động viên nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi

hòan thành khóa luận với đề tài “Đời sống cộng đồng người Bana ở xã Kông

Bờ La huyện K’Bang tỉnh Gia Lai hiện nay”.

Xin chân thành cảm ơn Thư viện Trường Đại học Văn hóa TP Hồ ChíMinh đã cung cấp nguồn tài liệu quý cho chúng tôi hòan thành khóa luận

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các cô chú và anh chị trong Ủy Ban

nhân dân xã Kông Bờ La huyện K’Bang tỉnh Gia Lai, đã tạo mọi điều kiện

thuận lợi tốt nhất trong thời gian chúng tôi thực tế ở địa phương, và được tìmhiểu và người Bana

Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơnsâu sắc nhất đến thầy PGS TS Trần Văn Ánh đã tận tình hướng dẫn chúng tôihòan thành khóa luận này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013

Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Giang

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM TPHCM Độc lập –

Tự do – Hạnh phúc

KHOA VĂN HÓA HỌC

BẢN GIẢI TRÌNH

- Tên đề tài: đời sống cộng đồng người Bana ở xã Kông Bờ La huyện

K’Bang tỉnh Gia Lai hiện nay

- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Giang

- Lớp: Văn hóa học 3A

Sau khi được hội đồng chấm khóa luận và giáo viên chấm sơ bộ nhận xét

khóa luận tốt nghiệp với đề tài đời sống cộng đồng người Bana ở xã Kông Bờ

La huyện K’Bang tỉnh Gia Lai hiện nay Sau khi được sự đồng ý của giáo

viên hướng dẫn là PGS.TS Trần Văn Ánh, em đã chỉnh sửa khóa luận của mình các nội dung sau:

- Trong mục 1.1.2 Năng lực tự quản cộng đồng, ở dòng thứ 5, “Tác giả

Trần Văn Ánh trong cuốn…” được sửa thành “Tác giả Trần Văn Ánh trong bài báo…”

- Khái quát về tỉnh Gia Lai (tr18 đến tr20), phần viết về người Bana đã chuyển sang mục 1.3.3 Dân cư xã Kông Bờ La

Trang 6

- Số liệu trang 28, viết về dân cư xã Kông Bờ La “ tính đến cuối năm 2010…”[28:17] được sửa đổi lại [29:17].

3 Chương 2

- Các sơ đồ trong chương 2 đã được đánh đúng số thứ tự 1,2,3

- Phần giới thiệu về nhà rông viết ở trang 55, đã được chuyển sang mục2.2.5 Nhà rông

- Tên tiểu mục 2.2.4 “ Cách bố trí nhà ở trong làng” lặp lại lần 2 “Bố trínhà ở trong làng” sửa lại thành “cách sắp xếp nhà trong làng”

- Ở mục 2.3 Tính cộng đồng của người Bana, phần Hoạt động chung của

làng gộp chung vào phần Ứng xử với cộng đồng.

4 Chương 3

- Trong mục 3.1 Những nét văn hóa phong tục cộng đồng cần được giữ

gìn và phát huy, các phần trong mục 3.1 như Quan hệ gia đình, luật

tục, … được đánh số thứ tự lần lượt là 3.1.1, 3.1.2…

5 Trong qui cách trình bày

- Ở phần Tài liệu tham khảo, đã sắp xếp lại tài liệu của tác giả Ngô đức Thịnh, Đặng Nghiêm Vạn theo đúng qui định

- Trong cách trich dẫn tài liệu đã sửa đổi theo đúng qui định

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 06 năm 2013

Giáo viên hướng dẫn

PGS TS Trần Văn Ánh

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

8 Bố cục của khoá luận 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI BANA Ở TỈNH GIA LAI 9

1.1 Quan niệm chung về cộng đồng và tính cộng đồng 9

1.1.1 Khái niệm về cộng đồng và tính cộng đồng 9

1.1.2 Năng lực tự quản cộng đồng 16

1.2 Khái quát về tỉnh Gia Lai 18

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 18

1.2.2 Dân cư tỉnh Gia Lai 20

1.2.3 Hoạt động kinh tế 21

1.2.4 Đời sống văn hóa xã hội 23

1.3 Khái quát về người Bana ở xã Kông Bờ La, huyện K’Bang 25

1.3.1 Vị trí địa lý, tự nhiên 25

1.3.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu, thuỷ văn 26

1.3.3 Dân cư xã Kông Bờ La 27

Tiểu Kết 30

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI BANA Ở XÃ KÔNG BỜ LA ………32

Trang 8

2.1 Hôn nhân và Gia đình 32

2.1.1 Hôn nhân 32

2.1.2 Gia đình 37

2.2 Tổ chức plây và quan hệ xã hội 46

2.2.1 Tên gọi của plây (làng) 46

2.2.2 Bộ máy quản lý của làng 46

2.2.3 Những quy định của làng 48

2.2.4 Cách bố trí nhà ở trong làng 55

2.2.5 Nhà rông 65

2.3 Tính cộng đồng của người Bana 68

Tiểu Kết 71

CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI BANA Ở XÃ KÔNG BỜ LA 73

3.1 Những nét văn hóa phong tục cộng đồng cần được giữ gìn và phát huy 73

3.1.1 Quan hệ trong gia đình 73

3.1.2 Luật tục 75

3.1.3 Nghi lễ, lễ hội 77

3.1.4 Nhà rông 78

3.1.5 Trang phục 80

3.1.6 Cồng chiêng 81

3.1.7 Rừng và nương rẫy 81

3.2 Một số đánh giá và đề xuất 83

3.2.1 Đánh giá chung 83

3.2.2 Đề xuất, kiến nghị và giải pháp 86

Tiểu Kết 92

KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử Việt Nam trải qua bao biến cố và thăng trầm trong công cuộcbảo vệ độc lập cho tổ quốc; trong quá trình đó, người Việt cũng như các dântộc anh em cùng chung sống trên lãnh thổ đã không ngừng đấu tranh để giữvững quyền độc lập đó; họ cùng nhau đoàn kết, xây dựng và bảo vệ tổ quốctrước những gót chân xâm lăng của kẻ thù, cùng nhau chung sống và xâydựng đất nước Việt Nam ngày càng tươi đẹp hơn

Chiến tranh qua đi, con người gác lại những đau buồn và những mấtmát nhưng không vì thế mà họ quên đi những chiến công thầm lặng củanhững người con đã đổ máu mình xuống để bảo vệ quê hương Trên conđường xây dựng đất nước; việc làm thế nào để từng bước nâng cao đời sốngvật chất và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho những đồng bào dân tộcvùng sâu vùng xa là một vấn đề lớn cho những chính sách phát triển kinh tếcủa Đảng và Nhà nước nhất là đối với khu vực Tây Nguyên

Dân tộc Bana ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer sinh sốngchủ yếu ở các tỉnh Gia lai, Kon Tum, Bình Định… Nhưng dân tộc Bana tậptrung sinh sống chủ yếu là ở tỉnh Gia Lai, Kon Tum và cũng là một trongnhững dân tộc thiểu số bản địa có dân số đông Trong qúa trình định cư, cùngchung sống và phát triển với các dân tộc bản địa khác, người Bana đã cùngvới 53 dân tộc anh em là một phần của sự thống nhất trong khối đại đòan kếtdân tộc, góp phần duy trì và giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc ở Việt Nam

Quá trình hình thành cộng đồng dân tộc Bana ở Gia Lai do phân bố rảirác, hay di chuyển nên kho tàng văn hóa chưa được nghiên cứu nhiều, cónguy cơ bị hòa tan khi phát triển qua các thời kỳ Làm thế nào tìm được bảnsắc riêng và giữ gìn được bản sắc đó của dân tộc Bana trong giai đọan xâydựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là những vấn đề quan trọng cần đượcquan tâm nghiên cứu

Trang 10

Cùng tồn tại và phát triển trong những điều kiện địa lí tự nhiên, xã hộigần giống nhau, nên giữa người Bana và các dân tộc ít người ở Tây Nguyên

có nhiều nét tương đồng về đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.Việc tìm hiểu các giá trị văn hoá truyền thống và đời sống cộng đồng hiện naycủa người Bana góp phần vào việc nghiên cứu, nhận diện những nét văn hóatương đồng và khác biệt của các dân tộc ít người ở khu vực này

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc cần nhận

rõ những giá trị phù hợp với truyền thống, thúc đẩy sự phát triển cộng đồngBana trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc và vận động lọai bỏ những hủ tục, lạc hậu trên con đường pháttriển của cộng đồng

Cũng giống như các dân tộc khác, dân tộc Bana không tránh khỏi và bịcuốn hút vào xu thế phát triển công nghiệp hóa, sự giao lưu văn hóa đang diễn

ra mạnh mẽ, những nét văn hóa truyền thống của dân tộc đã và đang có nguy

cơ mất đi Việc nghiên cứu về đời sống cộng đồng của dân tộc Bana ở xãKông Bờ La là góp phần vào sự nghiệp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóađịa phương nói riêng và đất nước nói chung

Qua việc nghiên cứu về đời sống cộng đồng của người Bana ở xã Kông

Bờ La, huyện K’Bang tỉnh Gia Lai, đề tài khoá luận cũng mong muốn đónggóp một phần công sức nhỏ bé vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Bana

Khi tìm hiểu về văn hóa của tộc người Bana, có thể tìm thấy được trong

sự đa dạng và thống nhất của văn hóa Việt Nam, lại tìm thấy những điểmchung trong các tập tục truyền thống của tộc người Bana và người Kinh xưanhư: tục nhuộm răng ăn trầu, ở nhà sàn, mặc áo chui đầu…, việc cùng nhausinh sống và chịu sự quản lý của bằng hương ước hay luật tục của làng

Để tìm hiểu về đời sống cộng đồng và những nguyên nhân tác động đếnnhững thay đổi trong đời sống cộng đồng của người Bana hiện nay, nên thôngqua chuyến đi kiến tập tại xã Kông Bờ La, kết hợp với những kiến thức cóđược trên giảng đường và những kiến thức thực tiễn có được sau chuyến đi

Trang 11

thực tế vừa qua Tôi quyết định phát triển đề tài này lên và làm đề tài khóaluận tốt nghiệp của mình với mong muốn có được cái nhìn chuyên sâu và đachiều hơn về các đặc trưng văn hóa của tộc người Bana trong việc tổ chức đờisống cộng đồng, làm sáng tỏ thêm những giá trị và bản sắc văn hóa của ngườiBana hiện nay Với hy vọng đề tài khóa luận của mình có thể góp một phầnnhỏ vào công cuộc bảo tồn và phát huy sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam.

