1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên

56 409 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phú Bình là huyện thuần nông, nhu cầu thu hồi đất, đầu tư phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới là rất cao; cộng đồng dân cư bị thu hồi đất sản xuất ngày càng nhiều, tình trạng t

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRẦN QUỐC HOA

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN

BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRẦN QUỐC HOA

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN

BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS.TRẦN MINH YẾN

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận

văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự

giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và thông tin trích

dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng12 năm

Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Minh Yến,

người đã tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cám ơn tập thể các thầy cô giáo trong phòng Đào tạo, trường đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt luận văn này Đồng thời xin chân thành cám ơn các Sở, Ngành có liên quan của tỉnh Thái Nguyên; Huyện ủy - HĐND - UBND huyện, các phòng, ban chuyên môn và các xã của huyện Phú Bình đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình công tác và học tập cũng như cơ sở nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, những người luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày 10 tháng12 năm 2014

Tác giả

Trần Quốc Hoa

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5 Bố cục của luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT 4

1.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Tầm quan trọng của việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 7

1.1.3 Tác động của thu hồi đất đến đời sống của người bị thu hồi đất 8

1.1.4 Các hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 10

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất 11

1.2 Cơ sở thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất 19

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực 19

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 23

1.2.3 Thực trạng giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.2.4 Công tác giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại tỉnh Thái Nguyên 28

1.2.5 Bài học rút ra cho việc giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất huyện Phú Bình 29

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30

2.2 Phương pháp nghiên cứu 30

2.2.1 Phương pháp điều tra cơ bản 31

2.2.2 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra (sử dụng phần mềm Microsoft Excel) 31

2.2.3 Phương pháp chuyên gia 32

2.2.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá 32

2.2.5 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài 32

2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 33

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36

3.2 Tình hình giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất 51

3.2.1 Tình hình chung về công tác thu hồi đất tại huyện Phú Bình từ năm 2010 - 2013 51

3.2.2 Chính sách về giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 54

3.2.3 Kết quả giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình 60

3.3 Đánh giá chung 73

3.3.1 Kết quả đạt được 73

3.3.2 Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của hạn chế trong giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất ở huyện Phú Bình 74

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT 77

4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu về giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình 77

4.1.1 Quan điểm 78

4.1.2 Định hướng 78

4.1.3 Mục tiêu 78

4.2 Giải pháp 79

4.2.1 Giải pháp về tổ chức và thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng 79

4.2.2 Giải pháp về giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất 80

4.3 Kiến nghị 83

4.3.1 Đối với Trung ương 83

4.3.2 Đối với địa phương 84

4.3.3 Đối với các các Chủ đầu tư (Doanh nghiệp) 89

4.3.4 Đối với người bị thu hồi đất 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 100

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GD-LĐXH : Giáo dục - Lao động xã hội

ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng, cơ cấu sử dụng các loại đất huyện Phú Bình đến

01/01/2014 35

Bảng 3.2 Cơ cấu lao động trong độ tuổi lao động ở Phú Bình, Thái Nguyên năm 2012 37

Bảng 3.3 Cơ cấu LLLĐ huyện Phú Bình theo trình độ văn hóa năm 2010 - 2013 38

Bảng 3.4 Cơ cấu LLLĐ huyện Phú Bình theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2012 - 2013 39

Bảng 3.5 Giá trị và tốc độ tăng trưởng GTSX trên địa bàn huyện Phú Bình giai đoạn 2008 - 2013 45

Bảng 3.6 GTSX bình quân đầu người trên địa bàn huyện Phú Bình 46

Bảng 3.7 Chuyển dịch cơ cấu GTSX theo ngành Phú Bình 47

Bảng 3.8 Tình hình thu hồi đất và giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Phú Bình từ 2010 - 2013 51

Bảng 3.9 Nghề nghiệp chính của lao động vùng thu hồi đất năm 2010 61

Bảng 3.10 Cơ cấu lao động trong tuổi lao động chia theo thành phần kinh tế năm 2012 của huyện Phú Bình 62

Bảng 3.11 Thu hồi đất nông nghiệp và nhu cầu đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất 65

Bảng 3.12 Tổng hợp kinh phí bồi thường hỗ trợ GPMB 67

Bảng 3.13 Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ 68

Bảng 3.14 Phương thức sử dụng tiền các hộ dân tại Nhà máy may TNG 69

Bảng 3.15 Trình độ văn hóa, chuyên môn của số người trong độ tuổi lao động 69

Bảng 3.16 Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất tại Dự án Nhà máy may TNG 71

Bảng 3.17 Về học vấn, giáo dục của các hộ dân bị thu hồi đất tại Dự án Nhà máy may TNG 71

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Bảng 3.18 Thu nhập bình quân của các hộ dân bị thu hồi đất tại Dự án Nhà máy may TNG 72

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia Là điều

kiện tồn tại và phát triển của nền sản xuất xã hội, của bản thân con người và là

điều kiện sinh tồn của động, thực vật

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế quốc dân trong quá

trình thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất

nước, trong những năm qua các địa phương trong cả nước đã thu hồi hàng ngàn

ha đất bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích quốc

phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế

Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng (GPMB)

thực hiện các dự án, công trình là một khâu quan trọng, then chốt là điều kiện

quyết định để triển khai thực hiện các dự án Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và

tái định cư là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp liên quan đến mọi mặt

đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích

của Nhà nước, của Chủ đầu tư, đặc biệt với các hộ gia đình cá nhân bị Nhà

nước thu hồi đất nhất là đất sản xuất nông nghiệp (thu hồi tư liệu sản xuất đặc

biệt, phương tiện sống của người sản xuất nông nghiệp)

Các địa phương đã ban hành và thực hiện các nội dung yêu cầu của

chính sách thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của Nhà nước như: hỗ

trợ ổn định đời sống, sản xuất; hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm, giải

quyết việc làm Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi

được nghề nghiệp sau khi bị Nhà nước thu hồi đất đã làm cho cuộc sống, nhất

là đối với người nông dân còn gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân này một phần

do nhiều nơi thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đào tạo

nghề và giải quyết việc làm cho hộ dân bị thu hồi đất chưa hợp lý Bên cạnh

đó, bản thân những người dân bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào Nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nước, chưa tích cực tự đào tạo để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp Phú Bình là huyện thuần nông, nhu cầu thu hồi đất, đầu tư phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới là rất cao; cộng đồng dân cư bị thu hồi đất sản xuất ngày càng nhiều, tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm dễ xẩy

ra, thu nhập của một bộ phận dân cư giảm sút, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh Vấn đề giải quyết việc làm gặp nhiều khó khăn, bất cập Xuất phát từ thực tế

nêu trên, tôi quyết định chọn việc nghiên cứu: “Giải quyết việc làm cho

người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Luận văn nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho các hộ dân sau khi

bị Nhà nước thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Từ đó đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình nói riêng và cho tỉnh Thái Nguyên nói chung, góp phần ổn định đời sống cho những người dân bị thu hồi đất trên địa bàn

- Đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp hiện tại và trong những năm tới

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giải

quyết việc làm cho những người dân bị Nhà nước thu hồi đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn

về giải quyết việc làm của người dân sau khi bị Nhà nước thu hồi đất, đồng

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thời phân tích chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm đối với

hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất

- Phạm vi về thời gian

Đề tài được tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010 đến hết

năm 2013

- Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh

Thái Nguyên (nơi các hộ dân bị thu hồi đất đang sinh sống)

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho

người dân bị thu hồi đất

- Khảo cứu kinh nghiệm của một số nước, một số địa phương về giải

quyết việc làm cho người dân khi nhà nước thu hồi đất, và rút ra một số bài học

có thể vận dụng đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng

- Phân tích thực trạng giải quyết việc làm đối với người dân sau khi bị

thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Đánh giá những

kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế, bất cập, và làm rõ nguyên nhân của

những hạn chế, bất cập đó

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách giải quyết việc

làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn

được bố cục thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho người

dân bị thu hồi đất

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4: Một số giải pháp nhằm thực hiện chính sách giải quyết việc

làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT

1.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm về việc làm; thiếu việc làm; thất nghiệp

* Việc làm

Là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”

Điều 13, chương II Bộ Luật Lao Động nước CHXHCN Việt Nam có ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.[13,tr11] Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hóa bằng ba dạng hoạt động sau:

- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật

- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần

- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

dụng; hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong

hộ làm chủ hoặc quản lý

Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn

hai điều kiện:

- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao

động và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và

nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm

- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ

tính pháp lý của việc làm

Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:

- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hay tinh thần, không bị

pháp luật cấm, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật

- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho

gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công

việc đó Các công việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu tư nhân

của gia đình, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm

* Thiếu việc làm

Thiếu việc làm là tình trạng người lao động không có đủ việc làm theo

thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc làm những công việc có thu

nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có thu

nhập Người thiếu việc làm là những người trong khoảng thời gian xác định

của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần,

trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc là những người

có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có

thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thu nhập

*Thất nghiệp

Thất nghiệp là sự mất việc làm hay sự tách rời lao động ra khỏi tư liệu

sản xuất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Định nghĩa thất nghiệp của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành” [9,tr27]

Theo P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus, người thất nghiệp là những người trong không có việc làm được trả công và đang cố gắng cụ thể để đi tìm một công việc trong 4 tuần qua, hoặc bị thôi việc nhưng đang chờ được gọi làm việc trở lại, hoặc đang chờ đợi đi làm trong tháng tới

Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội :

“Người thất nghiệp là những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không việc làm trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra có

đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với

lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc”.[13,tr23]

1.1.1.2 Khái niệm về giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản than, gia đình, cộng đồng và xã hội

Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiền năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản than và gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước

Giải quyết việc làm có thể hiểu ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Số lượng và chất

lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng lao động

phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi và sự di

chuyển của lao động, chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của

giáo dục đào tạo,y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng…

Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu

quả cao, các giải pháp về quản lý thị trường, kỹ thuật… nhằm nâng cao hiệu

quả của việc làm

1.1.1.3 Khái niệm về Nhà nước thu hồi đất

Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử

dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất

của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai [3,tr2]

Với khái niệm này cần được hiểu:

+ Không phải mọi khoản bồi thường đều chi trả được bằng tiền

+ Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà

nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần

+ Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính

cưỡng chế và vẫn là đòi hỏi sự "hi sinh", không thể là một sự bồi thường

ngang giá tuyệt đối

Việc bồi thường có thể vô hình hoặc hữu hình, có thể do các quy định

của pháp luật điều tiết, hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thể

1.1.1.4 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối

với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất [3,tr2]

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người

có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển thông qua đào tạo

nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới

[3,tr2]

1.1.2 Tầm quan trọng của việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội ở

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Việt Nam

Quyết định thu hồi đất và bồi thường GPMB là khâu then chốt để Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên thực tế, làm cho đất đai sử dụng ngày càng có hiệu quả, đây là việc làm lâu dài và liên tục của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Khi tiến hành thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư luôn tồn tại 3 mối quan hệ: Nhà nước, người bị thu hồi đất, nhà đầu tư Tuy cùng lúc, cùng địa điểm nhưng quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm và lợi ích lại khác nhau Thực hiện bồi thường đất đai, tài sản, vật kiến trúc, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất phải đảm bảo tính công khai, công bằng, dân chủ theo chính sách pháp luật, vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa ổn định tình hình chính trị của đất nước nói chung và của địa phương nói riêng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là vấn đề kinh tế xã hội tổng hợp liên quan đến nhiều mặt kinh tế xã hội, phụ thuộc vào nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước như: Luật Đất đai, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật Lao động, Luật Ngân sách, Luật Khiếu nại, Tố cáo, Luật Xây dựng và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện

1.1.3 Tác động của thu hồi đất đến đời sống của người bị thu hồi đất

1.1.3.1 Những tác động tích cực

- Tạo cơ hội việc làm có thu nhập ổn định cho một bộ phận lao động nông thôn Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị đã giúp cho việc chuyển một số lao động từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang làm việc ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Thu nhập của lao động nông thôn

đã tăng lên, từ khoảng 4 triệu đồng/người/năm năm 2000, đã tăng lên 12,2, triệu đồng/người/năm năm 2008 Sau khi thu hồi đất, nhiều lao động nông thôn đã chuyển sang các ngành phi nông nghiệp, đặc biệt là số lao động trẻ, lao động đã qua đào tạo Các khu công nghiệp đã thu hút được số lượng lớn lao động nông thôn, và thu nhập cao hơn, ổn định hơn Thu nhập của lao động

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ở các khu công nghiệp trung bình từ khoảng 3,5-6,0 triệu đồng/tháng Như

vậy thu nhập của họ đã cao hơn rất nhiều so với làm nông nghiệp

- Tăng nguồn vốn cho người lao động (tiền được bồi thường): Khi Nhà

nước thu hồi đất để thực hiện công nghiệp hóa và đô thị hóa thì phương thức

bồi thường được thực hiện nhiều nhất là bồi thường bằng tiền Người lao

động có thể dùng khoản tiền này để đầu tư phát triển sản xuất tạo nguồn thu

nhập, đầu tư học nghề, xây dựng nhà cửa… Cùng với việc bồi thường thiệt

hại, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cũng được thực hiện bằng tiền

- Phát triển cơ sở hạ tầng: khi thu hồi đất để thực hiện công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, thì kèm theo đó là sự phát triển cơ sở hạ tầng Đó là sự phát triển

mạng lưới giao thông, cầu cống, bến cảng, chợ, siêu thị, mạng lưới thông tin,

viễn thông, điện năng…., tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi và

hiệu quả hơn trong các hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hóa, cải thiện điều

kiện giao lưu với bên ngoài

Thu hồi đất và bồi thường GPMB đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời

gian, chi phí và sớm đưa dự án sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội

Ngược lại, làm chậm tiến độ thực hiện dự án, lãng phí thời gian, tăng chi phí,

giảm hiệu quả dự án

1.1.3.2 Những tác động tiêu cực

- Làm giảm diện tích đất nông nghiệp: Thực tế cho thấy rằng, nhiều

diện tích đất đã bị thu hồi để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế-xã hội,

trong đó nhiều nhất là đất nông nghiệp Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn, hàng năm, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho phát

triển công nghiệp là khoảng trên 70.000 ha, chưa kể cho phát triển đô thị là

khoảng 10.000 ha Chỉ tính riêng một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng như:

Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng và Ninh Bình, số diện tích đất nông nghiệp

bị thu hồi cho phát triển công nghiệp trong những năm vừa qua đã lên hàng

chục nghìn ha (Bắc Ninh gần 2.000 ha, Hải Phòng gần 4.000ha, Ninh Bình là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

một tỉnh nhỏ nhưng cũng có đến 735 ha….) Diện tích đất nông nghiệp giảm dẫn đến diện tích đất nông nghiệp trên lao động giảm Có nơi, diện tích đất nông nghiệp bình quân giảm từ 2.438m2/lao động nông nghiệp xuống còn 384m2/lao động nông nghiệp

- Làm tăng tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp: việc thu hồi đất nông

nghiệp trong những năm qua đã tác động đến đời sống của người lao động

Mặc dù Nhà nước và các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư đối với nông dân bị thu hồi đất nhưng trên thực tế 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25 - 30% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm, phải chuyển đổi nghề nghiệp Tình trạng bị mất việc làm

do bị thu hồi đất đã làm xuất hiện hình thức thất nghiệp mới ở nông thôn bên cạnh sự tồn tại của các hình thức thất nghiệp khác Đó là thất nghiệp công khai (chính thức) giống như thất nghiệp ở thành thị

- Làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động: Chính vì sự thiếu việc làm do thu hồi đất nên đời sống của nhiều người dân rơi vào tình trạng bấp bênh, không ổn định Thu nhập bị giảm do người lao động không có việc làm

hoặc có việc làm nhưng cho thu nhập thấp

1.1.4 Các hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất

- Đào tạo nghề: Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất cho hệ thống trường lớp đào tạo nghề

Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề cả về số lượng và chất lượng Các hình thức đào tạo phong phú, bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn, liên kết đào tạo, vừa học vừa làm hoặc đào tạo lưu động….Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nghề

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Giới thiệu việc làm: thành lập các trung tâm giới thiệu việc làm, phát

triển, mở rộng mạng lưới giới thiệu việc làm, nhằm kết nối giữa doanh nghiệp

với người lao động, không chỉ ở địa phương mà còn kết nối với doanh nghiệp

ở các địa phương khác

- Hỗ trợ giải quyết việc làm (vay vốn, hỗ trợ chuyển đổi nghề…): nhà

nước cho vay vốn để mở rộng sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm, hoặc hỗ trợ

tiền cho người lao động chuyển đổi nghề nghiệp…

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người dân bị thu

hồi đất

1.1.5.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động chịu tác động rất nhiều

của điều kiện tự nhiên Trước hết phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau:

- Vị trí địa lý

Vị trí địa lý của địa phương là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng tới sự

phát triển và cơ cấu của các ngành kinh tế Khi địa phương có vị trí địa lý

thuận lợi về giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước thì các nhà đầu tư sẽ

có điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,

đồng thời tiết kiệm được nhiều chi phí trong quá trình đầu tư, cũng như khi

doanh nghiệp đi vào hoạt động Địa phương mà thu hút được càng nhiều nhà

đầu tư, thì nền kinh tế của địa phương càng có điều kiện để phát triển Sự

phát triển của các ngành kinh tế sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động và

chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương

Ngược lại, nếu vị trí địa lý không thuận lợi về giao thông, thông tin liên

lạc thì sẽ làm mất nhiều thời gian, chi phí của nhà đầu tư và do đó địa

phương sẽ khó, thậm chí không thu hút nhà đầu tư Khi đó, nền kinh tế của

địa phương sẽ mất đi nhiều cơ hội phát triển và người lao động cũng không có

thêm việc làm Để thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, địa phương cần

khắc phục nhược điểm của vị trí địa lý bằng cách xây dựng các chính sách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phát triển kinh tế sao cho có lợi và minh bạch hơn cho các nhà đầu tư, xây dựng hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án tại địa phương, từ đó sẽ tạo thêm việc làm cho người lao động

- Diện tích đất đai

Địa phương quỹ đất lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh

tế phát triển mạnh hơn, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động Mặt khác, khi tiến hành thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi mục đích sử dụng mà địa phương có diện tích đất nông nghiệp lớn, có quỹ đất dự phòng thì có thể đền

bù cho người dân bằng đất cùng loại ở vị trí khác, làm cho người dân có đất

bị thu hồi vẫn có thể tiếp tục sản xuất nông nghiệp và không bị ảnh hưởng đến việc làm Còn nếu địa phương không có quỹ đất dự phòng để đền bù cho người dân thì phải có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để giải quyết việc làm cho người lao động

- Khí hậu, thời tiết

Khí hậu, thời tiết nhìn chung có ảnh hưởng tới sự phát triển của nhiều ngành kinh tế Tuy nhiên, tuỳ thuộc theo từng ngành mà mức độ ảnh hưởng

có khác nhau Nông nghiệp là ngành sản xuất gắn liền với điều kiện tự nhiên,

vì vậy khí hậu và thời tiết có ảnh hưởng rõ rệt và rất lớn đến sản xuất nông nghiệp Tại những vùng có khí hậu, thời tiết thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển các loại cây, con, đồng thời tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, tạo nên những vùng chuyên canh, sản xuất hàng hoá lớn, từ đó thu hút được nhiều lao động tham gia, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp phát triển cũng sẽ thu hút các ngành công nghiệp chế biến sử dụng nguyên liệu vào từ sản phẩm đầu ra của nông nghiệp phát triển, khi đó có điều kiện tạo thêm nhiều việc làm cho lao động địa phương Ngược lại, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, không thuận

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lợi sẽ làm giảm quy mô sản xuất, đặc biệt là trường hợp thiên tai, bão lũ còn

ảnh hưởng tới kết quả cuối cùng của người lao động Tại những địa phương

đó, cần chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề tiểu

thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ để tạo việc làm cho người lao động