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu, tìm hiểu, bảo tồn những nét văn hóa truyền thống vàđời sống cộng đồng người Bana trước những ảnh hưởng của các yếu tố bênngoài tác động vào đời sống vật chất và tinh thần là một trong những vấn đềcần được quan tâm, những tác động này đã và đang dần làm thay đổi nhữnggiá trị truyền thống tưởng chừng như là bất biến

Nghiên cứu về đời sống cộng đồng người Bana để thấy được nhữngkhó khăn trong cuộc sống của những con người nơi đây; đồng thời có thể giúpnhững chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước về việc phát triểnkinh tế vùng sâu, vùng xa một cách thực tiễn và hiệu quả hơn, với mongmuốn đem lại nhiều thay đổi tích cực cho bộ mặt kinh tế của người dân nơiđây; góp phần bảo tồn những nét văn hóa truyền thống trước sự tác động mặttrái của nền kinh tế thị trường Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu đời sốngcộng đồng của người Bana tại xã Kông Bờ La huyện K’Bang tỉnh Gia Lai làgóp một phần bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của chính dân tộc

Thông qua khóa luận, chúng tôi mong muốn có thể góp một chút hiểubiết nhỏ bé của mình bên cạnh những công trình nghiên cứu lớn của các nhàkhoa học đi trước; để có thể tìm hiểu những thay đổi và các nhân tố tác độnglàm biến đổi những giá trị văn hóa truyền thống của người Bana trong vấn đềđời sống cộng đồng

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Tây Nguyên là vùng đất lý tưởng của các nhà dân tộc học, khi tìm hiểu

và nghiên cứu những phong tục tập quán, đời sống vật chất và đời sống tâm

Trang 12

linh… hơn nữa đây còn là nơi tập trung đông các cộng đồng dân tộc anh emcùng nhau sinh sống Bên cạnh đó, Tây Nguyên là nơi có vị trí quân sự quantrọng và có tiềm năng để phát triển kinh tế vùng cũng như kinh tế đất nước.

Vì vậy Tây Nguyên luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, không chỉ của cácnhà nghiên cứu khi tìm hiểu về bản sắc văn hóa của những dân tộc bản địasinh sống; đây còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống bản địacủa mỗi dân tộc một cách rõ nét nhất Vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu vềluật tục-quản lý cộng đồng, sử thi, lễ hội của người Bana luôn là đề tài đượcnhiều học giả quan tâm

Người Bana ở tỉnh Gia Lai nói chung và xã Kông Bờ La nói riêng làmột trong những tộc người bản địa sinh sống lâu năm và có trình độ kinh tếphát triển và hệ thống lễ hội phong phú Cho đến nay, việc tìm hiểu và nghiêncứu về người Bana luôn được sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu

mà còn được thể hiện ngay trong cả các chủ trương chính sách của Đảng vàNhà nước trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao trình độ dântrí cho đồng bào nơi đây Dưới nhiều góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau cáchọc giả đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về người Bana liên quantrực tiếp hoặc gián tiếp tới đề tài khóa luận

Là một trong những nhà nghiên cứu Việt Nam đầu tiên khi nghiên cứu

về dân tộc Bana, trong cuốn sách “Mọi Kon-Tum” của Nguyễn Kính Chi và

Nguyễn Đổng Chi xuất bản năm 1937 có một đóng góp lớn bước đầu về việcnghiên cứu người Bana; tác giả đã giới thiệu và đi sâu vào đời sống vật chất

và đời sống tinh thần của người Bana ở Kon-Tum một cách rõ nét nhất

Nhóm sưu tầm Vũ Ngọc Bình, Nguyễn Quang Tuệ, Văn Công Hùng,

Trần Phong “Hơamon Bia Brâu” nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin đã sưu

tầm những câu chuyện sử thi của đồng bào Bana, qua những câu chuyện cóthể thấy được cả một hệ thống thần linh của người Bana xưa; cách ứng xử vànhất là quan niệm về thế giới rộng lớn xung quanh của họ; tình cảm yêuthương và tình đoàn kết gắn bó của cộng đồng buôn làng

Trang 13

Ngô Đức Thịnh “ Những mảng màu Văn hóa Tây Nguyên” đã phác

họa những nét cơ bản về văn hóa Tây Nguyên, giới thiệu về luật tục-quản lýcộng đồng, về những sử thi của các dân tộc Tây Nguyên, những nhận địnhcủa các nhà nghiên cứu

Năm 1981, nhóm tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Lê Duy Đại,

Trần Mạnh Cát, Ngô Vĩnh Bình đã cho ra đời cuốn sách “Các dân tộc tỉnh

Gia Lai-Công Tum”, trong đó tác giả Đặng Nghiêm Vạn và Ngô Vĩnh Bình

đã tập trung đi sâu nghiên cứu văn hóa vật chất và đời sống tinh thần củangười Bana Trong công trình này, hai tác giả tập trung chủ yếu về ngườiBana ở Gia Lai, đây là nguồn tư liệu để nghiên cứu và so sánh sự giống vàkhác nhau trong văn hóa vật chất và đời sống tinh thần của người Bana ở GiaLai và người Bana ở Kon Tum của hai tác giả Nguyễn Kính Chi và NguyễnĐổng Chi

Khi tìm hiểu về đời sống cộng đồng người Bana không thể không nhắc

đến giáo trình“Nhân Học Đại Cương” năm 2008 của nhóm tác giả Khoa

Nhân Học thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; trong giáotrình đã nêu rõ cơ sở lý thuyết của các vấn đề Thân tộc-Hôn nhân-Gia đình đểlàm tài liệu nghiên cứu khi tìm hiểu về đời sống hôn nhân và gia đình ngườiBana

Tây Nguyên không nằm ngoài sự phát triển kinh tế của đất nước, cuốn

sách “Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên thực trạng và những vấn đề đặt ra”

của GS.TS Trần Văn Bính chủ biên đã đánh giá, phân tích tương đối toàndiện, khách quan về thực trạng và đời sống văn hóa của một số dân tộc thiểu

số vùng Tây Nguyên trong công cuộc đổi mới và đã đề xuất các giải phápnhằm tiếp tục phát triển đời sống văn hóa các dân tộc dưới tác động của quátrình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trên đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu trực tiếp hoặc gián tiếpliên quan đến người Bana, nhìn chung các công trình đều nói lên được cáckhía cạnh trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần và đời sống xã hội của

Trang 14

người Bana với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Nhưng chưa có công trìnhnào đi sâu tìm rõ về đời sống cộng đồng người Bana hiện nay.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tàiliệu quý giá để nghiên cứu, trong quá trình hoàn thành khóa luận chúng tôi đã

kế thừa và chọn lọc những kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước để làm tưliệu hoàn thành khóa luận này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài khóa luận là Đời sống cộng đồng ngườiBana ở xã Kông Bờ La, huyện K’bang, tỉnh Gia Lai hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu về đời sống cộng đồng của người Bana ở xãKông Bờ La để tìm hiểu các giá trị truyền thống và việc bảo lưu các giá trịvăn hóa trước những tác động của nền kinh tế thị trường

Trong khóa luận, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp trong việc bảotồn, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống trong đời sống cộng đồngngười Bana ở xã Kông Bờ La nói riêng và dân tộc Bana nói chung

6 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi cố gắng kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn trong quá trình đithực tế tại xã nhằm cũng cố thêm về mặt lí luận và kết hợp với những quan sátthực tế để bổ sung cho những kiến thức còn non yếu của mình về văn hóa cácdân tộc

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng các dụng các phươngpháp nghiên cứu cụ thể là:

Trang 15

- Phương pháp liên ngành

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điền dã thực địa, khảo sát thực tế

- Phương pháp phỏng vấn, ghi chép

Qua tham khảo nguồn tư liệu từ sách vở và các trang mạng

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

hủ tục đã bị lọai bỏ trong đời sống của người Bana

Trên cơ sở giới thiệu để người đọc có cái nhìn mới và hiểu về đời sốngcộng đồng người Bana ở xã Kông Bờ La, chúng tôi mạnh dạn đưa ra nhữnggiải pháp trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa trước những tác động của nềnkinh tế thị trường tác động vào đời sống xã hội của họ

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dungcủa Khóa luận được trình bày trong 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về đời sống cộng đồng và tổng quan vềngười Bana ở tỉnh Gia Lai (trang 9 đến trang 31)

- Chương 2: Thực trạng về đời sống cộng đồng người Bana (trang 32đến trang 72)

- Chương 3: Bảo tồn và phát huy đời sống cộng đồng người Bana ở xãKông Bờ La (trang 73 đến trang 93)

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG

VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI BANA Ở TỈNH GIA LAI

1.1 Quan niệm chung về cộng đồng và tính cộng đồng

1.1.1 Khái niệm về cộng đồng và tính cộng đồng

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm và quan niệm khác nhau về cộng đồng,

trong khóa luận chúng tôi xin trình bày các khái niệm tiêu biểu sau:

Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang trong cuốn “Phát triển cộng đồng

lý thuyết và vận dụng” cho rằng:

“Cộng đồng là một khái niệm cơ bản của Khoa học xã hội và Nhân

văn Có hai cách hiểu về cộng đồng: cộng đồng tính và cộng đồng thể Cộng đồng tính là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tổ chức cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng…cộng đồng thể là các nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều thể có qui mô khác nhau”[12,tr.15].

“Theo J H Fichter, khái niệm cộng đồng bao gồm bốn yếu tố: (1)Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này đôi khiđược gọi là tương quan hệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt, tương quanthân mật; (2) Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong nhữngnhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; (3) Có sự hiến dâng tinh thần hoặcdấng thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; (4)Một ý thức đòan kết với những người trong tập thể Dĩ nhiên trên thế giớingày nay có những cộng đồng, tập thể có được những đặc tính trên, nhưng đóchỉ là những cộng đồng hòan chỉnh như làng chẳng hạn Điểm khác biệt lànhững đặc tính đó không phải là tổng thể văn hóa như các nhà sử gia đã nhậnđịnh trước khi sự xuất hiện của cuộc cách mạng kỹ nghệ, hệ thống tư bản đạiquy mô, quá trình đại xuất chúng cùng với sự thế tục hóa Các nhà nhânchủng học, dân tộc học muốn đi tìm những xã hội có mang những đặc tínhcủa cộng đồng thường quay về những khu vực được gọi là tiền hiện đại-theo

Trang 18

quan niệm của họ-ở đó có các cộng đồng được coi là có thể hội đủ bốn đặctính trên”[2, tr.2].

Năm 1887, nghiên cứu chuyên biệt về cộng đồng đầu tiên đã được nhà

xã hội học Đức F.Tonnies thực hiện Các luận điểm của ông được coi lànhững lý luận kinh điển của lịch sử Xã hội học Trong quan niệm này, kháiniệm cộng đồng được cụ thể hóa với những đặc trưng sau:

“Thứ nhất, những quan hệ xã hội nào mang tính chất thân tình, thânthiện, thân mật, mang độ cố kết có ý nghĩa tự nhiên thì đấy là tính cộng đồng.Thứ hai là tính bền vững, tính cộng đồng được khẳng định theo dòng chảylịch sử; thời gian có một vai trò là yếu tố kết dính các thành viên trong cộngđồng Thứ ba là tính cộng đồng được xét từ quan điểm đánh giá về vị thế xãhội của các thành viên xã hội thì đó là vị thế xã hội được gán sẵn nhiều hơn vịthế phấn đấu mà có được Cuối cùng là tính cộng đồng lấy quan hệ dòng họ làquan hệ cơ bản và mang cả hai đặc trưng dòng họ là huyết thống và dòng họtrở thành khuôn mẫu văn hóa của sinh họat cộng đồng” [12, tr.19-20]

Khi nghiên cứu về cộng đồng, chúng ta đã nêu rõ ý nghĩa của đòan kết

xã hội, tương quan và cơ cấu xã hội Cần phải biết rằng ba phương diện

nghiên cứu về cộng đồng nói trên (đòan kết, tương quan và cơ cấu) khôngphải luôn luôn có mặt y hệt như nhau trong các cấu trúc cộng đồng Tuynhiên, cần phải phân tích trên một nhiều chiều khía cạnh khác nhau về cộngđồng, đó là chỉ ra các thành phần tạo nên cộng đồng Những cuộc nghiên cứutại khắp nơi trên thế giới cho thấy có một số yếu tố chính của cộng đồng là

địa vực, yếu tố kinh tế hay nghề nghiệp, cuối cùng là các yếu tố có tính văn hóa.

- Địa vực: Nói đến cộng đồng là phải nói một tập thể người đang định cư

trên một vùng đất đai, đành rằng có những kiểu lọai cộng đồng ít gắn chặt vớiyếu tố địa vực, nhưng đa phần cộng đồng thường gắn chặt trước hết tới yếu tốnày Điều này giải thích tại sao yếu tố đất đai đã và vẫn có một giá trị tinhthần tạo nên sự cố kết tập thể và câu nói cửa miệng của bất cứ người dân nào

Trang 19

trên thế giới thường hay nói, đó là đất mẹ của tôi Theo nghĩa xã hội thông

thường thì cộng đồng nhất thiết là phải gắn chặt với yếu tố đất đai, nghĩa làcon người sinh sống thường xuyên trên một khu vực nhất định, có ý thức vềmình thuộc về cả đòan thể lẫn địa phương và họat động cùng nhau trong mộtcông việc của đời sống Cộng đồng luôn được xét trong tương quan với mộtkhung cảnh có tính chất như vậy

Trong rất nhiều định nghĩa về cộng đồng, yếu tố địa vực được nhắc đếnnhư là yếu tố đầu tiên và quan trọng bậc nhất Ranh giới được xác lập trongquá trình lịch sử là một cơ sở để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác.Đường phân chia ranh giới thường lấy cột mốc tự nhiên như sông, suối,đường xá… cũng có khi là các đường phân ranh vô hình được các cộng đồngthỏa thuận và chấp hành trong thực tiễn

Việc sở hữu chung một lãnh thổ nào đó có giá trị của một tài sản vôhình Các chữ “người làng”, “cùng xứ”, “đồng hương”… trong thực tiễn nóchỉ một quan niệm được xác định về những người cùng sống trên một vùngđất nào đó, đã chia sẻ những sản phẩm được nuôi trồng từ một vùng đất, trên

nó là hệ sinh thái với núi sông, cây cỏ ý thức về cương vực là một trong

những ý thức sâu sắc và lâu bền của con người trong lịch sử, là hạt nhân tạonên tâm thức chung của cộng đồng

- Yếu tố kinh tế (hay nghề nghiệp): Các họat động kinh tế tạo ra cho

cộng đồng một sự đảm bảo về mặt vật chất để họ cũng nhau tồn tại Đây làmột phương diện của sự phát triển

Nghề nghiệp không phải là tòan bộ kinh tế nhưng trong mối quan hệvới việc tạo nên sự cố kết cộng đồng, chúng có vai trò quan trọng Các cộngđồng nông thôn với một vài nghề chính, thậm chí có nơi chỉ có thuần mộtnghề thì việc có cùng một nghề hay vài nghề trong cộng đồng là một yếu tốtương đồng về địa vị kinh tế, sở hữu, cách thức làm ăn Trong những làngnghề truyền thống, việc thờ chung một tổ nghề đã đem lại cho họ một lớp vỏ

cố kết tinh thần bên cạnh yếu tố cố kết vật chất

Trang 20

- Các yếu tố về văn hóa: Đây là một biểu thị có tính tổng hợp khi nhận

biết các cộng đồng, có rất nhiều khía cạnh để làm nên các yếu tố văn hóa như:truyền thống-lịch sử; tộc người, tôn giáo-tín ngưỡng, hệ thống giá trị-chuẩnmực, phong tục tập quán… Nhưng theo chúng tôi có ba đặc điểm cơ bản cầnphải lưu tâm là tộc người, tôn giáo-tín ngưỡng và hệ thống giá trị-chuẩn mực

Tộc người: Khi nói đến yếu tố tộc người không chỉ nói đến các tộc

người thiểu số mà còn phải nói tới tộc người là chủ thể của một quốc gia.Theo một số nhà nghiên cứu, họ cho rằng:

“Thuật ngữ nation bắt nguồn từ tiếng La tinh natio, xuất hiện từ năm

1960, có nghĩa là “một cộng đồng người có chung một thể chế chính trị, đượcthiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được điều khiển bởi một nhà nước(nation-etat)” hay “một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triểntrong lịch sử, với một lãnh thổ, một sinh họat kinh tế, một đặc trưng văn hóa,một tiếng nói chung, chỉ đạo bởi một nhà nước” [26, tr.20]

Trích trong cuốn “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt

Nam” của Đặng Nghiêm Vạn, năm 1913 trình bày trong cuốn “Chủ nghĩa

Mác và vấn đề dân tộc” theo J.V.Stalin thì: “dân tộc là một khối cộng đồngngười ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói,

về lãnh thổ, về sinh họat kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộngđồng về văn hóa” [27, tr.17]

Theo Lê Giáo Sĩ “ Tộc người là một hình thái đặc biệt của một tập đoàn

xã hội xuất hiện không phải là do ý nguyện của con người mà là kết quả củaquá trình tự nhiên-lịch sử” [19, tr.8]

Ngoài ra, khái niệm về tộc người còn được hiểu như sau: “Tộc người làmột cộng đồng mang tính tộc người, không nhất thiết phải cư trú trên cùngmột lãnh thổ, có chung một nhà nước, dưới sự chỉ đạo của một chính phủ vớinhững đạo luật chung” [28, tr.34]

Một tộc người với những nhóm địa phương, phải là một cộng đồng cóchung một tên gọi, một ngôn ngữ mẹ đẻ, không nhất thiết phải có chung một

Trang 21

cộng đồng lãnh thổ, một cộng đồng sinh họat kinh tế, nhất thiết phải có chungnhững đặc điểm sinh họat văn hóa tộc người.