- Tài nguyên, khoáng sản

Tài nguyên, khoáng sản ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự hình thành và

phát triển các khu công nghiệp Địa phương nào có nhiều tài nguyên, khoáng

sản sẽ có các ngành công nghiệp khai thác phát triển mạnh mẽ Theo đó còn

có sự phát triển của các ngành vận tải, dịch vụ giúp cho kinh tế địa phương

phát triển, giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động

1.1.5.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội của địa phương

- Điều kiện kinh tế

Điều kiện kinh tế, ở đây được hiểu là trình độ phát triển kinh tế, là một

trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc làm của người lao động Điều

kiện kinh tế ở trình độ cao thì các ngành kinh tế sẽ phát triển mạnh, tạo ra

nhiều việc làm cho người lao động

Trình độ phát triển kinh tế của địa phương được thể hiện rõ nhất qua

tổng giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế của địa phương đó Địa

phương có nền kinh tế phát triển thì trong cơ cấu kinh tế các ngành công

nghiệp, thương mại, dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng cao Sự phát triển của các ngành

này sẽ sử dụng rất nhiều lao động, vì nếu 1 ha đất nông nghiệp chỉ cần 1 - 2 lao

động để tiến hành sản xuất thì nay đối với 1 ha đất dành cho phát triển công

nghiệp, dịch vụ thì cần nhiều lao động hơn, từ đó vấn đề giải quyết việc làm

cho người lao động sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn Khi địa phương có nền

kinh tế phát triển, lĩnh vực nông nghiệp cũng sẽ phát triển theo hướng sản xuất

hàng hoá thu hút nhiều lao động nông nghiệp tại địa phương Do trồng lúa chỉ

cần 1 - 2 lao động/ha thì nay khi chuyển sang trồng hoa, cây công nghiệp… thì

lượng lao động cần nhiều hơn vì các khâu sản xuất đòi hỏi cao hơn

Khi nền kinh tế của địa phương không phát triển hoặc phát triển chậm sẽ

dẫn đến sản xuất bị đình đốn và thu hẹp, nhu cầu sử dụng lao động cũng bị thu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hẹp theo, từ đó công tác giải quyết việc làm sẽ gặp rất nhiều khó khăn Mặt khác, kinh tế không phát triển hoặc phát triển chậm còn là nguyên nhân dẫn tới phát triển chậm về giáo dục đào tào Giáo dục đào tạo phát triển chậm sẽ làm cho chất lượng lao động thấp, làm giảm cơ hội có việc làm của người lao động

- Điều kiện xã hội

Điều kiện xã hội là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của người lao động Có rất nhiều nhân tố xã hội ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho người lao động

chất lượng dân số quy định Cụ thể:

+ Quy mô dân số tăng, nhu cầu về lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

tăng lên Để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tăng lên đó đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hoá các ngành nghề hoạt động Điều đó dẫn đến nhiều ngành nghề mới ra đời, dẫn đến số chỗ làm việc mới cũng được tạo ra nhiều hơn, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo

+ Cơ cấu dân số quyết định cơ cấu tiêu dùng Mỗi độ tuổi, giới tính, ngành nghề, tôn giáo, dân tộc đều có tâm lý, sở thích tiêu dùng khác nhau, nhu cầu tiêu dùng về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hoá, dịch vụ cũng khác nhau Để thoả mãn đầy đủ nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng đó tất yếu phải mở rộng, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng chủng loại hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm; thay đổi cơ cấu ngành nghề Nghĩa là

số lượng việc làm được tạo ra nhiều hơn, phát triển đa dạng hơn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Mức sinh tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến tạo việc làm Mức sinh

cao, số trẻ em mới được sinh ra nhiều, nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là của trẻ

em tăng lên Các khoản chi phí cho giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ và

nhiều lĩnh vực hoạt động khác đều tăng, các dịch vụ khác ăn theo cũng phát

triển hơn, cơ cấu việc làm thay đổi Nghĩa là cùng với mức sinh tăng lên,

nhiều việc làm mới được tạo ra, quy mô, cơ cấu việc làm đa dạng hơn Còn

mức sinh giảm nghĩa là số người già đông hơn, vì nhiều lý do mà họ phải gia

nhập trở lại thị trường lao động, áp lực về việc làm tăng lên, tạo việc làm cho

người già trở nên nan giải

+ Mức chết: sự biến đổi của mức chết cũng tác động đến vấn đề tạo

việc làm Mức chết tăng lên, nhất là mức chết của dân cư trong độ tuổi lao

động cao dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, nhiều chỗ việc làm

không có người đảm nhận Hơn nữa khi mức chết tăng cao, số người chết

trung bình hàng năm nhiều lên, dịch vụ phục vụ tang lễ và nhiều hoạt động

khác đi kèm cũng thay đổi, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo Mức chết

giảm xuống, nhất là mức chết của dân số trong độ tuổi lao động giảm, cung

lao động tăng lên tương đối, nhu cầu và áp lực việc làm tăng theo Mức chết

giảm xuống, dân số có xu hướng già hoá, số người già đông hơn, tuổi thọ

trung bình trong dân cư tăng lên việc làm cho người già, các dịch vụ chăm

sóc người già cũng tăng theo

+ Di dân làm cho quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số ở vùng

đi và vùng đến thay đổi Di dân thường xảy ra đối với những người đang

trong độ tuổi lao động sẽ dẫn đến cung lao động ở vùng đến tăng lên, ở vùng

đi giảm xuống Cơ cấu dân số cũng thay đổi: ở vùng đến cơ cấu dân số

thường trẻ hơn, ở vùng đi cơ cấu dân số già đi Từ đó dẫn đến nhu cầu tiêu

dùng hàng hoá, dịch vụ sẽ thay đổi Vùng đến nhu cầu tiêu dùng tăng lên đòi

hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm Nhiều ngành nghề mới ra

đời, tạo ra ra nhiều chỗ làm mới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Chất lượng lao động

Chất lượng lao động cũng là một yếu tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm cho người lao động Trong thời đại CNH, HĐH các doanh nghiệp ngày càng phát triển, việc đòi hỏi lao động có sực khoẻ, trình

độ chuyên môn, tay nghề cao để đáp ứng được yêu cầu của công việc đề ra là điều vô cùng cần thiết Người lao động có trình độ mới có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm theo đúng nguyện vọng, mới có thể có được thu nhập cao đáp ứng được nhu cầu cuộc sống Người lao động cần tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình, tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, nâng cao tay nghề để có thêm kinh nghiệm, kiến thức và nhận thức Điều đó mới có thể nâng cao vị thế bản thân mỗi lao động

- Môi trường xã hội, an ninh trật tự

Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội, an ninh trật tự Môi trường xã hội tốt, người lao động

sẽ có điều kiện chăm sóc sức khoẻ, học tập nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn từ đó mà nâng cao khả năng giải quyết việc làm của người lao động Tình hình an ninh trật tự tốt sẽ giúp cho người dân yên tâm học tập văn hoá chuyên môn, chú trọng sản xuất giúp cho sản xuất phát triển, mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động An ninh trật tự tốt cũng sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, thu hút họ đến đầu tư phát triển sản xuất ở địa phương, mở ra nhiều cơ hội

1.1.5.3 Chính sách của Nhà nước và ứng xử của doanh nghiệp

Cơ chế chính sách của quốc gia, của chính quyền địa phương, các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố quan trọng tạo việc làm cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, Chính phủ sẽ đề ra những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của ngành này hay ngành khác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặp nhau Chẳng hạn,

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế, do

đó cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo vùng cũng thay đổi

Trong Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Người lao động có

quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà

pháp luật không cấm”(Khoản 1, Điều 16) Điều 13 ghi rõ: “Giải quyết việc

làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm

là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”

Chính sách việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sách xã

hội và các chính sách kinh tế Thực hiện tốt chính sách việc làm thì nguồn

lao động được sử dụng hiệu quả, thất nghiệp sẽ giảm, thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị và xã hội Ngược lại, khi chính sách việc

làm chưa được giải quyết tốt, nạn thất nghiệp sẽ tăng và các tệ nạn xã hội sẽ

dễ dàng phát sinh, gánh nặng của các chính sách bảo đảm an ninh, xã hội sẽ

tăng lên

Chính sách phát triển kinh tế tốt, sẽ thúc đẩy các thành phần kinh tế

tích cực tham gia sản xuất kinh doanh và hoạt động có hiệu quả, phát triển và

đa dạng hoá các ngành nghề, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động

Bên cạnh đó, chính sách đào tạo và giải quyết việc làm cho lao động

nông thôn cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giải quyết việc làm

cho người lao động Các cấp chính quyền cần đưa ra được các chính sách

giải quyết việc làm một cách có hệ thống và đồng bộ, bao gồm: chính sách

khuyến khích phát triển những lĩnh vực, ngành nghề có khả năng thu hút

nhiều lao động như chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính

sách xuất khẩu lao động, chính sách khôi phục và phát triển các làng

nghề Ngoài chính sách để tạo việc làm mới, còn có những chính sách

tránh cho người lao động đang làm việc bị mất việc làm, chính sách trợ cấp

thất nghiệp cho người lao động khi bị mất việc làm Một hệ thống các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chính sách việc làm đồng bộ sẽ tạo môi trường thuận lợi để việc làm hình thành, ổn định và phát triển, từ đó cho công tác giải quyết việc làm sẽ gặp nhiều thuận lợi và có kết quả tốt

Cần phải nhất quán về nhận thức và hoạt động là có chính sách rồi nhưng chính sách phải đúng và bền vững Điều đó có tính quyết định là phải thực thi tốt chính sách đó trên thực tế, tức là phải đưa chính sách đó vào thực tiễn một cách kịp thời, hiệu quả và minh bạch

1.1.5.4 Khả năng đáp ứng của người lao động

Khả năng đáp ứng của người lao động tác động đến việc làm Bởi vì mỗi độ tuổi, giới tính, trình độ của người lao động khác nhau đều có những