Theo Võ Thị Mỹ, “Diện mạo văn hóa tộc người là văn hóa dân gian,những giá trị văn hóa vật chất: ăn, mặc, ở, đi lại, những phong tục, tập quán,

lễ hội, dân ca, tục ngữ… Văn hóa tộc người không bị ngăn cách bởi biên giớiquốc gia và không nhất thiết mỗi tộc người phải có riêng một nhà nước Quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển càng nhanh thì sự mai một vănhóa tộc người cũng gia tăng, bản sắc văn hóa tộc người đang đối mặt với nguy

cơ bị đẩy lùi” [16, tr.22]

Trong một quốc gia, thường một tộc người làm chủ thể và các nhómtộc người thiểu số Nhóm tộc người chủ thể không chỉ đóng vai trò là yếu tố

cố kết cho tộc người mà còn đóng vai trò cố kết giữa các nhóm tộc ngườitrong cùng một lãnh thổ, cho đến khi hình thành Nhà nước, một quốc gia củacác nhóm tộc người ra đời Nhóm tộc người chủ thể có vai trò “kép” trongviệc cố kết cộng đồng, một cho nhóm cộng đồng tộc người của bản thân nó,một cho cộng đồng quốc gia

Trong vai trò ở bình diện quốc gia, hệ tư tưởng, ý thức hệ, các giá trị và

chuẩn mực, các nghi lễ, tóm lại là văn hóa của tộc người chủ thể được khuôn

mẫu hóa trong tòan quốc Các tộc người thiểu số một mặt phải “chấp nhận”

một số, mặt khác lại có quá trình “chống đối” chúng nhân danh bản sắc vănhóa và sự đa dạng văn hóa Trong lịch sử diễn ra cả hai quá trình này, tùy vàotừng thời điểm lịch sử, có nơi hoặc tìm ra tiếng nói chung, hoặc “cản trở”nhau

Tuy nhiên, các cộng đồng tộc người thiểu số với bản sắc văn hóa ít bịbiến đổi bởi các yếu tố bên ngoài, tương đối tách biệt về địa lý, chậm pháttriển về mặt kinh tế-xã hội… đang được chú ý nghiên cứu, nhất là ở khía cạnhvăn hóa tộc người đã đóng góp tích cực vào quá trình hình thành và cố kếtcộng đồng

Trang 22

Quá trình di dân trong lịch sử đã chia nhiều tộc người sinh sống trêncác khu vực địa lý, các quốc gia để hình thành các văn hóa tộc người khácnhau Được quy định bởi các điều kiện sinh thái, kinh tế và xã hội tại địa bàn

cư trú, văn hóa của mỗi tộc người là khác nhau cho dù có chung một nguồngốc về chủng tộc hay nguồn văn hóa xuất thân

Tiến trình văn hóa tộc người của mỗi nhóm tộc người đã hình thành cácđặc trưng văn hóa như những nhân tố cố kết cộng đồng Đó là các biểu tượng,phong tục tập quán, các nghi lễ được hiểu như những định chế xã hội cho cácthành viên trong cộng đồng tuân thủ, tạo nên một ý thức văn hóa tộc người.Trong một môi trường xã hội ít có sự biến đổi, các yếu tố trên lại càng có vịtrí quan trọng đóng góp vào quá trình củng cố sự đòan kết xã hội trong cộngđồng

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đất nước, không phải lúc nào cácyếu tố trên cũng đóng vai trò tích cực Sự đòan kết không phải vì mục tiêuđòan kết mà vì sự phát triển, do đó khi những điều kiện lịch sử để các biểutượng, phong tục tập quán, các nghi lễ như là những định chế xã hội cho cácthành viên trong cộng đồng tuân thủ… không bảo đảm cho chúng còn giữ mộtvai trò tích cực, thì đó lại là lực cản của sự phát triển Kế thừa và phát huy làhai mặt của sự phát triển, từ đó các yếu tố văn hóa truyền thống ở trên đóngvai trò tích cực cho sự đòan kết cộng đồng nhưng lại không trở thành một lựccản cho sự phát triển

Tôn giáo-tín ngưỡng: yếu tố cũng cố sự cố kết cộng đồng dựa trên

niềm tin Theo tiếng Latinh tôn giáo xuất phát từ thuật ngữ “religio” “Tôngiáo có nghĩa là quyền năng mà con người có niềm tin và lòng mộ đạo hướngtới” [10, tr.17]

Trong nhân học, khái niệm tôn giáo được định nghĩa như sau: “Tôngiáo có thể được xem như là niềm tin và các dạng hành vi mà con người sửdụng để cố gắng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà những khókhăn này không thể giải quyết bằng kỹ thuật công nghệ hay các kỹ thuật tổ

Trang 23

chức và để vượt qua những khó khăn đó, con người hướng đến những thế lực

và các vật thể siêu nhiên” [13, tr.155]

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thíchthế giới và mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Ở Việt Nam, kháiniệm về tín ngưỡng và tôn giáo chưa được các nhà khoa học nhất quán Theoquan điểm của Đặng Nghiêm Vạn không nên chia rạch ròi giữa tín ngưỡng và

tôn giáo Ông cho rằng: “Cần xem lại sự phân biệt các cấp độ, các hình thái

tôn giáo, không nên coi tín ngưỡng, tôn giáo như hai cấp độ thấp cao” [27,

tr.75-76]

Theo Phan Ngọc: “Nếu tín ngưỡng phổ biến trong tòan nhân lọai thìtôn giáo là hiện tượng riêng của một số tộc người và tôn giáo chỉ ra đời khixuất hiện tư tưởng phê phán tín ngưỡng, chấp nhận cái này gạt bỏ cái kia, tổchức lại tất cả theo một nguyên lý chặt chẽ Nếu như tín ngưỡng chỉ đơnthuần là một thói quen được chấp nhận không cần đến sự lý giải thì tôn giáođòi hỏi một sự lý giải, ít nhiều cần đến logic” [17, tr.78]

Thực tế lịch sử cho thấy, đây là một yếu tố có tính chất bền vững cho

sự tồn tại của các cộng đồng dân cư Cùng có chung một niềm tin tín tôn giáo là sự chia sẻ những ước nguyện về mặt tinh thần, tạo nên sự thốngnhất tinh thần, củng cố nền đạo lý chung cho cộng đồng Các tín ngưỡng bánkhai góp phần vào quá trình này bởi ý thức chung về một vật tổ, những quanniệm về vạn vật, vũ trụ, về nhân sinh… Các tôn giáo lớn cùng với hệ thốnggiáo lý, giáo hội và giáo đòan của nó đã góp phần vào củng cố sự đòan kếtcộng đồng bằng sự chặt chẽ về mặt tổ chức, có các tầng lớp giáo sĩ và tinhthần tự nguyện của giáo dân, có hệ thống giáo lý tôn giáo của mình

ngưỡng-Trong thực tiễn, các tín ngưỡng dân gian và tôn giáo có sự lồng ghépvới nhau, thống nhất về các niềm tin của con người, tránh những xung đột, tạo

ra những sức mạnh cố kết cộng đồng mới, có tính hiệu quả mạnh mẽ Tuynhiên, có một số vấn đề tôn giáo-tín ngưỡng đã bị các thế lực chính trị lợidụng, lúc đó, sự mâu thuẫn về lợi ích của cộng đồng tôn giáo với cộng đồng

Trang 24

quốc gia dân tộc Lúc đó, sự cố kết tinh thần của cộng đồng này lại là nguyênnhân chia rẽ cộng đồng lớn hơn, bao chứa nó.

Hệ các giá trị chuẩn mực: Mỗi cộng đồng đều xác định cho mình một

hệ giá trị và chuẩn mực riêng, qui định nhận thức và hành vi của các thànhviên trong cộng đồng Họ phải làm gì? Làm thế nào? Các khen thưởng và các

xử phạt được thiết lập để tuyên dương hay xử phạt, các tổ chức và thiết chế xãhội được lập ra để định vị các hành động của con người trong các vai trò và vịthế xã hội khác nhau

Cộng đồng được tổ chức theo những trật tự nhất định, bảo đảm sựthống nhất và đòan kết cộng đồng bởi các chuẩn mực và khuôn mẫu Đối vớicác hành động thực tiễn, các khuôn mẫu chỉ có tính áp chế nhiều hơn là hệthống các giá trị, bởi tính chỉ dẫn của nó trong các họat động đời sống

1.1.2 Năng lực tự quản cộng đồng

Do đặc điểm lịch sử nước ta, cộng đồng nông nghiệp hay cộng đồnglàng luôn là nền tảng xã hội, với hình thái kinh tế nông nghiệp và luôn chiếmmột vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển nhân lọai như một kiểu xã hội cónhững đặc thù riêng Khi nói đến những đặc thù trong năng lực tự quản của

cộng đồng, tác giả Trần Văn Ánh trong bài báo “Tính cộng đồng trong văn

hóa Phum Sóc người Khmer đồng bằng sông Cửu Long” như sau:

 “Sự tự trị tương đối của cộng đồng nông dân đối với xã hội baotrùm lên nó, thống trị nó nhưng lại bao dung với những đặc tính riêngcủa chúng

 Tầm quan trọng về cấu trúc của nhóm gia đình trong tổ chức đờisống kinh tế, của đời sống xã hội và của cộng đồng

 Hệ thống kinh tế có tính tự cung tự cấp tương đối, nhưng khôngphân biệt giữa sản xuất và tiêu thụ và luôn duy trì các mối quan hệ vớinền kinh tế bao trùm lên nó

Trang 25

 Cộng đồng địa phương được đặc trưng bởi các mối quan hệ nội tại

có sự hiểu biết lẫn nhau và các quan hệ lỏng lẻo của nó với cộng đồngxung quanh

 Chức năng quyết định của các vai trò trung gian, của các chức sắcgiữa các cộng đồng nông dân và xã hội bao trùm lên nó” [2, tr.6]

Sự xuất hiện của các cộng đồng làng liên quan chặt chẽ đối với sự pháttriển nông nghiệp trong lịch sử Làng là hình thức cư trú cố định và nôngnghiệp như một nghề chính để các cư dân trong làng tồn tại Nền văn minhbắt đầu với sự phát triển nông nghiệp và làng là hình thức định cư tập thể đầutiên của con người và quá trình sản xuất của kinh tế nông nghiệp Tóm lại,năng lực tự quản của làng chủ yếu các vấn đề sau:

 Tự quản về đất đai và tài nguyên nằm trong lãnh thổ của làng như:đồi gò, sông ngòi, ao hồ… Trong các qui định hương ước hay luật tụccủa làng có quy định về việc sử dụng các tài nguyên đó và nghĩa vụ bảo

vệ của các thành viên trong cộng đồng

 Tự quản các họat động sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường

Để bảo vệ và phát triển nông nghiệp, các làng đều có quy ước về việc

sử dụng đất đai, khai thác và sử dụng nguồn nước

 Trong lĩnh vực quản lý xã hội, đều có các quy định về các tổ chức

xã hội truyền thống và bộ máy chính trị của làng Các quy định bắtbuộc các thành viên trong làng phải tuân thủ như việc sinh tử, hôn thú,ngăn chặn nam nữ quan hệ bất chính, trộm cắp…

 Năng lực tự quản trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, tôn giáo tínngưỡng Các sinh họat tôn giáo-tín ngưỡng, các lễ hội, họat động vănnghệ, vui chơi giải trí do mỗi làng tự tổ chức và quản lý

Tuy nhiên, trong giới hạn đề tài của khóa luận về đời sống cộng đồngngười Bana nên đề tài nghiên cứu về cộng đồng tộc người thiểu số mà cụ thể

là về người Bana ở xã Kông Bờ La, với bản sắc văn hóa ít bị biến đổi bởi cácyếu tố bên ngoài, tương đối tách biệt về vị trí địa lý, chậm phát triển về mặt

Trang 26

kinh tế-xã hội… Vì vậy, trong giới hạn của đề tài của mình chúng tôi tậptrung nghiên cứu các khía cạnh hôn nhân gia đình, tổ chức và quan hệ xã hộicủa làng để làm rõ vấn đề về đời sống cộng đồng người Bana hiện nay.

1.2 Khái quát về tỉnh Gia Lai

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên, nằm trên độcao trung bình 700 - 800 m so với mực nước biển Với diện tích 15.536,92

km2 Phía bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắc Lắk, phía tây giápCampuchia với 90 km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnhQuảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên [ http://gialai.gov.vn/Pages/glp-intro-lich_su_van_hoa_xa_hoi-glpstatic-14-glpdyn-0-glpsite-1.]

Với độ cao trung bình 700 - 800 m nằm ở phía bắc Tây Nguyên, GiaLai được ví như nóc nhà của ba nước trên bán đảo Đông Dương, là đầu nguồncủa nhiều hệ thống sông đổ về duyên hải Nam Trung Bộ và Campuchia, nơi

có nhiều rừng nguyên sinh với hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh, đặc biệt

là hệ sinh thái rừng lá rộng rụng lá theo mùa (rừng khộp) và nhiều loài sinhvật quý hiếm (gỗ giáng hương, gụ, mật, trắc,… và các loài động vật như vượnđen, voi, bò tót,…)

Địa hình của Gia Lai tương đối đa dạng, vừa có núi cao, các caonguyên lượn sóng, vừa có các thung lũng giữa núi Địa hình cao ở phía bắc vàphía đông bắc, thấp dần về phía nam và tây nam Cấu trúc có thể chia làm 3khu vực địa hình

Địa hình núi thuộc Trường Sơn Nam nằm trên một nền đá cổ rộng lớn

gọi là địa khối Kon Tum với các dãy núi như An Khê, Ngọc Linh Các dãynúi cao có độ dốc trung bình 1.600 – 1.700 m ở địa phận Kon Tum và 1.000 –1.200 m ở địa phận Gia Lai Ở trong khu vực này còn có nhiều lọai động thựcvật quý hiếm và nhiều lâm sản có giá trị

Địa hình cao nguyên, nổi bật nhất là cao nguyên Pleiku Đây là cao

nguyên badan trẻ lượn sóng với nhiều di tích miệng núi lửa, có độ cao trung

Trang 27

bình từ 700 – 800 m Trên bề mặt cao nguyên hình thành lớp vỏ phong hóadày, tạo điều kiện hình thành lớp đất dày tơi xốp, màu mỡ, thích hợp với việctrồng cây công nghiệp.

Địa hình thung lũng giữa núi, gồm vùng trũng An Khê và vùng Cheo

Reo – Phú Túc

Vùng trũng An Khê nằm về phía đông bắc tỉnh Do bề mặt đất có tầngphong hóa mỏng, lớp phủ thực vật bị tàn phá mạnh, khả năng giữ nước kémnên thường xảy ra lũ lớn trong mùa mưa và hạn hán trong mùa khô Thếmạnh của vùng là phát triển chăn nuôi thịt bò do có nhiều đồng cỏ rộng lớn,quanh vùng thị xã An Khê có thể trồng nhiều cây lương thực và cây côngnghiệp ngắn ngày

Vùng trũng Cheo Reo – Phú Túc nằm ở phía nam của cao nguyênPleiku, kéo dài từ hướng tây bắc đến đông nam Hẹp giữa hai bên vùng trũng

là các dãy núi thấp, nhìn chung ở đây không thuận lợi cho sản xuất nông lâmnghiệp, song có thể trồng bông và lúa nước ở những nơi thích hợp

Khí hậu: Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, một năm

có hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thức vào tháng 10, mùa khô từtháng 11 đến tháng 4 năm sau Do ảnh hưởng của địa hình mà các vùng trũngtrong tỉnh (An Khê, Cheo Reo…) đều ít mưa

Nhìn chung, khí hậu có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặcbiệt là cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi bò và phát triển tổng hợp nông -lâm nghiệp Tuy nhiên do lượng mưa phân bố không đồng đều, tương phảngiữa hai mùa khá lớn nên thường xảy ra lụt về mùa mưa và hạn hán về mùakhô Đều đó gây ra nhiều khó khăn cho đời sống và sản xuất

Sông suối: Gia Lai có nhiều hệ thống sông suối mang đặc điểm chung

của Tây Nguyên Các sông suối trên địa phận tỉnh là phần thượng lưu củanhững con sông lớn nên thường ngắn, dốc, thủy chế thất thường Gia Lai cóhai hệ thống sông chính chảy theo hai hướng: đổ ra Biển Đông (sông Ba) và

đổ vào sông Mê Công (sông Xê Xan)

Trang 28

Sông suối Gia Lai có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc cân bằng sinhthái, xây dựng thủy điện không chỉ riêng cho tỉnh, mà còn cho cả khu vực TâyNguyên và ven biển miền Trung, ngoài ra chúng còn có giá trị lớn đối vớiphát triển kinh tế-xã hội Bên cạnh hệ thống sông suối, Gia Lai còn có hệthống hồ chứa nước (cả tự nhiên và nhân tạo) như hồ tự nhiên Biển Hồ và hồnhân tạo Ayun Hạ.