ưu thế riêng trong lĩnh vực hoạt động, trong sản xuất kinh doanh Nếu khai thác và sử dụng hiệu quả thế mạnh từ khía cạnh tuổi và giới tính, trình độ của người lao động sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực Khi cơ cấu lao động thay đổi, cơ cấu các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân nói chung, nhiều lĩnh vực khác nói riêng tất yếu phải có sự điều chỉnh cho phù hợp Điều đó dẫn đến đặc điểm hoạt động nghề nghiệp, tính chất của việc làm sẽ thay đổi Chất lượng lao động được đánh giá trên các mặt về sức khoẻ, trình độ, phẩm chất Vấn đề được nói đến nhiều khi đề cập đến chất lượng lao động là trình độ của người lao động Kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày một tiên tiến, đòi hỏi người lao động phải có trình độ nhất định đáp ứng yêu cầu công việc Người lao động có trình độ càng cao thì cơ hội tìm được việc làm càng dễ dàng Hầu hết những người thất nghiệp chủ yếu là những người có trình độ thấp, không đáp ứng được yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Do đó, người lao động muốn kiếm được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp cần phải có các thông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt là đầu tư vào vốn con người cả về thể lực và trí lực Mỗi người lao động cần tuỳ thuộc vào điều kiện

và hoàn cảnh cụ thể của mình, tranh thủ các nguồn tài trợ để tham gia giáo dục,

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đào tạo, phát triển sức lao động nhằm nâng cao kiến thức, nhận thức, kinh

nghiệm Đó cũng chính là điều kiện cần thiết để duy trì việc làm, tạo cơ hội

việc làm có thu nhập, nâng cao vị thế bản thân mỗi người lao động

1.1.5.5 Thị trường lao động

Cung cầu lao động có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Quy mô,

cơ cấu, phân bố và chất lượng lao động quy định quy mô, phân bố, cơ cấu và

chất lượng việc làm Ở đâu và khi nào lao động được cung ứng lớn thì nơi đó,

khi đó việc làm được tạo ra nhiều hơn và ngược lại

1.2 Cơ sở thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực

1.2.1.1 Trung Quốc

Ở Trung Quốc có hai hình thức sở hữu về đất đai gồm: sở hữu nhà

nước (đất đô thị và đất xây dựng) và sở hữu tập thể (đất ở thuộc vùng nông

thôn và đất nông nghiệp) Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm

1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử

dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao

đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất

Theo quy luật phát triển của xã hội, công nghiệp hoá và đô thị hoá là sự

lựa chọn tất yếu của các quốc gia Trung Quốc, là nước đông dân nhất thế giới

(trên 1,3 tỷ người), và cũng là nước có nền nông nghiệp phát triển mạnh

Trong những năm gần đây, tiến trình đô thị hoá ở Trung Quốc diễn ra rất

nhanh, nhưng cũng đồng thời lấy đi nhiều diện tích đất nông nghiệp Theo

thống kê cho thấy, khi tỷ lệ đô thị hoá nâng lên 1,5%, thì nhu cầu sử dụng đất

tăng lên 1% Trong 5 năm gần đây, diện tích đất canh tác của Trung Quốc bị

thu hồi đã lên đến 7,3 triệu ha Do ruộng đất bị thu hồi thì hàng năm có hàng

triệu nông dân Trung Quốc bị mất đất, thất nghiệp; trung bình mỗi năm tăng

thêm từ 2,5 đến 3 triệu người Theo tính toán cứ 2 mẫu đất bị thu hồi thì có 3

người nông dân thất thiệp Vì vậy, sau khi bị thu hồi đất, vấn đề giải quyết

việc làm cho người nông dân trở nên cấp bách hơn bao giờ hết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Việc đẩy mạnh phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho người nông dân có việc làm được coi là chính sách lâu dài mà Trung Quốc đang tập trung giải quyết Các địa phương ở Trung Quốc đã có nhiều

cách làm khác nhau để giải quyết vấn đề này như:

- Thành lập quỹ đào tạo, bồi dưỡng nghề cho những người nông dân bị thu hồi đất; khuyến khích các đơn vị ưu tiên sắp xếp công ăn việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất; khuyến khích nông dân lập nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân bị thu hồi đất vào thành phố mở doanh nghiệp và

được hưởng các chính sách ưu đãi như các đối tượng thất nghiệp ở thành phố

- Áp dụng chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho người nông dân bị thu hồi đất Tất cả các đơn vị tuyển dụng người nông dân bị thu hồi đất vào làm việc phải ký hợp đồng lao động cho những người này từ 3 năm trở lên, mức lương hàng tháng không thấp hơn 120% mức lương tối thiểu của địa phương Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về tái định cư của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông "đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện tái định cư"

1.2.1.2 Ở Thái Lan

Trong những năm gần đây, diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan đang giảm dần do quá trình công nghiệp hoá do sự mở rộng các khu công nghiệp, giải trí, khu đô thị Để khắc phục những thiệt hại do sụt giảm diện tích đất nông nghiệp mang lại, Thái Lan đã chủ trương vừa phát triển các khu công nghiệp, vừa tập trung phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá cho xuất khẩu, phát triển ngành nghề dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Chủ trương đó đã thể hiện sự đúng đắn thông qua sự phát triển của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Để trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới như

hiện nay, Thái Lan đã quan tâm tới việc hỗ trợ, cung cấp tín dụng để đào tạo

và bồi dưỡng tay nghề của người lao động Bên cạnh những chính sách

khuyến khích và hỗ trợ nông dân, thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như

đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức của người nông dân được coi trọng

hướng đến, như: kỹ thuật bón phân, kỹ thuật gieo sạ, kỹ thuật sản xuất sạch,

giúp người nông dân nắm bắt được nhu cầu thị trường Các khoá học tại chỗ

về kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi

nhằm thu hút và nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông thôn

Bên cạnh đó, Thái Lan đã tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho

nông dân, giảm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp cho người nông dân, xoá bỏ

thuế nông nghiệp Triển khai chương trình điện khí hoá nông thôn, xây dựng

hệ thống thuỷ lợi bảo đảm tưới tiêu Quan trọng nhất là áp dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật cải tạo đất trồng, cải tạo những vùng đất thoái hoá, khô cằn nâng

cao độ màu mỡ cho đất Điều này giúp tăng diện tích đất canh tác cho nông

dân, góp phần sử dụng hiệu quả quỹ đất

1.2.1.3 Ở Nhật Bản

Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài

tăng trưởng trong nông nghiệp Nhật Bản là nước luôn bị giới hạn bởi tài

nguyên đất đai ít và dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân trên một hộ

nông dân khoảng 0,8 ha Nhật Bản thực hiện chính sách đưa sản xuất công

nghiệp về nông thôn, vừa biến đổi nền nông nghiệp cổ truyền Châu Á thành

nền nông nghiệp tiên tiến, vừa phát triển nông thôn theo hướng đa dạng hoá

nhằm giải quyết việc làm ở khu vực này Chính điều này đã làm cơ cấu nông

thôn thay đổi, các ngành phi nông nghiệp đã đóng góp ngày càng tăng vào thu

nhập của người dân nông thôn Việc chú trọng phát triển công nghiệp, đầu tư

cho các ngành có hiệu quả cao như: luyện kim, hoá chất, đóng tàu, chế tạo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

máy, điện tử và đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, đã thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác ngày càng giảm Nhật Bản cũng đầu tư lớn cho giáo dục, đào tạo, đặc biệt là đầu tư cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khoa học ứng dụng, vì vậy mà lao động Nhật Bản có trình độ chuyên môn kỹ thuật rất cao

Chính phủ Nhật Bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua internet đến với những người đang tìm việc, giúp

họ có những lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện và khả năng của mình Chính phủ thực hiện bồi dưỡng cho những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới hoặc đang phát triển

Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏ những mất cân đối về việc làm do tuổi tác Luật về ổn định việc làm của người lao động cao tuổi, trong đó nhấn mạnh yêu cầu các công ty phải kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuê mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện tại hoặc từ các công ty chi nhánh Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theo từng khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia, mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong những năm 1960, 1970 các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ

tin học và môi trường đang giữ một vai trò then chốt trong việc mở ra những

thị trường mới ở Nhật Bản Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các

dịch vụ liên quan được khuyến khích phát triển Việc phát triển khoa học và

công nghệ địa phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi

vùng Chính phủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định thị

trường lao động ở tầm vĩ mô, nhưng để có tham gia được vào thị trường lao

động thì bản thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề

nghiệp của mình thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, các tổ chức cũng

phải ủng hộ điều này một cách tích cực

Các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống cũng được khuyến khích

phát triển, vùng Tây nam Nhật Bản đã có phong trào: mỗi thôn, làng có một

sản phẩm nhằm khai thác ngành nghề nông thôn Phong trào phục hồi ngành

nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống đã lan rộng khắp nước Nhật, góp phần

giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, làm tăng mức sống và mức đô thị

hoá ở vùng nông thôn Nhật Bản

Từ thực tế của các nước trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực trên cơ sở nhu cầu lao động của xã hội

Thứ hai, phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều tiến bộ

khoa học - công nghệ và những ngành nghề sử dụng nhiều lao động

Thứ ba, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường

Thứ tư, phát triển tiểu thủ công nghiệp truyền thống tạo việc làm cho

lao động địa phương

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước

1.2.2.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất của

thành phố Đà Nẵng

Năm 1997, Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ương và đến cuối năm 2003 được chính phủ xếp hạng là đô thị loại I cấp quốc gia Dân số của thành phố đến cuối năm 2004 là 763.300 người, GDP đặt 9.564,4 nghìn tỷ đồng Số người trong độ tuổi lao động của thành phố là 349.439 người, được phân chia theo khu vực thành thị là 276.480 người và khu vực nông thôn là 72.959 người

Trong quá trình khảo sát thấy nổi lên một số vấn đề đó là: Lao động trong khu vực nông nghiệp - ngư nghiệp thì có 30,05% giữ nguyên nghề cũ, chuyển sang nghề khác là 18,94%, có việc làm không ổn định là 16,17% và không có việc làm là 34,84% tương đương với 1.232 người Hơn nữa trong số này có 874 người có nhu cầu học nghề còn lại là không đủ điều kiện để học nghề; Do số lượng lao động mất việc làm là khá lớn đang trở thành những bức xúc đòi hỏi thành phố phải có những giải pháp để khắc phục

Để người dân đồng thuận với thu hồi đất thành phố Đà Nẵng đã có những sáng tạo nhất định:

- Người dân tham gia góp đất xây dựng các công trình công cộng, nhờ

đó giúp thành phố tiết kiệm chi phí chỉnh trang đô thị và nâng gía trị đất của người dân sau khi quy hoạch Tất cả các dự án đều được lấy ý kiến nhân dân, khi có trên 80% hộ dân trong diện giải tỏa đồng tình mới triển khai thực hiện