Đất đai tỉnh Gia Lai có 7 nhóm đất chính gồm: nhóm đất phù sa, nhóm

đất xám, nhóm đất đen, nhóm đất mùn vàng đỏ, nhóm đất thung lũng dốc tụ,nhóm đất mòn trơ sỏi đá

1.2.2 Dân cư tỉnh Gia Lai

Khi mới thành lập tỉnh, ngày 12/8/1991, dân số của Gia Lai là 693,7nghìn người, đến năm 2009 dân số đã tăng lên 1.277,6 nghìn người, bình quânmỗi năm tăng thêm 32,4 nghìn người

Từ sau năm 1975, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằmphân bố lại dân cư và lao động giữa các vùng, góp phần phát triển kinh tế-xãhội, đảm bảo an ninh quốc phòng, tỉnh đã tiếp nhận 1129,9 nghìn dân di cư(trong đó có 32,7 nghìn dân di cư tự do), một bộ phận dân di cư tự do là đồngbào các dân tộc ít người ở vùng núi và trung du Bắc Bộ Vì thế Gia Lai hiệnnay không chỉ có người Kinh và người dân tộc bản địa sinh sống mà còn có

sự hiện diện của các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Thái, Dao,…

Gia Lai là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc, trong đó người Kinh chiếmdân số đông nhất (55,4%) dân số tòan tỉnh, sinh sống phần lớn tại thành phố,thị trấn và dọc các trục lộ giao thông, một số sống xen kẽ với đồng bào cácdân tộc trong các buôn làng Các dân tộc có nguồn gốc lịch sử lâu đời nhất(dân bản địa) là người Giarai (30,2%) và Bana (12,3%) Ngoài ra còn có cácdân tộc ít người khác từ các tỉnh phía Bắc di cư vào làm ăn sinh sống từ saunăm 1975

Người Giarai có địa bàn cư trú chính trên cao nguyên Pleiku và lưu vựcsông Ba và sông Ayun Nguồn sống chính của họ là đốt nương làm rẫy, săn

Trang 29

bắt, đan lát, dệt vải Nhiều người trong số họ đã biết làm ruộng nước, trồngcây công nghiệp, cây ăn quả “Giarai là tên chính thức của dân tộc Đó là tên

tự gọi một tiếng đồng âm và cũng có thể đồng nghĩa với từ Giơ Rai (thácnước) Người giải thích tộc danh Giarai theo nghĩa này cho rằng, có lẽ tổ tiêndân tộc đã từng sinh tụ nơi có nhiều thác ghềnh của một con sông nào đó: IaYun, Ia Pa, Ia Li” [1, tr.93]

Ngoài ra, Gia Lai còn là nơi sinh sống khỏang 30 dân tộc khác nữa,nhưng với số lượng nhỏ, bao gồm người Tày, Nùng, Mường, Thái, Mông,Dao, Xơđăng, Êđê…

Mật độ dân số Gia Lai không cao, năm 2009 mất độ dân số là 82 người/

km2 Dân cư phân bố không đồng đều theo lãnh thổ, ở các huyện giao thông

đi lại rất khó khăn, nằm xa trung tâm tỉnh là nơi cư trú phần lớn các dân tộc ítngười và có mật độ dân số thưa thớt Sự chênh lệch về tỉ lệ dân thành thị,nông thôn đã gây những khó khăn cho việc phân công lao động, làm ảnhhưởng đến các họat động văn hóa, kinh tế, xã hội của tỉnh

1.2.3 Hoạt động kinh tế

Nền kinh tế cuả tỉnh đi lên từ điểm xuất phát thấp và gặp nhiều khókhăn của một tỉnh miền núi biên giới thuộc Tây Nguyên Sau khi bước vàocuộc Đổi mới, nhất là trong thập niên 90 của thế kỉ XX, nền kinh tế đã cónhững chuyển biến rõ nét

Sống trên các vùng đồi núi cao, nên các hoạt động kinh tế chủ yếu làcác hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi Nông nghiệp chủ yếu là trồng lúarẫy làm cây lương thực chính; do điều kiện địa hình chủ yếu là vùng đồi núi,không chủ động được nguồn nước để cung cấp cho cây lúa, bên cạnh đó dokhông cải tiến kĩ thuật và cách thức chăm sóc nên năng suất lúa còn thấp

Hiện nay, một số hộ gia đình đã biết tận dụng hiệu qủa diện tích đấttrồng các lọai cây công nghiệp ngắn và dài ngày, vùng trồng rau (Dưa, Bí,ớt… ) Tập trung đầu tư thâm canh, luân canh, xen, gối vụ để nâng cao năngsuất cây trồng và cải thiện đời sống kinh tế gia đình Ngòai ra họ cũng đã

Trang 30

trồng các loại cây như mía, điều, trồng cây mì… để bán cho nhà máy; làmrượu, dệt thổ cẩm để bán cho người Kinh và những khách đến du lịch có thểmua về làm quà.

Chăn nuôi không còn dừng lại để phục vụ cho các nghi thức cúng tronggia đình hay trong làng mà đã mở rộng ra chăn nuôi theo hình thức trang trạiquy mô vừa và nhỏ, một mặt có thể dùng làm lễ vật cúng, mặt khác có thểđem bán để tăng thêm thu nhập kinh tế cho gia đình

Chăn nuôi chủ yếu các loài giống truyền thống như: nuôi gà thì chủ yếu gà

ri (gà ri có hoa chấm màu, gà ri nâu, gà ri màu trắng, gà ri ác); con trâu chủyếu là trâu thả, giống trâu rừng; con heo chủ yếu heo cỏ, con dê thường làgiống lai dê rừng lai Việc chăn nuôi chủ yếu vẫn là thả rong, phần lớn để cáccon vật tự kiếm ăn

Sản xuất nông nghiệp lúa rẫy chủ yếu bằng cuốc và bằng tay Công cụsản xuất chủ yếu dùng bằng cào, cuốc, dao, rìu, rựa Trong đó, cuốc bàn làmột loại công cụ rất phổ biến, còn dao, rìu, rựa thường dùng để phát rẫy Hiệnnay, đồng bào đã biết dùng liềm để gặt lúa, một số gia đình đã bắt đầu dùngsức trâu, máy cày để cày ruộng

Việc ứng dụng một số biện pháp khoa học công nghệ vào trong sảnxuất còn chậm chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất; sản xuất nông nghiệpvẫn còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên thiếu tính bền vững Việc pháttriển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống như đan lát, dệtthổ cẩm… quy mô còn nhỏ lẻ ở từng hộ gia đình, chưa có sự liên kết giữa các

hộ, chưa thu hút được vốn đầu tư; họat động thương mại-dịch vụ có phát triểnnhưng chỉ mới đáp ứng một số yêu cầu thiết yếu trong trao đổi mua bán củangười dân địa phương

1.2.4 Đời sống văn hóa xã hội

Cũng giống như các dân tộc ở Tây Nguyên sinh sống, trong suốt quátrình lịch sử, mặc dù điều kiện kinh tế-xã hội phát triển chậm, nhưng đời sốngvăn hóa của người Bana lại vô cùng dồi dào và phong phú Người Bana cũng

Trang 31

giống như các dân tộc khác có rất nhiều lễ hội; đa số các lễ hội liên quan đếnnông nghiệp, nó là yếu tố cũng cố đời sống tinh thần, cổ vũ cho cuộc sống vàduy trì các quan hệ cộng đồng dân cư Đây là nét văn hóa có hầu hết ở lễ hộilớn, trong các lễ cúng nhỏ của gia đình.

Từ lâu cuộc sống của những con người nơi đây hòa nhập, gắn cuộc sốngcủa mình với cuộc sống, nhịp điệu của thiên nhiên bao quanh mình để làm ăn,sinh sống Vì làm nông là chính, nên vòng thời gian, chu trình của thiên nhiêncũng là lịch trồng cây và chu trình sinh họat của những con người nơi đây.Như đã nói trên, thời tiết ở đây chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùakhô Vào mùa mưa họ lên rừng làm rẫy, gieo hạt, trồng cây… cho đến thángcuối của mùa mưa, bắt đầu sang mùa khô cũng là lúc lúa chín, con người thuhọach đem về nhà; sau khi mùa màng thu họach xong, thời gian nhàn rỗi họtiến hành các cuộc lễ hội, vui chơi để tạ ơn các thần, lễ bỏ mả hay bỏ ma là lễcuối cùng trong hệ thống lễ hội của người Bana trong năm, đây cũng là đỉnhđiểm của mùa lễ hội Sau khi kết thúc lễ bỏ mả thì cũng là lúc đất trời cũngsắp chuyển sang mùa mưa, con người lại lên rừng phát rẫy trồng cây, một chutrình nông nghiệp mới lại bắt đầu

Với hệ thống lễ hội gắn liền với chu kỳ sản xuất nông nghiệp và vòng đờicủa họ nên những nghi thức cúng, những điệu múa soang, nhưng âm thanh từnhững tiếng cồng chiêng phát ra trong các dịp lễ quan trong của gia đình làsợi dây vô hình gắn kết giữa con người và Yang (thần linh)

Trong một năm, người Bana chủ yếu các lễ hội trong năm như: lễ tạ ơnthần lúa, lễ hội con dúi, lễ bỏ mả, lễ đâm trâu, lễ mừng lúa mới, Đây là dịp

để dân làng bày tỏ lòng thành kính của mình đối với Yang và cầu mongnhững điều tốt đẹp cho dân làng của mình

Khi nhắc đến các lễ hội của người Bana nói riêng và các dân tộc ở TâyNguyên nói chung không thể không nhắc đến lễ bỏ mả Khi nói đến lễ bỏ mả,

Ngô Văn Doanh trong cuốn “Lễ hội bỏ mả bắc Tây Nguyên” đã nhận định:

“Có lẽ, ở Tây Nguyên không một lễ hội nào quy tụ về mình nhiều lọai

Trang 32

hình nghệ thuật, nhiều hiện tượng văn hoá như lễ bỏ mả Muốn có lễ bỏ mả, trước hết phải làm nhà mồ, tượng mồ, phải có múa và nhạc; phải có các con rối và mặt nạ Khác với những lễ hội khác chỉ mang tính gia đình hay bó hẹp trong khuôn khổ của làng, lễ bỏ mả là hội lễ của liên làng Đến với lễ bỏ

mả, không chỉ có dân của làng làm lễ mà người của các buôn gần, làng xa cũng tới dự góp vui Ba hoặc bốn ngày (trước kia bảy đến mười ngày) của lễ

bỏ mả mà thực sự là một ngày hội lễ văn hóa-nghệ thuật và xã hội lớn nhất ở Tây Nguyên Lễ bỏ mả là nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Lễ bỏ mả là nghệ thuật trình diễn nhạc, múa rối và mặt nạ Lễ bỏ mả là văn hóa ăn và hội lễ phô diễn y trang phục dân tộc… có thể nói, không một lễ hội nào ở Tây Nguyên lại mang tính tổng hợp văn hóa nghệ thuật một cách nhuần nhuyễn

và sinh động như lễ bỏ mả” [7, tr 26- 27].