- Quy hoạch mở rộng vệt giải tỏa dọc hai bên đường tạo ra quỹ đất vàng trong kêu gọi đầu tư, bán đấu giá xây dựng các khu thương mại, dịch vụ với giá cao giúp thành phố có nguồn thu lớn cho ngân sách, tạo điều kiện đầu tư các công trình phúc lợi xã hội khác Thành phố thực hiện bồi thường bằng đất cho các hộ dân tái định cư có quy định cụ thể về giá trị quy đổi, mỗi

hộ được bồi thường từ 1 tới tối đa 5 lô đất

- Vận động nông dân lập trang trại, thuê mặt nước để nuôi trồng thủy sản tự tạo việc làm cho mình cũng như cho người khác

- Miễn thuế, giảm thuế sản xuất kinh doanh đối với những hộ nông dân chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa buộc phải chuyển qua sản xuất kinh doanh ở những ngành nghề khác

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nhờ đó, Thành phố đã thu được một số kết quả: giải quyết việc làm cho

80.000 lao động mỗi năm, tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian lao động ở nông thôn

lên 82% Nhìn chung cư cấu lao động đã chuyển dịch phù hợp với cơ cấu phát

triển của thành phố theo hướng công nghiệp - du lịch - dịch vụ làm mũi nhọn

1.2.2.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất của

huyện Đại Từ - Thái Nguyên

Dự án khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo tại huyện Đại Từ,

tỉnh Thái Nguyên có tổng vốn đầu tư hơn 500 triệu đô la Mỹ, lớn nhất Việt

Nam tính đến thời điểm hiện tại Để triển khai dự án, Công ty Trách nhiệm

Hữu hạn khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo (Nuiphao Mining) - doanh

nghiệp thực hiện dự án đã tiến hành bồi thường, giải phóng mặt bằng tổng

diện tích thu hồi cho tất cả các khu là 9.21 km2 (bao gồm các khu hoạt động

sản xuất, khu vùng đệm, khu tái định và các khu mở rộng) với tổng số hộ

dân bị ảnh hưởng do thu hồi đất là hơn 3.600 hộ, trong đó trên 1.300 hộ

thuộc diện di dời Tiến độ thu hồi đất của toàn dự án đạt 87,23%, trong đó

tiến độ bàn giao mặt bằng tại các khu vực hoạt động của dự án đạt 98,65%

Tổng số tiền chi trả cho đền bù tính đến nay là 1.615.064.099.107 đồng

Cùng với việc xây dựng khu nhà máy chế biến khoáng sản hiện đại bậc nhất

thế giới, Nuiphao Mining đặc biệt chú trọng tới việc tạo sinh kế, đảm bảo an

sinh xã hội cho người dân sau thu hồi đất, giúp hàng nghìn hộ dân sau thu

hồi đất cho dự án ở Đại Từ ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập, phát triển

kinh tế một cách bền vững

Qua thống kê ban đầu, đến nay, đã có hơn 2.200 người trong khu vực

ảnh hưởng của dự án được tham gia các chương trình đào tạo nghề, trang bị

kiến thức làm nông nghiệp, chăn nuôi và phi nông nghiệp để có cơ hội tìm

việc làm, mưu sinh tại chỗ; khoảng 600 người dân ở khu vực chịu ảnh hưởng

của dự án được tuyển dụng dài hạn tại dự án Núi Pháo Tổng nguồn vốn đã

giải ngân của doanh nghiệp cho việc tạo sinh kế, hỗ trợ cộng đồng cho người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

dân sau thu hồi đất ở Đại Từ đã lên tới 25 tỷ đồng Các mô hình phục hồi kinh

tế do Nuiphao Mining hỗ trợ đang từng bước phát huy hiệu quả ở các xã Hà Thượng, Hùng Sơn, Tân Linh và Cát Nê Điển hình như mô hình sản xuất chè

an toàn theo tiêu chuẩn VietGap ở xóm 7, xã Hà Thượng Được Nuiphao Mining hỗ trợ về tư vấn kỹ thuật, 50% số vốn mua tôn inox sao chè, giúp in

ấn, trình bày nhãn mác, bao bì, đăng ký mã số, mã vạch và quảng bá sản phẩm… hiện cả 18 hộ trong tổ sản xuất chè VietGap ở xóm 7 đã thuần thục quy trình sản xuất chè an toàn trên diện tích 6,43 ha với tổng sản lượng hơn

140 tấn búp tươi/năm, tương đương gần 30 tấn chè búp khô/năm, đưa giá trị thu nhập từ cây chè của các hộ trong tổ đạt từ 60 đến hơn 100 triệu đồng/hộ/năm, góp phần quan trọng vào việc giúp người dân ổn định đời sống, phát triển kinh tế bền vững

Các chương trình phục hồi kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng bị ảnh hưởng của Nuiphao Mining rất đa dạng như: Đào tạo nghề cho người bị ảnh hưởng bởi dự án sau đó tuyển dụng vào làm việc tại Công ty; hỗ trợ xây dựng các mô hình phát triển kinh tế hộ phù hợp với điều kiện địa phương, tiêu biểu như mô hình trồng chè an toàn sinh học, trồng nấm, nuôi nhím; thành lập các cơ sở địa phương cung ứng dịch vụ cho Công ty Núi Pháo,

tổ hợp chè Hà Thượng, cơ sở sản xuất túi đựng quặng, giá đỡ quặng… Ngoài việc hỗ trợ cụ thể thông qua các mô hình phục hồi kinh tế, mô hình sản xuất mới, Công ty còn hỗ trợ đầu tư, nâng cấp trường học, đường sá, hệ thống xử lý nước thải, cung cấp nước sinh hoạt, đường dây điện, điện thoại, trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chợ theo chuẩn nông thôn mới; thực hiện các chương trình cho các nhóm dễ bị tổn thương như nhóm hộ nghèo, hộ phụ nữ đơn thân Được biết, tuy chưa chính thức đi vào sản xuất, nhưng Nuiphao Mining đã được bầu chọn là một trong 50 doanh nghiệp tiêu biểu trong cả nước thực hiện tốt trách nhiệm an sinh xã hội và phát triển cộng đồng

1.2.3 Thực trạng giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại Việt Nam

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.2.3.1 Về diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để phát triển các khu công

nghiệp, đô thị và các công trình công cộng

Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu

hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 3,89 % tổng diện tích đất nông nghiệp

đang sử dụng) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các

khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là

70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha

Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu

hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những

địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai

(19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau

(13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha)

Theo số liệu điều tra của BNN&PTNT tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi

đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất

thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi

lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở

Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là duới 0,5%

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ

lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung

vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người

thấp, có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70%-80% diện tích đất canh tác

1.2.3.2 Về việc làm và giải quyết việc làm của người dân bị thu hồi đất

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNN cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp

trong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với

khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh

hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng

có số hộ BAH do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ

khoảng 108 nghìn hộ; Hà Nội hơn 138.000 hộ, thành phố Hồ Chí Minh hơn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

52.000 hộ Số lao động bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 35.703 người, Vĩnh Phúc 22.800 người, Nam Định 4.130 người, Hải Dương 9.357 người Trong quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư Tuy nhiên trên thực tế, sau khi bị thu hồi đấtcó tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định Đây chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả 53% số hộ dân có đất bị thu hồi có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước

Việc thu hồi đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm từ 2001 đến 2004 đã có gần 80.000 lao động bị mất việc làm Tính đến hết năm 2005, Hà Nội có khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất Thành phố đã có nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động là 3,8 triệu đồng nhưng việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả cao

Tại thành phố Hồ Chí Minh thì trong vòng năm năm trở lại đây, thành phố đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới 60.203.074 m2; tổng số hộ bị ảnh hưởng là 53.853 hộ, trong đó có 20.014 hộ

bị giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận tiền đền bù, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm

Có gia đình trở nên giầu có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng) nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp

1.2.4 Công tác giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại tỉnh Thái Nguyên

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng tỉnh

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thái Nguyên Từ năm 2011 đến 2013, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã

thực hiện công tác thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng 256 dự

án Trong đó đã giải phóng xong mặt bằng đối với 110 dự án với diện tích

là 1.347,884 ha (trong đó diện tích đất nông nghiệp thu hồi để thực hiện dự

án chiếm trên 60% diện tích thực hiện dự án) Số hộ bị ảnh hưởng: 24.562

hộ Số hộ được giao tái định cư: 6.064hộ Số tiền đã chi trả bồi thường, hỗ

trợ: 2.893,03 tỷ đồng

Trên địa bàn tỉnh chưa có nghiên cứu nào về đánh giá tình hình giải

quyết việc làm của người dân khi bị thu hồi đất Hiện nay Tỉnh đang chỉ đạo

các huyện thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên rà soát đánh giá tình

hình triển khai thực hiện Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012

của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung điều tra, đánh giá kết quả thực

hiện chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu

hồi đất nông nghiệp

1.2.5 Bài học rút ra cho việc giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi

đất huyện Phú Bình

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và một số địa phương

trong nước về giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất Chúng ta cần học

hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho

lao động bị thu hồi đất ở một số điểm sau:

Một là, Hoàn thiện các quy định về định giá đất nói chung và định giá

đất để bồi thường, hỗ trợ nói riêng; công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng

đất chi tiết

Hai là, tạo vệc làm tại chỗ cho những lao động bị thu hồi đất tuổi đã

cao, lao động nữ khó chuyển đổi nghề bằng các hình thức phát triển các làng

nghề truyền thống, giao đất dịch vụ có thu tiền sử dụng đất cho các hộ theo tỷ

lệ diện tích đất thu hồi sao cho phù hợp với quỹ đất của địa phương Chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng các loại cây trồng, vật nuôi

có giá trị kinh tế cao, cho thu nhập cao trên một đơn vị diện tích đất sản xuất,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

khả năng quay vòng vốn nhanh

Ba là, quy định và khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức đóng

trên địa bàn có đất bị thu hồi ưu tiên sử dụng lao động địa phương bằng các

cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp

Bốn là, đầu tư phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, đa dạng hoá các

hình thức đào tạo nghề cho con em nông thôn, cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về cung - cầu trên thị trường lao động cho người dân và các chủ sử dụng lao động Mở rộng và phát triển các cơ sở đào tạo nghề, các trung tâm hỗ trợ

và giới thiệu việc làm

Năm là, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, tăng cường

chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ, hỗ trợ vốn, kỹ thuật sản xuất cho nông dân

Chương 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn này cần phải tập trung giải đáp các câu hỏi chủ yếu sau:

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đối với người dân bị thu hồi đất là gì?

- Chính sách bồi thường GPMB đối với người bị thu hồi đất sản xuất? Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất diễn ra như thế nào?

- Với thực trạng đã phân tích thì cần phải có những giải pháp gì để giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế tôi đã sử dụng một số

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

biện pháp liên quan đến thu thập số liệu, phân tích số liệu và một số công cụ

để xử lý và phân tích thông tin

2.2.1 Phương pháp điều tra cơ bản

Thông tin số liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu, báo cáo về điều kiện

tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế, xã hội hàng năm tại UBND huyện

Phú Bình và các phòng ban chuyên môn của huyện

-

, giải

, chọn một dự án có số hộ bị thu hồi đất lớn trong giai đoạn từ năm 2010

đến 2013 trên địa bàn huyện Phú Bình,

Thông qua lãnh đạo UBND thị trấn Hương Sơn, UBND xã Kha Sơn và

cán bộ địa chính xã, trưởng xóm; trên cơ sở các tiêu chí đặt ra phục vụ cho

mục đích nghiên cứu của đề tài, số lượng các hộ dân được lựa chọn để điều

tra Dự án xây dựng Nhà máy may TNG tại thị trấn Hương Sơn và xã Kha Sơn

là: 160 hộ/174 hộ bị thu hồi (chiếm 91,95%)

2.2.2 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra (sử dụng

phần mềm Microsoft Excel)

Tổng hợp số liệu trên phần mềm Microsost Excel để phân tích số liệu

thu thập được qua phiếu điều tra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2.3 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia tư vấn, các nhà quản lý về lĩnh vực bồi thường GPMB, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và huyện Phú Bình ( Sở Lao động Thương binh

và Xã hội Thái Nguyên; lãnh đạo UBND huyện Phú Bình; Ban quản lý các Khu công nghiệp Thái Nguyên và Công ty Cổ phần may TNG Thái Nguyên )

2.2.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá

Sau khi thu thập toàn bộ những thông tin, số liệu được kiểm tra và xử

lý, tính toán thông qua các bảng biểu thống kê để so sánh, đánh giá và rút

ra kết luận

2.2.5 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài

Sử dụng tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu để tham khảo đánh giá so sánh với địa bàn nghiên cứu

2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu

- Kết quả thực hiện công tác thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ tại huyện Phú Bình từ 2010 đến 2013

- Đào tạo nghề: Số lượng người bị thu hồi đất được đào tạo nghề; hình thức, các ngành nghề được đào tạo

- Giới thiệu việc làm: Số lượng, hình thức, ngành nghề, nơi làm việc

- Hỗ trợ tạo việc làm: vay vốn, hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng tiền, học phí…

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phú Bình,

tỉnh Thái Nguyên

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Phú Bình là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía

nam của tỉnh Trung tâm huyện Phú Bình cách trung tâm thành phố Thái

Nguyên khoảng 25km, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 70 km

Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính gồm: (20 xã và 01 thị trấn)

được chia làm 3 vùng: vùng núi, vùng kênh hồ Núi Cốc, vùng Sông Đào

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 251,7149 km2, dân số là 138.819

người Phú Bình là huyện có vị trí quan trọng và thuận lợi, có khả năng giao

lưu kinh tế xã hội và giao lưu hàng hóa với các tỉnh, huyện và các huyện trong

tỉnh tạo mối quan hệ vùng và hợp tác đầu tư thúc đẩy kinh tế phát triển

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Phú Bình thuộc nhóm địa hình đồng bằng và nhóm địa hình gò đồi

Nhóm địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng Bắc Bộ, với

độ cao địa hình 10-15m Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng

bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20-30m và phân

bố dọc sông Cầu

3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm của huyện Phú Bình khoảng

23,1oC - 24,4oC Nhiệt độ cao nhất trong năm là vào giữa tháng 6, tháng 7 có

thể lên đến 38oC Biên độ nhiệt độ thay đổi có khi đến 13,7oC Nhiệt độ thấp

nhất trung bình năm vào tháng 12, tháng 01 là khoảng 11o

bộ, mưa không đúng thời vụ lại ảnh hưởng tới thời vụ gieo trồng, mưa ít lại gây thiếu nước cho đồng ruộng

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là khoảng

81-82%, cao nhất là 80% - 90% vào các tháng mùa mưa (tháng 6,7,8), thấp nhất

là 30% - 60% vào mùa khô từ tháng 11,12

- Thuỷ văn: Trên địa bàn huyện có các sông chính gồm: sông Cầu, sông Máng (sông Đào) và hệ thống kênh mương Hồ Núi Cốc, trong đó sông Cầu là con sông lớn nhất tỉnh Thái Nguyên nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực rộng 6.030 km2

bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đoạn chảy qua huyện Phú Bình có chiều dài khoảng 29km, chiều rộng trung bình từ 100 - 200 m với nhiều uốn khúc, các bãi khá lớn Lưu lượng nước mùa mưa là 3.500 m3/s, mùa khô là 7,5 m3/s 3.1.1.4 Đất đai và môi trường

- Đất đai: Theo tài liệu thổ nhưỡng tỉnh Thái Nguyên và huyện Phú Bình đất đai huyện có đặc điểm thổ nhưỡng chủ yếu thuộc 4 nhóm chính là: nhóm đất phù sa, nhóm đất cát, nhóm đất dốc tụ, nhóm đất đỏ vàng - nâu vàng gồm: + Nhóm đất phù sa: Có diện tích khoảng 3484,8 ha, chiếm khoảng 13,84% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã ven sông Cầu như Xuân Phương, Úc Kỳ, Nhã Lộng, Nga My, Hà Châu và một phần các xã: Bảo Lý, Đào Xá, Đồng Liên

+ Nhóm đất cát: Đất cát sông Cầu có diện tích khoảng 12,20 ha, chiếm

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

0,05% diện tích tự nhiên

+ Nhóm đất dốc tụ (đất thung lũng dốc tụ): Đất dốc tụ trồng lúa nước

không bạc mầu, đất dốc tụ trồng lúa nước bạc mầu, đất thung lũng không

trồng lúa nước Có diện tích khoảng 6.134 ha chiếm 24,4 % diện tích tự

nhiên, tập trung tại các xã: Tân Hòa, Tân Đức, Điềm Thụy

+ Nhóm đất nâu vàng đỏ vàng (Đại diện cho đất khu vực gò đồi):

Có diện tích khảng 15.305 ha, chiếm 60,8 % diện tích tự nhiên của

huyện tập trung chủ yếu tại các xã: Tân Kim, Tân Khánh, Đồng Liên

* Hiện trạng, cơ cấu sử dụng đất:

Bảng 3.1 Hiện trạng, cơ cấu sử dụng các loại đất huyện Phú Bình

đến 01/01/2014 Tính đến 01/01/2014 Tăng(+), giảm(-)

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Phú Bình năm 2013)

Đến ngày 01/01/2014 tổng diện tích tự nhiên huyện Phú Bình được xác

định là: 25.171,49 ha, phân bố theo mục đích cụ thể:

+ Đất nông nghiệp: 14.040,12 ha chiếm 55,78% diện tích đất tự nhiên;

+ Đất lâm nghiệp: 6.167,32 ha chiếm 24,50% diện tích đất tự nhiên;

+ Đất chuyên dùng: 2.167,19ha chiếm 8,61% diện tích đất tự nhiên;

+ Đất ở: 1.034,86 ha chiếm 4,11% diện tích đất tự nhiên

- Thực trạng môi trường: Trong những năm qua, vấn đề môi trường đã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

được các cấp, các ngành của huyện quan tâm thông qua việc xây dựng và triển khai các chương trình dự án về bảo vệ môi trường trong sản xuất gạch ngói nung, tăng cường công tác quản lý và xây dựng nếp sống văn minh đô thị qua đó đã góp phần cải thiện chất lượng môi trường của huyện + Về môi trường nước: Qua kết quả quan trắc các điểm đo Cầu Mây, xã Nhã Lộng (nước sông Cầu); xã Điềm Thụy (nước dưới đất) trong những năm gần đây, áp dụng tiêu chuẩn TCVN 5944 - 1995 cho thấy chất lượng nước sông Cầu và nước dưới đất ở Huyện Phú Bình chất lượng tốt, chưa có biểu hiện của sự ô nhiễm

+ Môi trường không khí: Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu của huyện là do hoạt động của các CSSX công nghiệp, KCN, khu TTCN, phương tiện giao thông phát sinh khí thải (SO2, NOx, CO2, CO,

là Nhã Lộng, Thanh Ninh và Hà Châu Các xã có mật độ dân số thấp dưới 400 người/km2 gồm Bàn Đạt, Tân Khánh, Tân Kim và Tân Thành Trong số 138.819 nhân khẩu toàn huyện có 131,089 nhân khẩu ở nông thôn Tổng số người trong độ tuổi lao động là 83.269 người trong độ tuổi lao động, trong đó có 78.886 lao động đang làm việc trong nền kinh tế Đây vừa là nguồn lực cho phát triển kinh

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tế, vừa là sức ép đối với vấn đề lao động và việc làm của huyện trong

những năm tiếp theo

Bảng 3.2 Cơ cấu lao động trong độ tuổi lao động ở Phú Bình,

Thái Nguyên năm 2012

Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm Thái Nguyên năm 2012

Qua bảng số liệu 3.2 trên cho thấy, phần lớn lao động ở khu vực nông

thôn là lao động trên 30 tuổi (chiếm 68,38%) Trong khi đặc trưng chủ yếu

của lao động trong độ tuổi này là nguy cơ thất nghiệp rất cao khi mất đất sản

xuất Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho lực lượng lao động này thực sự

là vấn đề hết sức khó khăn

Về chất lượng của nguồn lao động

Chất lượng nguồn lao động thể hiện qua trình độ văn hóa và trình độ

chuyên môn kỹ thuật của người lao động, hiện nay người ta chú ý đến ý thức

kỷ luật của người lao động

+ Trình độ văn hóa của người lao động

Trình độ văn hóa là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh

của một địa phương và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

quá trình sản xuất kinh doanh Nó cũng phản ánh khả năng làm việc của người lao động nhằm đáp ứng với nhu cầu và sự cạnh tranh ngày càng lớn trong thị trường lao động