Lễ hội của người Bana là những mong ước của dân làng, thông qua lễhội gửi gắm tới Yang, họ cầu mong cho sự bình yên, ấm no, mưa thuận gióhòa, mọi người đoàn kết thương yêu nhau, cầu mùa màng tươi tốt bội thu, xuađuổi tà ma, dịch bệnh, Chính vì lẽ đó, lễ hội có ý nghĩa vô cùng to lớn đốivới đời sống tinh thần của người dân Bana

1.3 Khái quát về người Bana ở xã Kông Bờ La, huyện K’Bang 1.3.1 Vị trí địa lý, tự nhiên

Xã Kông Bờ La được tách ra từ xã Nam theo quyết định số HĐBT ngày 30/06/1983 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là chính phủ) với têngọi là xã Bắc thuộc huyện An Khê

12/QĐ-Ngày 20/03/1985 huyện K’Bang được thành lập Xã, xã Bắc được nhập

về Huyện K’Bang và được đổi tên thành xã Kông Bờ La Hiện nay xã gồm 10làng, trong đó có 4 làng Kinh và 6 làng Bana Sau này tách xã thì có tên chínhthức là Kông Bờ La (theo cách giải thích của một số già làng thì Kông cónghĩa là núi và Bờ La là tên núi Kông Bờ La được lấy tên từ ngọn núi caonhất của địa phương núi Kông Bờ La), do cách nghe và phiên âm theo tiếng

Trang 33

Việt nên Kông Bờ La còn có cách viết khác là Kon Bla hay Kon Pla, nhưngtên chính xác nhất của xã chính là Kông Bờ La.

Xã Kông Bờ La nằm ở phía Tây Nam của huyện K’Bang, cách trungtâm huyện K’Bang khoảng 15km, cách thành phố Pleiku khoảng 135km theohướng quốc lộ 19 về phía Tây

- Phía Bắc giáp: Xã Đông, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai

- Phía Nam giáp: Thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai

- Phía Đông giáp: Xã Đắk HLơ, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai

- Phía Tây giáp: Xã Kông Lơng Khơng, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai

Xã Kông Bờ La nằm khu vực tiếp giáp của cao nguyên phía Bắc vớivùng hơi bằng của huyện K’Bang và trũng của huyện An Khê Nằm ở phíaTây hạ lưu sông Ba, có độ cao trung bình 580 m

Tổng diện tích tự nhiên của xã Kông Bờ La là 4.105,66 ha, trong đóchủ yếu các loại đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng

Xã Kông Bờ La có độ cao trung bình từ 427m đến 572m so với mựcnước biển và nằm trên địa hình vùng trung du của cao nguyên Gia Lai, nằm ởphía Tây Nam của huyện K’Bang Độ dốc về phía Đông và thấp dần từ phíaTây Bắc xuống Đông Nam Địa hình có dạng núi thấp và đồng bằng, bào mòntích tụ, được tạo thành do hoạt động động xâm thực bào mòn của các suối

Địa hình đồi thoải: diện tích 413,6 ha, chiếm 10,07% diện tích đất tựnhiên, phân bố hầu hết trên địa bàn xã, đất đai chủ yếu là đất nâu tím trênMắcma Bazơ, đỏ vàng trên Mácma axít,… tầng đất dày, đất tương đối màu

mỡ, chủ yếu thích hợp trồng các cây lâu năm: Cao su tiểu điền, trồng rừng

Địa hình thấp ven suối: Độ cao dưới 572m so với mực nước biển, dạngđịa hình này chủ yếu phân bố khu trung tâm xã và dọc hai bên các khe suối,dạng địa hình này thích hợp cho cây trồng ngắn ngày như: Lúa, Mí, Bắp…,thuận tiện cho việc bố trí dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xãhội

1.3.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn

Trang 34

Xã Kông Bờ La nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Khu vựcphía Đông - Đông Nam xã là khu vực sản xuất nông nghiệp và phân bố dân

cư, hạ tầng kinh tế xã hội của xã Kông Bờ La Theo số liệu quan trắc của trạmkhí tượng An Khê, cách trung tâm xã khoảng 45km về phía Đông Nam, cácyếu tố khí tượng của vùng như sau: Nhiệt độ trung bình năm: 26,8°C; tổnglượng mưa trung bình năm: 1.300 - 1.500 mm; độ ẩm không khí trung bình85%; mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 12, chiếm 83% tổng lượng mưa Mùakhô từ tháng 01 đến tháng 04

* Thuận lợi

Lượng mưa lớn, mùa mưa kéo dài, mùa khô ngắn hơn và ít khắc nghiệthơn với các xã khác nên rất thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triểntốt, đặc biệt là cây trồng cần nhiều nước như lúa, mía, bắp… hiện nay đây lànhững cây chủ lực của xã

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, về mùa mưa có độ ẩm, ánhsáng cho các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, mùa khô không cógiá rét, khả năng đáp ứng đủ ánh sáng cho các loại cây trồng, thuận tiện choviệc phơi nông sản

* Khó khăn

Khó khăn lớn nhất cho sản xuất nông nghiệp là sự phân biệt rõ rệt giữahai mùa (mùa khô và mùa mưa); sự phân bố ngày mưa và lượng mưa khôngđều giữa hai mùa, hơn nữa cường độ mưa đầu mùa lớn, do đó tổn thất về xóamòn đất và nước là rất cao, bên cạnh đó về mùa mưa còn xảy ra lũ quét cục

bộ, phá hoại mùa màng và các công trình xây dựng và ảnh hưởng không nhỏđến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân

Theo số liệu thống kê năm 2010 xã Kông Bờ La có tổng diện tích đấtlâm nghiệp của xã có 378,6 ha, chiếm 9,22% tổng diện tích tự nhiên của toàn

xã, trong đó:

Đất có rừng sản xuất : 378,6 ha Rừng của xã Kông Bờ La rất có giá trị

về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường

Trang 35

Diện tích rừng sản xuất và mật độ che phủ tương đối, nên môi trườngcủa xã tương đối trong sạch, hiện môi trường đất, nước, không khí ở trên địabàn xã chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm.

Tuy nhiên với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của xã trong tươnglai, và việc giải quyết các vấn đề về rác thải cần đang được quan tâm mộtcách đúng đắn, nhất là việc tìm cách giải quyết thác thải thay vì dùng cách đốtrác sinh hoạt

Xã Kông Bờ La có 2 nguồn nước chính (mặt nước và nước ngầm)tương đối phong phú Mặt nước chủ yếu phân bố trên các nhánh suối nhỏ của

xã, trong đó đặc điểm địa hình miền núi và khí hậu khắc nghiệt cùng với chế

độ mưa tập trung, nên mùa khô thường thiếu nước, mùa mưa lại thừa nước

1.3.3 Dân cư xã Kông Bờ La

Với dân số đông đứng thứ ba ở Gia Lai sau người Kinh và người Giarai làngười Bana Địa bàn cư trú hiện nay tập trung ở thị xã An Khê và các huyệnKông Chro, K’Bang, Mang Yang, Đăk Đoa,… Giống như người Giarai, trướcđây người Bana cũng dựa vào nông nghiệp đốt nương, làm rẫy, săn bắn, kếthợp với các nghề truyền thống như dệt vải, đan lát Ngày nay, họ đã biết trồngcây công nghiệp, chăn nuôi trâu, bò…

Trên thực tế, có thể xem người Bana là một trong những cư dân sinhsống lâu đời nhất ở cao nguyên Người Bana sử dụng ngôn ngữ Môn-Khmerthuộc ngữ hệ Nam Á Do ảnh hưởng qua lại rất sâu sắc giữa các tộc ngườithuộc nhóm ngôn ngữ và địa vực cư trú của họ có thể bị thu hẹp dần về phíanam do sự có mặt của người Giarai và Êđê, người Bana phải chuyển dần lênphía bắc và phía tây Đây có thể là nguyên nhân của sự chia ngôn ngữ Môn-Khmer thành hai nhóm Bana bắc và nhóm Bana nam

Theo Yang Danh “Cộng đồng người Bơhnar được chia thành hai vùng

rõ rệt: Lấy đèo Mang Yang làm ranh giới thì cộng đồng Bơhnar sinh sống từđèo Mang Yang trở lên gọi là Kơ Pững Kông (vùng trên núi), còn cộng đồng

Trang 36

người Bơhnar sinh sống dưới đèo Mang Yang trở xuống gọi là A La Kông,hay vùng Kơ đeh (vùng thấp)” [6, tr.13].