Trình độ văn hóa của lực lượng lao động (LLLĐ) huyện Phú Bình

đã được nâng cao rõ rệt, là cơ sở vững chắc để nâng cao trình độ cho LLLĐ của huyện trong thời gian tới, thể hiện hầu hết các xã trong huyện

đã có trường tiểu học, trung học cơ sở, cả các xã vùng sâu, vùng xa được cấp trang thiết bị phục vụ cho dạy và học Cho đến nay toàn huyện cơ bản phổ cập mẫu giáo 5 tuổi và đang dần phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi theo chuẩn quốc gia

Bảng 3.3 Cơ cấu LLLĐ huyện Phú Bình theo trình độ văn hóa

(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phú Bình năm 2013)

Đứng trên góc độ nhu cầu xã hội thì con người đang hướng tới một xã hội văn minh hơn, có trình độ văn hóa cao hơn, đòi hỏi lực lượng lao động với trình độ văn hóa và ý thức con người cao hơn Lãnh đạo và nhân dân các dân tộc huyện Phú Bình cũng hiểu rõ vấn đề này, hiểu rõ nhu cầu của xã hội, với rất nhiều biện pháp cụ thể nhằm mục đích giảm tỷ lệ mù chữ xuống còn 0%, tăng tỷ lệ lao động tốt nghiệp THCS (từ 42.67% năm 2010 lên 47.78% năm 2013) và tốt nghiệp THPT (từ 13.59% năm 2010 lên 20.89% năm 2013)

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Xét về tổng thể với hơn 80% LLLĐ có trình độ văn hóa dưới cấp THPT là

một thách thức lớn đối với huyện trong việc phát triển nguồn nhân lực để đáp

ứng thời kỳ đổi mới

+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật

Khi lao động trong xã hội ngày càng phân hóa cao hơn thì đòi hỏi

LLLĐ với trình độ chuyên môn hay trình độ tay nghề ngày càng cao hơn Để

đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, của các nhà tuyển dụng hay của những

người tạo ra cung việc làm thì trình độ của LLLĐ ngày càng tiến bộ hơn, cao

hơn so với thời kỳ trước

Qua các năm, trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ đang có những

thay đổi tích cực, tuy nhiên vẫn còn có những khác biệt giữa nam và nữ trong

LLLĐ, toàn huyện tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo giảm từ 82.84% năm 2010

Vùng cao

Đồng bằng và trung du

+ Chưa qua đào tạo 89,68 87,96 90,58 - 86,13

+ Đã qua đào tạo nhưng

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Phú Bình năm 2013)

Qua bảng 3.4 ta thấy, cơ cấu lao động chưa qua đào tạo chiếm phần lớn trong tổng cơ cấu lao động của huyện Điều này chứng tỏ trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động là rất thấp, lao động có trình độ công nhân

kỹ thuật có bằng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tăng chậm qua từng năm

+ Ý thức kỷ luật của người lao động

Không những phải có điều kiện về thể lực như sức khỏe của người lao động, các điều kiện về trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động mà cần có điều kiện về kỷ luật của người lao động Đây là yếu tố quyết định của người lao động nhất là khi làm việc với các nhà tuyển dụng là người nước ngoài Đối với người lao động trong huyện thì chưa có một định nghĩa chính xác về ý thức kỷ luật của người lao động trong thời gian làm việc cũng như những quy định rõ ràng để đánh giá về ý thức kỷ luật của người lao động Nhưng hiện nay thì người lao động đã tự ý thức được ý thức đó là cần thiết và

nó mang lại hiệu quả lao động cao hơn nên dần dần hình thành trong từng người lao động, từng ngành làm việc, từng khu vực làm việc đã có những quy định rõ ràng như đi làm đến nơi làm việc đúng giờ, ý thức về thời gian làm việc phải đủ, đúng giờ, về tác phong nhanh nhẹn…

3.1.2.2 Giáo dục, y tế

- Công tác giáo dục, đào tạo: Năm học 2012-2013, ngành Giáo dục & Đào tạo của huyện đạt được nhiều kết qủa quan trọng, chất lượng giáo dục tiếp tục được đổi mới theo hướng thực chất hơn Về giáo dục mầm non tỷ lệ huy động mẫu giáo 7168/7800 trẻ đạt tỷ lệ 91,89% (tăng 0,12%), riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi: 2563/2563 = 100%, huyện được công nhận đạt chuẩn phổ cập cho trẻ em 5 tuổi tại thời điểm tháng 5 năm 2013, hoàn thành trước 1 năm

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

so với kế hoạch đề ra Toàn huyện đã giữ vững đạt chuẩn quốc gia về Phổ cập

giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phấn đấu đạt Phổ cập GDTH đúng độ tuổi

mức độ 2 vào tháng 12/2014 Trong năm, UBND huyện đã chỉ đạo tách

trường Tiểu học Nga My đảm bảo theo đúng quy định và được sự đồng tình

ủng hộ của các bậc phụ huynh, các cháu học sinh và giáo viên Chất lượng

dạy và học trong nhà trường từng bước được nâng lên tỷ lệ học sinh học lực

giỏi chiếm 36,46%, tăng 2,06% so với năm học trước Giáo dục THCS có

chuyển biến tích cực, tỷ lệ duy trì sỹ số đạt 99,89%; tỷ lệ xét tốt nghiệp năm

học 2012-2013 đạt 99,42%, huyện vẫn duy trì kết quả phổ cập giáo dục THCS

và tiếp tục triển khai phổ cập giáo dục bậc trung học Tỷ lệ tốt nghiệp Trung

học phổ thông đạt 99,5%, bổ túc THPT đạt 89,68 Công tác xây dựng trường

đạt chuẩn quốc gia được quan tâm, đến nay trên địa bàn huyện có 44/67

trường đạt chuẩn và 39 trường đạt thư viện chuẩn Huyện có Trung tâm

hướng nghiệp dạy nghề và Trung tâm dạy nghề nông nghiệp của huyện

- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Trong năm 2013, UBND

huyện đã chỉ đạo bệnh viện, các trạm y tế trú trọng công tác khám chữa bệnh,

đảm bảo xử lý tốt các tình huống cấp cứu, triển khai công tác phòng chống

dịch bệnh ở người, đặc biệt là dịch cúm A(H1N1 và H5N1), chân, tay miệng

… Trong năm 2013, các cơ sở y tế đã thực hiện khám chữa bệnh, điều trị và

cấp cứu kịp thời cho nhân dân với trên 186,8 nghìn lượt bệnh nhân Công tác

kiểm quản lý nhà nước về y tế được tăng cường; trong năm, UBND huyện đã

chỉ đạo kiểm tra 80 cơ sở hành nghề y dược, kinh doanh mỹ phẩm, thực phẩm

chức năng trên địa bàn huyện, tiến hành xử lý vi phạm hành chính 6 trường

hợp với tổng số tiền phạt trên 20,7 triệu đồng Đồng thời chỉ đạo thực hiện tốt

công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm Kết quả kiểm tra 220 cơ sở,

nhắc nhở 63 cơ sở và xử lý vi phạm hành chính 13 trường hợp với tổng số

tiền thu phạt 8,4 triệu đồng

3.1.2.3 Tăng trưởng và phát triển kinh tế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

được tiếp tục xây dựng, trong đó có Nhà máy Kẽm điện phân thuộc Công ty Kim loại Mầu Việt Bắc đã xây dựng xong và đi vào hoạt động từ 2008; năm

2013 và 2014 đã thu hồi đất và bồi thường GPMB tiếp 120 Ha, hiện đang xây dựng hạ tầng và đã thu hút 30 doanh nghiệp FDI ký thỏa thuận vào thuê đất với giá trị đầu tư 0,6 tỷ USD, hiện các doanh nghiệp đang đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất, một số doanh nghiệp đang tuyển dụng lao động

9,2ha đã đi vào hoạt động giải quyết việc làm cho 2.620 lao động, trong đó có 1.080 lao động được tuyển dụng tại huyện Phú Bình, với mức thu nhập bình quân năm 2013 là 3.779.683 đ/tháng (Theo

số liệu báo cáo của Nhà máy may TNG Phú Bình)Yên Bình quy mô 8.009 (Ha) thuộc địa bàn huyện Phú Bình (2.741,4 Ha) và huyện Phổ Yên (5.267,6 Ha) do Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Yên Bình làm chủ đầu tư Hiện đang triển khai trên địa bàn huyện Phổ Yên (địa bàn huyện Phú Bình chưa triển khai công tác thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng), Theo số liệu báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Nguyên: hiện đã thu hút 6 doanh nghiệp FDI vào đầu tư với giá trị trên 7 tỷ USD (Trong đó 11 tháng năm 2014 đã thu hút 3,27 tỷ USD vốn đăng ký mới

và vốn tăng thêm, chiếm 18,9% tổng vốn đầu tư của cả nước, đưa Thái Nguyên dẫn đầu về đầu tư nước ngoài trên cả nước); giải quyết việc làm trong năm 2013 và 2014 gần 40.000 lao động với mức thu nhập bình quân 7.000.000 đ/ tháng, dự kiến năm 2015 tuyển dụng khoảng 28.000 lao động UBND tỉnh Thái Nguyên cấp bằng công nhận 03 làng nghề: Làng nghề mây tre đan Ngọc Lý (xã Tân Đức), làng nghề mộc mỹ nghệ Phương Độ (xã Xuân Phương), làng nghề mộc mỹ nghệ Phú Lâm (xã Kha Sơn) Tại các làng nghề đã thu hút trên 1200 lao động, sản xuất các mặt hàng mộc mỹ nghệ cao

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cấp, sản phẩm mây tre đan được người trong và ngoài huyện chấp nhận, mỗi

năm tạo ra giá trị hàng trăm tỷ đồng, nâng cao đời sống cho người lao động

trong làng nghề Hiện các làng nghề đang phát triển với quy mô từng bước

hình thành cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, thu hút số lượng

lớn lao động tại địa phương vào sản xuất

huyện Phú Bình chủ yếu cung cấp các sản phẩm nông nghiệp cho thành phố

Thái Nguyên và các huyện phụ cận Giá trị hàng hóa không lớn, chủ yếu diễn

ra tại các chợ nông thôn Năm 2013, giá trị sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ

công nghiệp do địa phương quản lý đạt 177 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng

kỳ năm 2012 Du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm

tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng

- Sản xuất nông, lâm nghiệp:

, theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm

vụ kinh tế - xã hội năm 2013 huyện Phú Bình:

Trồng trọt: Năm 2013, ngành trồng trọt tiếp tục thu được thắng lợi quan

trọng; đặc biệt sản xuất lương thực cây có hạt đã hoàn thành vượt mức kế

hoạch trên cả ba tiêu chí: Diện tích, năng xuất và sản lượng và là đơn vị có

sản lượng cao nhất tỉnh Thái Nguyên Kết quả: sản lượng lương thực có hạt

ước cả năm 2013 đạt 75.224 tấn, bằng 100,3 kế hoạch năm; diện tích lúa lai

chiếm 34,83% diện tích gieo cấy, vượt 143,88% kế hoạch năm Đối với các

cây trồng khác, nhìn chung diện tích, năng suất, sản lượng đều đạt và vượt kế

hoạch năm; giá trị sản phẩm /ha đất nông nghiệp trồng cây hàng năm ước đạt

75 triệu đồng (theo giá thực tế) hoàn thành kế hoạch năm

Có được kết quả trên do UBND huyện đã chỉ đạo triển khai hiệu quả

các cơ chế, chính sách phát triển sản xuất của tỉnh Thái Nguyên trên địa bàn

huyện; đồng thời trích 1 tỷ đồng từ ngân sách huyện và dành phần lớn nguồn

kinh phí thực hiện Nghị định 42/2012/NĐ-CP để hỗ trợ phát triển sản xuất

Trong đó trọng tâm phát triển lúa lai; thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống lúa,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cơ cấu mùa vụ, xây dựng mô hình hiện đại hóa, cơ giới hóa nông nghiệp; xây dựng mô hình cánh đồng một giống…Bên cạnh đó, Sản xuất nông nghiệp còn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở; đặc biệt là sự hoạt động hiệu quả của BCĐ sản xuất nông nghiệp của huyện, các xã, thị trấn và sự nỗ lực cố gắng của bà con nông dân

Về chăn nuôi: năm 2013, ngành chăn nuôi của huyện gặp rất nhiều khó khăn như giá các mặt hàng thịt gia súc, gia cầm trên thị trường giảm mạnh trong thời gian dài, trong khi thức ăn, thuốc thú y tăng cao…đã ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi Tuy nhiên, trong năm 2013, công tác phòng chống dịch bệnh được triển khai thực hiện hiệu quả, các chỉ tiêu tiêm phòng đều đạt và vượt kế hoạch; đặc biệt năm 2013 là năm dịch bệnh nguy hiểm cơ bản được khống chế, nên đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện phát triển tương đối ổn định, tổng đàn bò, đàn lợn và đàn gia cầm có sự tăng trưởng so cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước cả năm đạt 21 nghìn tấn hoàn thành kế hoạch năm Tăng 5% so với cùng kỳ

Lâm nghiệp: Công tác trồng rừng tập trung, rừng phân tán được tổ chức thực hiện hiệu quả Kết quả trong năm các xã, thị trấn đã tổ chức trồng 363ha rừng tập trung vượt 45,2% kế hoạch năm, tăng 15,6% so với năm 2012; trồng rừng phân tán đạt 18,4 ha Trong năm 2013, trên địa bàn huyện đã tổ chức cấp phép khai thác trên 4014 m3 gỗ, tăng trên 700m3 so với cùng kỳ năm 2012;

cơ quan chuyên môn đã kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính 06 vụ (giảm 02

vụ so với cùng kỳ năm 2012) với tổng số tiền thu phạt và bán tang vật nộp ngân sách 51 triệu đồng …

Thuỷ sản: Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh thâm canh nuôi trồng thuỷ sản trên diện tích 500 ha Tuy nhiên, trong năm có nhiều trận mưa lớn kéo dài làm ngập, tràn nhiều ao, hồ, ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thủy sản Dự ước sản lượng thủy sản năm 2013 đạt 2024 tấn bằng 107% kế hoạch năm, tăng 12% so cùng kỳ

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong những năm qua nhờ vào sự nỗ lức phấn đấu từ phía chính

quyền, nhân dân Tỉnh và huyện Phú Bình trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

theo hướng nâng cao năng suất lao động, hiệu quả trong sản xuất nông

nghiệp, thúc đẩy phát triển mạnh các ngành công nghiệp, đặc biệt là các

ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và mở rộng mạng lưới thương

mại - dịch vụ nhất là mạng lưới các chợ dân sinh; phát triển kinh tế xã hội

của cả nước, tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiến bộ, có những tác động nhất

định của vùng đến phát triển kinh tế của địa phương; Việc thu hút các công

trình trọng điểm diễn ra nhanh hơn các giai đoạn trước; Hoạt động thu hút

đầu tư đạt kết quả tốt với 2 ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ phát

triển theo cả chiều rộng và chiều sâu

Bảng 3.5 Giá trị và tốc độ tăng trưởng GTSX trên địa bàn

huyện Phú Bình giai đoạn 2008 - 2013

Chỉ tiêu Tốc độ tăng trưởng (%)

Giá trị sản xuất (tỷ đồng, giá 2007) 01-07 08-09 10-13 2007 2009 2013 Tổng GTSX trên

(Nguồn: Tính toán số liệu từ phòng thống kê huyện Phú Bình)

Như vậy, cơ cấu kinh tế của Huyện được định hình theo dạng công

nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Sau năm 2013 cơ cấu này sẽ dần được chuyển

sang dạng công nghiệp - dịch vụ và nông nghiệp Giai đoạn 2010 - 2013 tốc độ

tăng trưởng GTSX bình quân toàn huyện là 12,3%/năm, cao hơn khá nhiều so

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

với mức tăng bình quân giai đoạn 2001 - 2007 Trong đó, tốc độ phát triển bình quân năm của các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại - dịch vụ và nông nghiệp sẽ lần lượt là: 23% (cao hơn nhiều mức 12,6% giai đoạn 2001-2007); 15,5% (thấp hơn nhiều giai đoạn trước do xây dựng đã có giá trị cao); 15% (cao hơn giai đoạn 2001 - 2007) và 4,7% thấp hơn các giai đoạn trước Giai đoạn 2008 - 2009, do ảnh hưởng từ tình hình kinh tế chung của thế giới và trong nước, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này chỉ có thể cố gắng đạt mức xấp xỉ và thấp hơn chút ít so với giai đoạn 2001 - 2007 nhưng là con số khả thi Giai đoạn 2010 - 2013, tăng trưởng GTSX trên địa bàn đạt 12,3% do giai đoạn này nền kinh tế cả nước nói chung và Huyện nói riêng đã

đi vào hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới nên thương mại - dịch vụ nên có điều kiện đặc biệt để phát triển và thúc đẩy các ngành sản xuất khác trên địa bàn; chúng ta có thể thấy đây là giai đoạn tăng trưởng GTSX đạt mức cao nhất do có nhiều các doanh nghiệp mới và KCN đã đi vào sản xuất nên đã tạo tiền đề cho ngành công nghiệp phát triển mạnh

Bảng 3.6 GTSX bình quân đầu người trên địa bàn huyện Phú Bình

(giá năm 2007) Chỉ tiêu

(Nguồn: Tính toán số liệu từ phòng thống kê Phú Bình)

Theo bảng 3.6 ta thấy, về thu nhập tính theo giá trị sản xuất bình quân đầu người trên địa bàn huyện, con số này tăng từ 741 USD/người năm 2007 lên gần 934 USD năm 2009;1.440 USD/người năm 2013

Ngày đăng: 03/08/2016, 19:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Hiện trạng, cơ cấu sử dụng các loại đất huyện Phú Bình - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.1. Hiện trạng, cơ cấu sử dụng các loại đất huyện Phú Bình (Trang 23)
Bảng 3.2. Cơ cấu lao động trong độ tuổi lao động ở Phú Bình, - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.2. Cơ cấu lao động trong độ tuổi lao động ở Phú Bình, (Trang 24)
Bảng 3.3. Cơ cấu LLLĐ huyện Phú Bình theo trình độ văn hóa - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3. Cơ cấu LLLĐ huyện Phú Bình theo trình độ văn hóa (Trang 24)
Bảng 3.4. Cơ cấu LLLĐ huyện Phú Bình theo trình độ chuyên môn - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4. Cơ cấu LLLĐ huyện Phú Bình theo trình độ chuyên môn (Trang 25)
Bảng 3.5. Giá trị và tốc độ tăng trưởng GTSX trên địa bàn - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.5. Giá trị và tốc độ tăng trưởng GTSX trên địa bàn (Trang 28)
Bảng 3.7. Chuyển dịch cơ cấu GTSX theo ngành Phú Bình - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7. Chuyển dịch cơ cấu GTSX theo ngành Phú Bình (Trang 29)
Bảng 3.8. Tình hình thu hồi đất và giải phóng mặt bằng thực hiện - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8. Tình hình thu hồi đất và giải phóng mặt bằng thực hiện (Trang 31)
Bảng 3.10. Cơ cấu lao động trong tuổi lao động chia theo thành phần - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10. Cơ cấu lao động trong tuổi lao động chia theo thành phần (Trang 36)
Bảng 3.11. Thu hồi đất nông nghiệp và nhu cầu đào tạo nghề, - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11. Thu hồi đất nông nghiệp và nhu cầu đào tạo nghề, (Trang 38)
Bảng 3.12. Tổng hợp kinh phí bồi thường hỗ trợ GPMB - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.12. Tổng hợp kinh phí bồi thường hỗ trợ GPMB (Trang 39)
Bảng 3.13. Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.13. Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ (Trang 39)
Bảng  3.14. Phương thức sử dụng tiền các hộ dân tại Nhà máy may TNG - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
ng 3.14. Phương thức sử dụng tiền các hộ dân tại Nhà máy may TNG (Trang 40)
Bảng 3.15. Trình độ văn hóa, chuyên môn của số người - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.15. Trình độ văn hóa, chuyên môn của số người (Trang 40)
Bảng 3.17.  Về học vấn, giáo dục của các hộ dân bị thu hồi đất - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.17. Về học vấn, giáo dục của các hộ dân bị thu hồi đất (Trang 41)
Bảng 3.16. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất - Giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.16. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w