Ở Gia Lai, người Bana có các nhóm sau:

- Nhóm Bana Tơlô (Gơlar) ở huyện An Khê, Mang Yang, Kông Chro,K’Bang

- Nhóm Chơlơng Ở Mang Yang

Ở vùng An Khê chia thành các nhóm nhỏ hơn:

- Người Bơmâm sống ở vùng rừng già, làm nương đốt là chính vànhững dấu vết của hình thái kinh tế săn bắn vẫn còn khá đậm

- Người Tơlô sống ở ven sông Ba, các vùng đất tương đối là rộng vàbằng, làm nương cuốc thâm canh hoặc luân canh

- Nhóm Kon KơĐeh là sự trung gian giữa hai nhóm trên Họ có xen kẽvới cư dân của hai nhóm ấy Họ làm nương (hỏa canh hoặc dùng cuốc) và bắtđầu làm ruộng nước theo cách thủy nậu

Tính đến cuối năm 2010 dân số của xã có 2.950 nhân khẩu với 646 hộ,phân bố ở 10 làng (làng Briêng, làng Groi, làng Muôn, làng Klôm, làng Lợt,làng Nua, làng Tuchrăn, làng MêDia, làng Jlao và làng Kơxum); trong đóđồng bào dân tộc có 1.750 nhân khẩu (chủ yếu là đồng bào Bana 1.734 nhânkhẩu), với 366 hộ, chiếm 59,32% tổng dân số toàn xã Tỷ lệ tăng tự nhiên của

xã là 2,8% [29, tr.17]

Dân số đựợc phân bố ở 10 thôn làng, theo các trục đường giao thông vàcác khu sản xuất; trừ một số làng ở khu trung tâm xã, các làng còn lại ở rất xanhau, giao thông chủ yếu là đường mòn và đường đất nên lưu thông giữa cáclàng gặp nhiều khó khăn

Việc các dân tộc như Jrai, Dao, Thái, Mường, Tày và Kinh di cư tớikhu này sinh sống đã làm tăng quá trình giao lưu và trao đổi văn hóa giữa cáctộc người, bên cạnh đó nhờ sự giao lưu và trao đổi nên đời sống văn hóa-xãhội của những người dân nơi đây cũng đã thay đổi theo cả chiều hướng tíchcực lẫn tiêu cực

Trang 37

Xuất phát từ chính sách xây dựng vùng kinh tế mới của Chính phủ,trong những thập niên gần đây, vùng Tây Nguyên nói chung và xã Kông Bờ

La nói riêng, đã thu hút rất mạnh các di dân người Việt và các dân tộc thiểu sốkhác, đặc biệt là miền Trung và miền núi phía Bắc Họ đến đây, cùng sinhsống với người dân tại địa phương, cùng khai phá đất đai để canh tác, mangtheo những nét riêng của mình lên một vùng đất mới và hòa hợp cùng bản sắcvăn hóa của các dân tộc Tây Nguyên

Theo thời gian, quá trình giao lưu tiếp biến diễn ra, người Bana của xãKông Bờ La vẫn giữ được những tập tục truyền thống như tổ chức lễ đâmtrâu, ở nhà sàn, xây nhà mồ… cùng các phong tục, tập quán khác Không chỉvậy, việc sống chung với người Kinh và nhận được sự quan tâm của Đảng vàNhà nước trong các chương trình hỗ trợ hộ nghèo sản xuất theo Quyết định

102 của Chính phủ; chương trình 167 về hỗ trợ Hộ nghèo làm nhà ở; bên cạnh

đó còn hỗ trợ giống, phân bón cho các nông dân hộ nghèo phát triến sản xuấtgóp phần thực hiện mục tiêu Xói đói giảm nghèo và đã giúp họ dần bỏ đượccác hủ tục lạc hậu, đời sống phần nào có nhiều cải thiện đáng kể

Người Bana có những tập tục truyền thống về lễ hội cồng chiêng, nhà

mồ và các lễ hội khác nữa, song sống chung với người Kinh Qua quá trìnhtrao đổi và tiếp xúc nên họ đã có những thay đổi trong sản xuất và cách sinhhoạt người Bana đã bỏ được những tập tục lạc hậu và vẫn giữ được nét đẹptruyền thống như dựng nhà rông để làm nơi sinh hoạt cộng đồng, đan lát, dệtthổ cẩm đây cũng là những nét đẹp văn hóa Tây Nguyên cần được giữ gìn vàphát huy

Tiểu kết:

Là một trong những tỉnh ở Tây Nguyên, việc tỉnh thực hiện chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước nhằm phân bố lại dân cư và lao động giữa các vùng,góp phần phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, nên việctỉnh Gia Lai đã tiếp nhận hàng nghìn dân di cư, trong đó một bộ phận dân di

cư tự do là đồng bào các dân tộc ít người ở vùng núi và trung du Bắc Bộ đến

Trang 38

sinh sống cho thấy sức hút mạnh mẽ cũng như tiềm năng phát triển kinh tếcủa tỉnh.

Khí hậu ở Gia Lai có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, với hệsinh thái rừng lá rộng rụng lá theo mùa và nhiêù loài sinh vật quý hiếm; sốngtrên các vùng đồi núi cao, nên các hoạt động kinh tế chủ yếu của người Bana

là các hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi

Trong quá trình hình thành và phát triển, tuy có sự giao lưu văn hóa vàảnh hưởng văn hóa người Kinh khá rõ nét nhưng bản sắc văn hóa của ngườiBana bản địa vẫn được giữ nguyên, bên cạnh văn hóa của các dân tộc anh emkhác tụ hội, tạo nên một sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn hóa củangười dân nơi đây

Là một trong những xã thuộc huyệ K’Bang, xã Kông Bờ La được tách

ra từ xã Nam theo quyết định số 12/QĐ-HĐBT ngày 30/06/1983 của HộiĐồng Bộ Trưởng (nay là chính phủ) với tên gọi là xã Bắc thuộc huyện AnKhê Ngày 20/03/1985 huyện K’Bang được thành lập Xã, xã Bắc được nhập

về Huyện K’Bang và được đổi tên thành xã Kông Bờ La

Trên cơ sở lý luận về đời sống cộng đồng giúp chúng tôi hiểu rõ và có

hướng đi cụ thể cho công trình nghiên cứu “đời sống cộng đồng người Bana

ở xã Kông Bờ La huyện K’Bang tỉnh Gia Lai hiện nay” Khái quát về điều

kiện tự nhiên và xã hội, những khía cạnh quan trọng trong đời sống sinh họat,đời sống tâm linh của người Bana nói riêng đã tạo tiền đề, một cơ sở thực tiễnvững chắc trong việc đi sâu tìm hiểu những nội dung trong đời sống cộngđồng người Bana

Trong chương tiếp theo của khóa lụân, chúng tôi sẽ trình bày về đờisống cộng đồng và những thay đổi trong đời sống cộng đồng của người Bana

ở xã Kông Bờ La

Trang 39

2.1 Hôn nhân và gia đình

2.1.1 Hôn nhân

Trong hôn nhân, người Bana có những nguyên tắc sau:

- Nam nữ được tự do tìm hiểu nhau và tự do tiến tới hôn nhân nhưngphải được bố mẹ đồng ý “Xã hội Bana đã nghiêng sang chế độ phụ hệ Vìvậy, chị gái hay em gái dựng vợ gả chồng cho cho con cái phải hỏi ý kiến của

Trang 40

các anh em trai mình Vợ chồng mới cưới theo tập tục phải đến năm sau mớiđược có con” [28, tr.144].

- Hôn nhân một vợ một chồng bền vững Việc li dị không chỉ do họhàng mà do hội đồng già làng thu xếp một cách thận trọng Việc li dị giữa haingười thường dẫn tới sự cắt đứt quan hệ tốt lành giữa cả hai họ Người gây raviệc li dị bị xử phạt rất nghiêm trọng, nhất là trong trường hợp đã có con.Việc ngọai tình bị cấm ngặt và xử phạt rất nặng Người đàn ông được phéplấy vợ bé với sự đồng ý của vợ cả hoặc trong trường hợp người vợ cả vôsinh… sau hai năm người chồng hoặc vợ chết thì người còn lại có quyền táigiá

- Người Bana trong cùng một ktum gel (họ hàng gần) không được lấynhau, người Việt gọi “con cô, con cậu”

Trong quy định làng, không cấm trai gái được tìm hiểu nhau trước khi

đi đến hôn nhân nhưng có qui định rõ về những mức phạt đối với những đôitrai gái “quan hệ” với nhau trước hôn nhân hay có thai trước khi cưới Tùythuộc vào mức độ nặng nhẹ của hành vi mà làng sẽ đưa ra những mức phạtkhác nhau

Quan hệ yêu đương nam-nữ

Trước khi cưới nhau, trai gái được tự do tìm hiểu nhau, không bất kểbên nào phải tán tỉnh hay tỏ tình trước, hễ ai có tình cảm với người nào thìbộc lộ tình cảm của mình với người đó và không bị bất kì một ràng buộc nào

từ cha mẹ hay những ai khác; họ có thể quen nhau ở nhiều nơi, bằng nhiềuhình thức chứ không còn như xưa nữa

Trường hợp trai gái quen nhau mà không giám ngỏ lời với nhau đượcthì sẽ nhờ một người “chó sói” (người làm mai) chủ động tới gặp người đó vàhỏi xem có ưng nhau không, nếu ưng thuận thì sẽ lần lượt tiến tới làm lễ “traovòng” rồi đến “lễ cưới”, nếu trong quá trình tìm hiểu mà họ thấy không hợpnhau nữa thì chia tay và lại có thể đi tìm người yêu mới Trong trường hợp mà

Ngày đăng: 03/08/2016, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w